Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Đến Chùa Để Làm Gì - Hồ Như Ý biên tập - Bản cuối cùng

2026-03-03 00:53:15
ĐẾN CHÙA ĐỂ LÀM GÌ?

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Mục đích đi chùa PAGEREF _Toc71869176 \h 2

II.Hiểu về đức Phật PAGEREF _Toc71869177 \h 3

III.Trí tuệ Ngũ Uẩn PAGEREF _Toc71869178 \h 4

IV.Ý nghĩa, lợi ích của bố thí PAGEREF _Toc71869179 \h 9

V.Hóa giải sự căng thẳng PAGEREF _Toc71869180 \h 10

Mục đích đi chùa

Kính thưa tất cả các bạn, quý Phật tử đã trải qua một hành trình thâu đêm không ngủ để băng qua một quãng đường thật dài, lại phải leo núi vất vả để được ngồi lại tại đây, tại non thiêng này ở một không gian bao la giữa đại ngàn thênh thang, hùng vĩ, trong tình Tăng thân, huynh đệ hòa hợp, tịnh lạc. Đây là giây phút hiếm hoi quý báu, là giờ phút thiêng liêng hy hữu của một đời người ngắn ngủi. Chính vì vậy, chúng ta cần phải trân trọng, tận hưởng khoảnh khắc này bằng trọn tấm lòng, mở toang cánh cửa tâm hồn để cảm nhận những lời dạy của Đức Phật làm hành trang quý giá mang theo cả cuộc đời.

Kính thưa quý Phật tử, lâu nay quý Phật tử đi chùa theo thói quen, với mục đính chính là thắp nhang lạy Phật sau đó là phụ giúp chùa trong công tác nấu nướng, vệ sinh, tu sửa.. gọi là “công quả”. Những hành động này đã là rất tốt so với việc ta rong chơi, chạy theo phù phiếm của thế tục; đây tuy là việc thiện, song lại chưa đủ. Thật ra, mục đích rốt ráo của việc đến chùa theo lời Đức Phật dạy chính là để chúng ta sanh khởi chánh kiến, từ đó tạo dựng nền móng khiến bản thân ta thành tựu sự nhìn nhận, hiểu biết chính xác về Phật pháp, đem lại lợi ích an lạc lâu dài ngay trong hiện tại và tương lai. Y cứ theo lời đức Phật, một cá nhân cần phải có hai điều kiện cốt lõi để thành tựu “chánh kiến” bao gồm “gần gũi bậc thiện tri thức” và “lắng nghe diệu pháp”, đây là hai yếu tố giúp cho ta tìm thấy một kim chỉ nam, một phương châm đem lại cho ta một phương pháp sống tuyệt vời, tuyệt diệu và tuyệt hảo.

Về yếu tố đầu tiên, thân cận bậc chân nhân: trong cuộc sống, nếu ta có nhân duyên và may mắn được gặp quý thầy quý cô mà theo lời đức Phật gọi là “Chân Nhân” thời nghĩa là người đó phải thành tựu được cách nhìn nhận, hiểu biết chân xác, rõ ràng về giáo pháp của đức Phật. Điều đáng nói chính là rất khó để thành tựu được điều này...

Yếu tố thứ hai là lắng nghe diệu pháp: sau khi đã tiếp cận được bậc Chân Nhân, ta còn cần phải có duyên và may mắn để được vị này giảng dạy, giải thích một cách dễ hiểu về giáo pháp. Thông qua lắng nghe, cảm nhận và thấu hiểu những lời dạy này thời ta có cơ hội thành tựu được trí huệ - hiểu rõ về lời dạy của đức Phật, hiểu rõ thân và tâm của chính ta. Xưa nay, quý Phật tử đi chùa rất nhiều nhưng liệu mấy ai thành tựu được điều này, mấy ai hiểu biết về thân và tâm của bản thân? Đây là mục đích tối thượng và thù thắng nhất của việc đến chùa, chính vì lẽ đó hôm nay Minh Thành muốn gửi đến quý Phật Tử một món quà mà 2600 năm trước Đức Thế Tôn đã trao lại cho các bậc A-la-hán, các bậc A-la-hán lại tiếp tục trao cho các bậc hiền thánh Tăng, các vị hiền Thánh tăng trao cho quý thầy, để bây giờ quý thầy tiếp tục gửi đến quý vị.

