Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Vô Minh 4 - Đâm Thủng Vô Minh Uẩn 2

2026-03-03 00:53:16
Kinh Nikāya Giảng Giải - Vô Minh 4

Đâm Thủng Vô Minh Uẩn 2

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Bảo hộ thân tâm PAGEREF _Toc179397287 \h 1

II. Bản chất của hiện hữu PAGEREF _Toc179397288 \h 6

III. Ý thức rõ vô minh PAGEREF _Toc179397289 \h 12

I. Bảo hộ thân tâm

Kính thưa các bậc hiền trí Tăng Ni và quý Phật tử. Chúng ta đang chiêm nghiệm về bài kinh Sàlha, Đức Phật nói về Chánh Giải Thoát đâm thủng vô minh, trong bài kinh đó có bốn phần, đầu tiên Đức Phật nói về giới hạnh, kế đến là thiền định, sau đó là chánh kiến và cuối cùng là chánh giải thoát. Chúng ta chiêm nghiệm thêm về bốn pháp căn bản, cốt yếu, là lõi cây rất quan trọng này, phần giới học chẳng những phải nhớ những giới đã thọ mà còn phải nhớ cả oai nghi và hành động của mình, không phải chỉ giữ gìn trong khi hành lễ, trong khi ở trong thiền đường, ở trong giảng đường mà còn phải luôn nhớ oai nghi và hành động của mình trong mọi lúc mọi nơi, gọi là niệm oai nghi, niệm hành động.

Tất cả các vị về đây tu học đều phải tụng đọc thanh quy, ngoài giờ đọc chung với đại chúng thì những vị mới phải thực tập ba pháp, nhận diện năm uẩn và tụng đọc thanh quy thêm nữa, cái này quyết định sự tu học về sau của mình, nếu không có những cái này thì tu suốt đời cũng chỉ là xây lâu đài trên bãi cát cho nên phải luôn nhớ oai nghi, hành động của mình.

Oai nghi là đi, đứng, ngồi, nằm, khi đi phải biết đang đi, khi đứng phải biết sắc này đang đứng, khi ngồi phải nhắc nhở sắc đang ngồi và phải ngồi như thế nào, khi nằm cũng vậy, đó là bốn oai nghi chính, ngoài đi, đứng, ngồi, nằm ra thì tất cả những động tác khác gọi là oai nghi phụ, chẳng hạn như co, duỗi, cúi, ngước, mặc áo, ăn cơm, làm việc…

Tất đều phải nhớ niệm, nhớ việc mình đang làm, kiểm tra bước đi của mình có thúc giục trong đó không, nếu có phải chế ngự nó, kiểm tra trong lời nói có sự thúc giục nói không, lời nói có thông thả, có nhẹ nhàng, có từ tốn không, có suy xét lời này có nên nói không, nên nói như thế nào, trong khi nói kiểm tra xem lời nói này có hại mình hại người không, có làm tổn thương người nghe không, sau khi nói phải rà soát lại nữa.

Phải tu kĩ như vậy mới có kết quả chắc chắn, lúc làm việc mà làm ẩu thì kết quả thu lại chỉ có 50-50, có khi chỉ được 20-30% nhưng làm chắc chắn thì kết quả là 70-80%, làm kĩ hơn thì kết quả có khi đạt được 90%, cái tu của mình cũng phải tu kĩ, trước khi làm phải suy xét hành động này làm lúc này có phù hợp không, trong khi làm phải xem cái làm này là thiện pháp hay bất thiện pháp, khi làm xong phải xét lại việc làm đó là hợp đạo hay phi pháp.

Nếu chúng ta cứ kiểm tra, rà soát như vậy thì từ từ thân, miệng, ý sẽ đi đến thiện pháp, tịnh pháp, đi đến trong sạch, thanh tịnh. Căn bản ban đầu phải là niệm oai nghi, hành động, sau khi mình nhớ được đang đi biết mình đang đi, đang nói biết mình đang nói, đang ngồi, nằm biết mình đang ngồi, nằm, đang làm việc thì biết mình đang làm việc, sau đó đi sâu hơn nữa vào đó để xem nói như thế nào, làm như thế nào, đi như thế nào rồi mới chế ngự, nhiếp phục những sự thô tháo, buông thả.

Cái tâm của mình là một cái tâm mờ tối, vô minh nên làm trong vô minh, nói trong vô minh, nghĩ trong vô minh, hành động trong vô minh, trong sự vô minh đó sự thúc giục, bức xúc, có sự buông thả, cẩu thả, sự thả lỏng các căn. Khi trí tuệ chánh kiến, chánh niệm tỉnh giác của mình nhìn thấy được là do sự theo dõi, sự để tâm, để ý, để mắt vào trong các cử chỉ, oai nghi, hành động đó thì từ từ mình phát giác ra những tập tánh, thói quen, những tập khí, hơi hướng của thúc giục, của sự lăng xăng, tháo động, dao động, khi thấy được rồi bắt đầu dùng những phương pháp tác ý trong từng khía cạnh.

Ví dụ mình đi nhanh, đi lẹ, đi giống như bị đuổi thì mình phải niệm "đi chậm lại, chậm lại", mình phải niệm như niệm thần chú. Đầu tiên là phải nhắc nhở bản thân để thấy được hiện trạng của nó, sau khi nhắc nhở thì mình sẽ có sự giảm lại, chậm lại, sau khi chậm lại thì nhìn sâu vào sẽ thấy cảm giác thúc giục bên trong rồi mình tác ý nhiếp phục và chế ngự dòng cảm thọ thúc giục bên trong đó rồi từ từ mình sẽ đi chậm lại.

