Tương Ưng KOSALA 7 - Triệu Phú Keo Kiệt - Ác Độc
Kinh Nikāya Giảng Giải
TƯƠNG ƯNG KOSALA 7
TRIỆU PHÚ KEO KIỆT - ÁC ĐỘC
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Tác hại của bủn xỉn PAGEREF _Toc113979602 \h 1
II. Tài sản bậc Chân nhân PAGEREF _Toc113979603 \h 3
III. Sử dụng tài sản sáng suốt PAGEREF _Toc113979604 \h 6
IV. Triệu phú keo kiệt PAGEREF _Toc113979605 \h 10
I. Tác hại của bủn xỉn
Chúng ta nghe tiếp về Tương Ưng Kosala, bài kinh Không con.
"Nhân duyên ở Sàvatthi.
Rồi vua Pasenadi nước Kosala, vào buổi trưa đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với vua Pasenadi nước Kosala đang ngồi một bên:
-- Thưa Ðại vương, Ðại vương đi từ đâu đến trong giữa trưa như thế này?
-- Ở đây, bạch Thế Tôn, có triệu phú gia chủ ở Sàvatthi bị mệnh chung, và con đến để xem tài sản của vị không có con ấy được chở vào nội thành. Bạch Thế Tôn, có đến tám triệu đồng tiền vàng, không nói đến tiền bằng bạc. Bạch Thế Tôn, tuy vậy đồ ăn của triệu phú gia chủ ấy lại chỉ gồm có cháo tấm chua ngày hôm qua để lại. Còn vải mặc chỉ mang vải gai may thành ba tấm. Còn xe thì đi xe nhỏ, cũ kỹ và hư nát, có gắn tán che bằng lá.
-- Thật như vậy, thưa Ðại vương! Thật như vậy, thưa Ðại vương! Một kẻ không phải Chân nhân, thưa Ðại vương, dầu cho có được tài sản lớn không đem lại an lạc cho mình, không đem lại an lạc cho cha mẹ, không đem lại an lạc cho vợ con, không đem lại an lạc cho các người phục vụ, cho các người làm công hoan hỷ, không đem lại an lạc cho bạn bè thân hữu; đối với các vị Sa-môn, Bà-la-môn, không thiết trí các sự cúng dường hướng thượng, có khả năng đưa lên thượng giới, đưa đến lạc quả, hướng đến Thiên giới. Các tài sản của người ấy nếu không thọ dụng chơn chánh, thời vua chúa sẽ cướp đoạt, hay trộm cắp cướp đoạt, hay bị lửa đốt, hay bị nước cuốn trôi, hay bị con cháu thừa tự thù nghịch cướp đoạt. Sự việc là như vậy, thưa Ðại vương, các tài sản nếu không thọ dụng chơn chánh, đưa đến tổn giảm, không đưa đến thọ hưởng".
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, II. Phẩm Thứ Hai, IX. Không Con)
Chân nhân là một người thật sự là người, nếu một người không phải là chân nhân thì dù cho họ có là đại gia, tỷ phú cũng không biết chia sẻ, giúp đỡ bất kì ai, ngay cả bản thân họ cũng không dám ăn, không dám mặc, đi xe hư cũ thì làm sao họ có thể giúp đỡ bất kì ai, làm sao có thể phụng sự cho cha mẹ, giúp đỡ anh em, bà con, ở đây nói lên tính bủn xỉn, keo kiệt, xan tham. Họ quá keo kiệt như thế nên làm sao họ có thể cúng dường, bố thí, họ sống quá ích kỷ, chỉ biết gom góp, thu vào cho bản thân chứ không biết đưa ra, không biết giúp đỡ, san sẻ, sớt chia, không biết cúng dường, không biết bố thí cho những bậc tu hành đức độ Sa-môn, Bà-la-môn.
Họ không biết sử dụng tài sản của họ một cách đúng đắn, chân chánh, không biết dùng đúng chỗ sẽ bị vua chúa cướp đoạt, chết rồi để lại tám triệu đồng tiền vàng, con số này ngày xưa thật sự rất lớn, với số tài sản như vậy mà không biết dùng đúng cách, không có tâm từ ái, không có tâm từ thiện, bố thí, giúp đỡ người thân trong gia đình chứ đừng nói gì đến cúng dường, cho nên Đức Phật mới nói "các tài sản của người ấy nếu không thọ dụng chơn chánh, thời vua chúa sẽ cướp đoạt, hay trộm cắp cướp đoạt, hay bị lửa đốt, hay bị nước cuốn trôi, hay bị con cháu thừa tự thù nghịch cướp đoạt".
Thứ nhất tài sản sẽ bị vua chúa cướp đoạt, thứ hai sẽ bị trộm cắp cướp đoạt, thứ ba sẽ bị lửa đốt, thứ tư là bị nước cuốn trôi và cuối cùng là bị tranh giành, xâu xé bởi con cháu, lịch sử đã ghi lại không biết bao nhiêu lần con cháu, thái tử, hoàng tử mưu mô giành ngôi báu, tài sản thừa kế, vua A-xà-thế giết cha cướp ngôi vua, vì không có nhân đức, từ tâm, phước báo bao bọc, bảo vệ cho nên tài sản đó bị năm nhà cướp đoạt, tịch thu.
