Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Mở Cửa Bất Tử 3 - Kinh Sáu Sáu

2026-03-03 00:53:15
Mở Cửa Bất Tử 3

KINH SÁU SÁU

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Khuyến tấn tu tập PAGEREF _Toc112764734 \h 1

II. Trí về năm uẩn PAGEREF _Toc112764735 \h 4

III. Kinh sáu sáu PAGEREF _Toc112764736 \h 9

I. Khuyến tấn tu tập

Mong tất cả trong đại chúng, từ người xuất gia đến tập sự xuất gia, luôn luôn quán niệm sâu sắc rằng mình đã bỏ đi tình nghĩa rất thiêng liêng trên cuộc đời, đó là cha mẹ. Trong mùa Vu Lan Báo Hiếu, người ta cài cho nhau hoa hồng đỏ thắm đối với những người còn cha mẹ và hoa hồng trắng đối với người cha mẹ đã qua đời. Người ta có một người cha, một người mẹ để báo hiếu, để trả hiếu, dù cho cha mẹ đã mất rồi, họ cũng phải dâng pháp y, cúng dường, cầu nguyện để siêu độ. Hay cha mẹ còn hiện tại, thì người ta cũng mua một món quà, dâng một chung trà, rửa chân cho cha mẹ, mời cha mẹ bữa cơm, làm một nghĩa cử để bày tỏ lòng biết ơn.

Còn người xuất gia thì làm cái gì? Chúng ta phải khéo léo tác ý, khéo léo tư duy, khéo léo chánh quán, nếu không hai đường đều mất, “lưỡng đồ câu thất”. Các huynh đệ một lòng tin tưởng, quý mến Minh Thành, mới bỏ đi tình nghĩa thiên luân, không phải chỉ cha mẹ mà còn ông bà, cô bác, thân quyến, bà con, thậm chí có người bỏ vợ, bỏ con, bỏ công danh sự nghiệp, bỏ người yêu thương. Vì vậy, mình phải khéo léo chánh tư duy mỗi ngày, không phải đợi đến giờ học pháp, không đợi đến người khác nhắc, mà phải biết trân trọng từng phút, từng giây, từng giờ ở trong thiền môn. Mỗi giờ, mỗi phút, mỗi giây của mình có một ý nghĩa rất quan trọng, đem đến giá trị, lợi ích cho bản thân và những người mình yêu thương.

Đức Phật nói rằng đời sống xuất gia phạm hạnh không phải là tu đến chỗ không có thành tích, mà là phải mang lại lợi ích lớn, nhưng làm sao để mang lại lợi ích lớn? Minh Thành và đại chúng trong thời gian qua an cư ba tháng mùa mưa, đã dốc sức che một ngôi nhà đơn sơ, để mình tránh nơi ồn ào, và để cùng nhau hội tụ tu học, hành trì trong tinh thần hài hòa: thân, miệng, ý từ hòa; giới cũng như tri kiến cùng hài hòa; lợi ích cùng hài hòa và cùng san sẻ với nhau trong tinh thần của Chánh pháp.

Chúng ta bước vào khóa tu chánh tinh tấn, khổ luyện thành đạo trong 7 ngày, mỗi ngày tu 14 tiếng, các huynh đệ đã có sự tiến bộ, vững vàng hơn trên con đường thực tập theo những lời Đức Phật dạy trong Kinh Tạng Nikāya. Sau đó chúng ta bước qua một thời khóa tu tập mới, một ngày tu học, hành trì 12 tiếng. Theo lời Đức Phật dạy, khi nói, nghĩ, làm đều phải liên hệ đến mục đích. Mục đích ở đây là nhiếp phục dục tham, đoạn tận dục tham; nhiếp phục sân hận, đoạn tận sân hận; nhiếp phục si mê, đoạn tận si mê; thành tựu chánh trí; chứng ngộ Niết-bàn, đó là đời sống cứu cánh phạm hạnh của người xuất gia. Luôn luôn nhớ điều đó thì sẽ có sự lớn mạnh tăng trưởng trong thiện pháp, tăng trưởng trong tăng thượng giới học, tăng thượng tâm học, tăng thượng tuệ học. Tâm tâm niệm niệm, luôn luôn cảm thấy hổ thẹn những điều mình còn khiếm khuyết, thấy sợ hãi khi phạm những lỗi lầm.

Có như vậy mới là sự báo hiếu, sự trả ơn. Mỗi ngày của mình là mỗi ngày Vu Lan, mỗi ngày của mình là mỗi ngày báo hiếu, mỗi ngày của mình là mỗi ngày hoan hỷ, mỗi ngày của mình là mỗi ngày Phật quang hỷ nhật là ngày chư Phật vui. Chúng ta được lớn mạnh, trưởng mạnh, trưởng thành trong tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Còn bằng không mình không có hộ trì các căn, không có chú tâm tỉnh giác, không có tiết độ trong sự ăn uống, không có thành tựu được trí tuệ đối với sự sanh diệt của các pháp, thì mình sẽ sống trong sự quên lãng, không biết rằng người thân thương của mình đang mong đợi, đợi chờ, hy vọng.

Khi còn là Thái Tử ở trong rừng, Đức Thế Tôn khoác tấm vải thô thì Da Du Đà La cũng khoác áo vải thô. Đức Thế Tử ăn cơm một ngày một bữa thì Da Du Đà La cũng ăn một ngày một bữa. Thế Tử nằm dưới đất, dưới gốc cây thì Da Du Đà La cũng nằm dưới đất không nằm trên giường cao lớn. Da Du Đà La sống có tình nghĩa, tình thương. Cũng vậy, biết đâu mình ăn chay, cha mẹ mình cũng cố gắng ăn chay và tu theo, lấy làm hãnh diện trong xóm làng khi có đứa con đi xuất gia.