Hiểu về đức Phật

Được nghe Đức Phật thuyết pháp bằng trí huệ Chánh Đẳng Chánh Giác, thời quý Phật tử cần phải hiểu Chánh Giác nghĩa là gì? Chánh Đẳng Chánh Giác nghĩa là gì? Theo đó, Chánh Giác hay Chánh Đẳng Chánh Giác là sự thấu hiểu triệt để, rốt ráo, hoàn toàn, tận cùng, viên mãn tất cả khía cạnh về thân và tâm của bản thân. Khi một cá nhân đã thấu triệt về bản thân một cách rốt ráo, triệt để, tận cùng thì cá nhân đó sẽ chấm dứt khổ đau, phá tan vô minh và đánh sạch tham ái, chấp thủ.

“Phật” nghĩa là vị giác ngộ, mà giác ngộ chính là thấu hiểu chính mình, quý phật tử cần ghi nhớ thật kỹ điểm này. “Phật” không phải là vị thần linh ở trên cao với hào quang thần thánh, mà ta cần phải lạy lục, cầu xin để được ban phát điều này hay điều nọ, đây là niềm tin sai lầm, là mê tín dị doan. Trên sự thật, “Phật” là người đã khám phá, đã hoàn toàn chứng ngộ sự thật của thân tâm, chấm dứt toàn bộ đau khổ và có khả năng hướng dẫn cho chúng ta một phương pháp, một cách thức, một đạo lộ, một con đường, một lối sống đưa đến chấm dứt toàn bộ khổ đau. Ta cần phải hiểu chính xác như vậy về Đức Phật thời mới hy vọng nối gót ngài trên bước đường giải thoát.

Bằng trí huệ Chánh Đẳng Chánh Giác Đức Phật nhận thấy, chứng ngộ rằng thân và tâm của mỗi cá nhân đều được cấu tạo gồm năm nhóm, năm thứ, năm thành phần, như năm ngón trên một bàn tay. Chi tiết hơn, Đức Phật nhận ra thân tâm của Đức Phật cùng tất cả chúng sanh được cấu thành từ năm thành phần, trong Tâm Kinh Bát Nhã mà quý Phật tử hay đọc tụng có đoạn nhắc đến Chiếu Kiến Ngũ Uẩn Giai Không chính là bàn về sự thật này, Ngũ Uẩn bao gồm sắc; thọ; tưởng; hành; thức. Và đường lối tu hành ở đây là thực tập nhận diện Năm Uẩn và quán chiếu Năm Uẩn theo lời Đức Phật dạy trong Tương Ưng Bộ Kinh.

Trí tuệ Ngũ Uẩn

Sắc uẩn là gì? Sắc uẩn là thân thể vật lý đang hiện hữu của chúng ta, thuộc về vật chất, có thể định lượng bằng ký lô. Sắc thân này của chúng ta được tạo thành từ đất; nước; gió; lửa kết hợp. Quý vị nhìn kỹ thân này mình có cần phải ăn? Nếu có thì ăn đồ từ đâu mọc lên? Từ “Đất”. Mọi người cần phải hít thở dưỡng khí, khí là “Gió”. Trong người có nhiệt độ không, hơi ấm không? Và thiếu nước liệu chúng ta có sống được? Không dừng lại ở đó, tất cả những gì có thể thấy được bằng mắt bao gồm đồ vật, cái cây, cái bàn, cái ghế, ngôi nhà, cọng rơm… toàn bộ là đều là thuộc về sắc. Thử hỏi, chiếc bàn có được tạo thành từ đất nước gió lửa? Cái chuông rồi đến cái nhà chúng ta đang ngồi ở trong, bản thân mình đang đọc những dòng này có nằm ngoài đất; nước; gió; lửa?