Gom góp, tích lũy, chất chứa tài sản không dám ăn, không dám mặc vậy mà bà hỏa đi ngang qua là thiêu rụi mọi thứ hoặc gặp một trận sóng thần, bão lũ là cuốn hết mọi thứ, chỉ trong một đêm nước cuốn trôi trắng tay, giữ được mạng sống đã là một điều may mắn cho nên tiền bạc, tài sản rất vô thường, mong manh, tạm bợ, nếu mình không biết sử dụng đúng cách, đúng chỗ sẽ bị năm trường hợp này lấy mất hết. "Sự việc là như vậy, thưa Ðại vương, các tài sản nếu không thọ dụng chơn chánh, đưa đến tổn giảm, không đưa đến thọ hưởng", nó là lẽ đương nhiên của cuộc đời này. "Sự việc là như vậy, thưa Ðại vương, các tài sản nếu không thọ dụng chơn chánh, đưa đến tổn giảm, không đưa đến thọ hưởng".
Nếu không biết dùng thì tài sản sẽ bị tổn giảm chứ không đưa đến thụ hưởng cho bản thân người đó trong hiện tại, tương lai và cả những người xung quanh, vì bị lửa thiêu rụi, bị trộm cắp hết rồi làm sao mà thọ hưởng, bị tịch thu thì làm sao thọ hưởng, không biết san sẻ cho người khác nên làm sao những người xung quanh thọ hưởng, tự thân họ bủn xỉn nên ăn đồ thiu, mặc vải thô, đi xe cũ, xe hư là tự thân họ đã không hưởng rồi người thân xung quanh như cha mẹ, anh chị em họ cũng không được hưởng, lại còn bị lửa, bão lũ, trộm cắp mất tài sản, bị vua chúa tịch thu, bị những người con cháu tranh giành, thậm chí trở thành nguyên nhân để đấu đá, huynh đệ tương tàn. Cũng như hai con chó đang chơi với nhau, chỉ cần quăng cục xương xuống là hai con sủa nhau, cắn lộn nhau để tranh giành cục xương đó, cục xương đó đại diện cho tiền bạc, của cải.
II. Tài sản bậc Chân nhân
Cho nên khi biết sử dụng đúng tài sản sẽ tuyệt vời, còn không biết sử dụng là đưa đến tổn giảm chứ không đưa đến thọ hưởng, cũng không biết cúng dường, bố thí cho các vị có giới đức tu hành, hoặc những vị làm lợi lạc cho mọi người nên không có phước báo, đời này họ không được thụ hưởng và đời sau cũng không được thụ hưởng, nếu họ đem tài sản đi san sẻ, sớt chia, cúng dường, làm biết bao việc thiện thì tự thân họ được thụ hưởng, người thân được thụ hưởng và đời sau sanh ra họ lại tiếp tục thụ hưởng, có lợi ích cho cả đời này và đời sau.
"Ví như, thưa Ðại vương, một hồ nước tại chỗ vắng người, với nước trong sáng, với nước mát lạnh, với nước dịu ngọt, với nước trắng tinh, với bờ bến tốt đẹp và khả ái. Nhưng không có người đến gánh nước, hay uống nước, hay tắm, hay sử dụng hồ nước ấy vào bất cứ công việc gì. Như vậy, thưa Ðại vương, nước ấy không được thọ dụng chơn chánh sẽ đưa đến tổn giảm, không đưa đến thọ hưởng. Cũng vậy, thưa Ðại vương, một kẻ không phải Chân nhân, dầu cho có được tài sản lớn, không đem lại an lạc cho mình... ... Sự việc là như vậy, thưa Ðại vương, các tài sản nếu không thọ dụng chơn chánh, đưa đến tổn giảm, không đưa đến thọ hưởng".
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, II. Phẩm Thứ Hai, IX. Không Con)
Một hồ nước vừa trong vừa sạch lại vừa đẹp mà không có ai đến gánh nước về uống, cũng không có ai dùng nước đó để tắm giặt, nấu ăn, bỏ không hồ nước đó, như vậy nước đó sẽ cạn, tổn giảm chứ không thọ dụng, hưởng thụ được. Cũng vậy, dù cho có tài sản to lớn không đem đến niềm vui cho ai, không đem lại an lạc cho mẹ, cho cha, cho ông, cho bà, cho vợ, cho con, cho chị em, anh em, không đem lại niềm vui cho những người thấp kém, nô bộc, tùy tùng, không đem lại sự hướng thượng cho đời sống của họ bằng cách bố thí, cúng dường cho những bậc có đạo hạnh, có đức hạnh.
"Và bậc Chân nhân, thưa Ðại vương, có được tài sản lớn, đem lại an lạc cho mình, đem lại an lạc cho cha mẹ, đem lại an lạc cho vợ con, đem lại an lạc cho người phục vụ, cho người làm công, đem lại an lạc cho bạn bè thân hữu; đối với các vị Sa-môn, Bà-la-môn, thiết trí các sự cúng dường hướng thượng, có khả năng thăng lên thượng giới, đưa đến lạc quả, hướng đến Thiên giới. Các tài sản của người ấy được thọ dụng chơn chánh, thời vua chúa không cướp đoạt, hay trộm cắp không cướp đoạt, hay không bị lửa đốt, hay không bị nước cuốn trôi, hay không bị con cháu thừa tự thù nghịch cướp đoạt. Sự việc là như vậy, thưa Ðại vương, các tài sản nếu thọ dụng chơn chánh, sẽ đưa đến thọ hưởng, không đưa đến tổn giảm".
