Thứ Tự Tu Tập 1 - Kinh Ganaka Moggallàna
Kinh Nikāya Giảng Giải
Thứ Tự Tu Tập (1)
Kinh Ganaka Moggallàna
Thích Minh Thành
Ngày 12 tháng 09 năm 2022
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Bài kinh PAGEREF _Toc116395302 \h 1
II. Tuần tự PAGEREF _Toc116395303 \h 8
1. Giới hạnh PAGEREF _Toc116395304 \h 9
2. Hộ trì căn PAGEREF _Toc116395305 \h 9
3. Tiết độ ăn uống PAGEREF _Toc116395306 \h 10
III. Không nắm giữ tướng chung – không nắm giữ tướng riêng PAGEREF _Toc116395307 \h 17
I. Bài kinh
Con chấm bài con thấy không có được, cái pháp mình nắm không có vững, tàm tạm thôi chứ chưa có nắm vững hết. Lớp giảng sư chúng ta phải nắm thật là vững, các pháp hành rất là quan trọng. Trong tất cả các thời đại pháp hành điều quan trọng và hơn bao giờ hết trong thời điểm này, là thời điểm mình rất là cần sự thực hành. Đặc biệt trong kinh tạng Nikāya thì pháp học với pháp hành nó đi song song. Một người mà không nắm vững pháp học, thì không thể thực hành pháp hành được. Nếu một người chỉ thực hành pháp, thì người đó không thể thông được cái pháp học. Cái chỗ này là chỗ đặc biệt. Có một số người quan điểm pháp học khác, pháp hành khác. Người này nghĩ là người học giả chỉ lo nghiên cứu, còn người hành giả là cứ lo thực hành thôi, thì không phải. Pháp hành và pháp học nó hỗ trợ, nó làm sáng tỏ, nó tương trợ, tương tác, tương quan, tương thành cho nhau. “Chúng ta học môn này có ngán không ạ? Có thấy khó không? Sao cười? Cười nó nhiều ý nghĩa lắm”.
Tại vì nó là pháp hành, cho nên mình nắm vững được thì nói đâu là trúng đó. Còn mình không nắm vững được thì mình nói cái gì cũng là trật hết trơn, tại vì cái căn bản nó đã trật. Thành ra con muốn cho quý thầy, quý cô nắm vững tinh hoa, cốt lõi trong hành trì. Chính vì vậy mà con chưa đi vào nhiều bản kinh, tại vì chưa có nắm được chìa khóa, chưa nắm được cái lõi, mà mình học rộng như vậy thì sau này mình không có cái chỗ quy thủ, tức là không có chân đứng trong pháp. Thành ra chúng ta đi hết sức là chậm, rất là chậm và rất là chắc. Bài kinh Trung Bộ mà chúng ta đang cầm trên tay là kinh “Ganaka Moggallana”, chúng ta trước nay chưa được học bài kinh này phải không ạ? Bản kinh này rất là đầy đủ trình tự tu tập của một người xuất gia, đó là cả một đạo lộ của pháp hành. Bài kinh số 107 Trung Bộ Kinh tập 3. Chữ “Moggallana” phiên âm nghĩa Hán Việt là Mục Thiền Liên. Cái này bên kinh A-Hàm gọi là Bản kinh toán số Mục Thiền Liên. Tại vì người này tên trùng với Ngài Mục Thiền Liên, nhưng lại là một thầy dạy toán học.
“Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú ở Savatthi, Pubbarama, nơi lâu đài của Migaramatu (Ðông Viên Lộc Mẫu Giảng đường). Rồi Bà-la-môn Ganaka Moggallana đi đến chỗ Thế Tôn, sau khi đến nói lên những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Ganaka Moggallana bạch Thế Tôn:
-- Ví như, thưa Tôn giả Gotama, tại lâu đài Migaramatu này, có thể thấy được một học tập tuần tự, một công trình tuần tự, một đạo lộ tuần tự, tức là những tầng cấp của lầu thượng cuối cùng; thưa Tôn giả Gotama, cũng vậy, đối với những vị Bà-la-môn này, được thấy một học tập tuần tự, một công trình tuần tự, một đạo lộ tuần tự, tức là sự học hỏi (các tập Veda). Thưa Tôn giả Gotama, cũng vậy, đối với những vị bắn cung này, được thấy một học tập tuần tự, một công trình tuần tự, một đạo lộ tuần tự, tức là nghệ thuật bắn cung. Cũng vậy, thưa Tôn giả Gotama, đối với chúng con là những người toán số, sống nhờ nghề toán số, cũng được thấy một học tập tuần tự, một công trình tuần tự, một đạo lộ tuần tự, tức là toán số. Thưa Tôn giả Gotama, vì rằng khi có được người đệ tử, trước hết chúng con bắt người ấy đếm như sau: “Một, một lần, hai, hai lần, ba, ba lần, bốn, bốn lần, năm, năm lần, sáu, sáu lần, bảy, bảy lần, tám, tám lần, chín, chín lần, mười, mười lần”. Và thưa Tôn giả Gotama, chúng con bắt đếm tới một trăm. Có thể trình bày chăng, thưa Tôn giả Gotama, trong Pháp và Luật này, cũng có một tuần tự học tập, một tuần tự công trình, một tuần tự đạo lộ như vậy?
-- Có thể trình bày, này Bà-la-môn, trong Pháp và Luật này, có một tuần tự học tập, có một tuần tự công trình, có một tuần tự đạo lộ. Ví như, này Bà-la-môn, một người huấn luyện ngựa thiện xảo, sau khi được một con ngựa hiền thiện, trước tiên luyện tập cho nó quen mang dây cương, rồi tập luyện cho nó quen các hạnh khác; cũng vậy, này Bà-la-môn, Như Lai khi được một người đáng được điều phục, trước tiên huấn luyện người ấy như sau: “Hãy đến Tỷ-kheo, hãy giữ giới hạnh, hãy sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy sự nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, thọ trì và học tập các học giới”.
Này Bà-la-môn, khi vị Tỷ-kheo giữ giới hạnh, chế ngự với sự chế ngự của giới bổn, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy sự nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, thọ trì và học tập các học giới, Như Lai mới huấn luyện vị ấy thêm như sau: “Hãy đến Tỷ-kheo, hãy hộ trì các căn, khi mắt thấy sắc chớ có nắm giữ tướng chung, chớ có nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, vì nhãn căn không được chế ngự khiến tham ái, ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, vị Tỷ-kheo tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì con mắt, thực hành sự hộ trì con mắt. Khi tai nghe tiếng.... mũi ngửi hương... lưỡi nếm vị... thân cảm xúc... ý nhận thức các pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, vì ý căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các pháp ác bất thiện khởi lên, Tỷ-kheo chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành sự hộ trì ý căn”.
Này Bà-la-môn, sau khi Tỷ-kheo hộ trì các căn rồi, Như Lai mới huấn luyện vị ấy thêm như sau: “Hãy đến Tỷ-kheo, hãy tiết độ trong ăn uống, chơn chánh giác sát thọ dụng món ăn, không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để tự làm đẹp mình, chỉ để thân này được duy trì, được bảo dưỡng, khỏi bị gia hại, để chấp trì Phạm hạnh, nghĩ rằng: Như vậy ta diệt trừ các cảm thọ cũ và không cho khởi lên các cảm thọ mới; và ta sẽ không phạm lỗi lầm, sống được an ổn”.
Này Bà-la-môn, sau khi Tỷ-kheo tiết độ trong ăn uống rồi, Như Lai mới huấn luyện vị ấy thêm như sau: “Hãy đến Tỷ-kheo, hãy chú tâm cảnh giác! Ban ngày trong khi đi kinh hành và trong khi đang ngồi, gột sạch tâm trí khỏi các chướng ngại pháp; ban đêm trong canh đầu, trong khi đi kinh hành và trong khi đang ngồi, gột sạch tâm trí khỏi các chướng ngại pháp; ban đêm trong canh giữa, hãy nằm xuống phía hông bên phải, như dáng nằm con sư tử, chân gác trên chân với nhau, chánh niệm tỉnh giác, hướng niệm đến lúc ngồi dậy lại. Ban đêm trong canh cuối, khi đã thức dậy, trong khi đi kinh hành và trong khi đang ngồi, gột sạch tâm trí khỏi các chướng ngại pháp”.
Này, Bà-la-môn, sau khi vị Tỷ-kheo chú tâm tỉnh giác, Như Lai mới huấn luyện vị ấy thêm nữa như sau: “Hãy đến Tỷ-kheo, hãy thành tựu chánh niệm tỉnh giác, khi đi tới khi đi lui đều tỉnh giác; khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh đều tỉnh giác; khi co tay, khi duỗi tay đều tỉnh giác; khi mang y kép, bình bát, thượng y đều tỉnh giác; khi ăn, uống, nhai, nuốt, đều tỉnh giác; khi đi đại tiện, tiểu tiện đều tỉnh giác; khi đi, đứng, ngồi, nằm, thức, nói, yên lặng đều tỉnh giác”.
Này Bà-la-môn, sau khi chánh niệm tỉnh giác rồi, Như Lai mới huấn luyện vị ấy thêm như sau: “Hãy đến Tỷ-kheo, hãy lựa một chỗ thanh vắng, tịch mịch như rừng, gốc cây, khe núi, hang đá, bãi tha ma, lùm cây, ngoài trời, đống rơm”.
Vị ấy lựa một chỗ thanh vắng, tịch mịch, như rừng, gốc cây, khe núi, hang đá, bãi tha ma, lùm cây, ngoài trời, đống rơm. Sau khi đi khất thực về và ăn xong, vị ấy ngồi kiết-già, lưng thẳng tại chỗ nói trên và an trú chánh niệm trước mặt. Vị ấy từ bỏ tham ái ở đời, sống với tâm thoát ly tham ái, gột rửa tâm hết tham ái. Từ bỏ sân hận, vị ấy sống với tâm không sân hận, lòng từ mẫn thương xót tất cả chúng hữu tình, gột rửa tâm hết sân hận. Từ bỏ hôn trầm thụy miên, vị ấy sống thoát ly hôn trầm thụy miên, với tâm tưởng hướng về ánh sáng, chánh niệm tỉnh giác, gột rửa tâm hết hôn trầm thụy miên; từ bỏ trạo cử hối tiếc, vị ấy sống không trạo cử, nội tâm trầm lặng, gột rửa tâm hết trạo cử hối tiếc; từ bỏ nghi ngờ, vị ấy sống thoát khỏi nghi ngờ, không phân vân lưỡng lự, gột rửa tâm hết nghi ngờ đối với các thiện pháp.
Khi đoạn trừ năm triền cái ấy, những pháp làm ô nhiễm tâm, làm trí tuệ yếu ớt, vị ấy ly dục, ly bất thiện pháp chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, với tầm với tứ. Vị ấy diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Vị ấy ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và trú Thiền thứ ba. Xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh.
Này Bà-la-môn, đối với những Tỷ-kheo nào là bậc hữu học, tâm chưa thành tựu, đang sống cần cầu sự vô thượng an tịnh các triền ách, đó là sự giảng dạy của Ta như vậy đối với những vị ấy. Còn đối với những vị Tỷ-kheo là bậc A-la-hán, các lậu đã tận, tu hành thành mãn, các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt lý tưởng, đã tận trừ hữu kiết sử, chánh trí giải thoát, những pháp ấy đưa đến sự hiện tại lạc trú và chánh niệm tỉnh giác.
Khi được nói vậy, Bà-la-môn Ganaka Moggallana bạch Thế Tôn:
-- Các đệ tử của Sa-môn Gotama, khi được Sa-môn Gotama khuyến giáo như vậy, giảng dạy như vậy, có phải tất cả đều chứng được cứu cánh đích Niết-bàn hay chỉ có một số chứng được?
-- Này Bà-la-môn, một số đệ tử của Ta, khi được khuyến giáo như vậy, giảng dạy như vậy, chứng được cứu cánh đích Niết-bàn, một số không chứng được.
-- Thưa Tôn giả Gotama, do nhân gì, do duyên gì trong khi có mặt Niết-bàn, trong khi có mặt con đường đưa đến Niết-bàn, trong khi có mặt Tôn giả Gotama là bậc chỉ đường, tuy vậy các đệ tử Tôn giả Gotama, được Tôn giả Gotama khuyến giáo như vậy, giảng dạy như vậy, một số chứng được cứu cánh đích Niết-bàn, một số không chứng được?
-- Này Bà-la-môn, ở đây Ta sẽ hỏi Ông. Nếu Ông kham nhẫn, hãy trả lời cho Ta. Này Bà-la-môn, Ông nghĩ thế nào? Ông có giỏi về con đường đi đến Rajagaha (Vương Xá)?
-- Thưa Tôn giả, con có giỏi về con đường đi đến Rajagaha.
-- Này Bà-la-môn, Ông nghĩ thế nào? Ở đây, có một người, muốn đi đến Rajagaha, người này đến Ông và nói như sau: “Thưa Tôn giả, tôi muốn đi đến Rajagaha. Hãy chỉ cho tôi con đường đi đến Rajagaha”. Ông nói với người ấy như sau: “Ðược, này Bạn, đây là con đường đưa đến Rajagaha. Hãy đi theo con đường ấy trong một thời gian. Sau khi đi trong một thời gian, Bạn sẽ thấy một làng tên như thế này. Hãy đi theo trong một thời gian. Sau khi đi trong một thời gian, Bạn sẽ thấy một thị trấn tên như thế này. Hãy đi theo trong một thời gian. Sau khi đi trong một thời gian, Bạn sẽ thấy Rajagaha với những khu vườn mỹ diệu, với những khu rừng mỹ diệu, với những vùng đất mỹ diệu, với những hồ ao mỹ diệu”. Dầu cho người ấy được khuyến giáo như vậy, được giảng dạy như vậy, nhưng lại lấy con đường sai lạc, đi về hướng Tây. Rồi một người thứ hai đến, muốn đi đến Rajagaha. Người này đến Ông và hỏi như sau: “Thưa Tôn giả, tôi muốn đi đến Rajagaha, mong Tôn giả chỉ con đường ấy cho tôi”. Rồi Ông nói với người ấy như sau: “Ðược, này Bạn, đây là đường đi đến Rajagaha. Hãy đi theo con đường ấy trong một thời gian. Sau khi đi một thời gian, Bạn sẽ thấy một làng có tên như thế này. Hãy đi theo con đường ấy trong một thời gian. Sau khi đi một thời gian, Bạn sẽ thấy một thị trấn có tên như thế này. Hãy đi theo con đường ấy trong một thời gian. Sau khi đi theo con đường ấy trong một thời gian, Bạn sẽ thấy Rajagaha với những khu vườn mỹ diệu, với những khu rừng mỹ diệu, với những vùng đất mỹ diệu, với những ao hồ mỹ diệu”. Người ấy được Ông khuyến giáo như vậy, giảng như vậy, đi đến Rajagaha một cách an toàn.
