Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Xả Vô Lượng Tâm 2

2026-03-03 00:53:14
Xả Vô Lượng Tâm 2

Thích Minh Thành

Ngày 22 tháng 07 năm 2021

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Đi vào tâm xả PAGEREF _Toc78804027 \h 1

II. Tâm dao động PAGEREF _Toc78804028 \h 6

III. Xả bỏ tâm u mê PAGEREF _Toc78804029 \h 7

I. Đi vào tâm xả

(Hít vào) Nhẹ nhàng ơi, nhẹ nhàng ơi,

(Thở ra) Nhẹ nhàng ơi, yên lặng ơi,

(Hít vào) Yên lặng ơi

(Thở ra) Yên lặng ơi,

Buông xả ơi, buông xả ơi.

Trầm lặng ơi, trầm lặng ơi.

Ta khơi dậy trong ta, ta khơi dậy trong ta tâm bình lặng, lặng im.

Ta khơi dậy trong ta tâm trầm lặng, lặng im.

Trầm lặng sống trong ta, bình lặng sống trong ta.

Trầm lặng có trong ta, bình lặng có trong ta.

Bằng nội tâm trầm lặng, bằng nội tâm trầm lặng, bằng nội tâm yên bình, ta dừng mọi suy nghĩ để nhìn kĩ cuộc đời. Ta nhìn thấy chính mình và thấy các hữu tình hiện còn đang lặn hụp trong sanh tử khổ đau, trong những tâm dao động, những tâm đầy tham lam, những tâm đầy sân hận, những tâm đầy u mê.

Vì sự đau khổ này, của ta và hữu tình, ta thành tâm tha thiết tu tập trải xả tâm. Vì sự đau khổ này của ta và chúng sanh, ta thành tâm tha thiết tu tập trải xả tâm.

Xả tâm là buông bỏ, xả bỏ những tâm tham, bỏ những tâm sân hận, bỏ những tâm si mê, về với tâm trong sạch, về với tâm trong veo, về với tâm trầm lặng, về với tâm lặng yên. Ta soi tâm nhìn lại, những tháng ngày vừa qua. Những gì ta đã sống là những mối sầu lo, lo vợ chồng, con cháu, lo cơm áo gạo tiền, lo bệnh đau hoạn nạn, lo mất mạng trắng tay. Ta sầu lo đủ kiểu, ta sầu lo đủ điều, ta sống trong lo lắng, trong lo rầu bất an.

Kính bạch quý thầy, quý sư cô và toàn thể đại chúng. Vừa rồi là chúng ta ôn lại đoạn đầu của bài thiền tập tâm xả, chúng ta làm cho sanh khởi cảm thọ buông bỏ, buông xả và chúng ta đi vào tâm xả.

Chúng ta hãy nhớ rằng tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi nên hôm nay chúng ta tụng thì Đức Phật có nói với các Tỳ-kheo suy nghĩ như sau

“Đây là sắc, đây là sắc tập khởi, đây là sắc đoạn diệt”

(Bài kinh Mười lực – Phẩm Mười Lực – Tăng Chi Bộ Kinh)

Suy nghĩ trên là tác ý, cũng là thiền quán. Chúng ta quán pháp trên pháp đoạn cuối:

Đây là sắc tập, là nguyên nhân sanh khởi sắc uẩn, đây là sự chấm dứt sắc uẩn, đây là con đường đưa đến sự chấm dứt, các Tỳ-kheo hãy suy nghĩ như vậy.

Trong sự tu của chúng ta, sự tác ý rất quan trọng là như lý giác sát, như lý tác ý. Như lý giác sát là: giác là tỉnh giác, sát là quan sát, như là như vậy, lý là sự thật, là tỉnh giác quan sát đúng như sự thật là pháp đang có mặt. Chúng ta thấy như câu trên, để thấy đúng như vậy thì phải không có năm triền cái.

Trong giai đoạn đầu chúng ta tu thì chúng ta phải để tâm thật nhiều, nhiếp phục, đoạn tận năm triền cái. Nếu không qua được ải đó thì không thể bước lên những nấc thang cao hơn nữa.

Mọi người hằng ngày nhìn lại tâm mình, xem dục, tham, sân, hôn trầm, trạo hối và hoài nghi để mình lo nhiếp phục và đoạn tận năm điều đó. Mình như lý giác sát để mình tỉnh giác quan sát đúng như sự thật nội tâm của mình rồi mới như lý tác ý, tác động đến tâm ý của mình.

Vậy nên có câu “Ta khơi dậy trong ta tâm bình lặng, lăng yên”. Vì lúc trước chúng ta nghĩ ngồi thiền là ngồi im ru, ngồi thiền sao lại suy nghĩ, suy nghĩ sẽ làm động tâm? Nên thường người ta ngồi thiền rất sợ suy nghĩ. Không phải như vậy, nếu vậy thì Bát chánh đạo làm sao có được Chánh Tư Duy?

Vậy nên muốn pháp trầm lặng, lặng yên đó có mặt thì phải làm cho nó khơi dậy, phải tác ý. Ví dụ mình đang lóc chóc, lăn xăn thì khi niệm thân thì mình thấy cái này đang dao động, trạo cử thì mình kêu “An tịnh đi, lắng dịu đi!” thì lúc đó pháp an tịnh hiển lộ, pháp trạo cử, lăn xăn bị lắng xuống, dịu xuống, nhiếp phục.

Chúng ta thấy nhà dơ thì lấy chổi quét hay khăn lau, không thể đứng im ru như vậy mà nó sạch được. Vậy nên chúng ta nhớ tới sự tác ý: “Trầm lặng sống trong ta, bình lặng sống trong ta. Trầm lặng có trong ta, bình lặng sống trong ta.”

Nếu chúng ta ở ngoài, không vào đây nghe pháp thì chúng ta có được tâm bình lặng, lặng yên không? Nên trên đường vào đây thì Minh Thành nhớ đến câu trong chùa thường hay tụng: “Ngày đêm nương pháp ở” là ngày đêm nương tựa ở trong Chánh Pháp, không đi ra khỏi. Dù cho ban ngày hay ban đêm đều ở trong pháp, đừng cho tâm mình đi ra khỏi pháp.