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, II. Phẩm Thứ Hai, IX. Không Con)
Đối với những bậc chân nhân, những người có tình thương, từ tâm những người thật sự là người biết tu học giáo pháp mà có tài sản lớn sẽ "đem lại an lạc cho mình, đem lại an lạc cho cha mẹ, đem lại an lạc cho vợ con, đem lại an lạc cho người phục vụ, cho người làm công, đem lại an lạc cho bạn bè thân hữu". Ở đây có hai vế chúng ta cần chú ý, thứ nhất là đem lại niềm vui, niềm hạnh phúc bằng sự chia sẻ, giúp đỡ những người trong gia đình, những người gần gũi, những người phục vụ và bạn bè. Thứ hai là sử dụng tài sản chân chánh, đúng đắn đối với những bậc tu hành, khi nãy là giúp đỡ những người ngang hàng hoặc thấp hơn mình hoặc là trong gia đình mình, còn bây giờ là "thiết trí các sự cúng dường hướng thượng, có khả năng thăng lên thượng giới".
Đức Thế Tôn gọi đây là sự cúng dường hướng thượng. Cúng dường nghĩa là cung cấp và nuôi dưỡng, đọc đúng phải là "cung dưỡng" nhưng chúng ta thường đọc trại thành "cúng dường", cung cấp và nuôi dưỡng những bậc tu hành, những bậc rời xa trần tục, thế vật của cuộc đời để hướng tâm về sự giải thoát, sự mong cầu giác ngộ và mình cung cấp, nuôi dưỡng cho những bậc đó, như vậy Thế Tôn gọi là "thiết trí các sự cúng dường hướng thượng, có khả năng thăng lên thượng giới, đưa đến lạc quả, hướng đến Thiên giới".
Thượng giới là những cảnh giới cao cấp, tức là đỉnh cao cảnh giới của loài người và những cảnh giới của chư thiên, cao nhất trong chư thiên chính là Tịnh Cư Thiên, đó là cảnh giới của bậc Bất Lai, Thánh quả thứ ba, đó là chỗ chờ cuối cùng để sạch hết các lậu hoặc, diệt tận vô minh, tham ái và chứng quả vị sau cùng là A-la-hán, cho nên chữ "thiên giới" bao gồm rất nhiều cảnh giới nhưng cảnh giới tối cao của thiên giới trong hàng Thánh đệ tử là Tịnh Cư Thiên. Tịnh là thanh tịnh, cư là cư trú, là chỗ cư trú của các bậc thanh tịnh, các vị chư thiên khi ở đó là những vị Thánh đệ tử thiên, đã hoàn toàn sạch hết tham sân không còn trở lại đời này nữa.
Sự cúng dường này sẽ đưa đến kết quả vui sướng trong hiện tại và cả đời sau, hướng đến thiên giới, thiên giới ở đây bao trùm cả phước hữu lậu và phước vô lậu vì trong chư thiên lại chia ra hai bậc là Thánh đệ tử thiên và phàm phu thiên. Các Phật tử hỏi bố thí, cúng dường như thế nào mới đúng pháp thì hãy nghe bài hôm nay và bài "Nhà cháy, lấy đồ ra", trong đó Đức Phật chỉ cách bố thí, cúng dường đúng pháp. Khi tài sản được sử dụng đúng pháp thì "vua chúa không cướp đoạt, hay trộm cắp không cướp đoạt, hay không bị lửa đốt, hay không bị nước cuốn trôi, hay không bị con cháu thừa tự thù nghịch cướp đoạt", sau đó Đức Phật ví dụ lại hình ảnh hồ nước.
"Ví như, thưa Ðại vương, một hồ nước không xa làng mạc hay thị trấn, với nước trong sáng, với nước mát lạnh, với nước dịu ngọt, với nước trắng tinh, với bờ bến tốt đẹp và khả ái. Và có người đến gánh nước, hay uống nước, hay tắm, hay xử dụng hồ nước ấy vào bất cứ công việc gì. Như vậy, thưa Ðại vương, nước ấy được thọ dụng chơn chánh, sẽ đưa đến thọ hưởng, không đưa đến tổn giảm. Cũng vậy, thưa Ðại vương, một bậc Chân nhân khi được tài sản lớn, đem lại an lạc cho mình... ... Sự việc là vậy, các tài sản được sử dụng chơn chánh, sẽ đưa đến thọ hưởng, không đưa đến tổn giảm".
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, II. Phẩm Thứ Hai, IX. Không Con)
Hồ nước trong sạch, mát lạnh, mọi người đến đó lấy nước uống, tắm giặt, khi nước được sử dụng chân chánh sẽ đưa đến thọ hưởng chứ không đưa đến tổn giảm.
"Như nước trong tươi mát,
Nằm tại chỗ không người,
Không người uống, người dùng,
Ði đến chỗ tổn giảm;
Cũng vậy là tài sản,
Kẻ hạ liệt có được,
Không tự mình thọ hưởng,
Lại không cho một ai.
Kẻ trí tuệ sáng suốt,
Tài sản thâu hoạch được,
Biết thọ dụng, phục vụ,
Với bà con, đoàn thể,
Trở thành như ngưu vương,
Nuôi dưỡng và giúp đỡ,
Vô tội khi bị chết,
Ðược sanh lên Thiên giới".