Này Bà-la-môn, do nhân gì, do duyên gì, trong khi có mặt Rajagaha, trong khi có mặt con đường đưa đến Rajagaha, trong khi có mặt Ông là người chỉ đường, dầu cho Ông có khuyến giáo như vậy, giảng dạy như vậy, một người lấy con đường sai lạc, đi về hướng Tây, còn một người có thể đi đến Rajagaha một cách an toàn?
-- Thưa Tôn giả Gotama, ở đây, con làm gì được? Con chỉ là người chỉ đường, thưa Tôn giả Gotama.
-- Cũng vậy, này Bà-la-môn, trong khi có mặt Niết-bàn, trong khi có mặt con đường đi đến Niết-bàn, và trong khi có mặt Ta là bậc chỉ đường. Nhưng các đệ tử của Ta, được Ta khuyến giáo như vậy, giảng dạy như vậy, một số chứng được cứu cánh đích Niết-bàn, một số không chứng được. Ở đây, này Bà-la-môn, Ta làm gì được? Như Lai chỉ là người chỉ đường.
Khi nghe nói vậy, Bà-la-môn Ganaka Moggalana bạch Thế Tôn:
-- Thưa Tôn giả Gotama, đối với những người không phải vì lòng tin, chỉ vì sinh kế, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, những người xảo trá, lường gạt, hư ngụy, mất thăng bằng, cao mạn, dao động, nói phô tạp nhạp, không hộ trì các căn, ăn uống không tiết độ, không chú tâm cảnh giác, thờ ơ với Sa-môn hạnh, không tôn kính học tập, sống quá đầy đủ, uể oải, đi đầu trong thối thất, từ bỏ gánh nặng viễn ly, biếng nhác, tinh cần thấp kém, thất niệm, không tỉnh giác, không định tâm, tâm tán loạn, liệt tuệ, câm ngọng; Tôn giả Gotama không thể sống với những người như vậy.
Còn những Thiện gia nam tử vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, không xảo trá, không lường gạt, không hư ngụy, không mất thăng bằng, không cao mạn, không dao động, không nói phô tạp nhạp, hộ trì các căn, ăn uống có tiết độ, chú tâm tỉnh giác, không thờ ơ với Sa-môn hạnh, tôn kính học tập, sống không quá đầy đủ, không uể oải, từ bỏ thối thất, đi đầu trong viễn ly, tinh cần, tinh tấn, chánh niệm, an trú, tỉnh giác, định tĩnh, nhứt tâm, có trí tuệ, không câm ngọng; Tôn giả Gotama sống hòa hợp với những vị ấy.
Ví như Tôn giả Gotama, trong các loại căn hương, hắc chiên đàn hương được gọi là tối thượng; trong các loại lõi cây hương, xích chiên đàn hương được gọi là tối thượng; trong các loại hoa hương, vũ quý hương (jasmine) được gọi là tối thượng. Cũng vậy là lời khuyến giáo của Tôn giả Gotama được xem là cao nhất trong những lời khuyến giáo hiện nay.
Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Gotama! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày những gì bị che kín, chỉ đường cho những người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc; cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày giải thích. Con xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp và chúng Tỷ-kheo Tăng. Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.”
(Trung Bộ Kinh III – kinh Ganaka Moggallàna)
II. Tuần tự
Trước khi chúng ta đi vào tuần từ pháp hành của Phật giáo, thì chúng ta xem kỹ câu hỏi của vị thầy toán số Bà-la-môn này. Bây giờ chúng ta bước tới chùa Hòa Khánh, chúng ta thấy cái gì đầu tiên ạ? Đầu tiên chúng ta sẽ thấy cái cổng chùa, sau đó thấy cái sân, rồi bước tiếp theo chúng ta thấy tượng Bồ tát, chúng ta bước vào nữa chúng ta thấy giảng đường, trai đường, chúng ta bước lên trên chúng ta thấy chánh điện, thì đó là tuần tự đó. Chứ còn đọc không là chúng ta không hiểu, đó là tuần tự kiến trúc của một ngôi chùa. Rồi khi chúng ta đi lên bậc thang thứ hai, thì chúng ta có thấy bậc thứ nhất không, hay bước lên một cái tới bậc thứ bảy? Đó là tuần tự của bậc thang đó. Rồi chúng ta đi học là học từng vần A, B, C, D. Rồi ráp từng vần đó thành chữ, rồi nhiều chữ đó thành câu, nhiều câu thành đoạn, nhiều đoạn nó thành bài, cứ như vậy ra thành nhiều chương, nhiều phần và cuối cùng thành ra một quyển sách.
Rồi trong sự học nghề cũng vậy, ở trong kinh nói nghề huấn luyện ngựa và đi học toán. Vị thầy này nói là: “Con có một lối giáo dục dạy đếm từ số 1 tới số 10, rồi mới nhân lên, rồi mới cộng trừ nhân chia, rồi mới lên tới những cái bài khó hơn, những trình độ cao cấp hơn nữa. Thì như vậy thưa tôn giả Gotama, Ngài huấn luyện, trình tự giáo hóa, đạo lộ đối với đệ tử như thế nào?” Chúng ta thấy cái này hết sức là đặc biệt không? Bài kinh này rất đặc biệt, rất quan trọng. Nhiều khi chúng ta xuất gia suốt cuộc đời chưa được nghe, chưa được học bài này. Người xuất gia không được học bài kinh này rất là uổng, cho nên mình học thật là kỹ, mình nắm thật là rõ, mình thực hành thật là tốt, rồi hình hướng dẫn lại đệ tử xuất gia của mình hoặc những người cư sĩ. Mà nhất là trong vai trò của một người đang trên bước đường học để mà chia sẻ giáo pháp, thì là rất quan trọng.
1. Giới hạnh
Bắt đầu Đức Thế Tôn nói: “Ta có đạo lộ, tuần tự của sự giáo dục Chánh pháp”. Rồi bây giờ mình đối chiếu xem, mình xuất gia tới giờ có giống thứ tự này không? Sự hành trì mình hồi đó tới giờ có dính dáng gì tới cái này không? Bước thứ nhất là: “Hãy đến Tỳ-kheo, hãy giữ giới hạnh, hãy sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy sự nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, thọ trì và học tập các học giới”, là bước quan trọng nhất của người xuất gia. Ở trong cái bảng phân loại, thì ta có tô màu những phần quan trọng. Chúng ta ai mà có mở được ở trên cái app thì chúng ta mở, mình sẽ thấy “hãy giữ giới hạnh..” trong cái bảng mình in là chữ đậm, chữ đỏ. Mà các phần Đức Phật nói là chữ nghiêng, chúng ta phải tô màu cái phần đó. Rồi chúng ta phải học thuộc lòng, để cho mình nắm vững cái pháp học, nắm vững cái pháp hành. Tuy là mình học thuộc lòng, nhưng mà chưa chắc mình hiểu đó chứ, không phải là đơn giản đâu.
Thế nào là “hãy giữ giới hạnh?” Thế nào là “hãy sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn?” Chúng ta nhớ 100 pháp chúng học không? Từ cái đi, đứng, ngồi, nằm của người xuất gia, đó là hãy sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn. Trong cái giới của Tỳ-kheo, Tỳ-kheo Ni hay là trong cái oai nghi của một người xuất gia cần phải đầy đủ oai nghi, Chánh hạnh. Thấy sự nguy hiểm trong những loại nhỏ nhặt thọ trì và học tập các học giới.
2. Hộ trì căn
“Hãy đến Tỳ-kheo, hãy hộ trì các căn, khi mắt thấy sắc chớ có nắm giữ tướng chung, chớ có nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, vì nhãn căn không được chế ngự khiến tham ái, ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, vị Tỳ-kheo tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì con mắt, thực hành sự hộ trì con mắt. Khi tai nghe tiếng.... mũi ngửi hương... lưỡi nếm vị... thân cảm xúc... ý nhận thức các pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, vì ý căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các pháp ác bất thiện khởi lên, Tỳ-kheo chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành sự hộ trì ý căn”. Đó là bước thứ hai. Đọc nhưng không phải dễ hiểu à. Bây giờ con hỏi quý thầy, quý cô. Giải thích một câu ngắn trong đây thôi là chưa chắc giải nổi nữa, chỗ khó trong kinh Nikāya là vậy.
3. Tiết độ ăn uống
Ở trong cuốn “Nghi thức tu học Nikāya” mà chúng ta có học mấy lần rồi, đó chính là niệm hộ trì căn. Chúng ta mở cuốn nghi thức tu học Nikāya ra đi, coi cái niệm hộ trì căn, “chắc là không có đem theo sách rồi”. Chúng ta kết hợp bài kinh này với bài kinh “Tứ Niệm Xứ”, chúng ta sẽ thấy sáng tỏ rất là nhiều. Chúng ta tiếp tục điểm nữa là điểm thứ ba: “Này Bà-la-môn, sau khi Tỷ-kheo hộ trì các căn rồi, Như Lai mới huấn luyện vị ấy thêm như sau: “Hãy đến Tỷ-kheo, hãy tiết độ trong ăn uống, chơn chánh giác sát thọ dụng món ăn, không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để tự làm đẹp mình, chỉ để thân này được duy trì, được bảo dưỡng, khỏi bị gia hại, để chấp trì Phạm hạnh, nghĩ rằng: Như vậy ta diệt trừ các cảm thọ cũ và không cho khởi lên các cảm thọ mới; và ta sẽ không phạm lỗi lầm, sống được an ổn”.
Vậy là đầu tiên ta nói ba phần: Một là giữ giới hạnh, hai là hộ trì các căn, thứ ba là tiết độ trong ăn uống. Mấy cái này chúng ta nói ra là chúng ta bị dính nhiều lắm, mà mình giữ được những cái này mình mới có thể tiến sâu được ở trong pháp và luật. Bây giờ nói một phần nhỏ như câu “đầy đủ oai nghi chánh hạnh”, bao nhiêu đó thôi, sáu chữ này thôi là chúng ta thấy nó như thế nào. Cho nên chúng ta đi tìm pháp hành ở đâu? Mỗi một chữ ở trong bài kinh này là pháp hành đó. Thế nào là đầy đủ oai nghi chánh hạnh? Chúng ta nhớ bài “Kinh Tứ Niệm” xứ vừa mới nhắc. Vị Tỳ-kheo khi đi, khi đứng, khi ngồi, khi nằm thì tuệ tri rõ biết, biết rõ bằng trí tuệ là mình đang đi, đứng, nằm, ngồi ở trong bốn oai nghi chính đó. Rồi co, duỗi, cúi, ngước, đắp y Tăng-già-lê, ôm bình bát, đại tiểu tiện điều tỉnh giác từng cử chỉ, oai nghi và hành động. Oai nghi có bốn cái oai nghi chính là đi, đứng, ngồi, nằm “mình ghi vô”. Ngoài bốn cái oai nghi chính đó, thì tất cả là oai nghi phụ.
Ở trong kinh “Tứ Niệm Xứ” gọi là “niệm oai nghi”. Tức là đi mình phải nhớ mình đang đi, nhiều khi mình đi mà mình quên là mình đang đi phải không? Chạy xe mà lo dòm dòm rồi chuyện gì xảy ra? Rồi mình đi lên cầu thang cũng vậy, mình không lo nhìn bậc thang, mình lo nghĩ lung tung lang tang, vấp cầu thang, mà có khi đưa đến hệ quả rất là lớn. Cho nên ở bên Úc, bên Nhật hay là ở bên chùa của hòa thượng Pháp Chủ cũng vậy, mấy chỗ mà có bậc thang là điều đề “chú ý bước chân, cẩn thận bước đi”. Cái đó là một sự Chánh niệm tỉnh giác, nó nhắc mình. Bây giờ chúng ta thấy, sáu chữ “đầy đủ oai nghi chánh hạnh” này mà là cả một pháp hành. Có khi 10 năm, 20 năm, 30 năm xuất gia chưa làm xong, cho nên pháp hành mới có giá trị. Cái đi của người xuất gia nó khác, cái bước, cái nhìn, cách nói chuyện của người xuất gia, người tu nó cũng phải khác.
Mình nói thí dụ, lỡ mà người tu có giận thì cũng phải khác với người đời (một hồi chúng ta đi vô các pháp sâu sắc, thì mình sẽ nói tới phần đó). Chứ không phải mình bung ra hết trơn hết trọi những cái thói phàm phu, tục tử, tập khí, thói quen. Mình có một sự gọi là “hãy sống chế ngự” hai cái chữ “chế ngự” đó hay lắm. Chế ngự là sao? Là kiềm chế, ngăn ngừa, nhiếp phục, chế phục, hạn chế lời nói. Có những chỗ trong “Đại kinh xóm ngựa”, những pháp tác hành Sa-môn cũng giống giống bài kinh này. Có những bài kinh Đức Phật dùng từ “hãy hạn chế lời nói”. “Người mới xuất gia đó hãy hạn chế lời nói”, nói ít. Cho nên người tu không phải mình gặp là mình tía lia, cái đó là một thất bại cho sự tu của chúng ta.
Người xuất gia của chúng ta có hai việc thôi à, Đức Thế Tôn nói: “Khi Tăng chúng (nhớ chữ “Tăng chúng” là không phải là mấy thầy không, Tăng bao gồm có bên Ni chúng luôn đó), đoàn thể xuất gia hội tụ, gặp mặt, chỉ có hai việc thôi. Một là im lặng đúng như Chánh pháp, còn gọi là im lặng của bậc Thánh, tức là thiền định. Còn hai là thảo luận về Chánh pháp, pháp đàm, thuyết pháp, thảo luận về pháp hoặc là đàm đạo về pháp”. Chỉ có hai việc đó thôi, còn tất cả những lời nói khác là phi pháp hết, có thể là rơi vào cái giới là nói phù phiếm. Ở trong Nikāya về bốn giới của miệng, thì cái cuối cùng gọi là “nói lời phù phiếm”. Ở bên Phật giáo phát triển không có dùng cái chữ đó, nhưng trong kinh Nikāya dùng là “từ bỏ nói lời phù phiếm”, chúng ta nhớ ghi chỗ này vô, rất là quan trọng.
Sao gọi là lời phù phiếm? Là nói không có ý nghĩa gì hết, nói quyên thuyên, nói đủ thứ hết, mà cuối cùng lời nói đó không đem lại lợi ích, không đem lại sự an lạc cho người nghe và cho người nói. Lời nói vô nghĩa, vô ích, vô dụng, thì cái đó cũng phạm giới luôn. “Mà cái này chúng ta thấy nhiều không ạ? Im ru hết trơn vậy? Mình có không?” Nếu có thì phải cẩn thận. Mình nói cái gì mà nó không liên hệ đến mục đích “đây, nói tới đâu là nó có chữ, có pháp tới đó”. Trong Nikāya là dùng từ “không liên hệ đến mục đích”. “Mấy chữ này hay quá, phải ghi vô nghe”. Những chữ mà chúng ta cần phải để ý nãy giờ là chữ “chế ngự”, “không liên hệ đến mục đích”, “từ bỏ lời nói phù phiếm”, đó đều là pháp hành. Những cụm từ này là Đức Phật dùng rất là nhiều trong kinh tạng Nikāya.
