Thiền Quán - Tương Ưng Sự Thật - Tứ Thánh Đế
Kinh Nikāya Thiền Quán
TƯƠNG ƯNG SỰ THẬT TỨ THÁNH ĐẾ 1
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Trùng tuyên Tương Ưng Sự Thật PAGEREF _Toc110028781 \h 1
II.Tu tập Tứ Thánh Đế PAGEREF _Toc110028782 \h 12
Trùng tuyên Tương Ưng Sự Thật
Chúng ta cùng tìm hiểu những lời Đức Phật dạy trong Tương Ưng Sự Thật, chương XII, phẩm Định của Tương Ưng Bộ:
"- Này các Tỳ-kheo, hãy tu tập định. Này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo có định, như thật rõ biết (pajànati). Và như thật rõ biết gì?
Như thật rõ biết: 'Đây là Khổ'. Như thật rõ biết: 'Đây là Khổ tập'. Như thật rõ biết: 'Đây là Khổ diệt'. Như thật rõ biết: 'Đây là Con Đường đưa đến Khổ diệt'". (Tương Ưng Bộ, tập V. Thiên Đại Phẩm, chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), I. Phẩm Định, I. Định)
Tỳ-kheo có tu tập thiền định sẽ như thật rõ biết thân tâm này, sinh mạng này là khổ đau, tứ đại ngũ uẩn này là khổ đau, thế gian này, cuộc đời này đầy nước mắt, đầy tai họa, đầy những hoạn nạn hiểm nguy, vì thế hãy tu tập thiền định, tâm có định sẽ rõ biết đúng sự thật, sự thật về đời sống này, nhân sinh này, kiếp người này là khổ đau, là tai nạn, là bệnh hoạn, là nhiều lo lắng và sợ hãi, đầy rẫy những bất an. Hãy tu tập thiền định, tâm yên định rồi sẽ thấy đúng sự thật sắc này là khổ, những cảm giác này là khổ, những suy tưởng, nghĩ ngợi này là khổ đau, những nhận thức của vô minh, tham ái, chấp thủ này, những sự rõ biết của tâm mê này đều đưa đến khổ đau. Người có tu thiền định rõ biết đúng sự thật đây là đau khổ, thấy rõ được những nguyên nhân của khổ, thấy rõ được sự thật chấm dứt đau khổ và thấy rõ con đường đưa đến sự diệt tận khổ đau.
"Này các Tỳ-kheo, hãy tu tập định. Này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo có định, như thật rõ biết. Do vậy, này các Tỳ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Đây là Khổ". Một cố gắng cần phải làm để rõ biết: 'Đây là Khổ tập'. Một cố gắng cần phải làm để rõ biết: 'Đây là Khổ diệt'. Một cố gắng cần phải làm để rõ biết: 'Đây là Con Đường đưa đến Khổ diệt'". (Tương Ưng Bộ, tập V. Thiên Đại Phẩm, chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), I. Phẩm Định, I. Định)
Một cố gắng nhất định chúng ta cần phải làm để thấy rõ được sự thật bản chất của đời sống này là khổ đau, là phiền não, là lo lắng, sợ hãi, bất an, là tật bệnh, già nua, chết chóc, tử vong. Đó là một sự cố gắng cần phải làm, chúng ta đừng bao giờ quên hình ảnh của bà Năm chết trên tay Minh Thành, Minh Thành không bao giờ quên và con cũng xin thầy Pháp An cũng không được quên hình ảnh này, từ nay cho đến chết phải lấy hình ảnh đó làm đề tài thiền quán, các vị hãy lấy hình ảnh những người thân thương nhất của mình bị tai nạn, bị chết chóc làm đề tài thiền quán, hãy cho những hình ảnh đó hiện khởi trong tâm để đừng bao giờ quên cảnh già nua, bệnh tật và chết chóc. Cảnh tượng cha mình chết, mẹ mình chết, cảnh ông bà chết, cảnh những người thân, người bạn của mình chết, cảnh tượng lũ lụt, dịch bệnh, thiên tai… đừng bao giờ quên nó, phải cố gắng cần phải làm để rõ biết, cố gắng nhớ, cố gắng nhắc nhở, cảnh tỉnh mình.
Hãy nuôi lớn những cảm xúc khổ đau, hãy nuôi lớn những cảm thọ đau đớn, đau khổ, hãy để cho những hình ảnh bệnh hoạn, già nua, chết chóc thường hiện khởi trong tâm của mình, hãy thường nhắc nhở trong tâm "mày phải chết", "mày sắp chết rồi", "mày nhất định phải chết", "mày đừng bao giờ quên là mày phải chết", "mày phải bệnh tật, phải già nua, mày phải chết chóc", không bao giờ cho phép mình quên những điều này. Thái tử Tất-đạt-đa đã thấy cảnh già nua, bệnh tật, chết chóc, những hình ảnh đó đã ám ảnh cho đến khi ngài bỏ hoàng cung, tại sao chúng ta lại có thể quên được? Tại sao chúng ta lại có thể sống trong cảnh bình an, an ổn trong khi vô minh và khát ái, sân hận và bản ngã còn xâm chiếm, áp đảo, sai khiến chúng ta? Một cố gắng cần phải làm để rõ biết được sự đau khổ của đời sống này, "không cho phép quên mày phải chết, mày sẽ bị ung thư, mày sẽ bị dịch bệnh, mày sẽ bị tai nạn giao thông, mày nhất định phải chết. Tại sao mày không biết lo lắng? Tại sao mày lại sống nhởn nhơ qua ngày đoạn tháng như lục bình trôi sông? Mày hãy chết đi, chết những cái tâm tham dục, sân hận đi, chết những cái tâm hơn thua, tật đố đi".
"-- Này các Tỳ-kheo, hãy chú tâm tu tập Thiền tịnh". (Tương Ưng Bộ, tập V. Thiên Đại Phẩm, chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), I. Phẩm Định, II. Thiền Định)
Hãy đặt hết tâm mình vào đề mục khổ đau, mang cái thân này gốc rễ là khổ rồi ngoài ra còn đầy rẫy những thứ dục tham, sân hận, si mê, kiêu căng, tự phụ, ngã mạn, hơn thua… Đây là nguyên nhân của khổ.
"Do vậy, này các Tỳ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: 'Ðây là Khổ'. Một cố gắng cần phải làm để rõ biết: 'Ðây là Khổ tập'. Một cố gắng cần phải làm để rõ biết: 'Ðây là Khổ diệt'. Một cố gắng cần phải làm để rõ biết: 'Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt'. (Tương Ưng Bộ, tập V. Thiên Đại Phẩm, chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), I. Phẩm Định, II. Thiền Định)
"Cười vui với ai khi cha mẹ sắp chết rồi? Sao nhà ngươi không nhớ?".
"Cười gì, hân hoan gì,
Khi đời mãi bị thiêu?
Bị tối tăm bao trùm,
Sao không tìm ngọn đèn?".
(Kinh Pháp cú – phẩm Già)
Cười gì, hân hoan gì khi đời bị đốt thiêu? Ở chỗ tối tăm của vô minh sao không tìm ngọn đèn? Có gì để cười, để nói, có gì đáng để ngã mạn, khoe khoang?
"Những thiện nam tử nào trong thời quá khứ, này các Tỳ-kheo, đã chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình; tất cả những vị ấy đã làm như vậy để như thật chứng ngộ bốn Thánh đế.
Những thiện nam tử nào trong thời vị lai, này các Tỳ-kheo, sẽ chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình; tất cả những vị ấy sẽ làm như vậy để như thật chứng ngộ bốn Thánh đế.
Những thiện nam tử nào trong thời hiện tại, này các Tỳ-kheo, chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình; tất cả những vị ấy làm như vậy để như thật chứng ngộ bốn Thánh đế. Thế nào là bốn? Thánh đế về Khổ, Thánh đế về Khổ tập, Thánh đế về Khổ diệt, Thánh đế về Con Đường đưa đến Khổ diệt. Thế nào là bốn?
Thánh đế về Khổ, Thánh đế về Khổ tập, Thánh đế về Khổ diệt, Thánh đế về Con Đường đưa đến Khổ diệt". (Tương Ưng Bộ, tập V - Thiên Đại Phẩm, chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), I. Phẩm Định, III. Thiện Nam Tử (1))
Tất cả những vị ấy sẽ làm như vậy để như thật chứng ngộ bốn Thánh Đế: Sự thật về khổ đau, sự thật về nguyên nhân đau khổ cần phải rõ biết, sự chấm dứt khổ và con đường đưa đến diệt khổ đau này cần phải thực thấy, thực chứng.
