Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Nghiệp 10 - Sáu loại nghiệp đen trắng

2026-03-03 00:53:16
Nghiệp 10

Sáu Loại Nghiệp Đen Trắng

-THÍCH MINH THÀNH-

Chúng ta sẽ nghe Đức Phật mở rộng thêm về 6 loại nghiệp đen và trắng, gồm:

Một số sanh loại đen sanh ra pháp đen; một số sanh loại đen nhưng sanh ra pháp trắng; một số sanh loại đen sanh ra Niết-bàn, không đen không trắng; một số sanh loại trắng lại sanh ra pháp đen; một số sanh loại trắng sanh ra pháp trắng; một số sanh loại trắng sanh ra Niết-bàn, không đen không trắng.

Và này, Ànanda, thế nào là một số sanh loại đen sanh ra pháp đen?

Ở đây, này Ànanda, có một số người sanh ra trong gia đình thấp kém, gia đình người đổ phân hay gia đình người thợ săn, hay gia đình người đan tre, hay gia đình người đóng xe, hay gia đình người quét rác, hay trong gia đình một người nghèo khổ, khó tìm được đồ ăn uống để sống, khó tìm cho được đồ ăn đồ mặc. Và người ấy xấu xí, khó nhìn, lùn thấp, nhiều bệnh hoạn, đui một mắt, tàn tật, còm, què, hay đi khấp khểnh, không có được đồ ăn, đồ uống, đồ mặc, xe cộ, vòng hoa, hương, phấn sáp, chỗ nằm, chỗ ở và đèn.

Người ấy làm ác hạnh về thân, làm ác hạnh về lời, làm ác hạnh về ý. Người ấy do làm ác hạnh về thân, về lời, về ý, sau khi thân hoại mạng chung sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Như vậy, này Ànanda, là hạng sanh loại đen sanh ra pháp đen. (Tăng Chi Bộ Kinh – Tập 3, Chương Sáu Pháp, III. Phẩm Trên Tất Cả, VI. Đại Phẩm, Sáu Sanh Loại)

Đây là đề tài cho chúng ta quán chiếu sâu sắc. Thời xưa có những người làm nghề đổ phân như câu chuyện về Ni-đề, cậu ấy rất quý kính ngưỡng mộ Đức Thế Tôn nhưng không dám lại gần vì tủi thân, tự ti, mặc cảm do mình làm nghề đổ phân. Đây là 1 nghề thấp hèn, hạ tiện, hôi hám, bẩn thỉu, dơ dáy, sau khi người ta đi ra, thì người này đi lại thu rồi đem đi đổ, hồi xưa không có những hệ thống hiện đại giống như mình bây giờ. Có 1 lần lúc còn nhỏ, Minh Thành chứng kiến 1 cảnh đến bây giờ cũng không quên. Vùng quê có những cái hầm người ta đi cầu nuôi cá dồ, có một cô đi vào trong đó và rớt vàng xuống hầm. Dưới đó đầy phân nhưng cô này lội xuống dưới đó và thuê thêm người để lặn hụp trong hầm để tìm, rất là dơ bẩn, hôi thối và bẩn thỉu. Những người làm dưới ống cống, hầm cống rất là dơ, sanh ra trong gia đình như vậy chứ người ta đâu muốn làm, nhưng vì ác nghiệp, không có phước báu nên phải làm những nghề như vậy. Đức Phật chỉ nói biểu trưng, mình phải quán chiếu nhiều trong cuộc sống. Ngài không nói hết tất cả mà chỉ liệt kê 1 vài nghề như vậy, mình đặt mình vào trường hợp đó. Những người làm thợ săn bắn, có khi bị thú dữ vồ xé xác, chết là chuyện thường, sanh nghề tử nghiệp. Đó là nghề do ác nghiệp của quá khứ chiêu cảm, không làm được nghề gì khác, chỉ làm được nghề đó và người này phải hứng chịu nghiệp ác. Nhiều khi con nhìn thấy những người lao công con xót xa lắm, có lúc nhìn mà nước mắt rưng rưng, người ta không dám dòm mình, không dám dòm những người đi chung quanh, người ta ngại. Khi mình nhìn thẳng thì người ta tự ti lắm, người ta cúi cúi xuống, tủi thân, mặc cảm, đau buồn, đau khổ khi sanh ra phải kiếm sống bằng cái nghề thấp hèn, thấp kém, bị mọi người nhìn bằng ánh nhìn khinh khi. Vì cuộc sống mà đau khổ lắm, có những nghề mình không tưởng tưởng được được, những nghề phải tiếp xúc với chất độc, những nghề buôn phấn bán hương, xấu hổ và nhục nhã. Người ta đâu có muốn như vậy nhưng do nghiệp tích lũy trong quá khứ chiêu cảm và đưa đẩy vô con đường đó, rồi nghiệp biểu hiện ra, người này không thoát khỏi được con đường đó.

Triệu triệu, vạn vạn, tỷ tỷ những hình thái của cuộc sống, những đau khổ, những ác nghiệp của chúng sanh. Khi tiếp xúc với những trường hợp đó mình phải nhìn thật sâu bằng con mắt trí tuệ để quán chiếu. Con để ý nhìn những người lao công trong các siêu thị, trong những nhà cao tầng, họ thấy mình là họ lủi lủi, cúi cúi xuống, không dám dòm. Họ thấy những người ăn mặc đẹp, giàu có thì họ cúi xuống và có khi người ta đi rồi họ sẽ nhìn bằng 1 ánh mắt khao khát, ngưỡng mộ, nhìn bằng 1 ánh mắt hy vọng, tưởng mơ. Họ nghĩ rằng suốt đời này họ không bao giờ có được những thứ đó. Mình phải nhìn sâu vào thọ; tưởng; hành của nghiệp. Quán chiếu những cảnh nghèo khổ, những người đóng xe, đan tre, quét rác, những đứa trẻ ăn xin. Quán chiếu hình ảnh những em bé ở Châu Phi da bọc xương, suy dinh dưỡng cùng cực. Người ta đem thức ăn thừa bỏ vô thùng, sau đó chở đem về phân loại ra rồi những em bé đó bu lại giành giật với nhau, giành giật những cái cơm thừa canh cặn, những thứ người ta ăn xong rồi đem quăng. Thật đau xót cho rất nhiều mảnh đời như vậy, cho nên mình ăn cơm không được phung phí thức ăn, điều này rất là quan trọng. Phải biết tiếc phước, không phải tự nhiên mà mình có bữa ăn đầy đủ, có nước sử dụng thoải mái như vậy, trong khi có những nơi không có cả nước uống chứ đừng nói chi là tắm giặt.

Sự quán chiếu về nghiệp quả này rất rộng lớn, trùm khắp cả thế giới, từng cái nhỏ cũng đều là biểu hiện của nghiệp quả. Mình nhìn sâu vô những hiện trạng, thực trạng, hoàn cảnh đó để thấy được nhân quả, nghiệp báu biểu hiện. Rất là khó có được miếng ăn, đừng nói đâu xa, chính tại Việt Nam mình có nhiều chú đi quay những mảnh đời nghèo, rất khủng khiếp, không tưởng tượng nổi. Một cụ bà 90 tuổi, mỗi ngày phải đi lượm bọc, lượm ve chai. Có ông cụ già cũng 80, 90 tuổi phải đi bán vé số mỗi ngày rồi nằm lăn lốc ngoài vỉa hè. Có người không có con cháu, có người có con cháu nhưng bị bỏ mặc. Có những trường hợp rất đau lòng, ông già nằm trong bệnh viện nhưng đứa con bỏ đại trong đó rồi trốn đi. Tất cả những cái đó là khổ vô cùng cực nhưng đó đều là ác nghiệp trong quá khứ biểu hiện. Khi không thấy được nghiệp thì người ta sẽ trách người bỏ, nhưng khi thấy được nghiệp rồi thì sẽ không trách. Từng chút mình nghe, thấy, tiếp xúc, cảm thọ, cảm nhận những cảm giác, tưởng, suy nghĩ, nhận thức đều trong gọng kiềm của nghiệp, không đi ra ngoài được. Tại vì nhiều đời thọ; tưởng; hành; thức của mình huân tập theo những cái đó nên dòng suy nghĩ, dòng cảm giác, những hình bóng tưởng tượng của nó ở trong đó, không đi ra ngoài. Những người chột, mù, bệnh nan y, lùn thấp, xấu xí, tật nguyền, khó nhìn, què quặt, đi khập khiễng, không nhà cửa, đi lang thang nhưng còn làm ác, suy nghĩ ác thì khi nhắm mắt, thân hoại mạng chung sẽ rơi xuống cõi dữ ác thú, đọa xứ, địa ngục. Đó là sanh loại đen sanh ra pháp đen, đen rồi mà còn rơi xuống chỗ đen tối hơn cái đen đó nữa.

