Nikāya Tinh Hoa Phật Trí 1
Nikāya Tinh Hoa Phật Trí 1 (XCCD 9)
Thích Minh Thành
Ngày 20 tháng 04 năm 2024
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Cảm giác toàn thân, quay về nội tâm PAGEREF _Toc194763648 \h 1
II. Vô minh – Căn bệnh tâm thức và sự vi diệu của trí tuệ Phật PAGEREF _Toc194763649 \h 1
III. Quay về với hơi thở – Bước đầu của tỉnh giác PAGEREF _Toc194763650 \h 6
IV. Tâm mê PAGEREF _Toc194763651 \h 10
V. An trú chánh niệm – Quán thân, phá ngã chấp PAGEREF _Toc194763652 \h 12
VI. Tinh tấn thực hành – Dùng pháp làm vũ khí đoạn trừ phiền não PAGEREF _Toc194763653 \h 16
VII. Trí tuệ vô thượng của Thế Tôn PAGEREF _Toc194763654 \h 18
VIII. Tác hại của sự chấp thủ thân này PAGEREF _Toc194763655 \h 21
IX. Thấy được lối thoát – Con đường giải thoát mà Thế Tôn đã chỉ dạy PAGEREF _Toc194763656 \h 22
I. Cảm giác toàn thân, quay về nội tâm
Dầu cho mình có ngồi dưới gốc cây, có đứng 1 mình, trên núi, mà nếu mình biết thực tập cảm giác toàn thân. Thì mình đang quay về căn nhà nội tâm, tâm mình có nhà, mình có chỗ quy y, mình có chỗ nương tựa. Tâm mình không có vất vơ, vât vưởng. Hãy thực cẩm cảm giác toàn thân bất cứ mọi nơi, bất cứ ở đâu, khi nào. Chúng ta giờ này thật là bình an lắm, thật là an tịnh lắng dịu, thật là thanh tịnh, tịch tịnh. Khó dùng lời mà diễn tả được những cảm nhận này, pháp này đến để mà thấy, đến để mà cảm nhận, đến để mà sống, trải nghiệm. Có hiệu quả ngay lặp tức, ngay tức khắc. Bình an, sự an tịnh, sự lắng dịu đang có mặt trong cảm thọ, thân tâm của ta.
Không cần phải đợi đến tối nay hay ngày mai, càng không cần phải đợi đến lúc sắp sửa chết mới có kết quả. Pháp của Như Lai là thiết thực, hiện tại, có hiệu quả tức thời, đến để mà thấy. Có khả năng hướng thượng, có khả năng đưa mình lên cao, người trí tự mình giác hiểu. Chúng ta nãy giờ có cảm nhận được cảm giác toàn thân không? Có cảm nhận được đầy đủ không? Cố gắng thực tập cảm giác toàn thân. Cho nên sự học của chúng ta, là vừa học vừa hành cùng một lúc. Bây giờ là chúng ta đang thực hành nè, chứ không phải học riêng, hành riêng.
II. Vô minh – Căn bệnh tâm thức và sự vi diệu của trí tuệ Phật
Đảnh lễ Đức Thế Tôn Bậc A-la-hán Chánh đẳng giác (3 lần)
Kính bạc chư tôn và chư hiền, hôm nay chúng ta tìm hiểu tổng quát tinh hoa Phật trí. Những cái tinh hoa, tinh túy, tinh tủy, tinh anh của trí tuệ Phật. Khi được học về trí tuệ này, chúng ta sẽ từ bất ngờ này đến bất ngờ khác. Chúng ta không thể tưởng tượng được trí tuệ của Đức Phật, nó thâm sâu, phổ quát, bao trùm tất cả mọi khía cạnh, phương diện, góc độ, ngõ ngách, ngóc ngách. Tất cả mọi sự sanh diệt, vận hành của thân, tâm, của đời sống, thế gian, thế giới, chúng sanh vạn loại muôn loài. Đều được Đức Thế Tôn thực thấy, thực biết, thực chứng, thấu suốt tận cùng nguồn cội, căn nguyên, góc rễ, góc gác.
Nó sanh khởi như thế nào? Nó an trú như thế nào? Nó vận hành như thế nào? Vì đâu mà nó sanh? Nó sanh lên như thế nào? Tại sao nó sanh? Nó sanh lên thì nó vận hành như thế nào? Cái cơ cấu, guồng máy, hệ điều hành, mô tuýp, cấu trúc sự vận hành của thân xác, đời sống, thế gian, thế giới này. Được Đức Phật trình bày chi li, tỉ mỉ, tinh tế, tường tận, thấu đáo, viên mãn tất cả mọi phương diện, góc độ, khía cạnh. Đó là ý nghĩa của chữ Chánh đẳng chánh giác, đi học đây chúng ta mới thấy sự ngu dốt, sự không hiểu biết của chúng ta. Mới thấy được cái tâm mờ tối, si mê và vô minh của chúng ta. Hồi xưa con xin thưa với chư tôn và chư hiền, con xuất gia 28 năm, mà con không có hiểu chữ vô minh.
Con cứ nghĩ vô minh là ở trong thời quá khứ, hồi xa xưa, hồi nào đó. Khi nào dòng pháp này thì sốc toàn tập, sốc từ cái này cho tới cái khác. Không ngờ cái vô minh nó ở trong mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Ở trong mỗi suy nghĩ, mỗi cảm thọ, mỗi hình bóng trong tâm, mỗi trong cái thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc, biết của mình. Là bị vô minh nó phong tỏa, nó che lắp, nó bao phủ, nó trùm chiếm hết. Nó giống như một người, mà bị một tấm màn trùm lên trên đó. Mà người này đi như vậy trong bóng đêm. Thì những tâm thức của chúng sanh khi chưa được thấy pháp, chưa được học pháp, chưa được hành pháp, chưa được ngộ pháp, chưa được chứng pháp, chưa được đắc pháp, chưa được thành pháp, thì là những tâm thức mù lòa, vô minh và hôn mê. Hoàn toàn không có thấy biết gì về mình hết, nhưng mà mình luôn luôn lúc nào cũng nghĩ mình rất là thông minh.
Chính chỗ đó là chỗ làm cho chúng ta mãi mãi ở trong vô minh, mình không thấy được sự vô minh của mình. Cũng như 1 người bị bệnh rất là nặng, nhưng mà người này không thấy được mình bị bệnh. Tới khi cực kỳ nghiêm trong đi đến bác sĩ, là đã đến giai đoạn cuối rồi. Cũng vậy, tâm thức chúng ta là một tâm bệnh trầm kha khủng khiếp. Mà Đức Thế Tôn và bậc tri vương, dược vương, vô thượng y phương, để trị cho cái tâm mình bệnh trầm kha, bệnh trong xương tủy. Mà người nào chịu mình bệnh, chịu mình mê, thì người đó mới có thể trị bệnh, mới có thể tỉnh ra được. Mình có chịu thừa nhận mình bị bệnh tâm không? Mình có thừa nhận là mình đang bị hôn mê không? Như vậy thì ngồi đây, còn không thừa nhận thì muốn xuống thì cứ xuống, không ai cản hết.
Hổm rày cũng có một mớ xuống núi rồi, không sao hết. Thành ra thật sự đi tìm về sự thật là thiên nan, vạn nan. Không có dễ mà nghe sự thật, không có dễ mà chấp nhận sự thật, không có dễ mà nhìn thấy sự thật. Dầu cho sự thật nó nhan nhãn trước mắt bên tai chúng ta, nhưng tâm chúng ta vì cái tôi, cái bản ngã rất là lớn. Nhưng gì cái vô minh nó che đậy, phong tỏa, nhưng gì sự tham ái rất là khủng khiếp, cho nên nó không chấp nhận sự thật. Giống như mình thấy ở đây, mấy bạn tuổi trẻ vướn vào lưới tình, cha mẹ nói mình đâu có nghe, người ta gọi là si tình. Thì vô trong đó rồi nó si mê, thì cái tâm si mê nó cũng giống như vậy, mượn cái đó để mình hiểu ra cái này nó còn sâu sắc hơn rất nhiều.
Một khi mình đam mê cái gì, 1 món đồ, 1 con người, 1 sự vật gì đó, thì lúc đó cái tâm của mình nó mờ tối. Mà không có một cái khác, chỉ duy nhất với người đó, với món đồ vật đó. Thì cũng vậy, cái tâm mình nó bị si mê, đam mê, say đắm ở trong sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Giống như nó si tình với một cô gái, hay với một chàng trai. Và cái si này nó còn nặng hơn nhiều lần, mình lấy ví dụ như vậy cho dễ hiểu. Cái tâm si mê, hôn mê, ham mê, say đắm rất là nặng ở trong sắc. Chính vì vậy mà cái Thánh trí tuệ, cái tinh hoa Phật trí đầu tiên Đức Thế Tôn dùng bom nguyên tử vỹ đại để đánh phá sắc thủ uẩn – Thánh trí tuệ thứ 1. Vì một cái tâm này nó không thấy, không biết, không hiểu, không rõ, không rành về cái sắc này.
Cho nên nó ảo tưởng là cái này nó đẹp lắm, sướng lắm, hấp dẫn lắm, bền vững, kiên cố, vững trú, thường trú lắm. Cái đó là tôi, là ta, là của ta, là đẹp lắm, là đáng vui, vừa lòng, thích ý, sung sướng lắm. Cho nên cái tâm vì nó không hiểu nên nó ham thích, vì nó ham thích cho nên nó nắm giữ, vì nó nắm giữ cho nên nó có ra cái thứ mà nó nắm giữ. Đó là ý nghĩa của chữ “sắc thủ uẩn”, từ vô minh, tham ái, chấp thủ mà có ra sự hiện hữu, chính là thân hình mấy chục ký lô đang ngồi đây. Từ vô minh, tức là không hiểu biết về 5 uẩn, thì nó ham thích, khoan khoái. Vì ham thích, khoan khoái cho nên nó mới có ra.
Nói tiếng Việt cho chúng ta dễ hiểu, là không thấy, không biết, không được học, không được gặp bậc Thánh, không nghe pháp bậc Thánh, không tu tập pháp bậc Thánh, không thuần thục pháp bậc Thánh. Kẻ vô văn phàm phu không thấy, không biết về ngũ uẩn, không rõ về ngũ uẩn. Cho nên kẻ vô văn phàm phu ham thích và say đắm trong uẩn. Và cho ngũ uẩn này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi. Và nó có ra sự hiện hữu này, thân 5 uẩn này có mặt. Cảnh giới của cái thân cư trú có mặt. và cái tâm thức hôn mê bên trong đương nhiên là có mặt. Thân, tâm, cảnh, nó có ra căn, trần, thức. Chính là từ cái thức hôn mê này, nó nắm chặt vào cái thân. Từ cái thân này, thì nó phải có cái cảnh vô cái thân này ở.
Tại đây là 18 giới được thành lặp, thân, tâm, cảnh. Mà gốc rễ là từ cái tâm hôn mê, không thấy không biết về 5 uẩn. Hoàn toàn không thấy, không biết gì về 5 uẩn hết. Kẻ vô văn phàm phu, “vô văn” là không được nghe, không được học Thánh trí ngũ uẩn, không được học giáo pháp Nikāya đó. Cho sắc là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi. Cho cái nhà, chiếc xe, miếng đất, tiền, sổ hồng sổ đỏ đó là của tôi, là tôi, là tự ngã của tôi. Cho những cái cảm giác này, hình bóng trong tâm này, mọi lời nói thì thầm, suy nghĩ bên trong này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi. Và cho cái thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc, biết, các nhận thức này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi.
Thì như vậy nó dồn lại một cục, nó dính chùm lại với nhau. Đây là một cái ngã thủ uẩn cho lớn, cho nên ai đụng tới tôi thì biết tay tôi. Thấy chưa? Như nắm tay của của mình là 1 cái ngã thủ uẩn, là đống 5 thứ nó chụm lại, nắm lại, chắc lại, bấu lại, bíu lại, giữ chặt, nắm chắc, nắm cứng không buông ra, như vậy là một cái tôi. Mà khi đã có cái tôi rồi, thì ai đụng tới tôi thì là biết tay tôi. Thì như vậy bậc đa văn Thánh đệ tử thì thấy cái nắm tay không có cái tôi, mà đây là sắc, thọ, tưởng, hành, thức.
(Đại chúng đọc định nghĩa, ngũ uẩn số 1, số 2)
Chỉ cần nhớ định nghĩa này thôi, ngày lúc mình nhớ là lúc đó mình đã phá được một phần vô mình. Bậc đạo sư nói một người sắp sửa ra đi, mà chỉ cần đọc len định nghĩa ngũ uẩn số 1 thôi, là người này chắc chắn không có sanh vô 3 đường ác. Tại vì lúc đó mê sao mà đọc Thánh trí ngũ uẩn được, mà đọc được định nghĩa ngũ uẩn thì người đó là tỉnh, là giác. Với một cái tâm tỉnh giác, chánh kiến như vậy sẽ đưa người sanh trong cõi nhân thiên. Tuyệt vời không? Ráng học, ráng nhớ, ráng nhắc. Lúc nào mình nhớ được cái định nghĩa đó, là lúc đó mình tỉnh. Lúc nào mình quên là như bàn tay nắm lại, lúc nào nhớ là như bàn tay xòe ra.
Rồi mình học cái tâm hiền thì như bàn tay xòe ra một cách mềm mại, thấy rõ không? Mình học phá ngã, diệt ngã cho nên nó như vậy. Bây giờ mình chịu cái nào? Bao nhiêu phàn trăm? “Dạ 100%”. Chắc chưa? “Dạ chắc”. Cho nên trái bom nguyên tử làm cho rung chuyển trời đất, khi Thế Tôn diễn thuyết bài kinh “Vô Ngã Tướng” Thừa Trần Như. Chính là phá ngũ uẩn, phá kiến chấp về thân. Mà chúng ta nhớ chỉ cần phá cái thân kiến này thôi, cái hoài nghi, giới cấm thủ lập tức bị tiêu diệt và thể nhập vào dòng Thánh. Đi vào Thánh quả thứ nhất, tham dự vào dòng chảy Thánh trí tuệ. Mà chỉ có một điều đầu tiên là phá thân kiến thôi, nỗ lực lên không? Quyết chí phá thân kiến không?
Cứ yêu cái thân, thích cái thân, mê cái thân, rồi cái thân này nó hành hạ, hành xác, hành tội, hành hình mình. Bao nhiêu đời, bao nhiêu kiếp bị cái thân này nó hành. Thấy ngồi như vậy chứ nó hành ở trổng đó, nắng một chút là nó hành, mỏi chút là nó hành, nhức một chút là nó hành. Nhìn mặt thì cười vậy đó, chứ ở trong bụng là rầu thúi ruột ở trỏng đó, chứ đừng có tưởng đâu cười là ngon. Cho nên mình học cái trí tuệ này rồi, là mình thông minh lắm. Nhất trí không? Đừng có nhìn thấy mặt hoa da phấn, cười tươi, xách bóp hàng hiệu, đi xe đời mới là tưởng đâu ngon, đừng có tưởng.
“Xin đừng đem dạ tưởng mơ
Trăm năm cuộc thế như cờ bị vay
Rút gươm huệ rút dây tham ái
Kiếp tìm thầy cầu phái quy y
Kiên trì ngũ giới tam quy
Mở lòng từ nhẫn sân si phải chừa”
Là những bài kệ mình mới vô chùa là chú tiểu mình học bài “Sám Thảo Lư”. “Thảo lư” là cái am bằng cỏ, cho nên mình nhìn trật lất hết trơn, nhìn ảo tưởng đây nè. Thật ra tất cả chúng sanh có cái nhìn, cái thấy, cái nghe, cái nhận thức đều là bằng tưởng tri hết. Biết ở bên cái tưởng tượng, biết ở trên tưởng tượng, biết ở trên ảo tưởng, biết ở trên mộng tưởng, biết ở trên hư tưởng, biết ở trên huyển tưởng. Biết ở trên cái tưởng vô minh, chính vì vậy mà vái biết nó đưa đến khổ, chứ nó không có đưa đến bình an. Cho nên mình thấy không? Biết càng nhiều, học càng cao, mà có khi bản ngã càng lớn. Chứ cái biết đó dầu cho mình học hết tất cả mọi kiến thức ở trên thế giới này, thì Đức Phật vẫn gọi mình là kẻ dốt, vô minh, vô học, tức là vô văn phàm phu đó.
Nhói tim quá, nhưng mà thương lắm, thương con dữ lắm, thì cha mới nói vậy. “Con là kẻ vô học, con có học hết tất cả mọi kiến thức trên trái đất này. Thì con cũng là một thằng ngu lâu, dốt bền. Vì sao? Vì các con không học được Thánh trí của bậc Chánh giác”. Mà bây giờ chúng ta đang ngồi đây học Thánh trí, của bậc vô thượng Chánh đẳng chánh giác. Hạnh phúc không? Cho nên dù bữa nay mà có ngã ra chết tại chỗ này, thì cũng cam tâm tình nguyện. Mình tới cổng trời rồi, mình bước vô luôn. Chịu không? Đừng sợ chết, mình cứ tu đi (nhưng đừng chết nha), nhập Thánh quả xong rồi mới chết. Thành ra mình biết tác ý là mình hạnh phúc lắm, biết tác ý, khéo tác ý, thiện xảo trong việc tác ý.
III. Quay về với hơi thở – Bước đầu của tỉnh giác
Mà nó mê là nó mê nhiều lắm, không biết bao nhiều mà nói. Cái lớp nó mê mà đầu tiên Đức Phật dạy mình là dễ thật là dễ nè: “Con ơi trở về hơi thở”. Đức Phật dạy mình thấy sự trình tự siêu việt lắm, bậc vô thượng sư, bậc thiên nhân sư, bậc thế gian giải. Đầu tiên Đức Phật không có nói cái gì mà lạ, mà cao siêu, xa vời gì hết trọi. “Con về con cảm nhận hơi thở đi, con có biết mình đang thở không?” Ai ngồi đây không thở giơ tay lên? Sao lại cười? Bây giờ một ngày 24 giờ, mình nhớ được mấy giờ là mình đang thở. Hay là mình nhớ chuyện người này, người nọ, người kia. Mình nhớ đúng sai, hơn thua, khen chê, thương ghét, hay dở, tốt xấu của người này, người nó.
Mình nhớ chuyện thị phi, nhân ngã, bỉ thử, cao thấp, ghanh tỵ, đố kỵ, ích kỷ, hẹp hòi. Mà phải chi là người dung không nói, còn đây là người trong gia đình, cứ ngồi lại là nói chuyện xấu của nhau không. Sao mình đang thương, dại khờ quá vậy, sao mình lại làm cho mình và những người yêu thương khổ. Cho nên đầu tiên, bước tỉnh đơn giản nhất là con quay về hơi thở. Thì trong khóa này chúng ta sẽ được học thực tập 16 hơi thở, gieo duyên cho chúng ta. Để chúng ta cảm nhận được hơi thở nó quan trọng, thường xuyên và thiết yếu như thế nào. Ở trong kinh thì gọi là mạng căn, tức là căn bản của sanh mạng là hơi thở, tức là gốc rễ của sự sống. Mình nhịn ăn mấy bữa, nhịn uống vài ngày không sao, nhưng mà mình ngưng thở là mình chết ngay lặp tức.
Nhưng có điều là mình không nhớ, chính vì mình không nhớ ơi thở, cho nên mình đâu có biết rằng mạng sống này nó mong manh. Mình không cảm nhận hơi thở, cho nên mình không thấy được kiếp sống này vô thường. Mình không cảm giác được hơi thở, cho nên mình nghĩ rằng mình rất là to, cao, lớn. Mình không có thấu suốt được hơi thở, cho nên mình nghĩ rằng mình là cứng chắn, vững trú, to cao, bệ vệ, đứng vững 10, 20, 30, 40, 50, 60 năm. “Tui năm nay 70 tuổi rồi đó nha, tui đứng vững 70 năm, 80 năm rồi”. Nhưng không ngờ, chỉ cần hơi này nó khì ra 1 cái mà hít vào không được là sụp đổ. Là thân này không bao lâu sẽ vùi sâu đáy mộ, như cây khô khúc gỗ vứt bỏ vì vô tri.
Chỉ cần chúng ta quay về hơi thở thôi, là chúng ta đã có 1 sự Chánh niệm. Mà nhất là hơi thở này được Chánh kiến soi rọi, chứ không chỉ có hơi thở không. Được Chánh kiến của sự nhận diện ngũ uẩn đó, chỉ quay trở lại hơi thở thôi là cả một cái đem cái tâm lậu hoặc lang thang, cô hồn, vất vưởng, vô gia cư đó, nó trở về cái thân này. Cái tâm “nhất niệm thập phương du lịch”, một niệm mà đi chơi 10 phương. Có không mà ngồi cười giữ vậy? Cái tâm này có nhất niệm thập phương du lịch không? Cái thân nó ngồi đó đó, nhưng mà cái tâm nó đi chơi. Thì cái tâm đó gọi là tâm lậu hoặc, lang thang, cái tâm vất vưởng, buông lung, thả lỏng, phóng dật, đây là những từ trong kinh Nikāya luôn đó.
