Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Tương Ưng Sáu Xứ - Lìa Tham Thoát Tục - Chấm Dứt Khổ Đau

2026-03-03 00:53:14
Tương Ưng Sáu Xứ

Lìa Tham Thoát Tục - Chấm Dứt Khổ Đau

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Chia sẻ cảm ngộ tu hành PAGEREF _Toc114055075 \h 1

II. Khuyến tấn tu tập PAGEREF _Toc114055076 \h 5

I. Chia sẻ cảm ngộ tu hành

Những vị chuẩn bị bài giảng không nhớ nên phải nhắc, người không để tâm thì suốt đời cũng không tiến bộ, người có để tâm thì làm qua chuyện đó 1-2 lần sẽ biết ngay, có để tâm thì biết giờ đó là phải chuẩn bị không cần đợi nhắc nhở. Sáng nay khi uống cacao sữa, con nhớ lúc còn ở bên Nepal sáng sớm tụng kinh rất lớn, các chú tiểu đa số đều nghèo, được cha mẹ gửi vào chùa, trong đó có cả mấy trăm chú tiểu. Các chú ngồi xung quanh chánh điện tụng kinh rất lớn, đến khi gần cuối thì có người đem lên ly sữa và cái bánh, nói nôm na là có tu mới có ăn, tu mới được ăn, do nhà nghèo nên vào chùa, truyền thống của Phật giáo phát triển thì gia đình là một gánh nặng, phải lo ăn lo mặc còn vào chùa thì những cái đó không cần lo lại tốt nữa.

Các chú lên ngồi tu, cũng có ngủ gục nhưng nhờ tụng kinh lớn nên đỡ hơn. Ở Nhật Bản mà chào nhau là giật mình, hôm nay con kể chuyện Phật giáo thế giới cho đại chúng nghe rồi trở về với Đức Phật để thấy cái hay mình đang tu học. Khi tụng gần xong có người đem lên cho mỗi chú một ly sữa và một cái bánh bột, ngồi vừa tụng vừa uống sữa, ăn bánh. Ăn xong thì có khoảng 3-4 chú tiểu để nùi giẻ lau chánh điện dưới chân vừa đi vừa tụng khắp chánh điện, vậy là vừa tụng xong cũng là lúc ăn xong là lau xong luôn chánh điện cho nên sáng nay uống ly cacao sữa nóng làm con nhớ đến các chú tiểu ở Nepal, ở đó đa số tu theo Mật Tông, người ta tụng chú, mình vào chánh điện có màu sắc huyền ảo linh thiêng, vẽ đủ màu với rất nhiều hình thù, người bình thường, nhất là Phật tử mới sẽ rất thích thú.

Nhật Bản có những kiến trúc, vườn cảnh rất đẹp làm cho người ta say mê, các thầy bên đó có vợ con, có gia đình, họ truyền lại cho con cháu họ ngôi chùa đó, mình đi vào chào hỏi, hướng dẫn thiền xong thì đi xuống nói chuyện với nhau mới biết vợ người thầy đó chuẩn bị sanh, ban ngày thầy đến chùa, chiều tối thầy về nhà giống như đi làm công ty, các ngôi chùa đó vào uống trà đạo phải mua vé hết 850 ngàn, các chùa đẹp, nổi tiếng lịch sử đều phải mua vé mới vào tham quan được. Ở Đài Loan, Phật giáo rất tốt nhưng chùa giống công ty nhiều hơn, tổ chức rất bài bản, nề nếp, có rất nhiều hoạt động, các sư cô ở một chùa rất lớn gọi là Trung Đài Thiền Tự, giống như hướng dẫn viên du lịch, hướng dẫn từng đoàn khách, thuyết trình cho mọi người tham quan.

Ở Trung Quốc có những chùa gọi là tổ đình, tại đó cũng buôn bán rất nhiều nhưng đa số bán cho khách du lịch. Ở Hồng Kông có rất ít người tu, người ta chỉ đến để cúng, đa số là người làm ăn buôn bán đến để gieo duyên, cúng kiến cầu phước chứ nơi đó không phải để tu. Ở Thái Lan có chùa nổi tiếng Dhammakaya chứa hàng triệu người, nhưng chùa này cũng có nhiều tai tiếng, mê tín dị đoan, những chỗ chân tu lại ở trong rừng xa khỏi thành phố, muốn đi đến đó phải trải qua hai chuyến bay rồi ngồi xe mới đến được những chỗ chân tu xa vắng đó, ở Thái Lan chia ra hai phái, một phái ở thành thị, hoạt động làm những công tác, phái còn lại tu trong rừng.

Ở Myanmar thì Phật giáo tương đối giữ được những điều cổ xưa nhất của đạo Phật nhưng người ta vẫn chú trọng tạng luận, họ cho rằng cái lõi của giáo pháp là tạng luận, kinh không quan trọng bằng luận, cũng giống như ở Việt Nam chú trọng vào tạng luận hơn những kinh sách sau này. Cho nên khi gần xả thiền sáng nay, con có cảm xúc thật là khó khăn cho những người đi ngược dòng. Tại sao những cái mê tín, những cái tà kiến lại được hưởng ứng rất đông vì nó thuận theo sự mong muốn, cái dục của người ta.

Bây giờ muốn cho người ta vào xem bài giảng của mình đông thì đặt tựa bài giật gân là lôi kéo được họ như "làm sao để giàu có", còn bài giảng của mình đi đến chỗ ly tham có rất ít người xem, cho nên mê tín đánh vào dục tham, ham muốn của tâm thức con người. Khi chiêm nghiệm con thấy hết sức khó khăn cho người đi ngược dòng, tại sao khách đến Linh Quy đông? Vì có cảnh đẹp còn lên cầu pháp thì lèo tèo vài người, thành ra khi xả thiền con cảm xúc bài kệ:

Như mái nhà vụng lợp,

Mưa liền xâm nhập vào.