Tiếp theo chúng ta đi vào tâm xả:

“Bằng nội tâm trầm lặng, bằng nội tâm trầm lặng, bằng nội tâm yên bình, ta dừng mọi suy nghĩ để nhìn kĩ cuộc đời”. Ta đã làm cho tâm mình khơi dậy sự bình lặng, lăng yên, trầm lặng xong rồi thì ta mới trú vào trong trầm lặng đó, bình lặng đó. Điều này rất đặc biệt và vi tế trong tâm của mình, mình làm cho nó khơi dậy sự bình lặng. lăng yên, trầm lặng xong rồi thì mình sống trong đó, an trú trong đó.

Và bằng nội tâm trầm lặng, yên bình sau khi trú được, sống được trong đó rồi thì sự trầm lặng, yên lặng đó có mặt trong tâm của mình rồi thì bằng nội tâm đó, “Ta dừng mọi suy nghĩ để nhìn kĩ cuộc đời”. Đó chính là thiền quán.

Suy nghĩ khác và nhìn kĩ bằng nội tâm trầm lặng là khác nhau. Cần phân biệt rõ, cái tâm suy nghĩ chuyện này chuyện kia là khác, xúc sanh thọ, tưởng, hành nên khi mình tiếp xúc rồi mình sanh ra những cảm giác, nghĩ tưởng thì lúc đó là duyên sanh pháp, là bị động, là do ngoại cảnh, do duyên bên ngoài tác động nên sanh khởi ra những cảm giác, nghĩ tưởng đó, những hình bóng, suy nghĩ, cảm giác đó. Đó là vì nó tiếp xúc, tiếp xúc rồi sanh ra suy nghĩ, đó là pháp duyên sanh, là bị động, ngoại cảnh tác động. Còn đối với việc này thì “Bằng nội tâm trầm lặng, bằng nội tâm trầm lặng, bằng nội tâm yên bình, ta dừng mọi suy nghĩ để nhìn kĩ cuộc đời” là ta dừng mọi suy nghĩ lan man, mông lung, suy nghĩ lang thang, lung tung đó, ta dừng lại hết để nhìn kĩ cuộc đời. Việc nhìn kĩ này lại là tuệ, chúng ta phải phân biệt được hai pháp này.

Hành uẩn là khác, còn Chánh Tư Duy là khác. Và sự nhìn kĩ cuộc đời này dựa trên gì để nhìn? Đó là dựa trên sự thấy biết đúng để nhìn nên Chánh Tư Duy sanh khởi là từ nơi của Chánh Kiến. Nếu như chúng ta không có thấy biết đúng về ngũ uẩn, về tham sân si, vô minh, bản ngã, về nguyên nhân của đau khổm vô thường, khổ, vô ngã thì làm sao chúng ta nhìn đúng và suy nghĩ đúng. Nếu có suy nghĩ thì suy nghĩ theo lẽ thường tình của thế gian, nhưng suy nghĩ theo thường tình đó không có đưa ra hay thoát khỏi và chấm dứt khổ. Chúng ta nên nhớ đó sẽ không đi đến chỗ diệt khổ.

Chúng ta biết rằng Thánh tri kiến trong kinh hay dùng từ là thể nhập tri kiến của bậc Thánh. Nên sự nhìn kĩ cuộc đời này nhìn bằng gì? “Ta nhìn thấy chúng sanh và thấy các hữu tình hiện còn đang lặn hụp trong sống chết, khổ đau” đây là nhìn bằng Tứ Thánh Đế, bằng Thánh tri kiến, nhìn bằng bốn sự thật của bậc Thánh chứng ngộ mà mình được truyền thừa Chánh Thánh từ Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác.

Tức là “Ta dừng mọi suy nghĩ để nhìn kĩ cuộc đời!” là nhìn bằng pháp nhãn, đạo nhãn, bằng như thật tri kiến, sự thấy biết đúng sai. Đó cũng không là sự thật bình thường mà là sự thật của bậc Thánh chứng ngộ. Chúng ta thấy chỉ vừa đi vào tâm xả là hiển bài Khổ Thánh Trí.

Nên chúng ta thấy Ba mươi bảy phẩm trợ đạo, Tứ Niệm Xứ hay Tứ Thánh Đế là lúc nào cũng ở trong pháp, không đi ra. Không có cửa đi pháp nào ngoài đó hết, đều phải trở về đó.

“Ta dừng mọi suy nghĩ để nhìn kĩ cuộc đời” là suy nghĩ của mình trong các tham, muốn, dục, ái, trong những sân hận, hơn thua, đúng sai, phải quấy, trong vô minh, si ám, trong sự không hiểu biết, trong bản ngã, trong cái ta tôi, tao mi, bỉ thử, hơn thua. Nếu mình cứ đi theo những suy nghĩ đó thì làm sao thấy được chân lý, sự thật? Vậy nên “Ta dừng mọi suy nghĩ để nhìn kĩ cuộc đời” và nhìn bằng trí tuệ, đừng để các việc khác chen vào, nếu dục, tham, ái chen vào thì làm sao thấy được bằng Chánh Kiến và cái thấy đó cũng không còn đúng sự thật nữa.

Đức Phật ví dụ giống như bát nước nhuộm màu, nước không còn trong xanh nên hai câu trên chính là thiền quán “ta dừng mọi suy nghĩ để nhìn kĩ cuộc đời”, đây là quán, là định huệ. “Ta dừng mọi suy nghĩ” là chỉ, “để nhìn kĩ cuộc đời” là quán.

“Ta nhìn thấy chính mình và thấy các hữu tình, hiện đang còn lặn hụp trong sống chết khổ đau” là nhìn ra được một biển khổ của tự thân chúng ta và những người thân thương xung quanh chúng ta, bà con, họ hàng của chúng ta. Tất cả mọi người dù thương hay ghét ta, hại ta hay ủy nhục, khinh chê ta và tất cả mọi loài đều chìm đắm, phiêu lưu, trôi dạt, trôi lặn trong biển khổ.

Cả một biển khổ là nước mắt, là tham sân si, khổ là do vô minh, bản ngã, tham ái và không ai thoát ra khỏi cái đó. Nhưng không thoát ra được thì làm sao hết khổ vì đó chính là nguyên nhân của khổ. Tất cả bên trong mình đều có máu nóng đó, máu sôi sục, đều có những con vi rút của bản ngã, hay những con vi trùng của sân si, vi khuẩn, vậy còn ai không khổ? Vậy nên Khổ Thánh Trí mới thành lập.