Thì bây giờ làm sao đem nó về đây? Hít vô, thở ra, cảm nhận hơi thở. Ngay lúc đó là đem cái tâm xa xôi ngàn dặm đó, trở về trong một hơi thở thôi. Phép màu không? Đó là phép lạ, phép màu, Chánh niệm, tĩnh giác, trí tuệ đó. Mà chỉ có một hơi thở này thôi, Đức Phật gọi đây là trú xứ của Như Lai, là trú xứ của các bậc thánh hiền. Tức là hơi thở trú, trú ở trong hơi thở, là căn nhà của các bậc hiền, là nơi ở của các bậc Thánh, là chỗ cư trú của Như Lai. Tức là trú xuất tức nhập tức niệm, “nhập tức xuất tức niệm” là thở vào thở ra đó. Cảm nhận hơi thở ngay tại chỗ đi, cảm nhận hơi thở. Thì như vậy là mình đem cái tâm lang thang trở về cái thân này trong 1 vài hơi thở.
Mà khi mình đem trở về hơi thở, đem cái tâm trở về cái thân, thâm đâu tâm đó, định cái tâm trên thân bằng cảm giác toàn thân. Sau khi mình cảm nhận hơi thở, cảm nhận cơ thể, cảm nhận cảm giác toàn thân. Chúng ta nhớ 3 câu này lúc nào con lên cũng đọc hết đúng không ạ? Thì như vậy đem cái tâm lậu hoặc, lang thang đó trở về cái thân bằng 1 hơi thở, sau đó chúng ta cảm nhận cảm giác toàn bộ cơ thể. Là chúng at kết hợp cảm giác toàn thân. Thì ngay lúc đó là đem cái tâm trở về thân, là định tâm ở trên thân. Là lặp tức mình có một sự vững trú, vững chải, vững chắc, một cái sự rất là ổn thỏa, khi mà mình định tâm ở trên thân. Cái này không phải đợi tới túc vô tập thiền mình mới định, mà bất cứ ở đâu và khi nào.
Đang nói chuyện, vẫn an trú cảm giác toàn thân. Đang làm việc, vẫn an trú cảm giác toàn thân. Đừng nói chi mà lúc mình đang thiền tập, và nghe pháp. Như vậy thfi riêng phần hơi thở này thôi, thì thật ra cần nhiều thời gian lắm, nhìn nhận và quán nhiều lắm. Nhưng mà ở đây là tổng quát thôi, chúng ta thấy lợi lạc biết bao nhiêu rồi. Mười sáu hơi thở mà Đức Thế Tôn kết hợp với Tứ niệm xứ, Thất giác chi, và hướng đến viễn ly tham, hướng đến giải thoát, hướng đến từ bỏ, ở trong bài kinh “Xuất Tức Nhập Tức Niệm”. Thì mỗi một hơi thở chúng ta quay trở về thân, chúng ta nhận diện cảm thọ. Chúng ta coi lại trong tâm chúng ta có hình bóng, suy nghĩ gì, các cái thức của mình như thế nào.
Và sự vận hành bên trong tâm thức đó, là chúng ta trong hơi thở đó chúng ta thực tập Tứ niệm xứ. Khi chúng ta làm quen rồi nó sẽ nhuần nhuyễn, điêu luyện, thuần thục lắm. Chúng ta làm từ từ nó sẽ quen, hít thở có hơi thở là bắt đầu mình coi lại liền. Rồi bây giờ mình bắt đầu kết hợp, đầu tiên chúng ta sẽ kết hợp hơi thở này qua bên tứ đại. Hơi thở nó thuộc gì trong 4 đại? “Dạ thuộc về gió”. Như vậy thì chúng ta quán chiếu về hơi thở, chúng ta có thể phá được thân kiến, cho nên chỗ này vi diệu lắm. Mỗi một cái pháp Đức Phật đưa ra, thì đều có khả năng để giúp mình nhập lưu hết, chứ không phải là phải hết tất cả các pháp. Nhưng mà mình học thì mình học hết, mình xem mình có duyên với cái nào, mình phá lần lần.
Nhưng mà mỗi 1 pháp, mỗi 1 hơi thở đó thôi là đủ sức chứng Thánh quả A-la-hán, nếu mình sử dụng Chánh tri kiến phá thân kiến. Thành ra nó khủng khiếp như vậy đó, chứ không phải bình thường. Thành ra có những vị thời Đức Phật là tu pháp hơi thở thôi, nhưng mà vẫn đoạn tận các lậu hoặc. Nhưng mình phải kết hợp với Chánh tri kiến, phải nhận diện được ngũ uẩn, thấy được vô thường, khổ, vô ngã ở trong hơi thở. Như vậy, bây giờ thấy được vô thường, khổ, vô ngã ở trong hơi thở như thế nào? Thì hơi thở vào ra mình phân tích, phân loại nó thuộc về phong đại. Cho nên mình phải nhớ sự tu Nikāya này tới 80, 90 phần trăm là thiền quán.
Là một cái tâm bình tĩnh, an tịnh, lắng dịu. Một cái trí mà được Chánh kiến của Đức Phật hướng dẫn, soi rọi, quán chiếu, xét nét, suy tư, như lý tác ý và triển khai thiền quán. Thì nó phá từng phần từng phần cái vô minh, chấp thủ, tham ái bên trong. Nó phải có sự dày công tích lũy, công phu rất là thâm hậu. Giống như một người là làm nghề gì cũng ít nhất một chục năm, 20 chục năm, 30 năm thì mới giỏi với cái nghề đó. Thì cũng vậy, sự tu này phải kiên trì, bền trí dài lâu, trường viễn, thâm sâu. Thì bây giờ mình kết hợp như thế nào? Cái hơi thở vô ra này thuộc về phong đại. Thì không có một người đang đi, mình đang bước nhưng mình tách cái ý nghĩ: “Tôi đang đi”, mình bỏ cái chữ “tôi” ra. Mà cái cục thịt này là cái gì đại? “Địa đại”. Trong này có hơi ấm là cái gì? “Hỏa đại. Cái ướt ở trong cơ thể là thủy đại, rồi sự vận hành thi vi đó là...39’12 ...thì như vậy làm gì có cái mình đang đi.
Cho nên chúng ta thấy cái tu này rất là kỹ, rất là chi li nhỏ nhiệm, như vậy mới Thánh trí tuệ chớ. “Này các Tỳ-kheo, Ta chưa thấy có một loại trí tuệ nào nó vi tế, thâm sâu như là trí tuệ về sắc. Ta chưa thấy trí tuệ nào nó thâm sâu, thù thắng, tối thượng, như là trí tuệ về thọ, tưởng, hành, thức. Này các Tỳ-kheo, sở dĩ Ta ở giữa ma phạm, Sa-môn, Bà-la-môn, giữa loài người và tất cả loài trời mà tuyên bố. Ta thành tựu sự chứng ngộ tột cùng, tối thượng tất cả mọi khía cạnh, phương diện, góc độ của thân tâm, thế giới này. Là vì Ta thành tựu được viên mãn Thánh trí ngũ uẩn. Nếu như Ta chưa Thành tựu viên mãn Thánh trí sắc, thọ, tưởng, hành, thức.
Ta không có tuyên bố Ta là bậc vô thương Chánh đẳng chánh giác, Ta là bậc trí tuệ tối thượng của tất cả chư thiên và loài người trong tam giới này. Do vì Ta thành tựu Thánh trí về ngũ uẩn, cho nên ta mới tuyên bố Ta là bậc tối thượng giữ chư thiên và loài người. Ta chứng ngộ một cái trí tối cao, vô thượng, không ai có thể ngang bằng, không ai có thể so sánh, không ai có thể ngang hàng được”. Chúng ta thấy Đức Phật dõng dạt tuyên bố, mà các nhà vua bất ngờ đi lại: “Con thấy các vị giáo trưởng, các vị sư trưởng, các vị tổ của các Tông phái chưa dám tuyên bô. Mà sao Ngài còn trẻ, Ngài mới hơn 30 tuổi, mà sao dám tuyên bố”.
Đức Phật tâu với nhà vua: “Đừng xem thường em bé, thái tử còn trẻ đó, đừng xem thường đóm lửa nhỏ, con rắn nhỏ, đừng xem thường chú Sa-di nhỏ nhỏ đó”. Thành ra trí tuệ không nói tuổi tác được, như vậy trở lại vấn đề là chúng ta thấy tinh hoa Phật trí này nó siêu khủng lắm. Bộ “Tinh Hoa Nikāya” ngày xưa bậc đạo sư tính cái tựa là “Tinh Hoa Phật Trí”, sau đổi thành “Tinh Hoa Nikāya, con góp ý. Khi mình quay trở về quán tứ đại từ hơi thở, mình mới kết hợp qua bên tứ đại. Thì mình bóc tách ra, mình gỡ ra, mình mở ra, mình tháo ra, mình làm cho nó rời rạc ra. Nó sẽ không còn một nguyên khối tưởng nữa.
IV. Tâm mê
Cái tâm vô minh, cái tâm tham ái, cái tâm chấp thủ của chúng sanh là nguyên khối tưởng. Chúng ta biết gỗ nguyên khối không? Nói vậy dễ hiểu phải không.
Thì nguyên 1 cục to lớn, cứng chắc, thành đồng dác sắt như vậy đó. Chặt không đứt, bứt không rơi, phơi không khô, đốt không cháy, nó khủng khiếp như vậy đó. Cái khối vô minh chấp thủ nó khủng khiếp, một khối vô minh uẩn to lớn. “Này các Tỳ-kheo, từ vô thỷ đến nay chưa từng bị xuyên thủng, chưa từng bị phá vỡ. Ngày hôm nay với Thánh tri kiến này, với sự thấy biết của bậc Thánh này, có thể xuyên khủng khối vô minh to lớn này. Và phá banh chành, tan tành cái khối vô minh uẩn hết”. Chịu không? Thánh trí bom nguyên tử mới phá được. Như vậy thì Thế Tôn mới bóc tách, mở ra, nại ra (hôm trước là sư bà dùng chữ khựi), con nói thêm chữ nại luôn. Mình khựi thì còn thấy nhẹ nhẹ, cái nào cứng cứng thì mình phải lấy xà ben nại ra.
Có khi mình nại mà nó cứng quá nó đập vô cái đầu mình xuống đất luôn, thì mình cũng chịu nữa. Mà cái đầu mình có đổ máu thì cũng tới bến luôn, phải nại ra. Cứng chắc lắm, tường đồng dác sắt mà, từ vô thỷ kiếp tới này mình huân tập. Mình đa cho sắc là mình, thọ là mình, tưởng là mình, hành là mình, thức là mình. Mình đã cho cái thân này là mình, những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ này là mình, là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi. Mình cho những cái thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc, biết, nhận thức này là tôi, mà nó cứng chắc như vậy. Mà người nào bệnh mà cái tay nắm hoài không mở ra, thì người đó kêu bằng bệnh gì ạ? Cái tay mà mình muốn cầm thì mình nắm, không thì mình buông là bình thường, còn cái tay cứ nắm hoài là dị tật.
Cái tâm của chúng sanh là cái tâm dị tật đối với Đức Phật và các bậc Thánh, là một cái tâm dị tật, bất bình thường. Thành ra ngồi đây bất bình thường nhiều lắm, có không mà cười đúng ý vậy? Có không? “Dạ có”. Một hồi nói thương một hồi nói ghét à, phải không? Mới thương rồi giận, mới chê rồi khen, làm đủ thử kiểu, đủ thứ trò hết. Bây giờ mình trở lại đây, bởi vì khóa tu của chúng ta không có thời gian, thành ra chúng ta học những cái này với sự giới thiệu phổ quát, tổng quát thôi. Chứ không có học sâu được môn nào hết trơn. Sau đó quý vị từ từ về nhà, rồi lên dự thêm 10 khóa nữa. Bây giờ từ hơi thở mà mình đi thẳng, mình quán chiếu tứ đại. Thì mình mới bóc tách ra được cái này là gió, mà nhiều khi mới mở mở cái bàn tay ra gặp gió là cứng đờ, đứng im luôn.
Có thầy là huynh đệ với con đang ở trên lầu, trên phòng đó. Bữa đó sao mà con đang ngồi tiếp khách ở dưới, thì thầy điện thoại. Con nghe thì nghe thấy nói “ớ ớ”, con thấy sao lạ vậy ta, mà bằng tuổi với con thôi. Con dừng tiếp khách, con chạy lên con coi liền. Thì con kịp thời kêu bác sĩ liền, còn không thôi là giờ này thầy cũng xong đời rồi. Thầy thì bị bệnh tiểu đường, rồi nó qua tai biến nhẹ, mà nó tuột xuống 25kg. Mà bác sĩ nói lúc đó là trễ chừng 30 phút là không cứu được, nó đớ, nó đơ ra, cái miệng méo qua một bên, nói chuyện âm thanh bị đổi giọng. Thì như vậy chúng ta mới thấy nhiều lắm, chỉ cần cái phong đại mà nó dừng một cái thôi, là bán thân bất toại, hoặc như đời sống thực vật.
Hoặc là trên cơ thể mình nhiều khi nó méo miệng, mắt mình cũng đổi, đủ thứ kiểu trên cơ thể mình. Là những cái phong đại ở bên trong cái duyên nó phát khởi vận hành không đủ, nó bị trục trặc chỗ nào đó, như vậy là rồi xong. Vậy thì cái nào là mình, cái nào là của mình, ai đang đi, ai đang nói, ai đang làm. Mà mình làm mình nhận: “Tôi đang làm đó, tôi đang làm công chuyện mà chứ kêu kêu tôi hoài”. Sân si lên, bản ngã, sân hận rõ ràng hết trơn, không thấy pháp gì hết. Một cái tôi to lớn: “Công chuyện quá xá quà xa”, rồi so sánh người này với người kia: “Tôi làm nhiều, người kia không làm. Sao không kêu người kia mà cứ kêu tôi hoài vậy”. Như vậy là vận hành trong cái tâm vô minh, bản ngã, không có thực hành pháp.
V. An trú chánh niệm – Quán thân, phá ngã chấp
Nếu mà làm như vậy là cũng có phước, nhưng mà phước hữu lậu, hữu vi. Với một cái tâm hơn thua, sân hận, bản ngã để làm việc. Thì làm rồi sẽ so sánh làm ít làm nhiều, hay dở, cao thấp, đúng sai, người này người nọ, nhân ngã bỉ thử. Tại vì không thấy pháp, nếu như làm mà mình an trú cái tâm: “Đây là đất nó làm, gió nó đang làm, lửa này lạnh ngắt nằm đây rồi ai làm, làm cái gì, người nào”. Nếu mình an trú như vậy, mình quán tứ đại, thì chỉ cần hơi thở thôi mình đưa nó trở về. Thì lặp tức mình trở về Thánh tri kiến, Chánh kiến được thành lập. Trong mỗi hơi thở, trong mỗi bước chân, trong mỗi lời nói, trong mỗi hành động, nhất cử nhất động thi vi của mình.
Mình qua niệm phần oai nghi hành động, thì đều là phong đại vận hành hết. Mình vừa bước đi, mình an trú, mình thấy: “À gió, đất, nước, lửa đang vận hành. Trong này không có cái nào là tôi, không có cái nào là của tôi, không có cái nào là tự ngã của tôi”. Như vậy cái đi, cái làm, cái thở, cái thi vi của mình đang an trú trong Chánh kiến. Chúng ta thấy cái sự tu tập của mình nó nhỏ nhiệm, vi tế như vậy. Mình cứ an trú, cứ nhắc, cứ tác ý như vậy, mình có nhắc thì phải nhắc cái tâm mới được, không nhắc thì cái trí huệ nó đâu có sanh. Tất cả các pháp đều lấy tác ý làm sanh khởi, lấy niệm làm tăng thượng mà. Bây giờ mình không tác ý, thì cái trí tuệ nó đã không sanh.
Mà mình không có nhớ nghĩ, thì trí tuệ nó không có lớn lên, không có tăng thượng được. Mà nó không tập trung tâm ý vào cái đó, thì như vậy nó sẽ không có được một sự vững trú ở trong tâm, không an trú được định tướng đó, cái tri kiến đó nó qua mất tiêu. Cho nên mình học xong rồi là trí tuệ bắp vế, như để viết, để tập, để bánh kẹo trên bắp vế, học xong rồi đứng vậy là nó lọt xuống hết. Đức Phật kêu bằng trí tuệ bắp vế, đứng lên rồi là xong. Ra khỏi giảng đường, ra khỏi thiền đường rồi là trả Phật, trả thầy rồi xong: “Tôi bệnh nào cũng tật nấy thôi”. Cho nên mình an trú pháp, mà khi trở ra rồi mình vẫn an trú pháp. Bữa đó mình học cái gì thì mình duy trì càng lâu càng tốt, duy trì cho đến lúc nào mà có thể duy trì được thì cố gắng duy trì.
Thì cái pháp đó nó hằn sâu, nó còn lại, nó tồn động lại trong tâm. Như vậy sự tinh tấn của mình trong 4 cái tinh tấn, cái cuối cùng đó là chế đoạn tu trì, chế ngự 6 căn, đoạn trừ tham sân si, tu tập tứ niệm xứ và giữ gìn các thiện pháp. Phải giữ được những cái pháp mà mình đã học, đã tu, đừng để cho nó mất. Thí dụ sáng nay mình học trải từ vô lượng tâm đó, nếu mình trải xong rồi mình trở về nhà mất tiêu, mình bỏ luôn là thôi rồi rồi. Mình về là mình phải nhớ, mình mở bài đó lên mình nghe, mở bài đó lên mình thiền, rồi mình viết những cảm thọ của mình. Rồi mình cứ nhớ, cứ tác ý thường, nuôi dưỡng ngày một chút. Thì từ từ những cái pháp đó nó sanh khởi, tăng trưởng, lớn mạnh, trú vững trong cái pháp đó.
Đức Phật nói: “Một cái pháp nào tu tập cho nó vững trú, tu tập cho nó cỗ xe, tu tập thành căn cứ địa, tu tập thành thành quách. Cho cái pháp đó nó chứng nhập, chứng đắc cái pháp đó luôn không có mất”. Ít nhất phải 70, 80 %, rồi lần lần tăng lên thêm, cho tới mức độ đó là mình ổn rồi, rồi lần lần cứ từ từ tăng lên thêm. Thì như vậy thì làm sao để chúng ta thấy được trong một hơi thở, mình kết hợp để mình phá luôn cái chấp ngã ở trong cái tứ đại. Thí dụ mình bây giờ đáng ngồi ở đây nó tê chân, hay nó mỏi chân, mỏi lưng hay đồ mồ hôi ở trong nó khó chịu. Thì bây giờ qua 2 cảm thọ, cảm thọ thân và cảm thọ tâm nó khác nhau. Cái thân nó khó chịu, nó đưa qua cái tâm bực bội luôn, cái tâm không có trú pháp được.
Thí dụ mình ngồi mà mồ hôi đổ, hay là bữa đó nó tê cái gì đó, rồi bị cái tê, bị cái mệt đó rồi mình hết trú pháp được luôn. Là từ cái thọ thân, mà nó xâm chiếm qua cái thọ thân, thọ thân khác, thọ tâm khác. Bây giờ mình làm thế nào để mình thấy rõ được trong sự quán chiếu này, mình biết mình tác ý. Mình ngồi đây đang ngồi thiền: “Cái đống đất này, đống thịt mủ máu, đống tro tương lai này. Không có gì là tôi, không có gì là của tôi, không có ai ngồi đây hết. Đây chỉ là đất, nước, gió, lửa”. Mà phải mạnh, tác ý một cách xát quyết cơ, chứ không thôi nói mà cứ cười cười chứ: “Tôi rõ ràng ngồi đây mà sao nói tôi cục đất trời”. Thì cái tâm đó là cái tâm chống đối với Thánh trí, mà cái tâm như vậy không thể nhập pháp được.
Đó là cái chỗ khó, là cái chỗ con chỉ cần nói 2 chữ thôi là “nghe lời” là nhập lưu. Chịu nghe lời không? Thế Tôn nói: “Này các đệ tử, các Tỳ-kheo, các ông hãy tin ta, ta đã chứng ngộ rồi, các ông hãy làm theo đi rồi các ông sẽ được chứng ngộ như ta”. Mà giờ không chịu tin rồi làm sao, rõ ràng nói là cái này vô ngã, không có tôi gì hết trơn nha. Ở dưới: “Con ngồi đây vậy là ai thầy?” Cái tâm nó chống như vậy đó, thì làm sao nhập lưu được, nó nghịch lưu chứ không chịu nhập lưu mà. Phá cái ý niệm, ý hành, ý nghĩ, khẩu hành đó, diệt tận nó, phải diệt cho được cái đó. Một khi mà nó nghe rồi, là nó đi theo liền, mình thấy rõ ràng đây là một đống thịt. Mình thấy rõ ràng đây là sự thật mà, là cái tâm mê nó chống đối.