Cũng vậy tâm không tu,

Tham dục liền xâm nhập.

(Kinh Pháp Cú 01 – Phẩm Song Yếu, kệ 13)

Mình chỉ cần không hộ trì, không tác ý, không quán chiếu là tham dục đi vào mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý ngay lập tức. Mình chỉ cần không hộ trì, không tác ý, không để ý thì lập tức bản ngã, buông lung sanh khởi và chúng ta đang đi ngược dòng. Con cá muốn hóa thành rồng phải vượt sóng vũ môn, phải nhảy ngược dòng cho nên mình là những con người hạnh phúc nhất trên cuộc đời này chứ không phải là khổ, tuy là mình sống cô độc, nhạt nhẽo không mùi vị nhưng mình đang hạnh phúc.

Chiều qua hôm con đi một vòng quanh núi, hơn 5h chiều mà sương mù đã giăng quanh núi, con không biết mình có làm bạn với mọi người trong trời đất không nhưng con có cảm giác thiên nhiên ưu đãi mình, cảm giác cực kì đặc biệt với trời đất, với tự nhiên. Có lẽ mình cũng từng gieo duyên kiếp trước chứ không sao tự nhiên lại tìm được chỗ này, có rất nhiều người hỏi sao lại tìm được nơi này, sao lại lên đây ở, tất cả đều do nhân duyên, hơn 5h chiều rồi mà mây kéo đến như sáng sớm, đứng nhìn núi non thật là tuyệt vời, thanh tịnh, viễn ly.

Đứng giữa trời đất thấy thật là bình an, tuyệt vời, giống như mình thoát ra khỏi thảm cảnh của thế gian cho nên con rất thích hai từ thoát tục, thoát ra khỏi tục lụy chứ đừng sống trong phàm tục, thế tục. Mình ở đây không thua gì đời sống của chư thiên, còn hơn biết được thánh pháp, đời sống của chúng ta đây là thoát tục, chúng ta không hơn thua, để ý nhau, ai cũng lo quay về tự thân nhiếp phục cấu uế, lậu hoặc, cấu nhiễm, hằng ngày mở mắt ra được nghe thánh pháp, chiêm nghiệm thánh trí, sống trong sự viễn ly khỏi phố thị lòe loẹt, ồn ào, khỏi những tham sân si của cuộc đời trong không gian thênh thang, bao la mát mẻ, trong dòng nước pháp ngọt dịu, ngọt ngào, thấm đượm thân tâm chúng ta mỗi ngày.

Sáng sớm mở mắt ra nghe Thế Tôn tuyên thuyết từng lời, từng câu từng chữ giống như ánh sáng của bình minh thánh trí soi rọi thân tâm. Mình phải hân hoan, Đức Phật gọi là hoan hỉ, tinh tấn ngày đêm tu tập thiện pháp, nghe thánh pháp rồi ngồi lại chiêm nghiệm, soi rọi thân tâm, tẩy rửa và tác ý để đánh đuổi, ngày nào cũng làm vệ sinh căn nhà nội tâm. Xả thiền từ trong thiền định, uống ly cacao sữa ấm lại tiếp tục nghe chánh pháp, tư duy quán chiếu như ngâm mình trong suối nước nóng, gọi là hương thủy hải, là biển nước thơm, trở ra một chút để vệ sinh quét dọn, còn thời gian lại tiếp tục ngồi thiền học kinh.

Chánh quán thọ thực là nghệ thuật ẩm thực của thần thánh, học theo cách ăn của Đức Phật, nghỉ trưa một chút thức dậy là thánh pháp trùng tiên nữa, lại tiếp tục thiền định, thiền tư, sau đó ăn gì thì ăn, đi thiền hành, tiếp tục thánh pháp. Chân tướng cuộc đời được phơi bày trong những hình ảnh quán chiếu, sau đó lại ngồi soi rọi thân tâm, một ngày như vậy là đời sống thoát tục, là sinh hoạt xuất thế, không gian thênh thang bao la, muốn ngồi tảng đá nào thì ngồi, không thì đem theo tọa cụ để ngồi học kinh, thiền quán, Như lý tác ý. Vậy còn chưa cảm thấy hạnh phúc hay sao?

Còn đời sống nào vi diệu bằng đời sống này nữa? Tại sao lại đi vào chỗ nhỏ hẹp làm gì? Khi con ngồi tu cùng đại chúng thì những hình ảnh con đi qua tất cả các nước cầu pháp hiện ra và con thấy rất thỏa mãn trong giờ phút này, rất vi diệu, chỉ cần nỗ lực thực hành là mình đi đến đích, không còn gì ngờ vực, mờ tối nữa. Mình đã thấy được tham dục ái, thấy được sân si, bản ngã, thấy được các lậu hoặc, dù chưa thấy hết nhưng đã thấy được rồi, chừng nào tẩy hết những cái này là xong việc, cứ ngày đêm nỗ lực như vậy.

II. Khuyến tấn tu tập

Còn hạnh phúc nào bằng việc gặp được chân nhân, gặp được bậc thành tựu chánh tri kiến, có được phương pháp của Tám Đúng và có được huynh đệ, thầy bạn cùng tu đồng phạm hạnh, có được không gian xa vắng, viễn ly xứ mà còn không chịu tu nữa thì làm sao? Tất cả mọi điều kiện đều đầy đủ, trước đây mình tu học không gặp được người thành tựu chánh tri kiến, không có phương pháp đúng đắn chính xác, không có môi trường, hoàn cảnh huynh đệ, thầy bạn nên làm sao tu có được thành tích, dù cho bỏ ra rất nhiều thời gian, công sức, tiền của vẫn đau khổ, vẫn sầu, bi, ưu, não, không thấy được thân tâm chính mình. Cho nên phải nhớ lời Đức Thế Tôn dạy ngài La-hầu-la và các thầy Tỳ-kheo:

“Này các Tỳ-kheo, vị Tỳ-kheo ấy cần phải sống hoan hỷ, hân hoan, ngày đêm cần phải học tập trong các thiện pháp.”