Trước mắt chúng ta đầy dẫy những khổ đau. Có những người nằm không ăn uống được, phải đổ nước, nghiền thức ăn vô ống, có người phải gắn ống dây để tiểu, hư luôn cơ quan, bộ phận để tiểu. Minh Thành chứng kiến có người nằm liệt giường hơn 20 năm, bán thân bất toại. Cho nên thân thể này tuy nhìn như vậy nhưng chỉ cần 1 tích tắc thôi, khi đổ bệnh nan y, ung thư thì trong vòng vài ngày là nhìn không ra, chỉ còn 20 mấy kí. Minh Thành chứng kiến rất nhiều người cả cư sĩ lẫn xuất gia, người đó 70 kí, chỉ đổ bệnh xuống 1 cái thôi, dù tuổi bằng Minh Thành mà còn có 20 mấy kí, không tới 30 kí. Mình nhìn là bàng hoàng, mình thấy không có bền chặt trong sắc uẩn này, tích tắc, chớp mắt, khoảnh khắc là có thể đổ vỡ, ngã xuống, sụp xuống, vỡ, bể, nát, hoại, tan biến thành cát bụi.

Và này Ànanda, thế nào là hạng sanh loại đen sanh ra pháp trắng?

Tức là những người này sanh ra trong 1 gia đình thấp kém như lúc nãy nói, nhưng thân làm lành, miệng nói lành, ý nghĩ lành. Tuy nghèo khổ, bệnh tật, xấu xí nhưng có những suy nghĩ thiện pháp, những lời lành, những hành động tốt. Biết giữ gìn 5 giới, 8 giới, 10 giới, biết tu tập bố thí, cúng dường, nói lời từ ái, biết làm những thiện sự, thiện hành, thiện pháp thì người này sau khi thân hoại mạng chung sẽ sanh ra cõi lành Thiên giới, thế giới này. Như vậy, này Ànanda, là hạng sanh loại đen sanh ra pháp trắng.

Những người đó sau khi thân hoại mạng chung sẽ sanh vào thế giới này, được hưởng phước báu hoặc là sanh lên các cõi trời. Đó là đen nhưng sanh ra trắng.

Và này Ànanda, thế nào là hạng sanh loại đen sanh ra Niết-bàn, không đen không trắng?

Ở đây, này Ànanda, có hạng người sanh ra trong gia đình thấp kém... và người ấy xấu xí, khó nhìn, lùn thấp. Người ấy, sau khi cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Vị ấy xuất gia như vậy, sau khi đoạn tận năm triền cái, làm cho muội lược các kiết sử về tâm với trí tuệ, trú tâm trên Bốn niệm xứ, như thật tu tập Bảy giác chi, sanh ra Niết-bàn không đen không trắng. Như vậy, này Ànanda là hạng sanh loại đen sanh ra Niết-bàn, không đen không trắng. (Tăng Chi Bộ Kinh – Tập 3, Chương Sáu Pháp, III. Phẩm Trên Tất Cả, VI. Đại Phẩm, Sáu Sanh Loại)

Chỗ này là chỗ đặc biệt. Có rất nhiều người sanh ra trong gia đình thấp hèn, nghèo khổ trong thời Đức Phật như chàng Vô Não, người chăn bò, những người kỹ nữ, người nghèo khổ. Sau khi gặp Đức Phật, nghe được Chánh pháp thì xin xuất gia, “cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình”. Đó là bước thứ nhất, nhưng điểm mấu chốt phải là “đoạn tận năm triền cái, muội lược các kiết sử”, đây là những pháp trọng yếu, là chỗ siêu việt, vượt ra.

Năm truyền cái, gồm: dục tham, sân, hoài nghi, trạo cử, hôn trầm.

Năm hạ phần kiết sử, gồm: thân kiến, nghi, giới cấm thủ, tham và sân.

Năm thượng phần kiết sử, gồm: sắc ái, vô sắc ái, trạo cử, mạn và vô minh.

Từ chỗ Chánh kiến sẽ phá được kiến chấp về thân, phá hoài nghi đối với giáo pháp, với Tam bảo, phá những cái chấp chặt sai lầm ở những giới không đúng đắn, phá những dục tham, trạo cử, hôn trầm. Mình phá những cái đó bằng tâm trí tuệ, làm cho muội lược (tức là làm bại liệt) các kiết sử, phá được thân kiến, hoài nghi với giới cấm thủ là Dự lưu. Làm cho muội lược tham, sân thì đó là Nhị quả, mà hết luôn tham, sân là Tam quả, Bất lai. Phá luôn được 5 thượng phần kiết sử thì như vậy là lậu tận. Muốn phá được cái này phải bằng trí huệ, bằng Chánh tri kiến. Nếu không thấy được 5 uẩn, không thấy được tính chất vô thường tan hoại, hoại diệt, hủy hoại, vô ngã, đau khổ của 5 uẩn thì làm sao phá nổi tham ái, sân hận đối với 5 uẩn, làm sao phá nổi cái nhìn sai lầm, kiến chấp về thân này. Chính vì vậy, không có Chánh kiến là không có gì hết, cho nên cánh cửa đầu tiên là đi vào Chánh kiến. Muốn có cánh cửa đó là phải gặp bậc Thiện tri thức, bậc Chân nhân, bậc Thánh nhân và nghe diệu pháp. Không có 2 thứ đó là không có Chánh tri kiến. Chúng ta tu học thật lâu mà không có Chánh tri kiến là do không gặp được bậc Chân nhân, bậc Thánh nhân, bậc Chánh tri kiến, đương nhiên không gặp thì không thể nghe pháp đó, Không gặp không nghe thì sẽ không có Chánh tri kiến, cho nên sẽ tu trong tà kiến, tu trong mê tín, tu trong sự lệch lạc, hướng ngoại và cuối cùng là kết quả hướng ngoại. Cầu cái này, xin cái kia, muốn cái nọ, muốn đi đâu đâu để được cái gì đó nhưng cuối cùng trở lại là 1 đống tham, sân, si, ngã mạn, vô minh.