Cho nên mình nhìn đây ha, cái gì mà mình được học trong Thánh trí này là bàn tay hướng lên, còn cái mà mình chưa được học từ hồi đó tới bây giờ là cái bàn tay hướng xuống. Mình thấy rõ con diễn tả không ạ, cần đưa cao lên nữa không. Một cái tâm mê, tâm chấp ngã, tâm tham sân si của mình là nó hướng hạ, còn cái Thánh trí nó hướng thượng. Cho nên “phương thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn”, một cái nó đi lên, một cái nó đi xuống. Cái tâm mê thì nó đi xuống, nó đi kiếm gọi là thiên đường có lối không người đến, địa ngục không cửa mà cứ chui vào. “Thiên đường hữu lậu vô nhân đáo, địa ngục vô môn hữu khách tầm”. Là cái chỗ Thánh trí là Đức Phật kêu như vậy đó, cứ giơ tay ra mà nói: “Không, con mất chơi mấy cái này, mấy cái này vui”, phải không?
Rồi chìm đắm trong biển khổ, rồi khóc, rồi chạy ra la: “Trời ơi con khổ quá khổ, Đức Phật cứu con”. Mà bây giờ giơ tay ra lại không nắm, nắm mấy cái cục, cái cái tờ gì đó. Nói cái là hiểu liền à, thông minh ghe ha, mới nói cái hiểu liền. Thì như vậy mình phải hiểu được Thánh trí ở trên hướng thượng, và một tâm mê hướng hạ. Bây giờ mình đem Thánh trí này, mình kéo cái tâm mê lên. Hằng ngày, hằng giờ, hằng phút, hằng giây, mỗi cái suy nghĩ, hình bóng, cảm thọ, thì mình đều dùng cái tâm hướng thượng này níu cái tâm hướng hạ này, kéo nó lên. Rồi ngày mai, ngày mốt mình sẽ được học bài thiền quán, rồi nói tâm nghe, rồi mình tập nói chuyện với tâm của mình, là cái cách như lý tác ý.
Mình nói hoài, mình rảnh là nói chuyện với tâm thôi: “Tâm ơi tâm mình mê đủ rồi tâm, mình khổ đủ rồi tâm, giận hoài chi vậy”. Giận con, giận chồng, giận cháu rồi riết không ai lại hết trơn. Rồi bệnh nó bỏ cho nằm luôn, rồi còn giận, còn tức hơn nữa. Nó lại thì la, mà không lại thì cũng giận, bởi vậy không biết làm sao. Bởi vậy nói: “Tâm ơi tâm đừng có giận nữa, đừng có đúng sai, hơn thua gì hết trơn. Xả bỏ hết đi tâm, mình khổ đủ rồi tâm, mình nắm như vầy nó mệt mỏi, mình vác như vầy mệt mỏi”. Mình gánh cả một gánh nặng của sắc, thọ, tưởng, hành, thức, rồi gánh nặng của sanh, già, bệnh, chết. Rồi gáng nặng của tham, sân, si, dục, ái, vô minh, bản ngã. Bao nhiều gánh nặng tranh giành, giành giật, đấu đá, hơn thua đủ thứ hết trơn.
“Trên cuộc đời này bao nhiêu gáng nặng, thôi bỏ đi, buông đi. Tâm buông xả là tâm hạnh phúc nhất đó nghe tâm. Khi lúc nào rãnh thì kêu hoài như vậy, cứ niệm cái tâm xả hoài như vậy đó. Bây giờ mình nhớ mình giận làm chi vậy, khôn quá ha, nhớ đặng giận đặng cho khổ vậy đó. Xong rồi nhớ cho thương cho có ray rứt, đau đớn vậy đó, chi vậy? Đức Phật gọi đó là Chánh niệm tĩnh giác, trú xả. Không phải chỉ xả đối với đối tượng bình thường, mà xả với đối tượng thương hoặc là ghét. Mình xả 2 cái đó là cho mình khổ, mà cái bình thường cũng xả luôn. Trú xả, Chánh niệm tĩnh giác. Trú xả như vậy, mình thường thường vận dụng, mình dùng tất cả những phương pháp tác chiến, chiến lược, chiến thuật, mình dùng đủ thứ kiểu hết trơn.
Bị vì mình đi đánh trận mà, có đánh trận không? Ngồi im ru hết trơn vậy? Có biết đánh trận không? Có vũ khí chưa? Ba mươi bảy con không có kêu là phẩm trợ đạo, mà con kêu là 37 Chánh giác trần. Ba mươi bảy phần đó, là 37 phần Chánh giác của Đức Phật. Không có kêu là trợ đạo, 37 phần đó là 37 Chánh giác phần. Là phải vận dụng nó một cách thiện xảo, đa năng, đa dụng. Một cách khéo léo, linh hoạt, và hết sức nghệ thuật và tinh vi. Sử dụng nó một cách tối đa, vận dụng hết tất cả những pháp mà mình được học. Mình vận dụng nó một cách khéo léo, để mình đánh phá một cái tâm vô minh, tham ái, chấp thủ, hôn mê, sân si. Đánh dập dập suốt ngày suốt đêm, bất cứ lúc nào.
Từng một cái suy nghĩ là mình đánh phá nó liền: “Dám chống lại hả, chẻ cái đầu mày ra. Mày chấp hoài phải không? Mày hổn hả? Chẻ cái đầu mày ra”. Dập nó, đánh hoài, mở mắt ra đánh trận, nhiều khi ngủ nằm chiêm bao cũng đánh trận luôn. Gật đầu liền phải không? Có đánh trận trong giấc chiêm bao không? Cái tâm tỉnh giác là trong giâc ngủ mình vẫn đánh phá các tham, sân, si, bản ngã, dục ái, lậu hoặc. Như vậy là mình quán chiếu để mình phá chấp ngã trong tứ đại này, phá cái bản ngã trong cái tứ đại. Mình quán hoài, quán nhiều lên, càng nhiều càng tốt. Mình thích đề mục về đất thì mình quán đất, còn mình về gió thì quán gió, thích về nước thì quán nước, mình thích đề mục về lửa thì mình cứ quán lửa.
Mình cứ quán hoài như vâỵ, mình cứ nhắc hoài, nhắc hoài như vậy. Mình nhìn thấy nước tiểu, mình nhìn thấy máu, mình thấy nước miếng, mồ hôi, nước mắt. Rồi mình thấy những gì ở trong cơ thể mình, những cái chất dịch, những gì tiết ra dơ dáy bẩn thỉu, mình quán hoài: “Mình tìm đâu cái ta, mình tìm đâu cái tôi trong cái bất tịnh, dơ tanh này”. Mà mỗi lần thấy vậy là mình cứ nhắc hoài, mình tác ý hoài. Mà nếu mình tác ý, mình nhắc hoài, mình quán hoài, mình nhớ hoài như vậy thì cái trí tuệ nó được thành lập. Nó hiện hữu, có mặt, tồn tại, vững trú trong tâm mình. Rồi khi nó xuất hiện là mình biết: “Tao biết mày nha mạy, thằng này tên Tèo nè, chuyên môn ăn cắp phải không?” Mình nhìn nó 1 cái là nó chạy mất dép, nó sợ quá chạy.
Có biết mấy thằng ăn trộm không? Mấy thằng? Năm thằng ăn trộm. Có gặp thằng nào chưa? Gặp thằng tưởng nhiều hả, nó ăn trộm suốt ngày mà. Nhiều khi ngồi đây chứ nó ăn trộm thời gian đó, đang ngồi thiền cái nhớ nhà, nhớ con, nhớ này nhớ kia cái không có an trú trong pháp, lúc đó là ăn trộm đó. Trộm mất thời gian tu của chính mình, nó dụ mình giữ lắm. Như vậy thì mỗi một cái pháp mình được học, mà mình nhớ, mình nghĩ, mình niệm, mình tác ý, mình quán cái pháp đó. Thì chỗ đó mình thành lập được 1 cái trí tuệ trong tâm, mình có thêm 1 vũ khí để đánh giặt. Nhớ kỹ cái này nha, đó mới gọi là 37 Chánh giác phần đó. Như vậy mình nãy giờ chỉ kết hợp hơi thở với tứ đại thôi đó, còn biết bao nhiêu pháp để mà mình học nữa.
Mình tập khi nói, mình thấy gió nó đang vận hành, mình không thấy ai, không thấy cái ta nào đang nói hết. Tách chữ ta ra khỏi, không có gì là ta, không có gì là của ta, không có gì là tự ngã của ta. Tách cái chữ đó ra, gỡ cái chữ đó ra, xóa cái chữ đó trong tâm. Gạch khỏi trong cái suy nghĩ, trong cảm giác, trong hình bóng, gạch bỏ, xóa nhòa nó từ từ.
VI. Tinh tấn thực hành – Dùng pháp làm vũ khí đoạn trừ phiền não
Rồi khi mình nhớ về mình, mình cúi cái đầu, chấp cái tay xuống xong rồi mình quỳ cho nó nằm dài xuống, rồi cuối cùng nó hiện ra bộ xương. Cuối cùng mà hễ nói về mình cái nó hiện ra đống tro, bộ xương, nùi giẻ. Như vậy đó là mình dùng cái tưởng, để diệt cái tưởng. Đức Phật dạy mình hay lắm, đủ thứ kiểu hết.
Ôm bình bát đi xin: “Nè, tao cho mày bản ngã nghe không, tao cho mày ăn mày đây nè, ở đó mày cao ngạo. Cho mày đi ăn xin, cho mày hết cao ngạo”. Tự nhiên lúc đó gục đầu xuống: “Xấu hổ quá, đi ăn xin mà có gì đâu cao ngạo, cúi cái mặt xuống dùm cái đi”. Người ta lại người ta lạy, mình cúi đầu xuống xấu hổ, mình coi lại coi tu giới đức, thiền định, trí tuệ coi được cao nhiêu, có dám hất cái mặt lên không. Cúi xuống, người ta lạy pháp chứ không có ai ở đây hết trơn, đây chỉ là một đống dục ái, vô minh, tham sân si, bản ngã, không có ai ở đây hết. Người ta lạy đó là lạy pháp, lạy tứ thánh đế, lạy bát Chánh đạo, lạy pháp thân của Phật. Chứ không phải là lạy cái thây thúi này, mình tác ý như vậy đó.
Thì lúc đó mình không có thọ cái lạy đó, cái ngã mình không có tăng, mà nó càng mòn xuống. Rồi nó càng tăng lên cái tàm quý, tăng thượng giới, định, tuệ, tăng thượng Thánh trí tuệ, đó là cách quán khi người ta lạy. Chúng ta thấy không, cho nên chúng ta học nhiều lắm, vận dụng nhiều khía cạnh, phương diện, góc độ, đánh phá vô tất cả các mặt của vô minh, tham ái, chấp thủ. Chứ đâu có chuyện mà vô niệm 1 câu, hay ngồi thở vô thở ra là xong đâu. Không có đơn giản như vậy đâu, đừng có mơ em ơi, nằm mơ giữa ban ngày. Tưởng đâu niệm 1 câu là xong, đừng có mơ. Tu muốn chết đây nè, mà còn chưa chắc chiến đấu với 5 cái thằng ác độc nó giết người này.
Mình chưa có học bài kinh “Rắn Độc”, 4 con rắn độc, rồi xong tới 5 tên giặt, rồi xong kẻ sát nhân nó truy đuổi với mình như bóng với hình, nó giết mình tối ngày. Tứ đại, ngũ uẩn, lục căn, lục trần, lục thức nó dập mình 18 giới nó bủa vây, nó phong tỏa mình. Phong tỏa mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Bao nhiêu những thứ bên trong, tham, sân, si, dục, ái, vô minh, bản ngã nó trùng trùng ma trận. Nếu mà tu dễ quá thì ai cũng đắc đạo hết trơn rồi, thành Thánh quả quá trời rồi. Ngày đêm nhìn ngó, quán chiếu, đánh phá, tư duy, thiền quán, không có lúc nào là không nhớ pháp hết.
Người mà chân tu thật học là lúc nào cũng tu niệm về pháp, tư duy về pháp, quán chiếu về pháp. Ưa thích pháp, quán chiếu pháp, hạnh phúc pháp, nhớ nghĩ pháp, an trú pháp, tu tập pháp, ăn uống, thở, nằm, ngủ, sống chết với pháp luôn - nhập Thánh quả. Bây giờ nó khổ chưa? Thân này bây giờ mình quán sắc, tứ đại. Ở trong cái tứ đại này nó đủ thứ hết, vô thường, khổ, vô ngã trong này. “Thôi mình tội nghiệp nó, cho nó đứng lên chút xíu đi, tội nghiệp nó cho nó tu. Tội nghiệp nó lắm, nó bằng đất chứ tội nghiệp lắm”. Chúng ta trở chân đứng lên, rồi đảnh lễ 4 dự lưu phần.
VII. Trí tuệ vô thượng của Thế Tôn
(Đại chúng đảnh lễ 4 dự lưu phần)
Cho nên trong kinh thường tán thán Thế Tôn là bậc minh kiến, thấy rõ. Một bậc pháp chủ, bậc pháp nhãn, bậc pháp bổn, bậc pháp vương. Vì Ngài thấy hết ngóc ngách, căn nguyên, nguồn cội sanh diệt của thân tâm, thế giới. Chẳng hạn như về thân này thôi, Đức Phật đưa ra 7 trí tuệ cho chúng ta thấy. Về phần sắc, tại sao chúng ta có cái thân này? Thân này do cha mẹ sanh, do cơm cháo chất chứa nuôi dưỡng, vô thường, tan nát, hủy hoại, hoại diệt. Thức ăn tập khởi, cho nên thân này, sắc này tập khởi. Thức ăn đoạn diệt, cho nên thân này, sắc này cũng đoạn diệt. Thì Đức Phật trình bài cho mình thấy được tại sao mà nó có sanh ra được cái thân này, và làm sao cái thân này chấm dứt và làm thế nào thoát ra khỏi cái thân này.
Đức Phật trình bày hết cho mình luôn, 7 trí tuệ: Sắc sanh, sắc diệt, sắc diệt đạo, vị ngọt, sự nguy hại, sự xuất ly. Tại sao có mặt cái thân này? Đức Phật trình bày. Vì sao cái thân này chấm dứt? Đức Phật trình bày cho mình biết. Thân mình được cấu tạo như thế nào? Đức Phật trình bày cho mình biết. Vị ngọt của nó là cái gì? Rồi sự nguy hiểm và tác hại chúng ta được học mà, thiền quán đó chúng ta nhớ không? Nguy hiểm và tác hại của cái thân này. Rồi làm thế nào để thoát ra khỏi cái thân này, xuất ly của sắc? Gọi là Chánh đẳng chánh giác là như vậy đó. Mỗi một cái pháp như vậy trong ngũ uẩn, được Đức Phật chỉ ra cách, cái nguồn gốc, căn nguyên, gốc rễ, bản chất thực sự của nó là cái gì.
Đó là do tứ đại tác thành, do cha mẹ sanh, do cơm cháo nuôi dưỡng, thức ăn tập khởi cho nên cái thân này tập khởi. Có thức ăn cho nên nó sống, không có thức ăn thì nó chết. Tại sao thân này sanh ra? Vì vô minh, tham ái, vì nghiệp mà nó hiện hữu. Vị ngọt của nó là cái gì? Là nó đem lại cho mình sự yêu thích, khoan khoái, thíc thú. Phàm dục gì, hỷ gì sanh khởi lên từ cái thân này, những cái ham muốn, thích thú, khoan khoái, tự hào, vỗ ngực xưng tên, ta đây: “Tôi là như vầy nè, tôi là phải như vầy nè”. Vỗ ngực xưng tên: “Biết tôi là ai không?” Đó là vị ngọt của cái thân này. Vị ngọt nó chống tàn, vì nó vô thường, biến đổi, tan hoại, hủy hoại, hoại diệt.
Cho nên song song với vị ngọt đó là vị đắng, là sự nguy hiểm và tác hại của nó. Tức là sự vô thường, sự biến đổi, sự hủy hoại, sự hoại diệt của nó. Mà tùy theo cái nghiệp, nó có thể biến đổi trong 1 ngày. Cũng như vừa rồi con có gửi lên một tin nhắn, cho chúng ta thấy. Một vị danh tiếng, nổi tiếng, sáng hay tin bệnh ung thư là buổi chiều đột quỵ. Đang ở trong đỉnh cao của danh vọng, tiếng tăm, sắc đẹp, tiền của, địa vị, thành công như vậy. Đâu phải một người như vậy, mà là đã rất nhiều, thậm chí chưa sanh ra là đã chết. Chưa được mẹ sanh ra thì đã chết, hoặc vừa mới sanh ra thì mẹ chết, hay con chết hoặc 2 mẹ con đều chết. Có thấy cái này không ạ? Có nhiều không?
Tại vì mình không có làm bên mấy nghành đó, mình mà làm mình thấy những con số nó nhảy lên là mình khủng khiếp, khủng hoảng lắm. Một ngày như vậy không biết bao nhiêu người chết vì tai nạn giao thông, vì phá thai, vì ung thư, vì hút thuốc, vì nhậu nhẹt, vì tai nạn lao động, vì thiên tai, vì những tai nạn bất ngờ...nhiều không thể nào mà kể hết. Nội bây giờ mà tính nắng nóng này thôi mà chết trên 500 ngàn người, chỉ có khí hậu biến đổi thôi đó. Thành ra nhiều khi cái tâm mình không thấy, không biết, không hiểu, cái tâm vô minh nó che đây. Rồi mình nghĩ: “Tôi đây cứng chắc lắm, tôi đây dễ gì chết. Ai bệnh ai chết chứ tôi đây dễ gì có vụ chết, mất chục năm nữa.”
Thì cái nghĩ đó là cái nghĩ vô minh, không thấy được sự nguy hại, sự nguy hiểm, sự vô thường, sự biến hoại, hủy hoại, hoại diệt của sắc. Cho nên sáng nghe tin bị ung thư, chiều đột quỵ trong 1 ngày thôi, tất cả đều trở thành mây khói, trở thành đống tro tàn. Tất cả bao nhiêu những tuổi thơ, những cái mình học hành, kiến thức, danh vọng, địa vị, tiền bạc, tài sản, bao nhiêu mọi toàn tính của mình chỉ trong tích tắc cái thôi rồi xong. Có nhiều người người ta đứng nhìn căn nhà người ta bị sạt lỡ xuống sông, nước mắt tràn ra. Suốt cuộc đời giành dụm được căn nhà, bây giờ 60, 70 tuổi rồi đứng nhìn tất cả tài sản tích góp cả cuộc đời, bây giờ nó ùm xuống sông, tức tưởi, nghẹn ngào, đao khổ. Đó là cái vật ngoài thân, huống chi hồ cái thân này bất thình lình.
Như vậy mình mới tu, như vậy mình mới lên núi, như vậy mình mới đi cầu đạo. Chú nếu mà nó thường hoài như vậy, thì mình cần gì phải đi tu. Vì tất cả rồi nó chỉ trong tích tắc, trong chớp mắt, trong một hơi thở không đầy 5 giây. Tất cả rồi tan biến trong hư không, thành trống không, rỗng không, thành vô nghĩa. Như vậy mà mình có cái thân này, là nó quý biết bao nhiêu mà nói. Mà nhất là mình gặp Thánh pháp tối thượng Nikāya nữa, thì tu chết bỏ, không sợ gì hết. Mình có sợ thì sợ mấy thứ tham, sân, si, dục, ái, vô minh, bản ngã lôi mình xuống sa đọa. Chứ cái này cho mình hướng thượng, mà sợ cái giống gì mà sợ, tới bến luôn. Lên cổng trời luôn, nhập lưu luôn, vô dòng Thánh trí tuệ luôn.
Vinh quang, vinh dự, vinh hạnh, vinh hiển, “nhất nhơn thành đạo, cửu quyền thăng”. Một người thành đạo đúng theo Thánh pháp, Thánh đạo như vậy, thì 9 đời cửu quyền ông bà cha mẹ mình thang thiên hết. Đem Thánh trí tuệ mình chia sẻ, mình giúp đỡ, lan tỏa, hướng dẫn, dìu dắt, hỗ trợ. Bằng chứng là đó mình thấy không? Dẫn chồng, dẫn cha mẹ, dẫn con lên tu, vui không, cạo đầu hết ráo. Như vậy mình thấy được trí tuệ của Đức Phật, rồi đi trở lại vấn đề Đức Phật dạy mình: “Nè con, con biết cái thân này nó cấu tạo, yếu tố, thành phần nó không? Con nhìn con thấy mắt, mũi, miệng, tay, chân, rồi mấy chục cái răng, bao nhiêu cọng này nọ kia, da thịt đồ vậy đó.
