Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Trình Pháp Nikāya Xuất Gia - Cách Hạ Gục Bản Ngã - Quán Nhàm Chán Thân Xác

2026-03-03 00:53:15
Trình Pháp Nikāya Xuất Gia

Cách Hạ Gục Bản Ngã

Quán Nhàm Chán Thân Xác

Thích Minh Thành

Ngày 18 tháng 10

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Bản ngã PAGEREF _Toc150438020 \h 1

II. Pháp hành PAGEREF _Toc150438021 \h 11

III. Trình pháp PAGEREF _Toc150438022 \h 13

IV. Những việc cần làm PAGEREF _Toc150438023 \h 18

V. Hỷ lạc PAGEREF _Toc150438024 \h 22

VI. Tàm quý PAGEREF _Toc150438025 \h 24

Sư Phụ: Hôm nay chúng ta có buổi trình pháp đặc biệt của người xuất gia, chúng ta đừng ngại, có gì nội kết bên trong cứ việc nói ra, cái gì khó khăn nhất, cái gì là chướng ngại pháp sâu thẳm bên trong mình, có những vấn đề gì thì chúng ta cứ việc trình bày. Mỗi vị trình bày nhiều nhất là 5 phút, trình bày chỗ trọng yếu nhất, quan trọng nhất.

I. Bản ngã

Ni sư 1: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính bạch trên thầy và chư huynh đệ đồng tu, con xin có câu hỏi. Khi nói về bản ngã, cái tôi thì nó gắn liền với sự hiện hữu của chính mình, tức là có thân này là có cái tôi, cái ngã, một khi thân tứ đại mất đi rồi đồng nghĩa cái bản ngã cũng mất. Vậy con xin được hỏi khi mình còn nơi đây thì như thế nào để có thể diệt tận bản ngã, đó là câu hỏi của con, kính trên thầy chỉ dạy thêm cho con tỏ tường. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.

Sư Phụ: Thân này chết rồi bản ngã cũng không hết cho nên nó mới tìm thân mới, khi mình chết đi chỉ có tứ đại tan biến, thọ; tưởng; hành; thức vẫn còn. Với một cái tâm khát ái, yêu thích sự hiện hữu của một cái tôi, một cái tự ngã, một cái ta nhưng vì si mê, vô minh, không thấy không biết, cái tâm mê mờ cộng với sự khát ái kết hợp với nghiệp và quả báo của nghiệp thì nó có sức mạnh đẩy đi, mình gọi là cận tử nghiệp hoặc là nghiệp lực, trong Nikāya dùng từ hương ấm.

Cho nên khi thân này rã ra chỉ là sắc pháp thôi còn thọ; tưởng; hành; thức còn y nguyên, những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ, nhận thức đi tìm một cái thân mới. Do nghiệp lực đẩy có khi chụp trúng thân chuột, thân mèo, thân rắn, thân giòi, thân súc sanh, thú vật, cô hồn, bất cứ thân gì cũng đều nhận đó là mình và tiếp tục vô minh, khát ái, tiếp tục hãnh diện với một tự ngã, dù là thân chó ghẻ cũng có tự ngã. Kẻ ăn mày có bản ngã của kẻ ăn mày, ông vua có bản ngã của ông vua cho nên bản ngã chỉ diệt tận khi nào hết vô minh và tham ái, phá được thân kiến tức là cái nhìn sai lầm về thân của các bậc Thánh thì lúc đó sự chấp ngã, sự nắm giữ vào trong sắc; thọ; tưởng; hành; thức này mới được chấm dứt.

Sự tu của chúng ta từ đầu tới cuối là tu trong ngũ uẩn, từ chỗ học ngũ uẩn, thấy biết ngũ uẩn, mình nhiếp phục, chế ngự ngũ uẩn và cuối cùng là ly tham, nhàm chán, thoát ra khỏi ngũ uẩn. Cái tâm mê, tâm mù, cái tâm ngu nên cho sắc là nó, nó nắm vào hình hài này cho đó là nó, bất cứ chui vào hình hài nào cũng cho đó là nó, cái tâm mê đó nắm vào những cảm giác, nắm vào những hình bóng ám ảnh, nắm vào những lầm thầm, những sự rõ biết do duyên sanh theo nghiệp cho nên ngày nào còn chưa thấy ngũ uẩn, chưa biết ngũ uẩn thì làm sao nhiếp phục, chế ngự, làm sao ly tham, nhàm chán, làm sao thoát ra khỏi ngũ uẩn được, vì vậy chúng sanh mãi mãi và mãi mãi bất tận trong dòng luân hồi vì không thấy biết ngũ uẩn. Cho dù tu tới phi tưởng và phi tưởng xứ, đạt được thiền định tám muôn bốn ngàn kiếp, tâm bất động cũng còn trong ngũ uẩn, cũng nghĩ ngũ uẩn là mình, cũng còn yêu thích trong thọ; tưởng; hành; thức.

Đó là nói sâu sắc, còn nói thực tế trong khi tu làm sao để phá được cái ngã trong khi mình mang hình thức như vầy. Đầu tiên mình phải biết chỗ mê lầm của tâm là thân kiến, bậc Nhập Lưu phải phá được thân kiến mới vào được dòng trí tuệ chánh thức của Đức Phật, phá cái nhìn sai lầm về thân, thấy ra được ngũ uẩn chứ không có một tự ngã, một tự thể, một cái tôi riêng biệt.

Sự tu của chúng ta đầu tiên phải học hạnh khiêm cung, khiêm nhường, đó là cái dễ, cái gần, mình tập cúi đầu, tập lắng nghe những điều người ta chỉ dạy, phê bình, mình tập nhận lỗi bằng cách an trú cái tưởng, phương pháp lạy Phật là để nhiếp phục, hạ gục cái tôi nhưng vì không hiểu nên ứng dụng lệch lạc, người ta nghĩ lạy để hết tội, lạy để được phước nhưng phương pháp lạy đó chính là hạ thấp cái tôi của mình xuống. Mỗi lần lạy phải tác ý vì không tác ý thì pháp không sanh, công năng, tác dụng của cái lạy đó không sanh khởi được, không tăng trưởng, phát triển trong người.

Khi mình lên lạy sám hối con thường tác ý giúp "con xin chôn vùi cái bản ngã này", mỗi một lần lạy mình phải tác ý như vậy thì cái pháp đó mới sanh, Đức Phật đã nói tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi, tất cả pháp lấy sự nhớ nghĩ, cái niệm làm tăng thượng, nếu mình lạy trong sự lãng quên, lạy trên hình thức, lạy một cách máy móc, lạy cho có, lạy cho xong số lượng thì cái lạy đó cũng là thiện pháp nhưng chỉ ở bên ngoài chứ không đi sâu vào công phu tu tập cốt lõi.

Đó là lý do khi lạy phải tác ý "con nguyện chôn vùi cái bản ngã này", "con nguyện hạ gục cái bản ngã này", "con nguyện đánh đổ cái bản ngã này", "con nguyện đập tan bản ngã ngu si này", "con nguyện phá nát cái bản ngã hư ảo này", "con nguyện diệt tận cái bản ngã đầy rẫy những tai họa ác độc này". Tác ý mạnh chừng nào thì nó làm cho mình có một sự cảm thọ của cái pháp đó, đó cũng là lý do mấy ngày gần đây con cho chúng ta khóc rất nhiều, những cái đó là Thánh trí huệ đang gội rửa phàm tâm của mình, những dòng nước mắt đó đang rửa những cảm thọ cấu nhiễm.

Khi khóc thì cảm thấy xấu hổ, thấy hổ thẹn, thấy sai lầm, thấy mình vô minh, bản ngã, chính những cái này bắt đầu gội rửa, tẩy rửa, khai mở cảm thọ. Trước nay mình bị cảm thọ bất thiện, những cảm thọ uế nhiễm phủ lấp nhiều lớp, bây giờ mình vén nó ra, đây là những dòng Thánh thủy, Thánh pháp, Thánh nhũ, Thánh vũ, cam lộ tưới tẩm, làm cho trôi bớt những cảm thọ ác và bất thiện pháp, cấu nhiễm, những giọt nước mắt đó đang rửa cảm thọ và đang khai mở những cảm thọ hiền thiện, những cảm thọ trí tuệ, chạm tới sự thật, làm cho mình cảm động, chấn động, tứ đại của mình bị rung chuyển như địa chấn, nó làm cho các chấp thủ trong con người mình rung chuyển để bắt đầu có khả năng hạ gục được vô minh, chấp thủ, bản ngã cho nên khóc nhiều là tốt, đừng sợ gì cả.

Đầu tiên là an trú trong hình ảnh cúi đầu, sau đó an trú trong hình ảnh bản thân quỳ mọp, kế đó là an trú trong hình ảnh quỳ lạy dưới chân mọi người. Mình tác ý liên tục "con xin quỳ lạy dưới chân người", "con xin quỳ mọp dưới chân người", "con xin lễ lạy người". Đối với bất cứ một ai dù nhỏ hay lớn, cư sĩ tại gia, tu lâu hay mới tu mình cũng lạy một cách ngọt ngào, dễ chịu, dễ dàng thì lúc đó bắt đầu đã có sự nhiếp phục, chế ngự bản ngã, bất cứ ai mình cũng có thể quỳ lạy một cách ngọt ngào, đầy chân thành thì bản ngã bắt đầu được nhiếp phục ở bước đầu.