Sau khi đã đi chậm lại mình sẽ không bị sự thúc giục, những sự thối thúc, thúc bách, bức xúc bên trong dẫn dắt thì bước đi của mình sẽ nhẹ nhàng, khinh an, thảnh thơi, tự tại. Tu là tu trong từng bước đi, từ lúc cạo đầu đến giờ là ba mươi năm nhưng trong mỗi bước đi Minh Thành đều phải để tâm, hãy để ý từng lời nói, cách nói của mình, khẩu khí trong lúc mình đang nói chuyện, âm thanh trong đó có cao giọng không, âm thanh lúc đó có lớn lối không, có thả lỏng các căn không, có chất của cái tôi, của bản ngã trong đó không. Người ta nghe chất giọng của mình sẽ biết mình đang nói với bản ngã, trong cách phát ngôn đó đang thể hiện sự sân giận, bức xúc, bực dọc, trong cách nói chuyện đó đang bày lộ cái ta, cái tôi, cái tự ngã, trong cách bàn luận đó thể hiện mũi nhọn chỉa thẳng vào đối phương.

Nhận diện ngũ uẩn là nhận diện như vậy chứ không phải chỉ biết thân người là sắc, cảm giác là thọ, hình bóng là tưởng, suy nghĩ là hành, nhận biết là thức, đó là mẫu giáo, nếu cứ học như vậy thì mãi mãi không lên lớp được. Phải biết trong lúc nói chuyện, khi làm việc phải ở trong trạng thái khiêm cung, phòng hộ, thu nhiếp, trong một hành vi bản ngã hạ thấp, ngọt ngào, mát dịu, dễ chịu, người ta sẽ cảm nhận được điều này và chính tự thân mình cũng cảm nhận được, đó là sự hiệu quả, là thiết thực, hiện tại, lợi ích của tu tập, là kết quả, thành quả của tu đúng pháp.

Còn giờ mình không chịu tu những cái này, chỉ muốn ngồi thiền để bay lên mây, nhập Niết-bàn thì làm sao được? Từng cung cách, nhất cử nhất động phải được con mắt trí tuệ, con mắt nhận diện ngũ uẩn theo sát, kiểm tra, kiểm điểm trong từng bước đi, từng cử chỉ, từng lời nói, từ từ sẽ làm cho mình trở thành con người có oai nghi, có tế hạnh. Mình chưa kịp nói nhưng nhìn vào sẽ biết người đó có tu vì họ có thân hành rất an tịnh, lắng dịu, đó là công phu, là thành quả của sự an tịnh, chế ngự và nhiếp phục, đó là một phần của niệm thân.

Cái tâm vô minh này từ vô lượng vô biên kiếp cho đến nay mình không nhìn thấy, không biết, khi nhận diện ngũ uẩn để phát giác, phát hiện thì mình sẽ thấy từng ngõ ngách, từng chi tiết, từng sự nhỏ nhiệm trong đó, sau đó mới ra công phòng hộ, chế ngự, nhiếp phục, tẩy sạch và diệt tận cho nên phải niệm oai nghi trong từng bước đi.

Bước đi của người tu không có vội vã, không vội vàng, không có sự thúc giục mà là sự nhẹ nhàng, thong dong, an tịnh và lắng dịu. Sư phụ của Minh Thành kiểm tra Minh Thành qua cách nói chuyện trong điện thoại, ngài chỉ ra tất cả các pháp trong cuộc nói chuyện đó cho nên mình phải để tâm thật nhiều trong sự chánh niệm tỉnh giác của mình. Các vị mới về đây tu học phải tụng đọc thanh quy mỗi ngày vì nó tuyệt đối quan trọng, nó là nền móng cho sự tu học, nếu không có cái này mà cứ thích học những cái cao siêu thì hỏng hết, tu mấy chục năm, thậm chí ở chùa suốt đời mà các pháp oai nghi không thành tựu, vẫn là một thân hành tháo động, lăng xăng, buông thả, thả lỏng các căn. Như vậy làm sao thành tựu các pháp cao thượng, thâm sâu?

Mình đã quen với tâm thả lỏng, không nghiêm khắc với chính mình, làm được một chút là chán nản không làm nữa, không có sự kiên trì, bền chí, đi đến tận cùng cho nên trong phần giới học phải để tâm rất nhiều, không phải tu một chiều, một hướng hay chỉ tu một hạnh. Trong sự phòng hộ sáu căn cũng vậy, lúc bình thường thì phòng hộ còn khi xuống bếp thì thả lỏng, bình thường thì hành trì còn khi làm việc không khác gì người phàm phu, bị mất đi chất tu. Sợi dây chuyền vàng thật có khi nào lúc là vàng, lúc sau là bạc rồi lại thành vàng không? Đã là vàng ròng thì lúc nào cũng phải là vàng bất kể khi nào.