(Tăng Chi Bộ, Chương VI - Sáu Pháp, II. Phẩm Cần Phải Nhớ, (IX) (19) Niệm Chết (1))

Nhiều khi mình tinh tấn mà không có hoan hỉ, rồi hoan hỉ mà không có tinh tấn tu tập các thiện pháp, cho nên vui để tinh tấn tu các thiện pháp chứ không phải vui để ỷ lại, vui để hài lòng thỏa mãn với thành quả nhỏ bé. Vui để bước lên, tiến lên, vui để hướng thượng, còn tu mà không vui là lên núi được vài ngày rồi xuống núi ngày nào không ai biết vì không hỷ lạc trong pháp, trong thiền. Nhìn lại chặng đường trước kia Minh Thành đi cầu pháp thấy hoan hỉ, bình an, thấy được tham sân si, bản ngã rồi rất vui, vừa đau khổ vừa hạnh phúc, chứ không phải chỉ có đau khổ.

Càng ngày mình càng thành tựu, càng hỷ lạc trí tuệ nên con đường này rất hiền thiện, cao quý, thánh thiện. Thật sự là nhìn thế gian, đi tới đâu tình thương của mình dào dạt tới đó, nhiều khi người ta làm khổ cho mình thì mình cũng thấy tội nghiệp cho họ, thật sự con không thể ngờ thánh pháp thần diệu như vậy, không thể tưởng tượng nổi, con không muốn đi đâu nữa, bây giờ chỉ có một việc là giảng kinh, chia sẻ kinh và thực hành kinh pháp. Con không thấy có gì ý nghĩa ngoài kia, thậm chí còn không biết hơn thua cái gì nữa, cũng không biết tranh giành cái gì, không có gì đáng để tranh giành. Suốt ngày cứ nhìn vào thân tâm la rầy, quở trách, nhắc nhở tâm mình, mọi người thấy con ngồi im chứ thực tế trong tâm đang dạy dỗ, giáo dục nó, một ngày làm hàng trăm lần như vậy.

Khi con mắt nhìn gì thấy đẹp là tác ý liền "mày ngu si vừa thôi, vô minh, cái thứ vô thường có gì để mê trong đó", thấy cảm giác khó chịu khởi lên "thôi đi, tao chán mày quá rồi, tao ngao ngán mày quá rồi, không biết mệt hay sao?", bản ngã khởi lên thì "mày có biết nhục không". Những thứ cấu ác mà khởi lên là mình đánh đuổi liền, không lúc nào ở yên được mà sẽ rất siêng năng, ngồi im mà làm việc hết sức nỗ lực, trong đó đang tác ý mãnh liệt "tao đang canh chừng mày từng giây từng phút", tu là phải như vậy.

Cứ nhìn vào nội tâm, nhìn vào những cảm giác nghĩ tưởng rồi tác ý để phát huy cảm giác nhàm chán tột cùng thế giới này, nhìn gì cũng thấy chán đối với ác bất thiện pháp, còn thiền định là phải tinh tấn, tác ý đối với ác bất thiện pháp "trò cũ rích làm hoài muôn năm không thấy chán hay sao? Tham sân si hoài vậy sao? Mày có khùng không? Làm khổ mình, khổ người, mày hành hạ mình, hành hạ người hả", đánh đuổi nó rồi mỉm cười lên, đó là chân tu, là tu miên mật, có gì khởi lên là đánh đuổi liền.

Thức dậy là tác ý liền, bất cứ lúc nào cũng tác ý thì trí huệ sanh ra khủng khiếp, sự bén nhạy của tâm thức rất mạnh, mình thấy điều này hết sức bình an, vi diệu. Mọi người thấy con ở một mình nhưng thật chất không ở một mình, làm gì mà sợ cô đơn, chỉ có người hướng ngoại mới sợ cô đơn còn người hướng nội không có cô đơn vì pháp vận hành bên trong thì làm gì cô đơn, trong tâm là tín – tấn – niệm – định – huệ – lực, trong đây là Tứ Niệm Xứ, Tứ Chánh Cần, Tứ Thần Túc, Ngũ Căn, Ngũ Lực, Thất Bồ Đề Phần, Bát Thánh Đạo vận hành thì làm sao mà cô đơn được.

Pháp luân chuyển trong tâm mà, khi thấy bản thân lơ đễnh thì tác ý "mày phải mạnh mẽ, hùng cường lên, oai dũng, tinh tấn lên, phải thành công", tác ý một chút là phấn khởi, hân hoan lên, đi ra khỏi cảm giác trì trệ, muốn buông lơi. Khi thấy buồn chán, ở dưới núi vui hơn thì tác ý tiếp tục "mày muốn làm cô hồn vất vơ vất vưởng hoài hay sao?", đánh đuổi được thì mỉm cười, mở pháp nghe pháp không thì đi thiền hành. Cho nên mỗi ngày chúng ta sống mà tu trong chánh pháp thì ý nghĩa còn hơn sống một thế kỉ.

Ai sống một trăm năm,

Không thấy pháp sinh diệt,

Tốt hơn sống một ngày,

Thấy được pháp sinh diệt.

(Kinh Pháp Cú 08 – Phẩm Ngàn, kệ 113)

Thấy được sự sanh diệt rất hân hoan, thấy được đau khổ cuộc đời rất hân hoan, thấy được nguyên nhân làm mình đau khổ rất hân hoan. Bao nhiêu đời bao nhiêu kiếp mình đã sống trong mù lòa.

“Tất cả, này các Tỳ-kheo, là mù lòa. Và này các Tỳ-kheo, cái gì mù lòa?

Mắt, này các Tỳ-kheo, là mù lòa. Các sắc là mù lòa. Nhãn thức là mù lòa. Nhãn xúc là mù lòa. Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy là mù lòa. Mù lòa bởi cái gì? Ta nói rằng mù lòa bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não... Tai... Mũi...”

(Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương I – Tương Ưng Sáu Xứ (a), Phần Một – Năm Mươi Kinh Thứ Nhất, III. Phẩm Tất Cả, 29.VII. Mù Lòa) 

Giờ này mới bắt đầu mở con mắt ra thấy được nguyên nhân của khổ ở trong người mình. Thấy rồi mới thấy cuộc đời này thê thảm, vô ích, không có gì đáng để tham sân si, bản ngã, hễ nó sanh khởi lên là tác ý liên tục, làm hoài thì sẽ lắng dịu. Kinh sách là phải nghe cho nhiều, cô Toàn nghe kinh Nikāya đến điếc lỗ tai, thành ra phải huân tập thiện pháp chứ không phải nghe một vài bài là đủ, cho nên nếu mình chấp nhận được chánh kiến là phước báu rất vĩ đại chứ không phải đơn giản mà mình chấp nhận được. Ngày xưa khi nghe Tương Ưng Sáu Xứ con bị bất ngờ, mình nghĩ hết là hết phiền não, tham sân si thôi chứ cái thân này làm sao hết, tức là mình còn muốn cái thân mà mình không biết phiền não, tham sân si cư trú vào thân này, hễ còn thân là còn hang ổ của nó.

“Này các Tỳ-kheo, dục tham đối với mắt là tùy phiền não của tâm. Dục tham đối với tai là tùy phiền não của tâm. Dục tham đối với mũi là tùy phiền não của tâm. Dục tham đối với lưỡi là tùy phiền não của tâm. Dục tham đối với thân là tùy phiền não của tâm. Dục tham đối với ý là tùy phiền não của tâm.

Này các Tỳ-kheo, khi nào vị Tỳ-kheo đối với sáu xứ này, đoạn tận được tùy phiền não, thời tâm vị ấy hướng về ly dục. Do biến mãn với ly dục, tâm vị ấy được xem là kham nhẫn, chứng tri đối với các pháp cần phải giác ngộ.”

(Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương VI. Tương Ưng Phiền Não, I. Con Mắt)

Những điều này hết sức thâm sâu nên mới gọi là thánh trí huệ, không thể nào có một chúng sanh, dù cho suy nghĩ trong vô lượng vô biên kiếp, Trái Đất tan ra thành cát bụi cũng không suy nghĩ nổi để nói ra điều này, chỉ có duy nhất bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác mới nói ra được, chính vì vậy mà người ta thường nói chánh pháp khó nghe, vì không dễ được nghe trong thời kì còn chánh pháp, còn thời kì sau này thì những bộ kinh này không còn nữa, ngay thời kì mình đây mà có những người xuất gia tới chết cũng không biết kinh Nikāya là kinh gì.

Cho nên quý ở chỗ đây được nghe, chiêm nghiệm, tư duy để tẩy não bằng thánh trí huệ, còn trong não mình toàn là những điều phàm tình, người ta nghe mà không chịu được thì đúng rồi vì cái này là thánh trí, người ta nghe mà chấp nhận đã hướng đến thánh quả, mình tu học bao nhiêu lâu rồi mà nghe kinh này vậy mà trong tâm còn kháng cự chứ đừng nói gì người bình thường, vì vậy mà Đức Phật đã nói Này các Tỳ-kheo, dục tham đối với mắt là tùy phiền não của tâm, mình yêu thích, ham muốn, tham ái đối với con mắt này, cái đó đi theo mình vô lượng vô biên kiếp rồi, tham đắm trong tai; mũi; lưỡi; miệng; thân thể đã theo mình vô lượng vô biên kiếp rồi.

Tùy là đi theo, từ sự yêu thích, tham đắm cho nên mới sanh khởi ra con mắt vì mình yêu thích, mình tu cho đến lúc nào khi tiếp xúc dù cho dễ thương, dễ ghét, thích hay không thích mà cảm thọ của mình vẫn lắng dịu là tuyệt vời, tức là mình muốn yên lặng mà người ta làm động mà cảm thọ của mình vẫn im lặng thì chỗ đó là chỗ an tịnh, chỗ đó là công phu.

Các bậc A-la-hán lúc chuẩn bị ra đi thì cảm thọ của các ngài an tịnh, lắng dịu, tịch tịnh, không sanh khởi ghét hay thương, thích hay không thích, lúc đó ngũ uẩn dập tắt hoàn toàn cho nên đây là đời sống cuối cùng của các ngài. Mình phát huy sự nhàm chán để từ bỏ dục tham đối mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý, mình càng phát huy sự yểm ly, nhàm chán xa lìa cùng cực chừng nào thì mình càng đi đến sự thâm nhập thánh trí sâu sắc chừng đó. Ai còn ưa thích, hân hoan đối với sắc, đối với thân này thì người đó còn sầu bi, còn đau khổ dài dài. Nay không còn ưa thích, tham đắm, không còn yêu mến nữa, thấy chỉ đáng bỏ, xa lìa thì người đó gần đến sự dập tắt những thân xác, gần với Niết-bàn. Thành ra con đường tu tập rất rõ ràng, rất nhân quả, logic và có trình tự, mình còn tham dục, tham ái trong thân xác này thì nhất định mình còn bản ngã, sân hận vì nó.

“-- Này các Tỳ-kheo, hãy tu tập Thiền định. Vị Tỳ-kheo có Thiền định, này các Tỳ-kheo, hiểu biết một cách như thật.

Hiểu biết gì một cách như thật? Sắc tập khởi và đoạn diệt; thọ tập khởi và đoạn diệt; tưởng tập khởi và đoạn diệt; các hành tập khởi và đoạn diệt; thức tập khởi và đoạn diệt.