Như vậy, đầu tiên Đức Phật dạy chúng ta cần phải nhìn nhận ra rằng, thứ gần gũi nhất với chúng ta là xác thân này và vạn vật đều được cấu thành từ đất; nước; gió; lửa. Đây chính là bản chất của tất cả vạn vật, của sắc pháp. Nếu ta không nhận ra được điểm này thời khổ đau sẽ cứ mãi kéo dài, kéo dài... Chính vì ta luôn tin rằng mấy chục ký lô này là tôi, là của tôi. Việc nhận rõ sự thật này là cực kỳ quan trọng, cần phải trải qua quá trình học tập và thiền quán dài lâu thời mới có thể chấp nhận, nhận ra sự thật. Nếu người nào nhận ra sự thật này thời người đó thành tựu thể nhập thánh trí. Tùy theo mức độ thấy hiểu của bản thân về sắc uẩn này mà khổ đau được giảm thiểu. Nếu hoàn toàn nhận sắc thân này là ta, là của ta thời người đó đau khổ 100%, thuộc hạng vô văn phàm phu không nghe hiểu chánh pháp, không thực hành chánh pháp; hiểu được 20% thời bớt khổ 20%; hiểu được 40-50% thời người đó bớt khổ 40-50%.

Do đó, điều cấp bách là cần phải thấu triệt chân thật sự thật về sắc thân và vạn vật hiện hữu đều được hợp thành từ đất, nước, gió, lửa; mỏng manh đến mức chỉ một tan nạn bất ngờ, lập tức trở thành một đống thịt bầy nhầy. Một cơn gió độc, một cái trượt chân cũng đủ làm sắc pháp này tan hoại, rã nát.. kết quả cuối cùng luôn là một nắm xương tàn, tro cốt. Những điều này đòi hỏi sự thực tập thiền quán cần mẫn, nói một cách đơn giản là cần tự mình ngồi xuống chiêm nghiệm, nghiền ngẫm, phân tích đến khi nào nhãn mục của bản thân được khai mở, hiểu biết như thật, sáng suốt về tánh chất vô thường của vạn vật thời lúc đó khổ đau được chấm dứt, chứ không phải đến chùa lạy Phật là được ban ơn hết khổ. Tất cả đã được đức Phật hướng dẫn phương pháp rõ ràng, chúng ta chỉ cần thực tập đúng theo như vậy thời bớt khổ, chấm dứt khổ và đoạn tận khổ; sự nhận thức này cực kỳ vi tế và thâm sâu tuy nhiên khi nhận ra rồi thì sẽ thấy rất thực tế. Muốn vậy, mình cần phải lắng nghe bản thân rồi cố gắng luyện tập dần dần, đây là việc quan trọng vậy.