"Dầu tại bãi chiến trường

Thắng hàng ngàn quân địch,

Tự thắng mình tốt hơn,

Thật chiến thắng tối thượng"

(Kinh Pháp Cú 08 – Phẩm Ngàn, kệ 103)

Mình chiến thắng được cái tôi cao cao tại thượng, vênh váo, ta đây là tu lâu trong đạo, có chức sắc, địa vị, có nhiều công lao, mình hạ gục được cái đó, đánh đổ được cái đó, làm cho nó ngã xuống, nằm xuống thì đó là công phu bước đầu trong sự khởi sắc của giai đoạn phá ngã. Từ từ mình sẽ nhận thức sâu hơn những ý niệm về tự ngã, những ý niệm, cảm thọ bên trong chỉ một mình mình biết thì mình cũng sám hối, mình cũng quở trách tâm mình, mình cũng thấy xấu hổ, nhục nhã.

Chỉ một ý niệm khởi lên thôi mình cũng quở trách, khiển trách, mình la mắng, đánh nó bầm dập và mình luôn an trú trong hình ảnh một người khất thực, những người mới tu phải nghe thật nhiều loạt bài "Tầm quan trọng của tâm hiền", con chia sẻ 9 buổi về 9 pháp an trú tâm của bậc đại Thánh Tăng, chí thượng thanh văn, trí tuệ đệ nhất tôn giả Xá-lợi-phất, đó là pháp hành của tôn giả Xá-lợi-phất, quán tâm như đất, nước, gió, lửa, quán tâm như kẻ nghèo cùng, như nùi giẻ rách, như con bò đực bị cưa hai sừng, tâm lủng lỗ, rỉ chảy hôi thối, an trú tâm vào những cái này vì đây là pháp hành của tôn giả Xá-lợi-phất. Nó có công năng làm tâm mình hiền dịu xuống, bản ngã được lắng dịu, cứ thực tập như vậy cộng với thiền quán phá chấp sắc; thọ; tưởng; hành; thức, cứ quán chiếu thường xuyên thì từ từ mình sẽ thể nhập.

Nếu làm đúng pháp thì cứ yên tâm, nó sẽ mau thể nhập chứ không chậm. Ngày xưa do mình không biết tu ra sao, tu như thế nào, bây giờ mình nhận diện được ngũ uẩn là sáng tỏ hết cho nên nỗ lực tinh tấn là rất mau nhanh, kết quả rõ ràng thấy biết trong từng ngày, từng giờ. Sau đây là vài bài con tác ý diệt ngã khi con nhập thất, con chửi những cảm giác, nghĩ tưởng về cái tôi của mình, mình phải thành tựu được 7 trí về bản ngã.

Bản ngã là gì? Là sự chấp thủ vào trong năm uẩn.

Từ đâu sanh ra bản ngã? Từ vô minh và khát ái.

Từ đâu bản ngã diệt? Khi sự ảo tưởng về một cái tôi này được chấm dứt hoàn toàn.

Phương pháp diệt tận bản ngã là gì? Đó là phương pháp Tám Đúng.

Ngoài ra mình còn phải thấy được thế nào là vị ngọt của bản ngã, thế nào là sự nguy hại của bản ngã và thế nào là sự xuất ly ra khỏi bản ngã. Vị ngọt của bản ngã là khi được khen ngợi, được vỗ tay hoan nghênh thì lúc đó thấy thích thú, ngọt ngào, mình phải thấy được điều này và khi nó sanh khởi ra thì mình phải nhiếp phục, chế ngự nó. Ví dụ mỗi khi các vị quỳ lạy con là con quay vào trong tác ý "cái thân trống rỗng, cái nùi giẻ này phải nhìn kĩ, phải nhìn cái bao máu mủ này, không có ai ở đây cả", con không để tâm mình thọ nhận cái lạc thọ của việc được lễ lạy, được cung kính, cúng dường đó.

Khi mình nghe một lời khen, một sự tán dương, một sự cung kính, đảnh lễ, cúng dường thì lập tức quay về kiểm tra thọ; tưởng; hành lúc đó như thế nào, có khoan khoái, thích thú không, có yêu thích vị ngọt đó không, có thưởng thức vị ngọt đó không, có dục, ái, tham trong vị ngọt của bản ngã đó không, nếu có là dập liền, "mày vì cái bản ngã này mà trầm luân sanh tử vô lượng vô biên kiếp rồi, mày ham thích cái gì trong đây, cái thứ vô thường, cái thứ trống rỗng này, cái thứ ảo ảnh này thì có gì trong này".

Càng tác ý mạnh chừng nào thì sanh ra cái thọ không nhận, cái thọ muốn thoát ly, cái thọ muốn từ bỏ. Tu lâu như vậy thì sau này có khen hay chê tâm cũng không dao động, vẫn giữ được sự an tịnh, cảm thọ mình vẫn lắng dịu. Mình phải nhìn ra sự ác độc của bản ngã này, cái bản ngã đầy rẫy những tai ách, hoạn nạn, khốn khổ này, cái bản ngã rắn độc này phải canh chừng nó, phải đề phòng nó.

Bản ngã là tên giết người âm thầm, sát thủ vô hình chính là bản ngã này, giết người giấu mặt là cái tôi này. Mình phải quán chiếu được sự nguy hiểm và tác hại của nó, phải nhìn thấy được vị ngọt của nó để mình không tham muốn vị ngọt vô thường, hư ảo, do thấy sự nguy hại nên mình cẩn thận, dè chừng, tẩy sạch, đoạn tận.

Cái tôi, cái ta nhục lắm nha!

Lườm lườm, liếc liếc dáng chủ nhân,

Trừng trừng, trợn trợn kiểu sếp sòng,

Đi đi, lại lại ra dáng vẻ,

Uy uy, oai oai thật đáng kinh!

Hỡi này bạn ơi! Mình người tu,

Hãy nhớ mình tu đó nghe không?

Tâm tâm, niệm niệm khắc ghi lòng,

Dẹp trừ nhân - ngã đi vào đạo,

Sao lại để mình lấm bụi hồng?

Thật là khốn nạn cái ta này!

Sáng chiều suy nghĩ thể hiện mình,

Mình cao, mình thấp, mình bằng họ,

Lẩn quẩn trong đầu không lối ra.

Thật là cay đắng cái ta này!

Suốt ngày suy nghĩ để khoe khoang,

Phô trương danh tiếng cùng thanh thế,

Để được mọi người tới biểu dương.

Khổ ơi là khổ cái ta này!

Thương - giận, buồn - vui, đúng với sai,

Bắt bẻ đủ điều không chịu nổi,

Chẳng ai vừa ý, chẳng hợp ai.

Khổ ơi là khổ cái ta này!

Ganh tỵ, dối gian, ta với mi,

Gia đình tan nát thêm buồn khổ,

Chồng vợ, anh em thành kẻ thù.

Khổ ơi là khổ, cái ta này!

Con dao hai lưỡi giết mình - người,

Tự mình, bản ngã làm mình khổ,

Người ở cùng ta, khổ hơn ta.

Đắng cay, ác độc cái ta này!

Tự mình giết mình, thật vô minh,

Sét sinh từ sắt, hủy hoại sắt,

Bản thân cao ngạo ở một mình.

Đắng cay, ác độc cái ta này!

Thầy trò trở mặt kiện thưa nhau,

Cha con ly biệt trong ngấn lệ,

Bạn bỗng hóa thù chỉ phút giây.

Tớ tàn sát chủ án mạng kinh,

Chủ bốc lột người giúp việc mình,

Tập đoàn đổ vỡ và phá sản,

Thủ phạm chính là một cái ta!

Ôi, hiểm nạn thay! Hiểm nạn thay!

Bản Ngã này, nguyên tử giết người,

Nổ tung thế giới gây chiến tranh,

Tan thương sầu hận khắp trên đời.

Đông tây, kim cổ, Âu sang Á,

Lịch sử ngàn năm chẳng đổi dời.

Ôi, hoạn nạn thay! Hoạn nạn thay!

Bản ngã, tên sát nhân đại tài!

Giết cha, giết mẹ, giết thân tộc,

Hại anh, hại em, hại cháu con,

Phân thây chồng vợ bao nhiêu mãnh!

Bóp cổ người yêu nhận xuống sông.

Đốt nhà, trộm cướp, phá xóm làng,

Đâm cha, chém chú, hạ độc thủ,

Phóng hỏa, a-xit tạt đánh ghen…

Ta quá sợ mi! Quá sợ mi!

Bản ngã bày trò lắm khéo khôn,

Sát nhân ngọt lịm như mật đường,

Bao nhiêu ruồi, kiến mê vị ngọt,

Chết nổi, chết chìm trong khốn cùng.

Ôi, bản ngã này! bản ngã này!

Ngày nào bản ngã chưa phát giác,

Ngày ấy ta còn trong u mê.