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, II. Phẩm Thứ Hai, IX. Không Con)
Người có trí tuệ sáng suốt, làm lụn để thu hoạch được tài sản thì người ta biết sử dụng tài sản thông minh, khéo léo với bà con, đoàn thể, nghĩa là giúp đỡ khi người khác gặp khó khăn, nguy nan. Sư bà Chứng Nghiêm ở Đài Loan thành lập bệnh viện rất lớn, lúc sư bà còn nhỏ chứng kiến cảnh tượng một thai phụ trẻ đến bệnh viện xin vào để sanh nhưng vì không có tiền nên không được nhận vào, sư bà bị ấn tượng sâu sắc nên sau này sư bà thành lập một bệnh viện lớn ở Hoa Liên.
III. Sử dụng tài sản sáng suốt
Ở Đài Loan có bốn nhánh lớn gọi là Tứ Đại Thiên Vương của Phật giáo, đó là Pháp Cổ Sơn, Phật Quang Sơn, Trung Đài Thiền Tự và Từ Tế - làm từ thiện, giúp đỡ mọi người. Người ta đau đớn chuẩn bi sanh đẻ mà không có tiền là không được vào bệnh viện, bây giờ có những trường hợp nghèo không tiền đi bệnh viện nên chết ở nhà, vì đồng tiền có thể cứu mạng người ta và cũng vì đồng tiền có thể giết chết mạng sống người ta, đây là việc khéo léo và không khéo léo sử dụng đồng tiền, tiền có thể kiếm lại được nhưng khi đã mất mạng thì làm sao tìm lại được nữa, tục ngữ có câu: "Dù xây chín bậc phù đồ, không bằng làm phúc cứu cho một người" nhằm đề cao giá trị nhân văn giúp đỡ người khác một cách trực tiếp thì tốt hơn là xây dựng những gì mang tính hình thức theo tôn giáo, như vậy chỉ vì đồng tiền mà để người khác phải chết.
"Kẻ trí tuệ sáng suốt,
Tài sản thâu hoạch được,
Biết thọ dụng, phục vụ,
Với bà con, đoàn thể,
Trở thành như ngưu vương,
Nuôi dưỡng và giúp đỡ,
Vô tội khi bị chết,
Ðược sanh lên Thiên giới".
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, II. Phẩm Thứ Hai, IX. Không Con)
Ngưu vương là con trâu chúa, thời Đức Phật hay ví dụ bằng từ này, nghĩa là đem lại lợi ích cho mọi người. Nếu không biết sử dụng đồng tiền đúng cách là nguy hiểm, có thể mất mạng, còn biết sử dụng đồng tiền sẽ mang lại lợi ích cho rất nhiều người, cứu mạng được nhiều người. Đã có biết bao bài nhạc, bao khúc ca, câu chuyện viết về đồng tiền, tiền chỉ là tờ giấy nhưng làm mờ mắt mọi người, ngoài ra còn thêm keo kiệt, bủn xỉn, hà tiện.
Tiền mục lúa hư, không cứu đói rét;
Lụa là chất đống, nào có giúp ai.
Được người mấy trăm, chưa cho là nhiều;
Mất mình một đồng, tưởng như hao lớn.
Trên từ châu báu, dưới đến tơ gai;
Kho đụn chất đầy, chưa từng bố thí.
Bao nhiêu sự việc, ngày tính đêm lo;
Khổ tứ lao thần, đều từ tham nghiệp.
(Sám hối sáu căn)
Chẳng thà để tiền mục, lúa hư chứ không cứu sự đói rét, đồ ăn để hư chứ không cho ai, đồ đạc để hư nát, mục rữa nhưng người cần lại xin vẫn không cho, để trong hốc trong xó nhưng ai đụng đến là không cho, đó là người keo kiệt. Khi đi trên xe hay thấy người già đến chìa tay ra xin, trong túi mình có tiền, mình không cho nhiều thì cũng cho được những đồng lẻ, hoặc đang ăn nhưng có người đến xin thì cứ chia sẻ, mình có dư dầu gió người ta bệnh cảm thì chia cho người ta dầu, viên thuốc, người ta lạnh giá áo quần rách nát mà mình có dư thì hãy chia cho họ, không cần họ phải xin mà mình để ý sẽ thấy ngay, trong huynh đệ, đại chúng hoặc những người bên ngoài mình thấy thì hỏi thăm đồ mặc đủ không, có áo ấm không, có tất vớ mang không, đó là bậc chân nhân, đó là sống với tâm từ ái, biết sử dụng đem lại lợi ích cho mình và cho người. Bây giờ để tiền trong tủ không đem lại lợi ích cho ai cả, để lâu bị hư bị mục, có quần áo dư thì đem ra chia cho người đang cần, thuốc men cũng vậy, đồ ăn cũng vậy, mọi thứ đều cần chia sẻ, mình càng chia nhiều chừng nào thì mình càng có lợi nhiều chừng đó.
Xin hãy cứ cho, hãy cứ cho!
Niềm vui nho nhỏ cứ đem cho
Có người thí vật, người thí pháp
Cái gì thí được, cứ đem cho…
Xin hãy cứ cho, hãy cứ cho!
Những lời hòa ái cứ đem cho
Cho lời an ổn, lời an lạc
Người an, ta ổn, xin hiểu cho!
Xin hãy cứ cho, hãy cứ cho!
Tấm lòng từ ái cứ đem cho
Một ngày nào đó, thôi ngưng thở
Giấc mộng tan rồi, chớ vấn vương.