Thọ uẩn là gì? Thọ uẩn là cảm giác, đây là uẩn (nhóm) cực kỳ trọng yếu trong năm uẩn (nhóm) cấu thành nên mỗi cá nhân. Ngày hôm nay quý phật đến chùa cũng là vì bị uẩn này chi phối... đến để tìm cảm giác. Y cứ theo lời dạy của Đức Phật, cơ thể vật lý này của chúng ta có ba loại cảm giác gồm: cảm giác dễ chịu, cảm giác khó chịu và cảm giác không dễ chịu không khó chịu. Ba loại cảm giác này vận hành, chuyển biến, thay đổi liên tục và quý phật tử đã, đang và sẽ chết trong ba thứ cảm giác này hằng ngày. Thử nhìn lại mà xem, tất cả những vụ án, trường hợp hình sự do đâu mà ra? Phải chăng vì bị các loại cảm giác này chi phối? Đơn giản từ một ánh đèn pha vào mắt là án mạng xảy ra, hoặc là một tiếng pháo đốt cũng xảy ra hình sự vì “bị giật mình”, đến thương yêu nhau mà gia đình không chấp thuận cũng có thể đưa đến hậu quả khủng khiếp. Thủ phạm đều là do cảm giác mà ra cả… cũng là tại vì bản thân không trí huệ để nhận ra đây chỉ là cảm giác nhất thời và nếu có nhận ra thì cũng không biết nhiếp phục, cứ để cho cảm giác - nó muốn làm gì cũng được, chi phối bản thân kiểu nào cũng xong rồi toàn bộ thân tâm chìm ngập trong đau khổ. Đức Phật dạy rằng mỗi cá nhân cần phải thường trực nhìn lại cảm giác và nhận ra sự sanh khởi, hoại diệt của nó là vô thường bởi nó biến đổi liên tục. Để không còn bị đánh lừa, để không còn bị nhận chìm, khống chế và làm nô lệ đời đời cho giác cảm. Thấu hiểu được điều này, Minh Thành đã phát hành ba bài pháp nói về cảm giác là Cảm Giác Nhận Chìm Thế Giới 1, 2, 3 với mong muốn quý Phật tử nhận ra rằng cả thế giới này đã, đang và sẽ chết chìm trong cảm giác. Nếu mỗi cá nhân không chịu tu học Phật pháp, không thường trực nhìn lại cảm giác của bản thân thì một khi cảm giác bộc phá, ta không hề có đủ sức mạnh chế ngự. Chỉ cần một loại cảm giác bực bội khởi phát lên trong thân tâm mà ta không nhận rõ đây chỉ là cảm giác rồi ta đánh đồng cảm giác này với tâm của ta với bản thân ta thời ngay lúc đó mọi thứ sụp đổ, vỡ tan, tan nát dẫn đến hối hận đi theo cả cuộc đời.

Lời dạy của Đức Phật liên quan đến thọ uẩn này cực kỳ thâm sâu và thiết thực, chúng ta cần thường xuyên túc trực nhìn nhận nội tâm, cảm nhận những cảm giác đang sanh khởi để từ đó có cách ứng xử phù hợp. Với những cảm giác của sự thiện lành, yêu thương thời cần được phát huy, nuôi dưỡng cho lớn mạnh, tăng trưởng cho quảng đại. Ngay tại giây phút này đây, khi đọc những dòng này trong tâm chúng ta đang khởi lên cảm giác của sự tỉnh thức, thiện lành.. chính những cảm giác này cần được nuôi dưỡng, làm cho lớn mạnh, tràn ngập tâm hồn. Nếu cảm giác buồn ngủ đâu đó xuất hiện thì chúng ta cần quyết định đánh đuổi nó, tự nhủ một điều rằng "mình ngồi đây là để đọc, là để tiếp thu kiến thức, hướng đến hạnh phúc và an lạc?". Hãy dùng những lời nhắn nhủ mang tính chất mạnh để quở trách những cảm giác tiêu cực, những cảm giác của sự nản chí, rã rượi, suy sụp, tức giận.. phải nhớ những cảm giác này cần phải đánh đuổi bằng một tâm thái quyết liệt, mạnh mẽ thì mới có tác dụng. Điều này theo lời Phật dạy là tuệ lực, là sức mạnh của trí huệ hay còn gọi là Như lý tác ý, nghĩa là thông qua suy nghĩ, xác quyết mà huấn luyện, nhiếp phục những cảm giác của sanh khởi lên trong tâm. Chúng ta cần phải làm chủ cảm xúc để làm chủ hành động từ đó làm chủ cuộc đời của mình, bằng cách cho phép những cảm giác hướng thiện, tích cực triển được phát sinh và tồn lại; cấm tuyệt đối những cảm giác tiêu cực ngay từ lúc ban sơ, không để cho phát sinh và tồn tại. Được vậy thời trí tuệ thứ hai được thành tựu.