Bất cứ khi nói, khi làm gì, thì Đức Phật hỏi: “Cái đó có liên hệ tới mục đích không?” Còn mục đích là mục đích gì ạ? Mục đích của sự xuất gia là cái chỗ chúng ta nhắm, chúng ta hướng, chúng ta đạt tới, đi tới là đoạn tận tham, sân, si. Thì như vậy chúng ta nói nó có đưa đến đoạn tận tham không? Nếu cái lời nói đó mà đưa đến sự đoạn tận tham, thì lời nói nó có liên hệ tới mục đích, lời nói đó Đức Phật cho nói, khuyến khích mình nói. Còn lời nói mà mình nói nó tham thêm nữa, thì lời nói đó là bị quở trách, lỗi lầm, có tội. Giả sử mình nói một chuyện hết sức đơn giả như bây giờ huynh đệ lâu ngày gặp nhau, cái mình nói: “Chà! Bữa nay đẹp quá ha.” Lời nói có liên hệ đến mục đích không? Cái lời nói như vậy sanh khởi tham ái, chúng ta thấy dễ sợ không? Cho nên tu ở trong Nikāya chúng ta thấy nó sâu sắc lắm.
Thí dụ lâu ngày huynh đệ, tỷ muội mình gặp lại, mình nói: “Bữa nay thấy đẹp gái quá ha, bữa nay nhìn đẹp trai quá ha”, thì lời nói như vậy là phạm. Tại sao mình nói lời nói đó? Thứ nhất, mình không có thân hành niệm, mình không có niệm thân. Đẹp chính là thịnh tướng, mà thịnh tướng tức là thức ăn cho tham dục. Chúng ta thấy ví dụ một chút xíu đó thôi là sập bẫy của tham ái, ma vương, ác ma rồi. Thành ra, sự tu mà Chánh niệm tỉnh giác theo đúng tinh thần Đức Phật dạy thì rất là sâu sắc. Rồi bây giờ người đó nấu đồ ăn cho mình, mà mình muốn cho người đó vui, mình khen một tiếng. Mà cái khen của mình có khi quá lố, thường thường mình nói đẹp, nói ngon, mình còn diễn giải cái ngon đó ra như thế nào đó, thì các thọ, tưởng, hành của mình có tham ái nó mới nói vậy, còn không có là nó không có nói thì như vậy. Làm cho mình say đắm trong thức ăn, mình mới nói “nên tiết độ trong ăn uống đó”, thì cái lời nói đó cũng không liên hệ đến mục đích, làm cho người đó có khi đưa cái bản ngã của họ lên.
Nhiều khi mình nghĩ đó là cái khéo léo, thiện xảo, khôn ngoan, thông minh của người thế gian, nhưng cái đó lại là thất bại của người chân tu. Lấy lòng người ta thì mình nói cái câu đó, thứ nhất mình muốn người đó vui, thứ hai mình lấy lòng, thứ ba “để mai mốt lại nấu nữa nha, ngon quá à” đó là liên hệ đến tham. Thành ra cái này chúng ta tu kỹ lắm. Rồi bây giờ người ta nấu dở, mình chê, sân, làm cho người ta phiền não, người ta đã nấu cực khổ, tốn tiền, tốn công, tốn sức, cả tấm lòng của người ta. Nhưng mà tại vì người ta nấu dở, khả năng người ta tới đó thôi mà mình chê, mà không phải chê 1 lần nữa mà còn kể thêm mấy lần trước nữa. Như vậy thì người công qủa đó, họ tiếp xúc với mình, họ sanh khởi ra sân hận, mình không có phước, mà người đó cũng không có phước. Nếu có được rất là nhỏ, tại vì làm ở trong tham, sân.
Mình không có đưa người ta đến ly sân, không có đưa đến ly tham, mà mình còn làm người ta sanh khởi tham, sân. Tại vì sao? Vì tự thân vì mình không có liên hệ đến mục đích nữa, không có sống hướng tới mục đích, cho nên mình có biết mục đích là cái gì đâu mà mình hướng. Nếu mình không biết tu, thì mục đích của mình là ăn ngon. Trong khi sự tụ tập của chúng ta, những phép quán sau này mà chúng ta học là quán nhàm chán đối với thức ăn. Đây là một trong những phép quán hết sức quan trọng trong kinh Nikāya. Phải quán nhàm chán đối với những thức ăn, thức ăn tập khởi cho nên sắc tập khởi. Mình còn ham, còn thích ăn, thì chắc chắn là mình còn ham, còn thích thân. Mà mình còn ham, còn thích thân thì chắc chắn mình còn ham, còn thích dục, ái. Mà mình còn ham thích dục ái thì chắc chắn mình còn trầm luân, sanh tử, khổ đau, sầu, bi, khổ, ưu, não.
Cho nên sự quán ở trong thức ăn là rất quan trọng. Chúng ta đọc bài “Chánh Quán Thọ Thực”, cách ăn của Đức Phật trong quyển “Nghi thức Nikāya”. Đây là con thưa đại chúng, con chỉ điểm một vài một vài cái điểm thôi, chưa có đào sâu nha. Bản kinh này con chưa dám đào sâu, chừng nào khóa tu trên Linh Quy mới đào sâu. Ở đây chỉ điểm chỉ căn bản thôi, chừng nào chư Tăng Ni lên tu 7 ngày hoặc là 3 tháng mới lúc đó đào sâu. Bây giờ chỉ điểm những cái để cho chúng ta thấy được những cái mà chúng ta xem là bình thường, nhưng nó không có bình thường chút nào hết, tham ái.
“Thấy sự nguy hiểm trong những loại nhỏ nhặt” là chỗ đó đó. Một cái lỗi nhỏ thôi mình có thấy nó là nguy hiểm hay mình thấy nó là bình thường? Con xin thưa các thầy, các cô! Tôn giả, tướng quân của Chánh pháp, bậc đại Thánh trí huệ bậc nhất trong hàng Thánh chúng là Ngài Sariputra (Xá-lợi-phất), Ngài đắp cái y mà vô tình cái y của Ngài chấm xuống đất một chút thôi. Mà chúng ta biết cái y nam tông nó dài lắm, mà vô tình chấm cái chéo y xuống đất mà Ngài xấu hổ, Ngài tàm quý, hổ thẹn. Mình bây giờ đắp y rớt xuống đất chừng mấy lần, mà nhiều khi đang đứng trước nhà tổ, đang đứng mọi người, mà lột cái y như vậy đó. Không có tàm, không có quý, không có oai nghi, tế hạnh, nhìn trước ngó sau gì hết, muốn lột là lột à. Thì chỗ đó là chỗ mình không có thấy, không có đầy đủ oai nghi, Chánh hạnh.
Bây giờ giống như đạo đức ở bên ngoài xã hội nó băng hoại, cũng như cái oai nghi của người xuất gia đó đang sa sút trầm trọng, và những cái này là những cái mà hết sức thiết thực, căn bản, thực tế, pháp hạnh của người tu. Chúng ta phải cần được học, cần được tuyên truyền, cần được thực hành, cần được tôn trọng, tôn thờ, là những cái rất quan trọng. Đây là vỏ ngoài của Phạm hạnh, tức là cái cây nó có vỏ ở bên ngoài, mà khi không có vỏ nữa thì làm sao có cái lõi, sau này chúng ta sẽ học bài kinh “Lõi Cây”. Đó là chúng ta phải để ý từng chút, từ đi, đứng, ngồi, nằm, co, duỗi, cúi, ngước, nói, làm, đắp y, ôm bình bát, múc cơm, nhai, nuốt, rồi nằm ngủ, thậm chí là đại tiểu tiện. Tất cả đều phải tỉnh giác, kiểm soát nhất cử, nhất động của mình, rồi mới giữ gìn giới hạnh. Trong giới bổn, cái giới là mình phải thường tụng, thường đọc, không phải nửa tháng là mình đọc 1 lần đâu, rảnh là mình lấy ra mình đọc, mình ôm, mình coi những cái gì mình còn sơ sót.
Chính vì chúng ta xem thường những cái lỗi nhỏ nhặt, thì mới có ra những cái lớn, những cái nghiêm trọng. Đến khi những cái lớn, nghiêm trọng mà mình thấy bình thường luôn là rồi, Phật pháp hoại diệt, chỉ còn cái hình thức, nội dung, chất lượng bên trong nói giảm. Chúng ta thấy hình thức ngày hôm nay quan trọng không ạ? Nhiều khi nguyên một buổi như vậy chỉ có hình thức, không có đem lại lợi lạc nhiều. Có khi làm cho những người tham dự đó, họ sanh khởi lên những cái tâm tham danh, tham lợi, tham chức, tham quyền, không đưa đến sự đoạn tận tham, đoạn tận sân, đoạn tận si. Không đưa đến sự nhàm chán, ly tham, an tịnh, thắng trí, chứng ngộ, Niết-bàn, đó là những pháp ấn của chư Phật.
Trong bài kinh “Thông Điệp, Ngài Upali hỏi Đức Phật: Làm sao để mà xác định được các pháp đó là Chánh pháp của Phật? Làm sao để xác định được cái đó là không phải Chánh pháp, không phải luật của Đức Phật? Đức Phật nói: “Này UPali, những lời nói nào, những bài kinh nào mà ông thấy trong đó đưa đến sự nhàm chán, ly tham, an tịnh, thắng trí, chứng ngộ, Niết-bàn. Thì lời nói đó là lời nói của Như Lai, là pháp của Như Lai, là luật của Như Lai. Nếu lời nói nào mà không đưa đến sự nhàm chán, ly tham, an tịnh, thắng trí, chứng ngộ, Niết-bàn, thì lời nói đó là phi pháp, phi luật, không phải pháp của ta, không phải luật của ta”. Mà nhàm chán, ly tham đối với cái gì? Đối với sắc, thọ tưởng, hành, thức. Chúng ta nắm được chỗ này không ạ? Bây giờ mình coi lại ở trong người mình “nó nhàm chán, nó không tham muốn đối với ngũ uẩn đổ chừng bao nhiêu phần? Một ngày mình có được mấy tiếng đồng hồ để mình nhàm chán sắc, thọ, tưởng, hành, thức? Rồi tới chừng nào mình mới thành tựu mục đích cứu cánh Phạm hạnh? Rồi bây giờ cuộc đời mình tu là mình tu đi tới đâu?” Chỗ đó là chỗ chúng ta chiêm nghiệm đó.
Phải chiêm nghiệm, nghiền ngẫm, suy tư, quán chiếu, soi xét ở trong tự thân của mỗi người. Để thấy được con đường mình đã đi qua, đang đi và sẽ đi, đến cuối cùng nó đi đến đâu. Rồi mình phải biết coi nó có liên hệ đến mục đích hay là không. Còn không khéo coi chừng chúng ta đi ngược, đi lạc đường, đi phát huy sắc, thọ, tưởng, hành, thức, lấy sắc tướng làm sự thành công cho đại tu. Chúng ta thấy thái tử Tất-đạt-đa như thế nào? Ngài giàu có, quyền uy như vậy. Mà Ngài không xây cái chùa bự nhất nước Ấn Độ đi, sao bỏ hết trơn vậy? Rồi bây giờ chúng ta xuất gia là đi tìm cái gì? Thì chỗ đó là chỗ chúng ta chiêm nghiệm đó. Xuất gia không phải thành công là vì cái chùa, không phải thành công là cái bằng cấp, không phải thành công là cái chức vị. Mình phải thấy rõ được mục đích của mình. Mình phải nhìn vô cái chuẩn tắc Thánh hạnh của Đức Phật. Chứ không phải nhìn cái bây giờ, nhìn cái bây giờ là mình đi theo cái bây giờ luôn đó.
Bây giờ chúng ta bước qua cái “hãy hộ trì các căn”. Chúng ta thấy cái oai nghi, cử chỉ, động tác, cách ăn, cách nói, cách đi, cách đứng, cách làm việc của mình là những cái bên ngoài. Đức Phật dạy hay lắm, vi diệu lắm, từng bước chúng ta thấy rất là rõ, từ thô đến tế, sau khi mình có sự chế ngự, có đầy đủ oai nghi Chánh hạnh, mình có thọ trì căn, học tập các học dưới ở ngoài thân. Rồi bây giờ bắt đầu lúc Phật dạy mình sát sao, đưa vào mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Cái kia là cái hành động ở ngoài, bây giờ bắt đầu đi vào tới sáu căn. Hộ trì là sao? “Trì” là giữ, “hộ” là bảo vệ, bảo hộ, phòng hộ, giữ gìn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, đây là bước tiếp theo. “Khi thấy các mắt thấy sắc, chớ nắm giữ tướng chung, chớ nắm giữ tướng riêng”, cái này học rồi.
III. Không nắm giữ tướng chung – không nắm giữ tướng riêng
Con mời các thầy, các cô giải thích giùm con câu này ạ. Xin mời các giảng sư tương lai. Thế nào gọi là “khi mắt thấy sắc, chớ nắm giữ tướng chung, chớ nắm giữ tướng riêng?” Chúng ta hiểu như thế nào về câu nói đó ạ. Và chúng ta chuẩn bị xung phong câu tiếp theo: Như thế nào là tai nghe tiếng mà không nắm giữ tướng chung, tướng riêng? Thế nào là mũi ngửi mùi mà không nắm giữ tướng chung, tướng riêng? Thế nào lưỡi nếm vị mà không nắm giữ tướng chung, tướng riêng? Thế nào là thân cảm xúc mà không nắm giữ tướng chung, tướng riêng? Thế nào là ý nhận thức không nắm giữ tướng chung, tướng riêng? Tất cả cái này chúng ta học rồi và đã giải thích nhiều lần. Xin mời cứ nói không sao hết. Mình nói xem mình hiểu được bao nhiêu. Có gì không đúng thì mình chỉnh lại.
Phật tử 1
“- Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Con kính bạch trên thầy giáo thọ và toàn thể đại chúng.
Theo con hiểu thì nắm giữ tướng chung và tướng riêng giống như khi mắt mình tiếp xúc bởi một vật hoặc một việc gì đó. Thì đó là có một đối tượng để mình tiếp xúc. Nhưng mà khi mình tiếp xúc mình thấy rằng người đó cũng là có sắc, có đẹp. Mình tiếp xúc như vậy, khi mình thấy sắc đẹp của người đó nhưng mình nghĩ rằng người đó đẹp, chứ mình không có dính mắc, mình thích cái sắc đẹp của người đó. Mỗi người có một hình dáng riêng, đó là tướng riêng của mỗi người. Nhưng mà khi mắt tiếp xúc với đối tượng đó, mình không bị trói buộc, không có bị dính mắc vào đối tượng đó. Mình vẫn nhìn họ, mình vẫn có cái thức phân biệt nó xấu hay đẹp, chứ không phải mình không biết phân biệt. Nình biết phân biệt, nhưng mình không có dính mắc.