Khi chúng ta nhìn thấy một người nghèo quá, không có ăn, người đó bệnh, không có con cháu nuôi thì đó chỉ là nhỏ, nhưng ngay cả những người thành đạt, giàu có, tên tuổi lẫy lừng, cũng nhìn trong đó đều là khổ đau, đều là dục ái, tham sân si, vô minh, bản ngã trong đó. Như vậy chúng ta thấy cái khổ đó bao trùm không?

“Hiện còn đang lặn hụp trong sống chết khổ đau” là nhìn thấy trên toàn thể địa cầu, hành tinh này, trái đất, thế giới này đều là khổ. Đầy rẫy và sung mãn là khổ, tràn ngập là khổ. Là sự thúc giục, sự tham muốn bên trong, sự ưa thích, khao khát, sự đòi hỏi, sự tìm kiếm, sân si, thêu đốt, đốt cháy, ganh tị, ngã mạn, tranh đấu, hơn thua, bản ngã, ích kỷ… đều đầy rẫy, vô số.

Chúng ta sẽ được học trong kinh Nikāya về Đức Phật, ngài Mục-kiền-liên, Xá-lợi-phất nói về tâm ác đầy cả hai trang kinh, chỉ toàn là tâm xấu ác, xảo ngụy, xiểm nịnh, hư cuốn, ác tham, ác tệ, ác dục…

Đầy rẫy trong cả thế gian này đều ngập chìm, lặn hụp trong biển khổ sống chết này, như vậy mới gọi là Tứ Thánh Đế. Nếu không có vậy thì không gọi là Thánh đế, là sự thật mà bậc Thánh đã chứng ngộ, một ngày mình an trú trong Khổ Thánh Đế này được mấy tiếng?

Khi mình ăn một món ăn ngon thì mình có thấy khổ không? Khi mình cảm xúc, cảm thọ thì mình có thấy khổ không? Khi những suy nghĩ này đến suy nghĩ kia thì mình có thấy nó khổ không? Là chúng ta lặn hụp “Trong những tâm đầy tham lam, những tâm đầy sân hận, những tâm đầy u mê.” Bốn câu này là Khổ Tập Thánh Đế.

Hai câu trên là “Hiện còn đang lặn hụp. Trong sanh tử khổ đau” là Khổ Thánh Đế. Bốn câu kế là “Trong những tâm đầy tham lam, những tâm đầy sân hận, những tâm đầy u mê.” là Khổ Tập Thánh Đế, là nguyên nhân của khổ.

II. Tâm dao động

Khi tâm đầy dao động sẽ dễ sinh ra sân hận, bản ngã, nên các vị có định rất quan trọng, rất quý, dù sao cũng nhiếp phục được phần thô của các lậu hoặc, phiền não. Tu tâm bình thản, trầm tĩnh mà cứ lăn xăn, phản ứng nhanh, phản ứng mau là cực kì nguy hiểm, là dao động bên trong, rất dễ phản ứng nhanh mạnh, dễ sinh ra nông nỗi, sôi nổi, sôi động, sùng sục hoặc nổi loạn. Còn người có an trú, thiền định thì an tịnh, lắng dịu và cứ nhắc tâm của mình thường như vậy thì dù chưa vào được trong định nhưng ít nhất cũng là cận định, cũng có sự an tịnh, lắng dịu ở các căn.

Tại sao phải lặn hụp trong sanh tử khổ đau này? Là vì tâm dao động, nếu là tâm bất động thì không có, nên chúng ta tu đến độ gọi là bất động tâm giải thoát. Nên khi ngồi đây nghe pháp, bên kia mái nhà có bị tốc bay mà vẫn ngồi đây nghe pháp được thì đó cũng là kha khá, còn đối với người khác là nhảy ra, chạy ra, kêu la lên. Ngồi đây mà thấy mái nhà bên kia chuẩn bị tốc, nó dợn sóng, giống như áo bay mà mình vẫn ngồi đây nghe cho hết bài pháp thì cũng là kha khá.

Tức là lúc đó mình nhiếp phục được những thọ, tưởng, hành, những tâm dao động. Có một vị sư Nam Tông ở nước ngoài, chùa của Ngài đã cháy rụi thì có người đến phỏng vấn thì Ngài nói đó chỉ là bình thường, tan hoại, là pháp hoại diệt. Đó là khi tâm mình đã đi đến chỗ an tịnh, lắng dịu, trầm mặc, trầm lặng, không dao động nữa. Nhưng hãy nhớ vô vi bất động mà động dụng vô cùng, tức là khi sử dụng tâm thì nó sắc bén, linh động, linh hoạt. Tùy trường hợp, đối với tham, sân, si, vô minh, bản ngã thì bất động, đối với từ bi, hỷ xả, cứu người, giúp người thì khéo léo, thiện xảo.

Không phải sư phụ nói tu bất động là ngồi thiền đó mà nhà cháy cũng không sao vì sư phụ nói là ngồi bất động. Vì nhà cháy là khác, gió bão khác, vì gió bão là mình không thể lại gần được, nhưng nhà cháy thì lấy nước tạt được.

Nên những tâm dao động là những tâm đầy tham lam, sân hận, đầy u mê, là chủ đề của thiền quán. Khi mình ngồi yên thì mình xem mình có dao động nhiều không? Một ngày mình dao động như thế nào, dao động về cái gì? Rồi tìm hiểu tại sao nó dao động, nguyên nhân gì làm cho dao động rồi đến lúc ở ngoài dao động thì mình lắng im, nhìn kĩ thọ tưởng hành, nghe sự ngấm ngầm đang hoạt động, tìm hiểu tại sao nó dao động và hay dao động với gì, vì gì dao động. Tìm ra được nguyên nhân để khắc phục nó, và cứ để tâm vào đó mãi thì mình sẽ khắc phục được ít nhiều.