Đức Phật gọi đó là đại khổ uẩn, là 1 đống tích tụ, 1 đống khổ lớn. Đống khổ này gồm có máu, mủ, tinh huyết, phân, nước tiểu, cứt ráy, cứt mũi, ghèn, mồ hôi, những chất dịch nhờn, nhầy nhụa, nhơ nhớp, tanh hôi, bẩn thỉu. Mình đau khổ, mê đắm, tham với nó, chấp chặt, sầu, bi, khổ, ưu não với nó, nhận nó là mình. Đó là đống khổ thứ nhất – sắc thủ uẩn. Đống khổ thứ 2 là những cảm giác ngày đêm thay đổi, chuyển biến, sanh diệt, vận hành bên trong. Cứ buồn, thương, giận, ghét, đúng, sai, phải, quấy, hơn thua, nó cứ như vậy suốt cả ngày. Hồi thấy cười, hồi thấy nhăn, hồi thấy dễ chịu, hồi thấy khó chịu, hồi thấy trơ trơ, đơ đơ, nó cứ làm hoài như vậy, đó là đống khổ thứ 2 – thọ thủ uẩn. Bao nhiêu hình bóng, hình ảnh, ám ảnh, ảo ảnh, ảo tưởng bên trong, đó là tưởng uẩn – đống khổ thứ 3. Rồi những lời nói lầm thầm, hết nghĩ cái này tới nghĩ cái kia, hết cái kia tới cái nọ, mà càng nghĩ thì càng mệt, càng tức, càng dục, càng tham, càng ái, rồi lại càng nghĩ. Cứ nghĩ hoài như vậy là hành thủ uẩn – đống khổ thứ 4. Không nhìn nhình thấy được nó là nguyên nhân khổ mà cứ tôi nghĩ, cảm giác này là tôi, hình bóng này là tôi, đống thịt này là tôi và dính chặt trong đó. Và nhận thức là 1 cái hết sức sâu xa, cái biết của mình, mình tin vào cái biết dữ lắm nhưng đó là cái biết của vô minh, cái biết của nghiệp. Cùng nhìn 1 cảnh thì người thợ mộc nhìn khác, người làm kiểng nhìn khác, thằng ăn trộm nhìn khác, người thầy thuốc nhìn khác và người kinh doanh lại nhìn khác. Tất cả những cái nhìn đó là từ nghiệp, là thói quen trong suy nghĩ theo chiều hướng đó. Mình thấy những lối mòn, những rãnh nước chảy từ trên núi xuống thì cứ ngay đường đó là nó chảy, những chỗ khác thì không chảy, cũng vậy “Này các Tỷ-kheo, chúng sanh chết ở ngay chỗ suy nghĩ”. Cho nên nhận diện 5 uẩn là tuyệt diệu để mình nhận thấy được bản chất. Mình học rồi nhưng lâu lâu vẫn bị gạt, bị nó dẫn, thấy đó biết đó mà cũng yếu đuối, bị nó quật chứ đừng nói chi người không thấy, không biết thì hoàn toàn bị bóng đêm của vô minh chụp xuống, trùm phủ khắp thế giới. Tất cả 5 uẩn đều hoạt động theo trục quay bên trong là dục,“Tất cả pháp lấy dục làm căn bản”. Nếu không có bậc Chánh Đẳng Chánh Giác thì làm sao mình biết được những điều này. Cho nên mình thấy, mình biết như vậy rồi từ từ nỗ lực, tinh tấn đi tới chỗ đoạn tận các truyền cái, muội lược các kiết sử, làm cho tham, sân bớt lần lần, kiến chấp, thân kiến, hoài nghi giảm từ từ đến chỗ chấm dứt, đoạn diệt.

Đặt và trú tâm trên Bốn Niệm Xứ. Tâm mình luôn dòm coi thân thể, cảm giác nội tâm bên trong và sự vận hành của nó. Đây là đường lối tu của tất cả bậc Chánh Đẳng Giác trong quá khứ, hiện tại và tương lai, là định lý, khuôn phép, chuẩn mực mà 3 đời chư Phật không thể vượt qua. “Đoạn tận năm triền cái, làm cho muội lược các kiết sử về tâm với trí tuệ, trú tâm trên Bốn niệm xứ, như thật tu tập Bảy giác chi, sanh ra Niết-bàn không đen không trắng” tất cả các bậc Chánh Đẳng Giác trong quá khứ, hiện tại và tương lai đều phải qua cánh cửa này. Mình trú tâm trong sự thường trực quán thân trên thân – quán thọ trên thọ – quán tâm trên tâm – quán pháp trên pháp, cứ làm công việc đó hoài. Dòm lại thấy rác là bốc thảy, đốt, quăng, dọn, cứ quét, cứ dọn hoài hoài cho đến lúc nào nó hoàn toàn sạch sẽ vì nội tâm mình là 1 đống rác bẩn.

Phải tu tập, làm cho sung mãn và đầy đủ Bảy giác chi, phải luôn luôn có sự trạch pháp biết cái nào là sắc, cái nào là thọ, cái nào là tưởng, cái nào là hành, cái nào là thức đừng để lẫn lộn. Cái nào là tâm có sân, cái nào là tâm không sân; cái nào là tâm có tham, ái phải thấy được lúc đó có tham, ái; lúc nào cái tâm không có tham, ái phải thấy rõ lúc đó không có tham, ái. Khi nào có si phải thấy lúc đó là có si và không si biết rõ lúc đó là không si, biết bằng trí tuệ gọi là tuệ tri. Cái tâm mình hữu hạn hay cái tâm mình vô thượng, cái tâm mình nhỏ hẹp, bị kẹt trong chỗ đó hay đã thoát ra được chỗ đó, rộng lớn trú trong tâm từ vô lượng. Phải biết những trạng thái vận hành, hoạt động bên trong này. Các dòng cảm thọ sanh khởi, an trú và biến đổi phải biết, đó là Trạch pháp giác chi. Bản ngã sanh khởi lên phải biết, sân sanh khởi lên phải biết và tìm cách tiêu diệt. Biết thì tác ý, biết thì quán chiếu chứ không phải biết có sân, có si rồi nhắm mắt đi luôn. Tuệ tri là biết bằng trí tuệ, sau khi biết bằng trí tuệ thì dùng Tinh tấn giác chi, dùng sự nỗ lực Tứ chánh cần để đánh nó. Rồi khi mình tinh tấn, nỗ lực diệt trừ, đánh phá, đánh sập, đánh vỡ, đánh tan nó thì Hỷ giác chi sanh khởi, vui mừng, chiến thắng. Có thực hành pháp thì sẽ thấy rõ tâm hỷ khi chiến thắng được cơn giận, chiến thắng được bản ngã, chiến thắng dục, tham, ái. Sau khi biết bằng trí tuệ rồi nỗ lực tinh tấn xử lý, giải quyết thì hỷ sanh khởi, hoan hỷ, vui mừng. Khi hoan hỷ sanh khởi thì khinh an, tâm nhẹ nhàng, tâm an định và buông xả những phiền não, buông xả hết những dính mắc trong pháp mình đang thực hành. Trình tự Bảy giác chi: Trạch pháp giác chi, Tinh tấn giác chi, Hỷ giác chi, Khinh an giác chi, Định giác chi, Xả giác chi là con đường của chư Phật, 7 pháp đưa đến giác ngộ, 7 chi phần. Cho nên Trạch pháp giác chi là Chánh kiến; Tinh tấn giác chi là Chánh tinh tấn trong Bát Chánh Đạo; Hỷ giác chi, Khinh an giác chi, Định giác chi, Xả giác chi là Chánh định trong Bát Chánh Đạo, đó là cái tâm hoan hỷ, nhẹ nhàng, an định. Bằng trí tuệ, không trú chấp trong vướng mắc của 1 pháp nào đạt đến tâm buông xả, thanh tịnh, bất động. Nếu không khi đạt được Sơ thiền là thích và ở trong đó hoài, không đi ra, không lên Nhị thiền được, cho nên xả đó là để đi lên chứ không phải xả là mất. Cũng như mình bước bậc thang, không bỏ bậc thang này sao bước lên bậc thang trên, chỗ này đẹp quá nên đứng luôn chỗ đó thì sẽ không lên được. Cho nên phải bỏ bậc này mới lên được bậc kia. Xả giác chi giống như vậy, xả cho đến chỗ cùng cực là bất động tâm giải thoát, tới lậu tận. Khi mình vận dụng, thực hành sẽ thấy trình tự của pháp rất là rõ. Mình không thực hành, không nhận diện và quán chiếu thì đọc chỉ thấy chữ nghĩa chứ không thấy pháp. Mình có thực hành, quán chiếu, vận dụng thì sẽ thấy pháp hiện rõ ra. Vị này tuy là sanh loại đen nhưng nhờ thực hành Chánh tri kiến, thực hành phá dẹp, đoạn tận 5 truyền cái, muội lược các kiết sử, an trú tâm trên Bốn Niệm Xứ, và như thật tu tập Bảy giác chi, cho nên vị này sanh ra Niết-bàn, không đen không trắng.

Và này Ànanda, thế nào là sanh loại trắng sanh ra pháp đen?