Này các Tỳ-kheo, thế nào là sắc tập khởi? Thế nào là thọ tập khởi? Thế nào là tưởng tập khởi? Thế nào là các hành tập khởi? Thế nào là thức tập khởi?

Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo hoan hỷ, hoan nghênh, đắm trước rồi an trú. Hoan hỷ, hoan nghênh, đắm trước và an trú gì?

Hoan hỷ, hoan nghênh, đắm trước rồi an trú sắc. Do vị ấy hoan hỷ, hoan nghênh, đắm trước rồi an trú sắc, hỷ đối với sắc khởi lên. Do hỷ đối với sắc, thủ đối với sắc khởi lên. Do duyên thủ đối với sắc, hữu khởi lên. Do duyên hữu, sanh khởi lên. Do duyên sanh, già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não khởi lên. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.

Hoan hỷ, hoan nghênh, đắm trước rồi an trú thọ... rồi an trú tưởng... rồi an trú các hành... rồi an trú thức. Do vị ấy hoan hỷ, hoan nghênh, đắm trước rồi an trú thức, hỷ khởi lên. Do hỷ đối với thức, thủ đối với thức khởi lên. Do duyên thủ đối với thức, hữu khởi lên. Do duyên hữu, sanh khởi lên. Do duyên sanh, già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não khởi lên. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.

Và này các Tỳ-kheo, thế nào là sắc đoạn diệt, thế nào là thọ đoạn diệt, thế nào là tưởng đoạn diệt, thế nào là các hành đoạn diệt, thế nào là thức đoạn diệt? Ở đây, này các Tỳ-kheo, vị ấy không hoan hỷ, không hoan nghênh, không đắm trước và an trú.

Không hoan hỷ, không hoan nghênh, không đắm trước và an trú gì? Không hoan hỷ, không hoan nghênh, không đắm trước và an trú sắc. Do vị ấy không hoan hỷ, không hoan nghênh, không đắm trước và an trú sắc, hỷ đối với sắc đoạn diệt. Do hỷ đối với sắc đoạn diệt nên thủ đoạn diệt. Do thủ đoạn diệt nên hữu đoạn diệt... Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này.

Không hoan hỷ, không hoan nghênh, không đắm trước và an trú thọ. Do vị ấy không hoan hỷ, không hoan nghênh, không đắm trước và an trú thọ, hỷ đối với thọ đoạn diệt. Do hỷ đối với thọ đoạn diệt nên thủ đoạn diệt. Do thủ đoạn diệt nên hữu đoạn diệt... Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này.

Không hoan hỷ, không hoan nghênh, không đắm trước và an trú tưởng... không đắm trước và an trú các hành. Do vị ấy không hoan hỷ, không hoan nghênh, không đắm trước và an trú các hành, hỷ đối với các hành đoạn diệt. Do hỷ đối với các hành đoạn diệt nên thủ đoạn diệt. Do thủ đoạn diệt nên hữu đoạn diệt... Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này.

Không hoan hỷ, không hoan nghênh, không đắm trước và an trú thức. Do vị ấy không hoan hỷ, không hoan nghênh, không đắm trước và an trú thức, hỷ đối với thức đoạn diệt. Do hỷ đối với thức đoạn diệt nên thủ đoạn diệt. Do thủ đoạn diệt nên hữu đoạn diệt... Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này.”

(Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (a), A. Năm Mươi Kinh Căn Bản, I. Phẩm Nakulapità, V. Thiền Ðịnh)

Hoan hỷ, hoan nghênh, đắm trước, an trú vào trong năm uẩn là sự tập khởi của khổ. Hoan hỉ, hoan nghênh, an trú và đắm trước vào con mắt này là tập khởi của khổ. Hoan hỉ, hoan nghênh, an trú và đắm trước vào lỗ tai này là sự sanh khởi của khổ. Hoan hỉ, hoan nghênh, an trú và đắm trước vào lỗi mũi, cái mặt, con mắt, cái miệng, thân xác này là tập khởi của khổ. Ai không hoan hỉ, không hoan nghênh, không an trú, không đắm trước, không chấp thủ, không nắm chặt vào đây nữa thì tất cả khổ uẩn này đoạn diệt, dập tắt.

Không có một lời nào diễn tả được sự vi diệu trong từng lời của Đức Phật đã nói trong kinh, đây chính là con đường xuất ly, khi nhìn thấy một điều gì làm cho mình giận thì tác ý "con mắt này là khổ", nhãn xúc sanh khởi lên thì "đây là sự tập khởi của khổ", lỗ tai nghe tiếng bực bội thì "đây là tập khởi của khổ". Đừng nhận thức gì của, hãy diệt hết mọi thứ, khi nghe mà sanh khởi sân hận thì tác ý "mày điếc luôn đi, diệt luôn nhĩ thức đi, đồ ngu si".

Tác ý cho mạnh mẽ, mãnh liệt suốt cả ngày như vậy thì sân hận sẽ tan đi, do cái tâm tham, cái tâm chấp thủ vào mắt; tai; mũi; lưỡi này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi, từ đó mới sanh khởi ra phiền não. Thực tập rồi mình sẽ thấy điều kì diệu, khi bị mất đồ mình vẫn bình thản "không có gì ở đây là của mình", người ta lấn đất của chùa thì con tác ý một chút là xong, bứng tận gốc cảm thọ khó chịu không còn sanh khởi lại nữa. Một ngày mình cứ tác ý liên tục 6 căn này là thứ vô thường, bại hoại, rã nát, tan biến, chính vì con tác ý liên tục mà khi má qua đời trên tay con nhưng nước mắt không chảy xuống vì đó là sự thật, người nào siêng tác ý thì người đó sẽ thâm nhập được thánh trí.

“-- Này các Tỳ-kheo, dục tham đối với sắc uẩn là tùy phiền não của tâm. Dục tham đối với thọ uẩn là tùy phiền não của tâm. Dục tham đối với tưởng uẩn là tùy phiền não của tâm. Dục tham đối với hành uẩn là tùy phiền não của tâm. Dục tham đối với thức uẩn là tùy phiền não của tâm.