Tại sao đợi đến lúc tu mới có thu nhiếp, mới có chánh niệm tỉnh giác, đến khi hết giờ tu lại biến thành chì chứ không còn là vàng nữa, đó là lý do lúc nào cũng phải niệm oai nghi hành động, niệm các giới mình đã thọ, niệm sự hộ trì căn, phòng hộ mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý thường xuyên. Những điều này vô cùng quan trọng, từ bên ngoài cho đến bên trong đều phòng hộ các giới của cư sĩ tại gia hay xuất gia thì tâm mình sẽ yên tịnh dù lúc ngồi thiền hay độc cư ở một mình, hay khi có những giây phút vào thất.

Vì bên ngoài mình đã che chắn, phòng hộ, giữ gìn cho nên khi mình quay trở vào bên trong thì tâm mình không bị trạo hối, không hối hận, không hối tiếc, không có sự ray rứt, bức rứt, giày xéo bên trong, tâm dễ yên định, dễ đi vào sự an tịnh, lắng dịu, Đức Thế Tôn dùng từ chánh định. Khi tâm an tịnh, lắng dịu, tâm thiền định đó nhìn thấy được năm uẩn một cách sâu sắc, rõ ràng về những cảm giác, suy nghĩ, hình bóng và những nhận thức, rõ biết. Tâm thiền định, an tịnh này thấy đâu ra đó các uẩn cụ thể, minh bạch, tỏ tường, sâu sắc, chi tiết, thấu đáo bên trong thì Đức Thế Tôn gọi là chánh định.

Đây chưa phải là thành tựu cứu cánh nhưng mức độ an tịnh của tâm, nhờ giới bảo hộ nên tâm không bị dao động mạnh, không bị những sự trằn trọc, hối hận, giày vò làm tâm an yên, lúc đó nó nhìn thấy những tổ hợp của cảm giác, những tổ hợp của suy tư, nghĩ tưởng, những tổ hợp của những hình bóng và tổ hợp của những nhận thức, rõ biết cũng như tổ hợp của thân xác, sắc uẩn này. Đức Thế Tôn nói rằng một vị thấy rằng dù là sắc quá khứ, sắc hiện tại hay vị lai, thô tế, xa gần, đẹp xấu thì vị này thấy như thật với trí tuệ những thứ đó đều không phải là ta, không phải của ta, không phải tự ngã của ta.

Với tâm yên tịnh đó thì vị này soi chiếu vào các cảm thọ, cảm giác trước kia, hiện tại hay sau này, xa gần, thô tế, nhỏ nhiệm hay sâu sắc thì vị này thấy các cảm thọ đó không phải là tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi, nó là duyên sanh pháp, là thứ lắp ráp, kết hợp, vay mượn. Những hình bóng trong tâm, những suy nghĩ, những nhận thức trong tâm cũng vậy, với tâm yên định vị này nhìn thấy bản chất của nó không có tự ngã và lúc đó người này thành tựu được chánh tri kiến vì người này thấy được bằng con mắt tuệ, con mắt trí, con mắt tâm của chính họ, người này thành tựu được cái thấy đúng rốt ráo. Người này quán tri "đây thật sự là khổ", với một nội tâm yên tịnh, an định để nhìn rọi lại bao nhiêu những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ trước nay và cho đến sau này thì dù có hình dáng, nhận thức, suy nghĩ, cảm giác gì thì tất cả đều là khổ.

Người này thành tựu Khổ Thánh Trí bằng con mắt tuệ, con mắt pháp, con mắt tâm của mình, tự mình thấy biết, tự mình giác hiểu. Trong một nội tâm an tịnh, một trí tuệ thấy biết sâu sắc bằng sự quán chiếu trong tự thân tâm thì vị này ngồi xét lại tất cả những chuyện từ trước đến nay, bao nhiêu cảm giác mình đã trải qua, đã kinh qua, đã nếm qua, đã đi qua, người này thấy khổ trong đó, dù là cảm giác lạc, cảm giác khổ hay cảm giác không vui không khổ thì tất cả cảm giác đều là khổ đau. Người này không tìm thấy cảm giác thật sự hạnh phúc trong cả ba loại cảm thọ, bằng sự quán chiếu của tự thân vị này đem hết tất cả những sắc tướng của tiền của, nhà cửa, xe cộ, ruộng vườn, đất đai, chùa chiền và thấy tất cả những sắc chất này, bao gồm cả hình hài này dù là ngày xưa hay trăm ngàn năm trước hoặc là năm vừa rồi hay giây phút hiện tại thì bản chất của nó là khổ đau, là biến hoại, là món đồ gốm, không có cái vui bền chắc trong sắc pháp vô thường đó, vị này khẳng định điều đó trong trí tuệ, tâm không dao động, không do dự, nghi ngờ, phân vân đối với sự thật về khổ đau của sắc uẩn, của các tổ hợp về cảm thọ, nhất quyết trong cái thấy biết của mình dù cho sắc gì, dù là trong ngoài, thô tế, thắng liệt, xa gần thì tất cả các sắc bản chất của nó là khổ, là biến hoại.

II. Bản chất của hiện hữu

Hoa đào thật đến nay đã héo tàn, còn hoa đào giả vẫn còn đây nhưng có thật là cây hoa giả này còn mãi không héo tàn hay nó cũng biến hoại, chỉ là thời gian kéo dài hơn so với hoa thật thôi. Tất cả sắc, dù là sắc của chư thiên hay sắc của hoàng đế, sắc của đại gia thì cũng tan rã, vị thành tựu chánh tri kiến này không thấy có một sắc pháp nào nhỏ nhiệm bằng hạt bụi mà có lạc, có vui sướng trong đó.