Ở đây, này Ànanda, có hạng người sanh ra trong gia đình cao quý, trong gia đình Sát-đế-ly đại phú, hay trong gia đình Bà-la-môn đại phú, hay trong gia đình gia chủ đại phú, phú hào, có tiền của lớn, tài sản lớn, có nhiều vàng bạc, có nhiều tài sản, vật dụng, nhiều tiền của, ngũ cốc. Người ấy lại đẹp trai, dễ nhìn, dễ thương, với màu da tuyệt đẹp, mỹ miều. Người ấy lại được ăn đồ ăn, đồ uống, áo mặc, xe cộ, vòng hoa, hương liệu, phấn sáp, chỗ nằm, chỗ trú, đèn đuốc. Người ấy làm ác hạnh về thân, làm ác hạnh về lời, làm ác hạnh về ý.

Người ấy do làm ác hạnh về thân, do làm ác hạnh về lời, do làm ác hạnh về ý, sau khi thân hoại mạng chung sanh, sanh vào cõi dữ, ác thú, đạo xứ, địa ngục. Như vậy, này Ànanda, là hạng sanh loại trắng sanh ra pháp đen. (Tăng Chi Bộ Kinh – Tập 3, Chương Sáu Pháp, III. Phẩm Trên Tất Cả, VI. Đại Phẩm, Sáu Sanh Loại)

Người xưa thường nói làm phước mà không có tu huệ là tai họa của đời thứ 3. Tại sao là tai họa của đời thứ 3. Đời này làm phước nhiều, đời sau hưởng, hưởng hết phước đó rồi mà không biết tu thì đời thứ 3 là tai họa. Cho nên trắng nhưng lại sanh ra pháp đen. Mình thấy những đứa trẻ con nhà giàu bị xì ke, ma túy, đi theo du côn, du đảng, có khi phải vô tù tội hay là mất mạng, chết thảm, chết yểu. Cho nên khi có phước đừng ỷ lại, kiêu ngạo, ta đây, kiêu căng, hách dịch trong phước đó. Phước đó cứu mình nhưng chính nó cũng giết mình nếu mình không có trí tuệ thì mình có cái gì đi nữa nó cũng có thể làm hại mình. Trí tuệ giống như con mắt cho mình nhìn rõ mọi sự, mọi việc trên cuộc đời. Chính vì vậy trong chùa hay nói “Duy tuệ thị nghiệp” là ở chỗ đó. Một khi có trí tuệ thì nó dẫn đạo tất cả những thứ khác cho nên gọi là Chánh kiến dẫn đường tất cả pháp, Chánh kiến dẫn đầu tất cả. Một người giàu có, đẹp đẽ, danh vọng, địa vị, có tất cả mọi thứ nhưng người này mù thì sao gọi là trọn vẹn. Phải sáng con mắt thì trí tuệ, Chánh tri kiến mới nhìn thấy được ngũ uẩn, lậu hoặc, tham, sân, si, bản ngã, cái đó gọi là mắt lớn.

Đức Phật nói một người xuất hiện trên thế gian này, người đó không ai có thể ngang bằng, không ai có thể so sánh, người đó là mắt lớn, là đại quang, là đại minh, người đó là Như Lai, bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác, bậc Nhân Thiên Nhãn Mục. Mở con mắt cho người và trời để nhìn thấy được ngũ uẩn, nhìn thấy được tham, sân, si, nhìn thấy được thực trạng của thế giới, nhìn thấy được cái gì đang dẫn dắt, vận hành thế giới. Đó là Đức Thế Tôn, bậc đại quang, đại minh, mắt sáng, mắt lớn vì tình thương, lợi ích, an lạc cho số đông, cho chư Thiên và loài Người mà người đó xuất hiện. Đọc những câu này rất xúc động, dập đầu xuống lạy, nước mắt mình tràn. Phải biết được thâm ơn cao cả, vĩ đại, không 1 ngôn từ nào có thể diễn tả được. Người đó phơi bày những gì bị che kín, đem ánh sáng vào bóng tối để người có mắt có thể nhìn thấy được ánh sáng, chỉ đường cho người lạc lối. Đó là công đức vĩ đại của Thế Tôn, vĩ đại của Thánh pháp, vĩ đại của các bậc bốn đôi tám chúng. Những vị đã thành tựu Chánh tri kiến, mắt sáng cho trời người, là ngọn đèn cho thế gian, là mặt trời cho vũ trụ, là chỗ vô thượng phước điền cho chúng sanh nương tựa. Nếu không có những vị đó thế gian này sẽ ngập chìm trong bóng tối mãi mãi và vĩnh viễn. Đức Phật chỉ cho mình đây là sắc, đây là sắc tập khởi, đây là sắc đoạn diệt, đây là con đường đưa đến sắc chấm dứt, đoạn diệt. Đây là thọ; tưởng; hành; thức; đây là ngũ uẩn tập khởi, đây là ngũ uẩn đoạn diệt, đây là con đường đưa đến chấm dứt dục, tham, ái, vô minh, bản ngã trong ngũ uẩn. Đó là tiếng gầm sư tử của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác xuất hiện trên thế gian này vỏn vẹn chỉ có 80 năm. Tỷ tỷ kiếp trên hành tinh này mà thời hoằng pháp của Ngài chỉ có 49 năm nhưng đã để lại Thánh pháp tạng đến ngày giờ này gần 3000 năm và chúng ta đang được nghe. Hạnh phúc, trân quý và biết ơn hơn nữa khi hôm nay là ngày Đản sanh của Đức Phật. Ngày Đản sanh của bậc đại quang, đại minh, Nhân Thiên Nhãn Mục, bậc vượt trên tất cả, không có tầm giới, không ai có thể so sánh ngang bằng, không có bạn ngang hàng, là bậc tối tôn, tối thượng giữa chư Thiên và loài Người. Nếu không có Đức Phật thì ai chỉ cho mình thấy được ngũ uẩn. Mình học tham, sân, si, bản ngã trên chữ nghĩa, tri thức, lý thuyết, tưởng tượng thôi, nếu không thấy ngũ uẩn thì làm sao thấy được tham, sân, si, làm sao thấy được bản ngã vận hành như thế nào, dục, tham, ái vận hành như thế nào, si trạng thái hoạt động ra làm sao, trạo cử ra làm sao. Bài kinh Tất cả mù lòa:

Tất cả, này các Tỷ-kheo, là mù lòa. Và này các Tỷ kheo, cái gì mù lòa?

Mắt, này các Tỷ-kheo, là mù lòa. Các sắc là mù lòa. Nhãn thức là mù lòa. Nhãn xúc là mù lòa. Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy là mù lòa. Mù lòa bởi cái gì? Ta nói rằng mù lòa bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. (Tương Ưng Bộ Kinh, TậpIV. Thiên sáu xứ, Chương I. Tương ưng sáu xứ, Phần I. Năm mươi kinh thứ nhất, III. Phẩm tất cả, Mù lòa)

Vòng mù lòa này triền miên, bất tận nếu không gặp được Chánh pháp, không gặp được bậc Thiện tri thức. Cơn mù này là vô lượng thời gian, không thể tính toán. Chúng ta phải cảm xúc được vấn đề sanh loại trắng nhưng sanh ra pháp đen, có phước đức nhưng mà lại đưa tới địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Những cái này chúng ta đã đi qua trăm, ngàn, vạn, tỷ tỷ ức lần, trồi lên, hụp xuống, trôi, lăn, đảo lộn, xoay vần trong những thứ này, trong vòng luân hồi vô tận. Chúng ta trôi lăn trong vòng luân hồi nhiều như những viên đất, viên cát dưới đại địa. Bậc thành tựu Chánh tri kiến như những viên sỏi trong lòng bàn tay. Cái khổ còn lại ít giống như 6, 7 viên sỏi trong lòng bàn tay đối với những bậc thành tựu Chánh tri kiến. Còn chưa thành tựu Chánh tri kiến viên mãn thì đau khổ, nước mắt, máu, sự lòng vòng trong đen trắng này là vô tận. Nếu mình không cố gắng trong cơ hội, trong chuyến bay cuối cùng của con thuyền bát nhã thì vòng luân hồi tiếp tục với mình là không thể tính kể.

Và này Ànanda, thế nào là hạng sanh loại trắng sanh ra pháp trắng?