Chứ thật sự con nhìn xem chỉ có 4 thứ kết hợp thôi con: Cứng, ướt, nóng và động. Nó không có giống như con nghĩ đâu, đó là 4 yếu tối kết thành thân này. Rồi trong này có bao nhiêu bộ phận? Con nhìn kỹ đi. Tóc, lông, mống, răng, da thịt, gân, xương, bao tur, lá lách, ruột già, tim, gan, tỳ, phế, thận. Bao nhiều phân, mật, đàm, mủ, máu. Nhìn cho kỹ đi, chỉ có nhiêu đây thôi, đây là những bộ phân lắp ráp, kết hợp ra cái thân con, con nhìn rõ không”. Đức Phật chỉ cho chúng ta thấy, không có chỗ nào thiếu hết á. Mà hồi xưa thì nhìn bằng cái gì? Phật nhãn, thiên nhãn, nhìn là xuyên thấy hết các bộ phận trong cơ thể. Mà tới bây giờ khoa học dập đầu lạy, Đức Phật đi trước hàng ngàn năm.
Những cái thấy biết của Ngài, mắt Ngài nhìn xuyên hết. Với con mắt thanh tịnh siêu nhân, nhìn thấy hết tất cả. Nó lắp ráp như vậy đó, mà tới chừng nó chấm dứt qua 9 giai đoạn phân hủy. Ngài trình bày hết trong kinh “Tứ Niệm Xứ”, và trong khóa tu này mình phải cho tụng ít nhất 1 lần về kinh “Niệm Xứ”, cho đại chúng làm quen. Đức Phật trình bày hết trơn, từ đâu nó sanh ra, sanh ra những thành phần cấu tạo là cái gì (đất, nước, gió, lửa. Bao nhiều bộ phận (32 thể trượt), rồi tham, sân, si, dục, ái, vô minh, bản ngã, giành giật đã đời, rồi cuối cùng nằm xuống (9 giai đoạn tử thi) phân hủy rã rời, trở về cát bụi, gió thổi bay vào hư không. Chúng ta sẽ có thiền quán 9 giai đoạn tử thi, thiền quán tứ đại đều có hết.
VIII. Tác hại của sự chấp thủ thân này
Đó là Thánh trí tuệ về thân xác này, tối thượng, vi diệu không? Chánh đẳng, chánh giác về thân này. Như vậy mà còn đi tìm học với ai? Cho nên hồi nãy có nói đó, có học hết trơn kiến thức ở trên địa cầu này, nhưng mà đối với Đức Thế Tôn thì vẫn là vô học. Vô học không phải là bậc A-la-hán đâu, vô học ở đây có 2 nghĩa lận. Là phàm phu vô văn không được học thánh trí và các bậc thánh đã học xong hết rồi, tốt nghiệp thì không cần học nữa, thì gọi là vô học thánh nhân. Cho nên phải đặt thật nhiều thời gian, vào sự học thánh pháp này. Thật ra khóa tu trong 2 tuần này là con nhắm chúng ta thể nhập tu tập Chánh tri kiến, con không nhắm chúng mấy cái khác.
Chúng ta cứ tác ý, cứ hiểu ra, cứ mở ra, mở sáng ra tất cả các góc độ, khía cạnh, để chúng ta có một niềm tin với Chánh pháp. Bao nhiêu đó thôi là chúng ta đủ vốn xuốn núi, đủ vốn hạ sơn rồi. Học cái này để làm gì? Chuyển đổi nhận thức, chuyển đổi tư duy, thay đổi cách nhìn, phá vỡ vô minh, đập tan khát ái, xuyên thủng cái bản ngã này. Đánh cho nó gục ngã cái bản ngã ra, để nó nhìn ra nó thấy 1 sự thật bẽ bàng, một sự thật phũ phàng. Một sự thật mà nó phá vỡ tất cả những cái ảo tưởng, hư tưởng, mộng tưởng, huyển tưởng, điên đảo tưởng của mình từ vô lượng kiếp. Đó là ý nghĩa của khóa tu này, là mục đích, trọng tâm của khóa tu này. Là để cho mình: “Tới nay mới vỡ lẽ, vỡ mộng, vỡ ra cái khối vô minh, khối chấp ngã, mê lầm”. Chịu vỡ không?
IX. Thấy được lối thoát – Con đường giải thoát mà Thế Tôn đã chỉ dạy
Vỡ là nó bể cái vô minh ra, nó hiển lộ cái lẽ thật ra. Trong cái bài “Tâm Xã Vô Lượng”, bậc đạo sư dùng từ “nay ta vỡ lẽ”. Nó bể ra, nổ ra cái vô minh, chấp thủ, mà nó cứng chắc, thâm căn cố đế, tường đồng vách sắt vô lượng vô biên kiếp đến nay. Nó bị trái bom nguyên tử của thánh trí ngũ uẩn nổ tung, nổ banh xác, tan nát hết trơn hết trọi, nó rung rinh hết trơn. Có rung rinh không? Có cảm động, có chấn động, rung chuyển không? Gọi là gì? Gọi là tâm địa chấn động, địa chấn, động đất ở trong tâm, làm cho mình sáng con mắt ra, trố mắt nhìn ra. Vỡ lẽ nào giờ mình lại là chấp lầm vô, mình nắm lầm vô, cho nên mình khổ. Mục đích của khóa tu chúng ta là như vậy đó.
Ai mà muốn cho ngon lành, thì ở lại 6 năm, đúng ý hay sao cười dữ vậy. Cái phần quán thọ này chúng ta có nhiều bài lắm, để rồi chúng ta sẽ được học, cái này rất quan trọng. Cái cảm thọ này nó ngấm ngầm hoạt động, tất cả những cái suy nghĩ, hình bóng trong tâm, nhận thức thi vi của mình đều do cái thọ nó ngấm ngầm bên trong. Nó nung từ ở dưới nung lên, và nó có những suy nghĩ chạy loanh hoanh, hình bóng hiện mập mờ, nó chạy vòng vòng trong tâm. Là từ trong cảm thọ, cảm giác, cảm xúc của mình. Cái thọ này là mệt với ông thọ này lắm, chỉ cần ổng nổi cơn lên cái là xong. Mới ngày hôm qua hay hôm kia, có đứa cháu mà nó giết cậu chết luôn. Việc là nó đang nhậu, ổng thì nhà ở sát bên qua ổng chửi nó tối ngày cứ ăn chơi, nhậu không. Nó tức quá nó xử ổng ngay tại chỗ chết luôn, đưa tới bệnh viện không kịp.
Cho nên mình học Thánh trí, mình sẽ giải mã hết tất cả những cái gì gọi là bí mật sâu kín trên thế gian này. Cho nên Đức Phật gọi là bậc thế gian giải, thông giải tất cả các pháp thế gian. Thông giải tất cả tâm nhân tế, thông giải tất cả thế giới này. Thông giải tất cả mọi ngóc ngách, ngõ ngách, góc độ, phương diện, khía cạnh, sự vận hành của thế giới này. Là giải mã hết trơn ở trong ngũ uẩn này: “Này các Tỳ-kheo, trong cái thân 1 thước 8 này, Như Lai tuyên bố khổ, sự chấm dứt khổ và con đường diệt khổ”. Trong cái thân 1 thước 8 này, Như Lai tuyên bố về sự thật về khổ đau, sự chấm dứt khổ và con đường giải thoát khổ đau. Câu nói đó là rung chuyển trời đất, kinh chấn địa cầu hết trơn, khủng khiếp như vậy. Đức Phật dám dõng dạc tuyên bố, lời nói của người làm rung chuyển hết trời đất, chư thiên và loài người.
“Trong cái thân thước 7, thước 8, tại chỗ này Ta tuyên bố sự thật về khổ. Ta không có nói chuyện đâu trên trời, không nói chuyện ở đâu xa, quá khứ, vị lai gì hết. Ngay tấm thân này ta tuyên bố sự thật về khổ, nó nằm ở trong sắc, thọ, tưởng, hành, thức này. Nguyên nhân của khổ là dục, tham, ái, vô minh, bản ngã trong này. Chấn dứt khổ là khi nào hết vô minh và sạch hết tham ái, khát ái này là chấm dứt hòa toàn khổ đau, diệt tận hết tất cả khổ”. Như vậy đó mình đáng lạy từ lúc sanh ra cho tới ngày mình chết, mình lạy Phật vẫn chưa cảm hết cái ơn của Ngài, ân đức vỹ đại của Tam Bảo.
Nếu mình không gặp Chánh pháp, không thấy ngũ uẩn, không nhận diện được tham, sân, si, dục, ái, vô minh, bản ngã. Thì tới trầm luân vạn kiếp, muôn đời, không có bao giờ mà nghĩ có lối nào thoát ra hết. Không bao giờ, không có ngày, không có cơ hội, không có tia ty vọng, mãi mãi và vĩnh viễn trầm luân vô thỷ dòng luân hồi này. Không có nêu lên được sự khởi điềm và bắt đầu của nó, chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc. “Này các Tỳ-kheo, nước mắt mà các ông rơi còn nhiều hơn bốn biển mà các ông đã chảy ra. Nào là tai nạn, giao thông, động đất, sóng thần, nào là bao nhiêu dịch bệnh. Nào là mẹ chết, cha chết, ông chết, bà chết, những người thân thương mình.
Mình phải chịu đựng những đau khổ, chia ly, đau đớn như vậy. Mình phải chịu bao nhiêu đời, bao nhiêu kiếp nay rồi, chứ không phải mới cơn dịch bệnh này đâu. Mình chịu đựng không biết bao nhiêu lần như vậy, rồi mình cứ loanh hoanh, luẩn quẩn, lòng vòng không có lối thoát, không có đường ra. Chỉ có thánh pháp này có một con đường, có một đạo lộ, có một lối thoát, có một giải thoát, có một thoát đạo, cho mình một lối thoát đi ra cho mình. Thấy lối thoát chưa? Thấy rõ chưa? Bao nhiều phần trăm? Lối thoát là nhiếp phục dục tham và đoạn tận dục tham đối với sắc, thọ, tưởng, hành, thức, đó là lối thoát đó. Tại sao? Bây giờ mình giải mã bí mật.
Mình ham, mình thích, mình khoái, mình muốn cái thân này, cho nên mình có cái thân. Nhưng mà mình không quyết định được, cái thân gì thì do nghiệp quyết định. Cho nên khi nhắm mắt, thì lúc đó nghiệp quyết định. Nếu mà có phước thì được cái thân tốt, nếu không có phước thì được cái thân lông lá. Còn hơn nữa thì là cái thân của cô hồn, hay là địa ngục. Mà phải có cái thân, tại vì mình thích thân, muốn thân, khoái thân nên mình có thân. Bây giờ mình thích thọ không? Thích cảm giác không? Có thích cho nên có cảm giác, có thọ. Mình có thích hình bóng trong tâm không? Cho nên có tưởng. Mình có thích suy nghĩ không? Cho nên có hành. Mình có thích rõ biết không? Cho nên có thức.
Mình nói: “Thức là tôi mà”, “là tôi thấy”, “tôi biết”, “tôi nghe”, “tôi thấy rõ ràng nó như vậy mà”, “rồi tôi nghĩ”, “tôi cảm giác như vậy”. Rồi mình thích thú, khoan khoái, nắm giữ, chấp thủ trong này. Thì như vậy cho nên cái này có thì cái kia có, cái này sanh cho nên cái kia sanh. Cho đến khi mà mình hiểu ra được: “Ồ cái này là vô thường, là bệnh tật à nha”. Cái thân này bệnh đủ thức bệnh hết trơn, vô thường, sanh, già, bệnh, chết, tham, sân, si, ái đủ thứ hết. Ngán quá, ngán cháo chè quá, cháo mà pha chè vô ớn quá. Sợ quá, nhàm chán, li tham, từ bỏ, thì như vậy là không còn dính chạy vô mà chụp những cái thân nữa. Thoát ra khỏi cái thân đó, là lối thoát của thân, nhiếp phục dục tham, đoạn tận dục tham đối với thân xác, đối với sắc.
Nhưng mà cái sự quán của mình phải thành tựu, là sự chiêm nghiệm, suy tư àm xét về cái lẽ thật, vô thường, khổ, vô ngã của nó phải thấm, phải thấm thấu, phải viên mãn. Cho nên có một bài kinh Đức Phật nói tại sao lúc đó Ngài tu tinh tấn, mà Ngài chưa chứng Chánh đẳng chánh giác. Là Ngài quán sự nguy hiểm và tác hại của các dục chưa viên mãn, cho nên Ngài chưa chứng Chánh giác. “Đến lúc Ngài thành tựu Chánh giác, thì Ngài quán sự tác hại và nguy hiểm của dục ở trong sắc, thọ, tưởng, hành, thức này nó viên mãn, đồng đều, đầy đủ, tròn trịa hết tất cả mọi phương diện, khía cạnh, góc độ. Về sự nguy hiểm và tác hại của nó, sự nhàm chán, li tham từ bỏ nó, thì lúc đó ta thành tựu Chánh đẳng chánh giác.
Cái tâm từ bỏ sắc, thọ, tưởng, hành thức một cách hoàn toàn, viên mãn, triệt để. Không còn lưu luyến một chút xíu gì hết, dù cho một chút xíu cũng không có lưu luyến. Cũng không có sự ưa thích, khoan khoái và cho nó là vui sướng, Ta không có. Ta thấy nó là vô thường, khổ, vô ngã, bất tịnh”. Thì lúc đó Ngài thành tựu Chánh đẳng chánh giác, tâm Ngài hoàn toàn là viễn ly, nhàm chán, ly tham, từ bỏ sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Ngài thoát ra khỏi ngũ uẩn, thành tựu tâm bất động giải thoát, không còn chịu cảnh sanh, già, bệnh, chết. Ngài đạt được bất tử, thể nhập vào thế giới bất tử. Không còn bị sanh, đạt được cảnh giới vô sanh, bất tử.
Còn mình là sanh sanh - tử tử, tử tử - sanh sanh. Tại vì mình yêu sanh, mình thích sanh, mình khoái sanh, mình muốn sanh, cho nên bị sanh. Mà có sanh là có già, mà có già là có bệnh, mà có bệnh là có chết. Mà chết xong mà nó chưa hết, mà kiếm nữa thì nó sanh nữa. Nư vậy gọi là tái sanh, là sanh tới sanh lui, sanh đi sanh lại vòng vòng nó quay hoài như vậy thì gọi là luân hồi. Nó quay vòng vòng hoài như vậy, không có ngày chấm dứt.
“Tái sanh, tái khổ, tái sầu
Tái già, tái bệnh, tái làm thây ma”
Cho đến khi nào mình nhìn cái vòng sanh tử luân hồi, cái chết chết sống sống này. Cái tham, sân, si, giành giật, đấu đá, máu lửa, chiến tranh, những cái hơn thua của cuộc đời này. Mình thấy ngao ngán, nhàm chán, chán chê, não nề, gớm ghê, mình muốn thoát một cách hoàn toàn, mau lẹ, nhanh, cho nên mình có mặt tại Linh Quy Pháp Ấn. Rồi mình nghe càng ngày mình càng chán, càng ngán, mình viễn ly, ly tham, xả ly. “Những cái thứ đó là lửa than, rắn độc, là máu, là súng, lựu đạn, những cái thứ chất độc không nghe con. Thôi chạy mau, chạy nhanh, chạy lẹ, thoát nhanh, thoát lẹ, thoát xa chốn này”. Càng ngày mình càng thấm, càng thoát, rồi mình đi cái “rẹt” là lên luôn.
Lên bất hoàn thiên, tức là không trở lại thế gian này nữa. Con hay ví dụ cái này cho quý vị mới dễ hiểu. Nhiều khi mình đi đường dài, cái bụng mình kêu “rột rột”, nó quýnh ở trỏng. Mình muốn đi tiểu, hay đi đại gì đó, mình ghé vô cây xăng. Rồi mình mở cánh cửa vô một cái, rồi mình tá hỏa tâm tinh. Là cái hậu quả, tàn dư của người đi trước để lại 1 đống, khủng khiếp, kinh hãi và kinh hoàng. Mình thì chịu hết nỗi rồi, cũng ráng cho nó xong rồi đi ra. Mình nói vĩnh viễn không bao giờ quay trở lại chỗ này nữa, là bất lai Thánh quả. Mai mốt mà hễ nhìn thấy 1 cái là không bao giờ trở lại chỗ này nữa, là bất lai Thánh quả. Thì cũng vậy, các bậc Thánh nhìn cái thân này thì giống y chang như vậy, giống như cái đó, một đại khổ uẩn.
Sáng nay mình mới thiền quán xong phải không, đại khổ uẩn, mấy bữa nữa mình quán bài tiểu khổ uẩn. Một đống khổ mà nó bóc mùi khủng khiếp lắm, mình lại gần nó có bốc mùi không? Có nhiều người có mùi đặc biệt không? Mùi đặc biệt nó có nhiều nghĩa lắm. Nó vừa hôi, vừa dơ, vừa bẩn, mà ở trong đó là mùi của tham, sân, si, bản ngã, dục ái. Lại nói nói 1 hồi nhiều khi người ta đang tu, xúi người ta đừng có tu, người ta ăn chay xúi người ta ăn mặn. Cái mùi nó bốc ra đó, cái mùi kéo mình đi xuống, nó không muốn cho mình hướng thượng, thì mình phải biết những cái mùi đó. Cho nên các bậc hiền thánh khi mà quán chiếu thâm sâu, thâm nhập vô đây rồi, thì các ngài đi 1 cái “rẹt”. Không có lưu luyến, không có tiếc nuối, không có gì hết trọi.
Còn mình nhiều khi mình biết khổ đó, nhưng mà giờ bỏ uổng. Có đúng ý không mà bụm miệng cười đã vậy trời? Thấy tiếc tiếc nuối nuối phải không? Biết là khổ đó mà mình nhào vô kiếm ăn, lỗ mũi ăn trầu, cái đầu xỉa thuốc, u đầu sứt trán đã đời hết trơn ở trển. Rồi nó đánh cho tan tành như tương, xong rồi thì lúc đó mới nói: “Phật ơi con khổ quá, con quyết định chuyến này về Linh Quy không xuống núi nữa, tu giải thoát luôn”. Nó bầm dập tới vậy đó, cho nên thấm cái khổ, thoát cái khổ, đi ra khỏi khổ hoàn toàn, diệt tận cái khổ. Cái đó là giải mã đó, giải mã bậc thánh hiền. Cho nên mình tụng bài đảnh lễ đức hạnh ngài Xá-lợi-phất, mình nhớ trong đó sao không ạ?
“Ai nhàm ai chán nhìn thân xác
Các cỏi luân hồi chấm dứt ngay
Ai cười ai thích nhìn thân xác
Biển khổ mất thân sẽ dài dài”
Ai còn cười, ai còn thích, ai còn ham, ai còn khoái, thì cái khổ mất thân dài dài. Cứ hết thân này rồi đến thân kia, hết thân kia rồi tới thân nọ, ở hoài ở trong luân hồi này. Nhưng mà mình muốn ra khỏi luân hồi thì mình phải có cái tuần tự, đọa lộ. Trước hết thì mình phải nhận thức những cái ác và bất thiện pháp, nhiếp phục, chế ngự những cái đó. Tiếp theo đó mình tăng trưởng những pháp thiện, thì những cái thiện này đó mới đánh bại những cái ác. Lần lần 50-50, tới khi nó lên 70, 80 thì cái ác còn 30, 20, tăng lên 90, 100. Rồi ngay lúc đó là mình đi vào trong thánh trí tuệ, phá vỡ vô minh, bản ngã, chấp thủ. Như vậy là mình vượt lên trên cả thiện ác, thể nhập vào chánh trí giải thoát.
Chính vì vậy mà sự tu tập của người chánh kiến, người hiểu đúng về Phật pháp. Thì người làm điều thiện mà không có chấp thiện, cho nên cái bản ngã không có sanh. Không có cư công, không có khoe công, không có kể công, không có chấp vô cái công của mình. Vì người đó không có cái thấy, không có bản ngã: “Làm sao tôi làm nhiều hơn người ta”. Từ cái nhỏ người ta đã bắt đầu khởi động bằng chánh tri kiến, cho nên sự tu đó là công đức vô lậu. Đưa đến nhàm chán, đưa đến viễn ly, đưa đến ly tham, đưa đến từ bỏ, đưa đến sự thoát ra đối với cái bản ngã, đối với tham sân si, vô minh, dục ái. Nhẹ chưa? Khỏe chưa? Thấy được lối thoát chưa? Rõ thôi đứng dậy đi, bây giờ mình sẽ đi thiền hành.