Thầy: Làm sao không dính mắc?
- Thì mình sẽ không dính mắc vào người đó.
Thầy: Không có phân biệt thì làm sao biết đẹp xấu?
- Phân biệt ở đây giống như mình đối diện một người, một cảnh đó. Mình biết, mình nhận diện, mình cảm thấy đó là đẹp, nhưng mình không có dính mắc?
Thầy: Mời ngồi xuống.”
Làm sao không dính mắc được? Bây giờ ở đây trong kinh nói: “Những nguyên nhân gì mà con mắt không được chế ngự. Khi cho tham, ái, ưu, bi, các bất thiện pháp khởi lên. Vị Tỳ-kheo chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì con mắt, thực hành sự hộ trì con mắt” Đức phật không có nói rằng mình thấy, mình biết, mà mình không có dính mắc. Cái đó là cảnh giới của bậc A-la-hán, không phải của mình. Thành ra mình học kiểu này là mình không có tu được. Tức là nó sẽ khởi lên khi mình thấy đẹp. Mình có ham thích không? Nếu có thì sao mình nói mình không dính mắc. Rồi khi mình thấy xấu mình có khó chịu không? Những lời nói xúc phạm, chê bai, chỉ trích, mình có bực bội không? Bây giờ làm sao để mình chế ngự được cái cảm xúc đó, chứ mình nói không có dính mắc là không có đúng. Làm sao không dính mắc được? Chỉ có cái tâm của bậc bất động tâm giải thoát, bậc Thánh A-la-hán mới không dính mắc. Còn đa số mình gặp đẹp là nó tham ái khởi, gặp xấu bực bội là mình sân si, khó chịu liền. Còn không đẹp không xấu thì nó ra si (mới làm bài thi đó). Thì bây giờ làm sao để mình nhiếp phục, chế ngự những cái tham, sân đó? Mình mới học bài thi đó.
“Có quyền trợ giúp, có ai giúp đỡ không giơ tay lên.”
Phật tử 2:
“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Kính bạch thầy và toàn thể đại chúng
Con xin trả lời câu hỏi: “Thế nào làkhông có dính mắc vào tướng chung và tướng riêng” Thì thế nào là tướng chung và tướng riêng? Con hiểu và nghe thầy giảng về tướng chung, là khi nào mắt thấy vào sắc, đối tượng một người tướng đàn ông hay đàn bà là tướng chung. Nhưng mà tướng riêng ở đây là người đàn ông hay đàn bà đó là đẹp hay xấu, mặt đẹp hay là xấu, miệng đẹp hay là xấu, đó là tướng riêng. Làm thế nào chúng ta chế ngự, không phải dính mắc? Thì mình phải quán về năm uẩn. Năm uẩn sắc, thọ, tưởng, hành, thức đều là hư không, bất tịnh, vô thường, vô ngã. Cho nên từ đó sinh ra cái tâm nhàm chán và không dính mắc.”
Cho 1 tràng vỗ tay lớn ạ. Câu trả lời tạm tạm, tương đối.
Ở đây dùng từ “chế ngự”, khiến cho tham, ái, ưu, bị, các ác bất thiện pháp không có khởi lên, không có cho nó tiếp tục chế ngự. Kiềm chế, khống chế, ngăn chặn nó lại. Chứ mình nói “thấy mà không dính mắc gì” là cái nói nó không có đúng. Bây giờ chúng ta nhìn vô một bức tranh, chúng ta thấy bức tranh này nó đẹp, thì cái đó là tướng chung. Chúng ta thấy dễ hiểu không? Rồi bây giờ mới nhìn nó đẹp ở chỗ nào? Ờ cái dòng suối vẽ nó giống như thật, cây tùng, con nhạn, con chim gì đó. Thì cái cảnh chi tiết nhỏ nhỏ nó đẹp. Từng cái nhỏ nhỏ đó gọi là tướng riêng. Một con người cũng vậy, một món đồ cũng vậy. Thí dụ như ngôi chùa, mà nhìn thấy đẹp từ cái họa tiết, đường nét, từ những hành lang, từ những con rồng, con phụng, từ những trụ đá nhỏ nhỏ, rồi tượng Phật này nọ kia. Những cái trang trí nhỏ nhỏ riêng biệt đó gọi là tướng riêng, tổng thể ngôi chùa là tướng chung.
Một con người cũng vậy, con người nhìn chung cao ráo, trắng trẻo, nhìn qua rất đẹp. Mà mình nhìn kỹ thấy cái lỗ mũi, con mắt, ngón tay, đôi vai này kia nọ. Thì những cái đó, những bộ phận trong cơ thể gọi là tướng riêng. Mà mình càng để ý nhiều chừng nào, thì cái tâm của mình dâng lên tham ái nhiều chừng đó. Chính vì vậy mà hộ trì con mắt như Đức Phật dạy thầy Ananda trong kinh “Đại Bát Niết-bàn” là khi tiếp xúc cái này, nam nữ đều vậy hết trơn. Đức Phật dạy là không có nên nhìn thẳng, nhìn xuống, hộ trì con mắt. Nếu có nói chuyện thì hết sức là giữ gìn các căn, hộ trì, phòng hộ các căn. Rồi làm việc phải thường tác ý “đây là mẹ, đây là chị, đây là bà” nếu những người lớn tuổi là bà, mẹ, chị hoặc em, tác ý như vậy đó. Đức Phật dạy rất là kỹ, tại vì bên trong con người của mình cái tham ái nó nặng lắm. Chúng ta thấy không? Cái tham ái mà nó đưa đến tai họa cho toàn thế giới, chứ không phải riêng một người nào đâu. Nếu mình không có sự hộ trì, chế ngự, phòng ngự, bảo vệ, thì đau khổ lâu dài.
Trong “Tương Ưng Sáu Xứ” Đức Phật nói: “Này các Tỳ-kheo, có sáu xúc xứ (sáu xúc xứ là sáu chỗ tiếp xúc) tức là mắt, tay, mũi, lưỡi, thân, ý. Không biết phòng hộ, không biết bảo vệ, không biết giữ gìn, là đưa đến đau khổ, bất hạnh lâu dài. Nếu người nào biết phòng hộ, hộ trì, bảo vệ, tu tập, thì người đó được an lạc, hạnh phúc dài lâu”. Thành ra trong sự tu chúng ta thấy hộ trì căn là hết sức quan trọng. Đối nghịch lại với “hộ trì căn” là “thả lỏng các căn” hay còn gọi là buông lung phóng dật. Thả lỏng các căn là mắt muốn nhìn cứ để cho nhìn, nghe cứ nghe, ngửi nếm gì cứ thả lỏng, mình không có phòng hộ, không bảo vệ, không thu nhiếp, không hộ trì, không giữ gìn. Cho nên cái hộ trì, giữ gìn, phòng hộ, bảo vệ các căn là hết sức quan trọng mình càng để ý theo chiều hướng của thịnh tướng, đẹp đẽ, dễ nhìn, đáng yêu đó nhiêu chừng nào, là nó càng sanh khởi lên những dục, tham, ái.
Chẳng hạn như bây giờ mình nói đơn giản về ông này mà thích uống trà, khoái uống trà, thích mấy cái bộ đồ trà. Ông đi qua mấy chỗ bán mấy cái ấm trà, đồ cổ này kia đủ thứ. Đứng nó dòm hoài “Chậc lưỡi! Đẹp quá đẹp, mà bộ này mắc tiền quá mình không có đủ tiền mua” cứ dòm, để ý. Càng để ý thì càng ham, càng thích, càng khoái. Mà mình đi phớt qua: “Mình nhìn vậy thôi, nhìn nó mất công lắm, đừng có nhìn, không có tiền đừng có nhìn. Mà mình tu làm gì có tiền, tiền của Đàn na tín thí thôi, chứ đâu phải của mình đâu. Mà mấy cái đó là mấy cái xa xỉ không cần thiết, bây giờ mình muốn cái ấm cũ, cái bình cũ cũng được rồi. Cần gì phải cái bình chạm rồng, chạm phượng, bình Càng Long, Khang Hi gì làm chi. Giữ “thiểu dục tri túc” đi, ít muốn biết đủ đi”.
Mình tác ý như vậy cái tâm của mình nó nhẹ, mình đi qua giống như một làn gió vậy. Còn không mình đi tới đó cái nó bị mắc lại, vướn lại. Hay mấy cô đi ra chợ mua đồ, hay đi tới chỗ mà bỗng nhiên bữa nay đi dự khóa tu hay hội nghị gì đó mà buffet là 80 món là mắt sáng lên. Là lúc đó có phòng hộ, có hộ trì căn không? Mình coi cảm giác của mình, cảm giác cái lồng ngực, cảm giác cái lưỡi, cảm giác cái miệng, con mắt nó ra làm sao? Cái bước đi mình gắp đồ ăn ra làm sao? Rồi khi mình nhai, mình nuốt, mình ngửi, mình nếm, thì lúc đó nó ra làm sao? Phải nhìn thấy hoạt động của các cảm giác lúc đó có thúc giục, khoan khoái hay muốn, tham “ăn ngon quá, nó muốn ăn thêm, gắp thêm” gắp một hồi ăn không hết, rồi đem đi đổ, có tội không? Cho nên sự hộ trì căn này hết sức quan trọng, và nó giúp cho mình rất là nhiều, từ thân cho đến tâm. Mình ăn nhiều vô một hồi uống thuốc tiêu, xong bội thực, trúng thực.
Ở bên Mỹ có cô này đến ăn buffet, mà chúng ta biết bên Mỹ đồ ăn dữ lắm, giá ăn cô này mua hai mươi mấy đô-la là mấy năm trước. Cổ ăn no rồi, cô nghĩ: Bây giờ đi về uổng quá, ở lại ráng ăn thêm. Ăn một hồi thì cuối cùng xe cấp cứu đến, cô ấy bị bội thực, phải đưa vô bệnh viện. Bởi vì bây giờ đóng tiền rồi ăn ít, ăn nhiều cũng ăn, thôi ráng ăn dồn vô, tham đó. Chúng ta thấy như vậy cái miệng hại cái thân không? Mà cái miệng này sở dĩ nó ham ăn là do tự vì con mắt nó thấy, rồi lỗ mũi nó ngửi, rồi lưỡi nó nếm, rồi xong nó xúc. Nhãn xúc, nhĩ xúc, thiệt xúc, tỷ xúc, thân xúc, ý xúc là sáu xúc.
Cho nên chúng ta mới thấy là chúng ta “hãy tiết lộ ăn uống, chơn chánh giác sát thọ dụng món ăn, không phải để vui đùa” Nhiều khi đọc ăn vui đùa là sao? Thí dụ mình thấy ngoài đời người ta hưởng thụ, là cái ăn chơi đó. Bây giờ mình tu mình không khéo thì sự tu tập là mình bị giống như vậy, mà mình không có biết. Mình cũng thưởng thức món ăn, mình cũng đi nhà hàng này, nọ, kia. Cái đó là cực chẳng đã, bất đắc dĩ dữ lắm thôi, chứ người từ của là mình không nên. Hồi xưa thời Đức Phật phải ôm bình bát đi ăn xin, bây giờ ở trong chùa có đồ ăn rồi sao không ăn mà phải đi ra quán, mà cái quán bình thường không chịu, nhà hàng phải nhà hàng bự mới chịu, đó thất bại rồi thấy chưa? Như vậy thì Đức Phật dạy ở đây chúng ta đọc kỹ. Cho nên mình học cái này rồi, mình thấy sai nhiều cái mà mình không có biết. Cái đau đớn nhất là mình sai mà mình không biết, rất là vô minh. Sau khi Minh Thành học trong đây, thực tập rồi mình mới thấy lúc trước mình sai nhiều dữ lắm mà mình không có biết.
Tiếp theo là: “Ăn không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để tự làm đẹp mình, chỉ để thân này được duy trì, được bảo dưỡng, khỏi bị gia hại, để chấp trì Phạm hạnh” Câu này là bát đức trong sự thọ trì của người xuất gia, công đức của sự ăn uống đúng pháp gọi là bát đức. Tám điều này mà nào giờ chúng ta nào giờ có biết đâu, phải học thuộc lòng. Cái này là những cái này sau này thi, là pháp hành mỗi ngày của chúng ta. Nếu chúng ta không biết rồi làm sao? Điều thứ nhất là: “Chơn chánh giác sát thọ dụng món ăn, không phải để vui đùa”. “Giác sát” tỉnh giác và quán sát, mình ăn cái món ăn này không phải để vui sướng. Mình ăn cái món ăn này không phải để hưởng thụ. Thứ nhất cái ăn cho vui, ăn cho sướng, ăn cho ngon là không phải rồi đó. Cho nên cái ăn ở trong bình bát có cái hay như vầy nè, là tất cả đổ hết vô, rồi trộn lại ăn. Cái chỗ này mà ăn được, thì cũng làm cả một sự nhiếp phục và chế ngự cái cảm giác của lưỡi.
Bây giờ mà canh chua trộn chung với chè đậu xanh, ròi bỏ cơm, tàu hũ kho đẩy vô, trộn vô một cái bát như vậy đó mình ăn được không? Như vậy mà các vị ngày xưa thời Đức Phật ăn. Mà Đức Phật là ai? Là thái tử, mà Ngài ăn như vậy đó. Bây giờ “tôi dặn bữa nay cho tôi cái này nghe, đừng cho cái này”. Cái này người ta cho bỏ vô cái bát, sao mình dặn được, mình đi ăn xin mình có quyền đòi hỏi sao? Thành ra những chỗ này mình bây giờ không thể làm được giống như Đức Phật, nhưng mình phải hiểu cái vấn đề. Chứ còn nếu không mình xa đà trong ăn uống, mất hết thời gian tu học và thực hành pháp. “Chúng ta thấy có phải vậy không ạ? Sao im ru hết trơn vậy, không đúng hả? Cười nữa, có nhiều ý nghĩa lắm nha.”
Tinh thần của Đức Phật ở trong kinh tạng Nikāya là vậy đó. Bây giờ mình thấy, nội mà buổi lễ như vầy thôi là nấu mấy ngày, bỏ thì giờ ngồi thiền, bỏ thì giờ tụng kinh, bỏ thì giờ nghe pháp hết rồi. Có khi làm quạo luôn, rồi phiền não nữa, thì chỗ đó nó thất bại nữa. Cái đó nó đâu có liên hệ đến mục đích đoạn tận tham, sân, si đâu. Cho nên để mình nói những cái này, bây giờ mình học là khó đó, mà mình làm được mới là tuyệt vời chứ.