(Cửa vào bất tử - Chơn Tín Toàn)
Ngày xưa ông nội Minh Thành rất hay làm phước, đến ba Minh Thành là thầy Pháp An cũng làm phước, mình thừa hưởng được tinh thần đó nên làm phước được thấy rất vui. Minh Thành về Tây Ninh được ba lần để hốt thuốc cho bà Năm là mẹ Minh Thành, người thầy thuốc nam này không lấy tiền của ai bao giờ, mình lấy chín mươi thang thuốc mà họ không lấy đồng bạc nào, mình mời người làm trong đó một ly nước uống cũng không nhận, mua đồ ăn vào cũng không nhận, người ta chỉ thuần túy làm công quả thôi.
Minh Thành năn nỉ xin hỗ trợ tiền đi tìm thuốc nam đến lần thứ năm, đúng duyên chiếc xe chở cây thuốc về, trong vòng một hai năm người ta mới chở về một hai xe thuốc như vậy thôi, được thầy thuốc đồng ý nên trong túi có bao nhiêu tiền Minh Thành lấy ra hết cúng dường chiếc xe thuốc hai mươi triệu, mình cảm thấy vui mừng vì biết bao người cần uống thuốc này, cứu giúp được nhiều người.
Có nhiều Phật tử ở xa gửi về làm từ thiện mổ mắt giúp người nghèo, đồng tiền biết làm phước rất tuyệt vời, nhất là với những người trong gia đình mình trước, là cha mẹ, anh chị em, bà con thân quyến, sau đó đến những bậc tu hành tam bảo, những người nghèo khổ mà mình thấy, đã tiếp xúc, đừng bỏ qua họ, người ta đến xin mình mà mình không cho lại đi từ thiện ở nơi xa xôi, người ta đến tìm mình là người ta đang cần nên ít nhiều hãy giúp đỡ họ dù chỉ chút ít.
Cho người ta gánh vài đôi nước trong cái hồ đó rồi tự nhiên nước sẽ có trở lại, không dùng thì nước cạn kiệt nhưng dùng thì nước sẽ tự động chảy ra lại. Đồng tiền được sử dụng bằng từ tâm, bằng tình thương, bằng sự san sẻ, sớt chia sẽ rất đẹp và vui mừng, suy nghĩ trước khi làm đã thấy vui rồi, trong khi đang làm cũng thấy vui, sau khi làm xong mình nhớ lại những điều mình đã bố thí, cúng dường, giúp đỡ mình thấy hoan hỉ, hân hoan, Đức Phật gọi là người biết thọ hưởng ngay trong đời này và đời sau.
Đối với những người làm công cho mình hoặc những người phục vụ trong gia đình, có đồ ăn là phải cho người ta, có gì thì hãy sớt chia cho họ, những người lang thang ngủ dưới gầm cần, đi nhặt phế liệu, ve chai, đi bán vé số mà gặp mình thì hãy giúp đỡ họ, cuộc đời này đã quá đau khổ rồi nên mình hãy giúp đỡ cho họ dù chỉ một chút để cả hai đều có niềm vui, đừng sống mà chỉ biết nghĩ cho mình, hãy nghĩ đến những người xung quanh, nghĩ cho số đông, nghĩ cho cộng đồng, nghĩ cho toàn thể thế giới, làm được như vậy sẽ rất đẹp, phước báo sẽ không mất, nếu sanh ở nhân gian sẽ ở trên đỉnh cao của loài người, nếu sanh ở thiên thượng sẽ hưởng được thiên sắc, thiên phước.
Nếu ở trong Thánh pháp này sẽ thành tựu được Thánh trí tuệ cộng với phước đức mình có sẽ như con chim có hai cánh, như đại bàng, như máy bay cất cánh lên cao, còn bây giờ chỉ khăng khăng muốn tu trí tuệ thôi chứ không muốn làm gì khác sẽ như con chim có một cánh, không bay được cho nên phước huệ phải song tu, bi trí song vận thì mới cân bằng để dễ dàng tu học. Khi đã có phước rất dễ tu dễ học, dễ tiến bộ, đi đến đâu cũng thuận thảo, không có phước rất khổ, làm gì cũng bị chướng ngại, trắc trở, vào tu không bị vọng tưởng cũng buồn ngủ, hoặc không buồn ngủ, không vọng tưởng thì bị bệnh, không bệnh cũng gặp tai nạn, bị nhiều thứ làm chướng ngại trong sự tu, khi có phước tu dễ dàng, học gì cũng nhẹ nhàng, làm gì cũng thuận lợi, sau khi chết còn được sanh lên thiên giới để tiếp tục tu tập Thánh tuệ.
IV. Triệu phú keo kiệt
Bây giờ là một bài kinh Không con thứ hai ở góc độ khác.
"Rồi vua Pasenadi nước Kosala, giữa trưa, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với vua Pasenadi nước Kosala đang ngồi một bên:
-- Thưa Ðại vương, Ðại vương đi đâu lại giữa trưa như thế này?.
-- Ở đây, bạch Thế Tôn, có triệu phú gia chủ ở Sàvatthi bị mệnh chung. Và con đến để xem tài sản của vị không có con ấy được chở vào nội thành. Bạch Thế Tôn, có đến tám triệu đồng tiền vàng, không nói đến tiền bằng bạc. Bạch Thế Tôn, tuy vậy đồ ăn của vị triệu phú gia chủ ấy lại chỉ gồm có cháo tấm chua ngày hôm qua để lại. Còn vải mặc chỉ mang vải gai may thành ba tấm. Còn xe thì đi xe nhỏ cũ kỹ và hư nát, có gắn tán che bằng lá.