Thích Minh Thành
Ngày 20 tháng 04 năm 2024
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Cảm giác toàn thân, quay về nội tâm PAGEREF _Toc194763648 \h 1
II. Vô minh – Căn bệnh tâm thức và sự vi diệu của trí tuệ Phật PAGEREF _Toc194763649 \h 1
III. Quay về với hơi thở – Bước đầu của tỉnh giác PAGEREF _Toc194763650 \h 6
IV. Tâm mê PAGEREF _Toc194763651 \h 10
V. An trú chánh niệm – Quán thân, phá ngã chấp PAGEREF _Toc194763652 \h 12
VI. Tinh tấn thực hành – Dùng pháp làm vũ khí đoạn trừ phiền não PAGEREF _Toc194763653 \h 16
VII. Trí tuệ vô thượng của Thế Tôn PAGEREF _Toc194763654 \h 18
VIII. Tác hại của sự chấp thủ thân này PAGEREF _Toc194763655 \h 21
IX. Thấy được lối thoát – Con đường giải thoát mà Thế Tôn đã chỉ dạy PAGEREF _Toc194763656 \h 22
I. Cảm giác toàn thân, quay về nội tâm
Dầu cho mình có ngồi dưới gốc cây, có đứng 1 mình, trên núi, mà nếu mình biết thực tập cảm giác toàn thân. Thì mình đang quay về căn nhà nội tâm, tâm mình có nhà, mình có chỗ quy y, mình có chỗ nương tựa. Tâm mình không có vất vơ, vât vưởng. Hãy thực cẩm cảm giác toàn thân bất cứ mọi nơi, bất cứ ở đâu, khi nào. Chúng ta giờ này thật là bình an lắm, thật là an tịnh lắng dịu, thật là thanh tịnh, tịch tịnh. Khó dùng lời mà diễn tả được những cảm nhận này, pháp này đến để mà thấy, đến để mà cảm nhận, đến để mà sống, trải nghiệm. Có hiệu quả ngay lặp tức, ngay tức khắc. Bình an, sự an tịnh, sự lắng dịu đang có mặt trong cảm thọ, thân tâm của ta.
Không cần phải đợi đến tối nay hay ngày mai, càng không cần phải đợi đến lúc sắp sửa chết mới có kết quả. Pháp của Như Lai là thiết thực, hiện tại, có hiệu quả tức thời, đến để mà thấy. Có khả năng hướng thượng, có khả năng đưa mình lên cao, người trí tự mình giác hiểu. Chúng ta nãy giờ có cảm nhận được cảm giác toàn thân không? Có cảm nhận được đầy đủ không? Cố gắng thực tập cảm giác toàn thân. Cho nên sự học của chúng ta, là vừa học vừa hành cùng một lúc. Bây giờ là chúng ta đang thực hành nè, chứ không phải học riêng, hành riêng.
II. Vô minh – Căn bệnh tâm thức và sự vi diệu của trí tuệ Phật
Đảnh lễ Đức Thế Tôn Bậc A-la-hán Chánh đẳng giác (3 lần)
Kính bạc chư tôn và chư hiền, hôm nay chúng ta tìm hiểu tổng quát tinh hoa Phật trí. Những cái tinh hoa, tinh túy, tinh tủy, tinh anh của trí tuệ Phật. Khi được học về trí tuệ này, chúng ta sẽ từ bất ngờ này đến bất ngờ khác. Chúng ta không thể tưởng tượng được trí tuệ của Đức Phật, nó thâm sâu, phổ quát, bao trùm tất cả mọi khía cạnh, phương diện, góc độ, ngõ ngách, ngóc ngách. Tất cả mọi sự sanh diệt, vận hành của thân, tâm, của đời sống, thế gian, thế giới, chúng sanh vạn loại muôn loài. Đều được Đức Thế Tôn thực thấy, thực biết, thực chứng, thấu suốt tận cùng nguồn cội, căn nguyên, góc rễ, góc gác.
Nó sanh khởi như thế nào? Nó an trú như thế nào? Nó vận hành như thế nào? Vì đâu mà nó sanh? Nó sanh lên như thế nào? Tại sao nó sanh? Nó sanh lên thì nó vận hành như thế nào? Cái cơ cấu, guồng máy, hệ điều hành, mô tuýp, cấu trúc sự vận hành của thân xác, đời sống, thế gian, thế giới này. Được Đức Phật trình bày chi li, tỉ mỉ, tinh tế, tường tận, thấu đáo, viên mãn tất cả mọi phương diện, góc độ, khía cạnh. Đó là ý nghĩa của chữ Chánh đẳng chánh giác, đi học đây chúng ta mới thấy sự ngu dốt, sự không hiểu biết của chúng ta. Mới thấy được cái tâm mờ tối, si mê và vô minh của chúng ta. Hồi xưa con xin thưa với chư tôn và chư hiền, con xuất gia 28 năm, mà con không có hiểu chữ vô minh.
Con cứ nghĩ vô minh là ở trong thời quá khứ, hồi xa xưa, hồi nào đó. Khi nào dòng pháp này thì sốc toàn tập, sốc từ cái này cho tới cái khác. Không ngờ cái vô minh nó ở trong mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Ở trong mỗi suy nghĩ, mỗi cảm thọ, mỗi hình bóng trong tâm, mỗi trong cái thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc, biết của mình. Là bị vô minh nó phong tỏa, nó che lắp, nó bao phủ, nó trùm chiếm hết. Nó giống như một người, mà bị một tấm màn trùm lên trên đó. Mà người này đi như vậy trong bóng đêm. Thì những tâm thức của chúng sanh khi chưa được thấy pháp, chưa được học pháp, chưa được hành pháp, chưa được ngộ pháp, chưa được chứng pháp, chưa được đắc pháp, chưa được thành pháp, thì là những tâm thức mù lòa, vô minh và hôn mê. Hoàn toàn không có thấy biết gì về mình hết, nhưng mà mình luôn luôn lúc nào cũng nghĩ mình rất là thông minh.
Chính chỗ đó là chỗ làm cho chúng ta mãi mãi ở trong vô minh, mình không thấy được sự vô minh của mình. Cũng như 1 người bị bệnh rất là nặng, nhưng mà người này không thấy được mình bị bệnh. Tới khi cực kỳ nghiêm trong đi đến bác sĩ, là đã đến giai đoạn cuối rồi. Cũng vậy, tâm thức chúng ta là một tâm bệnh trầm kha khủng khiếp. Mà Đức Thế Tôn và bậc tri vương, dược vương, vô thượng y phương, để trị cho cái tâm mình bệnh trầm kha, bệnh trong xương tủy. Mà người nào chịu mình bệnh, chịu mình mê, thì người đó mới có thể trị bệnh, mới có thể tỉnh ra được. Mình có chịu thừa nhận mình bị bệnh tâm không? Mình có thừa nhận là mình đang bị hôn mê không? Như vậy thì ngồi đây, còn không thừa nhận thì muốn xuống thì cứ xuống, không ai cản hết.
Hổm rày cũng có một mớ xuống núi rồi, không sao hết. Thành ra thật sự đi tìm về sự thật là thiên nan, vạn nan. Không có dễ mà nghe sự thật, không có dễ mà chấp nhận sự thật, không có dễ mà nhìn thấy sự thật. Dầu cho sự thật nó nhan nhãn trước mắt bên tai chúng ta, nhưng tâm chúng ta vì cái tôi, cái bản ngã rất là lớn. Nhưng gì cái vô minh nó che đậy, phong tỏa, nhưng gì sự tham ái rất là khủng khiếp, cho nên nó không chấp nhận sự thật. Giống như mình thấy ở đây, mấy bạn tuổi trẻ vướn vào lưới tình, cha mẹ nói mình đâu có nghe, người ta gọi là si tình. Thì vô trong đó rồi nó si mê, thì cái tâm si mê nó cũng giống như vậy, mượn cái đó để mình hiểu ra cái này nó còn sâu sắc hơn rất nhiều.
Một khi mình đam mê cái gì, 1 món đồ, 1 con người, 1 sự vật gì đó, thì lúc đó cái tâm của mình nó mờ tối. Mà không có một cái khác, chỉ duy nhất với người đó, với món đồ vật đó. Thì cũng vậy, cái tâm mình nó bị si mê, đam mê, say đắm ở trong sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Giống như nó si tình với một cô gái, hay với một chàng trai. Và cái si này nó còn nặng hơn nhiều lần, mình lấy ví dụ như vậy cho dễ hiểu. Cái tâm si mê, hôn mê, ham mê, say đắm rất là nặng ở trong sắc. Chính vì vậy mà cái Thánh trí tuệ, cái tinh hoa Phật trí đầu tiên Đức Thế Tôn dùng bom nguyên tử vỹ đại để đánh phá sắc thủ uẩn – Thánh trí tuệ thứ 1. Vì một cái tâm này nó không thấy, không biết, không hiểu, không rõ, không rành về cái sắc này.
Cho nên nó ảo tưởng là cái này nó đẹp lắm, sướng lắm, hấp dẫn lắm, bền vững, kiên cố, vững trú, thường trú lắm. Cái đó là tôi, là ta, là của ta, là đẹp lắm, là đáng vui, vừa lòng, thích ý, sung sướng lắm. Cho nên cái tâm vì nó không hiểu nên nó ham thích, vì nó ham thích cho nên nó nắm giữ, vì nó nắm giữ cho nên nó có ra cái thứ mà nó nắm giữ. Đó là ý nghĩa của chữ “sắc thủ uẩn”, từ vô minh, tham ái, chấp thủ mà có ra sự hiện hữu, chính là thân hình mấy chục ký lô đang ngồi đây. Từ vô minh, tức là không hiểu biết về 5 uẩn, thì nó ham thích, khoan khoái. Vì ham thích, khoan khoái cho nên nó mới có ra.
Nói tiếng Việt cho chúng ta dễ hiểu, là không thấy, không biết, không được học, không được gặp bậc Thánh, không nghe pháp bậc Thánh, không tu tập pháp bậc Thánh, không thuần thục pháp bậc Thánh. Kẻ vô văn phàm phu không thấy, không biết về ngũ uẩn, không rõ về ngũ uẩn. Cho nên kẻ vô văn phàm phu ham thích và say đắm trong uẩn. Và cho ngũ uẩn này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi. Và nó có ra sự hiện hữu này, thân 5 uẩn này có mặt. Cảnh giới của cái thân cư trú có mặt. và cái tâm thức hôn mê bên trong đương nhiên là có mặt. Thân, tâm, cảnh, nó có ra căn, trần, thức. Chính là từ cái thức hôn mê này, nó nắm chặt vào cái thân. Từ cái thân này, thì nó phải có cái cảnh vô cái thân này ở.
Tại đây là 18 giới được thành lặp, thân, tâm, cảnh. Mà gốc rễ là từ cái tâm hôn mê, không thấy không biết về 5 uẩn. Hoàn toàn không thấy, không biết gì về 5 uẩn hết. Kẻ vô văn phàm phu, “vô văn” là không được nghe, không được học Thánh trí ngũ uẩn, không được học giáo pháp Nikāya đó. Cho sắc là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi. Cho cái nhà, chiếc xe, miếng đất, tiền, sổ hồng sổ đỏ đó là của tôi, là tôi, là tự ngã của tôi. Cho những cái cảm giác này, hình bóng trong tâm này, mọi lời nói thì thầm, suy nghĩ bên trong này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi. Và cho cái thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc, biết, các nhận thức này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi.
Thì như vậy nó dồn lại một cục, nó dính chùm lại với nhau. Đây là một cái ngã thủ uẩn cho lớn, cho nên ai đụng tới tôi thì biết tay tôi. Thấy chưa? Như nắm tay của của mình là 1 cái ngã thủ uẩn, là đống 5 thứ nó chụm lại, nắm lại, chắc lại, bấu lại, bíu lại, giữ chặt, nắm chắc, nắm cứng không buông ra, như vậy là một cái tôi. Mà khi đã có cái tôi rồi, thì ai đụng tới tôi thì là biết tay tôi. Thì như vậy bậc đa văn Thánh đệ tử thì thấy cái nắm tay không có cái tôi, mà đây là sắc, thọ, tưởng, hành, thức.
(Đại chúng đọc định nghĩa, ngũ uẩn số 1, số 2)
Chỉ cần nhớ định nghĩa này thôi, ngày lúc mình nhớ là lúc đó mình đã phá được một phần vô mình. Bậc đạo sư nói một người sắp sửa ra đi, mà chỉ cần đọc len định nghĩa ngũ uẩn số 1 thôi, là người này chắc chắn không có sanh vô 3 đường ác. Tại vì lúc đó mê sao mà đọc Thánh trí ngũ uẩn được, mà đọc được định nghĩa ngũ uẩn thì người đó là tỉnh, là giác. Với một cái tâm tỉnh giác, chánh kiến như vậy sẽ đưa người sanh trong cõi nhân thiên. Tuyệt vời không? Ráng học, ráng nhớ, ráng nhắc. Lúc nào mình nhớ được cái định nghĩa đó, là lúc đó mình tỉnh. Lúc nào mình quên là như bàn tay nắm lại, lúc nào nhớ là như bàn tay xòe ra.
Rồi mình học cái tâm hiền thì như bàn tay xòe ra một cách mềm mại, thấy rõ không? Mình học phá ngã, diệt ngã cho nên nó như vậy. Bây giờ mình chịu cái nào? Bao nhiêu phàn trăm? “Dạ 100%”. Chắc chưa? “Dạ chắc”. Cho nên trái bom nguyên tử làm cho rung chuyển trời đất, khi Thế Tôn diễn thuyết bài kinh “Vô Ngã Tướng” Thừa Trần Như. Chính là phá ngũ uẩn, phá kiến chấp về thân. Mà chúng ta nhớ chỉ cần phá cái thân kiến này thôi, cái hoài nghi, giới cấm thủ lập tức bị tiêu diệt và thể nhập vào dòng Thánh. Đi vào Thánh quả thứ nhất, tham dự vào dòng chảy Thánh trí tuệ. Mà chỉ có một điều đầu tiên là phá thân kiến thôi, nỗ lực lên không? Quyết chí phá thân kiến không?
Cứ yêu cái thân, thích cái thân, mê cái thân, rồi cái thân này nó hành hạ, hành xác, hành tội, hành hình mình. Bao nhiêu đời, bao nhiêu kiếp bị cái thân này nó hành. Thấy ngồi như vậy chứ nó hành ở trổng đó, nắng một chút là nó hành, mỏi chút là nó hành, nhức một chút là nó hành. Nhìn mặt thì cười vậy đó, chứ ở trong bụng là rầu thúi ruột ở trỏng đó, chứ đừng có tưởng đâu cười là ngon. Cho nên mình học cái trí tuệ này rồi, là mình thông minh lắm. Nhất trí không? Đừng có nhìn thấy mặt hoa da phấn, cười tươi, xách bóp hàng hiệu, đi xe đời mới là tưởng đâu ngon, đừng có tưởng.
“Xin đừng đem dạ tưởng mơ
Trăm năm cuộc thế như cờ bị vay
Rút gươm huệ rút dây tham ái
Kiếp tìm thầy cầu phái quy y
Kiên trì ngũ giới tam quy
Mở lòng từ nhẫn sân si phải chừa”
Là những bài kệ mình mới vô chùa là chú tiểu mình học bài “Sám Thảo Lư”. “Thảo lư” là cái am bằng cỏ, cho nên mình nhìn trật lất hết trơn, nhìn ảo tưởng đây nè. Thật ra tất cả chúng sanh có cái nhìn, cái thấy, cái nghe, cái nhận thức đều là bằng tưởng tri hết. Biết ở bên cái tưởng tượng, biết ở trên tưởng tượng, biết ở trên ảo tưởng, biết ở trên mộng tưởng, biết ở trên hư tưởng, biết ở trên huyển tưởng. Biết ở trên cái tưởng vô minh, chính vì vậy mà vái biết nó đưa đến khổ, chứ nó không có đưa đến bình an. Cho nên mình thấy không? Biết càng nhiều, học càng cao, mà có khi bản ngã càng lớn. Chứ cái biết đó dầu cho mình học hết tất cả mọi kiến thức ở trên thế giới này, thì Đức Phật vẫn gọi mình là kẻ dốt, vô minh, vô học, tức là vô văn phàm phu đó.
Nhói tim quá, nhưng mà thương lắm, thương con dữ lắm, thì cha mới nói vậy. “Con là kẻ vô học, con có học hết tất cả mọi kiến thức trên trái đất này. Thì con cũng là một thằng ngu lâu, dốt bền. Vì sao? Vì các con không học được Thánh trí của bậc Chánh giác”. Mà bây giờ chúng ta đang ngồi đây học Thánh trí, của bậc vô thượng Chánh đẳng chánh giác. Hạnh phúc không? Cho nên dù bữa nay mà có ngã ra chết tại chỗ này, thì cũng cam tâm tình nguyện. Mình tới cổng trời rồi, mình bước vô luôn. Chịu không? Đừng sợ chết, mình cứ tu đi (nhưng đừng chết nha), nhập Thánh quả xong rồi mới chết. Thành ra mình biết tác ý là mình hạnh phúc lắm, biết tác ý, khéo tác ý, thiện xảo trong việc tác ý.
III. Quay về với hơi thở – Bước đầu của tỉnh giác
Mà nó mê là nó mê nhiều lắm, không biết bao nhiều mà nói. Cái lớp nó mê mà đầu tiên Đức Phật dạy mình là dễ thật là dễ nè: “Con ơi trở về hơi thở”. Đức Phật dạy mình thấy sự trình tự siêu việt lắm, bậc vô thượng sư, bậc thiên nhân sư, bậc thế gian giải. Đầu tiên Đức Phật không có nói cái gì mà lạ, mà cao siêu, xa vời gì hết trọi. “Con về con cảm nhận hơi thở đi, con có biết mình đang thở không?” Ai ngồi đây không thở giơ tay lên? Sao lại cười? Bây giờ một ngày 24 giờ, mình nhớ được mấy giờ là mình đang thở. Hay là mình nhớ chuyện người này, người nọ, người kia. Mình nhớ đúng sai, hơn thua, khen chê, thương ghét, hay dở, tốt xấu của người này, người nó.
Mình nhớ chuyện thị phi, nhân ngã, bỉ thử, cao thấp, ghanh tỵ, đố kỵ, ích kỷ, hẹp hòi. Mà phải chi là người dung không nói, còn đây là người trong gia đình, cứ ngồi lại là nói chuyện xấu của nhau không. Sao mình đang thương, dại khờ quá vậy, sao mình lại làm cho mình và những người yêu thương khổ. Cho nên đầu tiên, bước tỉnh đơn giản nhất là con quay về hơi thở. Thì trong khóa này chúng ta sẽ được học thực tập 16 hơi thở, gieo duyên cho chúng ta. Để chúng ta cảm nhận được hơi thở nó quan trọng, thường xuyên và thiết yếu như thế nào. Ở trong kinh thì gọi là mạng căn, tức là căn bản của sanh mạng là hơi thở, tức là gốc rễ của sự sống. Mình nhịn ăn mấy bữa, nhịn uống vài ngày không sao, nhưng mà mình ngưng thở là mình chết ngay lặp tức.
Nhưng có điều là mình không nhớ, chính vì mình không nhớ ơi thở, cho nên mình đâu có biết rằng mạng sống này nó mong manh. Mình không cảm nhận hơi thở, cho nên mình không thấy được kiếp sống này vô thường. Mình không cảm giác được hơi thở, cho nên mình nghĩ rằng mình rất là to, cao, lớn. Mình không có thấu suốt được hơi thở, cho nên mình nghĩ rằng mình là cứng chắn, vững trú, to cao, bệ vệ, đứng vững 10, 20, 30, 40, 50, 60 năm. “Tui năm nay 70 tuổi rồi đó nha, tui đứng vững 70 năm, 80 năm rồi”. Nhưng không ngờ, chỉ cần hơi này nó khì ra 1 cái mà hít vào không được là sụp đổ. Là thân này không bao lâu sẽ vùi sâu đáy mộ, như cây khô khúc gỗ vứt bỏ vì vô tri.
Chỉ cần chúng ta quay về hơi thở thôi, là chúng ta đã có 1 sự Chánh niệm. Mà nhất là hơi thở này được Chánh kiến soi rọi, chứ không chỉ có hơi thở không. Được Chánh kiến của sự nhận diện ngũ uẩn đó, chỉ quay trở lại hơi thở thôi là cả một cái đem cái tâm lậu hoặc lang thang, cô hồn, vất vưởng, vô gia cư đó, nó trở về cái thân này. Cái tâm “nhất niệm thập phương du lịch”, một niệm mà đi chơi 10 phương. Có không mà ngồi cười giữ vậy? Cái tâm này có nhất niệm thập phương du lịch không? Cái thân nó ngồi đó đó, nhưng mà cái tâm nó đi chơi. Thì cái tâm đó gọi là tâm lậu hoặc, lang thang, cái tâm vất vưởng, buông lung, thả lỏng, phóng dật, đây là những từ trong kinh Nikāya luôn đó.