Thứ Tự Tu Tập (1)
Kinh Ganaka Moggallàna
Thích Minh Thành
Ngày 12 tháng 09 năm 2022
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Bài kinh PAGEREF _Toc116395302 \h 1
II. Tuần tự PAGEREF _Toc116395303 \h 8
1. Giới hạnh PAGEREF _Toc116395304 \h 9
2. Hộ trì căn PAGEREF _Toc116395305 \h 9
3. Tiết độ ăn uống PAGEREF _Toc116395306 \h 10
III. Không nắm giữ tướng chung – không nắm giữ tướng riêng PAGEREF _Toc116395307 \h 17
I. Bài kinh
Con chấm bài con thấy không có được, cái pháp mình nắm không có vững, tàm tạm thôi chứ chưa có nắm vững hết. Lớp giảng sư chúng ta phải nắm thật là vững, các pháp hành rất là quan trọng. Trong tất cả các thời đại pháp hành điều quan trọng và hơn bao giờ hết trong thời điểm này, là thời điểm mình rất là cần sự thực hành. Đặc biệt trong kinh tạng Nikāya thì pháp học với pháp hành nó đi song song. Một người mà không nắm vững pháp học, thì không thể thực hành pháp hành được. Nếu một người chỉ thực hành pháp, thì người đó không thể thông được cái pháp học. Cái chỗ này là chỗ đặc biệt. Có một số người quan điểm pháp học khác, pháp hành khác. Người này nghĩ là người học giả chỉ lo nghiên cứu, còn người hành giả là cứ lo thực hành thôi, thì không phải. Pháp hành và pháp học nó hỗ trợ, nó làm sáng tỏ, nó tương trợ, tương tác, tương quan, tương thành cho nhau. “Chúng ta học môn này có ngán không ạ? Có thấy khó không? Sao cười? Cười nó nhiều ý nghĩa lắm”.
Tại vì nó là pháp hành, cho nên mình nắm vững được thì nói đâu là trúng đó. Còn mình không nắm vững được thì mình nói cái gì cũng là trật hết trơn, tại vì cái căn bản nó đã trật. Thành ra con muốn cho quý thầy, quý cô nắm vững tinh hoa, cốt lõi trong hành trì. Chính vì vậy mà con chưa đi vào nhiều bản kinh, tại vì chưa có nắm được chìa khóa, chưa nắm được cái lõi, mà mình học rộng như vậy thì sau này mình không có cái chỗ quy thủ, tức là không có chân đứng trong pháp. Thành ra chúng ta đi hết sức là chậm, rất là chậm và rất là chắc. Bài kinh Trung Bộ mà chúng ta đang cầm trên tay là kinh “Ganaka Moggallana”, chúng ta trước nay chưa được học bài kinh này phải không ạ? Bản kinh này rất là đầy đủ trình tự tu tập của một người xuất gia, đó là cả một đạo lộ của pháp hành. Bài kinh số 107 Trung Bộ Kinh tập 3. Chữ “Moggallana” phiên âm nghĩa Hán Việt là Mục Thiền Liên. Cái này bên kinh A-Hàm gọi là Bản kinh toán số Mục Thiền Liên. Tại vì người này tên trùng với Ngài Mục Thiền Liên, nhưng lại là một thầy dạy toán học.
“Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú ở Savatthi, Pubbarama, nơi lâu đài của Migaramatu (Ðông Viên Lộc Mẫu Giảng đường). Rồi Bà-la-môn Ganaka Moggallana đi đến chỗ Thế Tôn, sau khi đến nói lên những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Ganaka Moggallana bạch Thế Tôn:
-- Ví như, thưa Tôn giả Gotama, tại lâu đài Migaramatu này, có thể thấy được một học tập tuần tự, một công trình tuần tự, một đạo lộ tuần tự, tức là những tầng cấp của lầu thượng cuối cùng; thưa Tôn giả Gotama, cũng vậy, đối với những vị Bà-la-môn này, được thấy một học tập tuần tự, một công trình tuần tự, một đạo lộ tuần tự, tức là sự học hỏi (các tập Veda). Thưa Tôn giả Gotama, cũng vậy, đối với những vị bắn cung này, được thấy một học tập tuần tự, một công trình tuần tự, một đạo lộ tuần tự, tức là nghệ thuật bắn cung. Cũng vậy, thưa Tôn giả Gotama, đối với chúng con là những người toán số, sống nhờ nghề toán số, cũng được thấy một học tập tuần tự, một công trình tuần tự, một đạo lộ tuần tự, tức là toán số. Thưa Tôn giả Gotama, vì rằng khi có được người đệ tử, trước hết chúng con bắt người ấy đếm như sau: “Một, một lần, hai, hai lần, ba, ba lần, bốn, bốn lần, năm, năm lần, sáu, sáu lần, bảy, bảy lần, tám, tám lần, chín, chín lần, mười, mười lần”. Và thưa Tôn giả Gotama, chúng con bắt đếm tới một trăm. Có thể trình bày chăng, thưa Tôn giả Gotama, trong Pháp và Luật này, cũng có một tuần tự học tập, một tuần tự công trình, một tuần tự đạo lộ như vậy?
-- Có thể trình bày, này Bà-la-môn, trong Pháp và Luật này, có một tuần tự học tập, có một tuần tự công trình, có một tuần tự đạo lộ. Ví như, này Bà-la-môn, một người huấn luyện ngựa thiện xảo, sau khi được một con ngựa hiền thiện, trước tiên luyện tập cho nó quen mang dây cương, rồi tập luyện cho nó quen các hạnh khác; cũng vậy, này Bà-la-môn, Như Lai khi được một người đáng được điều phục, trước tiên huấn luyện người ấy như sau: “Hãy đến Tỷ-kheo, hãy giữ giới hạnh, hãy sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy sự nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, thọ trì và học tập các học giới”.
Này Bà-la-môn, khi vị Tỷ-kheo giữ giới hạnh, chế ngự với sự chế ngự của giới bổn, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy sự nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, thọ trì và học tập các học giới, Như Lai mới huấn luyện vị ấy thêm như sau: “Hãy đến Tỷ-kheo, hãy hộ trì các căn, khi mắt thấy sắc chớ có nắm giữ tướng chung, chớ có nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, vì nhãn căn không được chế ngự khiến tham ái, ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, vị Tỷ-kheo tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì con mắt, thực hành sự hộ trì con mắt. Khi tai nghe tiếng.... mũi ngửi hương... lưỡi nếm vị... thân cảm xúc... ý nhận thức các pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, vì ý căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các pháp ác bất thiện khởi lên, Tỷ-kheo chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành sự hộ trì ý căn”.
Này Bà-la-môn, sau khi Tỷ-kheo hộ trì các căn rồi, Như Lai mới huấn luyện vị ấy thêm như sau: “Hãy đến Tỷ-kheo, hãy tiết độ trong ăn uống, chơn chánh giác sát thọ dụng món ăn, không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để tự làm đẹp mình, chỉ để thân này được duy trì, được bảo dưỡng, khỏi bị gia hại, để chấp trì Phạm hạnh, nghĩ rằng: Như vậy ta diệt trừ các cảm thọ cũ và không cho khởi lên các cảm thọ mới; và ta sẽ không phạm lỗi lầm, sống được an ổn”.
Này Bà-la-môn, sau khi Tỷ-kheo tiết độ trong ăn uống rồi, Như Lai mới huấn luyện vị ấy thêm như sau: “Hãy đến Tỷ-kheo, hãy chú tâm cảnh giác! Ban ngày trong khi đi kinh hành và trong khi đang ngồi, gột sạch tâm trí khỏi các chướng ngại pháp; ban đêm trong canh đầu, trong khi đi kinh hành và trong khi đang ngồi, gột sạch tâm trí khỏi các chướng ngại pháp; ban đêm trong canh giữa, hãy nằm xuống phía hông bên phải, như dáng nằm con sư tử, chân gác trên chân với nhau, chánh niệm tỉnh giác, hướng niệm đến lúc ngồi dậy lại. Ban đêm trong canh cuối, khi đã thức dậy, trong khi đi kinh hành và trong khi đang ngồi, gột sạch tâm trí khỏi các chướng ngại pháp”.
Này, Bà-la-môn, sau khi vị Tỷ-kheo chú tâm tỉnh giác, Như Lai mới huấn luyện vị ấy thêm nữa như sau: “Hãy đến Tỷ-kheo, hãy thành tựu chánh niệm tỉnh giác, khi đi tới khi đi lui đều tỉnh giác; khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh đều tỉnh giác; khi co tay, khi duỗi tay đều tỉnh giác; khi mang y kép, bình bát, thượng y đều tỉnh giác; khi ăn, uống, nhai, nuốt, đều tỉnh giác; khi đi đại tiện, tiểu tiện đều tỉnh giác; khi đi, đứng, ngồi, nằm, thức, nói, yên lặng đều tỉnh giác”.
Này Bà-la-môn, sau khi chánh niệm tỉnh giác rồi, Như Lai mới huấn luyện vị ấy thêm như sau: “Hãy đến Tỷ-kheo, hãy lựa một chỗ thanh vắng, tịch mịch như rừng, gốc cây, khe núi, hang đá, bãi tha ma, lùm cây, ngoài trời, đống rơm”.
Vị ấy lựa một chỗ thanh vắng, tịch mịch, như rừng, gốc cây, khe núi, hang đá, bãi tha ma, lùm cây, ngoài trời, đống rơm. Sau khi đi khất thực về và ăn xong, vị ấy ngồi kiết-già, lưng thẳng tại chỗ nói trên và an trú chánh niệm trước mặt. Vị ấy từ bỏ tham ái ở đời, sống với tâm thoát ly tham ái, gột rửa tâm hết tham ái. Từ bỏ sân hận, vị ấy sống với tâm không sân hận, lòng từ mẫn thương xót tất cả chúng hữu tình, gột rửa tâm hết sân hận. Từ bỏ hôn trầm thụy miên, vị ấy sống thoát ly hôn trầm thụy miên, với tâm tưởng hướng về ánh sáng, chánh niệm tỉnh giác, gột rửa tâm hết hôn trầm thụy miên; từ bỏ trạo cử hối tiếc, vị ấy sống không trạo cử, nội tâm trầm lặng, gột rửa tâm hết trạo cử hối tiếc; từ bỏ nghi ngờ, vị ấy sống thoát khỏi nghi ngờ, không phân vân lưỡng lự, gột rửa tâm hết nghi ngờ đối với các thiện pháp.
Khi đoạn trừ năm triền cái ấy, những pháp làm ô nhiễm tâm, làm trí tuệ yếu ớt, vị ấy ly dục, ly bất thiện pháp chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, với tầm với tứ. Vị ấy diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Vị ấy ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và trú Thiền thứ ba. Xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh.
Này Bà-la-môn, đối với những Tỷ-kheo nào là bậc hữu học, tâm chưa thành tựu, đang sống cần cầu sự vô thượng an tịnh các triền ách, đó là sự giảng dạy của Ta như vậy đối với những vị ấy. Còn đối với những vị Tỷ-kheo là bậc A-la-hán, các lậu đã tận, tu hành thành mãn, các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt lý tưởng, đã tận trừ hữu kiết sử, chánh trí giải thoát, những pháp ấy đưa đến sự hiện tại lạc trú và chánh niệm tỉnh giác.
Khi được nói vậy, Bà-la-môn Ganaka Moggallana bạch Thế Tôn:
-- Các đệ tử của Sa-môn Gotama, khi được Sa-môn Gotama khuyến giáo như vậy, giảng dạy như vậy, có phải tất cả đều chứng được cứu cánh đích Niết-bàn hay chỉ có một số chứng được?
-- Này Bà-la-môn, một số đệ tử của Ta, khi được khuyến giáo như vậy, giảng dạy như vậy, chứng được cứu cánh đích Niết-bàn, một số không chứng được.
-- Thưa Tôn giả Gotama, do nhân gì, do duyên gì trong khi có mặt Niết-bàn, trong khi có mặt con đường đưa đến Niết-bàn, trong khi có mặt Tôn giả Gotama là bậc chỉ đường, tuy vậy các đệ tử Tôn giả Gotama, được Tôn giả Gotama khuyến giáo như vậy, giảng dạy như vậy, một số chứng được cứu cánh đích Niết-bàn, một số không chứng được?
-- Này Bà-la-môn, ở đây Ta sẽ hỏi Ông. Nếu Ông kham nhẫn, hãy trả lời cho Ta. Này Bà-la-môn, Ông nghĩ thế nào? Ông có giỏi về con đường đi đến Rajagaha (Vương Xá)?
-- Thưa Tôn giả, con có giỏi về con đường đi đến Rajagaha.
-- Này Bà-la-môn, Ông nghĩ thế nào? Ở đây, có một người, muốn đi đến Rajagaha, người này đến Ông và nói như sau: “Thưa Tôn giả, tôi muốn đi đến Rajagaha. Hãy chỉ cho tôi con đường đi đến Rajagaha”. Ông nói với người ấy như sau: “Ðược, này Bạn, đây là con đường đưa đến Rajagaha. Hãy đi theo con đường ấy trong một thời gian. Sau khi đi trong một thời gian, Bạn sẽ thấy một làng tên như thế này. Hãy đi theo trong một thời gian. Sau khi đi trong một thời gian, Bạn sẽ thấy một thị trấn tên như thế này. Hãy đi theo trong một thời gian. Sau khi đi trong một thời gian, Bạn sẽ thấy Rajagaha với những khu vườn mỹ diệu, với những khu rừng mỹ diệu, với những vùng đất mỹ diệu, với những hồ ao mỹ diệu”. Dầu cho người ấy được khuyến giáo như vậy, được giảng dạy như vậy, nhưng lại lấy con đường sai lạc, đi về hướng Tây. Rồi một người thứ hai đến, muốn đi đến Rajagaha. Người này đến Ông và hỏi như sau: “Thưa Tôn giả, tôi muốn đi đến Rajagaha, mong Tôn giả chỉ con đường ấy cho tôi”. Rồi Ông nói với người ấy như sau: “Ðược, này Bạn, đây là đường đi đến Rajagaha. Hãy đi theo con đường ấy trong một thời gian. Sau khi đi một thời gian, Bạn sẽ thấy một làng có tên như thế này. Hãy đi theo con đường ấy trong một thời gian. Sau khi đi một thời gian, Bạn sẽ thấy một thị trấn có tên như thế này. Hãy đi theo con đường ấy trong một thời gian. Sau khi đi theo con đường ấy trong một thời gian, Bạn sẽ thấy Rajagaha với những khu vườn mỹ diệu, với những khu rừng mỹ diệu, với những vùng đất mỹ diệu, với những ao hồ mỹ diệu”. Người ấy được Ông khuyến giáo như vậy, giảng như vậy, đi đến Rajagaha một cách an toàn.