Còn điều này mình không chịu thì mình nói “Tôi quen rồi!” thì là tới chết cũng vậy, là không để tâm, làm gì cũng sơ sót, cũng bị rầy la. Phải để tâm vào đó, tìm ra nguyên nhân, tại sao lại như vậy, bất cứ việc gì cũng tìm nguyên nhân. Như giờ mình hay quên thì tìm nguyên nhân tại sao quên. Biết là mình hay quên thì ghi vào điện thoại, vào quyển sổ ngay, xem còn quên nữa hay không, những chuyện quan trọng. Vậy nên phải lấy những việc đó làm thiền quán: những tâm đầy tham lam, đầy sân hận, đầy u mê.

III. Xả bỏ tâm u mê

“Vì sự đau khổ này của ta và hữu tình, ta thành tâm tha thiết, tu tập trải xả tâm.” Chính vì sự đau khổ của mình và chúng sanh nên mình thành tâm, tha thiết tu tập để buông bỏ, xả tâm là buông bỏ, xả bỏ những tâm tham, bỏ những tâm sân hận, bỏ những tâm si mê, phải nhấn mạnh vào chữ “bỏ” để cho các pháp hiển lộ ra. Xả tâm là buông bỏ, xả bỏ những tâm tham, bỏ những tâm sân hận, bỏ những tâm si mê. Chúng ta có hiểu được giá trị, lợi ích như thế nào thì khi triển khai thì lúc đó mình làm cho nó phù hợp, để có được cảm thọ cho mình và cho những người thực tập.

Tập xả bỏ những tâm tham lam, sân hận, si mê, thì mình dừng lại để nhìn kĩ nội tâm của mình thì mình thấy nếu có tham lam thì xả bỏ, hay có sân hận thì xả bỏ, nếu có si mê thì đánh tan, đánh vỡ, vỡ nát ra, đem mặt trời rọi vào, quán tưởng đem ánh sáng rọi vào, đó chính là thực tập xả tâm. Bất cứ lúc nào sanh khởi lên hay thậm chí không sanh khởi lên thì mình cũng chặn trước sau, chặn đầu đuôi, tác ý xa gần, tác ý trên dưới trước.

Chúng ta biết những người đi đánh giặt thì họ đề phòng, rất cẩn thận, tuy đi đường không có ai, những người vệ sĩ, tướng, võ sư thì đi đến đâu họ cũng nhìn trước nhìn sau xem có người theo dõi không hay có du kích bắn tỉa không, có ai để ý mình không, họ nhìn qua mắt thì họ rất tinh, chỉ cần nhìn lướt qua. Còn đối với người bình thường thì từ phía sau tiến đến đập một phát ngã xuống rồi bị khiêng đi mà không biết gì. Vậy nên người trong nghề khác với người bên ngoài như vậy.

Cũng vậy, người tu có sự để tâm khác với người tu không để tâm. Bất cứ việc gì cũng phải để tâm, không để tâm thì không làm được gì, suốt đời làm gì cùng lớt phớt, không đi tới đâu. Phải để tâm thật nhiều vào, cái mình đang làm là những cái rất quan trọng, thật sự quan trọng trong sự tu của mình, là phải để tâm. Nên khi thấy tham muốn là nhiếp phục, thấy có bực bội, sân hận thì nhiếp phục ngay, buông bỏ còn lúc đó nhiếp phục chưa được thì tránh duyên, đừng cho xúc nữa.

Hay như thấy tâm si mê thì đánh, giải phá ngay, chiếu soi ngay. Nói về sự khổ luyện để thành đạo rất đặc biệt. Ví như các em bé, chú tiểu trong Thiếu Lâm Tự chỉ có năm, bảy tuổi phải đứng bằng một chân hoặc đứng tấn ở trên hai cây, đứng hàng giờ đồng hồ, nước mắt chảy, chân thì run mà vẫn luyện công, thậm chí trồng chuối ngược trên cầu thang, thang đá dựng đứng trên núi. Họ khổ luyện như vậy để làm gì? Tuổi nhỏ đó phải để cha mẹ lo ăn, lo chơi chứ tại sao làm vậy để khổ? Vậy thì sau này người ta mới trở thành thiên hạ vô địch, minh chủ võ lâm, cao thủ võ lâm, trở thành người xuất chúng.

Vậy nên mình được ngồi thiền nhiều, học pháp và rèn luyện nhiều thì phải mừng, cảm ơn sư phụ, cảm ơn quý thầy. Phải đặt mình vào trong trường hợp nguy hiểm, trường hợp bất an. Ví dụ như mình nói chuyện với một người, khi xuống núi nghe thấy ông đó là F1 thì tối mình ngủ yên không? Ăn cơm có ngon không hay mình lo? Đó mới chỉ là F1 thôi, chưa phải là F0. Vậy mà các bác sĩ hằng ngày trị bệnh trong các bệnh viện dã chiến thì người ta tiếp xúc với F0 thì sao? Người ta không biết lo, biết sợ cho sinh mạng của người ta hay sao? Người ta không sợ chết hay sợ bệnh sao? Hay họ không biết sợ mệt hay nóng hay sao?

Chúng ta tác ý là “Tại sao mình nghe pháp mà tâm mình lơ đơ, mơ màng, ngồi thiền mà ngủ gục, học pháp mà buông lung, không chịu học?” Tác ý như vậy và “Thấy có tồi bại, đê hèn, xấu hổ, nhục nhã không?” Có một chú đệ tử làm công quả ở đây, giờ đã làm ở Sài Gòn, đã nói là “Ngày mai con tình nguyện đi chăm sóc cho các bệnh nhân nhiễm dịch bệnh!” hay như các chư tăng, ni của mình tình nguyện đi hàng trăm người để đi chăm sóc cho những người bệnh.

Vậy nên luôn luôn đặt mình vào trong đó rồi tác ý thì mình mới ra khỏi được, không thì người mình rất yếu đuối, nhu nhược. Mình tu mà lắng nặng tìm nhẹ, ẩn dương nương Phật, qua ngày đoạn tháng, không muốn làm gì, muốn an bình, yên ổn, có gì khác chút là mình thấy khó chịu. Đó là sự thất bại, phải luôn đặt mình vào chỗ nguy hiểm và chỗ nguy hiểm nhất trong tất cả nguy hiểm là tâm tham lam, sân hận, si mê, bản ngã, vô minh. Ngày đêm mình phải để tâm trong chỗ đó, phải diệt nó cho bằng được, phải nhiếp phục và diệt tận, không chịu thua với nó, chăm chăm để tâm, nhòm ngó, tự mình phải quật cường lên, làm cho mình mạnh mẽ, đại hùng đại lực. Chúng ta thấy các vị Thánh ni trong Tương Ưng Ác Ma thì nữ cũng là Thánh nhân A-la-hán, Thánh tăng, không có nữ yếu thì chúng ta phải tác ý “Mình giống như con gà ủ rũ!”