Chúng ta xuất gia thì phải khéo léo tác ý, không để cho đời sống trống rỗng trên chiếc áo cà sa này; không để cho kiếp này lãng phí ở trong hình tướng viên đĩnh phương bào, đầu tròn, áo vuông; không để cho một kiếp người của mình chỉ làm một con số không. Trong khi mình được ở nơi viễn ly, a lan nhã, tịch tịnh, chốn xa vắng, mà không thành tựu giới hạnh, trí huệ, thì đó là một chuyến ra đi của đại bại, thất bại lớn. Như người làm ăn xa xứ, xa xóm làng, xa quê hương, khi trở về thì được mọi người chào đón, bởi vì họ đem thành công, đem hoa trái, đem thành quả, thành tích kết quả về. Đức Thế Tôn Chánh Đẳng Giác khi trở về Ca-tỳ-la-vệ thì cả hoàng thành ra đón chào trong ánh hào quang, trong niềm vinh hạnh của vua Tịnh Phạn, của Da Du Đà La, của La Hầu La, của dòng tộc Sakya, của bà con thân thích khi Đức Phật đem ánh sáng trở về. Ngài Xá Lợi Phất cũng độ cho mẹ của mình trong lúc tuổi già. Những bậc Hiền Thánh Tăng phải khéo léo tác ý, những bậc A-la-hán đã ra đi không tiền khoáng hậu – lúc ra đi không có gì hết, nhưng khi trở về đem một khối trí huệ tối thượng mang lại cho người thân của mình.

Như vậy, tối thiểu chúng ta cũng thành tựu được Nhập Lưu. Trong cuộc đời này yếu nhất, thấp nhất, kém nhất cũng phải dự vào dòng hiền thánh, thành tựu trí huệ tự thân. Chúng ta phải đặt hướng thấp nhất là Dự Lưu, cao nhất là bậc A-la-hán là kiếp sống cuối cùng, chấm dứt dòng luân hồi. Đó là lý tưởng, mục tiêu nhắm đến của người xuất gia trong mùa Vu Lan. Chứ không phải mình chỉ gắn hoa hồng, hoa trắng, hay chỉ tổ chức những buổi Vu Lan cho người ta, vậy còn buổi Vu Lan cho mình là gì?

Ở trong đại chúng của chúng ta từ nay trở đi cố gắng chấn chỉnh, phấn đấu mạnh mẽ trong tinh thần tu tập, không có buông lung phóng dật như lúc trước. Mọi cánh cửa là luôn luôn từ cảm giác đi vào. Luôn nhìn nhận lại cảm giác của mình, soi rọi lại cảm giác của mình, trú trong cảm giác toàn thân, định tâm nơi thân (định tâm trên thân), để nhìn ra cảm giác của mình trong giây phút hiện tại. Đừng để bị cảm giác đánh lừa, đừng để bị lãng quên, đừng để cảm giác qua mặt, “đi hàng lậu” trước trí huệ kiểm soát của mình.

Ví sụ: Trên Đài truyền hình có chương trình Phút giây cảnh giác, chỉ cần một thời gian rất ngắn 10-20 giây là mất một chiếc xe. Cũng giống vậy, nếu trong sự tu tập không cảnh giác thì tham, sân, si qua mặt.

II. Trí về năm uẩn

Như vậy, đầu tiên, căn bản nhất là mình phải thành tựu được trí thấy biết về năm uẩn, không được quên. Sau khi thấy biết thì phải vận dụng, chứ không phải xong khóa tu thì trả lại. Chúng ta phải thường trực nhìn nhận, nhận ra, nhận diện, nhận rõ thân này là sắc, đừng lẫn lộn sắc là mình. Sự nhận diện năm uẩn trong đại chúng trước đây thường bỏ qua nhận diện về sắc, nhưng bây giờ phải đi chi tiết, không được chỉ nhận diện thọ, tưởng, hành, thức mà bỏ qua sắc.

Như vậy, phải nhận diện sắc uẩn như thế nào? Phải thấy rõ sắc là tứ đại, mỗi lần trình pháp, là phải trình pháp sắc, định nghĩa sắc là gì? Cho nên khi trình pháp, phải chú trọng về sắc uẩn chứ không lược bỏ, bởi vì sắc uẩn quan trọng, mình phải trình bày thân này là sắc uẩn, sắc uẩn là tứ đại tạo thành, trong thân tứ đại hiện tại đang như thế nào thì cần phải trình bày rõ.

Nếu thân đang bị nóng, bị lạnh, hay bị gió, thì phải trình bày để mình nhớ, chứ không phải chú trọng vào phần tâm, mà phần sắc bị quên. Thành ra pháp hành để mở cửa bất tử của mình ở đây là sáu phần, sáu mặt đánh vào sắc uẩn để tu tập, nên phần nhận diện sắc uẩn rất quan trọng. Chúng ta cũng phải nhận diện về cảm giác, phải biết cảm giác, không thể không biết. Phải nhận diện những hình bóng trong nội tâm, phải nhận rõ nội tâm có hình bóng gì và từ đâu nó xuất hiện? Phải nhận diện được suy nghĩ, xem mình đang có suy nghĩ gì? Phải minh bạch, tinh tường, sáng tỏ, chứ không phải suy nghĩ chung chung, không biết nghĩ gì? Phải biết rõ đang nghĩ gì, thấy rõ và nhận rõ nó. Thức phải rõ biết, thật là rõ biết.

Cho nên trong phần chánh kiến là trí thấy được năm uẩn rồi mới thấy được dục. Trong kinh “Khổ Pháp”, Tương Ưng Bộ tập 4, trang 306, phải thấy trí năm uẩn rồi mới thấy được các dục, tức là ái dục, bao gồm tham, sân, si. Nếu không thành tựu trí năm uẩn sẽ không thấy rõ được tham, sân, si. Thành ra nhiều khi mình nói là thấy tham, sân, si bình thường, nhưng không phải đơn giản như mình thấy, mà nó rất thâm sâu. Vì vậy, từ nơi thành tựu trí năm uẩn, mình mới nhìn nhận sâu sắc cảm thọ, cảm giác, từ đó mới phát hiện ra được ái dục tìm ẩn trong cảm giác, mới thấy căn cứ địa của phiền não, tham, sân, si, bản ngã. Khi thấy được căn cứ địa, chỗ xuất phát điểm, chỗ sanh khởi, chỗ an trú, chỗ diệt tận của chúng thì mới có phương pháp nhiếp phục từng phần, rõ ràng, cụ thể.