"Ví như, này các Tỳ-kheo, một ít phân có mùi hôi thúi. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, Ta không tán thán về hiện hữu dầu cho có ít thôi, cho đến chỉ trong thời gian búng ngón tay.

Ví như, này các Tỳ-kheo, một ít nước tiểu có mùi hôi thúi... một ít nước miếng có mùi hôi thúi.... một ít mủ có mùi hôi thúi... một ít máu có mùi hôi thúi. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, Ta không tán thán về hiện hữu dầu cho có ít thôi, cho đến chỉ trong thời gian búng ngón tay". (Tăng Chi Bộ, Chương I – Một Pháp, XVIII. Phẩm Makkhali, Một Pháp)

Sự hiện hữu trong các hình sắc này, trong các cảm giác này, trong sự nghĩ ngợi, suy tưởng, nhận thức này là sự hiện hữu của khổ, của bất an, của sầu, bi, ưu, não, của tật bệnh, chết chóc, đau thương, dù chỉ là một miếng đất nhỏ dính trên đầu móng tay cũng không hề có một chút nào là vui trong này. Thế Tôn không tán thán sự hiện hữu, không yêu thích hiện hữu, không ái luyến trong hiện hữu, sự hiện hữu của thân này, của mắt; tai; mũi; lưỡi này là sự hiện hữu của khổ, là sự hiện hữu của tật bệnh, sự hiện hữu của hình hài này là sự hiện hữu của khổ ách, của tai nạn, sự hiện hữu của đời sống này là sự hiện hữu của bất an, lo lắng, sợ hãi, của diệt vong, ngài không tán thán hiện hữu.

Thật sự sự hiện hữu này là sự hiện hữu của khổ đau, của nước mắt, của lo ây sợ hãi, "nó giành của tôi", "nó chiếm của tôi", "người ta hại tôi", "người ta cướp của tôi". Bây giờ không thiếu những cảnh tượng cha con giết nhau, vợ chồng hại nhau, anh em vì một chút tài sản là sẵn sàng đầu độc nhau. Sự hiện hữu của mảnh đất đó là sự hiện hữu của khổ, của dao mác, là sự hiện hữu của máu đổ đầu rơi, là sự hiện hữu của chết chóc, của nấm mồ, nếu không có miếng đất đó là đâu có máu đổ đầu rơi. Phải nhìn cho xuyên thấu đến tận cùng bản chất của tất cả sắc pháp trên thế gian này đều là khổ đau, là tham lam, tham dục, là cuồng tham, là ngu si, vô minh, sân hận, bản ngã, là dại khờ, dại dột, là đau khổ, bất an, tù tội, là sầu bi, buồn lo.

Đức Thế Tôn nói rằng ngài nhìn tất cả sự hiện hữu này như nhìn phân bò, nước tiểu, mủ máu, không có gì là vui vẻ, sung sướng trong đó, một vài tấc đất đó thôi mà tan nát nghĩa tình, làm sụp đổ hết đạo đức. Mình ăn một ngày mấy chén cơm, ngủ cái gường rộng bao nhiêu nhưng không bao nhiêu đất, không bao nhiêu tài sản, tiền bạc, không bao nhiêu căn nhà là đủ cho lòng tham của con người, dục vọng của con người, tâm điên đảo của con người.

Có phải là khổ không? Quý vị ngồi ở đây có thấy khổ hết chưa? Phải thấy được khổ mới đi tu, còn thấy vui là không bao giờ tu được, phải nhìn thấy khổ và phải nhìn xuyên thấu, nhìn cho tột cùng cái khổ thì mới nhàm chán được, mình không còn ý niệm nào để tranh giành, giành giật, cạnh tranh, đấu tranh nữa, thậm chí họ có đến lấy đồ của mình cũng không sao nữa vì có đồ nào là của mình đâu. Đồ của mình chỉ là từ để nói cho dễ hiểu chứ đồ nào là của mình?

Cho đến thân này cũng vậy, phải nhìn cho xuyên thấu, xuyên thủng, xuyên qua đống bất tịnh, đống nhơ nhớp, bẩn thỉu, bệnh hoạn này, phải nhìn và tác ý thường xuyên "vì có thân này mà ta mới dục tham hoài, vì có thân này mà ai đụng vào là sân lên, vì có thân này nên mới ưỡng ngực, ta đây, vì có thân này nên mới đòi cái này muốn cái kia". Phải tác ý thường xuyên như vậy vào thân để đâm thủng khối vô minh uẩn to lớn này vì vô minh trú ẩn ngay thân này, vô minh trú ẩn trong tổ hợp cảm giác đó, trong tổ hợp của những hình bóng, suy nghĩ, nhận thức trong tâm, chúng ta phải diệt tận những suy nghĩ yêu thích sắc; thọ; tưởng; hành; thức, những suy nghĩ cho rằng đây là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi trong ngũ uẩn này là phải tẩy sạch, diệt tận, đánh đuổi, vô minh trú ẩn trong cái thấy, cái nghe, cái ngửi, nhận thức, tiếp xúc này và phải diệt tận hang ổ, sào huyệt của nó.