Ngày đêm mình phải tác ý, để tâm mạnh lên thì tướng mình chuyển đổi. Lúc xưa Minh Thành rất ốm yếu, hay bệnh hoạn nhưng khi vào được trong pháp, trú trong pháp thì mình không thấy được mình nữa, không quan trọng sức khỏe nữa, tự chuyển biến lúc nào không hay, chuyển tâm chuyển tướng. Như vậy thì mình phải trú trong pháp, còn không là không ra khỏi nghiệp, sẽ bị nghiệp chi phối, khống chế vĩnh viễn đến chết rồi đời sau cũng vậy. Đạo lực của mình phải mạnh thì mình mới quật lại nghiệp lực, còn nếu mình buông trôi, buông xuôi, buông lơi hoài thì suốt đời mình cũng không ra khỏi nghiệp đó, không quật ngã nó được, không lật đổ nó được.

Tu là phải mạnh mẽ, mắt phải mở lên, tu là như các ông tổ như Bồ Đề Đạt Ma, phải học như vậy, luyện tập, để tâm. “Đầy những tâm u mê” là rất nặng, mình đừng tưởng tham sân, dục ái là nặng, u mê này rất ghê gớm, u mê, si mê, trì trệ, trì độn, phải giải phát được, lúc nào trong người mình cũng tràn đầy sinh lực, trí lực, hùng lực, mình chưa là lực sĩ nhưng cũng là con người khỏe mạnh, không cho tu mà chỉ nhìn thấy thôi, những vị thiện tri thức mình có nhìn thấy không, nhìn có biết bệnh không? Đó là sức mạnh của pháp, phải tác ý: “Mình là nam nhi chi chí, mình là đàn ông làm sao thua phụ nữ được? Cảm thấy nhục” tác ý hoài như vậy thì sẽ đi ra khỏi trạng thái, hình dáng, hình tướng, thói quen, tập khí đó ra khỏi.

Vậy nên chúng ta thấy sự tu này cần để tâm rất nhiều, không để tâm thì không tu đến đâu hết, suốt đời không là gì, không ra trò trống gì, cái gì để tâm cũng phải để tâm hết sức nhiều. Phải bỏ những tâm tham lam, sân hận, si mê để về với tâm trong sạch, về với tâm trong veo, về với tâm trầm lặng, tâm lặng yên.

Xả tâm là buông bỏ, xả bỏ những tâm tham lam, bỏ những tâm sân hận, u mê, về với tâm trong sạch, trong veo, trầm lặng, lặng yên. Nên tĩnh lặng là phải nhưng lặng lặng hôn trầm là sai. Ngồi thiền cũng như có công thức, tỉnh là dấu hỏi, tỉnh táo mà tâm lặng lẽ là đúng, nhưng lặng lặng hôn trầm là sai, tỉnh mà loạn tưởng cũng là sai. Nó yên lặng, trầm lặng, trong veo, trong sạch nhưng tỉnh sát, rõ ràng, tinh minh, tinh anh, không phải là trầm lặng rồi chìm luôn.

Nên về với tâm trong sạch, trong veo, trầm lặng, lặng yên, tinh minh, tinh anh, sáng tỏ, rõ biết để đi vào tâm xả, tức là trong tâm không có thọ, tưởng, hành, tham, sân, si mê, nói chung là năm triền cái không có mặt. Lúc đó về với tâm trong sạch, về với tâm trong veo, về với tâm trầm lặng, về với tâm lặng yên.

Minh Thành tìm được phương pháp thiền quán này như còn hơn trúng được mỏ kim cương, rất tuyệt diệu, không thể nói thành lời. Và khi Minh Thành nghe đại chúng thiền quán ở dưới thất thì Minh Thành sung sướng cả người, từ xa trực tuyến cũng cảm thấy an lạc, hạnh phúc, rất vi diệu, nên phải thực tập pháp này thâm sâu, phải chia sẻ một cách thiện xảo, khéo léo như vậy. Không thể nghe xong rồi rơi rớt hết, giống như để kẹo trên chân, đứng dậy sẽ làm rơi hết kẹo.

Thiền quán này làm tâm của ta lắng lặng, làm sanh khởi những cảm thọ, đi sâu vào ấn tượng, lặp tới lặp lui thì người ta sẽ nhớ lâu rồi người ta tu, nên các sư cô cũng cần thực tập thiền quán, lên hướng dẫn, rèn luyện, về thực tập và xem các thầy giảng, các vị cư sĩ cũng cần thực tập, cơ hội này rất quý báu, thiền quán rất tuyệt diệu. Cứ lên ngồi rồi thở vào thở ra rồi làm sao ai biết được? Chúng ra không nên để ngồi yên lâu thật lâu mà nên cho ít thôi, mười phút hoặc mười lăm phút thôi, cứ để ngồi yên rồi thì bên trong làm gì? Trừ những người bên trong đạo tràng nắm giữ pháp hành, còn nếu không thì ngồi yên thì làm gì bên trong đó? Hay cứ suy nghĩ lung tung, cảm thọ rồi lan man, lơ mơ trong đó rồi rối tung bên trong đó?

Thiền quán này rất tuyệt diệu, vi diệu và tất cả trong kinh Nikāya đều để chúng ta thiền quán, tứ thiền là thiền định, còn lại đều là thiền quán, tràn ngập tất cả những lời trong kinh là thiền quán. Vì vậy chúng ta nhớ khi đọc Sám hối diệt ngã thì phải đọc cho chậm, vì là sám hối, là những lời tha thiết, chân thành, da diết, phơi bày, bày tỏ, không thể nói nhanh, sau đó thì Minh Thành lên hướng dẫn, chia sẻ. Đọc phải kéo dài, tha thiết, da diết, làm cho người nghe và chính cả người đọc họ sanh được cảm thọ. Hãy nhớ đọc chậm, tha thiết, da diết giống như thiền quán, tuy là đọc nhưng đây là thể loại sám hối thì khác với đọc kinh, nên nói ra có nhiều cái để mình học, sám hối là khác với đọc kinh.