Một khía cạnh quan trọng khác của cảm giác cần được nhận rõ. Quý Phật tử cần phải cảnh giác, một khi cảm giác khoan khoái, thích thú hiện hữu trong thân tâm thời quý Phật tử phải nhận ra ở đó có “tham”. Nếu là bực bội, khó chịu thời chứa “sân” ở trong. Cuối cùng, trạng thái cảm giác khiến bản thân ngơ ngơ, đờ đờ, mờ mờ, trì trệ thời quý Phật tử phải nhận rõ đây là “si”. Ắt hẳn quý Phật tử lâu nay đều đã nghe, nói nhiều về “tham, sân, si” tuy nhiên ít người biết về bản chất thực sự và nơi cư ngụ thực sự của chúng. Hôm nay, qua bài đọc này Minh Thành muốn xác quyết cho quý Phật tử biết rằng “tham, sân, si” cư ngụ tại nơi cảm giác của thân tâm ta. Chỉ cần siêng năng, thường trực nhìn lại nội tâm của bản thân, quý Phật tử sẽ phát hiện ra sự thật này, để từ đó nhiếp phục, làm chủ cảm xúc. Một trí tuệ tuyệt diệu được phát sinh từ đây vậy.

Tiếp theo phải nhắc đến là Tưởng uẩn, nhóm thứ ba cấu thành thân tâm; tưởng uẩn được xác định bằng những hình bóng mập mờ trong nội tâm; và tất nhiên nó cũng đem lại khổ đau cho chúng ta. Tưởng ở đây được hiểu trong động từ “tưởng tượng”, nơi một con kiến thông qua nó cũng có thể biến thành thành một con voi. Vì tưởng mà chuyện nhỏ thành ra đại sự, ban đầu vấn đề vốn chỉ là thứ cỏn con nhưng vì tưởng mà ta cho là vấn đề lớn, nếu vốn dĩ đã là chuyện lớn thời ta tưởn ra cực kỳ to lớn, đến chuyện thành án hình sự cũng do đây mà ra. Tưởng uẩn là khổ, bởi vì ta không nhận rõ một sự thật rằng các hình bóng, sự tưởng tượng này là một nhóm những pháp gọi là “ảo ảnh ở trong nội tâm”. Chúng ta cần phải theo dõi, quán chiếu, để tâm đến nó, ta cần phải nhìn cho kỹ những hình bóng được khởi lên trong nội tâm này, đâu là hình bóng thiện, đâu là những hình bóng bất thiện. Bằng cách khi ta thấy người nào hoặc hành động nào khiến chúng ta liên tưởng đến những cái xấu, cái dở thì tại ngay lúc đó ta nhủ thầm "Cái tưởng này bậy rồi nha", "Cái tưởng này sai rồi", "Cái tưởng này là tưởng bất thiện nha", "Cái hình bóng này không nên tồn tại, đi chỗ khác chơi", "Ta không có chấp nhận hình bóng này trong tâm ta. Ta là một người tốt lành. Người hiền thiện, hình bóng này là ác là xấu, là có hại". Đánh đuổi quyết liệt, không chấp nhận những hình bóng đó thời ta thành tựu trí huệ thứ ba về tưởng uẩn, bằng cách kiểm soát tất cả những hình bóng trong nội tâm của mình.