-- Thật như vậy, thưa Ðại vương. Thật như vậy, thưa Ðại vương. Thưa Ðại vương, vị triệu phú gia chủ ấy thuở xưa, đã bố thí đồ ăn khất thực cho một vị Bích-chi Phật tên là Tagarasikkhi. Vị ấy nói: 'Hãy bố thí cho vị Sa-môn'. Nói xong, vị ấy từ chỗ ngồi đứng dậy, rồi bỏ đi. Nhưng về sau, vị ấy hối tiếc, nói rằng: 'Tốt hơn, các người phục dịch hay làm công ăn đồ ăn khất thực này'. Và hơn nữa, vị ấy đoạt mạng sống người con độc nhất của người anh, vì tài sản của người ấy".
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, II. Phẩm Thứ Hai, X. Không Con)
Người có tám triệu đồng tiền vàng ăn cháo chua, mặc đồ cũ, đi xe hư, xấu xí có đời trước từng bố thí cúng dường cho một vị Bích-chi Phật tên là Tagarasikkhi. Bích-chi Phật là một vị Độc Giác, tức là sanh ra trong thời kì không có chánh pháp, không có bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, tự bản thân vị này nghiền ngẫm sự đau khổ của thế gian, nghiền ngẫm lý duyên sanh của các pháp và tự vị này chứng ngộ và vị này không có khả năng phổ độ chúng sanh một cách rộng lớn, ai có duyên thì vị này giúp đỡ trong nhân duyên của người đó thôi cho nên vị này được gọi là Độc Giác. Vị Độc Giác này sanh ra trong khời kì không có Thánh pháp cũng không có bậc Chánh Đẳng Giác, do sự tu tập từ nhiều đời nhiều kiếp đến đúng lúc chín muồi thể ngộ được chân lý nên trở thành Bích-chi Phật, vị Phật Độc Giác, tức là một vị Phật tự giác ngộ, không phải là bậc toàn giác Chánh Đẳng Chánh Giác. Ông đại gia ăn cháo chua, mặc vải cũ này trong những đời xa xưa trước đó đã cúng dường cho vị Bích-chi Phật này.
"Vị ấy nói: 'Hãy bố thí cho vị Sa-môn'. Nói xong, vị ấy từ chỗ ngồi đứng dậy, rồi bỏ đi", có thể ông ấy kêu người hầu hoặc những người tùy tùng bố thí cho vị Sa-môn đó nhưng thời gian sau ông lại hối tiếc với quyết định cúng dường này nên đã nói rằng "tốt hơn, các người phục dịch hay làm công ăn đồ ăn khất thực này", nghĩa là ông suy nghĩ lại phải chi cho những người làm công, tôi tớ trong gia đình còn hơn đi cho vị Sa-môn đó. "Vị ấy đoạt mạng sống người con độc nhất của người anh, vì tài sản của người ấy", người này giết cháu ruột để lấy tài sản của đứa cháu.
"Thưa Ðại vương, vì người triệu phú gia chủ ấy có bố thí đồ ăn khất thực cho vị Ðộc Giác Phật tên là Tagarasikkhi. Do kết quả hành động ấy, vị ấy được sanh bảy lần lên thiện thú, Thiên giới. Do kết quả dư hưởng còn lại, vị ấy được làm nhà triệu phú bảy lần ở Sàvatthi này".
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, II. Phẩm Thứ Hai, X. Không Con)
Chỉ cúng có một lần, đã vậy cúng xong rồi hối tiếc muốn lấy lại để cho người làm, làm công trong gia đình nhưng vẫn được bảy lần sanh lên cõi trời vì cúng đúng ngay vị Độc Giác Phật chứ không phải cúng cho người bình thường. Dư hưởng là kết quả sau khi hưởng xong bảy lần trên cõi trời còn xót lại thì được làm triệu phú bảy lần ở thành Xá-vệ. Một ngày trên cõi trời bằng cả trăm năm ở thế gian, một đời trên đó bằng biết bao ngàn tuổi dưới nhân gian, vậy mà được sanh lên đến bảy lần trên thiên giới, sau đó phước dư còn xót lại là sanh lên cõi người bảy lần làm triệu phú.
"Thưa Ðại vương, vì người triệu phú gia chủ ấy sau khi bố thí về, lại hối tiếc nói rằng: 'Tốt hơn, các người phục vụ hay làm công ăn đồ ăn khất thực này'. Do kết quả của hành động ấy, tâm của vị ấy hướng về các món ăn không được tốt đẹp, tâm của vị ấy hướng về các đồ mặc không được tốt đẹp, tâm của vị ấy hướng về các xe cộ không được tốt đẹp, tâm của vị ấy hướng về sự thọ hưởng năm dục công đức không được tốt đẹp".
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, II. Phẩm Thứ Hai, X. Không Con)
Vì tâm lúc đó hướng về sự tiếc nuối món ăn khi đã cho vị Sa-môn kia cho nên người đó hướng đến những thức ăn, đồ mặc, xe cộ không tốt đẹp.
"Thưa Ðại vương, vì người triệu phú gia chủ ấy đoạt mạng sống người con độc nhất của người anh, vì tài sản của người ấy. Do kết quả hành động của vị ấy, vị ấy bị nung nấu ở địa ngục nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều trăm ngàn năm. Do kết quả dư hưởng còn lại, gia tài không con bảy lần phải nhập vào công khố của vua. Thưa Ðại vương, đối với người triệu phú gia chủ này, các công đức cũ bị đoạn diệt và công đức mới chưa được chứa cất thêm. Và nay, thưa Ðại vương, người triệu phú gia chủ đang bị nung nấu trong địa ngục Mahàroruva".