Vì vậy chúng ta trở về với tâm trong sạch, tron veo, trầm lặng, lặng yên. Nghe đến đây tâm được yên lặng, lắng lại. Pháp này thật sự tuyệt vời, tuyệt vời nhất là trong thế giới đang đau khổ này, đại thảm họa toàn cầu này, ở Trung Quốc bị trận lũ ngàn năm có một, ở Châu Âu thì xuất hiện cơn lũ hai trăm năm mới có, sắp tới còn có nhiều sự kiện khác mà giờ chúng ta ngồi đây được an tịnh, lắng dịu, hạnh phúc tu tập như vậy thì có thấy được không? Có thưởng thức không? Có nhận thức được là mình đang phước báu, hạnh phúc, công đức không?

Không biết được chúng ta còn sống được bao lâu nên tâm của chúng ta phải phấn chấn, phấn khởi lên, tinh anh lên, phải tùy văn nhập quán như vậy, thì mình trú trong pháp suốt ngày đêm như vậy, không đi ra khỏi pháp, là nguy hiểm, là tai họa ngay lập tức. Một ý niệm đi ra khỏi pháp là thiên tai tới, lũ lụt tới, sóng thần tới, hỏa hoạn tới… Lũ lụt là dòng thác lũ của tham dục, sóng thần là cuốn phăng hết tất cả, cơn sân sẽ thiêu rụi hết tất cả, bản ngã giống như sóng thần.

Bài tâm xả như tóm tắt những điều hay của tạng kinh Nikāya:

“Xả bỏ tham sân, ta xoay tâm nhìn lại những tháng ngày vừa qua. Những gì ta đã sống, là những mối sầu lo. Lo vợ chồng, con cháu, lo cơm áo gạo tiền, lo bệnh đau hoạn nạn, lo mất mạng trắng tay. Ta sầu lo đủ kiểu, ta sầu lo đủ điều. Ta sống trong lo lắng, trong lo rầu bất an.”

Trong tất cả bốn câu trên thì chữ lo là chính, phải làm cho pháp hiển lộ ra, “ta xoay tâm nhìn lại những tháng ngày vừa qua”, câu này một ngàn thi sĩ cũng “ở lại”. Tức là ta xoay tâm của mình nhìn lại những tháng ngày trong quá khứ, nhìn lại sắc, thọ, tưởng, hành, thức trong quá khứ thì nhận ra “Những gì ta đã sống là những mối sầu lo. Ta sống trong quá khứ, dĩ vãng là chuỗi ngày, chuỗi năm tháng, trong sự sầu lo, sầu bi, lo lắng.”

Chúng ta nhìn thử trước khi đi tu, mình sống như thế nào, nhìn cha mẹ, ông bà mình sống như thế nào, cô bác, bà con mình sống như thế nào? Là những chuỗi ngày sầu lo, những mối sầu lo. Như thầy Pháp An đến bây giờ con còn “quậy”, nhiều khi một hai giờ đêm, nửa đêm gây gổ cũng gọi ông ấy, dù đã già bảy tám mươi tuổi, ở trong chùa tu bảy tám năm rồi nhưng vẫn chưa được yên. Mình cắt đứt với gia đình để lo tu thì tại sao không chịu quyết liệt hơn? Tập trung tâm tư, tâm ý vào trong sự tu, rồi nhì lại?

“Lo vợ chồng, con cháu, lo cơm áo gạo tiền, lo lệnh đau hoạn nạn, lo mất mạng trắng tay”, nhấn mạnh ở chữ lo để hiển lộ pháp, cứ lo lắng, lo âu, lo sợ, lo toan, bất an là chuỗi ngày của đời sống này, lo hoài như vậy, rồi khi lên rừng lên núi như vầy thì đã hết lo chưa? Hay đi đâu cũng thấy tham, sân, si, bản ngã đầy rẫy? Thật sự nơi không còn lo là nơi bỉ ngạn, đến bờ bên kia mới hết lo, lúc đó là bậc A-la-hán.

Như vậy người không biết tu thì lo đủ thứ như vậy, “ta sầu lo đủ kiểu, ta sầu lo đủ điều, ta sống trong lo lắng, trong lo rầu bất an” rất nhiều cái lo nhưng người tu mình chỉ có một cái lo là mình lo không xong thì mình trở thành tội đồ. Người tu chỉ có một nỗi lo, là đề tài thiền quán để xem là lo cái gì? Mình không lo được cái đó thì là đại tội, bất hiếu, bất nghĩa, bất trung, bất nhân.

Khi ta xoay tâm nhìn lại, những tháng ngày vừa qua, những gì ta đã sống, là những mối sầu lo, đủ chuyện lo. Nhớ đến những ngày cuối của bà Năm thì Minh Thành nói thầy Pháp An rất hoan hỷ vì tự nhiên bà đã không còn lo vụ nhà cửa nữa, không còn nghe nói về tiền bạc nữa, đó là đại phước báu của bà. Giờ thì mấy đứa con giành nhà, nhờ bà được nghe pháp thường xuyên, được quý thầy nhắc nhở, được sư cô hộ niệm, khích lệ nên những ngày cuối không còn nhắc về nhà cửa, con cái, tiền bạc gì nữa nên mới ra đi một cách thanh thản, nhẹ nhàng.

Nhưng như một bà cụ trên chín mươi tuổi, mắt không thấy, không biết chữ nên họ lừa kí giấy là giao nhà cho nó, bỏ bà ấy nằm ngoài đường. Người ta bức xúc, bất mãn rồi người ta nói trên báo chí. Thật khủng khiếp cho cái tâm tham lam, bất hiếu, tâm phản trắc, vô ơn này, rất khủng khiếp trên cuộc đời này, sẽ xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh ngay lập tức.