Trong bài kinh “Khổ Pháp”, Đức Phật nói:

Này các Tỷ-kheo, khi nào một Tỷ-kheo như thật rõ biết sự tập khởi, sự chấm dứt của tất cả khổ pháp, khi ấy, các dục được thấy. Khi vị ấy thấy dục (kàmà), thời dục (kàmachanda), dục ái, dục mê, dục nhiệt não đối với các dục không có tùy miên nơi vị ấy. Như vậy, sở hành và sở trú của vị ấy được giác tri. Vì rằng, do sở hành như vậy, các tham ái, ưu, bi, các ác bất thiện pháp không có tồn chỉ.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo như thật rõ biết sự tập khởi, và sự chấm dứt tất cả khổ pháp?

Ðây là sắc, đây là sắc tập khởi, đây là sắc đoạn diệt…Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo như thật rõ biết sự tập khởi, và sự chấm dứt tất cả khổ pháp? Ðây là sắc, đây là sắc tập khởi, đây là sắc đoạn diệt. Ðây là thọ, đây là thọ tập khởi, đây là thọ đoạn diệt. Ðây là tưởng... Ðây là các hành... Ðây là thức, đây là thức tập khởi, đây là thức đoạn diệt. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như thật rõ biết sự tập khởi và sự đoạn diệt của tất cả khổ pháp.

(Tương Ưng Bộ Kinh – Tập 4, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (f), Phần IV. Năm Mươi Kinh Thứ Tư IV. Phẩm Rắn Ðộc, bài kinh Khổ Pháp)

Như thật rõ biết sự tập khởi, đoạn diệt của tất cả khổ pháp là như vậy, nếu không học qua bảy trí về sắc, thọ, tưởng, hành, thức thì không biết. Cho nên đến giờ này mà ai không thuộc thì ở ngoài cổng chùa. Đây là sắc, sắc tập khởi, sắc đoạn diệt, đây là thọ, thọ tập khởi, thọ đoạn diệt, phải thuộc lòng bảy trí này. Từ đâu sắc sanh? Thức ăn tập khởi cho nên sắc tập khởi, thức ăn đoạn diệt nên sắc đoạn diệt, chúng ta phải biết điều này. Do có thức ăn cho nên mình mới tồn tại, sắc thân này mới tồn tại, nếu không ăn thì chết, đây là nói rõ ràng dễ hiểu bằng tiếng Việt. Từ đâu sắc thân này được duy trì, từ sự ăn uống, nếu không ăn uống thì sắc thân này không tồn tại được. Cho nên mình phải biết sắc sanh là do tứ đại hợp thành. Chúng ta phải biết bảy trí về sắc, biết vị ngọt, sự nguy hại, sự xuất ly của sắc là như thế nào và thế nào là con đường chấm dứt sắc (sắc diệt đạo). Cần phải thấy rõ Bát Chánh Đạo.

Đối với thọ, tưởng, hành, thức cũng giống như vậy. Nếu mình không thấy được điều này, làm sao mình thấy được các dục?. “Khi các dục được thấy, thời dục, dục ái, dục mê, dục nhiệt não đối với các dục không có tuỳ miên”.

Hình ảnh đầu tiên Đức Phật đưa ra hình ảnh giống như hố than sâu hơn thân người, đầy những than hừng đỏ trong đó, có người đi đến bị hai ông lực sĩ kẹp tay và kéo cánh tay đẩy xuống hố than hừng. Người này vật vã vượt qua bên đây, đẩy qua bên kia, người này biết rằng mình rơi xuống hố than hừng thì sẽ chết hoặc khổ gần như chết. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thấy các dục như hố than hừng và ai thấy được các dục, thời dục, dục ái, dục mê, dục nhiệt não đối với các dục không có tùy miên.

Sau khi thấy được sắc, thấy được cảm giác, thấy được các tưởng hình bóng trong nội tâm, thấy được những suy nghĩ, thấy được những nhận thức thì mình sẽ theo bằng trí huệ gọi là tuỳ quán. Tuỳ quán là mình luôn luôn theo dõi, nhìn bằng trí huệ. Tuỳ quán sự sanh diệt trong các uẩn, tuỳ là phải luôn luôn theo nó, nhưng không phải đi theo bình thường mà là theo bằng trí huệ, để nhìn bằng trí huệ và nhận diện, nhận biết, thấy rõ, liễu tri, thắng tri, tuệ tri về các uẩn. Liễu tri, thắng tri, tuệ tri là những danh từ chỉ cho sự hiểu biết sâu sắc, rốt ráo, tròn vẹn, triệt để. Tuệ tri là biết bằng trí huệ, thắng tri là biết thù thắng, liễu tri là biết trọn vẹn.

Khi luôn luôn nhìn lại năm uẩn, ta sẽ biết rằng từ trước đến nay tham của mình nhiều. Do chưa có trí năm uẩn, mình nghĩ rằng tham của mình không nhiều, nhưng bằng trí năm uẩn mình sẽ thấy tham quá nhiều. Lúc đó phát hiện ra rằng từ trí năm uẩn mới thấy được dục. Sự thấy này rất thâm sâu, không phải thấy của phàm phu, mà thấy được bằng trí huệ của Thánh trí. Khi chưa thành tựu trí năm uẩn thì chưa thấy được tham, sân, si, mà chỉ thấy được cái đuôi của con trâu, hoặc chỉ thấy được cái nhánh cành, chứ không thấy được gốc, cội, rễ căn bản của phiền não. Khi thành tựu trí năm uẩn thì phiền não vừa manh nha, máy động thì mình liền thấy.

Thí dụ, khi nghe nói một câu thì thấy ấm ấm ở lồng ngực, sau đó bốc hơi nóng, đó chính là sân, như vậy là vừa manh nha thì mình đã thấy, trí huệ này là trí huệ phi phàm. Còn người bình thường không thấy, không để ý điều đó, họ lo tiếng con người bên ngoài mà không thấy được bên trong tâm. Cho nên thành tựu được trí năm uẩn thì thấy được căn nguyên, cội rễ, manh nha; phiền não mới bắt đầu manh mún, bắt đầu nảy mầm là mình đã diệt trong trứng nước, đó là sự thâm sâu của trí huệ. Có người hỏi tại sao sau khi ngồi thiền thì Minh Thành sẽ kêu trình pháp năm uẩn? Vì nếu không rõ năm uẩn, không thấy năm uẩn thì làm sao thấy được tham, sân, si, như vậy thì không thể nhiếp phục.