Này Bà-la-môn, do nhân gì, do duyên gì, trong khi có mặt Rajagaha, trong khi có mặt con đường đưa đến Rajagaha, trong khi có mặt Ông là người chỉ đường, dầu cho Ông có khuyến giáo như vậy, giảng dạy như vậy, một người lấy con đường sai lạc, đi về hướng Tây, còn một người có thể đi đến Rajagaha một cách an toàn?
-- Thưa Tôn giả Gotama, ở đây, con làm gì được? Con chỉ là người chỉ đường, thưa Tôn giả Gotama.
-- Cũng vậy, này Bà-la-môn, trong khi có mặt Niết-bàn, trong khi có mặt con đường đi đến Niết-bàn, và trong khi có mặt Ta là bậc chỉ đường. Nhưng các đệ tử của Ta, được Ta khuyến giáo như vậy, giảng dạy như vậy, một số chứng được cứu cánh đích Niết-bàn, một số không chứng được. Ở đây, này Bà-la-môn, Ta làm gì được? Như Lai chỉ là người chỉ đường.
Khi nghe nói vậy, Bà-la-môn Ganaka Moggalana bạch Thế Tôn:
-- Thưa Tôn giả Gotama, đối với những người không phải vì lòng tin, chỉ vì sinh kế, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, những người xảo trá, lường gạt, hư ngụy, mất thăng bằng, cao mạn, dao động, nói phô tạp nhạp, không hộ trì các căn, ăn uống không tiết độ, không chú tâm cảnh giác, thờ ơ với Sa-môn hạnh, không tôn kính học tập, sống quá đầy đủ, uể oải, đi đầu trong thối thất, từ bỏ gánh nặng viễn ly, biếng nhác, tinh cần thấp kém, thất niệm, không tỉnh giác, không định tâm, tâm tán loạn, liệt tuệ, câm ngọng; Tôn giả Gotama không thể sống với những người như vậy.
Còn những Thiện gia nam tử vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, không xảo trá, không lường gạt, không hư ngụy, không mất thăng bằng, không cao mạn, không dao động, không nói phô tạp nhạp, hộ trì các căn, ăn uống có tiết độ, chú tâm tỉnh giác, không thờ ơ với Sa-môn hạnh, tôn kính học tập, sống không quá đầy đủ, không uể oải, từ bỏ thối thất, đi đầu trong viễn ly, tinh cần, tinh tấn, chánh niệm, an trú, tỉnh giác, định tĩnh, nhứt tâm, có trí tuệ, không câm ngọng; Tôn giả Gotama sống hòa hợp với những vị ấy.
Ví như Tôn giả Gotama, trong các loại căn hương, hắc chiên đàn hương được gọi là tối thượng; trong các loại lõi cây hương, xích chiên đàn hương được gọi là tối thượng; trong các loại hoa hương, vũ quý hương (jasmine) được gọi là tối thượng. Cũng vậy là lời khuyến giáo của Tôn giả Gotama được xem là cao nhất trong những lời khuyến giáo hiện nay.
Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Gotama! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày những gì bị che kín, chỉ đường cho những người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc; cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày giải thích. Con xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp và chúng Tỷ-kheo Tăng. Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.”
(Trung Bộ Kinh III – kinh Ganaka Moggallàna)
II. Tuần tự
Trước khi chúng ta đi vào tuần từ pháp hành của Phật giáo, thì chúng ta xem kỹ câu hỏi của vị thầy toán số Bà-la-môn này. Bây giờ chúng ta bước tới chùa Hòa Khánh, chúng ta thấy cái gì đầu tiên ạ? Đầu tiên chúng ta sẽ thấy cái cổng chùa, sau đó thấy cái sân, rồi bước tiếp theo chúng ta thấy tượng Bồ tát, chúng ta bước vào nữa chúng ta thấy giảng đường, trai đường, chúng ta bước lên trên chúng ta thấy chánh điện, thì đó là tuần tự đó. Chứ còn đọc không là chúng ta không hiểu, đó là tuần tự kiến trúc của một ngôi chùa. Rồi khi chúng ta đi lên bậc thang thứ hai, thì chúng ta có thấy bậc thứ nhất không, hay bước lên một cái tới bậc thứ bảy? Đó là tuần tự của bậc thang đó. Rồi chúng ta đi học là học từng vần A, B, C, D. Rồi ráp từng vần đó thành chữ, rồi nhiều chữ đó thành câu, nhiều câu thành đoạn, nhiều đoạn nó thành bài, cứ như vậy ra thành nhiều chương, nhiều phần và cuối cùng thành ra một quyển sách.
Rồi trong sự học nghề cũng vậy, ở trong kinh nói nghề huấn luyện ngựa và đi học toán. Vị thầy này nói là: “Con có một lối giáo dục dạy đếm từ số 1 tới số 10, rồi mới nhân lên, rồi mới cộng trừ nhân chia, rồi mới lên tới những cái bài khó hơn, những trình độ cao cấp hơn nữa. Thì như vậy thưa tôn giả Gotama, Ngài huấn luyện, trình tự giáo hóa, đạo lộ đối với đệ tử như thế nào?” Chúng ta thấy cái này hết sức là đặc biệt không? Bài kinh này rất đặc biệt, rất quan trọng. Nhiều khi chúng ta xuất gia suốt cuộc đời chưa được nghe, chưa được học bài này. Người xuất gia không được học bài kinh này rất là uổng, cho nên mình học thật là kỹ, mình nắm thật là rõ, mình thực hành thật là tốt, rồi hình hướng dẫn lại đệ tử xuất gia của mình hoặc những người cư sĩ. Mà nhất là trong vai trò của một người đang trên bước đường học để mà chia sẻ giáo pháp, thì là rất quan trọng.
1. Giới hạnh
Bắt đầu Đức Thế Tôn nói: “Ta có đạo lộ, tuần tự của sự giáo dục Chánh pháp”. Rồi bây giờ mình đối chiếu xem, mình xuất gia tới giờ có giống thứ tự này không? Sự hành trì mình hồi đó tới giờ có dính dáng gì tới cái này không? Bước thứ nhất là: “Hãy đến Tỳ-kheo, hãy giữ giới hạnh, hãy sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy sự nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, thọ trì và học tập các học giới”, là bước quan trọng nhất của người xuất gia. Ở trong cái bảng phân loại, thì ta có tô màu những phần quan trọng. Chúng ta ai mà có mở được ở trên cái app thì chúng ta mở, mình sẽ thấy “hãy giữ giới hạnh..” trong cái bảng mình in là chữ đậm, chữ đỏ. Mà các phần Đức Phật nói là chữ nghiêng, chúng ta phải tô màu cái phần đó. Rồi chúng ta phải học thuộc lòng, để cho mình nắm vững cái pháp học, nắm vững cái pháp hành. Tuy là mình học thuộc lòng, nhưng mà chưa chắc mình hiểu đó chứ, không phải là đơn giản đâu.
Thế nào là “hãy giữ giới hạnh?” Thế nào là “hãy sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn?” Chúng ta nhớ 100 pháp chúng học không? Từ cái đi, đứng, ngồi, nằm của người xuất gia, đó là hãy sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn. Trong cái giới của Tỳ-kheo, Tỳ-kheo Ni hay là trong cái oai nghi của một người xuất gia cần phải đầy đủ oai nghi, Chánh hạnh. Thấy sự nguy hiểm trong những loại nhỏ nhặt thọ trì và học tập các học giới.
2. Hộ trì căn
“Hãy đến Tỳ-kheo, hãy hộ trì các căn, khi mắt thấy sắc chớ có nắm giữ tướng chung, chớ có nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, vì nhãn căn không được chế ngự khiến tham ái, ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, vị Tỳ-kheo tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì con mắt, thực hành sự hộ trì con mắt. Khi tai nghe tiếng.... mũi ngửi hương... lưỡi nếm vị... thân cảm xúc... ý nhận thức các pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, vì ý căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các pháp ác bất thiện khởi lên, Tỳ-kheo chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành sự hộ trì ý căn”. Đó là bước thứ hai. Đọc nhưng không phải dễ hiểu à. Bây giờ con hỏi quý thầy, quý cô. Giải thích một câu ngắn trong đây thôi là chưa chắc giải nổi nữa, chỗ khó trong kinh Nikāya là vậy.
3. Tiết độ ăn uống
Ở trong cuốn “Nghi thức tu học Nikāya” mà chúng ta có học mấy lần rồi, đó chính là niệm hộ trì căn. Chúng ta mở cuốn nghi thức tu học Nikāya ra đi, coi cái niệm hộ trì căn, “chắc là không có đem theo sách rồi”. Chúng ta kết hợp bài kinh này với bài kinh “Tứ Niệm Xứ”, chúng ta sẽ thấy sáng tỏ rất là nhiều. Chúng ta tiếp tục điểm nữa là điểm thứ ba: “Này Bà-la-môn, sau khi Tỷ-kheo hộ trì các căn rồi, Như Lai mới huấn luyện vị ấy thêm như sau: “Hãy đến Tỷ-kheo, hãy tiết độ trong ăn uống, chơn chánh giác sát thọ dụng món ăn, không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để tự làm đẹp mình, chỉ để thân này được duy trì, được bảo dưỡng, khỏi bị gia hại, để chấp trì Phạm hạnh, nghĩ rằng: Như vậy ta diệt trừ các cảm thọ cũ và không cho khởi lên các cảm thọ mới; và ta sẽ không phạm lỗi lầm, sống được an ổn”.
Vậy là đầu tiên ta nói ba phần: Một là giữ giới hạnh, hai là hộ trì các căn, thứ ba là tiết độ trong ăn uống. Mấy cái này chúng ta nói ra là chúng ta bị dính nhiều lắm, mà mình giữ được những cái này mình mới có thể tiến sâu được ở trong pháp và luật. Bây giờ nói một phần nhỏ như câu “đầy đủ oai nghi chánh hạnh”, bao nhiêu đó thôi, sáu chữ này thôi là chúng ta thấy nó như thế nào. Cho nên chúng ta đi tìm pháp hành ở đâu? Mỗi một chữ ở trong bài kinh này là pháp hành đó. Thế nào là đầy đủ oai nghi chánh hạnh? Chúng ta nhớ bài “Kinh Tứ Niệm” xứ vừa mới nhắc. Vị Tỳ-kheo khi đi, khi đứng, khi ngồi, khi nằm thì tuệ tri rõ biết, biết rõ bằng trí tuệ là mình đang đi, đứng, nằm, ngồi ở trong bốn oai nghi chính đó. Rồi co, duỗi, cúi, ngước, đắp y Tăng-già-lê, ôm bình bát, đại tiểu tiện điều tỉnh giác từng cử chỉ, oai nghi và hành động. Oai nghi có bốn cái oai nghi chính là đi, đứng, ngồi, nằm “mình ghi vô”. Ngoài bốn cái oai nghi chính đó, thì tất cả là oai nghi phụ.
Ở trong kinh “Tứ Niệm Xứ” gọi là “niệm oai nghi”. Tức là đi mình phải nhớ mình đang đi, nhiều khi mình đi mà mình quên là mình đang đi phải không? Chạy xe mà lo dòm dòm rồi chuyện gì xảy ra? Rồi mình đi lên cầu thang cũng vậy, mình không lo nhìn bậc thang, mình lo nghĩ lung tung lang tang, vấp cầu thang, mà có khi đưa đến hệ quả rất là lớn. Cho nên ở bên Úc, bên Nhật hay là ở bên chùa của hòa thượng Pháp Chủ cũng vậy, mấy chỗ mà có bậc thang là điều đề “chú ý bước chân, cẩn thận bước đi”. Cái đó là một sự Chánh niệm tỉnh giác, nó nhắc mình. Bây giờ chúng ta thấy, sáu chữ “đầy đủ oai nghi chánh hạnh” này mà là cả một pháp hành. Có khi 10 năm, 20 năm, 30 năm xuất gia chưa làm xong, cho nên pháp hành mới có giá trị. Cái đi của người xuất gia nó khác, cái bước, cái nhìn, cách nói chuyện của người xuất gia, người tu nó cũng phải khác.
Mình nói thí dụ, lỡ mà người tu có giận thì cũng phải khác với người đời (một hồi chúng ta đi vô các pháp sâu sắc, thì mình sẽ nói tới phần đó). Chứ không phải mình bung ra hết trơn hết trọi những cái thói phàm phu, tục tử, tập khí, thói quen. Mình có một sự gọi là “hãy sống chế ngự” hai cái chữ “chế ngự” đó hay lắm. Chế ngự là sao? Là kiềm chế, ngăn ngừa, nhiếp phục, chế phục, hạn chế lời nói. Có những chỗ trong “Đại kinh xóm ngựa”, những pháp tác hành Sa-môn cũng giống giống bài kinh này. Có những bài kinh Đức Phật dùng từ “hãy hạn chế lời nói”. “Người mới xuất gia đó hãy hạn chế lời nói”, nói ít. Cho nên người tu không phải mình gặp là mình tía lia, cái đó là một thất bại cho sự tu của chúng ta.
Người xuất gia của chúng ta có hai việc thôi à, Đức Thế Tôn nói: “Khi Tăng chúng (nhớ chữ “Tăng chúng” là không phải là mấy thầy không, Tăng bao gồm có bên Ni chúng luôn đó), đoàn thể xuất gia hội tụ, gặp mặt, chỉ có hai việc thôi. Một là im lặng đúng như Chánh pháp, còn gọi là im lặng của bậc Thánh, tức là thiền định. Còn hai là thảo luận về Chánh pháp, pháp đàm, thuyết pháp, thảo luận về pháp hoặc là đàm đạo về pháp”. Chỉ có hai việc đó thôi, còn tất cả những lời nói khác là phi pháp hết, có thể là rơi vào cái giới là nói phù phiếm. Ở trong Nikāya về bốn giới của miệng, thì cái cuối cùng gọi là “nói lời phù phiếm”. Ở bên Phật giáo phát triển không có dùng cái chữ đó, nhưng trong kinh Nikāya dùng là “từ bỏ nói lời phù phiếm”, chúng ta nhớ ghi chỗ này vô, rất là quan trọng.
Sao gọi là lời phù phiếm? Là nói không có ý nghĩa gì hết, nói quyên thuyên, nói đủ thứ hết, mà cuối cùng lời nói đó không đem lại lợi ích, không đem lại sự an lạc cho người nghe và cho người nói. Lời nói vô nghĩa, vô ích, vô dụng, thì cái đó cũng phạm giới luôn. “Mà cái này chúng ta thấy nhiều không ạ? Im ru hết trơn vậy? Mình có không?” Nếu có thì phải cẩn thận. Mình nói cái gì mà nó không liên hệ đến mục đích “đây, nói tới đâu là nó có chữ, có pháp tới đó”. Trong Nikāya là dùng từ “không liên hệ đến mục đích”. “Mấy chữ này hay quá, phải ghi vô nghe”. Những chữ mà chúng ta cần phải để ý nãy giờ là chữ “chế ngự”, “không liên hệ đến mục đích”, “từ bỏ lời nói phù phiếm”, đó đều là pháp hành. Những cụm từ này là Đức Phật dùng rất là nhiều trong kinh tạng Nikāya.