Hành uẩn. Trí huệ thứ tư liên quan đến hành uẩn, được nhận diện bằng những lời nói lầm thầm, liên miên không dứt trong trong nội tâm. Hành uẩn hoạt động liên tục, thể hiện bằng những lời nói liên miên, huyên thuyên không ngớt trong nội tâm ta, đôi khi vì quá mỏi mệt ta muốn nó dừng lại để được thực sự nghỉ ngơi mà không thể làm chủ được, nó cứ vận hành hoài hoài trong nội tâm. Ta tự nhủ rằng "thôi mệt quá rồi, đừng nghĩ nữa, nghỉ một chút" nhưng nó nhất quyết không chịu không chịu khiến thân và tâm ta kiệt sức… đây là hành uẩn vậy. Bây giờ, khi ta đã nhận diện được nó, biết được nó là nguồn cơn của sự đau khổ thời cần phải tiến hành luyện tập kiểm soát hành uẩn, kiểm soát những lời nói thầm bên trong nội tâm của mình. Cần phải luôn luôn nhìn rõ những dòng suy nghĩ này, xem xét rằng những suy nghĩ này có đem lại lợi lạc cho mình, cho người hay làm khổ mình, khổ người. Tại sao thuở ban đầu, lúc lần đầu gặp nhau ta yêu thương, quý trọng nhau tới mức nếu không được gặp người này là ta đau đớn vô cùng, đau đến mức không thể sống nổi. Rồi thì tại sao bây giờ ta lại thù ghét nhau, không muốn nhìn mặt nhau? Tất cả đều nằm ở suy nghĩ, gọi là tà tư duy, là suy nghĩ bất thiện, không đúng vậy. Để khắc phục điều này, mỗi khi ta có suy nghĩ tức giận ai đó thì ta cần phải khống chế những dòng suy nghĩ này, hướng nó tìm về những suy nghĩ về những điều tốt, điều đẹp, điều hay của người đó, tự nhủ “tại sao bây giờ mình toàn nghĩ xấu về người đó không vậy?”. Đã nhìn nhận được bản chất sâu xa của nó là vậy thời từ nay trở đi điều ta cần làm mỗi ngày là liên tục tác ý đánh đuổi những suy nghĩ xấu, đánh đuổi những suy nghĩ làm khổ mình, làm khổ người. Cùng với đó, cần phải phát huy những ý nghĩ thiện, những ý nghĩ lành, những ý nghĩ làm lợi ích cho mình, lợi ích cho người thời ta thành tựu trí huệ thứ tư.

Luôn luôn nội chiếu, quán sát, lắng nghe suy nghĩ của bản thân thời chính là thiền. Bất kỳ là ở đâu, lúc nào chỉ cần ta luôn luôn nhìn lại và nhận rõ những cảm giác, những suy nghĩ, những hình bóng đang hiện hữu trong nội tâm của mình, thường trực kiểm soát, làm chủ nó thời đây là hạnh thiền tối cao của đạo Phật, gọi là Chiếu Kiến Ngũ Uẩn. Do chúng ta không nhận rõ được điều này, không biết quay lại nội tâm của mình nên mỗi khi gặp, thấy điều gì là lo “chiếu” người ta theo thói quen chứ không chịu nội soi thân tâm bản thân, từ sáng đến tối chỉ biết “chiếu” người ta rồi sẽ bị người “chiếu” lại, cuối cùng ta và người trừng trợn, hận thù ngập tràn; chiến tranh, tranh đấu bắt nguồn ở đây vậy. Hai chữ “nội soi” được Đức Phật dạy với ý nghĩa cực kỳ thâm sâu, tinh tế; tinh tế ở chỗ cần phải liên tục nhìn lại, làm rõ bên trong, xem xét bên trong nội tâm của bản thân đang hiện hữu, vận hành như thế nào để từ đó nhận ra những trục trặc của thân tâm thời mới có thể cứu chữa, hóa giải những ân oán không đáng có, tránh những hậu quả đáng tiếc trong tương lai. Vậy, Minh Thành muốn nhắn nhủ một điều rằng, quý Phật tử hãy cố gắng, cần cù, siêng năng nhìn lại thân thể, cảm giác, những hình bóng trong nội tâm, những suy nghĩ, nhận thức đang vận hành, hiện hữu trong thân tâm của bản thân thời quả ngọt sẽ đến với quý vị.