Ở đây, này Ànanda, có hạng người sanh ra trong gia đình cao quý, trong gia đình Sát-đế-ly đại phú... chỗ trú, đèn đuốc. Người ấy làm thiện hạnh về thân, làm thiện hạnh về lời, làm thiện hạnh về ý. Người ấy do làm thiện hạnh về thân, do làm thiện hạnh về lời, do làm thiện hạnh về ý, sau khi thân hoại mạng chung sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này.

Sanh ra trên cõi đời này nhưng cao quý, tốt đẹp. Người này đã cao quý rồi nhưng làm thiện, nói thiện, nghĩ thiện nên cao quý này hướng thượng, tăng thượng, phát triển, hoặc sanh lên cõi trời.

Như vậy, này Ànanda, là hạng sanh loại trắng sanh ra pháp trắng. (Tăng Chi Bộ Kinh – Tập 3, Chương Sáu Pháp, III. Phẩm Trên Tất Cả, VI. Đại Phẩm, Sáu Sanh Loại)

Trắng sanh ra pháp trắng với điều kiện thành tựu Chánh tri kiến thì được còn nếu không thành tựu Chánh tri kiến thì cái trắng đó sẽ biến thành đen. Mình trở lại câu “Duy tuệ thị nghiệp”, phải thành tựu Chánh tri kiến, Chánh tri kiến phải viên mãn, bất động, bất động tín đối với Tam bảo, phải có chân đứng trong pháp và luật. Bởi vì tâm mình, cảm thọ, suy nghĩ của mình là vô thường, cho nên bây giờ nghe thì chịu và thích theo nhưng vài bữa nữa là không tu Nikāya nữa, tu mấy cái kia khỏe, tu này khổ, toàn thấy tham, sân, si, bản ngã. Đó là bị nghiên ngửa, bị lật đổ, ngã xuống trong Thánh pháp. Đây là sự kiện xảy ra rất là nhiều nếu lòng tin chưa bất động. Sự văn, tư của mình chưa đủ thì sự dao động tâm có thể xảy ra rất nhiều. Cho nên phải nghe pháp, thiền quán, thiền định mỗi ngày. Giống như 1 ngày mình ăn cơm 3 lần thì mình phải nghe pháp, thiền quán, thiền định 3 lần, đó là nói tối thiểu cho người cư sĩ. Còn người tu ở chùa là phải liên tục theo thời khóa hẳn hòi, ngoài thời khóa phải vận dụng tâm trú trên Bốn Niệm Xứ, chứ không là sẽ bị lật, chao đảo.

Và này Ànanda, thế nào là hạng sanh loại trắng sanh ra Niết-bàn, không đen không trắng?

Ở đây, này Ànanda, có hạng người sanh ra trong gia đình cao quý, trong gia đình Sát-đế-lỵ đại phú... chỗ trú, đèn đuốc. Vị ấy, sau khi cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Vị ấy xuất gia như vậy, sau khi đoạn tận năm triền cái, làm cho muội lược các kiết sử về tâm với trí tuệ, trú tâm trên Bốn niệm xứ, như thật tu tập Bảy giác chi, sanh ra Niết-bàn không đen không trắng.

Như vậy, này Ànanda là hạng sanh loại trắng sanh ra Niết-bàn, không đen không trắng. (Tăng Chi Bộ Kinh – Tập 3, Chương Sáu Pháp, III. Phẩm Trên Tất Cả, VI. Đại Phẩm, Sáu Sanh Loại)

Phải tự biết mình đang ở vị trí nào, mình còn đen trắng lẫn lộn, có khi đen nhiều. cho nên bây giờ phải làm cho cái đen giảm thiểu, cái trắng tăng trưởng, nhưng cũng không được quên tu tập Chánh tri kiến. Chỗ này là chỗ đặc biệt. Lúc nãy có những người đen nhưng vẫn sanh ra Niết-bàn không đen không trắng. Chỗ khác biệt là thành tựu Chánh tri kiến không cần biết đen trắng gì, mà hướng về Chánh tri kiến là sẽ giúp cho mình tu pháp trắng. Không thể nào Chánh tri kiến mà thành pháp đen, điều đó không thể xảy ra. Khi thành tựu Chánh tri kiến thì tự động Chánh tri kiến dẫn mình tu tập các pháp trắng, nó là vị thầy của mình. Song song với việc tu tập các pháp trắng là mặt tăng thượng giới, tăng thượng định, tăng thượng tuệ. Còn cái trắng đưa đến Niết-bàn không đen, không trắng thì có nhiều chư Thiên, Thánh đệ tử Thiên, những bậc sắp sửa viên mãn.

Làm sao chúng ta kiểm tra cái đen, trắng này. Mỗi 1 suy nghĩ, cảm giác, hình bóng, tưởng trong tâm, sự rõ biết thì mình phải kiểm tra xem nó là đen hay trắng, đó là Trạch pháp giác chi của phần nghiệp. Nếu mình không kiểm tra thì sẽ lẫn lộn, cái này gian trá lắm, hành và lậu hoặc rất dễ qua mặt mình. Lậu là đi đồ lậu, đi hàng lậu, nó qua mặt, mánh khóe, làm đủ thứ kiểu để mình không nhận ra, không biết, không thấy nó. Hoặc là trong 1 tâm mê, mê hoặc, si mê. Trong 1 tâm mê hoạt động theo chiều gian trá, gian xảo, gian manh, nham hiểm thì bản ngã, sự chấp thủ, dục, tham, ái khủng khiếp lắm. Đọc kinh Đại Niệm Xứ sẽ thấy dục, tham, ái ở chỗ nào? Phải có sự nhìn hoài bằng thọ; tưởng; hành; thức; nhìn hoài bằng Tứ Niệm Xứ thân, cảm giác nội tâm và sự vận hành; nhìn kỹ trong Trạch pháp giác chi, bằng con mắt tròng vàng của Tôn Ngộ Không 7, 7, 49 ngày trong lò luyện linh đan chớp chớp, xẹt xẹt. Phải con mắt như vậy mới nhìn ra được lậu hoặc. Cho nên Tôn Ngộ Không nhìn thấy trong bụng đứa trẻ lửa không mà Đường Tăng nói là tội nghiệp Hồng Hài Nhi. Khi cõng nó tới vực thẳm quăng xuống là nổi lên đống khói rồi nó bay mất, nó không phải con nít, mà là yêu tinh ngàn năm. Nội tâm mình y chang như vậy, tham, sân, si, bản ngã là yêu quái, không dễ gì nhìn ra được, nhiều khi có người nhìn rồi chỉ mà mình giận. Đừng nói người cư sĩ, ngay cả người xuất gia bỏ cha, bỏ mẹ, cạo đầu theo thầy vô tu nhưng khi thầy chỉ đó là lậu hoặc, là phiền não, đó là trật thì giận, thấy thầy là né, không lại gần thì không ai rầy. Người ta thương mình bỏ cha, bỏ mẹ theo thầy, chỉ cho mình tu nhưng mình cứ như vậy thì tới chừng nào mới thành tựu. Phật tử cũng vậy, thầy nào nói ngọt là tu tốt quá, phước báu quá, tinh tấn, khen ngợi. Còn thấy nào rầy là không đi chùa nữa, như vậy thì là đi cầu danh, cầu được khen, cầu được bằng công đức, đưa xuống vỗ tay, là cúng. Còn lên Linh Quy Pháp Ấn, cúng nhưng không ai biết gì, nói gì hết nên buồn, tu không vui, vậy thì tìm chỗ vui mà đi. Phải nhìn thấy được mục đích của mình là đoạn trừ lậu hoặc, lấy đó làm mục tiêu, lấy đó làm chỗ nhấn. Phải làm sao tham, dục, ái ngày càng được nhìn thấy, càng được giảm thiểu và nhiếp phục. Phải làm sao sân hận, bực bội, bực tức, khó chịu, gắt gỏng, cau có ngày càng giảm, phải hóa giải được những cảm giác này. Làm sao mà cái si được giải tỏa, giải phá; làm sao mà trạo cử, lăn xăn được nhiếp phục, khống chế, mình làm chủ của nó, bắt nó phải yên định; làm sao cái hoài nghi bị phá vỡ, phá tung, phá tan để thành tựu tịnh tín bất động đối với Tam bảo và Thánh giáo. Làm sao mà bản ngã của mình ngày càng cúi xuống, xẹp xuống chứ không phình lên. Đó là lõi của sự tu, sự nhiếp phục.