Phải đánh đuổi nó từ từ chứ đừng sợ khó, cứ đánh đuổi liên tục rồi cuối cùng nó cũng mất, đánh đuổi vô minh đi thì minh sanh, quang sanh, trí sanh, nếu không thì khổ mãi, khổ vô lượng vô biên kiếp thôi. Chỗ nào có thân xác này thì chỗ đó có bệnh, tất cả các pháp dù là hữu vi hay vô vi đều nằm trong trạng thái của bệnh hoạn, bệnh khổ, cây tùng này nếu không chăm sóc tưới nước là nó chết, tất cả các pháp này đều là thứ vay mượn, là thứ tồn tại có điều kiện. Chúng ta phải thấy được điều này để nhàm chán, ly tham, giải thoát, xả ly, xuất ly, đoạn ly, đang mê trong đây là đam mê cái khổ.

"Ai ưa thích các sắc, này các Tỳ-kheo, người ấy ưa thích khổ. Ai ưa thích khổ, Ta nói người ấy không thoát khỏi khổ. Ai ưa thích các tiếng... các hương... các vị... các xúc... Ai ưa thích các pháp, người ấy ưa thích khổ. Ai ưa thích khổ, Ta nói người ấy không thoát khỏi khổ. Ai không ưa thích các sắc, này các Tỳ-kheo, người ấy không ưa thích khổ. Ai không ưa thích khổ, Ta nói người ấy thoát khỏi khổ. Ai không ưa thích các tiếng... các hương... các vị... các xúc... Ai không ưa thích các pháp, người ấy không ưa thích khổ. Ai không ưa thích khổ, Ta nói người ấy thoát khỏi khổ". (Tương Ưng Bộ, Chương IV. Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (a), Phần Một – Năm Mươi Kinh Thứ Nhất, II. Phẩm Song Đôi, VIII. Ưa Thích (2))

Ai yêu thích những suy tư, những suy nghĩ, những lời nói lầm thầm trong tâm là người đó yêu thích khổ, ai yêu thích khổ sẽ không thoát khỏi khổ đau. Ai yêu thích sự nhận thức, rõ biết, thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc, biết là người đó yêu thích khổ, ai yêu thích khổ là người đó không thoát khỏi khổ đau. Ai cho rằng hình hài này là tôi, là tự ngã của tôi thì người đó sầu, bi, khổ, ưu, não. Ai cho rằng những cảm giác này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi thì người đó lo sợ, buồn đau. Ai cho rằng những hình bóng trong tâm này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi thì người đó sầu bi, khổ, ưu não, không thoát khỏi khổ đau, buồn đau tiếp diễn không có ngày dừng nghỉ, người đó phải chịu sự chi phối khốc liệt của vô thường, vô ngã, của sự biến hoại, tan nát, hủy hoại, hoại diệt.

"Ai không ưa thích các sắc, này các Tỳ-kheo, người ấy không ưa thích khổ. Ai không ưa thích khổ, Ta nói người ấy thoát khỏi khổ.

Ai không ưa thích các tiếng... các hương... các vị... các xúc... Ai không ưa thích các pháp, người ấy không ưa thích khổ. Ai không ưa thích khổ, Ta nói người ấy thoát khỏi khổ". (Tương Ưng Bộ, Chương IV. Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (a), Phần Một – Năm Mươi Kinh Thứ Nhất, II. Phẩm Song Đôi, VIII. Ưa Thích (2))

Ai không cho rằng sắc này là mình, là của mình thì người đó không buồn lo, không khổ sầu, người đó tâm được bình an. Người nào không cho những cảm giác này là mình, là của mình, là tự ngã của mình thì người đó không sầu bi, khổ, ưu, não, tâm người đó được bất động, được giải thoát khỏi tất cả những khổ đau. Ai không cho rằng những nhận thức, thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc, biết này là mình, là của mình, người nào không cho rằng sáu xúc này là mình, là của mình thì người đó không sầu, bi, khổ, ưu, não, người đó không khổ đau.

Vị Thánh đệ tử phải có cái thấy biết đúng như thật, quán sát "đây là khổ", quán sát những tham dục, sân hận, bản ngã, vô minh trong ngũ uẩn này là nguyên nhân của khổ, quán sát sự dập tắt hết những thứ đó là đi đến sự chấm dứt khổ đau bằng con đường giới – định – tuệ, bằng con đường Tám Đúng, bằng con đường như lý tác ý, bằng con đường giới hạnh, thiền định, chánh kiến. Phải thường nhớ nghĩ như vậy, thường tư duy như vậy, tác ý, nhắc nhở tâm như vậy liên tục, đây là con đường đưa đến diệt tận khổ đau. Đức Thế Tôn nói rằng người chiến sĩ bắn xa là vị Thánh đệ tử có tâm chánh định, người chiến sĩ bắn chớp nhoáng là vị Thánh đệ tử có chánh tri kiến, người chiến sĩ đâm thủng được thân hình lớn là vị Thánh đệ tử có chánh giải thoát để đâm thủng được vô minh uẩn to lớn.

"Ví như, này Sàlhà, người chiến sĩ bắn xa, cũng vậy, này Sàlhà, là Thánh đệ tử có chánh định.

Ví như, này Sàlhà, người chiến sĩ bắn như chớp nhoáng. Cũng vậy, này Sàlhà là vị Thánh đệ tử có chánh tri kiến.