Thì bây giờ làm sao đem nó về đây? Hít vô, thở ra, cảm nhận hơi thở. Ngay lúc đó là đem cái tâm xa xôi ngàn dặm đó, trở về trong một hơi thở thôi. Phép màu không? Đó là phép lạ, phép màu, Chánh niệm, tĩnh giác, trí tuệ đó. Mà chỉ có một hơi thở này thôi, Đức Phật gọi đây là trú xứ của Như Lai, là trú xứ của các bậc thánh hiền. Tức là hơi thở trú, trú ở trong hơi thở, là căn nhà của các bậc hiền, là nơi ở của các bậc Thánh, là chỗ cư trú của Như Lai. Tức là trú xuất tức nhập tức niệm, “nhập tức xuất tức niệm” là thở vào thở ra đó. Cảm nhận hơi thở ngay tại chỗ đi, cảm nhận hơi thở. Thì như vậy là mình đem cái tâm lang thang trở về cái thân này trong 1 vài hơi thở.
Mà khi mình đem trở về hơi thở, đem cái tâm trở về cái thân, thâm đâu tâm đó, định cái tâm trên thân bằng cảm giác toàn thân. Sau khi mình cảm nhận hơi thở, cảm nhận cơ thể, cảm nhận cảm giác toàn thân. Chúng ta nhớ 3 câu này lúc nào con lên cũng đọc hết đúng không ạ? Thì như vậy đem cái tâm lậu hoặc, lang thang đó trở về cái thân bằng 1 hơi thở, sau đó chúng ta cảm nhận cảm giác toàn bộ cơ thể. Là chúng at kết hợp cảm giác toàn thân. Thì ngay lúc đó là đem cái tâm trở về thân, là định tâm ở trên thân. Là lặp tức mình có một sự vững trú, vững chải, vững chắc, một cái sự rất là ổn thỏa, khi mà mình định tâm ở trên thân. Cái này không phải đợi tới túc vô tập thiền mình mới định, mà bất cứ ở đâu và khi nào.
Đang nói chuyện, vẫn an trú cảm giác toàn thân. Đang làm việc, vẫn an trú cảm giác toàn thân. Đừng nói chi mà lúc mình đang thiền tập, và nghe pháp. Như vậy thfi riêng phần hơi thở này thôi, thì thật ra cần nhiều thời gian lắm, nhìn nhận và quán nhiều lắm. Nhưng mà ở đây là tổng quát thôi, chúng ta thấy lợi lạc biết bao nhiêu rồi. Mười sáu hơi thở mà Đức Thế Tôn kết hợp với Tứ niệm xứ, Thất giác chi, và hướng đến viễn ly tham, hướng đến giải thoát, hướng đến từ bỏ, ở trong bài kinh “Xuất Tức Nhập Tức Niệm”. Thì mỗi một hơi thở chúng ta quay trở về thân, chúng ta nhận diện cảm thọ. Chúng ta coi lại trong tâm chúng ta có hình bóng, suy nghĩ gì, các cái thức của mình như thế nào.
Và sự vận hành bên trong tâm thức đó, là chúng ta trong hơi thở đó chúng ta thực tập Tứ niệm xứ. Khi chúng ta làm quen rồi nó sẽ nhuần nhuyễn, điêu luyện, thuần thục lắm. Chúng ta làm từ từ nó sẽ quen, hít thở có hơi thở là bắt đầu mình coi lại liền. Rồi bây giờ mình bắt đầu kết hợp, đầu tiên chúng ta sẽ kết hợp hơi thở này qua bên tứ đại. Hơi thở nó thuộc gì trong 4 đại? “Dạ thuộc về gió”. Như vậy thì chúng ta quán chiếu về hơi thở, chúng ta có thể phá được thân kiến, cho nên chỗ này vi diệu lắm. Mỗi một cái pháp Đức Phật đưa ra, thì đều có khả năng để giúp mình nhập lưu hết, chứ không phải là phải hết tất cả các pháp. Nhưng mà mình học thì mình học hết, mình xem mình có duyên với cái nào, mình phá lần lần.
Nhưng mà mỗi 1 pháp, mỗi 1 hơi thở đó thôi là đủ sức chứng Thánh quả A-la-hán, nếu mình sử dụng Chánh tri kiến phá thân kiến. Thành ra nó khủng khiếp như vậy đó, chứ không phải bình thường. Thành ra có những vị thời Đức Phật là tu pháp hơi thở thôi, nhưng mà vẫn đoạn tận các lậu hoặc. Nhưng mình phải kết hợp với Chánh tri kiến, phải nhận diện được ngũ uẩn, thấy được vô thường, khổ, vô ngã ở trong hơi thở. Như vậy, bây giờ thấy được vô thường, khổ, vô ngã ở trong hơi thở như thế nào? Thì hơi thở vào ra mình phân tích, phân loại nó thuộc về phong đại. Cho nên mình phải nhớ sự tu Nikāya này tới 80, 90 phần trăm là thiền quán.
Là một cái tâm bình tĩnh, an tịnh, lắng dịu. Một cái trí mà được Chánh kiến của Đức Phật hướng dẫn, soi rọi, quán chiếu, xét nét, suy tư, như lý tác ý và triển khai thiền quán. Thì nó phá từng phần từng phần cái vô minh, chấp thủ, tham ái bên trong. Nó phải có sự dày công tích lũy, công phu rất là thâm hậu. Giống như một người là làm nghề gì cũng ít nhất một chục năm, 20 chục năm, 30 năm thì mới giỏi với cái nghề đó. Thì cũng vậy, sự tu này phải kiên trì, bền trí dài lâu, trường viễn, thâm sâu. Thì bây giờ mình kết hợp như thế nào? Cái hơi thở vô ra này thuộc về phong đại. Thì không có một người đang đi, mình đang bước nhưng mình tách cái ý nghĩ: “Tôi đang đi”, mình bỏ cái chữ “tôi” ra. Mà cái cục thịt này là cái gì đại? “Địa đại”. Trong này có hơi ấm là cái gì? “Hỏa đại. Cái ướt ở trong cơ thể là thủy đại, rồi sự vận hành thi vi đó là...39’12 ...thì như vậy làm gì có cái mình đang đi.
Cho nên chúng ta thấy cái tu này rất là kỹ, rất là chi li nhỏ nhiệm, như vậy mới Thánh trí tuệ chớ. “Này các Tỳ-kheo, Ta chưa thấy có một loại trí tuệ nào nó vi tế, thâm sâu như là trí tuệ về sắc. Ta chưa thấy trí tuệ nào nó thâm sâu, thù thắng, tối thượng, như là trí tuệ về thọ, tưởng, hành, thức. Này các Tỳ-kheo, sở dĩ Ta ở giữa ma phạm, Sa-môn, Bà-la-môn, giữa loài người và tất cả loài trời mà tuyên bố. Ta thành tựu sự chứng ngộ tột cùng, tối thượng tất cả mọi khía cạnh, phương diện, góc độ của thân tâm, thế giới này. Là vì Ta thành tựu được viên mãn Thánh trí ngũ uẩn. Nếu như Ta chưa Thành tựu viên mãn Thánh trí sắc, thọ, tưởng, hành, thức.
Ta không có tuyên bố Ta là bậc vô thương Chánh đẳng chánh giác, Ta là bậc trí tuệ tối thượng của tất cả chư thiên và loài người trong tam giới này. Do vì Ta thành tựu Thánh trí về ngũ uẩn, cho nên ta mới tuyên bố Ta là bậc tối thượng giữ chư thiên và loài người. Ta chứng ngộ một cái trí tối cao, vô thượng, không ai có thể ngang bằng, không ai có thể so sánh, không ai có thể ngang hàng được”. Chúng ta thấy Đức Phật dõng dạt tuyên bố, mà các nhà vua bất ngờ đi lại: “Con thấy các vị giáo trưởng, các vị sư trưởng, các vị tổ của các Tông phái chưa dám tuyên bô. Mà sao Ngài còn trẻ, Ngài mới hơn 30 tuổi, mà sao dám tuyên bố”.
Đức Phật tâu với nhà vua: “Đừng xem thường em bé, thái tử còn trẻ đó, đừng xem thường đóm lửa nhỏ, con rắn nhỏ, đừng xem thường chú Sa-di nhỏ nhỏ đó”. Thành ra trí tuệ không nói tuổi tác được, như vậy trở lại vấn đề là chúng ta thấy tinh hoa Phật trí này nó siêu khủng lắm. Bộ “Tinh Hoa Nikāya” ngày xưa bậc đạo sư tính cái tựa là “Tinh Hoa Phật Trí”, sau đổi thành “Tinh Hoa Nikāya, con góp ý. Khi mình quay trở về quán tứ đại từ hơi thở, mình mới kết hợp qua bên tứ đại. Thì mình bóc tách ra, mình gỡ ra, mình mở ra, mình tháo ra, mình làm cho nó rời rạc ra. Nó sẽ không còn một nguyên khối tưởng nữa.
IV. Tâm mê
Cái tâm vô minh, cái tâm tham ái, cái tâm chấp thủ của chúng sanh là nguyên khối tưởng. Chúng ta biết gỗ nguyên khối không? Nói vậy dễ hiểu phải không.
Thì nguyên 1 cục to lớn, cứng chắc, thành đồng dác sắt như vậy đó. Chặt không đứt, bứt không rơi, phơi không khô, đốt không cháy, nó khủng khiếp như vậy đó. Cái khối vô minh chấp thủ nó khủng khiếp, một khối vô minh uẩn to lớn. “Này các Tỳ-kheo, từ vô thỷ đến nay chưa từng bị xuyên thủng, chưa từng bị phá vỡ. Ngày hôm nay với Thánh tri kiến này, với sự thấy biết của bậc Thánh này, có thể xuyên khủng khối vô minh to lớn này. Và phá banh chành, tan tành cái khối vô minh uẩn hết”. Chịu không? Thánh trí bom nguyên tử mới phá được. Như vậy thì Thế Tôn mới bóc tách, mở ra, nại ra (hôm trước là sư bà dùng chữ khựi), con nói thêm chữ nại luôn. Mình khựi thì còn thấy nhẹ nhẹ, cái nào cứng cứng thì mình phải lấy xà ben nại ra.
Có khi mình nại mà nó cứng quá nó đập vô cái đầu mình xuống đất luôn, thì mình cũng chịu nữa. Mà cái đầu mình có đổ máu thì cũng tới bến luôn, phải nại ra. Cứng chắc lắm, tường đồng dác sắt mà, từ vô thỷ kiếp tới này mình huân tập. Mình đa cho sắc là mình, thọ là mình, tưởng là mình, hành là mình, thức là mình. Mình đã cho cái thân này là mình, những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ này là mình, là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi. Mình cho những cái thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc, biết, nhận thức này là tôi, mà nó cứng chắc như vậy. Mà người nào bệnh mà cái tay nắm hoài không mở ra, thì người đó kêu bằng bệnh gì ạ? Cái tay mà mình muốn cầm thì mình nắm, không thì mình buông là bình thường, còn cái tay cứ nắm hoài là dị tật.
Cái tâm của chúng sanh là cái tâm dị tật đối với Đức Phật và các bậc Thánh, là một cái tâm dị tật, bất bình thường. Thành ra ngồi đây bất bình thường nhiều lắm, có không mà cười đúng ý vậy? Có không? “Dạ có”. Một hồi nói thương một hồi nói ghét à, phải không? Mới thương rồi giận, mới chê rồi khen, làm đủ thử kiểu, đủ thứ trò hết. Bây giờ mình trở lại đây, bởi vì khóa tu của chúng ta không có thời gian, thành ra chúng ta học những cái này với sự giới thiệu phổ quát, tổng quát thôi. Chứ không có học sâu được môn nào hết trơn. Sau đó quý vị từ từ về nhà, rồi lên dự thêm 10 khóa nữa. Bây giờ từ hơi thở mà mình đi thẳng, mình quán chiếu tứ đại. Thì mình mới bóc tách ra được cái này là gió, mà nhiều khi mới mở mở cái bàn tay ra gặp gió là cứng đờ, đứng im luôn.
Có thầy là huynh đệ với con đang ở trên lầu, trên phòng đó. Bữa đó sao mà con đang ngồi tiếp khách ở dưới, thì thầy điện thoại. Con nghe thì nghe thấy nói “ớ ớ”, con thấy sao lạ vậy ta, mà bằng tuổi với con thôi. Con dừng tiếp khách, con chạy lên con coi liền. Thì con kịp thời kêu bác sĩ liền, còn không thôi là giờ này thầy cũng xong đời rồi. Thầy thì bị bệnh tiểu đường, rồi nó qua tai biến nhẹ, mà nó tuột xuống 25kg. Mà bác sĩ nói lúc đó là trễ chừng 30 phút là không cứu được, nó đớ, nó đơ ra, cái miệng méo qua một bên, nói chuyện âm thanh bị đổi giọng. Thì như vậy chúng ta mới thấy nhiều lắm, chỉ cần cái phong đại mà nó dừng một cái thôi, là bán thân bất toại, hoặc như đời sống thực vật.
Hoặc là trên cơ thể mình nhiều khi nó méo miệng, mắt mình cũng đổi, đủ thứ kiểu trên cơ thể mình. Là những cái phong đại ở bên trong cái duyên nó phát khởi vận hành không đủ, nó bị trục trặc chỗ nào đó, như vậy là rồi xong. Vậy thì cái nào là mình, cái nào là của mình, ai đang đi, ai đang nói, ai đang làm. Mà mình làm mình nhận: “Tôi đang làm đó, tôi đang làm công chuyện mà chứ kêu kêu tôi hoài”. Sân si lên, bản ngã, sân hận rõ ràng hết trơn, không thấy pháp gì hết. Một cái tôi to lớn: “Công chuyện quá xá quà xa”, rồi so sánh người này với người kia: “Tôi làm nhiều, người kia không làm. Sao không kêu người kia mà cứ kêu tôi hoài vậy”. Như vậy là vận hành trong cái tâm vô minh, bản ngã, không có thực hành pháp.
V. An trú chánh niệm – Quán thân, phá ngã chấp
Nếu mà làm như vậy là cũng có phước, nhưng mà phước hữu lậu, hữu vi. Với một cái tâm hơn thua, sân hận, bản ngã để làm việc. Thì làm rồi sẽ so sánh làm ít làm nhiều, hay dở, cao thấp, đúng sai, người này người nọ, nhân ngã bỉ thử. Tại vì không thấy pháp, nếu như làm mà mình an trú cái tâm: “Đây là đất nó làm, gió nó đang làm, lửa này lạnh ngắt nằm đây rồi ai làm, làm cái gì, người nào”. Nếu mình an trú như vậy, mình quán tứ đại, thì chỉ cần hơi thở thôi mình đưa nó trở về. Thì lặp tức mình trở về Thánh tri kiến, Chánh kiến được thành lập. Trong mỗi hơi thở, trong mỗi bước chân, trong mỗi lời nói, trong mỗi hành động, nhất cử nhất động thi vi của mình.
Mình qua niệm phần oai nghi hành động, thì đều là phong đại vận hành hết. Mình vừa bước đi, mình an trú, mình thấy: “À gió, đất, nước, lửa đang vận hành. Trong này không có cái nào là tôi, không có cái nào là của tôi, không có cái nào là tự ngã của tôi”. Như vậy cái đi, cái làm, cái thở, cái thi vi của mình đang an trú trong Chánh kiến. Chúng ta thấy cái sự tu tập của mình nó nhỏ nhiệm, vi tế như vậy. Mình cứ an trú, cứ nhắc, cứ tác ý như vậy, mình có nhắc thì phải nhắc cái tâm mới được, không nhắc thì cái trí huệ nó đâu có sanh. Tất cả các pháp đều lấy tác ý làm sanh khởi, lấy niệm làm tăng thượng mà. Bây giờ mình không tác ý, thì cái trí tuệ nó đã không sanh.
Mà mình không có nhớ nghĩ, thì trí tuệ nó không có lớn lên, không có tăng thượng được. Mà nó không tập trung tâm ý vào cái đó, thì như vậy nó sẽ không có được một sự vững trú ở trong tâm, không an trú được định tướng đó, cái tri kiến đó nó qua mất tiêu. Cho nên mình học xong rồi là trí tuệ bắp vế, như để viết, để tập, để bánh kẹo trên bắp vế, học xong rồi đứng vậy là nó lọt xuống hết. Đức Phật kêu bằng trí tuệ bắp vế, đứng lên rồi là xong. Ra khỏi giảng đường, ra khỏi thiền đường rồi là trả Phật, trả thầy rồi xong: “Tôi bệnh nào cũng tật nấy thôi”. Cho nên mình an trú pháp, mà khi trở ra rồi mình vẫn an trú pháp. Bữa đó mình học cái gì thì mình duy trì càng lâu càng tốt, duy trì cho đến lúc nào mà có thể duy trì được thì cố gắng duy trì.
Thì cái pháp đó nó hằn sâu, nó còn lại, nó tồn động lại trong tâm. Như vậy sự tinh tấn của mình trong 4 cái tinh tấn, cái cuối cùng đó là chế đoạn tu trì, chế ngự 6 căn, đoạn trừ tham sân si, tu tập tứ niệm xứ và giữ gìn các thiện pháp. Phải giữ được những cái pháp mà mình đã học, đã tu, đừng để cho nó mất. Thí dụ sáng nay mình học trải từ vô lượng tâm đó, nếu mình trải xong rồi mình trở về nhà mất tiêu, mình bỏ luôn là thôi rồi rồi. Mình về là mình phải nhớ, mình mở bài đó lên mình nghe, mở bài đó lên mình thiền, rồi mình viết những cảm thọ của mình. Rồi mình cứ nhớ, cứ tác ý thường, nuôi dưỡng ngày một chút. Thì từ từ những cái pháp đó nó sanh khởi, tăng trưởng, lớn mạnh, trú vững trong cái pháp đó.
Đức Phật nói: “Một cái pháp nào tu tập cho nó vững trú, tu tập cho nó cỗ xe, tu tập thành căn cứ địa, tu tập thành thành quách. Cho cái pháp đó nó chứng nhập, chứng đắc cái pháp đó luôn không có mất”. Ít nhất phải 70, 80 %, rồi lần lần tăng lên thêm, cho tới mức độ đó là mình ổn rồi, rồi lần lần cứ từ từ tăng lên thêm. Thì như vậy thì làm sao để chúng ta thấy được trong một hơi thở, mình kết hợp để mình phá luôn cái chấp ngã ở trong cái tứ đại. Thí dụ mình bây giờ đáng ngồi ở đây nó tê chân, hay nó mỏi chân, mỏi lưng hay đồ mồ hôi ở trong nó khó chịu. Thì bây giờ qua 2 cảm thọ, cảm thọ thân và cảm thọ tâm nó khác nhau. Cái thân nó khó chịu, nó đưa qua cái tâm bực bội luôn, cái tâm không có trú pháp được.
Thí dụ mình ngồi mà mồ hôi đổ, hay là bữa đó nó tê cái gì đó, rồi bị cái tê, bị cái mệt đó rồi mình hết trú pháp được luôn. Là từ cái thọ thân, mà nó xâm chiếm qua cái thọ thân, thọ thân khác, thọ tâm khác. Bây giờ mình làm thế nào để mình thấy rõ được trong sự quán chiếu này, mình biết mình tác ý. Mình ngồi đây đang ngồi thiền: “Cái đống đất này, đống thịt mủ máu, đống tro tương lai này. Không có gì là tôi, không có gì là của tôi, không có ai ngồi đây hết. Đây chỉ là đất, nước, gió, lửa”. Mà phải mạnh, tác ý một cách xát quyết cơ, chứ không thôi nói mà cứ cười cười chứ: “Tôi rõ ràng ngồi đây mà sao nói tôi cục đất trời”. Thì cái tâm đó là cái tâm chống đối với Thánh trí, mà cái tâm như vậy không thể nhập pháp được.
Đó là cái chỗ khó, là cái chỗ con chỉ cần nói 2 chữ thôi là “nghe lời” là nhập lưu. Chịu nghe lời không? Thế Tôn nói: “Này các đệ tử, các Tỳ-kheo, các ông hãy tin ta, ta đã chứng ngộ rồi, các ông hãy làm theo đi rồi các ông sẽ được chứng ngộ như ta”. Mà giờ không chịu tin rồi làm sao, rõ ràng nói là cái này vô ngã, không có tôi gì hết trơn nha. Ở dưới: “Con ngồi đây vậy là ai thầy?” Cái tâm nó chống như vậy đó, thì làm sao nhập lưu được, nó nghịch lưu chứ không chịu nhập lưu mà. Phá cái ý niệm, ý hành, ý nghĩ, khẩu hành đó, diệt tận nó, phải diệt cho được cái đó. Một khi mà nó nghe rồi, là nó đi theo liền, mình thấy rõ ràng đây là một đống thịt. Mình thấy rõ ràng đây là sự thật mà, là cái tâm mê nó chống đối.