"Những thiện nam tử nào trong thời quá khứ, này các Tỳ-kheo, đã chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình... sẽ chơn chánh xuất gia... tất cả những vị ấy làm như vậy để như thật chứng ngộ bốn Thánh đế này. Do vậy, này các Tỳ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: 'Đây là Khổ'... Một sự cố gắng cần phải làm để rõ biết: 'Đây là Con Đường đưa đến Khổ diệt'. (Tương Ưng Bộ, tập V - Thiên Đại Phẩm, chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), I. Phẩm Định, III. Thiện Nam Tử (1))
Phải làm sao để ngấm cái khổ này vào trong xương tủy để không bao giờ quên cái khổ này, không cho phép mình quên. Làm sao có thể quên được khi mẹ mình chết, cha mình sẽ chết, những người xung quanh bị tai nạn chết? Làm sao mình có thể an ổn được? Làm sao mình có thể quên được hình bóng mẹ mình chết trên tay mình? Phải trầm tư, suy tư, trăn trở, thao thức để cho cái khổ này thật sự ngấm vào trong da thịt, xương tủy để không bao giờ quên đây là khổ, đây là sự tan nát, tan hoại, hủy diệt.
"-- Những thiện nam tử nào trong thời quá khứ, này các Tỳ-kheo, đã chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình; tất cả những vị ấy đã như thật chứng ngộ bốn Thánh đế.
... trong thời vị lai... sẽ như thật chứng ngộ bốn Thánh đế.
... trong thời hiện tại... như thật chứng ngộ bốn Thánh đế". (Tương Ưng Bộ, tập V - Thiên Đại Phẩm, chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), I. Phẩm Định, IV. Thiện Nam Tử (2))
Mình phải suy tư, thiền quán, trầm tư "Trời ơi! còn ai trên đời này khổ hơn tôi nữa không? Mẹ tôi chết rồi, ông bà tôi chết rồi, cha tôi sắp chết nữa rồi. Tại sao tôi còn u mê, mê muội hoài vậy? Thế Tôn ơi! Tại sao con cứ vô minh, buông lung". Dập đầu xuống kêu trời "Trời ơi đất hỡi! Còn ai khổ bằng con nữa hay không? Nghe bao nhiêu lời dạy, học bao nhiêu pháp mà tâm thức vẫn ngu si, mê muội như vầy. Trời ơi!". Kêu trời, kêu đất cho nước mắt ràng rụa, cho sự đau khổ này thấm đến tột đỉnh "Còn ai đau khổ bằng con trên đời này nữa hay không?", "Biết bao lâu rồi con vẫn còn chưa chứng nhập được Khổ Thánh Đế, con vẫn còn ham vui, mê vui, chạy theo những cái vui ảo ảnh để quên đi cái đại khổ ách này". Bao nhiêu người xuất gia học Khổ Đế, học Thánh Đế mà được mấy người chứng nhập? Thật là bất hạnh cho ta! Thật là tai họa cho ta! Thật là đáng lo lắng và sợ hãi cho ta khi ta chưa thấy được khổ đau, khi ta còn ảo tưởng, si mê trong cuộc đời này! Ăn vào cũng thấy khổ, uống cũng thấy khổ, đại tiểu tiện cũng thấy khổ, phải mang tấm thân dơ bẩn như vầy, bài tiết như vầy, đòi hỏi khát khao, thèm thuồng như vầy. Tham sân si sanh khởi lên chỉ thấy đau khổ, nhục nhã, xấu hổ, thấp hèn hạ liệt.
"-- Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong thời quá khứ, này các Tỳ-kheo, đã như thật chánh đẳng giác, tất cả những vị ấy như thật chánh đẳng giác bốn Thánh đế.
... trong thời vị lai... sẽ như thật chánh đẳng giác bốn Thánh đế.
... trong thời hiện tại... như thật chánh đẳng giác bốn Thánh đế. Thế nào là bốn? Thánh đế về Khổ, Thánh đế về Khổ tập, Thánh đế về Khổ diệt, Thánh đế về Con Đường đưa đến Khổ diệt". (Tương Ưng Bộ, tập V - Thiên Đại Phẩm, chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), I. Phẩm Định, V. Sa-Môn, Bà-La-Môn (1))
Mình đã thật sự thấy sắc này là khổ hay chưa? Thật sự có cảm thấy phàm cái gì được cảm thọ đều nằm trong đau khổ hay chưa? Mình có nhìn thấy tất cả những gì sanh khởi lên rồi sẽ hoại diệt chưa?
"-- Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong thời quá khứ, này các Tỳ-kheo, đã tuyên bố như thật chánh đẳng giác; tất cả những vị ấy đã tuyên bố như thật chánh đẳng giác bốn Thánh đế.
... trong thời vị lai... sẽ tuyên bố như thật chánh đẳng giác...; tất cả những vị ấy sẽ tuyên bố như thật chánh đẳng giác bốn Thánh đế.
... trong thời hiện tại... tuyên bố như thật chánh đẳng giác...; tất cả những vị ấy tuyên bố như thật chánh đẳng giác bốn Thánh đế. Thế nào là bốn? Thánh đế về Khổ, Thánh đế về Khổ tập, Thánh đế về Khổ diệt, Thánh đế về Con Đường đưa đến Khổ diệt". (Tương Ưng Bộ, tập V - Thiên Đại Phẩm, chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), I. Phẩm Định, VI. Sa-Môn, Bà-La-Môn (2))
"-- Này các Tỳ-kheo, chớ có suy tầm các tầm ác, bất thiện, như dục tầm, sân tầm, hại tầm. Vì sao?
Các tầm ấy, này các Tỳ-kheo, không liên hệ đến mục đích, chúng không phải căn bản cho Phạm hạnh, chúng không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn". (Tương Ưng Bộ, tập V - Thiên Đại Phẩm, chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), I. Phẩm Định, VII. Các Tầm)
Các tầm ấy không phải là gốc rễ đưa đến đời sống giải thoát trong sạch, chúng nó không đưa đến xa lìa, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, chứng ngộ, Niết-bàn. Chớ có suy nghĩ về sự tham muốn, chớ có suy nghĩ về những điều xấu ác bất thiện, chớ có suy nghĩ về những sự tức giận, buồn phiền, hơn thua, phải quấy, làm hại nhau. Chớ có suy nghĩ về những suy nghĩ ấy, chớ có hướng tâm về những suy nghĩ ấy vì nó không có liên hệ đến mục đích, nó không phải là gốc rễ đưa đến đời sống trong sạch giải thoát, nó không đưa đến sự chán ngán xa lìa, nó không đưa đến ly tham, chấm dứt ngũ uẩn này, chấm dứt những thân xác bất tịnh máu mủ này, nó không đưa đến nội tâm an tịnh, không đưa đến trí tuệ thù thắng, nó không đưa đến nhìn thấu thành tựu nội tâm tĩnh lặng.
"Khi các Ông suy tầm, này các Tỳ-kheo, các Ông hãy suy tầm: 'Đây là khổ'... hãy suy tầm: 'Đây là Khổ tập'... hãy suy tầm: 'Đây là Khổ diệt'... hãy suy tầm: 'Đây là Con Đường đưa đến Khổ diệt'. (Tương Ưng Bộ, tập V - Thiên Đại Phẩm, chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), I. Phẩm Định, VII. Các Tầm)
Hãy suy tầm, hãy suy tư đây là khổ đau. Con mắt này là đau khổ, nhìn thấy rồi dục tham ái. Lỗ tai này là đau khổ, nghe rồi sân si, hơn thua. Cái miệng, cái lưỡi này là đau khổ vì gây thị phi, thêu dệt, đâm bị thóc thọc bị gạo, trước mặt thì khen sau lưng lại chê. Thân này là đau khổ, là nhà máy sản xuất phân, là công ty xuất nhập nguồn nước tiểu, là ổ chứa nhóm tật bệnh, là nơi căn cứ của tham ái, dâm dục, là nơi dựa vào để vênh váo, ta đây, hống hách, bản ngã. Hãy suy tầm, hãy suy tư đây là nguyên nhân của khổ. Hãy suy tầm, hãy suy tư, hãy tư duy đây là sự chấm dứt khổ và con đường đưa đến diệt tận khổ đau. Hãy suy tư những điều đó, hãy suy tầm những điều đó, hãy suy nghĩ những điều đó.
"Vì sao?
Các suy tầm ấy, này các Tỳ-kheo, liên hệ đến mục đích, chúng là căn bản cho Phạm hạnh, chúng đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Do vậy, này các Tỳ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: 'Ðây là Khổ'... Một cố gắng cần phải làm để rõ biết: 'Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt'". (Tương Ưng Bộ, tập V - Thiên Đại Phẩm, chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), I. Phẩm Định, VII. Các Tầm)
Vì chúng là căn bản của phạm hạnh, chúng đưa đến sự chán nản, lìa xa, không tham muốn nữa, đưa đến nội tâm an tịnh, trí tuệ thù thắng, đưa đến sự phát giác những cấu nhiễm, rác bẩn, ô uế của tâm, chúng sẽ đưa đến Niết-bàn tịch tịnh tối thượng của giải thoát. Do vậy cần cố gắng làm để rõ biết đây là khổ đau, đây là nguyên nhân của đau khổ, sự chấm dứt đau khổ và con đường đưa đến sự diệt tận khổ đau.