Ví như, này Sàlhà, người chiến sĩ đâm thủng được thân hình lớn. Cũng vậy, này Sàlhà là vị Thánh đệ tử có chánh giải thoát. Vị Thánh đệ tử này Sàlhà, có chánh giải thoát đâm thủng được vô minh uẩn to lớn". (Tăng Chi Bộ, Chương IV. Bốn Pháp, XX. Ðại Phẩm, (VI). Sàlha)

Sau khi thấy biết nó là khổ thì vị này nhàm chán, thoát ra khỏi sắc, thoát ra khỏi những hình hài bệnh tật, ốm đau, đầy tâm chiếm hữu và khát khao này, thoát ra những cảm giác buồn, vui, giận, ghét, hơn thua, yêu hận, hỉ, nộ, ái, ố, thoát ra và không chấp trước với bất kì cảm giác nào, dù có cảm giác gì khởi lên thì vị Thánh đệ tử cũng không chấp trước, không nắm giữ bất kì cảm giác nào, vị Thánh đệ tử thấy tất cả những cảm giác đó là vô thường, là biến hoại, là khổ, dù cho có bất cứ hình bóng gì trong tâm thì vị này cũng không nắm giữ, chấp trước bất kì hình bóng gì vì những hình bóng đó là khổ, là ảo tưởng, là mộng tưởng, điên đảo tưởng.

Vị Thánh đệ tử quán chiếu để thấy bản chất của nó là như vậy, hình dáng thật còn hư hoại, vô thường thì hình bóng ảo trong tâm làm sao thường được? Cái có thật, mình cầm, nắm được mà còn tan hoại, còn biến diệt thì cái bóng mờ ảo trong tâm làm sao có thật được? Bây giờ cứ nắm vào những hình bóng hư tưởng, ảo tưởng, huyễn tưởng đó thì mình đau khổ, cứ như vậy để làm gì, có đáng không. Hãy từ bỏ tất cả những hình bóng trong tâm, xả ly hết tất cả những hình bóng trong nội tâm, xóa tan, phá sập, giải phá hết tất cả những hình ảnh hư tưởng, ảo ảnh, mộng tưởng, điên đảo tưởng trong tâm bằng Thánh trí tuệ.

Phải thoát ra đối với tất cả những hình ảnh, ngay cả hình ảnh tự ngã của thân mình. Lúc đầu mình tập hình ảnh mình quỳ mọp xuống để lạy, sau khi hình bóng quỳ xuống, mọp xuống, lạy xuống thuần thục trong tâm khiêm hạ, trong tâm diệt ngã thì mình phá nát hình bóng đó luôn để không còn hình bóng gì nữa, đó gọi là chánh giải thoát. Trong tâm không còn ám ảnh về thân kiến nữa, không còn ám ảnh về hình bóng của tự ngã nữa, ví dụ khi nói mình chuẩn bị xuống núi là trong tâm mình có hình bóng lờ mờ của mình hiện ra, hình bóng đó là thân kiến, là sự ảo tưởng về tự ngã được huân tập lâu ngày ở bên trong.

Thoát được khỏi những hình bóng đó là chánh giải thoát, thoát ra khỏi những cảm giác đó là chánh giải thoát, thoát ra khỏi những hình sắc, hình thù này, thoát ra khỏi những tâm ý cho rằng những cái này là tôi, là của tôi là chánh giải thoát, thoát ra tất cả những suy tư, nghĩ ngợi, thầm ý trong tâm về một tự ngã trong năm uẩn, bất cứ suy nghĩ nào cũng không nhận nó là tôi, là của tôi, thoát ra khỏi mọi ý hành trong tâm, không dính mắc vào những suy nghĩ đó là chánh giải thoát.

Ngay cả trong sự nhận thức, thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc, biết cũng thoát ra, không cho sự nhận thức, rõ biết này là tôi, là của tôi cho nên dù mình thấy nhưng người khác nói rằng thấy sai rồi thì tâm mình vẫn bình thường, an tịnh, không phản ứng nhanh, không sôi nổi vì mình biết cái đó chỉ là duyên sanh, "người ta nói thấy sai rồi thì thôi, có gì mà phải dữ dằn lên". Đối với cái nghe cũng vậy, bị người ta nói nghe trật rồi thì mình cũng bình thường, cái nghe này không phải là mình, không phải của mình nên tại sao người ta vừa nói mình nghe sai là mình phản ứng lên? Đó chính là thức thủ uẩn, chính là nắm giữ vào cái thấy biết, vào cái nghe, vào cảm thọ, vào thức tri của mình. Trong năm thủ uẩn cái nào mình cũng nắm chặt vào đó, sắc mình cũng nắm vào, cảm giác nào mình cũng nắm vào, suy nghĩ nào mình cũng nắm vào, nhận thức nào mình cũng cho nó là tôi, là của tôi.

"Sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, sầu bi khổ não là khổ, cầu không được là khổ, tóm lại năm thủ uẩn là khổ". (Tăng Chi Bộ, Chương VI. Sáu Pháp, VI. Ðại Phẩm, (IX). Một Pháp Môn Quyết Trạch)

Hễ còn nắm giữ vào trong thủ uẩn nào, còn nắm giữ vào trong tổ hợp nào, dù là tổ hợp hình hài, tổ hợp suy nghĩ, nhận thức, cảm giác trong tâm đều đem đến sự bất an, đau khổ, sanh, già, bệnh, chết, sầu, bi, ưu, não, cho đến khi nào tâm mình hoàn toàn thoát ra khỏi năm tổ hợp đó thì gọi là vị Thánh đệ tử có chánh giải thoát đâm thủng được vô minh uẩn to lớn. Do đâm thủng được đống si ám tối tăm to lớn bao trùm cả thân thể, hình hài, cảm giác, suy tư, nhận thức nên thoát được ra khỏi nó.