Bất cứ khi nói, khi làm gì, thì Đức Phật hỏi: “Cái đó có liên hệ tới mục đích không?” Còn mục đích là mục đích gì ạ? Mục đích của sự xuất gia là cái chỗ chúng ta nhắm, chúng ta hướng, chúng ta đạt tới, đi tới là đoạn tận tham, sân, si. Thì như vậy chúng ta nói nó có đưa đến đoạn tận tham không? Nếu cái lời nói đó mà đưa đến sự đoạn tận tham, thì lời nói nó có liên hệ tới mục đích, lời nói đó Đức Phật cho nói, khuyến khích mình nói. Còn lời nói mà mình nói nó tham thêm nữa, thì lời nói đó là bị quở trách, lỗi lầm, có tội. Giả sử mình nói một chuyện hết sức đơn giả như bây giờ huynh đệ lâu ngày gặp nhau, cái mình nói: “Chà! Bữa nay đẹp quá ha.” Lời nói có liên hệ đến mục đích không? Cái lời nói như vậy sanh khởi tham ái, chúng ta thấy dễ sợ không? Cho nên tu ở trong Nikāya chúng ta thấy nó sâu sắc lắm.
Thí dụ lâu ngày huynh đệ, tỷ muội mình gặp lại, mình nói: “Bữa nay thấy đẹp gái quá ha, bữa nay nhìn đẹp trai quá ha”, thì lời nói như vậy là phạm. Tại sao mình nói lời nói đó? Thứ nhất, mình không có thân hành niệm, mình không có niệm thân. Đẹp chính là thịnh tướng, mà thịnh tướng tức là thức ăn cho tham dục. Chúng ta thấy ví dụ một chút xíu đó thôi là sập bẫy của tham ái, ma vương, ác ma rồi. Thành ra, sự tu mà Chánh niệm tỉnh giác theo đúng tinh thần Đức Phật dạy thì rất là sâu sắc. Rồi bây giờ người đó nấu đồ ăn cho mình, mà mình muốn cho người đó vui, mình khen một tiếng. Mà cái khen của mình có khi quá lố, thường thường mình nói đẹp, nói ngon, mình còn diễn giải cái ngon đó ra như thế nào đó, thì các thọ, tưởng, hành của mình có tham ái nó mới nói vậy, còn không có là nó không có nói thì như vậy. Làm cho mình say đắm trong thức ăn, mình mới nói “nên tiết độ trong ăn uống đó”, thì cái lời nói đó cũng không liên hệ đến mục đích, làm cho người đó có khi đưa cái bản ngã của họ lên.
Nhiều khi mình nghĩ đó là cái khéo léo, thiện xảo, khôn ngoan, thông minh của người thế gian, nhưng cái đó lại là thất bại của người chân tu. Lấy lòng người ta thì mình nói cái câu đó, thứ nhất mình muốn người đó vui, thứ hai mình lấy lòng, thứ ba “để mai mốt lại nấu nữa nha, ngon quá à” đó là liên hệ đến tham. Thành ra cái này chúng ta tu kỹ lắm. Rồi bây giờ người ta nấu dở, mình chê, sân, làm cho người ta phiền não, người ta đã nấu cực khổ, tốn tiền, tốn công, tốn sức, cả tấm lòng của người ta. Nhưng mà tại vì người ta nấu dở, khả năng người ta tới đó thôi mà mình chê, mà không phải chê 1 lần nữa mà còn kể thêm mấy lần trước nữa. Như vậy thì người công qủa đó, họ tiếp xúc với mình, họ sanh khởi ra sân hận, mình không có phước, mà người đó cũng không có phước. Nếu có được rất là nhỏ, tại vì làm ở trong tham, sân.
Mình không có đưa người ta đến ly sân, không có đưa đến ly tham, mà mình còn làm người ta sanh khởi tham, sân. Tại vì sao? Vì tự thân vì mình không có liên hệ đến mục đích nữa, không có sống hướng tới mục đích, cho nên mình có biết mục đích là cái gì đâu mà mình hướng. Nếu mình không biết tu, thì mục đích của mình là ăn ngon. Trong khi sự tụ tập của chúng ta, những phép quán sau này mà chúng ta học là quán nhàm chán đối với thức ăn. Đây là một trong những phép quán hết sức quan trọng trong kinh Nikāya. Phải quán nhàm chán đối với những thức ăn, thức ăn tập khởi cho nên sắc tập khởi. Mình còn ham, còn thích ăn, thì chắc chắn là mình còn ham, còn thích thân. Mà mình còn ham, còn thích thân thì chắc chắn mình còn ham, còn thích dục, ái. Mà mình còn ham thích dục ái thì chắc chắn mình còn trầm luân, sanh tử, khổ đau, sầu, bi, khổ, ưu, não.
Cho nên sự quán ở trong thức ăn là rất quan trọng. Chúng ta đọc bài “Chánh Quán Thọ Thực”, cách ăn của Đức Phật trong quyển “Nghi thức Nikāya”. Đây là con thưa đại chúng, con chỉ điểm một vài một vài cái điểm thôi, chưa có đào sâu nha. Bản kinh này con chưa dám đào sâu, chừng nào khóa tu trên Linh Quy mới đào sâu. Ở đây chỉ điểm chỉ căn bản thôi, chừng nào chư Tăng Ni lên tu 7 ngày hoặc là 3 tháng mới lúc đó đào sâu. Bây giờ chỉ điểm những cái để cho chúng ta thấy được những cái mà chúng ta xem là bình thường, nhưng nó không có bình thường chút nào hết, tham ái.
“Thấy sự nguy hiểm trong những loại nhỏ nhặt” là chỗ đó đó. Một cái lỗi nhỏ thôi mình có thấy nó là nguy hiểm hay mình thấy nó là bình thường? Con xin thưa các thầy, các cô! Tôn giả, tướng quân của Chánh pháp, bậc đại Thánh trí huệ bậc nhất trong hàng Thánh chúng là Ngài Sariputra (Xá-lợi-phất), Ngài đắp cái y mà vô tình cái y của Ngài chấm xuống đất một chút thôi. Mà chúng ta biết cái y nam tông nó dài lắm, mà vô tình chấm cái chéo y xuống đất mà Ngài xấu hổ, Ngài tàm quý, hổ thẹn. Mình bây giờ đắp y rớt xuống đất chừng mấy lần, mà nhiều khi đang đứng trước nhà tổ, đang đứng mọi người, mà lột cái y như vậy đó. Không có tàm, không có quý, không có oai nghi, tế hạnh, nhìn trước ngó sau gì hết, muốn lột là lột à. Thì chỗ đó là chỗ mình không có thấy, không có đầy đủ oai nghi, Chánh hạnh.
Bây giờ giống như đạo đức ở bên ngoài xã hội nó băng hoại, cũng như cái oai nghi của người xuất gia đó đang sa sút trầm trọng, và những cái này là những cái mà hết sức thiết thực, căn bản, thực tế, pháp hạnh của người tu. Chúng ta phải cần được học, cần được tuyên truyền, cần được thực hành, cần được tôn trọng, tôn thờ, là những cái rất quan trọng. Đây là vỏ ngoài của Phạm hạnh, tức là cái cây nó có vỏ ở bên ngoài, mà khi không có vỏ nữa thì làm sao có cái lõi, sau này chúng ta sẽ học bài kinh “Lõi Cây”. Đó là chúng ta phải để ý từng chút, từ đi, đứng, ngồi, nằm, co, duỗi, cúi, ngước, nói, làm, đắp y, ôm bình bát, múc cơm, nhai, nuốt, rồi nằm ngủ, thậm chí là đại tiểu tiện. Tất cả đều phải tỉnh giác, kiểm soát nhất cử, nhất động của mình, rồi mới giữ gìn giới hạnh. Trong giới bổn, cái giới là mình phải thường tụng, thường đọc, không phải nửa tháng là mình đọc 1 lần đâu, rảnh là mình lấy ra mình đọc, mình ôm, mình coi những cái gì mình còn sơ sót.
Chính vì chúng ta xem thường những cái lỗi nhỏ nhặt, thì mới có ra những cái lớn, những cái nghiêm trọng. Đến khi những cái lớn, nghiêm trọng mà mình thấy bình thường luôn là rồi, Phật pháp hoại diệt, chỉ còn cái hình thức, nội dung, chất lượng bên trong nói giảm. Chúng ta thấy hình thức ngày hôm nay quan trọng không ạ? Nhiều khi nguyên một buổi như vậy chỉ có hình thức, không có đem lại lợi lạc nhiều. Có khi làm cho những người tham dự đó, họ sanh khởi lên những cái tâm tham danh, tham lợi, tham chức, tham quyền, không đưa đến sự đoạn tận tham, đoạn tận sân, đoạn tận si. Không đưa đến sự nhàm chán, ly tham, an tịnh, thắng trí, chứng ngộ, Niết-bàn, đó là những pháp ấn của chư Phật.
Trong bài kinh “Thông Điệp, Ngài Upali hỏi Đức Phật: Làm sao để mà xác định được các pháp đó là Chánh pháp của Phật? Làm sao để xác định được cái đó là không phải Chánh pháp, không phải luật của Đức Phật? Đức Phật nói: “Này UPali, những lời nói nào, những bài kinh nào mà ông thấy trong đó đưa đến sự nhàm chán, ly tham, an tịnh, thắng trí, chứng ngộ, Niết-bàn. Thì lời nói đó là lời nói của Như Lai, là pháp của Như Lai, là luật của Như Lai. Nếu lời nói nào mà không đưa đến sự nhàm chán, ly tham, an tịnh, thắng trí, chứng ngộ, Niết-bàn, thì lời nói đó là phi pháp, phi luật, không phải pháp của ta, không phải luật của ta”. Mà nhàm chán, ly tham đối với cái gì? Đối với sắc, thọ tưởng, hành, thức. Chúng ta nắm được chỗ này không ạ? Bây giờ mình coi lại ở trong người mình “nó nhàm chán, nó không tham muốn đối với ngũ uẩn đổ chừng bao nhiêu phần? Một ngày mình có được mấy tiếng đồng hồ để mình nhàm chán sắc, thọ, tưởng, hành, thức? Rồi tới chừng nào mình mới thành tựu mục đích cứu cánh Phạm hạnh? Rồi bây giờ cuộc đời mình tu là mình tu đi tới đâu?” Chỗ đó là chỗ chúng ta chiêm nghiệm đó.
Phải chiêm nghiệm, nghiền ngẫm, suy tư, quán chiếu, soi xét ở trong tự thân của mỗi người. Để thấy được con đường mình đã đi qua, đang đi và sẽ đi, đến cuối cùng nó đi đến đâu. Rồi mình phải biết coi nó có liên hệ đến mục đích hay là không. Còn không khéo coi chừng chúng ta đi ngược, đi lạc đường, đi phát huy sắc, thọ, tưởng, hành, thức, lấy sắc tướng làm sự thành công cho đại tu. Chúng ta thấy thái tử Tất-đạt-đa như thế nào? Ngài giàu có, quyền uy như vậy. Mà Ngài không xây cái chùa bự nhất nước Ấn Độ đi, sao bỏ hết trơn vậy? Rồi bây giờ chúng ta xuất gia là đi tìm cái gì? Thì chỗ đó là chỗ chúng ta chiêm nghiệm đó. Xuất gia không phải thành công là vì cái chùa, không phải thành công là cái bằng cấp, không phải thành công là cái chức vị. Mình phải thấy rõ được mục đích của mình. Mình phải nhìn vô cái chuẩn tắc Thánh hạnh của Đức Phật. Chứ không phải nhìn cái bây giờ, nhìn cái bây giờ là mình đi theo cái bây giờ luôn đó.
Bây giờ chúng ta bước qua cái “hãy hộ trì các căn”. Chúng ta thấy cái oai nghi, cử chỉ, động tác, cách ăn, cách nói, cách đi, cách đứng, cách làm việc của mình là những cái bên ngoài. Đức Phật dạy hay lắm, vi diệu lắm, từng bước chúng ta thấy rất là rõ, từ thô đến tế, sau khi mình có sự chế ngự, có đầy đủ oai nghi Chánh hạnh, mình có thọ trì căn, học tập các học dưới ở ngoài thân. Rồi bây giờ bắt đầu lúc Phật dạy mình sát sao, đưa vào mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Cái kia là cái hành động ở ngoài, bây giờ bắt đầu đi vào tới sáu căn. Hộ trì là sao? “Trì” là giữ, “hộ” là bảo vệ, bảo hộ, phòng hộ, giữ gìn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, đây là bước tiếp theo. “Khi thấy các mắt thấy sắc, chớ nắm giữ tướng chung, chớ nắm giữ tướng riêng”, cái này học rồi.
III. Không nắm giữ tướng chung – không nắm giữ tướng riêng
Con mời các thầy, các cô giải thích giùm con câu này ạ. Xin mời các giảng sư tương lai. Thế nào gọi là “khi mắt thấy sắc, chớ nắm giữ tướng chung, chớ nắm giữ tướng riêng?” Chúng ta hiểu như thế nào về câu nói đó ạ. Và chúng ta chuẩn bị xung phong câu tiếp theo: Như thế nào là tai nghe tiếng mà không nắm giữ tướng chung, tướng riêng? Thế nào là mũi ngửi mùi mà không nắm giữ tướng chung, tướng riêng? Thế nào lưỡi nếm vị mà không nắm giữ tướng chung, tướng riêng? Thế nào là thân cảm xúc mà không nắm giữ tướng chung, tướng riêng? Thế nào là ý nhận thức không nắm giữ tướng chung, tướng riêng? Tất cả cái này chúng ta học rồi và đã giải thích nhiều lần. Xin mời cứ nói không sao hết. Mình nói xem mình hiểu được bao nhiêu. Có gì không đúng thì mình chỉnh lại.
Phật tử 1
“- Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Con kính bạch trên thầy giáo thọ và toàn thể đại chúng.
Theo con hiểu thì nắm giữ tướng chung và tướng riêng giống như khi mắt mình tiếp xúc bởi một vật hoặc một việc gì đó. Thì đó là có một đối tượng để mình tiếp xúc. Nhưng mà khi mình tiếp xúc mình thấy rằng người đó cũng là có sắc, có đẹp. Mình tiếp xúc như vậy, khi mình thấy sắc đẹp của người đó nhưng mình nghĩ rằng người đó đẹp, chứ mình không có dính mắc, mình thích cái sắc đẹp của người đó. Mỗi người có một hình dáng riêng, đó là tướng riêng của mỗi người. Nhưng mà khi mắt tiếp xúc với đối tượng đó, mình không bị trói buộc, không có bị dính mắc vào đối tượng đó. Mình vẫn nhìn họ, mình vẫn có cái thức phân biệt nó xấu hay đẹp, chứ không phải mình không biết phân biệt. Nình biết phân biệt, nhưng mình không có dính mắc.