Cho nên mình nhìn đây ha, cái gì mà mình được học trong Thánh trí này là bàn tay hướng lên, còn cái mà mình chưa được học từ hồi đó tới bây giờ là cái bàn tay hướng xuống. Mình thấy rõ con diễn tả không ạ, cần đưa cao lên nữa không. Một cái tâm mê, tâm chấp ngã, tâm tham sân si của mình là nó hướng hạ, còn cái Thánh trí nó hướng thượng. Cho nên “phương thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn”, một cái nó đi lên, một cái nó đi xuống. Cái tâm mê thì nó đi xuống, nó đi kiếm gọi là thiên đường có lối không người đến, địa ngục không cửa mà cứ chui vào. “Thiên đường hữu lậu vô nhân đáo, địa ngục vô môn hữu khách tầm”. Là cái chỗ Thánh trí là Đức Phật kêu như vậy đó, cứ giơ tay ra mà nói: “Không, con mất chơi mấy cái này, mấy cái này vui”, phải không?
Rồi chìm đắm trong biển khổ, rồi khóc, rồi chạy ra la: “Trời ơi con khổ quá khổ, Đức Phật cứu con”. Mà bây giờ giơ tay ra lại không nắm, nắm mấy cái cục, cái cái tờ gì đó. Nói cái là hiểu liền à, thông minh ghe ha, mới nói cái hiểu liền. Thì như vậy mình phải hiểu được Thánh trí ở trên hướng thượng, và một tâm mê hướng hạ. Bây giờ mình đem Thánh trí này, mình kéo cái tâm mê lên. Hằng ngày, hằng giờ, hằng phút, hằng giây, mỗi cái suy nghĩ, hình bóng, cảm thọ, thì mình đều dùng cái tâm hướng thượng này níu cái tâm hướng hạ này, kéo nó lên. Rồi ngày mai, ngày mốt mình sẽ được học bài thiền quán, rồi nói tâm nghe, rồi mình tập nói chuyện với tâm của mình, là cái cách như lý tác ý.
Mình nói hoài, mình rảnh là nói chuyện với tâm thôi: “Tâm ơi tâm mình mê đủ rồi tâm, mình khổ đủ rồi tâm, giận hoài chi vậy”. Giận con, giận chồng, giận cháu rồi riết không ai lại hết trơn. Rồi bệnh nó bỏ cho nằm luôn, rồi còn giận, còn tức hơn nữa. Nó lại thì la, mà không lại thì cũng giận, bởi vậy không biết làm sao. Bởi vậy nói: “Tâm ơi tâm đừng có giận nữa, đừng có đúng sai, hơn thua gì hết trơn. Xả bỏ hết đi tâm, mình khổ đủ rồi tâm, mình nắm như vầy nó mệt mỏi, mình vác như vầy mệt mỏi”. Mình gánh cả một gánh nặng của sắc, thọ, tưởng, hành, thức, rồi gánh nặng của sanh, già, bệnh, chết. Rồi gáng nặng của tham, sân, si, dục, ái, vô minh, bản ngã. Bao nhiều gánh nặng tranh giành, giành giật, đấu đá, hơn thua đủ thứ hết trơn.
“Trên cuộc đời này bao nhiêu gáng nặng, thôi bỏ đi, buông đi. Tâm buông xả là tâm hạnh phúc nhất đó nghe tâm. Khi lúc nào rãnh thì kêu hoài như vậy, cứ niệm cái tâm xả hoài như vậy đó. Bây giờ mình nhớ mình giận làm chi vậy, khôn quá ha, nhớ đặng giận đặng cho khổ vậy đó. Xong rồi nhớ cho thương cho có ray rứt, đau đớn vậy đó, chi vậy? Đức Phật gọi đó là Chánh niệm tĩnh giác, trú xả. Không phải chỉ xả đối với đối tượng bình thường, mà xả với đối tượng thương hoặc là ghét. Mình xả 2 cái đó là cho mình khổ, mà cái bình thường cũng xả luôn. Trú xả, Chánh niệm tĩnh giác. Trú xả như vậy, mình thường thường vận dụng, mình dùng tất cả những phương pháp tác chiến, chiến lược, chiến thuật, mình dùng đủ thứ kiểu hết trơn.
Bị vì mình đi đánh trận mà, có đánh trận không? Ngồi im ru hết trơn vậy? Có biết đánh trận không? Có vũ khí chưa? Ba mươi bảy con không có kêu là phẩm trợ đạo, mà con kêu là 37 Chánh giác trần. Ba mươi bảy phần đó, là 37 phần Chánh giác của Đức Phật. Không có kêu là trợ đạo, 37 phần đó là 37 Chánh giác phần. Là phải vận dụng nó một cách thiện xảo, đa năng, đa dụng. Một cách khéo léo, linh hoạt, và hết sức nghệ thuật và tinh vi. Sử dụng nó một cách tối đa, vận dụng hết tất cả những pháp mà mình được học. Mình vận dụng nó một cách khéo léo, để mình đánh phá một cái tâm vô minh, tham ái, chấp thủ, hôn mê, sân si. Đánh dập dập suốt ngày suốt đêm, bất cứ lúc nào.
Từng một cái suy nghĩ là mình đánh phá nó liền: “Dám chống lại hả, chẻ cái đầu mày ra. Mày chấp hoài phải không? Mày hổn hả? Chẻ cái đầu mày ra”. Dập nó, đánh hoài, mở mắt ra đánh trận, nhiều khi ngủ nằm chiêm bao cũng đánh trận luôn. Gật đầu liền phải không? Có đánh trận trong giấc chiêm bao không? Cái tâm tỉnh giác là trong giâc ngủ mình vẫn đánh phá các tham, sân, si, bản ngã, dục ái, lậu hoặc. Như vậy là mình quán chiếu để mình phá chấp ngã trong tứ đại này, phá cái bản ngã trong cái tứ đại. Mình quán hoài, quán nhiều lên, càng nhiều càng tốt. Mình thích đề mục về đất thì mình quán đất, còn mình về gió thì quán gió, thích về nước thì quán nước, mình thích đề mục về lửa thì mình cứ quán lửa.
Mình cứ quán hoài như vâỵ, mình cứ nhắc hoài, nhắc hoài như vậy. Mình nhìn thấy nước tiểu, mình nhìn thấy máu, mình thấy nước miếng, mồ hôi, nước mắt. Rồi mình thấy những gì ở trong cơ thể mình, những cái chất dịch, những gì tiết ra dơ dáy bẩn thỉu, mình quán hoài: “Mình tìm đâu cái ta, mình tìm đâu cái tôi trong cái bất tịnh, dơ tanh này”. Mà mỗi lần thấy vậy là mình cứ nhắc hoài, mình tác ý hoài. Mà nếu mình tác ý, mình nhắc hoài, mình quán hoài, mình nhớ hoài như vậy thì cái trí tuệ nó được thành lập. Nó hiện hữu, có mặt, tồn tại, vững trú trong tâm mình. Rồi khi nó xuất hiện là mình biết: “Tao biết mày nha mạy, thằng này tên Tèo nè, chuyên môn ăn cắp phải không?” Mình nhìn nó 1 cái là nó chạy mất dép, nó sợ quá chạy.
Có biết mấy thằng ăn trộm không? Mấy thằng? Năm thằng ăn trộm. Có gặp thằng nào chưa? Gặp thằng tưởng nhiều hả, nó ăn trộm suốt ngày mà. Nhiều khi ngồi đây chứ nó ăn trộm thời gian đó, đang ngồi thiền cái nhớ nhà, nhớ con, nhớ này nhớ kia cái không có an trú trong pháp, lúc đó là ăn trộm đó. Trộm mất thời gian tu của chính mình, nó dụ mình giữ lắm. Như vậy thì mỗi một cái pháp mình được học, mà mình nhớ, mình nghĩ, mình niệm, mình tác ý, mình quán cái pháp đó. Thì chỗ đó mình thành lập được 1 cái trí tuệ trong tâm, mình có thêm 1 vũ khí để đánh giặt. Nhớ kỹ cái này nha, đó mới gọi là 37 Chánh giác phần đó. Như vậy mình nãy giờ chỉ kết hợp hơi thở với tứ đại thôi đó, còn biết bao nhiêu pháp để mà mình học nữa.
Mình tập khi nói, mình thấy gió nó đang vận hành, mình không thấy ai, không thấy cái ta nào đang nói hết. Tách chữ ta ra khỏi, không có gì là ta, không có gì là của ta, không có gì là tự ngã của ta. Tách cái chữ đó ra, gỡ cái chữ đó ra, xóa cái chữ đó trong tâm. Gạch khỏi trong cái suy nghĩ, trong cảm giác, trong hình bóng, gạch bỏ, xóa nhòa nó từ từ.
VI. Tinh tấn thực hành – Dùng pháp làm vũ khí đoạn trừ phiền não
Rồi khi mình nhớ về mình, mình cúi cái đầu, chấp cái tay xuống xong rồi mình quỳ cho nó nằm dài xuống, rồi cuối cùng nó hiện ra bộ xương. Cuối cùng mà hễ nói về mình cái nó hiện ra đống tro, bộ xương, nùi giẻ. Như vậy đó là mình dùng cái tưởng, để diệt cái tưởng. Đức Phật dạy mình hay lắm, đủ thứ kiểu hết.
Ôm bình bát đi xin: “Nè, tao cho mày bản ngã nghe không, tao cho mày ăn mày đây nè, ở đó mày cao ngạo. Cho mày đi ăn xin, cho mày hết cao ngạo”. Tự nhiên lúc đó gục đầu xuống: “Xấu hổ quá, đi ăn xin mà có gì đâu cao ngạo, cúi cái mặt xuống dùm cái đi”. Người ta lại người ta lạy, mình cúi đầu xuống xấu hổ, mình coi lại coi tu giới đức, thiền định, trí tuệ coi được cao nhiêu, có dám hất cái mặt lên không. Cúi xuống, người ta lạy pháp chứ không có ai ở đây hết trơn, đây chỉ là một đống dục ái, vô minh, tham sân si, bản ngã, không có ai ở đây hết. Người ta lạy đó là lạy pháp, lạy tứ thánh đế, lạy bát Chánh đạo, lạy pháp thân của Phật. Chứ không phải là lạy cái thây thúi này, mình tác ý như vậy đó.
Thì lúc đó mình không có thọ cái lạy đó, cái ngã mình không có tăng, mà nó càng mòn xuống. Rồi nó càng tăng lên cái tàm quý, tăng thượng giới, định, tuệ, tăng thượng Thánh trí tuệ, đó là cách quán khi người ta lạy. Chúng ta thấy không, cho nên chúng ta học nhiều lắm, vận dụng nhiều khía cạnh, phương diện, góc độ, đánh phá vô tất cả các mặt của vô minh, tham ái, chấp thủ. Chứ đâu có chuyện mà vô niệm 1 câu, hay ngồi thở vô thở ra là xong đâu. Không có đơn giản như vậy đâu, đừng có mơ em ơi, nằm mơ giữa ban ngày. Tưởng đâu niệm 1 câu là xong, đừng có mơ. Tu muốn chết đây nè, mà còn chưa chắc chiến đấu với 5 cái thằng ác độc nó giết người này.
Mình chưa có học bài kinh “Rắn Độc”, 4 con rắn độc, rồi xong tới 5 tên giặt, rồi xong kẻ sát nhân nó truy đuổi với mình như bóng với hình, nó giết mình tối ngày. Tứ đại, ngũ uẩn, lục căn, lục trần, lục thức nó dập mình 18 giới nó bủa vây, nó phong tỏa mình. Phong tỏa mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Bao nhiêu những thứ bên trong, tham, sân, si, dục, ái, vô minh, bản ngã nó trùng trùng ma trận. Nếu mà tu dễ quá thì ai cũng đắc đạo hết trơn rồi, thành Thánh quả quá trời rồi. Ngày đêm nhìn ngó, quán chiếu, đánh phá, tư duy, thiền quán, không có lúc nào là không nhớ pháp hết.
Người mà chân tu thật học là lúc nào cũng tu niệm về pháp, tư duy về pháp, quán chiếu về pháp. Ưa thích pháp, quán chiếu pháp, hạnh phúc pháp, nhớ nghĩ pháp, an trú pháp, tu tập pháp, ăn uống, thở, nằm, ngủ, sống chết với pháp luôn - nhập Thánh quả. Bây giờ nó khổ chưa? Thân này bây giờ mình quán sắc, tứ đại. Ở trong cái tứ đại này nó đủ thứ hết, vô thường, khổ, vô ngã trong này. “Thôi mình tội nghiệp nó, cho nó đứng lên chút xíu đi, tội nghiệp nó cho nó tu. Tội nghiệp nó lắm, nó bằng đất chứ tội nghiệp lắm”. Chúng ta trở chân đứng lên, rồi đảnh lễ 4 dự lưu phần.
VII. Trí tuệ vô thượng của Thế Tôn
(Đại chúng đảnh lễ 4 dự lưu phần)
Cho nên trong kinh thường tán thán Thế Tôn là bậc minh kiến, thấy rõ. Một bậc pháp chủ, bậc pháp nhãn, bậc pháp bổn, bậc pháp vương. Vì Ngài thấy hết ngóc ngách, căn nguyên, nguồn cội sanh diệt của thân tâm, thế giới. Chẳng hạn như về thân này thôi, Đức Phật đưa ra 7 trí tuệ cho chúng ta thấy. Về phần sắc, tại sao chúng ta có cái thân này? Thân này do cha mẹ sanh, do cơm cháo chất chứa nuôi dưỡng, vô thường, tan nát, hủy hoại, hoại diệt. Thức ăn tập khởi, cho nên thân này, sắc này tập khởi. Thức ăn đoạn diệt, cho nên thân này, sắc này cũng đoạn diệt. Thì Đức Phật trình bài cho mình thấy được tại sao mà nó có sanh ra được cái thân này, và làm sao cái thân này chấm dứt và làm thế nào thoát ra khỏi cái thân này.
Đức Phật trình bày hết cho mình luôn, 7 trí tuệ: Sắc sanh, sắc diệt, sắc diệt đạo, vị ngọt, sự nguy hại, sự xuất ly. Tại sao có mặt cái thân này? Đức Phật trình bày. Vì sao cái thân này chấm dứt? Đức Phật trình bày cho mình biết. Thân mình được cấu tạo như thế nào? Đức Phật trình bày cho mình biết. Vị ngọt của nó là cái gì? Rồi sự nguy hiểm và tác hại chúng ta được học mà, thiền quán đó chúng ta nhớ không? Nguy hiểm và tác hại của cái thân này. Rồi làm thế nào để thoát ra khỏi cái thân này, xuất ly của sắc? Gọi là Chánh đẳng chánh giác là như vậy đó. Mỗi một cái pháp như vậy trong ngũ uẩn, được Đức Phật chỉ ra cách, cái nguồn gốc, căn nguyên, gốc rễ, bản chất thực sự của nó là cái gì.
Đó là do tứ đại tác thành, do cha mẹ sanh, do cơm cháo nuôi dưỡng, thức ăn tập khởi cho nên cái thân này tập khởi. Có thức ăn cho nên nó sống, không có thức ăn thì nó chết. Tại sao thân này sanh ra? Vì vô minh, tham ái, vì nghiệp mà nó hiện hữu. Vị ngọt của nó là cái gì? Là nó đem lại cho mình sự yêu thích, khoan khoái, thíc thú. Phàm dục gì, hỷ gì sanh khởi lên từ cái thân này, những cái ham muốn, thích thú, khoan khoái, tự hào, vỗ ngực xưng tên, ta đây: “Tôi là như vầy nè, tôi là phải như vầy nè”. Vỗ ngực xưng tên: “Biết tôi là ai không?” Đó là vị ngọt của cái thân này. Vị ngọt nó chống tàn, vì nó vô thường, biến đổi, tan hoại, hủy hoại, hoại diệt.
Cho nên song song với vị ngọt đó là vị đắng, là sự nguy hiểm và tác hại của nó. Tức là sự vô thường, sự biến đổi, sự hủy hoại, sự hoại diệt của nó. Mà tùy theo cái nghiệp, nó có thể biến đổi trong 1 ngày. Cũng như vừa rồi con có gửi lên một tin nhắn, cho chúng ta thấy. Một vị danh tiếng, nổi tiếng, sáng hay tin bệnh ung thư là buổi chiều đột quỵ. Đang ở trong đỉnh cao của danh vọng, tiếng tăm, sắc đẹp, tiền của, địa vị, thành công như vậy. Đâu phải một người như vậy, mà là đã rất nhiều, thậm chí chưa sanh ra là đã chết. Chưa được mẹ sanh ra thì đã chết, hoặc vừa mới sanh ra thì mẹ chết, hay con chết hoặc 2 mẹ con đều chết. Có thấy cái này không ạ? Có nhiều không?
Tại vì mình không có làm bên mấy nghành đó, mình mà làm mình thấy những con số nó nhảy lên là mình khủng khiếp, khủng hoảng lắm. Một ngày như vậy không biết bao nhiêu người chết vì tai nạn giao thông, vì phá thai, vì ung thư, vì hút thuốc, vì nhậu nhẹt, vì tai nạn lao động, vì thiên tai, vì những tai nạn bất ngờ...nhiều không thể nào mà kể hết. Nội bây giờ mà tính nắng nóng này thôi mà chết trên 500 ngàn người, chỉ có khí hậu biến đổi thôi đó. Thành ra nhiều khi cái tâm mình không thấy, không biết, không hiểu, cái tâm vô minh nó che đây. Rồi mình nghĩ: “Tôi đây cứng chắc lắm, tôi đây dễ gì chết. Ai bệnh ai chết chứ tôi đây dễ gì có vụ chết, mất chục năm nữa.”
Thì cái nghĩ đó là cái nghĩ vô minh, không thấy được sự nguy hại, sự nguy hiểm, sự vô thường, sự biến hoại, hủy hoại, hoại diệt của sắc. Cho nên sáng nghe tin bị ung thư, chiều đột quỵ trong 1 ngày thôi, tất cả đều trở thành mây khói, trở thành đống tro tàn. Tất cả bao nhiêu những tuổi thơ, những cái mình học hành, kiến thức, danh vọng, địa vị, tiền bạc, tài sản, bao nhiêu mọi toàn tính của mình chỉ trong tích tắc cái thôi rồi xong. Có nhiều người người ta đứng nhìn căn nhà người ta bị sạt lỡ xuống sông, nước mắt tràn ra. Suốt cuộc đời giành dụm được căn nhà, bây giờ 60, 70 tuổi rồi đứng nhìn tất cả tài sản tích góp cả cuộc đời, bây giờ nó ùm xuống sông, tức tưởi, nghẹn ngào, đao khổ. Đó là cái vật ngoài thân, huống chi hồ cái thân này bất thình lình.
Như vậy mình mới tu, như vậy mình mới lên núi, như vậy mình mới đi cầu đạo. Chú nếu mà nó thường hoài như vậy, thì mình cần gì phải đi tu. Vì tất cả rồi nó chỉ trong tích tắc, trong chớp mắt, trong một hơi thở không đầy 5 giây. Tất cả rồi tan biến trong hư không, thành trống không, rỗng không, thành vô nghĩa. Như vậy mà mình có cái thân này, là nó quý biết bao nhiêu mà nói. Mà nhất là mình gặp Thánh pháp tối thượng Nikāya nữa, thì tu chết bỏ, không sợ gì hết. Mình có sợ thì sợ mấy thứ tham, sân, si, dục, ái, vô minh, bản ngã lôi mình xuống sa đọa. Chứ cái này cho mình hướng thượng, mà sợ cái giống gì mà sợ, tới bến luôn. Lên cổng trời luôn, nhập lưu luôn, vô dòng Thánh trí tuệ luôn.
Vinh quang, vinh dự, vinh hạnh, vinh hiển, “nhất nhơn thành đạo, cửu quyền thăng”. Một người thành đạo đúng theo Thánh pháp, Thánh đạo như vậy, thì 9 đời cửu quyền ông bà cha mẹ mình thang thiên hết. Đem Thánh trí tuệ mình chia sẻ, mình giúp đỡ, lan tỏa, hướng dẫn, dìu dắt, hỗ trợ. Bằng chứng là đó mình thấy không? Dẫn chồng, dẫn cha mẹ, dẫn con lên tu, vui không, cạo đầu hết ráo. Như vậy mình thấy được trí tuệ của Đức Phật, rồi đi trở lại vấn đề Đức Phật dạy mình: “Nè con, con biết cái thân này nó cấu tạo, yếu tố, thành phần nó không? Con nhìn con thấy mắt, mũi, miệng, tay, chân, rồi mấy chục cái răng, bao nhiêu cọng này nọ kia, da thịt đồ vậy đó.