Này các Tỳ-kheo, khi nào vị Tỳ-kheo đối với năm xứ này, đoạn tận được tùy phiền não, thời tâm vị ấy hướng về ly dục. Do biến mãn với ly dục, tâm vị ấy được xem là kham nhẫn, chứng tri đối với các pháp cần phải giác ngộ.”

(Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương VI. Tương Ưng Phiền Não, X. Uẩn)

Tức là không tham muốn mắt; tai; mũi; lưỡi; thân này nữa, phải hướng về sự không tham muốn đối với 6 căn này. Tác ý làm cho mình chuyển hướng dòng tâm ý của mình, khi nhìn vào tai thấy cũng sạch sẽ, đẹp đẽ thì tác ý liền, khi nhìn vào gương thấy mặt cũng được thì tác ý ngay lập tức thì sẽ chuyển hướng dòng tâm ý, giống như chạy xe sai hướng là phải bẻ lái ngay, tức là mình hướng tâm, đặt tâm vào thánh trí, không cho đi ra khỏi thánh đạo, sau đó tiếp tục tác ý mạnh nữa để đánh đuổi những ý hành, những cảm thọ, những các tưởng bằng thánh trí huệ "cái thứ bại hoại tan nát này, cái thứ bất tịnh nhơ nhớp này không có gì trong này để ưa thích, ưa thích để khổ sầu, bi, ưu, não". Tác ý mạnh mẽ thì lúc đó tín – tín – niệm – định – huệ sẽ rực sáng, Tứ Chánh Cần sanh khởi, Tứ Thần Túc sẽ đầy đủ.

Này các Tỳ-kheo, dục tham đối với sắc; thanh; hương; vị; xúc; pháp là tùy phiền não của tâm. Dục tham đối với những tài sản, những thứ tạm bợ, trống không này. Dục tham đó đã đi theo mình từ rất lâu rồi, mình không ưa thích những thứ này, không đáng để ưa thích. Khi cầm món đồ gì mà thấy đẹp, dục tham sanh khởi là tác ý ngay lập tức, sân khởi lên là tác ý để đánh cho chừng nào cái sân tan ra thì thôi và sau đó cũng tiếp tục tác ý tiếp. Trước khi nó khởi phải tác ý, trong khi khởi tác ý và sau khi chấm dứt cũng tác ý. Khi mình nặng về bất thiện pháp nào thì tác ý về cái đó liên tục, nếu nặng về dục thì tác ý suốt ngày đêm đánh đuổi dục. Trong bài kinh Đờn Tỳ Bà, Đức Phật ví dụ hình ảnh con bò ăn lúa mạ nên bị đánh cho một trận nên thân, lần sau nó sợ, gặp lúa mạ không dám ăn nữa, trước khi bị đánh thấy lúa là nhào vào.

“Này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo hay Tỳ-kheo-ni nào đối với các sắc do mắt nhận thức có khởi lên dục, tham, sân, si hay hận tâm; hãy ngăn chận tâm đừng cho khởi lên như vậy. Con đường này là con đường đầy sợ hãi, đầy kinh khủng, đầy gai góc, đầy rừng rậm, con đường ác, con đường tà, con đường đầy trộm cướp. Con đường này là con đường do phi thiện nhân dùng, không phải con đường do thiện nhân dùng… Này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo hay Tỳ-kheo-ni nào đối với các vị do lưỡi nhận thức... đối với các pháp do ý nhận thức, có khởi lên dục, tham, sân, si hay hận tâm; hãy ngăn chận tâm đừng cho khởi lên như vậy. Con đường này là con đường đầy sợ hãi, đầy kinh khủng, đầy gai góc, đầy rừng rậm, con đường ác, con đường tà, con đường đầy trộm cướp. Con đường này là con đường do phi thiện nhân dùng, không phải con đường do thiện nhân dùng.

Ví như, này các Tỳ-kheo, lúa mì đã chín và một người giữ lúa mì phóng dật (lơ đãng). Có con bò ăn lúa mì, xâm phạm lúa mì, xâm phạm lúa mì ấy và mê say ăn một cách thỏa thích. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, kẻ vô văn phàm phu không hộ trì đối với sáu xúc xứ, mê say thọ dụng một cách thỏa thích đối với năm dục công đức.

Ví như, này các Tỳ-kheo, lúa mì đã chín và một người giữ lúa mì không phóng dật. Có con bò ăn lúa mì, xâm phạm lúa mì ấy. Người giữ lúa mì nắm chắc cái lỗ mũi của con bò; sau khi nắm chắc cái lỗ mũi, người ấy rị chặt trên cái trán. Sau khi rị chặt trên cái trán, với cái gậy, người ấy đánh con bò một trận nên thân. Sau khi lấy gậy đánh cho một trận nên thân, người ấy thả con bò đi.

Lần thứ hai, này các Tỳ-kheo...

Lần thứ ba, này các Tỳ-kheo, có con bò ăn lúa mì, xâm phạm lúa mì ấy. Người giữ lúa mì nắm chặt cái mũi con bò; sau khi nắm chắc cái mũi, người ấy rị chặt trên cái trán. Sau khi rị chặt trên cái trán, với cái gậy, người ấy đánh con bò một trận nên thân. Sau khi lấy gậy đánh con bò một trận nên thân, người ấy thả con bò đi. Như vậy, này các Tỳ-kheo, con bò ăn lúa mì ấy đi vào làng, hay đi vào rừng, hay khi đứng, hay ngồi, nó không xâm phạm lúa mì ấy, vì nó nhớ đến cảm xúc cái gậy lần trước. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, khi nào Tỳ-kheo có tâm chơn trực, chánh trực đối với sáu xúc xứ, thời nội tâm được an trú, tịnh chỉ, nhứt tâm, Thiền định.”

(Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (g), IX. Ðờn Tỳ Bà)

Khi ngồi tu hoặc thiền định bị buồn ngủ mà nói nhẹ nhàng "đừng ngủ nha", sau đó vẫn ngủ như thường vì sự tác ý của mình không đủ, cái lực không đủ mạnh để chống lại cơn buồn ngủ đó, sức mạnh của sự nỗ lực tinh tấn không đủ thì mình sẽ bị nghiệp, tùy phiền não lôi mình đi.

Còn khi tác ý mạnh mà vẫn không thoát khỏi hôn trầm thì vẫn tác ý liên tục, thậm chí đến hết thời ngồi thiền cũng được chứ không phải tác ý một chút là thôi mà nguyên thời ngồi thiền đó chỉ dùng để diệt hôn trầm, si ám thôi. Thiền quán, tư duy, tác ý liên tục thì hôm sau sẽ bớt hôn trầm, còn nữa thì lại tiếp tục, làm hoài như vậy sẽ diệt tận hôn trầm, vĩnh viễn không còn sanh khởi nữa.

Có người tu 30 năm trong chùa mà ngồi thiền vẫn ngủ gục như ai là do không có ai chỉ cách tác ý mà có làm cũng làm không hết sức, khi làm cỏ là nhổ trọc hết không còn sót lại bất kì cọng cỏ nào, mình tác ý cũng giống như vậy, làm cho nó không còn sanh khởi trở lại nữa. Ngôi chùa ở dưới quê Minh Thành có một ông già mù làm cỏ, lấy tay rờ cỏ rồi lấy dao cắt vì ông không thấy đường mà một khi ông đã cắt là cắt tận dưới đất, không còn sót lại cọng cỏ nào chứ không phải chỉ cắt trên ngọn, ông bị mù mà làm cỏ sạch hơn cả người sáng mắt.

Điều này cho chúng ta thấy người cẩn thận thì dù cho ngu cũng sẽ thành tựu hơn người thông minh mà cẩu thả, xem thường. Người mù mà làm cỏ sạch hơn người có mắt vì người có mắt xem thường, giống như câu truyện con thỏ và rùa, con thỏ ỷ y mình chạy nhanh cho con rùa bò trước, trong lúc con rùa cần mẫn bò đến đích thì con thỏ buông lung, xem thường, khinh địch nên cuối cùng thất bại trước con rùa.

Con đã nhìn thấy trong tự thân mình và trong những huynh đệ tu chung, người cẩu thả xem thường thì vĩnh viễn suốt đời không thay đổi, còn người cẩn trọng nhất định thành công trong tất cả mọi phương diện. Ông bà có câu cần cù bù thông minh, nghĩa là người đó dù không thông minh nhưng họ siêng năng thì sẽ thành công còn người thông minh có khi lại thất bại thê thảm vì họ ỷ vào cái thông minh đó. Con làm việc với chú nào mà con mới vừa nói ra đã trả lời "biết rồi… biết rồi" thì con sợ vì nhất định người này sẽ làm hư chuyện, quả thật là như vậy, người cẩn thận lắng nghe hỏi lại 2-3 lần, người này không hứa làm thành công mà đã hứa rồi nhất định làm được, những người này có chữ tín và sẽ thành công.

 Do biến mãn với ly dục, tâm vị ấy được xem là kham nhẫn, chứng tri đối với các pháp cần phải giác ngộ. Kham nhẫn là chịu khó, cẩn trọng, cẩn thận, kĩ lưỡng, thận trọng. Dù chỉ là chuyện nhỏ nhưng vẫn cẩn thận, ông già mù làm cỏ mà sạch hơn người có mắt vì ông nghĩ mù, không thấy đường nên phải làm kĩ hơn người ta, còn người sáng mắt làm không sạch vì cẩu thả, không kham nhẫn cho nên đức tính kham nhẫn nhất định phải có ở người tu, nếu không có đức tính này không thành tựu được trí huệ.

Cho nên trong tất cả mọi trường hợp phải chịu khó, học kinh phải chịu khó, nhẫn sân, nhẫn sắc dục cũng phải chịu khó còn không chịu khó nhiếp phục thì đi theo nó, vì vậy chữ kham nhẫn này bao trùm tất cả thế và xuất thế pháp. Ngồi thiền cũng phải kham nhẫn, chiến đấu với hôn trầm phải kham nhẫn, không kham nhẫn thì mình buông cho ngủ luôn, vì thế mà chịu khó sẽ đưa đến thành tựu rất lớn, người không chịu khó học một thời gian sẽ bỏ cuộc, tu một thời gian bỏ, tác ý một thời gian thấy cũng vậy là bỏ, quán bất tịnh một thời gian thấy tịnh là bỏ, đó là không chịu khó, không kham nhẫn.

Như lý tác ý cũng phải kham nhẫn, diệt bản ngã càng phải kham nhẫn, càng phải chịu khó để diệt bản ngã, phải thường xuyên có thời khóa lạy sám hối diệt ngã mỗi ngày. Con biết bản ngã của con nặng nên con mở bài diệt trừ bản ngã lên nghe thường xuyên, phải làm cho tới cùng, khi nhập thất con nghe bài này một ngày 8 tiếng để tác ý, khi mệt thì thu âm vào rồi mở lên nghe để nhắc nhở. Khi nghe tác ý phải nhớ đừng hướng ra ngoài mà đây là đang nói vào cảm thọ, nói vào chấp ngã của mình, đây là chính mình nói với chấp ngã trong tâm mình thì sự tác ý mới có hiệu quả.