Khi thấy rõ mục tiêu thì mình tu mau, có kết quả, tu 1 tuần là thấy kết quả 1 tuần, tu 1 ngày là thấy kết quả 1 ngày, tu 1 giờ cũng thấy rõ kết quả 1 giờ, tu 5 phút, 7 phút cũng thấy kết quả rõ ràng. Thí dụ tham, có dĩa đồ ăn ngon, nhưng 1 người chỉ được 1 miếng, nhưng gắp thêm miếng nữa là người kia 1 hồi lấy gì ăn, tu trong những điều nhỏ như vậy. Tới giờ ngủ chuông reo lên nhưng không chịu dậy, để mấy người kia đi trước súc miệng, nhà vệ sinh chờ lâu, đi từ từ cũng được, đó là tiếng nói trong hành. Phải nhìn thấy từng cái nhỏ nhỏ trong khi ăn, khi ngủ, khi tắm. Tắm vô mở nước ào ào, xối ào ào, đó là dục hoạt động, tham ái hoạt động, không có chánh niệm tỉnh giác, phí phạm, phung phí. Nấu thì để nồi khét, tốn gas 3, 4 tiếng đồng hồ, đó là phung phí phước đức, tất cả phải cẩn thận, mình có phước đức phải biết giữ gìn. Tất cả mọi việc phải làm trong chánh niệm tỉnh giác, làm trong sự bòn phước, tiếc phước, sợ hao phước, giữ gìn, tăng trưởng, vun bồi phước. Phước đó là trắng, nó che chở, bảo bọc, bảo vệ để mình tu.

Đức Phật nói thời dịch bệnh, chiến tranh, bệnh hoạn, bất hòa, thời kì loạn lạc, biến động là không tu được. Hai vợ chồng cự lộn thì tu được không, vô ngồi thiền được không. Ở chùa huynh đệ mặt lớn, mặt nhỏ với nhau thì ngồi thiền được không, hòa tu không được. Mình phải thật sự khéo để nhìn thấy phước đức, pháp trắng này bảo vệ mình, thành tựu càng nhiều thì càng thuận lợi cho mình tu. Lên ngồi thiền, người ta ngồi 1 tiếng, mình nửa tiếng thôi cái chân có bệnh, đó là trở ngại tại vì mình thiếu phước, thân bệnh. Người ta ngồi nghe pháp 2 tiếng không sao, còn mình 45 phút là phía sau đau nhức. Tất cả những điều đó là thiếu phước. Thân thể mình đầy đủ phước đức thì mọi điều được thuận lợi, thuận tiện. Tuyệt đối phải quan trọng cái phước, ngoài tuệ ra thì phải làm phước, không có phước thì tu không được, gặp chướng ngại đủ thứ. Thí dụ sắp xếp hết để lên núi tu 7 ngày nhưng ngày cuối cùng có chuyện, trở ngại, chướng ngại nên đi không được. Trước không bệnh, sau không bệnh, nó lựa ngay ngày chuẩn bị tu, 6 tháng lên núi 1 lần thì bữa đó bệnh. Trong sự phước huệ mình phải để ý nghiệp trắng. Suy nghĩ về người khác, suy nghĩ điều tốt, điều thiện của người ta. Nói về người khác phải nói mặt tốt, nếu nói mặt không tốt, nhược điểm phải nói bằng từ tâm, bằng sự thật, nói bằng tình thương, bằng sự đóng góp xây dựng, tác thành. Người đó chịu nghe thì mới nói, còn nói bằng tâm sân hận, tâm moi móc thì đó là ác nghiệp, là đen, sanh loại đen. Mấy điều này rất dễ bị. Nhiều khi con cũng sợ lắm, con nói pháp thì con vui chứ ngồi nghe 1 hồi là con run, sao nói 1 hồi là bên trong giống như không phải là thùng rác mà cả 1 bồ đựng rác, bốc mùi lên, hết người này tới người kia, toàn xấu không, có mình mình tốt. Đó là ác nghiệp, miệng thối hoắc, phải súc miệng, súc cho thật sạch. Súc miệng, rửa tâm, tắm thân này bằng sự phản chiếu, mọi ý nghĩ phải được kiểm tra, mọi lời nói phải chánh niệm. Không được bộp chộp, không phải nghe là nói lại liền, phải bình tĩnh, tỉnh giác, coi coi nên nói cái gì, nói thế nào, đang có cảm thọ gì trong khi mình nói. Nếu trong đó có sân, không nói, có bản ngã, không nói, đợi khi nào nó hết thì nói. Được như vậy thì trong gia đình không có cãi lộn, cự lộn, đánh lộn. Đó là trí huệ kết hợp với phước đức, gia đình được bình an. Cho nên mình tu, mình thấy nó nhỏ nhiệm, rất hay, tất cả là pháp hành. Mình phải thành tựu cái trí về nghiệp để mình biết và tu, nếu không là mình chỉ là tưởng, tu trí tuệ ngũ uẩn mà cứ tưởng, tưởng như vậy cũng tốt, cũng được rồi. Phải tu bằng trí chứ không phải bằng tưởng, tập nhìn, nhất là giai đoạn lên núi tu học. Cầm cuốn Nghi thức tu học Nikāya đi ra gốc cây, ra vườn trà, ra chỗ xa vắng 1 mình học Căn Bản Trí. Ngoài thời khóa, đi thiền hành 1 mình, đừng rủ ai đi, vì mai mốt đi rồi không ai chung đâu. Giờ cứ rủ đi chung thì mai mốt đi 1 mình sao đi được. Tập đối diện với chính mình, đối diện với những cảm giác, nghĩ tưởng và tập phát giác, phát hiện, xử lí những cái nghiệp, những cấu uế, tập khí, lậu hoặc bên trong. Tập moi móc nó ra, gội rửa, tẩy, lau chùi, tập xử lí chính mình, xử lí nội tâm, quét dọn căn nhà vô lượng kiếp đã bỏ quên, đầy dẫy trong đó là những ác bất thiện pháp đen tối. Phải tập nhất là thời gian ở đây tu tập, biết qua cơn dịch này còn được thở hay không?

Bây giờ bên Mỹ người ta công bố 1 điều hết sức sốc: trên 60% những người nhiễm nCoV ở là ở nhà không tiếp xúc ai, giữ đúng theo quy định khi bị nhiễm. Gần 1,3 triệu ca nhiễm, mấy trăm ngàn người chết, phải cẩn thận, chưa có an ổn. Phải nỗ lực tu học, lấy cơn dịch đó làm động lực, làm sự khích lệ. Đừng sống trong nhởn nhơ, đừng sống trong lửng lờ, đừng sống trong lãng quên, đừng sống trong vô tư, vô cảm mà phải tập sống trong sự cảm nhận sâu sắc thực trạng đang xảy ra chung quanh mình. Sống và cảm nhận một cách sâu sắc về ngũ uẩn, tứ đại, về tham, sân, si, bản ngã làm cho mình khổ đau. Sống và cảm nhận một cách sâu sắc, trọn vẹn bằng tất cả trái tim, tấm lòng tha thiết, tâm mình phải ray rứt, nhức nhối làm cho bằng được kẻo không kịp. Khi mình ra đi tham, dục, sân hận, vô minh, bản ngã, nghiệp đen còn đầy dẫy, đi với 1 tâm mê muội, si ám thì cái đau khổ đó không thể nào tưởng tượng nổi. Phải hành động ngay bây giờ, lấy đề đài dịch bệnh đó làm đề tài quán chiếu, không cho phép mình được buông lung. An trú tâm trên Bốn Niệm Xứ liên tục từ ngày hôm nay cho đến ngày cuối cùng. Chọn cho mình đề mục để quán chiếu về bộ xương, 32 thể trược, 9 giai đoạn của một tử thi. Chọn 1 đề mục tu xuyên suốt, diệt ngã hay là bất tịnh quán. Tu tập tâm từ cho tự thân mình và cho chúng sanh đang đau khổ trên khắp hành tinh. Thời gian của mình không còn nhiều, tấm thân này sẽ đổ xuống bất cứ lúc nào. Mấy ngày lễ chết mấy chục người, bị thương mấy chục, ngày nào cũng có người bước ra đường rồi không trở về nhà được. Chúng ta đừng nhởn nhơ, đùng nghĩ mình sẽ như thế này hoài, cái nghĩ đó là vô minh, là không thấy vô thường, không thấy khổ, không thấy vô ngã. Quán tính chất bại hoại, diệt vong, tan hoại của sắc uẩn, của tứ đại này. Bất cứ lúc nào, bất cứ khi nào, bất cứ chỗ nào tấm thân này ngã đổ xuống, đổ sập xuống, đổ ầm xuống không bao giờ đứng dậy. Nếu không tu thì trong đó chứa đựng đầy dẫy những ác nghiệp, bóng đen, bóng đêm trường dài, lấy gì làm tư lương, làm hành trang để ra đi. Tất cả những gì mình tạo dựng ở đây không xài được, tất cả những gì chất chứa, ôm ấp, yêu quý, bảo vệ lúc đó đều vô giá trị, vô nghĩa. Những người sống chung với mình lúc đó là vô tình. Những cái mình yêu thích, say đắm, quý trọng tới chừng tắt thở là không có cái gì, trống rỗng, trống trơn, trống không.