Thử hỏi, một người luôn chăm sóc, quan tâm đến sức khỏe; luôn luôn tập thể dục, ăn uống theo chế độ rõ ràng, ngủ nghỉ đúng giờ giấc, dinh dưỡng đầy đủ theo khoa học thì sức khỏe của họ sẽ ra sao…? Được vậy, thời chắc chắn sức khỏe của người đó sẽ tốt hơn rất nhiều so với những cá nhân buông lung, cẩu thả, vô độ. Cũng thế, chính vì không biết quan tâm, chăm sóc sức khỏe tâm hồn nên thời nay đa số chúng ta có một tâm thức, đời sống tâm linh ốm yếu và suy nhược, suy nhược thần kinh là một ví dụ rõ ràng về điều này. Chúng ta tu học, trở về với chùa với đức Phật với quý Tăng Ni thời ta được cung cấp những thức ăn bổ dưỡng đối với tinh thần, được chăm sóc sức khỏe tâm hồn… đây là một ý nghĩa nữa của việc đến chùa. Chụp hình, ăn chay một phần, công quả là một phần, phần quan trọng nhất là nghe pháp, học pháp và thực hành pháp là quan trọng hơn hết quý Phật tử cần phải ghi nhớ điều này. Thật kỹ, thật rõ, thật sâu sắc.

Ý nghĩa, lợi ích của bố thí

Bố thí nghĩa là giúp đỡ người khác, theo lời dạy của Đức Phật bố thí có năm lợi ích chính gồm: Sắc, lực, lạc, thọ mạng và tăng thượng. Đức Phật dạy rằng ta đem thức ăn cho người là ta cho người sức mạnh, đem áo cho người là cho người sắc đẹp, đem đèn cho người là cho người sự sáng suốt, đem xe cho người là cho người niềm vui. Tối thượng, vi diệu hơn hết chính là mang pháp bố thí cho người thời bây giờ ta cho người sự bất tử. Chính vì những nhân duyên đó mà khi bố thí, giúp người người thời ta được những quả ngọt là sắc đẹp, thực tế, gần gũi nhất quý Phật tử nhớ lại sẽ rõ, khi ta cầm đồ từ thiện cho người lúc đó người cười hay nhăn nhó? Cười vui không? Khuôn mặt lúc đó có đẹp không? Tất nhiên rất đẹp đẽ, vui vẻ, sức khỏe đúng không? Đây là lợi ích ngay trước mắt vậy. Chính vì những lẽ đó, đức Phật dạy:

Nay vui, đời sau vui,
Làm phước, hai đời vui,
Nó vui, nó an vui,
Thấy nghiệp tịnh mình làm

Nay sướng, đời sau sướng,
Làm phước, hai đời sướng.
Nó sướng: ‘Ta làm thiện’,
Sanh cõi lành, sướng hơn.

(Kinh Pháp Cú Phẩm Song Yếu)

Vì những lẽ đó mà bố thí nghĩa là cho mình và cho người sắc đẹp, thọ mạng, sức khỏe… Cho ta và người hạnh phúc, vui vẻ, tăng thượng giúp ta và người tiến lên thêm trên bước đường tu học thiện pháp từ đó dẫn tới đạo lộ hạnh phúc tuyệt đối của Niết-bàn. Đây là lợi ích của bố thí, quý Phật tử hãy ghi nhớ.

Hóa giải sự căng thẳng

Minh Thành vừa thỉnh 4 tiếng chuông, đây tượng trưng cho 4 Dự Lưu phần. Người nào được bốn phần đó sẽ tham dự vào dòng thánh.

Tiếng chuông thứ nhất tượng trưng cho sự thành tựu lòng tin bất động đối với Phật, đối với pháp, đối với Tăng và đối với thánh giới.