Cho nên điều này rất quan trọng, sau khi thấy được tham, Đức Phật dạy phải quán tham giống như hố than hừng, rớt xuống hố là chết. Quán như vậy thì mới khiếp sợ, kinh hãi, từ từ mình tránh, sau đó dùng những phương pháp để diệt, quán chiếu đến lúc đoạn tận, là thành tựu cứu cánh phạm hạnh. Một mặt tránh, một mặt dùng phương pháp diệt trừ, lúc trước mình tránh mà toàn là né, còn bây giờ tránh không phải để né, mà tránh để đánh.

Giống như đánh trận mà địch mạnh, thì mình phải có thời gian tạm ngưng, đình chiến, hòa hoãn, nuôi binh, khi đủ thì mình sáp lá cà xung trận. Đó là điều Đức Thế Tôn dạy, trí huệ rất là sâu sắc. Lúc trước thì mình trốn tránh mà không có phương pháp, còn bây giờ mình có phương pháp. Đó là phương pháp quán tứ đại, phương pháp quán 32 thể trược, phương pháp 9 giai đoạn một tử thi, phương pháp niệm tử. Nhìn thấy bao cái chết, chứng bệnh ung thư, tai nạn giao thông, người bị khuyết tật, bao nhiêu cảnh khổ vô thường, khi nhìn và quán như vậy thì sẽ trị được từ từ, nhiếp phục từ từ.

Hình ảnh thứ hai: “Ví như, này các Tỷ-kheo, một người đi vào một khu rừng đầy những gai góc, trước mặt người ấy là gai, phía Tây... phía Bắc... phía Nam... người ấy là gai, phía dưới người ấy là gai, phía trên người ấy là gai. Chỗ nào người ấy đi tới hay chỗ nào người ấy đi lui, người ấy nghĩ: "Mong sao tôi chớ có bị vướng gai".

Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, đối với sự vật gì khả ái, khả lạc, sự vật ấy được gọi là gai trong giới luật của bậc Thánh.

(Tương Ưng Bộ Kinh – Tập 4, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (f), Phần IV. Năm Mươi Kinh Thứ Tư IV. Phẩm Rắn Ðộc, bài kinh Khổ Pháp)

Đối với sự gì, vật gì, người gì mà đó là đáng yêu, đáng vui, rất đẹp, rất hấp dẫn thì gọi là gai trong giới luật của bậc Thánh. Tại vì bị nó hấp dẫn thì mình sẽ bị lôi cuốn, bị đam mê, bị dính mắc thì sẽ chắc chắn khổ. Cho nên giải thoát thì không bị dính mắc vào thứ gì hết. Lạ kỳ là chúng ta muốn khỏe nhưng lại thích dính mắc; muốn an lạc, giải thoát, mà nói và làm thì ràng buộc, điều đó rất mâu thuẫn, đi ngược lại thứ mình muốn.

***

III. Kinh sáu sáu

Tiếp theo là bài kinh hết sức quan trọng và căn bản, Minh Thành gọi là Chiến thuật tâm linh của Đức Phật phần 2. Đó là “Kinh Sáu Sáu”, Trung Bộ Kinh tập 3, bài kinh 148, trang 629. Nếu không nắm vững bài kinh này thì không thành tựu căn bản trí của người tu, bài kinh này phải trả bài học thuộc lòng, do đây là bài kinh rất quan trọng, Minh Thành chỉ lấy yếu nghĩa trong bài kinh này chứ không đọc từng chữ.

Đức Thế Tôn khi ở Xá Vệ ở rừng Kỳ Đà của vườn ông Cấp Cô Độc, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:

“Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn trú ở Savatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà Lâm) tại tinh xá ông Anathapindika (Cấp Cô Độc).

Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:

– "Này các Tỷ-kheo".

– "Thưa vâng, Bạch Thế Tôn".

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:

– Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng pháp cho các Ông, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn. Ta sẽ nói lên Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn, thanh tịnh, tức là sáu sáu. Hãy nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ giảng.

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn. Các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:”

(Trung Bộ Kinh – Kinh Sáu Sáu)

Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng pháp cho các Ông, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn – tức là những lời pháp ban đầu cũng tốt lành, giữa cũng tốt lành, sau cùng cũng tốt lành, có văn hay vừa có nghĩa lý sâu sắc.

“Ta sẽ nói lên Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn, thanh tịnh, tức là sáu sáu. Hãy nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ giảng.” Hai chữ sáu sáu rất quan trọng, con số sáu trong Phật giáo rất quan trọng. Các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:

“Sáu nội xứ cần phải được biết.

Sáu ngoại xứ cần phải được biết.

Sáu thức thân cần phải được biết.

Sáu xúc thân cần phải được biết.

Sáu thọ thân cần phải được biết.

Sáu ái thân cần phải được biết.”

(Trung Bộ Kinh – Kinh Sáu Sáu)

Sáu sáu rất quan trọng, do đó phải nắm vững pháp này, trong Tứ Niệm Xứ đây là phần quán pháp. Người không biết những pháp xứ này, một là do không thuộc, hai là do không nhận diện khi ngồi thiền. Thế nên lúc đối duyên xúc cảnh không quán chiếu được, mà không quán chiếu được thì không nhiếp phục, đoạn tận được dục tham và không xuất ly ra khỏi tham ái. Cho nên bài này phải học thuộc lòng

Minh Thành nói nghĩa tiếng Việt bình thường cho mọi người dễ hiểu. Bên nội là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý ở nơi tự thân, đó là bên trong tâm gọi là bên nội. Bên ngoại là đối tượng của sáu thứ bên trong, đối tượng của con mắt là sắc, đối tượng của lỗ tai là tiếng, đối tượng của lỗ mũi là mùi, đối tượng của lưỡi là vị, đối tượng của thân sự xúc chạm, đối tượng của ý là các pháp trần – thọ, tưởng, hành – tức là cảm giác, hình bóng trong nội tâm và những suy nghĩ. Đó là sáu đối tượng ở ngoài gọi là sáu ngoại xứ (sáu trần), còn bên trong là sáu nội xứ (sáu căn). Do con mắt tiếp xúc với sắc, có sự rõ biết các sắc là thức. Số sáu tiếp theo là sáu thức – sự rõ biết về sáu đối tượng trong và ngoài.