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, II. Phẩm Thứ Hai, X. Không Con)
Người này đoạt mạng cháu mình là đứa con độc nhất của người anh để lấy tài sản nên bị nung nấu dưới địa ngục trong vạc dầu sôi, trong cột đồng cháy đỏ, trong những thành trì rực lửa "nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều trăm ngàn năm". Qua đây chúng ta thấy chuyện nào ra chuyện đó, cúng dường một bữa ăn đúng ngay Bích-chi Phật được phước báo sanh lên cõi trời bảy lần là phước dư xót lại là sanh xuống nhân gian bảy lần làm triệu phú. Sau đó cúng dường rồi lại hối tiếc, cái tâm hướng đến sự thấp kém của đồ ăn, quần áo, xe cộ cho nên tuy làm triệu phú giàu có, tài sản đến tám triệu đồng tiền vàng, đó là chưa kể đến tiền bạc nhưng lại ăn cháo cũ, mặc vải cũ, đi xe xấu.
Chính vì tâm hối tiếc, bủn xin không dám tiêu xài nên chết đi bị vua chúa tịch thu tài sản. Cái tâm bủn xỉn, keo kiệt, hà tiện rất khủng khiếp, trải qua biết bao nhiêu kiếp nhưng vẫn không đoạn trừ được tâm này tuy rằng có phước, thọ; tưởng; hành thật sự rất ghê gớm, đó chính là ý nghiệp. Nếu không học pháp, không có chánh tri kiến để giải phá được những cảm thọ, suy nghĩ đó thì nó sẽ đi theo mình trong vô lượng vô biên kiếp, bảy lần lên thiên giới và bảy lần xuống nhân gian mà vẫn không hết được tâm bủn xỉn đó trong khi thời gian trên thiên giới là không thể so tính được.
Ác nghiệp giết cháu phải bị đọa vào địa ngục, sau khi trả ác nghiệp dưới địa ngục trong "nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều trăm ngàn năm" thì hậu quả dư tàn lại là "gia tài không con bảy lần phải nhập vào công khố của vua", cái phước bố thí còn xót lại là vẫn còn là đại gia, triệu phú nhưng vì cướp tài sản của người cháu nên đời nào sanh ra dù có tiền nhưng tiền bạc vẫn vào công khố của vua chúa, không hưởng được chút nào, bảy lần được làm đại gia, triệu phú thì bảy lần không có con và bảy lần bị tịch thu tài sản vào công khố vì tâm bố thí nhưng lại hối tiếc.
Tâm hối tiếc, keo kiệt không phải chỉ ở trong việc bố thí mà đời sống thường ngày cũng chất chứa những thọ; tưởng; hành hà tiện, bủn xỉn đó, cho nên dù lên thiên giới bao nhiêu lần, xuống địa ngục bao nhiêu lần, làm người bao nhiêu kiếp mà tâm bủn xỉn, keo kiệt, hà tiện đó vẫn không mất đi, như vậy mới gọi là nghiệp, tức là những suy nghĩ, cảm thọ đã quen như vậy rồi trừ khi nào học pháp để phá vỡ suy nghĩ, cảm thọ đó.
Chính vì vậy như lý tác ý có công năng rất khủng khiếp, nó giúp đánh phá, diệt trừ những suy nghĩ xấu ác, phải dùng tác ý đánh đuổi suy nghĩ tham lam, keo kiệt đó. Chẳng những dùng tác ý đánh đuổi mà còn dùng lời nói, hành động để diệt trừ những pháp xấu đó, cái nào quá ham thích thì đem cái đó ra cúng dường cho nên như lý tác ý là tuyệt diệu tối thượng nên mới giải phá được những cảm giác, nghĩ tưởng đó.
Mình với người đó quen lúc còn trẻ, mười lăm năm sau gặp lại nhau nghĩ rằng thời gian lâu chắc người đó có nhiều sự thay đổi vậy mà gặp rồi mới thấy cử chỉ, hành động, tánh tình vẫn y như lúc xưa, không hề thay đổi gì cả, hoặc là bốn mươi năm sau gặp lại nghĩ rằng lớn tuổi nên chắc đổi tánh rồi vậy mà hóa ra cũng vẫn như vậy, tóc có bạc, mắt mờ, lưng còng gối mỏi, sắc tướng thay đổi nhưng thọ; tưởng; hành; thức vẫn không thay đổi cho nên mới có câu "giang sơn dễ đổi, bán tánh khó dời".
Giang sơn là cả đất nước dễ thay đổi nhưng bản tánh bên trong khó dời vì sự nắm chặt trong những cảm thọ, suy nghĩ, hình bóng, nhận thức đó, minh chứng là sự keo kiệt, bủn xỉn kéo dài, nắm chặt trong thân tâm từ lúc lên thiên giới, xuống địa ngục rồi trở lại cõi người vẫn không hết tính bủn xỉn, hà tiện vì thế tu để giải phá thọ; tưởng; hành là cả một sự để tâm, là cả một sự giải phá, công phá, nếu không sau bao nhiêu năm tánh tình vẫn vậy, rất khó thay đổi, vì thế dù đứa con đã trở thành lãnh đạo nhưng cha mẹ nhìn vào vẫn là đứa con nít cho nên con có lớn thế nào đi nữa vẫn cứ quản lý nó thành ra nó không thích nữa, tu là đưa thiện pháp vào để đánh đổi bất thiện pháp ra khỏi thân tâm, đổi xan tham bằng sự bố thí, cúng dường, sự san sẻ, giúp đỡ, học được những cái này giúp ích rất nhiều trong cuộc sống của mình cho nên có rất nhiều pháp để tu học, thực tập, vừa tác ý bên trong, vừa là những lời nói, hành động bên ngoài để trị những bất thiện pháp đó nhằm thay đổi con người.