Tiếng chuông thứ 2 tượng trưng cho tất cả tấm lòng chân thành cung kính, ta đem tâm hướng về giáo pháp ly tham. Toàn bộ giáo pháp của Phật có thể tóm gọn trong hai chữ ly tham, nghĩa là giúp ta thoát ra khỏi tâm tham lam, ham muốn không điểm dừng. Vì chính cái tâm ham này khiến cho ta và người cứ hoài khổ đau. Ví như sự học của chúng ta, ta cần phải chọn cho mình chính xác nghành học rồi thì mới cố gắng nỗ lực thành đạt ở ngành đó. Bởi vì tham mà ta chọn học bốn ngành rồi ta không biết cố gắng phát triển ở ngành nào, những cố gắng cứ thế nửa vời, nay ngành này mai ngành kia.. đến cuối cùng ta chẳng thể thành tựu ở bất kỳ một ngành nào? Đây là bởi vì cái tâm tham, không xác quyết, không quyết định, không rạch ròi quả quyết. Ở đây Minh Thành chỉ đặt vấn đề nhỏ, trên thực tế còn rất rất nhiều vấn đề khác nữa, cũng chính vì cái tâm tham này đã dẫn ta đi hoài, đi hoài kiếm tìm liên tục không bao giờ thõa mãn thời bấy giờ ta khổ đau hoài cho đến hết cuộc đời này. Bởi lẽ như thế, cho nên chỉ có học và hành giáo pháp ly tham, nhìn rõ bản chất tứ đại, từ đó liên tục quán chiếu đến khi nào tâm của ta bớt đi sự ham muốn thời bình yên hiện hữu, khi yên hiện hữu thời có định hiện hữu, một khi có định thời tâm ta tỏa sáng, tỏa sáng rồi thời ta sẽ nhận ra đâu là việc nên làm, đâu là việc không nên làm. Bằng một sự quyết định cực kỳ sáng suốt, cực kỳ chính xác mới có thể đưa đến thành công. Ngược lại, nếu ta không được tiếp cận, không dụng tâm học và hành giáo pháp ly tham, đưa đến sự giảm bớt của ham muốn thời ta sẽ bị tâm tham chi phối làm cả cuộc đời, cứ hoài tìm kiếm mà mãi vẫn khổ đau.

Có một câu chuyện như vầy, ngày xưa ở nước nọ có một vị tướng quân thắng trận trở về, nhà vua ban cho ông một đặc ân, rằng ông phi ngựa đến nơi nào thời nhà vua phong đất cho ông đến đó. Cho phép ông leo lên lưng ngựa rồi cứ việc phi, phi cho đến khi nào ông còn phi nổi, một khi ông còn trên lưng ngựa thời đất nơi đó được phong cho ông. Lúc bấy giờ, vị tướng quân này liền nghĩ “đây là cơ hội ngàn năm có một, trăm năm đệ nhất” nên ông phi ngựa bỏ ăn, bỏ uống, bỏ ngủ. Rồi cuối cùng ông ngã quỵ xuống, cũng là vì luôn ráng cố gắng, chạy tới đâu là lấy được đất tới đó nên không chạy thì “uổng lắm”. Cũng như chúng ta vậy, cày ngày không đủ tranh thủ làm đêm, tăng ca không đủ thì tranh thủ thêm ca khuya nữa, cũng như hành động cố gắng ngồi trên lưng ngựa của vị tướng quân đó vậy. Câu chuyện kết thúc bằng hình ảnh, vị tướng quân này ngã khuỵu xuống đất, thở thều phào rằng "ta không cần nhiều đất nữa, ta chỉ cần một miếng có bề ngang một thước, bề dài hai thước thôi", và miếng đất này cũng chính là mồ chôn của vị tướng quân đó.

Minh Thành mong rằng trong lúc các bạn hãy còn đang trẻ, có đầy đủ học thức, trình độ, tràn đầy sinh lực, nghị lực, tâm lực, trí lực, nguyện lực. Các bạn hãy dốc sức tìm hiểu Phật pháp, lắng nghe, thực tập, nghiên cứu và nắm vững những lời dạy của đức Phật từ đó tiếp thu những phương pháp sống cực kỳ tuyệt vời, cực kỳ tuyệt diệu. Một khi bản thân chịu khó thực tập thời Minh Thành chắc chắn với các bạn, lợi ích sẽ đến với bản thân, gia đình, xã hội, cộng đồng của các bạn để từ đó đóng góp xây dựng thế giới ngày một văn minh, hiện đại, hạnh phúc và an lạc theo tinh thần của Đức Phật.

./.