Chứ thật sự con nhìn xem chỉ có 4 thứ kết hợp thôi con: Cứng, ướt, nóng và động. Nó không có giống như con nghĩ đâu, đó là 4 yếu tối kết thành thân này. Rồi trong này có bao nhiêu bộ phận? Con nhìn kỹ đi. Tóc, lông, mống, răng, da thịt, gân, xương, bao tur, lá lách, ruột già, tim, gan, tỳ, phế, thận. Bao nhiều phân, mật, đàm, mủ, máu. Nhìn cho kỹ đi, chỉ có nhiêu đây thôi, đây là những bộ phân lắp ráp, kết hợp ra cái thân con, con nhìn rõ không”. Đức Phật chỉ cho chúng ta thấy, không có chỗ nào thiếu hết á. Mà hồi xưa thì nhìn bằng cái gì? Phật nhãn, thiên nhãn, nhìn là xuyên thấy hết các bộ phận trong cơ thể. Mà tới bây giờ khoa học dập đầu lạy, Đức Phật đi trước hàng ngàn năm.
Những cái thấy biết của Ngài, mắt Ngài nhìn xuyên hết. Với con mắt thanh tịnh siêu nhân, nhìn thấy hết tất cả. Nó lắp ráp như vậy đó, mà tới chừng nó chấm dứt qua 9 giai đoạn phân hủy. Ngài trình bày hết trong kinh “Tứ Niệm Xứ”, và trong khóa tu này mình phải cho tụng ít nhất 1 lần về kinh “Niệm Xứ”, cho đại chúng làm quen. Đức Phật trình bày hết trơn, từ đâu nó sanh ra, sanh ra những thành phần cấu tạo là cái gì (đất, nước, gió, lửa. Bao nhiều bộ phận (32 thể trượt), rồi tham, sân, si, dục, ái, vô minh, bản ngã, giành giật đã đời, rồi cuối cùng nằm xuống (9 giai đoạn tử thi) phân hủy rã rời, trở về cát bụi, gió thổi bay vào hư không. Chúng ta sẽ có thiền quán 9 giai đoạn tử thi, thiền quán tứ đại đều có hết.
VIII. Tác hại của sự chấp thủ thân này
Đó là Thánh trí tuệ về thân xác này, tối thượng, vi diệu không? Chánh đẳng, chánh giác về thân này. Như vậy mà còn đi tìm học với ai? Cho nên hồi nãy có nói đó, có học hết trơn kiến thức ở trên địa cầu này, nhưng mà đối với Đức Thế Tôn thì vẫn là vô học. Vô học không phải là bậc A-la-hán đâu, vô học ở đây có 2 nghĩa lận. Là phàm phu vô văn không được học thánh trí và các bậc thánh đã học xong hết rồi, tốt nghiệp thì không cần học nữa, thì gọi là vô học thánh nhân. Cho nên phải đặt thật nhiều thời gian, vào sự học thánh pháp này. Thật ra khóa tu trong 2 tuần này là con nhắm chúng ta thể nhập tu tập Chánh tri kiến, con không nhắm chúng mấy cái khác.
Chúng ta cứ tác ý, cứ hiểu ra, cứ mở ra, mở sáng ra tất cả các góc độ, khía cạnh, để chúng ta có một niềm tin với Chánh pháp. Bao nhiêu đó thôi là chúng ta đủ vốn xuốn núi, đủ vốn hạ sơn rồi. Học cái này để làm gì? Chuyển đổi nhận thức, chuyển đổi tư duy, thay đổi cách nhìn, phá vỡ vô minh, đập tan khát ái, xuyên thủng cái bản ngã này. Đánh cho nó gục ngã cái bản ngã ra, để nó nhìn ra nó thấy 1 sự thật bẽ bàng, một sự thật phũ phàng. Một sự thật mà nó phá vỡ tất cả những cái ảo tưởng, hư tưởng, mộng tưởng, huyển tưởng, điên đảo tưởng của mình từ vô lượng kiếp. Đó là ý nghĩa của khóa tu này, là mục đích, trọng tâm của khóa tu này. Là để cho mình: “Tới nay mới vỡ lẽ, vỡ mộng, vỡ ra cái khối vô minh, khối chấp ngã, mê lầm”. Chịu vỡ không?
IX. Thấy được lối thoát – Con đường giải thoát mà Thế Tôn đã chỉ dạy
Vỡ là nó bể cái vô minh ra, nó hiển lộ cái lẽ thật ra. Trong cái bài “Tâm Xã Vô Lượng”, bậc đạo sư dùng từ “nay ta vỡ lẽ”. Nó bể ra, nổ ra cái vô minh, chấp thủ, mà nó cứng chắc, thâm căn cố đế, tường đồng vách sắt vô lượng vô biên kiếp đến nay. Nó bị trái bom nguyên tử của thánh trí ngũ uẩn nổ tung, nổ banh xác, tan nát hết trơn hết trọi, nó rung rinh hết trơn. Có rung rinh không? Có cảm động, có chấn động, rung chuyển không? Gọi là gì? Gọi là tâm địa chấn động, địa chấn, động đất ở trong tâm, làm cho mình sáng con mắt ra, trố mắt nhìn ra. Vỡ lẽ nào giờ mình lại là chấp lầm vô, mình nắm lầm vô, cho nên mình khổ. Mục đích của khóa tu chúng ta là như vậy đó.
Ai mà muốn cho ngon lành, thì ở lại 6 năm, đúng ý hay sao cười dữ vậy. Cái phần quán thọ này chúng ta có nhiều bài lắm, để rồi chúng ta sẽ được học, cái này rất quan trọng. Cái cảm thọ này nó ngấm ngầm hoạt động, tất cả những cái suy nghĩ, hình bóng trong tâm, nhận thức thi vi của mình đều do cái thọ nó ngấm ngầm bên trong. Nó nung từ ở dưới nung lên, và nó có những suy nghĩ chạy loanh hoanh, hình bóng hiện mập mờ, nó chạy vòng vòng trong tâm. Là từ trong cảm thọ, cảm giác, cảm xúc của mình. Cái thọ này là mệt với ông thọ này lắm, chỉ cần ổng nổi cơn lên cái là xong. Mới ngày hôm qua hay hôm kia, có đứa cháu mà nó giết cậu chết luôn. Việc là nó đang nhậu, ổng thì nhà ở sát bên qua ổng chửi nó tối ngày cứ ăn chơi, nhậu không. Nó tức quá nó xử ổng ngay tại chỗ chết luôn, đưa tới bệnh viện không kịp.
Cho nên mình học Thánh trí, mình sẽ giải mã hết tất cả những cái gì gọi là bí mật sâu kín trên thế gian này. Cho nên Đức Phật gọi là bậc thế gian giải, thông giải tất cả các pháp thế gian. Thông giải tất cả tâm nhân tế, thông giải tất cả thế giới này. Thông giải tất cả mọi ngóc ngách, ngõ ngách, góc độ, phương diện, khía cạnh, sự vận hành của thế giới này. Là giải mã hết trơn ở trong ngũ uẩn này: “Này các Tỳ-kheo, trong cái thân 1 thước 8 này, Như Lai tuyên bố khổ, sự chấm dứt khổ và con đường diệt khổ”. Trong cái thân 1 thước 8 này, Như Lai tuyên bố về sự thật về khổ đau, sự chấm dứt khổ và con đường giải thoát khổ đau. Câu nói đó là rung chuyển trời đất, kinh chấn địa cầu hết trơn, khủng khiếp như vậy. Đức Phật dám dõng dạc tuyên bố, lời nói của người làm rung chuyển hết trời đất, chư thiên và loài người.
“Trong cái thân thước 7, thước 8, tại chỗ này Ta tuyên bố sự thật về khổ. Ta không có nói chuyện đâu trên trời, không nói chuyện ở đâu xa, quá khứ, vị lai gì hết. Ngay tấm thân này ta tuyên bố sự thật về khổ, nó nằm ở trong sắc, thọ, tưởng, hành, thức này. Nguyên nhân của khổ là dục, tham, ái, vô minh, bản ngã trong này. Chấn dứt khổ là khi nào hết vô minh và sạch hết tham ái, khát ái này là chấm dứt hòa toàn khổ đau, diệt tận hết tất cả khổ”. Như vậy đó mình đáng lạy từ lúc sanh ra cho tới ngày mình chết, mình lạy Phật vẫn chưa cảm hết cái ơn của Ngài, ân đức vỹ đại của Tam Bảo.
Nếu mình không gặp Chánh pháp, không thấy ngũ uẩn, không nhận diện được tham, sân, si, dục, ái, vô minh, bản ngã. Thì tới trầm luân vạn kiếp, muôn đời, không có bao giờ mà nghĩ có lối nào thoát ra hết. Không bao giờ, không có ngày, không có cơ hội, không có tia ty vọng, mãi mãi và vĩnh viễn trầm luân vô thỷ dòng luân hồi này. Không có nêu lên được sự khởi điềm và bắt đầu của nó, chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc. “Này các Tỳ-kheo, nước mắt mà các ông rơi còn nhiều hơn bốn biển mà các ông đã chảy ra. Nào là tai nạn, giao thông, động đất, sóng thần, nào là bao nhiêu dịch bệnh. Nào là mẹ chết, cha chết, ông chết, bà chết, những người thân thương mình.
Mình phải chịu đựng những đau khổ, chia ly, đau đớn như vậy. Mình phải chịu bao nhiêu đời, bao nhiêu kiếp nay rồi, chứ không phải mới cơn dịch bệnh này đâu. Mình chịu đựng không biết bao nhiêu lần như vậy, rồi mình cứ loanh hoanh, luẩn quẩn, lòng vòng không có lối thoát, không có đường ra. Chỉ có thánh pháp này có một con đường, có một đạo lộ, có một lối thoát, có một giải thoát, có một thoát đạo, cho mình một lối thoát đi ra cho mình. Thấy lối thoát chưa? Thấy rõ chưa? Bao nhiều phần trăm? Lối thoát là nhiếp phục dục tham và đoạn tận dục tham đối với sắc, thọ, tưởng, hành, thức, đó là lối thoát đó. Tại sao? Bây giờ mình giải mã bí mật.
Mình ham, mình thích, mình khoái, mình muốn cái thân này, cho nên mình có cái thân. Nhưng mà mình không quyết định được, cái thân gì thì do nghiệp quyết định. Cho nên khi nhắm mắt, thì lúc đó nghiệp quyết định. Nếu mà có phước thì được cái thân tốt, nếu không có phước thì được cái thân lông lá. Còn hơn nữa thì là cái thân của cô hồn, hay là địa ngục. Mà phải có cái thân, tại vì mình thích thân, muốn thân, khoái thân nên mình có thân. Bây giờ mình thích thọ không? Thích cảm giác không? Có thích cho nên có cảm giác, có thọ. Mình có thích hình bóng trong tâm không? Cho nên có tưởng. Mình có thích suy nghĩ không? Cho nên có hành. Mình có thích rõ biết không? Cho nên có thức.
Mình nói: “Thức là tôi mà”, “là tôi thấy”, “tôi biết”, “tôi nghe”, “tôi thấy rõ ràng nó như vậy mà”, “rồi tôi nghĩ”, “tôi cảm giác như vậy”. Rồi mình thích thú, khoan khoái, nắm giữ, chấp thủ trong này. Thì như vậy cho nên cái này có thì cái kia có, cái này sanh cho nên cái kia sanh. Cho đến khi mà mình hiểu ra được: “Ồ cái này là vô thường, là bệnh tật à nha”. Cái thân này bệnh đủ thức bệnh hết trơn, vô thường, sanh, già, bệnh, chết, tham, sân, si, ái đủ thứ hết. Ngán quá, ngán cháo chè quá, cháo mà pha chè vô ớn quá. Sợ quá, nhàm chán, li tham, từ bỏ, thì như vậy là không còn dính chạy vô mà chụp những cái thân nữa. Thoát ra khỏi cái thân đó, là lối thoát của thân, nhiếp phục dục tham, đoạn tận dục tham đối với thân xác, đối với sắc.
Nhưng mà cái sự quán của mình phải thành tựu, là sự chiêm nghiệm, suy tư àm xét về cái lẽ thật, vô thường, khổ, vô ngã của nó phải thấm, phải thấm thấu, phải viên mãn. Cho nên có một bài kinh Đức Phật nói tại sao lúc đó Ngài tu tinh tấn, mà Ngài chưa chứng Chánh đẳng chánh giác. Là Ngài quán sự nguy hiểm và tác hại của các dục chưa viên mãn, cho nên Ngài chưa chứng Chánh giác. “Đến lúc Ngài thành tựu Chánh giác, thì Ngài quán sự tác hại và nguy hiểm của dục ở trong sắc, thọ, tưởng, hành, thức này nó viên mãn, đồng đều, đầy đủ, tròn trịa hết tất cả mọi phương diện, khía cạnh, góc độ. Về sự nguy hiểm và tác hại của nó, sự nhàm chán, li tham từ bỏ nó, thì lúc đó ta thành tựu Chánh đẳng chánh giác.
Cái tâm từ bỏ sắc, thọ, tưởng, hành thức một cách hoàn toàn, viên mãn, triệt để. Không còn lưu luyến một chút xíu gì hết, dù cho một chút xíu cũng không có lưu luyến. Cũng không có sự ưa thích, khoan khoái và cho nó là vui sướng, Ta không có. Ta thấy nó là vô thường, khổ, vô ngã, bất tịnh”. Thì lúc đó Ngài thành tựu Chánh đẳng chánh giác, tâm Ngài hoàn toàn là viễn ly, nhàm chán, ly tham, từ bỏ sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Ngài thoát ra khỏi ngũ uẩn, thành tựu tâm bất động giải thoát, không còn chịu cảnh sanh, già, bệnh, chết. Ngài đạt được bất tử, thể nhập vào thế giới bất tử. Không còn bị sanh, đạt được cảnh giới vô sanh, bất tử.
Còn mình là sanh sanh - tử tử, tử tử - sanh sanh. Tại vì mình yêu sanh, mình thích sanh, mình khoái sanh, mình muốn sanh, cho nên bị sanh. Mà có sanh là có già, mà có già là có bệnh, mà có bệnh là có chết. Mà chết xong mà nó chưa hết, mà kiếm nữa thì nó sanh nữa. Nư vậy gọi là tái sanh, là sanh tới sanh lui, sanh đi sanh lại vòng vòng nó quay hoài như vậy thì gọi là luân hồi. Nó quay vòng vòng hoài như vậy, không có ngày chấm dứt.
“Tái sanh, tái khổ, tái sầu
Tái già, tái bệnh, tái làm thây ma”
Cho đến khi nào mình nhìn cái vòng sanh tử luân hồi, cái chết chết sống sống này. Cái tham, sân, si, giành giật, đấu đá, máu lửa, chiến tranh, những cái hơn thua của cuộc đời này. Mình thấy ngao ngán, nhàm chán, chán chê, não nề, gớm ghê, mình muốn thoát một cách hoàn toàn, mau lẹ, nhanh, cho nên mình có mặt tại Linh Quy Pháp Ấn. Rồi mình nghe càng ngày mình càng chán, càng ngán, mình viễn ly, ly tham, xả ly. “Những cái thứ đó là lửa than, rắn độc, là máu, là súng, lựu đạn, những cái thứ chất độc không nghe con. Thôi chạy mau, chạy nhanh, chạy lẹ, thoát nhanh, thoát lẹ, thoát xa chốn này”. Càng ngày mình càng thấm, càng thoát, rồi mình đi cái “rẹt” là lên luôn.
Lên bất hoàn thiên, tức là không trở lại thế gian này nữa. Con hay ví dụ cái này cho quý vị mới dễ hiểu. Nhiều khi mình đi đường dài, cái bụng mình kêu “rột rột”, nó quýnh ở trỏng. Mình muốn đi tiểu, hay đi đại gì đó, mình ghé vô cây xăng. Rồi mình mở cánh cửa vô một cái, rồi mình tá hỏa tâm tinh. Là cái hậu quả, tàn dư của người đi trước để lại 1 đống, khủng khiếp, kinh hãi và kinh hoàng. Mình thì chịu hết nỗi rồi, cũng ráng cho nó xong rồi đi ra. Mình nói vĩnh viễn không bao giờ quay trở lại chỗ này nữa, là bất lai Thánh quả. Mai mốt mà hễ nhìn thấy 1 cái là không bao giờ trở lại chỗ này nữa, là bất lai Thánh quả. Thì cũng vậy, các bậc Thánh nhìn cái thân này thì giống y chang như vậy, giống như cái đó, một đại khổ uẩn.
Sáng nay mình mới thiền quán xong phải không, đại khổ uẩn, mấy bữa nữa mình quán bài tiểu khổ uẩn. Một đống khổ mà nó bóc mùi khủng khiếp lắm, mình lại gần nó có bốc mùi không? Có nhiều người có mùi đặc biệt không? Mùi đặc biệt nó có nhiều nghĩa lắm. Nó vừa hôi, vừa dơ, vừa bẩn, mà ở trong đó là mùi của tham, sân, si, bản ngã, dục ái. Lại nói nói 1 hồi nhiều khi người ta đang tu, xúi người ta đừng có tu, người ta ăn chay xúi người ta ăn mặn. Cái mùi nó bốc ra đó, cái mùi kéo mình đi xuống, nó không muốn cho mình hướng thượng, thì mình phải biết những cái mùi đó. Cho nên các bậc hiền thánh khi mà quán chiếu thâm sâu, thâm nhập vô đây rồi, thì các ngài đi 1 cái “rẹt”. Không có lưu luyến, không có tiếc nuối, không có gì hết trọi.
Còn mình nhiều khi mình biết khổ đó, nhưng mà giờ bỏ uổng. Có đúng ý không mà bụm miệng cười đã vậy trời? Thấy tiếc tiếc nuối nuối phải không? Biết là khổ đó mà mình nhào vô kiếm ăn, lỗ mũi ăn trầu, cái đầu xỉa thuốc, u đầu sứt trán đã đời hết trơn ở trển. Rồi nó đánh cho tan tành như tương, xong rồi thì lúc đó mới nói: “Phật ơi con khổ quá, con quyết định chuyến này về Linh Quy không xuống núi nữa, tu giải thoát luôn”. Nó bầm dập tới vậy đó, cho nên thấm cái khổ, thoát cái khổ, đi ra khỏi khổ hoàn toàn, diệt tận cái khổ. Cái đó là giải mã đó, giải mã bậc thánh hiền. Cho nên mình tụng bài đảnh lễ đức hạnh ngài Xá-lợi-phất, mình nhớ trong đó sao không ạ?
“Ai nhàm ai chán nhìn thân xác
Các cỏi luân hồi chấm dứt ngay
Ai cười ai thích nhìn thân xác
Biển khổ mất thân sẽ dài dài”
Ai còn cười, ai còn thích, ai còn ham, ai còn khoái, thì cái khổ mất thân dài dài. Cứ hết thân này rồi đến thân kia, hết thân kia rồi tới thân nọ, ở hoài ở trong luân hồi này. Nhưng mà mình muốn ra khỏi luân hồi thì mình phải có cái tuần tự, đọa lộ. Trước hết thì mình phải nhận thức những cái ác và bất thiện pháp, nhiếp phục, chế ngự những cái đó. Tiếp theo đó mình tăng trưởng những pháp thiện, thì những cái thiện này đó mới đánh bại những cái ác. Lần lần 50-50, tới khi nó lên 70, 80 thì cái ác còn 30, 20, tăng lên 90, 100. Rồi ngay lúc đó là mình đi vào trong thánh trí tuệ, phá vỡ vô minh, bản ngã, chấp thủ. Như vậy là mình vượt lên trên cả thiện ác, thể nhập vào chánh trí giải thoát.
Chính vì vậy mà sự tu tập của người chánh kiến, người hiểu đúng về Phật pháp. Thì người làm điều thiện mà không có chấp thiện, cho nên cái bản ngã không có sanh. Không có cư công, không có khoe công, không có kể công, không có chấp vô cái công của mình. Vì người đó không có cái thấy, không có bản ngã: “Làm sao tôi làm nhiều hơn người ta”. Từ cái nhỏ người ta đã bắt đầu khởi động bằng chánh tri kiến, cho nên sự tu đó là công đức vô lậu. Đưa đến nhàm chán, đưa đến viễn ly, đưa đến ly tham, đưa đến từ bỏ, đưa đến sự thoát ra đối với cái bản ngã, đối với tham sân si, vô minh, dục ái. Nhẹ chưa? Khỏe chưa? Thấy được lối thoát chưa? Rõ thôi đứng dậy đi, bây giờ mình sẽ đi thiền hành.