Trong sắc này là một bóng đêm, tất cả chúng sanh đang bị bóng đêm xâm chiếm hoàn toàn trong hình hài này, hình tướng, thân xác này. Trong tất cả cảm giác của hữu tình là một bóng đêm bao trùm, bất cứ cảm giác nào đều cho là tôi, đều nắm giữ trong đó, đều ái thủ trong đó, đừng nói gì cảm giác yêu thương, ngọt ngào mà cảm giác sân hận cũng nắm giữ, bằng chứng là câu nói "quân tử trả thù mười năm chưa muộn", đó là nắm vào những cảm giác làm cho mình thiêu đốt tâm can, oán thù, hận thù kéo dài day dứt không kết thúc.

III. Ý thức rõ vô minh

Chúng ta biết đó là khổ nhưng vẫn nắm giữ thì đó là vô minh hay là minh? Biết giận là ăn không ngon, ngủ không yên, thế nhưng có người bảo buông bỏ đi, đừng giận nữa thì không đồng ý. Thời Thế Tôn còn tại thế, khi các vị Tỳ-kheo cãi nhau thì Thế Tôn đến can ngăn nhưng các vị ấy lại gạt ngang, bảo rằng Thế Tôn hãy hiện tại lạc trú, chuyện cãi nhau để các vị ấy lo.

"Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở Kosambi (Kiều-thưởng-di), tại tịnh xá Ghosita (Cu-sư-la).

Lúc bấy giờ các Tỳ-kheo ở Kosambi sống cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh nhau, đả thương nhau bằng những binh khí miệng lưỡi. Rồi một Tỳ-kheo đến chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Ðứng một bên, Tỳ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

-- Ở đây, bạch Thế Tôn, các Tỳ-kheo ở Kosambi, sống cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh nhau, đả thương nhau bằng những binh khí miệng lưỡi. Tốt lành thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn vì lòng từ mẫn, đến các Tỳ-kheo ấy.

Thế Tôn im lặng nhận lời. Rồi Thế Tôn đi đến các Tỳ-kheo ấy, sau khi đến liền nói với họ:

-- Thôi vừa rồi, các Tỳ-kheo! Chớ có cạnh tranh, luận tranh, phân tranh, đấu tranh nhau!

Khi nghe nói vậy, một Tỳ-kheo bạch Thế Tôn:

-- Bạch Thế Tôn, Thế Tôn là bậc Pháp Chủ, hãy dừng lại! Bạch Thế Tôn, Thế Tôn chớ có nhọc lòng! Thế Tôn hãy an trú, chú tâm và hiện tại lạc trú! Vì rằng chúng con chịu trách nhiệm về sự cạnh tranh, luận tranh, phân tranh, đấu tranh này.

Lần thứ hai, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo ấy:

-- Thôi vừa rồi, này các Tỳ-kheo! Chớ có cạnh tranh, luận tranh, phân tranh, đấu tranh nhau!

Lần thứ hai, Tỳ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

-- Bạch Thế Tôn, Thế Tôn là bậc Pháp Chủ, hãy dừng lại! Bạch Thế Tôn, Thế Tôn chớ có nhọc lòng! Thế Tôn hãy an trú, chú tâm và hiện tại lạc trú! Vì rằng chúng con chịu trách nhiệm về sự cạnh tranh, luận tranh, phân tranh, đấu tranh này.

Lần thứ ba, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo ấy:

-- Thôi vừa rồi, này các Tỳ-kheo! Chớ có cạnh tranh, luận tranh, phân tranh, đấu tranh nhau!

Lần thứ ba, Tỳ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

-- Bạch Thế Tôn, Thế Tôn là bậc Pháp Chủ, hãy dừng lại! Bạch Thế Tôn, Thế Tôn chớ có nhọc lòng! Thế Tôn hãy an trú, chú tâm vào hiện tại lạc trú! Vì rằng chúng con chịu trách nhiệm về sự cạnh tranh, luận tranh, phân tranh, đấu tranh này". (Trung Bộ Kinh, 128. Kinh Tùy phiền não)

Thời Thế Tôn còn tại thế mà còn như vậy thì huống hồ gì thời đại này cho nên Minh Thành không mong dòng pháp Nikāya này đông người. Người nào có căn duyên, có đầy đủ phước tuệ sâu dày thì cảm nhận được, người trí tự mình giác hiểu. Còn mong cầu là còn khổ cho nên Minh Thành không mong cầu gì cả, nếu mong cho đông người theo dòng pháp này mà không được như mong đợi thì buồn, thế là khổ.