Thân trống rỗng, không ai trong đó

Chỉ có tim, gan, máu, thịt, xương

Phủ ngoài một lớp da trơn lán

Che hết vô vàn thứ nhớp nhơ.

Thân trống rỗng, không ai trong đó

Chỉ có tanh hôi với hôi tanh

Máu mủ bầy nhầy, phân, nước tiểu

Nhìn kĩ bên trong chẳng có ai.

Mời đại chúng phát biểu.

Thầy Pháp An:

“Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Kính thưa sư phụ, kính thưa quý thầy, quý sư cô và đại chúng.

Theo sự giảng dạy, hướng dẫn, chỉ rõ về nghiệp đen, trắng mà sư phụ đã giảng giải theo Chánh pháp của đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Theo sự hiểu biết của Pháp An, nếu mình muốn đi vào nghiệp trắng thì cũng nhờ Chánh kiến. Chánh kiến rất quan trọng, nó dẫn dắt mình đi chẳng những vào nghiệp trắng, hơn nữa còn dẫn dắt mình giải thoát. Muốn giải thoát cũng nhờ Chánh kiến, nó có sự tương quan trong Bát Chánh Đạo, phải có Chánh tư duy, Chánh nghiệp, Chánh ngữ, Chánh mạng. Muốn có Chánh kiến thì có Chánh tư duy, rồi mình có Chánh nghiệp, Chánh mạng. Nghiệp đen là do dục, tham, ái, sân, si, bản ngã, vô minh và ngã mạn. Người có nghiệp đen, sanh ra pháp đen cũng là do cái dục của tham, sân, si, vô minh, khát ái. Nếu mình có Chánh tư duy, Chánh nghiệp, Chánh ngữ, Chánh mạng, Chánh kiến thì các dục của ái, tham, si không dẫn mình vào mê lộ, con đường đen được. Khi có Chánh kiến thì mình sẽ hành theo Chánh nghiệp, Chánh ngữ và mình sẽ đi vào thiện pháp, làm pháp lành sanh ra nghiệp lành. Nếu mình không có Chánh tư duy, Chánh nghiệp, Chánh ngữ, Chánh mạng thì làm sao có Chánh kiến, như vậy thì không sanh được pháp lành, thân làm. Chỉ có hành theo Chánh tư duy, Chánh nghiệp, Chánh ngữ, Chánh mạng với tâm chân chánh, thiện lành, tấm lòng rộng mở đối với mọi người thì mình sẽ có được Chánh kiến, đi được vào con đường thiện pháp tạo cho mình phước báu. Tuy nói Chánh kiến nghe đơn giản nhưng nó đưa mình giải thoát, đưa mình vượt mọi khổ đau, mình mới trở thành 1 người bình an, chánh niệm, chánh định để đưa đến con đường chánh giải thoát.

Pháp An có những suy nghĩ thiện cận như vậy, xin kính trình sư phụ, quý thầy, quý sư cô và đại chúng. Mong được sự chỉ dẫn và giảng dạy.

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.”

Con mời 1 vị tóm tắt lại bài kinh hôm nay học, tóm tắt 6 loại nghiệp đen trắng.

Chú Dũng:

“Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Con kính bạch sư phụ, kính bạch quý thầy, quý sư cô và đại chúng. Con xin được phép tóm tắt về 6 nghiệp mà Đức Thế Tôn đã chỉ dạy.

Thứ nhất, nghiệp đen sanh ra đen. Thứ 2, nghiệp đen sanh ra trắng. Thứ 3, nghiệp đen sanh ra Niết-bàn. Thứ 4, nghiệp trắng sanh ra đen. Thứ 5 nghiệp trắng sanh ra trắng. Thứ 6, nghiệp trắng sanh ra Niết-bàn.

Thứ nhất, nghiệp đen sanh ra đen, con hiểu người được tái sanh do nghiệp đen của mình bị sanh ra trong hoàn cảnh nghèo khổ, khốn khó, thuộc tầng cấp hạ liệt trong xã hội, vất vả trong việc kiếm sống, thân mang nhiều bệnh tật tai ương, ách nạn, dị tật, đui, chột, què,.. Nhưng trong quá trình sinh sống, thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác, tạo ra những hành động, nghiệp đen của mình. Những người có thân, khẩu, ý đen như vậy thì sau khi thân hoại mạng chung họ sẽ bị rơi vào ngạ quỷ, súc sanh, đọa xứ, địa ngục.

Thứ 2, nghiệp đen sanh ra trắng. Tuy do nghiệp cũ nên tái sanh vào hoàn cảnh hạ liệt, thân thể khuyết tật, mang nhiều bệnh tật, nhiều tai ách, khổ, đói, khó kiếm ăn trong đời sống hiện tại. Nhưng thân vẫn luôn làm thiện, nói thiện, ý nghĩ thiện, cuộc sống thiện lành. Những vị này sau khi thân hoại mạng chung thì họ được sanh vào thiện thú, cảnh của đời sống này, thế giới này làm người hoặc là thế giới của chư Thiên.

Thứ 3, nghiệp đen sanh ra Niết-bàn. Cũng do nghiệp đen vị này sinh ra trong hoàn cảnh thiếu thốn, khó khăn, thân thể bệnh tật, nan y, gặp nhiều khó khăn, kiếm sống cực khổ. Nhưng vị này cạo râu tóc xuất gia, tâm hướng thiện, tu tập đoạn diệt 5 truyền cái, chế ngự, đoạn diệt tham dục đối với ngũ thủ uẩn. Vị này sanh vào Niết-bàn, hoàn toàn giải thoát.

Thứ 4, nghiệp trắng sanh ra đen. Những người này do phước báu nên được tái sanh vào cuộc sống thượng lưu, gia đình, giàu có, địa vị xã hội, vua chúa, cuộc sống đầy đủ, mọi người ngưỡng mộ, thân thể cường tráng xinh đẹp, làn da hồng hào, vẻ ngoài đẹp, tuấn tú. Nhưng thân làm điều ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác, tạo ra nghiệp đen. Những vị này sau khi thân hoại mạng chung thì họ bị sanh vào đọa xứ, súc sanh, địa ngục, ngạ quỷ.

Thứ 5, nghiệp trắng sanh ra trắng. Những vị này do phước báu đời trước được sanh ra trong gia đình viên mãn, giàu có, đại phú, quyền thế trong xã hội, thân thể cường tráng, đẹp hoàn mỹ, không có khiếm khuyết. Họ vẫn luôn thân làm thiện, miệng nói thiện, ý nghĩ thiện, sống cuộc sống thiện phước, thiện lành. Những vị này sau khi thân hoại mạng chung được sanh lên thế giới này với nghiệp trắng, hoặc sanh thiện thú ở cõi chư Thiên.