Như vậy, chúng ta đã biết được sáu căn, sáu trần, sáu thức – đây là danh từ khác của căn, trần, thức. Kế đến, sáu xúc là sự hội tụ của con mắt, sắc và sự rõ biết, ba pháp này hội tụ lại tạo thành sự tiếp xúc lẫn nhau. Sự tiếp xúc sanh ra cảm thọ, cảm giác (sáu thọ). Khi sanh ra cảm giác thì có sự yêu thích và ghét bỏ (sáu ái). Ở đây, Đức Phật chỉ nêu ra sáu ái, nhớ kĩ chỗ này, rất sâu sắc: không chỉ yêu thích mới là ái, mà ghét bỏ cũng là ái, chúng đều phát sanh từ ái dục. Cho nên Đức Phật dùng chung từ sáu ái, khi tiếp xúc lại với nhau, phát sanh cảm thọ, cảm giác thì có sự yêu thích, có ái trong đó, mình phải thấy được chỗ này,

Như vậy, có ba mươi sáu pháp vận hành trong khi mình sanh ra cảm giác nóng giận, hay một sự yêu thích. Nếu bằng trí huệ mà quán pháp, tức là quán xét sự vận hành của tự thân, tự tâm thì chúng ta thấy cả tiến trình giống như một chuỗi vận hành của đường dây làm việc ở trong công ty. Thí dụ như từ bột ra sợi mì, rồi chiên, rồi đóng gói, cả quy trình dài ba mươi sáu bước, nhưng mình không thấy, không biết, chỉ biết đang giận, đang sân, Đức Phật gọi đó là vô minh.

Chúng ta không nhận rõ văn - tư - tu - huệ, không thành tựu trí về văn, không biết về pháp số, không biết về nhận diện tư duy, không biết quán chiếu, không biết nhìn lại, không biết nội soi, thì một cảm giác yêu thích hay ghét bỏ sanh lên, mình nói tôi đang thích, đang bực mình, đang ghét thì đó là vô minh, tà kiến, không thấy rõ các pháp vận hành. Còn nếu nhìn thấy rõ cả chuỗi ba mươi sáu pháp vận hành : sáu căn, sáu trần, sáu thức, sáu xúc, sáu thọ, sáu ái. Ở đây chưa kể ái còn có thủ, bám vào những thứ yêu thích. Từ chỗ bám giữ rồi muốn chiếm hữu, dẫn đến tạo nghiệp.

Cho nên cả một chuỗi vận hành mà mình không biết. Giống như mình chỉ lên máy vi tính bấm nút xài, mà không biết có biết bao nhiêu những hệ thống, chương trình, cài đặt trong máy. Chỉ có nhà sáng chế phát minh sáng tạo mới biết được bao nhiêu gian khổ, mồ hôi, nước mắt, chất xám, thời gian. Cho nên người biết được ân đức của Pháp bảo thì tu học, cung kính đối với Pháp rất khác, không đơn giản để được ngồi đây mở bài kinh ra đọc. Do đó phải thuộc lòng nắm cho vững Sáu Sáu, sáu lần sáu là ba mươi sáu. Cho nên một sự yêu thích sanh khởi thì phải qua quy trình như vậy, mà mình không thấy, không biết.

Trở lại vấn đề về ái, trong kinh thì nói kỹ và dài, nhưng chỉ lấy nghĩa căn bản.

 Khi được nói đến "Sáu ái thân cần phải được biết", do duyên gì được nói đến như vậy? Do duyên mắt và duyên các sắc khởi lên nhãn thức. Sự gặp gỡ của ba (pháp này) là xúc. Do duyên xúc là thọ. Do duyên thọ là ái. Do duyên tai và do duyên các tiếng, khởi lên nhĩ thức. Do duyên mũi và do duyên các hương khởi lên tỷ thức. Do duyên lưỡi và do duyên các vị khởi lên thiệt thức. Do duyên thân và do duyên các xúc khởi lên thân thức. Do duyên ý và do duyên các pháp khởi lên ý thức. Sự gặp gỡ của ba (pháp này) là xúc. Do duyên xúc là thọ. Do duyên thọ là ái. Khi được nói đến "Sáu ái thân cần phải được biết", chính do duyên này được nói đến như vậy. Đây là sáu sáu thứ sáu. 

(Trung Bộ Kinh – Kinh Sáu Sáu)

Có lỗ tai, có tiếng mưa ở ngoài, có sự rõ biết các âm thanh, ba pháp này hội tụ lại tạo thành sự tiếp xúc, sanh ra cảm giác. Ví dụ: khi nghe mưa ào qua, mình nghĩ: mưa như vậy thì nghe giảng pháp không rõ, đó là tưởng, hành, thức vận hành. Hoặc lúc cúp điện, lúc bị la rầy, lúc bị bực bội, chướng tai gai mắt, có nhìn thấy được những cảm giác, các tưởng, suy nghĩ của mình không? Hay chúng ta không thấy gì hết mà nhập lại là một, như vậy là không có trí huệ. Phải thấy phải biết lúc đó suy nghĩ, cảm giác như thế nào?

Có những hình bóng gì trong đó? Phải thấy rõ, phải nhận thức, thì lúc đó mới có trí huệ. Ví dụ lúc khách đến chùa nhiều, phải nấu cơm cho mấy trăm người, khi ấy có thấy năm uẩn không? Hay chỉ thấy đồ ăn? Hoặc lúc cuối giờ ngồi thiền, khi đó bị tê mỏi nhức, mình có thấy năm uẩn không? Hay lúc đó chỉ biết mong mau mau hết giờ để về ngủ. Thấy được năm uẩn hay không là chỗ trí hay không trí, chiến thuật tâm linh của Phật là chỗ này.

Đến bài này chúng ta nhận ra rằng, chưa từng thấy được trí huệ của ai trên cuộc đời sánh bằng Đức Phật. Lúc trước học thì chỉ thấy trí huệ chung chung, chỉ biết cuộc đời vô thường, thân vô thường, cảnh vật vô thường, ai rồi cũng sanh già bệnh chết, không có gì là thật – đó chỉ là trí của phàm phu. Còn đây là chiến thuật tâm linh, trí huệ chưa từng thấy của bậc Chánh Đẳng Giác :

Nếu ai nói rằng: ‘‘Mắt là tự ngã’’ (là tôi), như vậy là không hợp lý. Sự sanh và sự diệt của mắt đã được thấy. Vì rằng sự sanh và sự diệt của mắt đã được thấy, nên phải đưa đến kết luận ‘‘Tự ngã sanh và diệt ở nơi tôi’’. Do vậy, nếu ai nói rằng: ‘‘Mắt là tự ngã’’, như vậy không hợp lý. Như vậy, con mắt là vô ngã.