"-- Này các Tỳ-kheo, chớ có suy tư ác, bất thiện tầm: 'Thế giới là thường hằng', hay 'Thế giới là vô thường', hay 'Thế giới là hữu biên', hay 'Thế giới là vô biên', hay 'Sinh mạng này, thân thể này là một', hay 'Sinh mạng này, thân thể này là khác', hay "Như Lai có tồn tại sau khi chết', hay 'Như Lai không tồn tại sau khi chết', hay 'Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết', hay 'Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết'". (Tương Ưng Bộ, tập V - Thiên Đại Phẩm, chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), I. Phẩm Định, VIII. Suy Tư)
Đừng nghĩ thế giới là còn hay không còn, đừng nghĩ về những chuyện thiên văn địa lý, đừng suy nghĩ những điều viễn vong xa vời. Hãy suy tư đây là khổ, hãy suy nghĩ suy tư về Tứ Thánh Đế, về bốn sự thật mà bậc Thánh đã giác ngộ, những suy nghĩ này sẽ đưa đến nhàm chán, xa lìa, từ bỏ tham dục, sân hận, si mê, vô minh, chấp ngã. Hãy suy nghĩ, suy tầm sự đau khổ của đời sống này, sự bất an, lo lắng, sợ hãi và đừng bao giờ để thân tâm mình ở trong trạng thái của cảm thọ bình an, đó là vô minh, hãy đặt cảm thọ trong sự lo lắng, bất an, hiểm họa, già cỗi, tật bệnh và chết chóc. Có ai nghĩ rằng suốt cả tuần lễ thời tiết bình thường vậy mà đến ngày diễn ra khóa tu trời đổ cơn mưa, bị cúp điện trong khi máy phát điện hư, đi tìm đèn cầy bị kiến lửa bu vào cắn đỏ người, đó là đề tài quán chiếu của sự bất trắc, bất thường, bất ngờ. Thân xác này, đời sống này, tất cả mọi thứ sẽ đột ngột đột quỵ, đột tử, cái chết, cái tai nạn không bao giờ báo trước nên làm sao mình lại có cảm giác an toàn, thường thường bình an được? Lúc nào cũng phải thấy tai nạn tiềm ẩn xung quanh, chỉ cần trượt chân đập đầu là có thể nằm bán thân bất toại suốt đời, sống đời sống thực vật suốt quãng đời còn lại. Vì thế hãy phá vỡ cảm giác bất khổ bất lạc đó, cảm giác đều đều an ổn đó, diệt tận cảm giác đó, đây chính là Đức Phật dạy quán cảm giác không khổ không vui là vô thường.
"Lạc thọ, này các Tỳ-kheo, cần phải thấy là khổ. Khổ thọ cần phải thấy là mũi tên. Bất khổ bất lạc thọ cần phải thấy là vô thường. Khi nào, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo thấy được lạc thọ là khổ, thấy được khổ thọ là mũi tên, thấy được bất khổ bất lạc thọ là vô thường; thời này các Tỳ-kheo, đây gọi là Tỳ-kheo có chánh kiến, ái được đoạn tận, kiết sử được hủy hoại". (Tương Ưng Bộ, tập IV – Thiên Sáu Xứ, chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Một - Phẩm Có Kệ, V. Cần Phải Quán Kiến)
Mình đọc chữ "vô thường" thấy nhẹ nhàng nhưng chữ "vô thường" đó có nghĩa là đột ngột, đột biến, đột quỵ, đột tử. Phải giải thích chữ "vô thường" như vậy mới có cảm giác sợ hãi, lo lắng còn nói vô thường chỉ thấy bình thường. Phải phá tan, diệt tận cảm giác an toàn, đều đều đó.
"-- Này các Tỳ-kheo, chớ có nói lời tranh luận nhau: 'Ông không biết Pháp và Luật này. Tôi biết Pháp và Luật này. Sao Ông có thể biết Pháp và Luật này? Ông theo tà hạnh. Tôi theo chánh hạnh. Ðiều đáng nói trước, Ông lại nói sau. Điều đáng nói sau, Ông lại nói trước. Lời nói tôi tương ưng. Lời nói Ông không tương ưng. Điều Ông quan niệm, trình bày đã bị đảo lộn. Quan điểm của Ông đã bị thách đố. Hãy đi giải tỏa quan điểm của Ông. Hãy tự thoát khỏi bế tắc nếu Ông có thể làm được'". (Tương Ưng Bộ, tập V - Thiên Đại Phẩm, chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), I. Phẩm Định, IX. Tranh Luận)
Đừng tranh luận, đừng tranh cãi, đừng tranh hơn tranh thua với nhau.
"Vì sao?
Những câu chuyện ấy, này các Tỳ-kheo, không liên hệ đến mục đích, không phải căn bản cho Phạm hạnh, không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn". (Tương Ưng Bộ, tập V - Thiên Đại Phẩm, chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), I. Phẩm Định, IX. Tranh Luận)
Các ông đi xuất gia để cãi nhau à? Các ông bỏ cha bỏ mẹ vào đây để tranh luận ư? Các vị bỏ thân tộc vào đây để hơn thua hay sao? Những câu chuyện ấy không liên hệ đến mục đích, không phải căn bản cho phạm hạnh, không đưa đến nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.
"Và này các Tỳ-kheo, nếu có nói, thời hãy nói: 'Ðây là Khổ'... hãy nói: 'Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt'". (Tương Ưng Bộ, tập V - Thiên Đại Phẩm, chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), I. Phẩm Định, IX. Tranh Luận)
Ngài Ajahn Chah khi gặp các vị sư đều hỏi "Hôm nay sư có thấy khổ không?", phải thấy khổ, sống với khổ, gặm nhấm cái khổ. Hãy đem tất cả trái tim, tấm lòng của mình thể nhập cái khổ rồi chúng ta sẽ đi đến chỗ diệt tận hoàn toàn đau khổ. Nói vài ba câu là có chuyện, nghe vài tiếng là sân, nhìn là tham, soi gương có hình bóng mình là bám chấp vào thân kiến. Nếu có nói thời hãy nói đây là khổ, đây là con đường đưa đến diệt tận khổ đau.
"Vì sao?
Các lời nói ấy, này các Tỳ-kheo, liên hệ đến mục đích, làm căn bản cho Phạm hạnh... một cố gắng cần phải làm..." (Tương Ưng Bộ, tập V - Thiên Đại Phẩm, chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), I. Phẩm Định, IX. Tranh Luận)
Vì những lời nói ấy liên hệ đến mục đích gốc rễ của đức hạnh giải thoát trong sạch, đây là một cố gắng mà tất cả chúng ta phải nhớ.
"-- Này các Tỳ-kheo, chớ có nói những câu chuyện của loài súc sanh, như câu chuyện về vua chúa, câu chuyện về ăn trộm, câu chuyện về đại thần, câu chuyện về binh lính, câu chuyện về hãi hùng, câu chuyện về chiến tranh, câu chuyện về đồ ăn, câu chuyện về đồ uống, câu chuyện về vải mặc, câu chuyện về giường nằm, câu chuyện về vòng hoa, câu chuyện về hương liệu, câu chuyện về bà con, câu chuyện về xe cộ, câu chuyện về làng xóm, câu chuyện về thị tứ, câu chuyện về thành phố, câu chuyện về quốc độ, câu chuyện về đàn bà, câu chuyện về đàn ông, câu chuyện về vị anh hùng, câu chuyện bên lề đường, câu chuyện tại chỗ lấy nước, câu chuyện người đã chết, các câu chuyện tạp thoại, các câu chuyện biến trạng của thế giới, câu chuyện về biến trạng của đại dương, câu chuyện về sự hiện hữu và sự không hiện hữu. Vì sao?
Những câu chuyện này, này các Tỳ-kheo, không đưa đến mục đích, không phải căn bản cho Phạm hạnh, không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn". (Tương Ưng Bộ, tập V - Thiên Đại Phẩm, chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), I. Phẩm Định, X. Lời Nói)
Những câu chuyện đó không đưa đến chấm dứt tham sân si, vô minh và bản ngã, không đưa đến một nội tâm an tịnh và trí tuệ thù thắng, những câu chuyện đó không đưa đến sự phát giác cấu uế, cấu nhiễm trong tâm, không đưa đến Niết-bàn tối thượng.