Cuối cùng, nghiệp trắng sanh ra Niết-bàn. Những vị này do phước báu đời trước nên được sanh ra trong gia đình hoàn hảo, đầy đủ vật chất, giàu có, đại phú, đầy đủ phước báu, quyền lực, địa vị xã hội, được mọi người kính nể. Họ không hưởng dục lạc này, mà phát tâm từ bỏ, sống đời sống viễn ly, cạo râu tóc, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, sống 1 mình tu tập để nhiếp phục, đoạn diệt tham dục, tham ái đối với ngũ thủ uẩn, 5 truyền cái, xóa bỏ 10 kiết sử, hoàn toàn giải thoát và đạt Niết-bàn.

Con thuộc loại nâu, nửa đen nửa trắng. Bản thân con sinh ra trong gia đình không phải nghèo lắm, thuộc dạng dưới trung bình. Do bản thân có phước báu nên tự thân lập nghiệp, cuộc sống tương đối đầy đủ so với nhiều người. Nhưng do bản thân vô minh nên tạo ra rất nhiều nghiệp đen. Chút phước báu còn lại, có thể do thiện nghiệp đời trước cũng có tu học dòng pháp này cho nên con rất may mắn khi đủ nhân duyên gặp được pháp này và thể nhập, tu học được, thân thể cũng không gặp nhiều chướng ngại. Lên đây gặp được sư phụ rất toàn tâm, toàn ý, thầy Pháp Từ, thầy Pháp Nghĩa, quý thầy cũng rất nhiệt tình, cùng đại chúng rất thiện lành, tinh ba tu tập, gặp được bậc thiện tri thức cô Toàn chỉ dẫn tận tình. Con cảm thấy rất hạnh phúc, hỷ lạc. Thời gian trước lên đây con chỉ xin ở 1 tuần, trong tâm lúc đó còn e ngại không biết có tu tập được không, nhưng đến hôm nay đã hơn 3 tháng, tâm đã hoàn toàn nhất hướng, tức là con sẽ tu ở đây như xuất gia, hoàn toàn không có ý muốn về nhà. Mặc dù gia đình, mẹ cũng đang yếu, gợi ý, nhưng trong tâm không muốn về, tại vì con sợ trong con không biết còn nghiệp đen gì không, trên đường về có tai nạn chết, hoặc không còn duyên quay lại đây nữa. Cho nên con không đi. Con cảm ơn sư phụ, quý thầy, sư cô và đại chúng rất nhiều.

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.”

Cô Phật tử:

“Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Con kính bạch sư phụ, kính bạch quý thầy, quý sư cô và bạn đồng tu.

Hôm nay con kính nhờ thấy phá vô minh cho con. Khi vào dòng pháp này, trước khi sám hối được các căn thì con đã nhờ cô Toàn phá vô minh, phá bản ngã cho con và con thấy được mình là ai. Mỗi lần con lạy sám hối, dòng cảm thọ tràn dâng lên và con rất đau khổ, mỗi 1 cái tội, là mỗi 1 cái đau. Đau đến nỗi con phải uống thuốc trợ tim để tỉnh táo, cho nên con rất là sợ khi sám hối. Con vào chùa gặp thầy, thầy hướng dẫn con pháp hỷ lạc. Con tu tập pháp hỷ lạc nhưng mỗi lần tăng hỷ lạc thì cảm thọ nghiệp lại đè lên và con cố gắng rất nhiều mới dứt được cảm thọ đó. Con có đọc pháp thoại của thầy về nghiệp, thầy nói bây giờ mình phải lôi tất cả nghiệp của quá khứ lên, xử nó 1 lần. Cô Toàn dặn mỗi lần sám hối phải viết ra giấy, nhưng viết xong là con không dám đọc lại. Có 1 ý hành khởi lên như bài kinh của sư phụ giảng là sắc của quá khứ, thọ; tưởng; hành của quá khứ mình không nên bám víu, chấp thủ vào. Như vậy nhưng cảm thọ này, những chấp chứa này của quá khứ tại sao ngày hôm nay mình phải lôi ra để xử nó. Đó là điều con rất phân vân và vô minh trong vấn đề này, mong thầy chỉ dạy.

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.”

Con xin thưa đại chúng, mỗi người có thói quen riêng, có nghiệp khác nhau, căn cơ không đồng đều cho nên có những phương tiện tu học tùy theo lúc. Có lúc mình cần tác ý hỷ lạc khi mình tu tới mức nó bị trầm, những giây phút ngán ngán, chán chán. Còn khi mình soi chiếu lại những ác nghiệp, những tội lỗi trong quá khứ là để giải phẫu, còn cái hỷ lạc kia là uống thuốc bổ, vô nước biển chứ không phải là mâu thuẫn. Tùy theo khả năng và sức chịu đựng của mình mà cố gắng xử lý những tập khí, thói quen, nghiệp. Mình ở mức độ nào thì mình làm cho vừa phải, phù hợp nếu thấy nó quá sức thì tạm thời giữ kế hoãn binh, dưỡng sức rồi mới đánh tiếp. Nhiều khi kẻ địch mạnh quá, sức mình chưa đủ nên mình phải dưỡng sức, luyện công thêm. Vấn đề cô uống thuốc trợ tim tới mức đó là hơi quá rồi, nên tới mức nào thôi rồi tu tập hỷ lạc.

Câu hỏi quá khứ là vô thường sao mình phải lôi ra là tại vì mình muốn sạch sành sanh những hàng tồn kho để đi đến chỗ triệt để, hoàn toàn sạch sẽ. Sự tu tập như lúc trước mình từng tu, cứ ngồi yên, thanh tịnh thì nghĩ cái này là Niết-bàn, chân tông, Phật tánh nhưng cái đó là mình chưa đánh thức được những phiền não, nó còn ngủ ngầm nên chưa giải quyết triệt để. Khi mình ngồi yên, bình thường thì mình không thấy, nhưng khi ra tiếp xúc, lúc đụng chuyện thì lòi ra, sân, giận, tham sanh khởi. Đó là do chưa giải quyết triệt để, còn âm ỉ, tồn đọng, tồn kho bên trong, ngoài đời gọi là còn ở dưới tâm khảm, dưới đáy hồ. Muốn súc cái hồ này cho sạch, thì không phải chỉ lắng nước ở trên, mà phải quậy lên, bóc lên, bươi lên nhưng phải coi lại sức, khả năng, trí huệ, mức độ của mình rồi mình làm lần lần. Chỉ giải quyết triệt để thì nó mới đi đến chỗ hoàn toàn sạch sẽ nếu không tuy giống như an ổn, nhưng nó còn ngủ ngầm, đến lúc thức dậy quậy thì mình càng mệt nữa. Cho nên, phương pháp sám hối rất tốt, trào dâng nước mắt không phải dễ, mà phải có sự chấn động, chấn cảm mạnh, mới tác động đến dòng cảm thọ tích tụ, sâu lắng ở bên trong, thậm chí không chỉ kiếp này mà còn những đời trước nên mới có những cảm xúc như vậy, cái đó là tốt. Nhưng để uống thuốc trợ tim là hơi quá, phải dừng ở mức độ nào đó rồi lần lần mình tiếp tục mổ xẻ, giải phẫu, trị liệu. Có những bệnh trị nhanh hết, nhưng cũng có bệnh trị phải cần thời gian, phải kiên nhẫn. Cho nên tuy nó vô thường nhưng mà phải giải quyết nếu không nó vẫn còn cư trú. Thí dụ, ngồi ở đây, những chuyện thương ai, hay giận ai 10 năm trước vẫn sanh khởi, cái đó mà không giải quyết thì còn bên trong. Những cái còn đó khi chết nó sẽ dẫn dắt, lôi kéo mình đi.

Cho nên sự tu học của mình là sự tu học trực diện, sự tu học nội quán, nội chiếu, nội soi, sự tu học phơi bày để đi đến chỗ rốt ráo.

./.