Thầy: Làm sao không dính mắc?
- Thì mình sẽ không dính mắc vào người đó.
Thầy: Không có phân biệt thì làm sao biết đẹp xấu?
- Phân biệt ở đây giống như mình đối diện một người, một cảnh đó. Mình biết, mình nhận diện, mình cảm thấy đó là đẹp, nhưng mình không có dính mắc?
Thầy: Mời ngồi xuống.”
Làm sao không dính mắc được? Bây giờ ở đây trong kinh nói: “Những nguyên nhân gì mà con mắt không được chế ngự. Khi cho tham, ái, ưu, bi, các bất thiện pháp khởi lên. Vị Tỳ-kheo chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì con mắt, thực hành sự hộ trì con mắt” Đức phật không có nói rằng mình thấy, mình biết, mà mình không có dính mắc. Cái đó là cảnh giới của bậc A-la-hán, không phải của mình. Thành ra mình học kiểu này là mình không có tu được. Tức là nó sẽ khởi lên khi mình thấy đẹp. Mình có ham thích không? Nếu có thì sao mình nói mình không dính mắc. Rồi khi mình thấy xấu mình có khó chịu không? Những lời nói xúc phạm, chê bai, chỉ trích, mình có bực bội không? Bây giờ làm sao để mình chế ngự được cái cảm xúc đó, chứ mình nói không có dính mắc là không có đúng. Làm sao không dính mắc được? Chỉ có cái tâm của bậc bất động tâm giải thoát, bậc Thánh A-la-hán mới không dính mắc. Còn đa số mình gặp đẹp là nó tham ái khởi, gặp xấu bực bội là mình sân si, khó chịu liền. Còn không đẹp không xấu thì nó ra si (mới làm bài thi đó). Thì bây giờ làm sao để mình nhiếp phục, chế ngự những cái tham, sân đó? Mình mới học bài thi đó.
“Có quyền trợ giúp, có ai giúp đỡ không giơ tay lên.”
Phật tử 2:
“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Kính bạch thầy và toàn thể đại chúng
Con xin trả lời câu hỏi: “Thế nào làkhông có dính mắc vào tướng chung và tướng riêng” Thì thế nào là tướng chung và tướng riêng? Con hiểu và nghe thầy giảng về tướng chung, là khi nào mắt thấy vào sắc, đối tượng một người tướng đàn ông hay đàn bà là tướng chung. Nhưng mà tướng riêng ở đây là người đàn ông hay đàn bà đó là đẹp hay xấu, mặt đẹp hay là xấu, miệng đẹp hay là xấu, đó là tướng riêng. Làm thế nào chúng ta chế ngự, không phải dính mắc? Thì mình phải quán về năm uẩn. Năm uẩn sắc, thọ, tưởng, hành, thức đều là hư không, bất tịnh, vô thường, vô ngã. Cho nên từ đó sinh ra cái tâm nhàm chán và không dính mắc.”
Cho 1 tràng vỗ tay lớn ạ. Câu trả lời tạm tạm, tương đối.
Ở đây dùng từ “chế ngự”, khiến cho tham, ái, ưu, bị, các ác bất thiện pháp không có khởi lên, không có cho nó tiếp tục chế ngự. Kiềm chế, khống chế, ngăn chặn nó lại. Chứ mình nói “thấy mà không dính mắc gì” là cái nói nó không có đúng. Bây giờ chúng ta nhìn vô một bức tranh, chúng ta thấy bức tranh này nó đẹp, thì cái đó là tướng chung. Chúng ta thấy dễ hiểu không? Rồi bây giờ mới nhìn nó đẹp ở chỗ nào? Ờ cái dòng suối vẽ nó giống như thật, cây tùng, con nhạn, con chim gì đó. Thì cái cảnh chi tiết nhỏ nhỏ nó đẹp. Từng cái nhỏ nhỏ đó gọi là tướng riêng. Một con người cũng vậy, một món đồ cũng vậy. Thí dụ như ngôi chùa, mà nhìn thấy đẹp từ cái họa tiết, đường nét, từ những hành lang, từ những con rồng, con phụng, từ những trụ đá nhỏ nhỏ, rồi tượng Phật này nọ kia. Những cái trang trí nhỏ nhỏ riêng biệt đó gọi là tướng riêng, tổng thể ngôi chùa là tướng chung.
Một con người cũng vậy, con người nhìn chung cao ráo, trắng trẻo, nhìn qua rất đẹp. Mà mình nhìn kỹ thấy cái lỗ mũi, con mắt, ngón tay, đôi vai này kia nọ. Thì những cái đó, những bộ phận trong cơ thể gọi là tướng riêng. Mà mình càng để ý nhiều chừng nào, thì cái tâm của mình dâng lên tham ái nhiều chừng đó. Chính vì vậy mà hộ trì con mắt như Đức Phật dạy thầy Ananda trong kinh “Đại Bát Niết-bàn” là khi tiếp xúc cái này, nam nữ đều vậy hết trơn. Đức Phật dạy là không có nên nhìn thẳng, nhìn xuống, hộ trì con mắt. Nếu có nói chuyện thì hết sức là giữ gìn các căn, hộ trì, phòng hộ các căn. Rồi làm việc phải thường tác ý “đây là mẹ, đây là chị, đây là bà” nếu những người lớn tuổi là bà, mẹ, chị hoặc em, tác ý như vậy đó. Đức Phật dạy rất là kỹ, tại vì bên trong con người của mình cái tham ái nó nặng lắm. Chúng ta thấy không? Cái tham ái mà nó đưa đến tai họa cho toàn thế giới, chứ không phải riêng một người nào đâu. Nếu mình không có sự hộ trì, chế ngự, phòng ngự, bảo vệ, thì đau khổ lâu dài.
Trong “Tương Ưng Sáu Xứ” Đức Phật nói: “Này các Tỳ-kheo, có sáu xúc xứ (sáu xúc xứ là sáu chỗ tiếp xúc) tức là mắt, tay, mũi, lưỡi, thân, ý. Không biết phòng hộ, không biết bảo vệ, không biết giữ gìn, là đưa đến đau khổ, bất hạnh lâu dài. Nếu người nào biết phòng hộ, hộ trì, bảo vệ, tu tập, thì người đó được an lạc, hạnh phúc dài lâu”. Thành ra trong sự tu chúng ta thấy hộ trì căn là hết sức quan trọng. Đối nghịch lại với “hộ trì căn” là “thả lỏng các căn” hay còn gọi là buông lung phóng dật. Thả lỏng các căn là mắt muốn nhìn cứ để cho nhìn, nghe cứ nghe, ngửi nếm gì cứ thả lỏng, mình không có phòng hộ, không bảo vệ, không thu nhiếp, không hộ trì, không giữ gìn. Cho nên cái hộ trì, giữ gìn, phòng hộ, bảo vệ các căn là hết sức quan trọng mình càng để ý theo chiều hướng của thịnh tướng, đẹp đẽ, dễ nhìn, đáng yêu đó nhiêu chừng nào, là nó càng sanh khởi lên những dục, tham, ái.
Chẳng hạn như bây giờ mình nói đơn giản về ông này mà thích uống trà, khoái uống trà, thích mấy cái bộ đồ trà. Ông đi qua mấy chỗ bán mấy cái ấm trà, đồ cổ này kia đủ thứ. Đứng nó dòm hoài “Chậc lưỡi! Đẹp quá đẹp, mà bộ này mắc tiền quá mình không có đủ tiền mua” cứ dòm, để ý. Càng để ý thì càng ham, càng thích, càng khoái. Mà mình đi phớt qua: “Mình nhìn vậy thôi, nhìn nó mất công lắm, đừng có nhìn, không có tiền đừng có nhìn. Mà mình tu làm gì có tiền, tiền của Đàn na tín thí thôi, chứ đâu phải của mình đâu. Mà mấy cái đó là mấy cái xa xỉ không cần thiết, bây giờ mình muốn cái ấm cũ, cái bình cũ cũng được rồi. Cần gì phải cái bình chạm rồng, chạm phượng, bình Càng Long, Khang Hi gì làm chi. Giữ “thiểu dục tri túc” đi, ít muốn biết đủ đi”.
Mình tác ý như vậy cái tâm của mình nó nhẹ, mình đi qua giống như một làn gió vậy. Còn không mình đi tới đó cái nó bị mắc lại, vướn lại. Hay mấy cô đi ra chợ mua đồ, hay đi tới chỗ mà bỗng nhiên bữa nay đi dự khóa tu hay hội nghị gì đó mà buffet là 80 món là mắt sáng lên. Là lúc đó có phòng hộ, có hộ trì căn không? Mình coi cảm giác của mình, cảm giác cái lồng ngực, cảm giác cái lưỡi, cảm giác cái miệng, con mắt nó ra làm sao? Cái bước đi mình gắp đồ ăn ra làm sao? Rồi khi mình nhai, mình nuốt, mình ngửi, mình nếm, thì lúc đó nó ra làm sao? Phải nhìn thấy hoạt động của các cảm giác lúc đó có thúc giục, khoan khoái hay muốn, tham “ăn ngon quá, nó muốn ăn thêm, gắp thêm” gắp một hồi ăn không hết, rồi đem đi đổ, có tội không? Cho nên sự hộ trì căn này hết sức quan trọng, và nó giúp cho mình rất là nhiều, từ thân cho đến tâm. Mình ăn nhiều vô một hồi uống thuốc tiêu, xong bội thực, trúng thực.
Ở bên Mỹ có cô này đến ăn buffet, mà chúng ta biết bên Mỹ đồ ăn dữ lắm, giá ăn cô này mua hai mươi mấy đô-la là mấy năm trước. Cổ ăn no rồi, cô nghĩ: Bây giờ đi về uổng quá, ở lại ráng ăn thêm. Ăn một hồi thì cuối cùng xe cấp cứu đến, cô ấy bị bội thực, phải đưa vô bệnh viện. Bởi vì bây giờ đóng tiền rồi ăn ít, ăn nhiều cũng ăn, thôi ráng ăn dồn vô, tham đó. Chúng ta thấy như vậy cái miệng hại cái thân không? Mà cái miệng này sở dĩ nó ham ăn là do tự vì con mắt nó thấy, rồi lỗ mũi nó ngửi, rồi lưỡi nó nếm, rồi xong nó xúc. Nhãn xúc, nhĩ xúc, thiệt xúc, tỷ xúc, thân xúc, ý xúc là sáu xúc.
Cho nên chúng ta mới thấy là chúng ta “hãy tiết lộ ăn uống, chơn chánh giác sát thọ dụng món ăn, không phải để vui đùa” Nhiều khi đọc ăn vui đùa là sao? Thí dụ mình thấy ngoài đời người ta hưởng thụ, là cái ăn chơi đó. Bây giờ mình tu mình không khéo thì sự tu tập là mình bị giống như vậy, mà mình không có biết. Mình cũng thưởng thức món ăn, mình cũng đi nhà hàng này, nọ, kia. Cái đó là cực chẳng đã, bất đắc dĩ dữ lắm thôi, chứ người từ của là mình không nên. Hồi xưa thời Đức Phật phải ôm bình bát đi ăn xin, bây giờ ở trong chùa có đồ ăn rồi sao không ăn mà phải đi ra quán, mà cái quán bình thường không chịu, nhà hàng phải nhà hàng bự mới chịu, đó thất bại rồi thấy chưa? Như vậy thì Đức Phật dạy ở đây chúng ta đọc kỹ. Cho nên mình học cái này rồi, mình thấy sai nhiều cái mà mình không có biết. Cái đau đớn nhất là mình sai mà mình không biết, rất là vô minh. Sau khi Minh Thành học trong đây, thực tập rồi mình mới thấy lúc trước mình sai nhiều dữ lắm mà mình không có biết.
Tiếp theo là: “Ăn không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để tự làm đẹp mình, chỉ để thân này được duy trì, được bảo dưỡng, khỏi bị gia hại, để chấp trì Phạm hạnh” Câu này là bát đức trong sự thọ trì của người xuất gia, công đức của sự ăn uống đúng pháp gọi là bát đức. Tám điều này mà nào giờ chúng ta nào giờ có biết đâu, phải học thuộc lòng. Cái này là những cái này sau này thi, là pháp hành mỗi ngày của chúng ta. Nếu chúng ta không biết rồi làm sao? Điều thứ nhất là: “Chơn chánh giác sát thọ dụng món ăn, không phải để vui đùa”. “Giác sát” tỉnh giác và quán sát, mình ăn cái món ăn này không phải để vui sướng. Mình ăn cái món ăn này không phải để hưởng thụ. Thứ nhất cái ăn cho vui, ăn cho sướng, ăn cho ngon là không phải rồi đó. Cho nên cái ăn ở trong bình bát có cái hay như vầy nè, là tất cả đổ hết vô, rồi trộn lại ăn. Cái chỗ này mà ăn được, thì cũng làm cả một sự nhiếp phục và chế ngự cái cảm giác của lưỡi.
Bây giờ mà canh chua trộn chung với chè đậu xanh, ròi bỏ cơm, tàu hũ kho đẩy vô, trộn vô một cái bát như vậy đó mình ăn được không? Như vậy mà các vị ngày xưa thời Đức Phật ăn. Mà Đức Phật là ai? Là thái tử, mà Ngài ăn như vậy đó. Bây giờ “tôi dặn bữa nay cho tôi cái này nghe, đừng cho cái này”. Cái này người ta cho bỏ vô cái bát, sao mình dặn được, mình đi ăn xin mình có quyền đòi hỏi sao? Thành ra những chỗ này mình bây giờ không thể làm được giống như Đức Phật, nhưng mình phải hiểu cái vấn đề. Chứ còn nếu không mình xa đà trong ăn uống, mất hết thời gian tu học và thực hành pháp. “Chúng ta thấy có phải vậy không ạ? Sao im ru hết trơn vậy, không đúng hả? Cười nữa, có nhiều ý nghĩa lắm nha.”
Tinh thần của Đức Phật ở trong kinh tạng Nikāya là vậy đó. Bây giờ mình thấy, nội mà buổi lễ như vầy thôi là nấu mấy ngày, bỏ thì giờ ngồi thiền, bỏ thì giờ tụng kinh, bỏ thì giờ nghe pháp hết rồi. Có khi làm quạo luôn, rồi phiền não nữa, thì chỗ đó nó thất bại nữa. Cái đó nó đâu có liên hệ đến mục đích đoạn tận tham, sân, si đâu. Cho nên để mình nói những cái này, bây giờ mình học là khó đó, mà mình làm được mới là tuyệt vời chứ.