Ngày nào bản ngã chưa thấy rõ,

Ngày ấy ta còn nô lệ nó.

Ngày nào bản ngã chưa soi tỏ,

Ngày ấy ta còn trong bóng đêm.

Ngày nào bản ngã chưa vạch mặt,

Ngày ấy ta còn trong dại khờ.

Ngày nào bản ngã chưa nhiếp phục,

Ngày ấy ta còn nhục xấu xa.

Ngày nào bản ngã chưa đánh gục,

Ngày ấy ta còn phẫn nộ, tham.

Ngày nào bản ngã chưa tê liệt,

Ngày ấy còn phân biệt hơn thua.

Ngày nào bản ngã chưa chết hẳn,

Ngày ấy ta còn phải khổ đau.

Ngày nào bản ngã chưa diệt chủng.

Ngày ấy ta còn trong nguy nan,

Bản ngã thật đáng sợ, đáng kinh.

Trong khi nhập thất con mở lên tác ý khi nó sanh khởi là suốt ngày, hướng vào tâm tác ý liên tục.

Cái bản ngã này thật khó trừ,

Dai như đỉa đói cứ bám theo.

Nếu không giết nó, ta khổ mãi,

Làm sao được vào chốn Vô dư?

Cái bản ngã này thật khó trừ,

Chập chờn ảnh tượng thoáng thoáng mờ.

Ẩn ẩn, hiện hiện trong tâm trí,

Nếu không thấy rõ chúng gầm gừ.

Cái bản ngã này thật khó trừ,

Bày trò khiêm tốn để càng to.

Âm mưu thâm độc không nói nổi,

Ta quyết diệt ngươi, diệt tận ngươi.

Đang lạy sám hối, đang nói lời khiêm cung, khiêm tốn nhưng bên trong lại để nó cao hơn, nó lớn hơn nữa. Đó là sự khiêm tốn giả tạo, khiêm cung để mình được người ta tôn trọng hơn nữa, đây là đi sâu vào hơn nữa. Đầu tiên là vênh váo thì mình làm cho nó hạ rồi, mục đích làm cho hạ xuống để được người ta tôn trọng, thật là khủng khiếp, mình phải nhìn ra được lớp thứ hai này để diệt luôn nó.

Lúc đầu là dương dương tự đắc, là vênh váo, hống hách, hách dịch, đây là cái thô ai cũng thấy, lớp thứ hai là khi mình hạ nó xuống để ở trong thầm ý được người ta tôn trọng, nâng lên cao hơn nữa. Con sơ lược để thấy được sự tu Nikāya là như vậy, đây là một trong những pháp quan trọng để thành tựu những cái căn bản, cốt lõi của người xuất gia. Diệt dục, diệt bản ngã, diệt tâm hướng ngoại là ba cái quan trọng để thành tựu pháp.

II. Pháp hành

Ni sư 1: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính niệm ơn thầy, những lời dạy của thầy con đã tỏ tường, giờ đây con xin phép cho con đặt thêm một câu hỏi. Theo con biết thì trong thời điểm hiện tại thì phương pháp tu thiền được mở rộng và phát triển khắp nơi, dường như là một phong trào, mọi người đều hướng về việc tìm về những phương pháp tu thiền. Bản thân con cũng bắt đầu đem hết tâm mình để đi vào việc tìm cầu nắm bắt một pháp tu cho chính mình, khoảng 3 năm trở lại thì con cũng được đủ đầy nhân duyên làm quen với những nơi tổ chức khóa tu tập thiền như thiền hơi thở, hiện pháp lạc trú của sư ông Nhất Hạnh, gần đây con cũng tham dự những khóa tu thiền của Vipassana, đó thường là những khóa tu ngắn hạn 10 ngày.

Khi con đến thì phần nào con cũng có pháp hỷ và đón nhận, tuy nhiên để con cảm thấy nó rõ ràng, thấu suốt để con đi đến thì con chưa cảm nhận được, chỉ duy nhất khi con về nơi rừng thiền nơi đây đón nhận được pháp hành Nikāya. Câu hỏi của con là pháp thiền hơi thở cũng như pháp thiền Vipassana cũng như pháp thiền Nikāya có phải là một hay không, hay pháp thiền hơi và pháp thiền Vipassana cũng từ gốc của pháp hành Nikāya. Con chưa tỏ rõ, kính trên thầy chỉ dẫn thêm cho con, con kính niệm ơn thầy. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.

Sư Phụ: Một pháp hành viên mãn phải nhìn thấy được ngũ uẩn, một pháp hành viên mãn phải thấy đầy đủ thân tâm của mình. Thứ nhất là phải nhìn thấy được ngũ uẩn bằng chính đôi mắt của mình, thứ hai là phải nhìn thấy được những dục, tham, ái, vô minh, bản ngã trong ngũ uẩn, thứ ba là phải có phương pháp rõ ràng, thiết thực, cụ thể để nhiếp phục, đoạn tận, tẩy sạch những cái đó thì mới là chánh pháp của Đức Phật đầy đủ. Trong bài kinh "Thông Điệp" ngài Upali hỏi Đức Phật làm sao để xác định được đâu là chánh pháp của Đức Phật thì Thế Tôn nói những lời dạy nào, những pháp luật nào đưa đến nhất hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, từ bỏ, giác ngộ, thắng trí, Niết-bàn thì đó là pháp của ngài dạy. Pháp nào đưa đến nhàm chán, đoạn tận, từ bỏ, chấm dứt đối với ngũ uẩn thì đó mới là pháp của Như Lai.

"Này Upàli, những pháp nào Thầy biết: 'Những pháp này không được đưa đến nhất hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn', thời này Upàli, Thầy cần phải nhất hướng thọ trì là: 'Ðây không phải Pháp, đây không phải Luật, đây không phải lời dạy Thế Tôn'. Và này Upàli, những pháp nào Thầy biết: 'Những pháp này đưa đến nhất hướng, nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn', thời này Upàli, Thầy cần phải nhất hướng thọ trì là: 'Ðây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy Thế Tôn'". (Tăng Chi Bộ, Chương VII – Bảy Pháp, VIII. Phẩm Về Luật, (IX). Thông Điệp)

Nhất hướng nhàm chán đối với sắc; thọ; tưởng; hành; thức, nhất hướng ly tham đối với sắc; thọ; tưởng; hành; thức, một bề chấm dứt tham, sân, si, vô minh, bản ngã đối với ngũ uẩn thì pháp đó là pháp và luật chân chánh của Như Lai tuyên thuyết. Còn những pháp không đưa đến sự nhàm chán, ly tham, từ bỏ đối với ngũ uẩn thì đó không phải là pháp và luật của Như Lai. Đó là Thánh pháp ấn của Đức Phật trong kinh tạng Nikāya, chánh pháp của Phật là phải đưa đến nhàm chán đối với tất cả sắc tướng, nhàm chán đối với tất cả cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức. Mình lấy con dấu này để ấn định hết tất cả lời dạy của tất cả pháp hành, có điều này là đúng.

Nếu tâm không có sự tinh vi thâm sâu, không thành tựu chánh kiến là mình không thể biết được cái nào đúng cái nào sai, cái nào tà cái nào chánh. Nói một hồi thành khoan khoái cái vô thường, yêu thích vô thường, Thế Tôn nói đối với một người thành tựu chánh tri kiến không thể chấp nhận bất cứ một hành nào là vui, không thể chấp nhận dù chỉ một chút ít sắc tướng nào là vui, không chấp nhận một cảm giác nào là vui thích, một người thành tựu chánh tri kiến không chấp nhập bất cứ một sắc; thọ; tưởng; hành; thức nào là vui, là tự ngã, là tôi.

Một người thấy biết đúng Thánh trí huệ của Đức Phật không chấp nhận bất cứ một sắc, một thọ, một tưởng, một hành, một thức nào là thường, là ngã, là tịnh, nếu còn chấp nhận một chút nào trong sắc; thọ; tưởng; hành; thức thì người đó chưa thành tựu chánh tri kiến. Đó là bài kinh Đức Phật nói về những vị Nhập Lưu, là những vị thành tựu cái thấy biết chân chánh trong pháp. Chúng sanh là những người mê đắm trong ngũ uẩn, mê sắc điên cuồng, đừng nói chi đến thọ, những suy nghĩ, cái thức lại càng thâm sâu khủng khiếp hơn nữa.

III. Trình pháp

Ni sư 2: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Kính bạch trên sư phụ, kính thưa quý thầy, quý Ni sư cùng toàn thể đại chúng. Kính thưa sư phụ trước đây con tu học nhưng con chưa từng tham gia bất cứ khóa thiền nào, bản thân con sau khi bệnh ung thư thì lúc đó con không biết làm sao, vào phòng ngồi thở ra thở vô thì con thấy rằng đây là kết quả bao nhiêu năm tu học, lúc đó con nhận ra sân si "đây là cái sân si của mày đây, đây là kết quả tu học của mày đây, nhìn vào mày có thấy ngao ngán không".