"Có nói chuyện, này các Tỳ-kheo, các Ông hãy nói chuyện: 'Ðây là Khổ'... hãy nói chuyện: 'Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt'..." (Tương Ưng Bộ, tập V - Thiên Đại Phẩm, chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), I. Phẩm Định, X. Lời Nói)
Có nói chuyện thì hãy nói đến khổ, nói đến chuyện chấm dứt khổ, nói đến nguyên nhân đau khổ và con đường đưa đến diệt tận khổ đau. Hãy nói những câu chuyện đó, hãy mở pháp đàm kể với nhau những đau khổ về kiếp người này, những tai nạn, hậu quả của tham sân si, bản ngã, hãy khuyến tấn, khích lệ, động viên, làm hân hoan để nhìn thấy Khổ Thánh Đế để nhàm chán, ly tham, từ bỏ, hãy nói về những nỗi khổ niềm đau bất tận của đời sống này, hãy kể cho mọi người nghe mình bị lừa gạt mất nhà như thế nào, mình bị lừa đảo như thế nào, mình bị tai họa như thế nào, cha mẹ mình phải đau khổ như thế nào, ông bà mình phải cực khổ như thế nào, anh em mình phải sầu bi như thế nào, hãy mở những buổi đàm luận về khổ đau, về nguyên nhân của khổ đau.
Tu tập Tứ Thánh Đế
Đó là những lời Đức Phật đã dạy trong Tương Ưng Sự Thật Tương Ưng Tứ Thánh Đế. Sau khi đã thấy ra sự thật này rồi, hãy ngồi một mình kêu trời kêu đất: "Còn ai đau khổ như con không?", "Còn ai vô minh, si mê, tham ái như con hay không?". Tất cả những vị tu hành ngày xưa và hiện tại cho đến mai sau đều phải cố gắng nỗ lực để thấy rõ sự thật này, tất cả mọi người tu là tu Tứ Thánh Đế, tất cả những vị chứng ngộ là chứng ngộ bốn sự thật về bốn Thánh đế nhưng ngày nay chúng ta tu mà không thấy được Khổ Thánh Đế thì làm sao chứng ngộ, làm sao thành tựu?
Một ngày mình sống với cái thấy đau khổ được bao nhiêu thời gian? Tất cả những bậc tu hành Sa-môn, Ba-la-môn trong thời quá khứ, hiện tại, vị lai đã tuyên bố như thật chánh đẳng giác; tất cả những vị ấy đã tuyên bố như thật chánh đẳng giác bốn Thánh đế. Cần xem lại trong tự thân mình đã thật sự thấy khổ hay chưa trong tất cả thời và nhìn tất cả sắc pháp, hình hài này có thấy khổ chưa, tất cả những cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức, rõ biết này có thấy khổ chưa, tất cả những tham dục, sân hận, si mê, vô minh, chấp ngã mình có thấy nó là nguyên nhân của khổ thật sự chưa hay là mình còn ôm ấp, tăng trưởng, phát triển? Đó là tại sao Đức Phật nói một sự thật cần cố gắng để thấy đây là nguyên nhân của khổ. Mình chỉ thấy khổ lúc nghe pháp, ngồi thiền nhưng khi trở ra thì lại trở về vô minh, trở về trong cái thường tình phàm tục, lại trở về trong sự vui vẻ, an bình, an toàn. Chớ có suy tầm các tầm ác, bất thiện, như dục tầm, sân tầm, hại tầm, đây chính là tác ý, đó chính là thiền quán, là sự suy tư, suy tầm, suy nghiệm.
Đời sống này là khổ đau, bất an, nhỏ bé, nhiều ưu tư, nhiều khổ não, hãy nhàm chán nó, hãy từ bỏ, chấm dứt tất cả sanh y, diệt tận kiết sử, không còn ưa thích, ham muốn bất kì cái gì trong ngũ uẩn này, chẳng thấy một chút gì là vui sướng, đó là sự bất an, hiểm họa và tai nạn, đó là những miếng mồi nhử của ác ma trong năm dục trưởng dưỡng. Hãy nhàm chán, trú trong cảm thọ nhàm chán thường xuyên như vậy, hãy quay lưng với tất cả sự lòe loẹt của thế giới này, hãy thường đặt mình trong pháp môn niệm tử, những pháp đó Đức Phật gọi là minh phần để phá vô minh.
Đừng tưởng an ổn như vậy là tu rồi, nghĩ như vậy là sai lầm, trong sự an ổn, thường thường, đều đều đó là trạng thái chấp ngã, trạng thái si mê, vô minh, tham ái nhẹ, chỉ là chưa biểu hiện ra ngoài chứ bên trong đó là sự chấp thủ khủng khiếp, cho nên phải đào sâu để bứng tận gốc rễ của tham ái và vô minh, phải mé nhánh, chặt cành, phải chặt ra từng mảnh, chẻ ra từng miếng, đốt thành tro bụi, đổ xuống sông xuống biển cho gió thổi bay để diệt tận hoàn toàn vô minh và khát ái này.
Minh Thành nhớ hoài hình ảnh ngài Milarepa – Thánh Tăng Tây Tạng đã hiến thân trọn đời cho thiền định. Khi gia đình của ngài bị bà con lấy hết gia tài, mẹ ngài đau khổ và thù hận. Ngày xưa gia đình của ngài là một điền chủ, cha ngài mất khi ngài còn nhỏ, trước thân tộc cha ngài dặn dò đến tuổi trưởng thành mới trao gia tài lại cho ngài nhưng đến đúng tuổi thì mọi người lấy hết mọi thứ, người mẹ phải đi làm thuê làm mướn, ở trong căn nhà xập xệ nghèo khó thiếu thốn. Một hôm ngài đi uống rượu rồi về nhà ngài ca hát, ngài có giọng ca rất hay, người mẹ nghe thấy thì chạy ra lấy chổi đánh ngài và kiêu trời "Trời ơi trời! Tại sao giờ này con lại hát? Chúng ta đau khổ như vậy mà con không thấy sao? Có ai trên đời này khổ bằng mẹ con chúng ta phải đi ăn mày, tại sao con vui cười?". Người mẹ đánh tới tấp vào thân thể ngài và khóc òa lên, sau đó dường như người mẹ ngất xỉu tại chỗ, "làm sao con có thể nghêu ngao vui chơi trong khi mẹ con mình còn đang rất khổ cực?", "Tại sao con lại có thể ăn chơi ca hát như vậy?". Sau này còn lại chút đất đai người mẹ cũng bán hết để lấy tiền cho ngài đi học huyền thuật. Cuối cùng ngài cũng học thành tựu, trở về nhà làm mưa đá trả thù tất cả những người đã hại gia đình ngài và rất nhiều người đã chết dưới tay ngài. Sau đó ngài ý thức được tội lỗi ác nghiệp nên đi tu, hiến thân trọn vẹn cho thiền định. Ngài ngồi thiền suốt ngày không đi khất thực, chỉ ăn lá cây nên làn da biến thành màu xanh của lá cây, những người đi săn trong rừng nhìn thấy tưởng là ma quỷ vì ngài trần truồng, ở trong hang động và không có thức ăn. Ngài tu tập như vậy đến mấy chục năm, cuối cùng ngài chứng ngộ trở thành Thánh Tăng, được Phật Giáo Tây Tạng tôn xưng làm Phật Thích-ca của Tây Tạng.
Tuy rằng có những điểm khác với Nikāya nhưng đời sống ly dục, thiền định, sự chứng ngộ của ngài nói lên sự hi sinh vĩ đại của một bậc đại Thánh sư. Mỗi lần Minh Thành nghe lịch sử cuộc đời ngài là nước mắt lại chảy ra, khi ngài đi tu đã bị người thầy hành hạ chưa từng thấy, ngài phải chịu đựng rất khủng khiếp và cuối cùng ngài cũng đắc pháp, trở thành Thánh Tăng chứng đắc thần thông ngay hiện đời, chứng đắc trí tuệ.
Nếu không khéo thì chúng ta tu để hưởng thụ, để tìm sự an nhàn, rảnh rang, đó là đại họa của người xuất gia. Hãy đem hết tâm tư, thời gian, tâm lực, sức lực, trí lực của mình tập trung cố gắng nỗ lực để rõ biết đây là khổ, để chứng nhập được sự thật khổ đau của ngũ uẩn này, của đời sống này, của thế gian này. Mình phải diệt tận, đào thải, phải nỗ lực, thao thức, băn khoăn, ray rứt, nhức nhối, đừng để phí thời gian vì những lời nói phù phiếm vô ích, những hơn thua thấp kém hèn hạ, những thị phi vô bổ ngu xuẩn. Hãy đặt hết tất cả tâm tư, trái tim, bộ não vào trong Thánh trí tuệ "Đây là khổ đau", hãy nhìn thấy nguyên nhân sanh ra đau khổ vẫn còn tồn đọng, còn đầy ắp trong tâm của mình để tẩy sạch tâm tư khỏi các chướng ngại pháp, hãy vệ sinh quét dọn căn nhà tâm linh cấu uế bẩn thỉu này. Hãy dành thời gian thiền định, dành thời gian chiêm nghiệm và suy tư nếu không bất thình lình đột biến, đột quỵ, đột tử đến thì không còn kịp nữa.