(Trung Bộ Kinh – Kinh Sáu Sáu)

Ý của Phật muốn nói: sự sanh và sự diệt của con mắt đã được thấy, tức là con mắt được thấy là do thức ăn, sắc tập khởi do thức ăn tập khởi, mình có ăn thì con mắt mới tồn tại, mình có ăn thì lỗ mũi mới tồn tại, lưỡi mới tồn tại. Không ăn thì thân sắc uẩn không tồn tại, không uống, không thở thì thân sắc uẩn cũng không tồn tại.

Nếu ai nói rằng: "Các sắc là tự ngã", như vậy là không hợp lý. Sự sanh và sự diệt của các sắc đã được thấy. Vì rằng sự sanh và sự diệt của các sắc đã được thấy, nên phải đưa đến kết luận: "Tự ngã sanh và diệt ở nơi tôi". Do vậy, nếu ai nói rằng: "Các sắc là tự ngã", như vậy là không hợp lý. Như vậy, con mắt là vô ngã, các sắc là vô ngã.

(Trung Bộ Kinh – Kinh Sáu Sáu)

Nếu bây giờ mình cho rằng các món đồ là mình, ví dụ cho rằng cái chuông này là của mình, là mình, như vậy chẳng lẽ cái chuông bể thì mình bể theo, nhà sập thì mình sập theo hay sao? Đó chỉ là pháp sanh diệt, pháp duyên sanh, ngay cả cảm thọ, cảm giác hay ái của mình cũng là pháp duyên sanh, không có riêng, không tự đứng vững, không có lõi, không có tự thể, không có độc lập riêng biệt, không phải tự nó có, cho nên con mắt là vô ngã, các sắc là vô ngã.

Nếu ai nói rằng: "Nhãn thức là tự ngã", như vậy là không hợp lý. Sự sanh và sự diệt của nhãn thức đã được thấy. Vì rằng sự sanh và sự diệt của nhãn thức đã được thấy, nên phải đưa đến kết luận: "Tự ngã sanh và diệt ở nơi tôi". Do vậy, nếu ai nói rằng: "Nhãn thức là tự ngã", như vậy là không hợp lý. Như vậy, con mắt là vô ngã, các sắc là vô ngã, nhãn thức là vô ngã.

(Trung Bộ Kinh – Kinh Sáu Sáu)

Sự sanh sự diệt của nhãn thức đã được thấy, tức là sự rõ biết của con mắt là các sắc; sự rõ biết của nhãn thức là do con mắt và do các sắc, tự nó không có sự rõ biết. Nếu con mắt bị hư thì không thấy, cho nên nó duyên sanh, sanh diệt, vô ngã. Cho nên, con mắt là vô ngã, các sắc là vô ngã, nhãn thức là vô ngã, nhãn xúc – sự tiếp của con mắt, sự tiếp xúc của ba pháp là vô ngã. Như vậy con mắt là vô ngã, các sắc là vô ngã, nhãn sắc là vô ngã, nhãn xúc là la vô ngã.

Nếu có ai nói rằng: "Thọ là tự ngã", như vậy là không hợp lý. Sự sanh và sự diệt của thọ đã được thấy. Vì rằng sự sanh và sự diệt của thọ đã được thấy, nên phải đưa đến kết luận: "Tự ngã sanh và diệt ở nơi tôi". Do vậy, nếu ai nói rằng: "Thọ là tự ngã", như vậy là không hợp lý. Như vậy, con mắt là vô ngã, các sắc là vô ngã, nhãn thức là vô ngã, nhãn xúc là vô ngã, thọ là vô ngã.

(Trung Bộ Kinh – Kinh Sáu Sáu)

Nếu ai nói rằng cảm giác là tôi như vậy thì không hợp lý, vì sự sanh diệt của cảm giác đã được thấy, cảm giác luôn luôn sanh diệt.

Ví dụ: Đi bộ lên núi, trời thì mưa, thấy mệt mỏi. Khi đến chỗ, vào ngồi uống một chung trà, nghe tiếng chuông gió vi vu, du dương nhìn ra trời mưa lại thấy rất đẹp, khác với cảm giác vừa trước đó. Cảm giác là sự sanh diệt, cảm giác là đổi thay, cảm giác là vô thường, cảm giác do điều kiện biến đổi liên tục. Hay đói ăn vào thì no, no rồi mệt muốn ngủ, ngủ xong thức dậy thì khỏe. Sau đó làm việc đến tối thì mệt lại muốn ngủ, mệt mà nằm hoài không được, khó chịu, nên đứng dậy đi, đi hoài thì khó chịu, lại muốn nghỉ, ngồi một lát mỏi rồi lại nằm, nằm mỏi quá lại đứng dậy đi. Đó chính là cảm giác là sanh diệt, do đó thọ là vô ngã.

Nếu có ai nói rằng: "Ái là tự ngã", như vậy là không hợp lý. Sự sanh và sự diệt của ái đã được thấy. Vì rằng sự sanh và sự diệt của ái đã được thấy, nên phải đưa đến kết luận: "Tự ngã sanh và diệt ở nơi tôi". Do vậy, nếu ai nói rằng: "Ái là tự ngã", như vậy là không hợp lý.

(Trung Bộ Kinh – Kinh Sáu Sáu)

Sự yêu thích đâu phải là tôi, còn lúc không yêu thích là ai? Thương là tôi thì lúc ghét là ai? Buồn là tôi thì lúc giận là ai? Thoải mái là tôi, thì lúc bực bội bực dọc là ai?

Như vậy, con mắt là vô ngã, các sắc là vô ngã, nhãn thức là vô ngã, nhãn xúc là vô ngã, thọ là vô ngã, ái là vô ngã.