Con chỉ ngồi nói như vậy thôi chứ không biết tác ý là gì cả, sau đó con ngồi tưởng lại hai loại cây, một là cây tầm vông, hai là cây lúa, con suy tư nói với tâm tại sao cây lúa đem lợi ích đến cho mọi người, nhà giàu cũng vào, nhà nghèo cũng vào, nó đem lại lợi ích nhưng luôn khiêm hạ, khiêm cung, còn cây tầm vông cao ngút nhưng khi gió nghiệp lực đi ngang qua thì sẽ đứt đầu. Con lấy hình tượng này "chắc mày nằm trong cây cao ngạo này đây cho nên mới phát sinh ra căn bệnh này", từ đó con từ bỏ không giận bất cứ một ai.

Khi vào dòng pháp này con bị sốc toàn tập, khi nhìn ra ngũ uẩn con khóc rất nhiều và khi nghe những bài pháp của sư phụ thì lồng ngực con như vỡ toang ra, có một sự trạo hối. Trước nay đi không đúng đường, sau đó đến nay khi tu học con nghe pháp, con đọc một bài kinh nói rằng có một vị Tỳ-kheo nói với Đức Phật sẽ từ bỏ cuộc sống trước nay để cùng chung sống với các vị đồng phạm hạnh, vậy là con lấy bài kinh này làm kim chỉ nam trên con đường tu tập, con từ bỏ cuộc sống nhỏ nhoi, những cái cá nhân của con để cùng chung với các vị tu học nơi này để có một hội chúng tinh ba như trong quyển nghi thức tu học Nikāya đã nói.

Những khi con thiền quán hoặc xem phim thì con thấy sắc thân này thật sự là một sự ngao ngán, còn gì để con tham muốn nữa, còn gì để sân si, si mê nữa. Mỗi đêm khoảng 2-3h con thức dậy giống như có một sự thúc giục trong con "dậy đi, dậy đi, dậy học bài đi, đừng ngủ nữa, ngủ nhiều lắm rồi. Đừng si mê nữa". Tuy rằng con dậy sớm hơn trước đây nhưng con không có sự mệt mỏi, con tự tác ý "gia tài của Phật đây, giao cho mình đây, nếu còn ham ăn, ham ngủ nữa thì không được đâu", từ đó ăn uống con thấy nhàm chán, con ngủ ít hơn nhưng trong thân tâm con rất vui. Vui vì con gặp được Thánh pháp, vui vì gặp được sư phụ đã hết lòng thương tưởng, chỉ dạy cho con mỗi ngày, con được uống sữa pháp mỗi ngày. Trong khi sinh hoạt con có nhắc nhở quý cô nhưng con không có tâm sân hận gì cả, nếu con làm cho quý vị buồn thì xin quý vị hãy nói ra để con sám hối, con thật lòng tha thiết sám hối bằng cả tấm lòng của mình. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.

Ni sư 3: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Kính bạch trên thầy, chư đại đức cùng quý Ni sư cùng thiền đường đại chúng. Hôm nay đầy đủ nhân duyên con về Linh Quy Pháp Ấn, mấy ngày vừa qua con rất vui, rất hạnh phúc khi được giáo pháp tô bồi thêm cho con rất nhiều. Từ trước con có nhân duyên là bà con bây giờ là Ni trưởng ở chùa Vạn Hạnh Q10 đã hướng dẫn cho con khi con chưa biết chùa là gì, lúc đó con 10-15 tuổi nhưng ba mẹ không cho đi cho tới năm con 20 tuổi.

Con không phát tâm đi tu vì ngày hôm sau xuống tóc mà ngày trước con vẫn ăn mặn, con chưa tập ăn chay, đến khi con được gửi cho một vị ở Quảng Ngãi thì con được xuất gia, nhưng vị thầy đó cũng do sư bà chọn chứ con không được chọn thầy. Thời gian 1 tháng thì hai thầy trò không đủ duyên nên không nhận con nữa, sau đó con đi về nhà thì gia đình con mới nói "tại vì lỡ xuống tóc rồi, nếu chưa xuống tóc thì về nhà, con xuống tóc rồi mà về nhà sống không nên người thì người ta bảo chắc do hung dữ lắm nên vô chùa không ai nhận". Khi nghe câu nói đó thì con gặp vị thầy gần bên, thầy nói rằng không ở chùa này được thì đến chùa khác ở, sau khi ra đi thì con gặp huynh Tịnh, hai huynh đệ cùng cảnh ngộ dẫn nhau lên sư bác ở. Sau đó sư bác gửi vào trong sư bà Huỳnh Quang rồi 2 huynh đệ ở trong đó rồi đi học, lúc đó gọi là Phật học cơ bản.

Con đi học ở đó được mấy năm rồi con chuyển về Bình Định để đi học, học xong thì qua năm 2000 con mới vào Sài Gòn để học lớp Cao đẳng. Trong thời gian con học Cao đẳng thì chùa nào gần trường thì con xin vào đó ở để đi học, thời gian còn lại con học bên Diệu Đức, tất cả những nơi nào học miễn phí là con đều đến để học. Khi con vào lớp giảng sư, con học không cần lấp bằng cấp mà học để lấy kiến thức để sau đó sống chứ lấy bằng giảng sư thì con sợ thứ nhất là cái tướng không có, thứ hai là người miền trung nói cộc cằn nên con không lấy bằng cấp để đi giảng.

Sau đó con học lớp luật ở Huệ Nghiêm, thời gian học không nhiều, một tuần học 3 buổi nhưng kéo dài đến 7 năm, sau đó hòa thượng mở khóa mới thì con mới theo quý thầy trong các đoàn mỗi lần đi trì chú, tụng kinh, con đều vào để đi cùng quý thầy để không còn nỗi buồn nào bên ngoài nữa.

Con vừa đi vừa thực hành, lúc đầu Phật tử thấy rất mến, quý trọng, khi các thầy, các sư dẫn đoàn đi như vậy thì người ta xem mình như một người Phật sống nhưng sau này con gặp được một vị thầy là đệ tử của ngài Từ Quang, ngài bảo rằng trên cuộc đời này không có gì là vinh hiển, con đi như vậy bây giờ người ta cung kính nhưng đến khi sức khỏe yếu nằm xuống người ta đến thăm con một lần chứ không bao giờ người ta chăm sóc con nhiều cho nên con dừng lại hết ngã tướng, ngã chấp, con buông hết.

Con về xây thất trên Di Linh ở một mình, toàn bộ kinh sách con học được gì là con về thực hành, thời gian sau con nhìn thấy đất ít không vào giáo hội được, chính quyền người ta cũng làm khó dễ, con lại buông đi và để nơi đó cho một vị khác, con về lại Sài Gòn y chỉ một vị Ni sư ở Gò Vấp.

Trong thời gian con về thì con ở đó, mọi việc con đều chấp tác, con làm được hết, Phật tử khen con về đây thì vườn tược, dẫn chúng đều tốt nhưng trong cái khen đó con thực tập không vì như vậy mà lấn lướt sư huynh. Nhưng có một điều là sau này thầy y chỉ nói… Con xin bỏ để nói tóm tắt là sau khi bỏ Di Linh thì con ra Bắc vì người ta nói ra đó nhận cái chùa để trụ trì, con ra đó được 3 tháng thì con tổ chức lễ Phật đản rất lớn, con cũng y chỉ một vị Ni sư ngoài đó, giữa con và Ni sư không có chuyện gì xảy ra nhưng sau công việc thì Ni sư nói với chính quyền là giữa con với Ni sư có mâu thuẫn, chính quyền hỏi thì con nói không có gì cả, vị Ni sư đó cứ gọi mãi cho chính quyền thì sau này chính quyền mới hiểu là vị Ni sư đó muốn lấy chùa lại cho đệ tử của mình.

Khi con nghe như vậy thì con rút lui vì ra đây điều quan trọng là hướng dẫn cho người ta tu, lỡ có chuyện gì thì thân mạng không còn thì cha mẹ là người đau khổ nhất, trong thời gian đó con cũng nhận được vài người đệ tử. Sau khi con vào trong này thì con để đệ tử ngoài đó để đi học nhưng khi con về chùa ở Gò Vấp thì con có thân phận như thế này, Phật tử bảo ở đây là sư huynh trụ trì, sau này có đệ tử vào trong này thì tình hình này hơi khó chịu cho nên sư phụ con nghe như vậy thì sư phụ cũng hơi dè dặt.

Thưa thầy hôm nay con có vấn đề là khi con lên đây học thêm những cái pháp sắc; thọ; tưởng; hành; thức. Những cái này con nhận diện ra nhưng bản ngã của con vẫn thấy còn lớn, chưa diệt hết, dù con chưa va chạm, chưa hỗn láo hay chưa có hành động gì với huynh đệ hay các bạn đồng tu. Con đang phân vân là hiện nay con lên Lâm Đồng thì nhiều người cũng bảo phải tìm cơ sở riêng vì còn đệ tử, nếu không làm riêng thì sau này mấy đứa nhỏ không theo người nào rồi trở về nhà thì mất đi duyên tu. Hiện giờ con cũng gửi cho các thầy các sư nhưng không theo ai hết, vừa rồi con lên thì Phật tử ở Bảo Lộc cũng hứa cúng nhưng khi người ta hứa thì trong cái thọ không vui mừng, con chỉ nghĩ đủ duyên thì cứ việc tiến hành, không đủ duyên thì dừng. Giữa việc phân vân trước ngã 3 đường như vậy, giữa hành đạo và tu tập, con xin trên thầy có một tầm nhìn rộng cho con một lời khuyên nên về tu với huynh đệ, sư phụ hay lập một nơi để độ cho đệ tử. A-di-đà Phật, con đội ơn thầy.