Tác ý tử hình bản ngã:

"Mày chết cha mày đi bản ngã súc vật này, con chó này, đồ súc sanh. Mày chết vĩnh viễn đi, mày chết mãi mãi đi. Mày diệt tận đi, đừng bao giờ sanh khởi trở lại trong tương lai. Đồ mất dại, khốn nạn, chó đẻ, súc sanh, ác thú, ác quỷ, ác ma, ác tà, ác gian, ác độc này. Cái thứ giết người này, cái thứ giết hết tất cả học trò, giết hết tất cả thầy, giết hết tất cả nhân nghĩa, lễ giáo, giết hết tất cả luân lý đạo đức tốt đẹp trên cuộc đời này. Đồ cái thứ khốn nạn, mất dại, chó chết, súc sanh, thú vật. Mày là thú vật chứ không phải con người, ma quỷ, ác thú, khốn nạn, chó chết. Mày chết vĩnh viễn đi, mày chết mãi mãi đi, đồ cái thứ súc vật, chó đẻ, mất dại. Lúc nào mày cũng vênh váo, lúc nào cũng ta đây, lúc nào mày cũng muốn làm cha mẹ, làm ông bà người ta. Đồ cái thứ chó chết này, cái thứ mất dại này, cứng đầu cứng cổ. Mày chết đi, mày chết ngay lập tức đi, mày chết vĩnh viễn đi, chết mãi mãi luôn. Đồ cái thứ khốn nạn, cứng đầu cứng cổ, cái thứ súc sanh chó đẻ này, cái thứ ác ma ác quỷ này, cái thứ tồi bại, nhục nhã, xấu xa, bẩn thỉu, gian tà này, ác độc. Đồ cái thứ khốn nạn, chó chết, cái thây thối. Mày đam mê cái thây thối này lắm hả? Mày ưa thích cái thây thối này lắm hả? Mày say mê cái thây thối này lắm hả? Cái thây thối này là cái gì? Một đống thịt bầy nhầy, một bộ xương, một cái thứ trống rỗng ai ở trong đây? Có cái gì ở trong đây? Có cái gì ở trong này? Đồ cái thứ chó chết, mất dạy, súc sanh, thú vật, ác ma thối tha, bẩn thỉu nhất trên đời này là bản ngã này, bẩn thỉu nhất trên đời này là cái thứ hách dịch này, bẩn thỉu nhất trên đời này là cái thứ ta đây, bẩn thỉu nhất trên đời này là cái thứ kiêu căng ngạo mạn, bẩn thỉu nhất trên đời này là cái thứ cứng đầu cứng cổ mất dại, bẩn thỉu nhất trên đời này là cái thứ vênh váo lên mặt dạy đời, cho mình là thầy. Chó chết, cái thứ chó chết này, đồ súc sanh, nghiệt súc tồi bại. Mày là con giòi, là con chuột cống. Mày muốn là súc sanh như vậy hả? Mày muốn ăn dơ ở thối như vậy hả? Trời ơi là trời! Tan biến đi, diệt tận vĩnh viễn và mãi mãi đừng sanh khởi trở lại trong tương lai nữa, đừng bao giờ để cho nó sanh khởi trở lại trong tương lai nữa. Cái thứ chó chết này, cái thứ chó chết súc vật này, cái thứ trâu bò này, bản ngã ngu như con bò, nhu như con chó, cái bản ngã ác thú này, mày đi theo thú tánh để làm thú vật hay sao? Mày muốn làm thú vật hả? Mày ưa thích làm thú vật hả? Tồi bại, bại hoại, tổn hại, tai hại, mày giết hại mày, bản ngã này giết hại mày vô lượng vô biên kiếp rồi, nó giết mày muôn đời vạn kiếp rồi, mày chết đi, nó làm cho mày chết nhục chết nhã, chết cay chết đắng, chết tức chết tưởi, chết một cách tồi bại, chết một cách mất dại, chết mà bị người ta sỉ nhục. Đã chết, bị tai nạn rồi còn bị nhục nhã, mày đã vừa lòng chưa, nhục chưa? Khốn nạn cho bản ngã này, mất dại cho bản ngã này, tồi bại cho bản ngã này, bản ngã này hủy hoại mày vô lượng vô biên kiếp rồi, giết hại mày vô lượng vô biên kiếp rồi, nó tàn hại mày vô lượng vô biên kiếp rồi. Mày nghe lời nó đi rồi mày sẽ chết cay chết đắng, chết dài dài, chết hoài hoài, chết mãi mãi. Không có mối nhục nào như mối nhục này".

Sự tu của mình phải kham nhẫn, phải chịu khó, phải dám nhìn thẳng vào tâm, nhìn trực diện vào nó, làm hết lòng mới thành công. Tại sao mình tu không tiến? Vì mình tu không hết lòng, không làm bằng tất cả khả năng, mình có khả năng làm được nhưng cái ái bên trong lại khởi lên "tu vừa vừa thôi, làm vừa vừa thôi, đừng có làm quá, làm gì dữ vậy".

Những ý niệm này là ác ma, nó sẽ giết chết mình, nó không cho mình tiến lên, nó chỉ muốn mình ở chung với dục tham ái, vô minh, bản ngã, nó không muốn mình đi ra khỏi nó cho nên mình phải thẳng tay nhưng phải khéo điều hòa chỉ quán lúc nào tác ý, lúc nào an tịnh, mình tác ý mà bệnh tức là mình làm chưa khéo, con tác ý trong thất suốt 2 tháng nhưng vẫn không bệnh, mình phải điều hòa một thời tác ý và một thời tu chỉ vì tác ý liên tục thì căng thẳng, còn không tác ý thì buông thả cho nên phải khéo léo. Sau 2 tháng tác ý như vậy đến khi ra khỏi thất bản ngã đã lắng dịu hơn trước, cái dục, sự hướng ngoại cũng giảm bớt, khi nặng về cái gì thì tác ý cái đó trước nhưng phải tác ý với ngôn từ mạnh mẽ mới có thể giảm bớt được, để tập khí sợ, rồi cảm thấy xấu hổ, lo lắng thì dòng cảm thọ đó bắt đầu chuyển thủ, chúng ta có bài kinh Thủ Chuyển, tức là sự chấp thủ bị rung chuyển.

./.