./.
TƯƠNG ƯNG SỰ THẬT TỨ THÁNH ĐẾ 1
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Trùng tuyên Tương Ưng Sự Thật PAGEREF _Toc110028781 \h 1
II.Tu tập Tứ Thánh Đế PAGEREF _Toc110028782 \h 12
Trùng tuyên Tương Ưng Sự Thật
Chúng ta cùng tìm hiểu những lời Đức Phật dạy trong Tương Ưng Sự Thật, chương XII, phẩm Định của Tương Ưng Bộ:
"- Này các Tỳ-kheo, hãy tu tập định. Này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo có định, như thật rõ biết (pajànati). Và như thật rõ biết gì?
Như thật rõ biết: 'Đây là Khổ'. Như thật rõ biết: 'Đây là Khổ tập'. Như thật rõ biết: 'Đây là Khổ diệt'. Như thật rõ biết: 'Đây là Con Đường đưa đến Khổ diệt'". (Tương Ưng Bộ, tập V. Thiên Đại Phẩm, chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), I. Phẩm Định, I. Định)
Tỳ-kheo có tu tập thiền định sẽ như thật rõ biết thân tâm này, sinh mạng này là khổ đau, tứ đại ngũ uẩn này là khổ đau, thế gian này, cuộc đời này đầy nước mắt, đầy tai họa, đầy những hoạn nạn hiểm nguy, vì thế hãy tu tập thiền định, tâm có định sẽ rõ biết đúng sự thật, sự thật về đời sống này, nhân sinh này, kiếp người này là khổ đau, là tai nạn, là bệnh hoạn, là nhiều lo lắng và sợ hãi, đầy rẫy những bất an. Hãy tu tập thiền định, tâm yên định rồi sẽ thấy đúng sự thật sắc này là khổ, những cảm giác này là khổ, những suy tưởng, nghĩ ngợi này là khổ đau, những nhận thức của vô minh, tham ái, chấp thủ này, những sự rõ biết của tâm mê này đều đưa đến khổ đau. Người có tu thiền định rõ biết đúng sự thật đây là đau khổ, thấy rõ được những nguyên nhân của khổ, thấy rõ được sự thật chấm dứt đau khổ và thấy rõ con đường đưa đến sự diệt tận khổ đau.
"Này các Tỳ-kheo, hãy tu tập định. Này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo có định, như thật rõ biết. Do vậy, này các Tỳ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Đây là Khổ". Một cố gắng cần phải làm để rõ biết: 'Đây là Khổ tập'. Một cố gắng cần phải làm để rõ biết: 'Đây là Khổ diệt'. Một cố gắng cần phải làm để rõ biết: 'Đây là Con Đường đưa đến Khổ diệt'". (Tương Ưng Bộ, tập V. Thiên Đại Phẩm, chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), I. Phẩm Định, I. Định)
Một cố gắng nhất định chúng ta cần phải làm để thấy rõ được sự thật bản chất của đời sống này là khổ đau, là phiền não, là lo lắng, sợ hãi, bất an, là tật bệnh, già nua, chết chóc, tử vong. Đó là một sự cố gắng cần phải làm, chúng ta đừng bao giờ quên hình ảnh của bà Năm chết trên tay Minh Thành, Minh Thành không bao giờ quên và con cũng xin thầy Pháp An cũng không được quên hình ảnh này, từ nay cho đến chết phải lấy hình ảnh đó làm đề tài thiền quán, các vị hãy lấy hình ảnh những người thân thương nhất của mình bị tai nạn, bị chết chóc làm đề tài thiền quán, hãy cho những hình ảnh đó hiện khởi trong tâm để đừng bao giờ quên cảnh già nua, bệnh tật và chết chóc. Cảnh tượng cha mình chết, mẹ mình chết, cảnh ông bà chết, cảnh những người thân, người bạn của mình chết, cảnh tượng lũ lụt, dịch bệnh, thiên tai… đừng bao giờ quên nó, phải cố gắng cần phải làm để rõ biết, cố gắng nhớ, cố gắng nhắc nhở, cảnh tỉnh mình.
Hãy nuôi lớn những cảm xúc khổ đau, hãy nuôi lớn những cảm thọ đau đớn, đau khổ, hãy để cho những hình ảnh bệnh hoạn, già nua, chết chóc thường hiện khởi trong tâm của mình, hãy thường nhắc nhở trong tâm "mày phải chết", "mày sắp chết rồi", "mày nhất định phải chết", "mày đừng bao giờ quên là mày phải chết", "mày phải bệnh tật, phải già nua, mày phải chết chóc", không bao giờ cho phép mình quên những điều này. Thái tử Tất-đạt-đa đã thấy cảnh già nua, bệnh tật, chết chóc, những hình ảnh đó đã ám ảnh cho đến khi ngài bỏ hoàng cung, tại sao chúng ta lại có thể quên được? Tại sao chúng ta lại có thể sống trong cảnh bình an, an ổn trong khi vô minh và khát ái, sân hận và bản ngã còn xâm chiếm, áp đảo, sai khiến chúng ta? Một cố gắng cần phải làm để rõ biết được sự đau khổ của đời sống này, "không cho phép quên mày phải chết, mày sẽ bị ung thư, mày sẽ bị dịch bệnh, mày sẽ bị tai nạn giao thông, mày nhất định phải chết. Tại sao mày không biết lo lắng? Tại sao mày lại sống nhởn nhơ qua ngày đoạn tháng như lục bình trôi sông? Mày hãy chết đi, chết những cái tâm tham dục, sân hận đi, chết những cái tâm hơn thua, tật đố đi".
"-- Này các Tỳ-kheo, hãy chú tâm tu tập Thiền tịnh". (Tương Ưng Bộ, tập V. Thiên Đại Phẩm, chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), I. Phẩm Định, II. Thiền Định)
Hãy đặt hết tâm mình vào đề mục khổ đau, mang cái thân này gốc rễ là khổ rồi ngoài ra còn đầy rẫy những thứ dục tham, sân hận, si mê, kiêu căng, tự phụ, ngã mạn, hơn thua… Đây là nguyên nhân của khổ.
"Do vậy, này các Tỳ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: 'Ðây là Khổ'. Một cố gắng cần phải làm để rõ biết: 'Ðây là Khổ tập'. Một cố gắng cần phải làm để rõ biết: 'Ðây là Khổ diệt'. Một cố gắng cần phải làm để rõ biết: 'Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt'. (Tương Ưng Bộ, tập V. Thiên Đại Phẩm, chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), I. Phẩm Định, II. Thiền Định)
"Cười vui với ai khi cha mẹ sắp chết rồi? Sao nhà ngươi không nhớ?".
"Cười gì, hân hoan gì,
Khi đời mãi bị thiêu?
Bị tối tăm bao trùm,
Sao không tìm ngọn đèn?".
(Kinh Pháp cú – phẩm Già)
Cười gì, hân hoan gì khi đời bị đốt thiêu? Ở chỗ tối tăm của vô minh sao không tìm ngọn đèn? Có gì để cười, để nói, có gì đáng để ngã mạn, khoe khoang?
"Những thiện nam tử nào trong thời quá khứ, này các Tỳ-kheo, đã chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình; tất cả những vị ấy đã làm như vậy để như thật chứng ngộ bốn Thánh đế.
Những thiện nam tử nào trong thời vị lai, này các Tỳ-kheo, sẽ chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình; tất cả những vị ấy sẽ làm như vậy để như thật chứng ngộ bốn Thánh đế.
Những thiện nam tử nào trong thời hiện tại, này các Tỳ-kheo, chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình; tất cả những vị ấy làm như vậy để như thật chứng ngộ bốn Thánh đế. Thế nào là bốn? Thánh đế về Khổ, Thánh đế về Khổ tập, Thánh đế về Khổ diệt, Thánh đế về Con Đường đưa đến Khổ diệt. Thế nào là bốn?
Thánh đế về Khổ, Thánh đế về Khổ tập, Thánh đế về Khổ diệt, Thánh đế về Con Đường đưa đến Khổ diệt". (Tương Ưng Bộ, tập V - Thiên Đại Phẩm, chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), I. Phẩm Định, III. Thiện Nam Tử (1))
Tất cả những vị ấy sẽ làm như vậy để như thật chứng ngộ bốn Thánh Đế: Sự thật về khổ đau, sự thật về nguyên nhân đau khổ cần phải rõ biết, sự chấm dứt khổ và con đường đưa đến diệt khổ đau này cần phải thực thấy, thực chứng.