Sư Phụ: Con thấy việc quan trọng nhất của người xuất gia là cầu pháp và hành pháp, mình phải tìm được pháp hành có hiệu quả, có khả năng nhiếp phục và diệt tận được tham, sân, si, bản ngã, cái đó là cái cao thượng nhất của người xuất gia. Đó là việc nên làm, việc cần làm, việc phải làm, là trách nhiệm, bổn phận sự, còn những việc khác là tùy duyên, nếu duyên đầy đủ, thuận lợi, chắc chắn và mình phải quán sát thật kĩ, nếu không là mình mang họa. Nhiều khi mình dính vào một cái chùa, một cái đạo tràng là mình hết tu hành, không còn thời gian, không còn tâm tư gì nữa, nếu cái đó là đúng nhân đúng duyên thì mình nhận nhưng nhận với tâm rất nhẹ nhàng chứ mình không miễn cưỡng, không phan duyên, mình không đi tìm, đi kiếm, đi nghĩ, suy tính, thậm chí mình chân tu người ta cúng mình cũng không nhận vì mình phải lường sức của mình.

Cho nên con không nói nên hay không nên mà là mình xem thứ nhất là mình đã nắm được pháp hành chưa, mình thực hành đã có kết quả chưa vì đó là điều quan trọng nhất, nếu mình có được rồi thì những nhân duyên đến mà phù hợp, chắc chắn, đầy đủ, thuận lợi thì mình sẽ nhận, còn nếu chưa đầy đủ, mình thấy có mầm móng trong đó là sự lo âu, là gánh nặng, là bất an, phiền não thì mình tránh trước thì tốt hơn để thực hành pháp, khi mình thực hành được pháp thì ở chỗ nào cũng là đại đạo tràng, mình ở chỗ nào cũng thành đại tòng lâm, mình ở chỗ nào thì tất cả mười phương đều quy tụ. Nếu chưa thành tựu pháp thì có tạo dựng ra để hướng dẫn cũng như sư cô Huệ Lý có chia sẻ hướng dẫn không đúng chánh pháp, mình còn khổ đau, còn đầy rẫy tham, sân, si, bản ngã thì mình hướng dẫn cái gì, chỉ ở trên hình thức, có khi trong đó lại làm cho mình gánh nặng cho nên cô cần suy xét thật kĩ.

Ni sư 3: A-di-đà Phật, con đội ơn thầy. Từ hôm con lên đây khi sự việc diễn ra như vậy, con biết nếu duyên đến thì con cũng thấy khổ lắm vì đến rồi thì buộc lòng mình phải theo về mặt giấy tờ, rồi xây dựng… làm mất thời gian tu tập cho nên con đang phân vân như vậy. Nếu con không làm thì các đệ tử về ở với sư huynh, sư bác thì con không biết sẽ như thế nào, mấy ngày nay khi theo đại chúng tu tập, nhờ năng lực đại chúng thì khi đi thiền hành con thấy rất nhẹ, hơn nữa lời chỉ dạy của thầy về thực chất của sắc; thọ; tưởng; hành; thức cho nên thầy giải bày thì con cũng rõ. Nếu về đó thì theo tùy duyên, khi đầy đủ duyên thì con làm, không đầy đủ duyên thì con lùi lại. A-di-đà Phật, con cảm ơn thầy.

IV. Những việc cần làm

Ni sư 4: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính bạch trên thầy, kính thưa chư tôn đức, con có một câu hỏi. Thầy dạy con pháp hành nhận diện ngũ uẩn và thực hành ba pháp, những hôm ngồi thiền thì thầy dẫn thiền để tụi con tập quán, nhưng còn những hôm thầy không nói gì cả thì con phải làm gì thưa thầy?

Sư Phụ: Mình thực hành 3 pháp và nhận diện 5 uẩn. Đúng ra thiền quán chưa vội nhưng vì quý vị lên đây ít ngày quá cho nên con phải trói voi bỏ rọ, tức là đem những bí kiếp đánh phá các dòng cảm thọ chủ lực để các vị thành tựu cái thấy đúng về pháp trước, vì đúng ra phải thực hành 3 pháp và nhận diện 5 uẩn một thời gian đủ lâu rồi sau đó mới thực tập thiền quán được. Nhưng để cho chúng ta có sự nhìn nhận chính xác về pháp rồi thực hành từ từ cũng được nên con cho thiền quán nhiều chút, những buổi ngồi yên đó là mình thực hành ba pháp và nhận diện ngũ uẩn.

Ni sư 4: Con cũng không biết phải làm gì nên con làm như vậy, con cũng thực hành ba pháp và nhận diện ngũ uẩn mà không biết có đúng không.

Sư Phụ: Dạ đúng, mình nhận diện ngũ uẩn đúng là có nhiều việc để làm chứ không khi nào thất nghiệp cả. Nếu không thiền quán thì cứ thực hành ba pháp bất cứ lúc nào, không phải chỉ là giờ ngồi trên thiền đường mà bất cứ đi ở đây, ngồi ở chỗ nào cũng thực hành ba pháp. Khi đi phải rõ biết trước mặt, phải cảm giác toàn bộ cơ thể, phải xem bên trong đang có hình bóng, suy nghĩ gì, nếu là ác bất thiện pháp thì đánh đuổi, còn thiện pháp thì tăng trưởng lên.

Mình tu thiền quen là đừng cho suy nghĩ gì cả nhưng cái này không phải vậy, cái này cho suy nghĩ những pháp thiện, nếu không nghĩ thì thiện pháp không sanh, trí huệ không sanh, tâm bị chai lì, tu một thời gian là đơ ra không còn trí huệ sắc bén nữa, là do mình không tác động tâm ý để suy tư. Khi đọc trong kinh Nikāya, nhất là Tương Ưng Nhân Duyên nói rằng khi Bồ-tát Tất-đạt-đa khởi quán chiếu về thập nhị nhân duyên chỉ toàn là suy nghĩ chứ không phải ngài chỉ ngồi im ru. Khi tâm ngài yên định, trong sáng thì ngài mới nhìn thấy sự thật rồi ngài nương theo đó suy nghĩ lên, đó là những suy nghĩ của chân lý cho nên lúc chứng ngộ không phải là lúc không suy nghĩ mà là lúc khai thông suy nghĩ, nhìn ra đúng bản chất của các pháp.

Lâu nay tu thiền chúng ta thường nghiêng về thiền chỉ, đừng suy nghĩ, đó cũng là cái tốt nhưng dùng quá liều thành cái không tốt vì tâm mình không nghĩ nữa, nghĩ cái gì cũng bỏ qua, cho qua hết, mình nghĩ đây là dao động nên đừng nghĩ. Chính vì vậy sỏi cho qua, vàng cũng quăng nên cuối cùng mình là người không có gì hết, giả sử ngay đó mình nghĩ "giờ này ngoài miền trung thật tội nghiệp, chết biết bao người, đường sá thành sông biển, nhà cửa tan nát, mấy trăm ngàn người đau khổ".

Mình nắm lấy suy nghĩ này triển khai thiền quán, làm cho bản thân sanh khởi lên lòng từ, sanh khởi lên lòng thương, làm cho mình bi mẫn, xót thương, thậm chí nếu rơi lệ càng tốt vì lòng từ đó gội rửa tâm sân, cái khổ đó sẽ rửa những cái mà mình cho là vui trong đời này, đó là Khổ Thánh Trí cũng là từ bi tâm. Mình lấy đề mục đó khai triển sâu vào, đó là công án của thiền tông, tức là những chủ đề, những đề mục làm cho mình sanh khởi lên tuệ giác và tình thương rộng lớn thì khai triển thiền quán, tiếp tục tư duy, quán chiếu, mình thấy ngao ngán, mong manh, tạm bợ và ngắn ngủi là đời sống này, nhỏ hẹp, nhỏ bé là đời sống của loài người, mình hướng đến sự nhàm chán, thoát ra thì ngay đó có biết bao thiện pháp, trí tuệ trong đó, có biết bao thọ; tưởng; hành cho nên đó là chỗ chúng ta khéo léo trong.

Đó là phương tiện tùy duyên quán, tức là vô tình mình gặp là lấy luôn làm đề tài quán, mình đang quét nhà, quét sân thì mình nói "cái này phải quét vô trong chứ, mấy cái thứ tham lam, dục ái, sân si này quét mày hết, tụi bây đi hết đi, tao cho tụi bây vào thùng, vào lửa để tan biến hết", đó cũng gọi là phước huệ song tu, bên ngoài thì đang làm phước nhưng bên trong tu huệ, hai cái kết hợp sẽ sanh ra công đức, bên ngoài là công quả, bên trong là công đức do mình tu tập trí tuệ quán chiếu.