(Trung Bộ Kinh – Kinh Sáu Sáu)

Nói rõ ra con mắt là không thật, không có cốt lõi bên trong, là pháp duyên sanh vô thường. Các sắc là không có cốt lõi, là không có chắc chắn, là pháp duyên sanh, là vô thường, nó không tự có được. Cái rõ biết của con mắt là pháp duyên sanh không có cốt lõi, không có chắc chắn, là vô thường. Sự tiếp xúc của con mắt, sự tiếp xúc với các sắc, sự rõ biết là vô ngã, là vô thường. Cảm giác từ nơi sự tiếp xúc của con mắt, cảm giác từ nơi sự tiếp xúc của lỗ tai, cảm giác từ nơi sự tiếp xúc của lỗ mũi, cảm giác từ nơi sự tiếp xúc của lưỡi, cảm giác từ nơi sự tiếp xúc của thân, và cảm giác từ nơi sự tiếp xúc của ý, những cảm giác đó là vô ngã, vô thường, pháp điều kiện, pháp duyên sanh, là không có lõi, không có vững, không có chắc, biến hoại, đổi thay, vô ngã. Sự yêu thích từ nơi cảm giác đó là vô ngã, không chắc chắn.

Pháp này rất ghê gớm, nó đánh tất cả tan tành, không còn manh giáp nào cả. Không như lúc trước, mình nói đơn giản là thân vô thường, cảnh vô thường, tâm vô thường. Còn pháp này đánh hết sáu căn, sáu trần, sáu thức, sáu xúc, sáu thọ, sáu ái. Như vậy, sáu lần sáu là ba mươi sáu, từng pháp đều là vô ngã.

Nếu có ai nói rằng: "Ý là tự ngã ", như vậy là không hợp lý. Sự sanh và sự diệt của ý xúc đã được thấy. Vì rằng sự sanh và sự diệt của ý đã được thấy, nên phải đưa đến kết luận: "Tự ngã sanh và diệt ở nơi tôi". Do vậy, nếu có ai nói rằng: "Ý là tự ngã", như vậy là không hợp lý.

(Trung Bộ Kinh – Kinh Sáu Sáu)

Đây là chỗ rất sâu. Sự sanh và sự diệt của ý đã được thấy, mình phải thuộc duyên sanh pháp của ý xúc, thì mới biết được điều này. Khi để ý lại trong nội tâm, thì mới thấy được cảm giác như thế nào? Để ý vào cảm thọ thì lúc đó ý thức mới rõ biết được bây giờ mình đang có cảm giác gì đó? Hay là để ý vào tưởng thì mới rõ biết được trong tâm có hình bóng gì? Ví dụ là hình bóng quê hương hay hình bóng bà mẹ, hay đứa con. Từ nơi đó sanh ra cảm giác, sau khi để ý cảm giác, hình bóng, suy nghĩ thì lại sanh tiếp tục những cảm giác, những hình bóng, những suy nghĩ khác – tiếp tục thọ tưởng hành thứ hai, thọ tưởng hành thứ ba, thọ tưởng hành thứ tư, trùng trùng nhiều lớp. Như vậy, sự sanh diệt của các pháp ở bên trong đã được thấy.

Cho nên phải ngồi thiền, nhận diện, quán chiếu, mới có thể nhận diện mới thấy sự sanh diệt của ý xúc, ngồi thì không thấy nhưng nhìn vào trong thì mới thấy liên tục sự sanh diệt, diệt sanh, nó lung tung lang tang, đi khắp nơi. Sự sanh diệt của ý thức đã được thấy, tự ngã sanh và diệt ở nơi tôi. Nếu mình cho đó là mình, nhưng nó luôn sanh diệt nơi ta, vậy làm sao nó là tự ngã? Ngã nghĩa là thường hằng, bất biến, tự chủ, tự nó dựa vào nó, cho nên cho rằng những thứ này là chính mình, là tự ngã thì không hợp lý.

Như vậy, ý là vô ngã, các pháp là vô ngã, ý thức là vô ngã, ý xúc là vô ngã, thọ là vô ngã, ái là vô ngã. Như vậy mỗi một phần trong sáu căn, sáu trần, sáu thức đánh vào từng lớp, giống như phá cửa thành, phá lớp thứ nhất, phá lớp cửa trong, phá thẳng vào chẳng hạn là thái hòa điện, đánh tận vào trung tâm.

Này các Tỷ-kheo, nhưng đây là con đường đưa đến sự tập khởi của thân kiến. Ai quán mắt là: "Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi". Ai quán các sắc... Ai quán nhãn thức... Ai quán nhãn xúc... Ai quán thọ... Ai quán ái... Ai quán tai... Ai quán mũi... Ai quán lưỡi... Ai quán thân... Ai quán ý... Ai quán các pháp... Ai quán ý thức... Ai quán ý xúc... Ai quán ái: "Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi".

(Trung Bộ Kinh – Kinh Sáu Sáu)

Ai cho con mắt, là tôi, là của tôi, cái này là tự ngã của tôi. Ai cho các sắc cái này là tôi, cái này là của tôi, cái này là tự ngã của tôi. Ai cho rằng là nhãn thức, nhãn xúc, nhãn thọ hay là ái là tự ngã của tôi. Ai cho rằng lỗ tai, mũi lưỡi, thân ý là tôi là tự ngã của tôi. Đó là con đường đưa đến sự tập khởi của thân kiến.

Đây là trí huệ chưa từng thấy, không ai thấy ra được, chỉ có một con người duy nhất thấy được là Đức Thế Tôn. Ai cho rằng con mắt này là tôi, lỗ tai này là tôi, mũi, lưỡi, thân, ý này là tôi; ai mà cho rằng các sắc, thanh, hương, vị, xúc pháp là tôi; ai cho rằng các thức sự rõ biết, nhãn thức, nhĩ thức, thiệt thức, tỷ thức này là tôi; ai mà cho rằng sự tiếp xúc ba pháp này là tôi; ai mà cho rằng những cảm giác đó sau khi tiếp xúc là tôi, ai cho rằng những yêu thích, ái thích, luyến ái, tham ái trong đó là tôi… thì người đó đi đến con đường sanh khởi lên kiến chấp về thân, tức là thân kiến.

Như vậy ai không cho rằng những thứ đó không phải của tôi? Chỉ có bậc Đa văn Thánh đệ tử mới thấy được, ngoài ra phổ thiên địa, phổ thiên hạ, trùm trời trùm đất, tất cả đều cho đó là tôi, là của tôi. Pháp Phật giống như một tòa nhà 199 tầng và Đức Phật phân tích cho chúng ta thấy hết từng cây cột, những ngõ ngách, cây kèo, từng cánh cửa, viên gạch, song sắt trong đó. Đây là trí huệ chưa từng thấy, chiến thuật tâm linh của Đức Phật, Ngài đã chỉ ra con đường đưa đến sự tập khởi của thân kiến, đây là con đường đưa đến sự nhìn nhận sai lầm, đau khổ, vô minh và tham ái chấp thủ.