Vậy nên chúng ta phải lo, cố gắng dẹp những thứ đó, còn không lo tu thì cứ lo vợ chồng, con cháu, cơm áo, gạo tiền, bệnh đau, mất mạng, trắng tay, lo sầu đủ kiểu, đủ điều, sống trong lo lắng, trong lo rầu, bất an. Người ta cứ lo dịch bệnh nhưng có cái còn hơn cả dịch bệnh tỉ lần, đó là sự chấp thủ vào ngũ uẩn, chấp thủ vào tham, sân si, bản ngã đó. Hết dịch này rồi hạnh phúc không? Vậy trước khi dịch có hạnh phúc không? Nên khi mất cái bình thường thì cái bình thường đó mới gọi là quý, nhưng giả sử hết dịch rồi thì có thật sự hoàn toàn được hạnh phúc không? Trong khi tham, sân, si, bản ngã, vô minh chưa nhiếp phục, chưa đoạn tận rồi lại tiếp tục khổ đau theo kiểu khác nữa nên là chỉ đỡ hơn chút thôi.

Vậy nên mình tu chỉ lo một cái thôi, dù có dịch hay không dịch thì mình cũng tu, bệnh hay khỏe thì mình cũng tu, được mất thì mình cũng tu, dù nắng mưa, bão gió thì cũng tu, không phải là nói bão rồi trùm mền ngủ. Bên ngoài càng bất an, càng vô thường, càng rối loạn, càng biến động chừng nào thì mình càng tu nhiều chừng đó, thậm chí nhiều hơn bình thường nữa. Chúng ta cứ so sánh mình với những bác sĩ tuyến đầu chống dịch, lấy hình ảnh đó để tu, để cố gắng hoằng pháp, chia sẻ với những người đang đau khổ, bất an trong thời điểm này.

“Lo vậy còn chưa đủ, lại còn thêm hận thù. Những người đã động đến bản ngã này của ta. Ta oán thù những kẻ sống không tốt với ta. Ta căm giận những kẻ khinh rẻ, xem thường ta. Ta nuôi dưỡng, ấp ủ những bực tức, hận thù, ta khư khư giữ chặt những nhỏ nhặt, hơn thua. Ta sống trong bực tức, ta sống trong buồn phiền để rồi ta chìm lún trong hận thù, khổ đau. Tâm ta bao đau khổ, bao dằn xé bên trong. Tâm ta bao uất hận, bao oán giận bên trong.”

Nói đến đây nước mắt chỉ muốn tuôn ra, cảm thấy thương mình và thương hữu tình chúng sanh.

“Tâm ta sao tội quá, ôm quá nặng trong tâm. Sao tâm không bỏ bớt, để cho lòng rảnh rang. Để cho lòng mình trống không. Lòng ta sao nặng quá, như xe chở quá nhiều. Xe ơi, xe ơi tội xe quá. Xả bớt hàng đi xe. Xe ơi tội xe quá. Xả bớt hàng đi xe.”

Chúng ta nhìn thấy hình ảnh của chiếc xe bò, chất lên đó đầy vung, quá tải thì con bò đi không nổi, phải bằng những cây roi thúc nó vì nặng quá, đã quá tải. Tâm của chúng ta cũng như vậy, đầy rẫy, đã lo lắng nhiều thứ như vậy rồi vẫn chưa đủ, hận thù “những người đã đụng đến bản ngã này của ta”, lại thêm hận thù, thù hận. Chúng ta cứ nhớ mãi, tô mãi, đồ mãi, khắc sâu vào trong đá, những người đụng chạm tới bản ngã.

Khổ này chồng lên khổ kia, đau này chất lên đau khác, thật là tội nghiệp cho ta, đáng thương cho ta, xót xa cho ta và hữu tình chúng sanh. Ta cứ hận thù những người động chạm tới bản ngã của ta, dám xem thường, khinh khi ta, coi ta không ra gì, ta nhớ hoài, những thọ, tưởng, hành đó làm cho ta giày xéo, làm cho ta đau nhức, ray rứt, khốn khổ, hành hạ, hành xác, hành tội ta. Những cảm giác, nghĩ tưởng về những người khinh khi, ủy nhục mình, dám đụng đến bản ngã này của ta. Thật đáng thương cho tâm ngu muội này, “ta oán thù những kẻ sống không tốt với ta. Ta căm giận những kẻ khinh rẻ, xem thường ta”, sống không tốt với ta.

Dù là mẹ con, anh em ruột hay thầy trò với nhau cũng có thể trở thành kẻ thù. Chúng ta thấy thật khủng khiếp cho tâm mê này, do “đụng đến bản ngã này của ta” thì không có thầy trò, anh em hay mẹ con nữa. Dù là thân cũng thành sơ, bạn trở thành thù, anh em, huynh đệ tương tàn, vợ chồng oán hận dù yêu bao nhiêu thì giờ cũng hận bấy nhiêu chỉ do bản ngã. Thầy trò thì trở mặt, thưa kiện với nhau… thậm chí khi đã chết còn đào lên.

Đều là do tâm ác, bản ngã sân hận lên như vậy, cần ghê sợ bản ngã này, cứ oán thù những kẻ không tốt với ta rồi căm giận những kẻ khinh rẻ, xem thường ta. Oán thù đó, căm giận đó, hận thù đó thêu đốt, nung nấu, hủy hoại, tàn phá bên trong thân tâm của hữu tình chúng sanh. Như trong các phim Trung Quốc, nếu không khéo thì học theo đó vì nó dạy cho mình oán thù, cả một cuộc đời nuôi dưỡng thù hận, sống trong sự dày vò, đau khổ, đến chết thì đi về đâu?

Và dù là chuyện trong phim hay ngoài đời cũng vậy, “Ta nuôi dưỡng, ấp ủ những bực tức, hận thù, ta khư khư giữ chặt những nhỏ nhặt, hơn thua”, những từ này là những cảm thọ, cảm thọ thật sự đang có trong tâm, tự thân chúng ta và hữu tình chúng sanh. Những cảm thọ căm giận, hận thù, oán thù mà ta lại nuôi dưỡng, ấp ủ, đó là hành động khôn ngoan hay không? Là ngu si hay trí tuệ? Nhưng chúng ta lại nuôi dưỡng, ấp ủ nó? Ta cứ nuôi dưỡng những cảm thọ bực tức, hận thù, cảm xúc, cảm giác đó, cứ nuôi và cho nó ăn bằng cách lâu lâu ngồi nhớ lại để nó đay nghiến, tô lên, khắc đậm sâu rồi nước mắt tuôn ra, dù chỉ có một mình nhưng co thắt tim gan, ngày đêm thêu đốt tim gan, đốt cháy tâm can trong giận sân.