Nếu không mình chỉ được cái phước bên ngoài chứ không được tuệ, chính vì vậy làm công quả nhiều nhưng đụng vào vẫn tham, sân, si, bản ngã, ta đây. Cho nên phương tiện tùy duyên chỉ, phương tiện tùy duyên quán là tùy theo hoàn cảnh, sự việc, trường hợp đó mà kết hợp tu, cũng như con lên đây không biết nói gì cả, Ni sư hỏi về bản ngã thì con nói về bản ngã, cái đó mình phải khéo léo nắm bắt các pháp và thiện xảo sử dụng thọ; tưởng; hành của mình. Mình nên phát triển thiền quán vì nó rất mạnh, mới có thể bứng được gốc rễ, mới đốt được phiền não, trong đại tạng kinh Nikāya thì 80-90% là thiền quán, chỉ có tứ thiền là thiền định, có những vị Thánh Tăng chưa chứng được thiền nào nhưng vẫn đoạn tận tất cả lậu hoặc, nhưng nếu định và tuệ đầy đủ thì quá viên mãn cho nên cần chú trọng nhiều vào thiền quán.

Trong xã hội thời nay cái định rất khó, thật sự khó tu các tầng thiền định cho nên mình phát huy thiền quán nhiều sẽ giúp cho mình thành tựu chánh kiến. Khi mình vào chánh kiến thì dòng pháp sẽ tự động đưa mình về phía trước, khi mình thành tựu cái thấy biết đúng thì tự động nó có sức mạnh đưa mình đi về phía trước.

Ni sư 4: Thưa thầy, đó cũng là khó khăn của con trong mấy ngày đầu, thầy kêu con khởi thì thật sự là không thể khởi được, con không biết phải làm sao, con nghĩ "không biết có làm được không", không khởi lên nổi cái gì cả.

Sư Phụ: Mấy chục năm không khởi nên bây giờ kêu khởi thì chưa quen.

Ni sư 4: Thưa thầy khi thầy dạy tứ vô lượng tâm, mở lòng từ rộng lớn bao la thì thật sự con chưa làm được. Khi thầy nói những cảnh bão lụt, người nằm ngoài đường con cũng thấy thương, con thấy cũng tội nghiệp, cũng rơi nước mắt nhưng qua rồi cũng thôi. Thật sự mình thấy ngay đó cũng rơi nước mắt nhưng qua vài ngày cũng đâu vào đó cho nên thầy nói khởi từ tâm rộng lớn thì con không biết.

Sư Phụ: Phải từ từ, cái đó là nói trước để mình biết đường đi là như vậy chứ mới vào làm sao khởi vô lượng tâm được. Bây giờ mình chỉ khởi tâm từ trước, để cho tâm thương rộng lớn ra rồi từ từ mới đi đến chỗ vô lượng, phải có thời gian, đi từ tiểu học, trung học lên đại học.

Ni sư 4: Con xin cảm ơn thầy.

V. Hỷ lạc

Ni sư 5: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính bạch trên sư phụ, con kính bạch trên chư tôn hiền đức Tăng Ni. Bạch sư phụ con có 3 câu hỏi xin sư phụ chỉ dạy cho con. Câu hỏi thứ nhất là trong một tuần sư phụ tổ chức cho đại chúng tu thì con khởi lên tâm hỷ và con thực hành hằng ngày để con có tâm hỷ thì con làm vậy là đúng hay sai, khi con tác ý từ dưới chân lên đầu, từ đầu xuống chân đều thọ tâm hỷ, con quán như vậy. Câu hỏi thứ hai là tâm con có lúc an lạc, có lúc không an lạc, những khi an lạc nhưng sâu thẳm bên trong con thấy có cái gì nhói đau giống như chiều nay sư phụ dạy thì con cũng có pháp lạc nhưng sâu thẳm trong cái thọ con có cái gì rất đau. Câu hỏi thứ ba là mỗi khi sư phụ dạy tác ý để lìa bỏ, nhàm chán nhưng con chỉ nhớ tác ý lúc sư phụ dạy thôi, con trình pháp nói nhàm chán cái thân này nhưng khi về con lại không nhớ tác ý nên chẳng thấy nhàm chán gì cả. Bạch sư phụ, sư phụ chỉ cho con làm sao để có được tâm nhàm chán. Đó là 3 câu hỏi của con ạ.

Sư Phụ: Mình tác ý tâm hỷ là tốt, cái đó là được. Mình sống quen với cái dục niềm vui ở bên ngoài, ăn ngon, đi chơi hay được thể hiện bản ngã, những cái danh lợi, mình đã quen với cái vui đó, bây giờ mình bỏ những thú vui đó mà không có cái vui pháp thì mình sẽ rất khó tu cho nên cái hỷ để trị cái bệnh không vui, bất lạc, cái buồn chán, thấy tu không có gì cả, thấy tu mà cứ khóc hoài, cứ xỉ vả mình hoài, thấy toàn bất tịnh, khổ đau. Nếu không tu tâm hỷ thì mình sẽ không có động lực, không có một thứ thay thế để làm tâm mình cân bằng trong khi mới lìa dục pháp để bước qua pháp ly dục cho nên cần giai đoạn chuyển tiếp, cần hỷ lạc, hạnh phúc, sự vui sướng khi mình thấy được niềm vui tâm mình xa lìa những cái dục cho nên cái hỷ là cần tu tập.

Khi ngồi ở vườn tre mà con mở "Vô thượng Phật đạo" thì cái đó giúp cho chúng ta ngoài sự ưu tư trong tu học thì chúng ta còn có được cái hỷ, cái hạnh phúc, hoan hỉ, tâm mình nâng cao, tăng thượng tâm hỷ. Đối với những vị mới tu học thì cái này rất cần thiết.

Sư thầy 1: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Theo lời thầy chỉ dạy thì con có vui, con có hỷ lạc, thứ hai là con xin được hỏi thầy khi con hỷ lạc nhưng con không cho hỷ lạc thì cái đó có đúng không. Khi bất chợt con nghe một huynh đệ tụng một bài kinh nào đó, bản thân con không thuộc bài kinh nào bên Nikāya nên khi con nghe các thầy các cô tụng kinh Nikāya thì khi nghe một câu kinh nào đó tâm con chấn động và con hiểu được câu kinh đó, con rất vui nhưng khi vui thì cái vui vừa lóe lên lại tắt, cũng có những bài con vui rất lâu nên con lại tác ý cho dừng, con làm như vậy có đúng không ạ. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.

Sư Phụ: Thầy đừng kiềm hãm cái vui lại mà hãy cứ để cho vui thật nhiều vì đó là tâm hỷ của sự tu học chánh pháp, cái hỷ đó không liên hệ đến vật chất, cái hỷ đó là từ chánh, từ sự thật, từ Thánh trí huệ của Đức Phật nên cần phải có cái hỷ đó. Nếu không có cái hỷ đó thì tu một thời gian thầy sẽ thấy chán, thấy vô vị, tẻ nhạt, nhạt nhẽo, không có động lực để tiến về phía trước nên cần để cái hỷ đó sanh khởi lớn mạnh, tiếp tục tác ý "mình vui quá, mình hạnh phúc quá, gặp được chánh pháp của Đức Phật thật tuyệt vời". Nhiều khi con biết mọi người mệt nhưng vẫn cho mọi người tác ý, mệt cái thân một chút không sao, so với người ta ở ngoài cực khổ biết bao nhiêu thì mình được ngồi yên nghe pháp thì mệt chút không sao để mình được những cảm thọ trong vô lượng vô biên kiếp vừa qua chưa từng có.

Cái hỷ đó là cần thiết, cũng như sư cô nói từng lỗ chân lông, từng huyết quản, từng hơi thở của mình từ đảnh tóc đến gót chân, cảm giác toàn thân mình thấy trào dâng sung mãn, thấm đẫm, từ da đi vào thịt, từ thịt đi vào xương, từ xương thấm vào tủy, từ tủy đi tới não. Mình tác ý rồi cảm nhận từng chỗ sanh khởi lên làm cho mình run người, chấn động thân tâm, trong lồng ngực muốn vỡ ra, những lúc như thế một là hỷ lạc và hai là chạm tới Thánh trí huệ, chạm tới sự thật thì nổ ra những cái mê lầm, chấp thủ, vô minh, ngu si. Chúng ta có bài kinh "Thủ chuyển" nghĩa là những chấp thủ bị rung chuyển, đó là lúc trong nội tâm đang diễn ra một cuộc đổi thay lớn, những cảm thọ đó rất quý nên đừng sợ, có chết ngay đó là vào Thánh quả, sanh thiên giới, vỡ ra cái vô minh, tham ái, chấp thủ, vỡ ra cái ngu mê, si ám.

VI. Tàm quý

Khi cô cảm thấy có cảm thọ nhói lên thì cô phải lắng tâm thật kĩ để nhìn thì sẽ biết được nhân duyên sanh khởi của nó. Nếu đau nhức về những cái sai lầm, những cái sai quấy trước nay mình làm, bây giờ mình mở mắt ra thấy được những cái sai đó chứ trước nay mình chưa thấy thì mình thấy xấu hổ, nhục nhã, nhức nhối, đau đớn thì rất tốt, từ nhục nhã mới sanh Thánh quả. Phải đau nhức, xấu hổ thì mới thay đổi, làm con người mới ra khỏi những cái cũ cho nên cái tàm quý là một trong bảy tài sản của bậc Thánh.