Trong một bóng đêm bao trùm thân tâm thì bất cứ suy nghĩ nào mình cũng nắm giữ nó, cũng giữ chặt vào nó, ngay cả lời sư phụ nói ra cũng sân lên với sư phụ, tự động bỏ mẹ bỏ cha vào chùa cạo tóc, quỳ lạy dưới chân gọi sư phụ mà còn sẵn sàng quay lại phản ứng với thầy, đó là bản chất của ngũ uẩn chứ đừng nói gì người dưng xa lạ ngoài đường thì việc hở chút đâm chém, giết hại nhau là chuyện thường, đó là ác nghiệp của chúng sanh. Bóng đêm vô minh bao phủ hết sắc; thọ; tưởng; hành; thức, tất cả nhận thức của chúng sanh đều là nhận thức trong bóng đêm, trong si ám, trong vô minh, nhận thức đó đã sai ngay từ đầu cho nên không phải đơn giản mà đâm thủng được khối vô minh uẩn to lớn này cho nên trong bài Đom đóm có câu "thương đời quờ quạng giữa trời đêm".

"Tôi biết mình chỉ là đom đóm

Không làm sao toả sáng trần gian,

Nên chỉ ngậm ngùi trong thương xót,

Thương đời quờ quạng giữa trời đêm".

(Đom Đóm – Chơn Tín Toàn)

"Thương thay trò sanh tử,

Thương thay nẻo tái sanh,

Thương thay cảnh nhân quả,

Chúng sanh đáng thương thay.

Thương thay tâm mờ tối,

Chẳng rõ khổ của nhau,

Còn bày thêm đau khổ,

Thêm khổ buồn cho nhau"

(Cửa Vào Bất Tử - Chơn Tín Toàn)

Tâm của chúng sanh là một màn đêm u tối, nó bao trùm cả vũ trụ, trừ khi nào thành tựu chánh kiến thì mới thấy được thật sự mình đang ở trong bóng đêm, nếu mắt vẫn mù thì còn đang ở trong bóng đêm. Mắt này là mù lòa, lỗ tai này là mù lòa, lỗ mũi này là mù lòa, cái lưỡi này là mù lòa, thân này là mù lòa, ý này là mù lòa, tất cả những sắc pháp mà chúng ta thấy được cũng là mù lòa, sự rõ biết trong thân cũng là mù lòa, căn – trần – thức này giao thoa cũng là một sự tiếp xúc của mù lòa.

Khi tiếp xúc sanh ra bao nhiêu cảm giác thì những cảm giác đó cũng là mù lòa, mới một cảm giác mù lòa đó thì làm sao có thể sanh ra sự sáng suốt cho nên chúng sanh là quờ quạng giữa bóng đêm của vô minh, của hắc ám, không có ngày thoát ra, không có ngày chấm dứt, trừ khi nào bước vào Thánh trí tuệ của bậc Chánh Giác, nếu không thì vĩnh viễn và mãi mãi ở trong vô minh, không thể nào có được vũ khí thần thánh để đâm thủng, xuyên thủng được khối vô minh uẩn to lớn này.

Chúng ta có được những giờ phút ngồi đây tu tập, chiêm nghiệm vô minh của tự thân mình là một phước lành, phải ý thức được bóng đêm đang bao trùm trong tâm chúng ta, trong vạn vật, trong thế giới này để mình luôn dùng con mắt pháp, con mắt trí tuệ để nhìn thật kĩ, mở mắt thật sáng, thật tinh anh. Nếu không là vĩnh viễn và mãi mãi vô lượng kiếp về sau mình vẫn là những kẻ mù lòa quờ quạng trong bóng đêm.

Trong bài kinh Sàlha này Đức Phật dạy mình phải dùng giới hạnh, dùng đời sống thiểu dục tri túc, ít muốn biết đủ để nhiếp phục dục vọng, sống đời sống tối giản đơn sơ. Từ đời sống đó giữ gìn những oai nghi, chánh niệm tỉnh giác, niệm thân, tu tập tâm an tịnh, trầm lặng, đủ mức độ yên định để nhìn ngũ uẩn sâu sắc bằng con mắt tâm, từ đó mới thấy rõ được không có một cái tôi thật sự bên trong.

Sau đó bằng chánh tri kiến của Khổ Thánh Trí suy tư, quán chiếu, nghiền ngẫm, chiêm nghiệm, nhắc nhở để thấy dưới gầm trời này đều là khổ đau, dù là hình thái gì của ngũ uẩn cũng đều là khổ đau, bất cứ hình thức, hình tướng gì thì nhìn vào đó bản chất của nó là thống khổ. Tâm mình thoát ra khỏi nó, rời xa nó để đi đến chánh giải thoát, từ chánh tri kiến của khổ sẽ đưa đến chánh giải thoát, nhàm chán, thoát ra, vượt ra thì gọi là chánh giải thoát.

Với một trí tuệ chánh tri kiến, với một trí tuệ Khổ Thánh Trí đó, với một trí tuệ thâm sâu xuyên thủng khối vô minh uẩn to lớn này thì chúng ta mới có thể thoát ra được tổ hợp khổ đau này. Phải tập nhìn bằng con mắt thâm sâu vào trong tất cả vở tuồng ngũ uẩn trong cuộc đời này, những gì mình nghe, mình thấy, tiếp xúc chỉ là những vở tuồng của ngũ uẩn trong tham, sân, si, dục ái, vô minh chứ không có gì khác, tâm mình sẽ nhàm chán, không còn tham muốn nữa nên từ bỏ, thoát ra, đó là chánh giải thoát. Như thế mình mới đủ sức và xuyên thủng được khối vô minh to lớn, đó là trọng tâm của bài kinh Sàlha, phải là người có thiền định, chánh kiến và thoát ra từ nền tảng của giới hạnh.

./.