Tác giả đã từng như vậy nên mới nói đúng như vậy, “ngày đêm thêu đốt tim gan máu thịt, đốt cháy tâm can trong giận sân”, câu này làm cho mình rã rời, ngao ngán, nhàm chán sân ác độc, cảm thọ này, ác này, ác ma, ác hại, quái ác, hiểm ác, hung ác, tàn ác, bạo ác này không cho trú ẩn trong tâm, phải xả ra, buông xuống, quăng đi, triệt hạ, diệt tiêu, diệt tận nó, còn không thì mình lại chết với nó, nó sẽ hủy hoại mình, làm cho mình thân tàn ma dại, làm cho cảm thọ bức xúc, bực tức, hận thù, khư khư giữ chặt như vậy thì cảm thọ đó khổ đến mức nào, đau đến mức nào và nhức đến mức nào?

Nó cứ giày xéo, bức xúc, đày đọa, hành hạ, hành xác, hành tội, người cứ ôm khăng khăng những bực tức, hận thù này, khư khư giữ chặt, nuôi dưỡng ấp ủ những thứ này thì khổ đến cỡ nào?

Ở đây có ai còn kẻ thù không? Hay còn oán, còn giận, còn hờn ai không? Ôm ấp, nuôi dưỡng nó để làm cái gì? “Những bức xúc hận thù, ta khư khư giữ chặt, những nhỏ nhặt hơn thua” Chỉ có một chút nhìn qua ánh mắt thôi cũng khư khư giữ chặt để làm gì? Hay chỉ một lời nói thôi cũng giữ để rồi khổ, nhắc tới nhắc lui, ôn qua ôn lại, rồi lại tô đi tô lại, đồ tới đồ lui để đọng trong tâm rồi khắc lên, như khắc vào nước, vào cát không chịu mà lại khắc lên gỗ, đá, khắc sâu vào rồi lại cho khổ, cho hành xác, hành tội như vậy. Để rồi đau đớn, nước mắt, chảy ra rồi máu rỉ ra, nuôi dưỡng, ôm ấp, tưới tẩm cho hận thù đó.

“Thương thay tâm mờ tối, chúng sanh đáng thương thay. Thương thay tâm thù hận, chúng sanh đáng thương thay. Thương thay tâm bản ngã, chúng sanh đáng thương thay. Thương thay tâm hơn thua, chúng sanh đáng thương thay. Thương thay tâm tham ái, chúng ta đáng thương thay.”

Đừng tưởng trong hận thù khổ như vậy, tham ái cũng như vậy nhưng đau kiểu khác. Chúng ta thấy vợ mình, con mình, người thương yêu của mình, cứ nuôi dưỡng, ôm ấp, ấp ủ những cái đó, buộc chặt, siết chặt, ghì chặt, chấp chặ, chấp thủ những cái đó.

Như có các vụ án, người con gái mình quen đi chung với người đàn ông khác, thì đâm chết người đàn ông đó, đâm chết cả cô gái đó rồi tự đâm chết mình, thật là khủng khiếp. Vì tham với sân cũng như hai mặt của bàn tay, cứ lật qua lật lại, yêu hận là tham sân, vô số, vô lượng, vô biên, vô cùng, vô tận, vô thỉ kiếp, đến nay nó hành hạ, đày đọa, giày xéo, chà đạp, đè đầu, cưỡi cổ chúng ta.

Khi chúng ta thiền quán cứ run quá, thấy ngao ngán, ê chề, khiếp đảm, kinh hãi, run sợ, khiếp sợ, hoảng sợ với những dục ái, tham, sân, si, bản ngã, vô minh này, rùng mình, ghê gớm, khiếp đảm và thấy kinh hãi, tập cho mình sợ, rùng mình, ớn lạnh để nhàm chán, viễn ly, xa lìa, xuất ly, từ bỏ, xả bỏ, đi ra khỏi đó. Không nuôi dưỡng, ấp ủ, chất chứa, không để nó có địa chỉ thường trú trong tâm nữa, giờ mình tu thì cho nó ra tạm trú, sau đó là đuổi nó ra khỏi, diệt tận. Lúc trước mình không biết tu thì cho nó địa chỉ thường trú trong này, vậy nên đừng cho nó thường trú nữa.

“Ta sống trong bực tức, ta sống trong buồn phiền để rồi ta chìm lún trong hận thù khổ đau.”

Chìm lún là như trong đầm lầy dục bộc lưu, lọt xuống rồi lún xuống từ chân, đến cổ rồi qua cả đầu rồi chìm xuống chết.

Điều này rất thâm thúy, tuyệt diệu ngấm vào người mình để những cảm thọ này mình thấy thật nhàm chán.

“Tâm ta bao đau khổ, bao dằn xé bên trong. Tâm ta bao uất hận, bao oán giận bên trong. Tâm ta sao tội quá, thật tội nghiệp, ôm quá nặng trong tâm, sao tâm không bỏ bớt để cho lòng trống không.”

Tại sao lại không chịu bỏ bớt, không chịu buông xuống, xả bỏ đi, buông bỏ đi?

“Lòng ta sao nặng quá, như xe chở quá nhiều. Xe ơi, xe ơi tội xe quá. Xả bớt hàng đi xe. Xe ơi tội xe quá. Xả bớt hàng đi xe.”

Tu tập tâm xả để bỏ ra, bỏ xuống, buông xuống cho xe trống, cho tâm rỗng, cho lòng mình thảnh thơi, bình an.

Mời đại chúng chúng ta trải tâm xả.

Đây là phương trước mặt, bên phải, bên trái, phía sau, phía trên, phía dưới, bê ngang rộng lớn và bao la. Hòa lẫn khắp phương này là tâm xả của ta. Tâm xả này rộng lớn, vô lượng và vô biên, tâm buông xả này tỏa rộng, cùng khắp thế giới này, tâm buông xả này tỏa rộng, khắp trời đất bao la.