"Này các Tỳ-kheo, có bảy tài sản này. Thế nào là bảy?

Tín tài, giới tài, tàm tài, quý tài, văn tài, thí tài, tuệ tài. Này các Tỳ-kheo, đây là bảy tài sản" (Tăng Chi Bộ, Chương VII - Bảy Pháp, I. Phẩm Tài Sản, (VI). Các Tài Sản Rộng Thuyết)

Đây là thất Thánh tài, là tài sản của bậc Thánh, nếu mất những cái này chúng ta thành những người nghèo khổ trong đạo Phật, chính cái xấu hổ, nhục nhã, sợ hãi đó mới đẩy mình đi làm, để mình nhàm chán, thoát ra, đổi mới, tăng thượng, hướng thượng cho nên cái nhức nhối đó rất cần, thậm chí mình không có thì phải làm cho sanh khởi, còn có được là rất quý, nắm bắt để tu tập. Nếu mình thấy ở chùa lâu ngày cứ trơ trơ, đơ đơ, không hướng thượng thì bắt đầu la rầy, mắng chửi "tại sao ngươi lại an phận thủ thường như vậy? Ý chí ban đầu của ngươi ở đâu? Bỏ cha bỏ mẹ để rồi sống qua ngày đoạn tháng, ẩn dương nương Phật hay sao?". Phải làm cho bản thân nhức nhối, ưu tư mà Đức Thế Tôn gọi là với khổ với ưu nước mắt đầy mặt vì phạm hạnh này chưa thành tựu, phải làm cho mình ưu tư, trằn trọc, thao thức, trăn trở, ray rứt vì mình không thành tựu những giới đức, thiền định, trí tuệ cao thượng, tự mình giày vò mình, tự mình la mắng mình, tự mình quở trách mình. Như vậy là mình tự làm sanh khởi lên tàm quý nhưng muốn được vậy phải có sức mạnh của người chân tu, phải tha thiết trong sự tu hành, nếu không có những cái này là đời tu mình không đi lên được nữa, nó sẽ đứng lại một chỗ, Đức Thế Tôn nói dòng chảy của pháp là từ tàm quý đưa đến Thánh quả.

Vô tàm vô quý chỉ có hai hạng, tức là không biết xấu hổ và không biết sợ hãi chỉ có hai hạng người, một là phàm phu chai, tâm thức chai sạn không biết gì về tàm quý, không biết xấu dở, tội ác, đó là hạng phàm phu không biết tu. Hai là bậc lậu tận, các ngài nhìn lại mình hoàn toàn thanh tịnh, trong sạch nên không xấu hổ, không sợ hãi, còn hạng hữu học như chúng ta phải có pháp này thì chúng ta mới tiến bộ, còn nếu mất hai pháp xấu hổ và sợ hãi đối với ác và bất thiện pháp là đời tu chúng ta dừng lại một chỗ, không thể tiến lên được.

Cô hỏi khi nghe pháp thì thấy nhàm chán thân này nhưng trở ra lại không thấy nhàm chán gì cả, bây giờ làm sao để nhàm chán? Đây là bài con tác ý trong khi nhập thất, con đọc bài này trong nước mắt đầm đìa.

Thân này ung nhọt, bao máu mủ,

Gớm ghiếc, tanh hôi, nhớp nhúa đầy.

Thân này ác nghiệp do dục nhiễm,

Vô minh khát ái kết nên hình.

Thân này phân tiểu chảy tràn ra,

Bốc mùi khó chịu khiếp kinh thay!

Thân này mồi nhử ác ma tạo,

Mắc bẫy vào rồi, khó thoát ra.

Đống phân, nước tiểu bẩn thiểu này,

Lừa gạt thiên hạ khắp nhân sinh.

Mê say dục nhiễm đồ hôi thúi,

Quán sâu, thoát khỏi hố hầm phân!

Nước miếng chảy ra hôi gớm thay!

Cứt ráy, mũi, ghèn, nhơ quá tay!

Đờm dãi, mồ hôi, máu ghẻ lở…

Lòng vòng trong đó chẳng chán chê?

Chán chê một cái tâm u mê,

Nuốt tinh, ăn huyết mãi ê chề.

Quần áo đậy che nơi xấu hổm

Cả đời si dại sinh dục mê.

Thân xác này là đống thối tha,

Bệnh tật, tai nạn, ổ sợ lo.

Trung tâm suy tính cùng nghĩ tưởng,

Lo nghèo, lo xấu, lo chết già.

Thân xác này là gốc bực phiền,

Phiền ăn, phiền mặc, phiền tìm dục,

Phiền buồn, phiền não, phiền áo cơm,

Phiền lòng, phiền phức, phiền sinh kế,

Phiền khổ, phiền đau, phiền buồn người,

Phiền lo, phiền hận, phiền giận dỗi,

Phiền ốm, phiền đau, phiền tai ương,

Phiền bệnh, phiền sầu, phiền bực bội,

Phiền não, phiền ưu, phiền sầu bi,

Phiền sanh, phiền tử, phiền quanh quẩn,

Phiền khóc, phiền than, trong hận si.

Bao nhiêu phiền bực, bấy nhiêu sân,

Chồng chất lên thân vạn khổ sâu.

Nội tâm rác bẩn tham, ái, dục,

Tử thần bất chợt lôi đầu thai.

Nay ta ngán ngẩm xác thân này!

Một đống bầy nhầy thịt máu tanh.

Lừa gạt thế nhân cùng thiên hạ,

Mê say đắm đuối chết không rời.

Nào hay hôi thúi mầm bệnh hoạn,

Lây nhiễm di truyền hại lây lan.

Nhơ nhớp, hôi tanh không xấu hổ,

Đến khi bệnh khổ hận vô vàn!

Nay ta nhàm chán xác thân này!

Cung phụng, lo toan suốt cả đời.

Đòi hỏi dục tham không thỏa mãn,

Chung cuộc kiếp người vẫn khát khao.

Nay ta ghê sợ xác thân này!

Liếc mắt, miệng cười trói một đời.

Tham, sân, dục, ái tuồng bi kịch,

Kéo màn, máu lệ cứ tuôn rơi!

Nay ta hết tham xác thân này!

Ung nhọt ung thư, ung bướu đầy.

Bệnh lạ đớn đau vô số kể,

Cuối cùng nhắm mắt buông tay xuôi.

Nay ta từ bỏ xác thân này!

Từ bỏ lòng ái, lòng dục tham!

Từ bỏ lòng mê, lòng dục nhiễm!

Từ bỏ lòng sân, lòng dục si!

Từ bỏ lòng chấp thủ thây người!

Từ bỏ lòng buộc ràng dính chặt!

Từ bỏ lòng hệ lụy kế đời!

Từ bỏ lòng tương tục tiếp nối!

Từ bỏ lòng gắng kết kiếp sau!

Nay ta diệt tận xác thân này!

Diệt tâm luyến ái lớp da dơ!

Diệt tâm luyến ái tóc, răng, móng!

Diệt tâm luyến ái mủ, máu, đàm!

Diệt tâm luyến ái phân, nước tiểu

Diệt tâm luyến ái ruột, phổi, gan!

Diệt tâm luyến ái tim, thận, tủy!

Diệt tâm luyến ái lãi, sán, giòi!

Thoát ra khỏi cảnh sầu bi khổ!

Thoát ra khỏi cảnh buồn phiền thiêu!

Thoát ra khỏi cảnh đâm chém giết!

Thoát ra khỏi cảnh chết chóc hoài!

Thoát ra khỏi cảnh quay cuồng dục!

Thoát ra khỏi cảnh hận đốt thiêu!

Thoát ra khỏi cảnh già, bệnh khổ!

Thoát ra khỏi cảnh luân hồi nhiều!

Nhàm chán ly tham đoạn diệt thân!

Luân hồi sanh tử sẽ xa dần,

Không ưa, không thích, không muốn nữa.

Chấm dứt từ nay cuộc tái sinh!

Niết-bàn, bảng Bất tử nêu danh.

Bất sanh bất diệt, tâm bất động,

An nhiên tự tại Phạm hạnh thành!

Ni sư 5: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con xin tri ân trên sư phụ.

Sư Phụ: Muốn nhàm chán thì phải tác ý nhắc nhở thường xuyên, phải quán bất tịnh thường xuyên, mình thấy cái gì, nghe cái gì là phải nắm bắt làm đề mục. Thấy hai người đang sân si với nhau thì mình chán cảm giác này quá, mình thấy cảnh khổ trên tin tức thì mình thấy ngao ngán quá. "Đã từ lâu đời lâu kiếp ta đã chịu đựng khổ, chịu đựng sự thống khổ, tai họa như vậy", phải học thuộc những câu kinh đó để tác ý, mình phải viết ra, đọc lên rồi ghi âm để nghe tới nghe lui để thấm vào tim vì tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi, lấy niệm làm tăng thượng. Mình phải tác ý thì pháp mới sanh khởi, sau đó mình niệm liên tục thì cái tăng thượng sẽ lớn lên.