"Những thiện nam tử nào trong thời quá khứ, này các Tỳ-kheo, đã chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình... sẽ chơn chánh xuất gia... tất cả những vị ấy làm như vậy để như thật chứng ngộ bốn Thánh đế này. Do vậy, này các Tỳ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: 'Đây là Khổ'... Một sự cố gắng cần phải làm để rõ biết: 'Đây là Con Đường đưa đến Khổ diệt'. (Tương Ưng Bộ, tập V - Thiên Đại Phẩm, chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), I. Phẩm Định, III. Thiện Nam Tử (1))
Phải làm sao để ngấm cái khổ này vào trong xương tủy để không bao giờ quên cái khổ này, không cho phép mình quên. Làm sao có thể quên được khi mẹ mình chết, cha mình sẽ chết, những người xung quanh bị tai nạn chết? Làm sao mình có thể an ổn được? Làm sao mình có thể quên được hình bóng mẹ mình chết trên tay mình? Phải trầm tư, suy tư, trăn trở, thao thức để cho cái khổ này thật sự ngấm vào trong da thịt, xương tủy để không bao giờ quên đây là khổ, đây là sự tan nát, tan hoại, hủy diệt.
"-- Những thiện nam tử nào trong thời quá khứ, này các Tỳ-kheo, đã chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình; tất cả những vị ấy đã như thật chứng ngộ bốn Thánh đế.
... trong thời vị lai... sẽ như thật chứng ngộ bốn Thánh đế.
... trong thời hiện tại... như thật chứng ngộ bốn Thánh đế". (Tương Ưng Bộ, tập V - Thiên Đại Phẩm, chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), I. Phẩm Định, IV. Thiện Nam Tử (2))
Mình phải suy tư, thiền quán, trầm tư "Trời ơi! còn ai trên đời này khổ hơn tôi nữa không? Mẹ tôi chết rồi, ông bà tôi chết rồi, cha tôi sắp chết nữa rồi. Tại sao tôi còn u mê, mê muội hoài vậy? Thế Tôn ơi! Tại sao con cứ vô minh, buông lung". Dập đầu xuống kêu trời "Trời ơi đất hỡi! Còn ai khổ bằng con nữa hay không? Nghe bao nhiêu lời dạy, học bao nhiêu pháp mà tâm thức vẫn ngu si, mê muội như vầy. Trời ơi!". Kêu trời, kêu đất cho nước mắt ràng rụa, cho sự đau khổ này thấm đến tột đỉnh "Còn ai đau khổ bằng con trên đời này nữa hay không?", "Biết bao lâu rồi con vẫn còn chưa chứng nhập được Khổ Thánh Đế, con vẫn còn ham vui, mê vui, chạy theo những cái vui ảo ảnh để quên đi cái đại khổ ách này". Bao nhiêu người xuất gia học Khổ Đế, học Thánh Đế mà được mấy người chứng nhập? Thật là bất hạnh cho ta! Thật là tai họa cho ta! Thật là đáng lo lắng và sợ hãi cho ta khi ta chưa thấy được khổ đau, khi ta còn ảo tưởng, si mê trong cuộc đời này! Ăn vào cũng thấy khổ, uống cũng thấy khổ, đại tiểu tiện cũng thấy khổ, phải mang tấm thân dơ bẩn như vầy, bài tiết như vầy, đòi hỏi khát khao, thèm thuồng như vầy. Tham sân si sanh khởi lên chỉ thấy đau khổ, nhục nhã, xấu hổ, thấp hèn hạ liệt.
"-- Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong thời quá khứ, này các Tỳ-kheo, đã như thật chánh đẳng giác, tất cả những vị ấy như thật chánh đẳng giác bốn Thánh đế.
... trong thời vị lai... sẽ như thật chánh đẳng giác bốn Thánh đế.
... trong thời hiện tại... như thật chánh đẳng giác bốn Thánh đế. Thế nào là bốn? Thánh đế về Khổ, Thánh đế về Khổ tập, Thánh đế về Khổ diệt, Thánh đế về Con Đường đưa đến Khổ diệt". (Tương Ưng Bộ, tập V - Thiên Đại Phẩm, chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), I. Phẩm Định, V. Sa-Môn, Bà-La-Môn (1))
Mình đã thật sự thấy sắc này là khổ hay chưa? Thật sự có cảm thấy phàm cái gì được cảm thọ đều nằm trong đau khổ hay chưa? Mình có nhìn thấy tất cả những gì sanh khởi lên rồi sẽ hoại diệt chưa?
"-- Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong thời quá khứ, này các Tỳ-kheo, đã tuyên bố như thật chánh đẳng giác; tất cả những vị ấy đã tuyên bố như thật chánh đẳng giác bốn Thánh đế.
... trong thời vị lai... sẽ tuyên bố như thật chánh đẳng giác...; tất cả những vị ấy sẽ tuyên bố như thật chánh đẳng giác bốn Thánh đế.
... trong thời hiện tại... tuyên bố như thật chánh đẳng giác...; tất cả những vị ấy tuyên bố như thật chánh đẳng giác bốn Thánh đế. Thế nào là bốn? Thánh đế về Khổ, Thánh đế về Khổ tập, Thánh đế về Khổ diệt, Thánh đế về Con Đường đưa đến Khổ diệt". (Tương Ưng Bộ, tập V - Thiên Đại Phẩm, chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), I. Phẩm Định, VI. Sa-Môn, Bà-La-Môn (2))
"-- Này các Tỳ-kheo, chớ có suy tầm các tầm ác, bất thiện, như dục tầm, sân tầm, hại tầm. Vì sao?
Các tầm ấy, này các Tỳ-kheo, không liên hệ đến mục đích, chúng không phải căn bản cho Phạm hạnh, chúng không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn". (Tương Ưng Bộ, tập V - Thiên Đại Phẩm, chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), I. Phẩm Định, VII. Các Tầm)
Các tầm ấy không phải là gốc rễ đưa đến đời sống giải thoát trong sạch, chúng nó không đưa đến xa lìa, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, chứng ngộ, Niết-bàn. Chớ có suy nghĩ về sự tham muốn, chớ có suy nghĩ về những điều xấu ác bất thiện, chớ có suy nghĩ về những sự tức giận, buồn phiền, hơn thua, phải quấy, làm hại nhau. Chớ có suy nghĩ về những suy nghĩ ấy, chớ có hướng tâm về những suy nghĩ ấy vì nó không có liên hệ đến mục đích, nó không phải là gốc rễ đưa đến đời sống trong sạch giải thoát, nó không đưa đến sự chán ngán xa lìa, nó không đưa đến ly tham, chấm dứt ngũ uẩn này, chấm dứt những thân xác bất tịnh máu mủ này, nó không đưa đến nội tâm an tịnh, không đưa đến trí tuệ thù thắng, nó không đưa đến nhìn thấu thành tựu nội tâm tĩnh lặng.
"Khi các Ông suy tầm, này các Tỳ-kheo, các Ông hãy suy tầm: 'Đây là khổ'... hãy suy tầm: 'Đây là Khổ tập'... hãy suy tầm: 'Đây là Khổ diệt'... hãy suy tầm: 'Đây là Con Đường đưa đến Khổ diệt'. (Tương Ưng Bộ, tập V - Thiên Đại Phẩm, chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), I. Phẩm Định, VII. Các Tầm)
Hãy suy tầm, hãy suy tư đây là khổ đau. Con mắt này là đau khổ, nhìn thấy rồi dục tham ái. Lỗ tai này là đau khổ, nghe rồi sân si, hơn thua. Cái miệng, cái lưỡi này là đau khổ vì gây thị phi, thêu dệt, đâm bị thóc thọc bị gạo, trước mặt thì khen sau lưng lại chê. Thân này là đau khổ, là nhà máy sản xuất phân, là công ty xuất nhập nguồn nước tiểu, là ổ chứa nhóm tật bệnh, là nơi căn cứ của tham ái, dâm dục, là nơi dựa vào để vênh váo, ta đây, hống hách, bản ngã. Hãy suy tầm, hãy suy tư đây là nguyên nhân của khổ. Hãy suy tầm, hãy suy tư, hãy tư duy đây là sự chấm dứt khổ và con đường đưa đến diệt tận khổ đau. Hãy suy tư những điều đó, hãy suy tầm những điều đó, hãy suy nghĩ những điều đó.
"Vì sao?
Các suy tầm ấy, này các Tỳ-kheo, liên hệ đến mục đích, chúng là căn bản cho Phạm hạnh, chúng đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Do vậy, này các Tỳ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: 'Ðây là Khổ'... Một cố gắng cần phải làm để rõ biết: 'Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt'". (Tương Ưng Bộ, tập V - Thiên Đại Phẩm, chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), I. Phẩm Định, VII. Các Tầm)
Vì chúng là căn bản của phạm hạnh, chúng đưa đến sự chán nản, lìa xa, không tham muốn nữa, đưa đến nội tâm an tịnh, trí tuệ thù thắng, đưa đến sự phát giác những cấu nhiễm, rác bẩn, ô uế của tâm, chúng sẽ đưa đến Niết-bàn tịch tịnh tối thượng của giải thoát. Do vậy cần cố gắng làm để rõ biết đây là khổ đau, đây là nguyên nhân của đau khổ, sự chấm dứt đau khổ và con đường đưa đến sự diệt tận khổ đau.