“Nhưng này các Tỷ-kheo, đây là con đường đưa đến sự đoạn diệt thân kiến...” Tức là quán ngược lại: “cái này không phải là tôi, cái này không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi.” Quán ngược trở lại thì đó là con đường đi ra khỏi thân kiến, con đường đi ra khỏi thấy biết sai lầm, con đường của trí huệ, giác ngộ. Còn con đường ở trên là con đường vô minh, khổ đau.

Này các Tỷ-kheo, do duyên mắt và do duyên các sắc, khởi lên nhãn thức. Sự gặp gỡ của ba (pháp này) là xúc. Do duyên xúc, khởi lên lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ.

Vị ấy do cảm xúc lạc thọ, mà hoan hỷ, tán thán, trú ở ái trước. Tham tùy miên của vị ấy tùy tăng.

Nếu vị ấy sau khi tiếp xúc có được cảm giác, mà vị này hoan hỷ, thích thú, yêu thích ở trong cảm giác đó, thì sự tham ái đi theo vị đó và bắt đầu tăng trưởng, lớn mạnh.

Vị ấy cảm xúc khổ thọ, mà không sầu muộn, than van, than khóc, đập ngực, rơi vào bất tỉnh; sân tùy miên sẽ đi theo vị ấy.

Khi vị ấy có cảm giác khó chịu, bực lên, thì sự sân hận, nóng giận cứ miên man, tăng trưởng lên thêm.

Vị ấy cảm xúc bất khổ bất lạc thọ, mà như thật biết sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly khỏi cảm thọ ấy; vô minh tùy miên của vị ấy tùy tăng.

Trong cảm giác không khổ, không vui mà không như thật biết được sự tập khởi, đoạn diệt, không như thật biết sự nguy hiểm, sự xuất ly khỏi các cảm giác đó thì vô minh sẽ đi theo và lớn mạnh trong ba cảm giác.

Như vậy, ba cảm giác này hàng ngày diễn ra bao nhiêu lần, chúng ta thấy và quán được bao nhiêu lần?

Một người không đoạn tận tham, mà cứ đi theo miên man đối với cảm giác vui sướng; không tẩy trừ sân; không tẩy trừ vô minh, không làm cho minh sanh khởi (có thể người này đoạn trừ thì minh sanh khởi, còn không đoạn trừ thì vô minh sanh khởi) – người này không đoạn trừ tham, sân, si tuỳ miên như vậy, mà hiện tại người này được chấm dứt khổ đau thì sự kiện như vậy không xảy ra.

Này các Tỷ-kheo, vị ấy chính do không đoạn tận tham tùy miên đối với lạc thọ, do không tẩy trừ sân tùy miên đối với khổ thọ, do không nhổ lên vô minh tùy miên đối với bất khổ bất lạc thọ, không đoạn tận vô minh, không làm cho minh khởi lên, có thể ngay trong hiện tại là người chấm dứt đau khổ, sự kiện như vậy không xảy ra.

(Trung Bộ Kinh – Kinh Sáu Sáu)

Như vậy, phải đoạn tận tham ở trong cảm giác vui sướng, đoạn tận sân ở trong cảm giác khó chịu, và nhổ lên mũi tên vô minh ở trong cảm giác không vui không khổ.

Đa văn Thánh đệ tử tu tập quán chiếu như vậy, cho nên vị này chán nản xa lìa đối với con mắt; chán nản xa lìa đối với các sắc; chán nản xa lìa đối với nhãn thức, nhãn xúc, đối với cảm giác, đối với sự ái, yêu thích; chán nản xa lìa đối với tai, mũi, hương, lưỡi, vị, thân, ý, xúc, với các pháp; chán nản xa lìa đối với ý thức, ý xúc, với thọ, với ái. “Do yếm ly, vị ấy ly tham. Do ly tham vị ấy giải thoát.” Do chán nản xa lìa với lìa tham. Do lìa tham vị ấy giải thoát, trong sự giải thoát vị ấy biết rõ mình đã được giải thoát. Và vị ấy tuệ tri: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, các việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa".

Đánh giặc kiểu này nếu giặc không chết, chúng ta không toàn thắng thì mới là chuyện lạ. Cứ quán chiếu vô ngã trong tất cả các pháp, thì vị này sẽ nhàm chán xa lìa, không còn ham muốn nữa. Phải tùy quán, tức là lúc nào cũng quán, nhìn sâu sắc thì sẽ nhàm chán, không còn ham muốn, như vậy vị này giải thoát. Đó là chiến thuật tâm linh của Đức Thế Tôn. Đánh giặc phiền não không còn gì hết, đánh tan nát, đánh tan vỡ, tan hoại hết tất cả! Cho nên pháp của Đức Phật gọi là đoạn ly, đoạn xả, đoạn tận, đoạn diệt tức là dứt lìa, dứt hết, dứt bỏ, dứt sạch. Dứt sạch hết tham, sân, si và đi đến chỗ hoàn toàn thanh lương mát lạnh của Niết-bàn.

Khi học pháp này, chúng ta đừng nghĩ khó, không tu được, mà phải cố gắng, phấn đấu, nỗ lực hết sức có thể vào Dự Lưu. Không được sợ, đừng nghĩ không biết mình có làm được hay không, mà phải có niềm tin vững chắc, tinh tấn, mạnh mẽ, thành tựu trí huệ. Mặc dù không đoạn hết 100% cái khổ, nhưng ít nhất cũng được 30-40-50%, như vậy đã vững chắc, chúng ta đã có thể tự giúp mình, giúp người, lợi mình, lợi người. Mong rằng sau khi học bài kinh “Sáu Sáu” này, chúng ta sẽ có thêm trí huệ, có thêm sự thấy biết sâu sắc. Không như trước giờ cứ tưởng mình cũng hiểu biết khá nhiều, đến khi học được bài kinh này thì thật sự mới biết mình đang ở đâu. Từ đó, chúng ta phải cố gắng, nỗ lực, làm cho trí tuệ càng ngày thâm sâu, vững chắc, sáng tỏ trên con đường tu học, thành tựu, cứu cánh phạm hạnh.

./.