Ni sư 6: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính bạch trên thầy, con kính bạch trên chư đại đức Tăng Ni cùng toàn thể đại chúng. Con xin được trình pháp, trước khi trình pháp con chia sẻ một chút về quá trình hội đủ nhân duyên để đến Linh Quy Pháp Ấn này, xin thầy chứng minh cho con.

Lý tưởng xuất gia ngày đó của con là hướng đến sự giải thoát, con cũng không hiểu nhiều về giải thoát là gì nhưng con thấy những cảnh khổ trong cuộc đời từ trong gia đình, đi học thì con thấy cuộc sống cũng khổ. Khi tốt nghiệp xong khóa Cao đẳng thì con quyết định đi xuất gia với lý tưởng giải thoát chứ không vì miếng cơm manh áo. Con được xuất gia làm đệ tử của sư bà Hải Triều Âm, trong những năm tháng xuất gia tu học con luôn trăn trở về chí nguyện tu tập để tìm gặp chánh pháp, thời gian con ở với sư bà rất hạnh phúc nhưng khi sư bà viên tịch thì đại chúng xảy ra rất nhiều vấn đề, lúc đó con khóc rất nhiều, con gào thét lên "tại sao người tu lại như vậy?", người tu phải hiền thiện, thương yêu, bảo bọc, che chở cho hàng hậu học sau này nhưng con không thấy được cái tình đó. Mặc dù ở chùa quý sư cô rất thương con nhưng vào một đêm con bỏ trốn ra đi, con quyết đi để tìm cầu chánh pháp, tìm nơi tu học.

Con cũng ra đi để tìm nhưng chưa bao giờ thấy vui và hạnh phúc, nhân duyên con được y chỉ ở một ngôi chùa. Khi con học xong khóa trung cấp vào năm 2018 thì con quyết định dừng lại tất cả việc học, con không vào học viện mà xin nhập thất 3 tháng tu tập tịnh khẩu và chuyên niệm Phật. Với lòng tha thiết tu tập thì con chán ngán tất cả, thật sự con chán ngán, con không muốn một giây phút nào ở lại cõi đời này nữa, con nói "Phật ơi, Bồ-tát ơi, con muốn được thân cận quý ngài, con không muốn ở đây trong một giờ phút nào nữa", con quyết định chuyên tu 3 năm để không tiếp xúc với ai nữa. Lúc đó sư phụ con nói môi trường đó không tốt cho con nên cho con qua Ấn Độ tu học 1 năm để con chiêm nghiệm nhưng con vẫn chưa thấy được chánh pháp thật sự. Vào một ngày với lòng tha thiết chân thành thì con cũng chạm được vào những bài kinh trong tạng kinh Nikāya, lúc đó con rất hạnh phúc, đây là những điều mà bấy lâu nay con tìm kiếm.

Con nhớ rất rõ khi ở Bồ-đề đạo tràng thì con được vào vườn thiền tu tập, ngày nào con cũng đọc bài "Đại kinh Saccaka", một mình con trong vườn thiền đọc rất to bài kinh này và con cảm thấy cảm giác rất hân hoan, vui sướng. Con về Việt Nam thì xin sư phụ rời đại chúng để tìm về nơi núi rừng, được sự trợ duyên thì con về núi ở dù cực khổ nhưng con thấy được pháp, con thấy Phật dạy như vậy thì con đi như vậy. Tuy cực khổ nhưng con luôn có tâm hướng về tìm cầu chánh pháp, con luôn thắp lên ngọn đèn chánh pháp nhưng khi ở núi rừng cũng có những lần tiếp duyên thì con không thích nên xin được nhập thất để độc cư tịnh tu. Trước khi về với Linh Quy Pháp Ấn thì con có thời gian nhập thất 5 tháng với tâm nguyện được đọc hết bộ đại tạng kinh Nikāya để hiểu lời Phật dạy, con đọc tới Tương Ưng nhưng không phải đọc không mà đọc tới đâu thì hành tới đó. Con thương Phật nên lúc nào con cũng quỳ khóc và nói "Phật ơi, con thương Phật quá, con muốn được gần Phật, con muốn được về với Phật, con không muốn gì ở cõi đời này nữa cả".

Con xin trình pháp để thầy chứng minh lộ trình tu tập của con là khi con nhập thất thì con cũng hành thiền nhưng chỉ là thiền chỉ, con an trú vào tâm vắng lặng, con thích cảm giác đó nên khi ra thất gặp người thì con thấy sợ, không thích tiếp xúc. Con cũng tư duy "mình tu như vậy là không được", nếu không có thiền quán thì thiền chỉ chỉ là sự vắng lặng tạm thời, sự an lạc và an ổn tạm thời thôi, khi gặp cảnh thì vẫn sợ, không tiếp xúc với mọi người.

Lúc đó con tư duy như vậy và mỗi ngày con đều đọc kinh và hành thiền liên tục, đến một ngày có vị chỉ cho con thiền quán, khi con chuyển qua thiền quán thì tâm con rất khó chịu, con cảm giác làm biếng để khởi quán. Con không biết làm sao, bình thường con ngồi thiền rất yên ắng và vắng lặng nhưng đến một ngày thân con đau không chịu nổi, như muốn rớt xuống Bồ-đoàn, không thể ngồi được, toàn thân đau muốn nát nhừ. Ngồi không được thì con ra vườn đi thiền hành suốt và con tư duy nhưng con cũng không hiểu vì sao, con cứ đi tới đi lui liên tục rồi một buổi sáng con vào ngồi trong thất một mình hướng đến Phật để chỉ dạy, soi đường dẫn lối cho con để con biết cách tu cho đúng.

Một ngày nọ con đọc bài ngũ uẩn thì con thấy được toàn bộ cái thân này từ sắc; thọ; tưởng; hành; thức, chỉ là đồ lắp ráp mà sao từ trước đến giờ mình lại vô minh như vậy, mình chấp vào nó, bị đau một chút đã khó chịu. Con suy tư một mình trong thất bị đau không ai đụng chạm mà mình đã lồng lộn lên, con đã viết ra những câu "trời ơi sao mình lại như một con trâu điên như vậy", khi đau con không làm chủ được cái thọ của mình, con không chịu nổi nên quằn quại trong cái đớn đau mà không biết kêu ai, không biết làm sao vì lúc đó con chưa nhận diện được ngũ uẩn.

Đến khi đọc ngũ uẩn thì con bình tâm lại, con ngồi viết rồi suy xét, phân tích thân mình chỉ do ngũ uẩn lắp ráp lại thôi, con chỉ biết được đến đó. Những ngày sau con ngồi tác ý, quán chiếu ngao ngán vô cùng, con có viết chữ "Tử" dán lên cửa và nói thật sự ngao ngán, con không muốn sanh tử luân hồi nữa, chỉ muốn tu theo Đức Thế Tôn để được giải thoát, để được Thánh trí như Đức Phật, khi đó con bắt chân lên ngồi thiền đã khóc 3 ngày liên tục, con thấy được cái khổ, khi đọc Tứ Diệu Đế con chỉ thấy cái khổ trên văn tự nhưng lúc đó con mới thấm thía được cái khổ của thân mình, con đem những cái khổ của người thân mình ra phân tích thì con thật sự thấm được cái khổ.

Khi con gặp tai nạn là có một con vật chui vào tai làm con đau đớn, con gào thét rồi khóc thì mẹ đã ôm con vào lòng với một tình thương của một người mẹ. Lúc đó con nghĩ đến Đức Phật, Đức Phật cũng thương tất cả chúng sanh như người mẹ thương con, lúc đó con mới hiểu được tình thương của Phật rộng lớn, 3 ngày sau con vẫn khóc.

Khi con nhập thất được 5 tháng thì con phải về làm đám cho ba, việc nhận diện ngũ uẩn cũng chưa được thuần thục và biết rõ nhưng trong tâm con lúc nào cũng khao khát và tha thiết tìm cầu chánh pháp, thắp lên ngọn đèn chánh pháp, không khi nào con để ngọn đèn tắt, lúc nào con cũng thắp lên một ngọn nến để mong cầu chánh pháp. Hôm nay đầy đủ phước duyên để con gặp trên Ni sư, một duyên thù thắng đưa con về Linh Quy Pháp Ấn dự khóa tu, khi nhận diện ngũ uẩn thì con thấy mình chưa thuần thục lắm. Con trình qua cho thầy biết lộ trình tu tập cũng như tâm nguyện của con để thầy chỉ dạy và hướng con đi trên lộ trình đúng, sống và thực hành theo tạng kinh Nikāya mà con luôn khát ngưỡng và cầu mong. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính bạch trên thầy chứng minh và chỉ dạy, hướng dẫn để một đời này con được cầu pháp học và pháp hành viên mãn để xứng đáng là người con ngoan của Đức Phật. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.

Sư Phụ:

Tâm thương này tỏa rộng

Cùng khắp thế giới này

Tâm thương này tỏa rộng

Khắp trời đất bao la.

./.