"-- Này các Tỳ-kheo, chớ có suy tư ác, bất thiện tầm: 'Thế giới là thường hằng', hay 'Thế giới là vô thường', hay 'Thế giới là hữu biên', hay 'Thế giới là vô biên', hay 'Sinh mạng này, thân thể này là một', hay 'Sinh mạng này, thân thể này là khác', hay "Như Lai có tồn tại sau khi chết', hay 'Như Lai không tồn tại sau khi chết', hay 'Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết', hay 'Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết'". (Tương Ưng Bộ, tập V - Thiên Đại Phẩm, chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), I. Phẩm Định, VIII. Suy Tư)
Đừng nghĩ thế giới là còn hay không còn, đừng nghĩ về những chuyện thiên văn địa lý, đừng suy nghĩ những điều viễn vong xa vời. Hãy suy tư đây là khổ, hãy suy nghĩ suy tư về Tứ Thánh Đế, về bốn sự thật mà bậc Thánh đã giác ngộ, những suy nghĩ này sẽ đưa đến nhàm chán, xa lìa, từ bỏ tham dục, sân hận, si mê, vô minh, chấp ngã. Hãy suy nghĩ, suy tầm sự đau khổ của đời sống này, sự bất an, lo lắng, sợ hãi và đừng bao giờ để thân tâm mình ở trong trạng thái của cảm thọ bình an, đó là vô minh, hãy đặt cảm thọ trong sự lo lắng, bất an, hiểm họa, già cỗi, tật bệnh và chết chóc. Có ai nghĩ rằng suốt cả tuần lễ thời tiết bình thường vậy mà đến ngày diễn ra khóa tu trời đổ cơn mưa, bị cúp điện trong khi máy phát điện hư, đi tìm đèn cầy bị kiến lửa bu vào cắn đỏ người, đó là đề tài quán chiếu của sự bất trắc, bất thường, bất ngờ. Thân xác này, đời sống này, tất cả mọi thứ sẽ đột ngột đột quỵ, đột tử, cái chết, cái tai nạn không bao giờ báo trước nên làm sao mình lại có cảm giác an toàn, thường thường bình an được? Lúc nào cũng phải thấy tai nạn tiềm ẩn xung quanh, chỉ cần trượt chân đập đầu là có thể nằm bán thân bất toại suốt đời, sống đời sống thực vật suốt quãng đời còn lại. Vì thế hãy phá vỡ cảm giác bất khổ bất lạc đó, cảm giác đều đều an ổn đó, diệt tận cảm giác đó, đây chính là Đức Phật dạy quán cảm giác không khổ không vui là vô thường.
"Lạc thọ, này các Tỳ-kheo, cần phải thấy là khổ. Khổ thọ cần phải thấy là mũi tên. Bất khổ bất lạc thọ cần phải thấy là vô thường. Khi nào, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo thấy được lạc thọ là khổ, thấy được khổ thọ là mũi tên, thấy được bất khổ bất lạc thọ là vô thường; thời này các Tỳ-kheo, đây gọi là Tỳ-kheo có chánh kiến, ái được đoạn tận, kiết sử được hủy hoại". (Tương Ưng Bộ, tập IV – Thiên Sáu Xứ, chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Một - Phẩm Có Kệ, V. Cần Phải Quán Kiến)
Mình đọc chữ "vô thường" thấy nhẹ nhàng nhưng chữ "vô thường" đó có nghĩa là đột ngột, đột biến, đột quỵ, đột tử. Phải giải thích chữ "vô thường" như vậy mới có cảm giác sợ hãi, lo lắng còn nói vô thường chỉ thấy bình thường. Phải phá tan, diệt tận cảm giác an toàn, đều đều đó.
"-- Này các Tỳ-kheo, chớ có nói lời tranh luận nhau: 'Ông không biết Pháp và Luật này. Tôi biết Pháp và Luật này. Sao Ông có thể biết Pháp và Luật này? Ông theo tà hạnh. Tôi theo chánh hạnh. Ðiều đáng nói trước, Ông lại nói sau. Điều đáng nói sau, Ông lại nói trước. Lời nói tôi tương ưng. Lời nói Ông không tương ưng. Điều Ông quan niệm, trình bày đã bị đảo lộn. Quan điểm của Ông đã bị thách đố. Hãy đi giải tỏa quan điểm của Ông. Hãy tự thoát khỏi bế tắc nếu Ông có thể làm được'". (Tương Ưng Bộ, tập V - Thiên Đại Phẩm, chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), I. Phẩm Định, IX. Tranh Luận)
Đừng tranh luận, đừng tranh cãi, đừng tranh hơn tranh thua với nhau.
"Vì sao?
Những câu chuyện ấy, này các Tỳ-kheo, không liên hệ đến mục đích, không phải căn bản cho Phạm hạnh, không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn". (Tương Ưng Bộ, tập V - Thiên Đại Phẩm, chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), I. Phẩm Định, IX. Tranh Luận)
Các ông đi xuất gia để cãi nhau à? Các ông bỏ cha bỏ mẹ vào đây để tranh luận ư? Các vị bỏ thân tộc vào đây để hơn thua hay sao? Những câu chuyện ấy không liên hệ đến mục đích, không phải căn bản cho phạm hạnh, không đưa đến nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.
"Và này các Tỳ-kheo, nếu có nói, thời hãy nói: 'Ðây là Khổ'... hãy nói: 'Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt'". (Tương Ưng Bộ, tập V - Thiên Đại Phẩm, chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), I. Phẩm Định, IX. Tranh Luận)
Ngài Ajahn Chah khi gặp các vị sư đều hỏi "Hôm nay sư có thấy khổ không?", phải thấy khổ, sống với khổ, gặm nhấm cái khổ. Hãy đem tất cả trái tim, tấm lòng của mình thể nhập cái khổ rồi chúng ta sẽ đi đến chỗ diệt tận hoàn toàn đau khổ. Nói vài ba câu là có chuyện, nghe vài tiếng là sân, nhìn là tham, soi gương có hình bóng mình là bám chấp vào thân kiến. Nếu có nói thời hãy nói đây là khổ, đây là con đường đưa đến diệt tận khổ đau.
"Vì sao?
Các lời nói ấy, này các Tỳ-kheo, liên hệ đến mục đích, làm căn bản cho Phạm hạnh... một cố gắng cần phải làm..." (Tương Ưng Bộ, tập V - Thiên Đại Phẩm, chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), I. Phẩm Định, IX. Tranh Luận)
Vì những lời nói ấy liên hệ đến mục đích gốc rễ của đức hạnh giải thoát trong sạch, đây là một cố gắng mà tất cả chúng ta phải nhớ.
"-- Này các Tỳ-kheo, chớ có nói những câu chuyện của loài súc sanh, như câu chuyện về vua chúa, câu chuyện về ăn trộm, câu chuyện về đại thần, câu chuyện về binh lính, câu chuyện về hãi hùng, câu chuyện về chiến tranh, câu chuyện về đồ ăn, câu chuyện về đồ uống, câu chuyện về vải mặc, câu chuyện về giường nằm, câu chuyện về vòng hoa, câu chuyện về hương liệu, câu chuyện về bà con, câu chuyện về xe cộ, câu chuyện về làng xóm, câu chuyện về thị tứ, câu chuyện về thành phố, câu chuyện về quốc độ, câu chuyện về đàn bà, câu chuyện về đàn ông, câu chuyện về vị anh hùng, câu chuyện bên lề đường, câu chuyện tại chỗ lấy nước, câu chuyện người đã chết, các câu chuyện tạp thoại, các câu chuyện biến trạng của thế giới, câu chuyện về biến trạng của đại dương, câu chuyện về sự hiện hữu và sự không hiện hữu. Vì sao?
Những câu chuyện này, này các Tỳ-kheo, không đưa đến mục đích, không phải căn bản cho Phạm hạnh, không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn". (Tương Ưng Bộ, tập V - Thiên Đại Phẩm, chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), I. Phẩm Định, X. Lời Nói)
Những câu chuyện đó không đưa đến chấm dứt tham sân si, vô minh và bản ngã, không đưa đến một nội tâm an tịnh và trí tuệ thù thắng, những câu chuyện đó không đưa đến sự phát giác cấu uế, cấu nhiễm trong tâm, không đưa đến Niết-bàn tối thượng.
"Có nói chuyện, này các Tỳ-kheo, các Ông hãy nói chuyện: 'Ðây là Khổ'... hãy nói chuyện: 'Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt'..." (Tương Ưng Bộ, tập V - Thiên Đại Phẩm, chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), I. Phẩm Định, X. Lời Nói)
Có nói chuyện thì hãy nói đến khổ, nói đến chuyện chấm dứt khổ, nói đến nguyên nhân đau khổ và con đường đưa đến diệt tận khổ đau. Hãy nói những câu chuyện đó, hãy mở pháp đàm kể với nhau những đau khổ về kiếp người này, những tai nạn, hậu quả của tham sân si, bản ngã, hãy khuyến tấn, khích lệ, động viên, làm hân hoan để nhìn thấy Khổ Thánh Đế để nhàm chán, ly tham, từ bỏ, hãy nói về những nỗi khổ niềm đau bất tận của đời sống này, hãy kể cho mọi người nghe mình bị lừa gạt mất nhà như thế nào, mình bị lừa đảo như thế nào, mình bị tai họa như thế nào, cha mẹ mình phải đau khổ như thế nào, ông bà mình phải cực khổ như thế nào, anh em mình phải sầu bi như thế nào, hãy mở những buổi đàm luận về khổ đau, về nguyên nhân của khổ đau.
Tu tập Tứ Thánh Đế
Đó là những lời Đức Phật đã dạy trong Tương Ưng Sự Thật Tương Ưng Tứ Thánh Đế. Sau khi đã thấy ra sự thật này rồi, hãy ngồi một mình kêu trời kêu đất: "Còn ai đau khổ như con không?", "Còn ai vô minh, si mê, tham ái như con hay không?". Tất cả những vị tu hành ngày xưa và hiện tại cho đến mai sau đều phải cố gắng nỗ lực để thấy rõ sự thật này, tất cả mọi người tu là tu Tứ Thánh Đế, tất cả những vị chứng ngộ là chứng ngộ bốn sự thật về bốn Thánh đế nhưng ngày nay chúng ta tu mà không thấy được Khổ Thánh Đế thì làm sao chứng ngộ, làm sao thành tựu?
Một ngày mình sống với cái thấy đau khổ được bao nhiêu thời gian? Tất cả những bậc tu hành Sa-môn, Ba-la-môn trong thời quá khứ, hiện tại, vị lai đã tuyên bố như thật chánh đẳng giác; tất cả những vị ấy đã tuyên bố như thật chánh đẳng giác bốn Thánh đế. Cần xem lại trong tự thân mình đã thật sự thấy khổ hay chưa trong tất cả thời và nhìn tất cả sắc pháp, hình hài này có thấy khổ chưa, tất cả những cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức, rõ biết này có thấy khổ chưa, tất cả những tham dục, sân hận, si mê, vô minh, chấp ngã mình có thấy nó là nguyên nhân của khổ thật sự chưa hay là mình còn ôm ấp, tăng trưởng, phát triển? Đó là tại sao Đức Phật nói một sự thật cần cố gắng để thấy đây là nguyên nhân của khổ. Mình chỉ thấy khổ lúc nghe pháp, ngồi thiền nhưng khi trở ra thì lại trở về vô minh, trở về trong cái thường tình phàm tục, lại trở về trong sự vui vẻ, an bình, an toàn. Chớ có suy tầm các tầm ác, bất thiện, như dục tầm, sân tầm, hại tầm, đây chính là tác ý, đó chính là thiền quán, là sự suy tư, suy tầm, suy nghiệm.
Đời sống này là khổ đau, bất an, nhỏ bé, nhiều ưu tư, nhiều khổ não, hãy nhàm chán nó, hãy từ bỏ, chấm dứt tất cả sanh y, diệt tận kiết sử, không còn ưa thích, ham muốn bất kì cái gì trong ngũ uẩn này, chẳng thấy một chút gì là vui sướng, đó là sự bất an, hiểm họa và tai nạn, đó là những miếng mồi nhử của ác ma trong năm dục trưởng dưỡng. Hãy nhàm chán, trú trong cảm thọ nhàm chán thường xuyên như vậy, hãy quay lưng với tất cả sự lòe loẹt của thế giới này, hãy thường đặt mình trong pháp môn niệm tử, những pháp đó Đức Phật gọi là minh phần để phá vô minh.
Đừng tưởng an ổn như vậy là tu rồi, nghĩ như vậy là sai lầm, trong sự an ổn, thường thường, đều đều đó là trạng thái chấp ngã, trạng thái si mê, vô minh, tham ái nhẹ, chỉ là chưa biểu hiện ra ngoài chứ bên trong đó là sự chấp thủ khủng khiếp, cho nên phải đào sâu để bứng tận gốc rễ của tham ái và vô minh, phải mé nhánh, chặt cành, phải chặt ra từng mảnh, chẻ ra từng miếng, đốt thành tro bụi, đổ xuống sông xuống biển cho gió thổi bay để diệt tận hoàn toàn vô minh và khát ái này.
Minh Thành nhớ hoài hình ảnh ngài Milarepa – Thánh Tăng Tây Tạng đã hiến thân trọn đời cho thiền định. Khi gia đình của ngài bị bà con lấy hết gia tài, mẹ ngài đau khổ và thù hận. Ngày xưa gia đình của ngài là một điền chủ, cha ngài mất khi ngài còn nhỏ, trước thân tộc cha ngài dặn dò đến tuổi trưởng thành mới trao gia tài lại cho ngài nhưng đến đúng tuổi thì mọi người lấy hết mọi thứ, người mẹ phải đi làm thuê làm mướn, ở trong căn nhà xập xệ nghèo khó thiếu thốn. Một hôm ngài đi uống rượu rồi về nhà ngài ca hát, ngài có giọng ca rất hay, người mẹ nghe thấy thì chạy ra lấy chổi đánh ngài và kiêu trời "Trời ơi trời! Tại sao giờ này con lại hát? Chúng ta đau khổ như vậy mà con không thấy sao? Có ai trên đời này khổ bằng mẹ con chúng ta phải đi ăn mày, tại sao con vui cười?". Người mẹ đánh tới tấp vào thân thể ngài và khóc òa lên, sau đó dường như người mẹ ngất xỉu tại chỗ, "làm sao con có thể nghêu ngao vui chơi trong khi mẹ con mình còn đang rất khổ cực?", "Tại sao con lại có thể ăn chơi ca hát như vậy?". Sau này còn lại chút đất đai người mẹ cũng bán hết để lấy tiền cho ngài đi học huyền thuật. Cuối cùng ngài cũng học thành tựu, trở về nhà làm mưa đá trả thù tất cả những người đã hại gia đình ngài và rất nhiều người đã chết dưới tay ngài. Sau đó ngài ý thức được tội lỗi ác nghiệp nên đi tu, hiến thân trọn vẹn cho thiền định. Ngài ngồi thiền suốt ngày không đi khất thực, chỉ ăn lá cây nên làn da biến thành màu xanh của lá cây, những người đi săn trong rừng nhìn thấy tưởng là ma quỷ vì ngài trần truồng, ở trong hang động và không có thức ăn. Ngài tu tập như vậy đến mấy chục năm, cuối cùng ngài chứng ngộ trở thành Thánh Tăng, được Phật Giáo Tây Tạng tôn xưng làm Phật Thích-ca của Tây Tạng.
Tuy rằng có những điểm khác với Nikāya nhưng đời sống ly dục, thiền định, sự chứng ngộ của ngài nói lên sự hi sinh vĩ đại của một bậc đại Thánh sư. Mỗi lần Minh Thành nghe lịch sử cuộc đời ngài là nước mắt lại chảy ra, khi ngài đi tu đã bị người thầy hành hạ chưa từng thấy, ngài phải chịu đựng rất khủng khiếp và cuối cùng ngài cũng đắc pháp, trở thành Thánh Tăng chứng đắc thần thông ngay hiện đời, chứng đắc trí tuệ.
Nếu không khéo thì chúng ta tu để hưởng thụ, để tìm sự an nhàn, rảnh rang, đó là đại họa của người xuất gia. Hãy đem hết tâm tư, thời gian, tâm lực, sức lực, trí lực của mình tập trung cố gắng nỗ lực để rõ biết đây là khổ, để chứng nhập được sự thật khổ đau của ngũ uẩn này, của đời sống này, của thế gian này. Mình phải diệt tận, đào thải, phải nỗ lực, thao thức, băn khoăn, ray rứt, nhức nhối, đừng để phí thời gian vì những lời nói phù phiếm vô ích, những hơn thua thấp kém hèn hạ, những thị phi vô bổ ngu xuẩn. Hãy đặt hết tất cả tâm tư, trái tim, bộ não vào trong Thánh trí tuệ "Đây là khổ đau", hãy nhìn thấy nguyên nhân sanh ra đau khổ vẫn còn tồn đọng, còn đầy ắp trong tâm của mình để tẩy sạch tâm tư khỏi các chướng ngại pháp, hãy vệ sinh quét dọn căn nhà tâm linh cấu uế bẩn thỉu này. Hãy dành thời gian thiền định, dành thời gian chiêm nghiệm và suy tư nếu không bất thình lình đột biến, đột quỵ, đột tử đến thì không còn kịp nữa.
./.