Câu nói "giang sơn dễ đổi, bán tánh khó dời" không phải là chân lý vì nếu là chân lý thì không ai tu được hết, mình dùng câu này để thể hiện việc thay đổi tính nết là một điều rất khó, phải bỏ rất nhiều công sức vào đó, nỗ lực tu tập chứ không phải lấy câu nói đó ra làm lý do không sửa đổi tính nết, như vậy là tà kiến chứ không phải chánh kiến, mình nói câu đó để thấy khó nhằm nỗ lực, cố gắng sửa đổi chứ không phải nói ra để thấy khó rồi không sửa tánh luôn, cho nên cũng một câu nói nhưng mình hiểu theo tích cực thì nó là tích cực, còn hiểu theo tiêu cực là đi theo hướng tiêu cực.
"Thưa Ðại vương, đối với người triệu phú gia chủ này, các công đức cũ bị đoạn diệt và công đức mới chưa được chứa cất thêm. Và nay, thưa Ðại vương, người triệu phú gia chủ đang bị nung nấu trong địa ngục Mahàroruva".
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, II. Phẩm Thứ Hai, X. Không Con)
Công đức cũ đã hết rồi, công đức mới không có thêm. Vị vua này đi lấy tài sản của người đàn ông không con, đi ngang nên ghé vào thăm Đức Phật thì Đức Phật hỏi đại vương đi đâu giữa trưa nắng. Đại vương kể lại cho Đức Phật nghe mình đi tịch thu tài sản của người đàn ông vừa chết không có con tổng cộng là tám triệu đồng tiền vàng, chưa kể tiền bạc, Đức Thế Tôn kể cho đại vương nghe hiện tại bây giờ ông triệu phú đó đang ở địa ngục. Thật là khủng khiếp, phàm phu làm sao biết được điều này, lúc còn sống là triệu phú giàu có sung túc, vậy mà khi chết đi phải xuống dưới địa ngục, vì thế không ai biết được đời sau của mình ngoài việc tu tập thiện pháp.
"-- Bạch Thế Tôn, như vậy người triệu phú gia chủ đã sanh vào địa ngục Mahàroruva?
-- Thưa Ðại vương, như vậy người triệu phú gia chủ đã sanh vào địa ngục Mahàroruva.
Lúa, tài sản, vàng bạc,
Hay mọi vật sở hữu,
Nô tỳ và lao công,
Các mạng sống tùy thuộc,
Vị ấy phải ra đi,
Không đem theo được ai,
Tất cả phải bỏ lại,
Khi ra đi một mình.
Chỉ có các hành động,
Về thân, miệng và ý.
Mới thật thuộc vị ấy,
Mang theo khi ra đi,
Nghiệp ấy theo vị ấy,
Như bóng không rời hình.
Do vậy hãy làm lành,
Tích lũy cho đời sau,
Công đức cho đời sau,
Làm hậu cứ cho người".
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, II. Phẩm Thứ Hai, X. Không Con)
Lúa, gạo, tiền bạc, nhà cửa, bà con, nô tì, lao công đều không đem theo được một cái gì, ra đi một mình nhưng chỉ có những suy nghĩ, lời nói, hành động của thân – miệng – ý, ba nghiệp mới thật sự thuộc về vị đó. Những gì vị đó đã làm, những hình bóng lưu giữ trong tâm, những cảm xúc, cảm thọ chất chứa trong thọ, những suy nghĩ, những lời nói lầm thầm trong hành, những nhận thức trong thức uẩn, cái nghiệp thân – miệng – ý và thọ, tưởng, hành đi theo vị ấy khi ra đi như bóng không rời hình. Hậu là về sau, cứ là chỗ dựa, hậu cứ nghĩa là chỗ dựa về sau cho mình, tức là công đức, "do vậy hãy làm lành, tích lũy cho đời sau, công đức cho đời sau, làm hậu cứ cho người".
Khi ra đi chỉ một mình, không đem theo được bất kì cái gì, bất kì ai ngoài những hành động, nghĩ tưởng của mình, cho nên hãy tích lũy công đức, hãy làm lành, làm thiện, tích lũy thiện pháp. Ở đây cần nhớ Thế Tôn nói rằng công đức cũ đã hết, công đức mới chưa được bao nhiêu nên cần phải làm lành, làm thiện, giúp đỡ mọi người, tích lũy công đức, phước báo về sau, lấy cái đó làm chỗ dựa cho mình trong đời sau.
Hôm nay chúng ta học hai bài kinh Không con với nội dung nói về vị đại gia bủn xỉn, keo kiệt. Bài kinh này liên hệ đến nhiều sự việc đời thường rất thật, nhân quả của thiện và ác rất minh bạch, công chánh, công bằng. Trong từng hành động hoặc ý niệm đều có nhân quả, thứ nhất ông này bố thí một bữa ăn cho một vị Bích-chi Phật nhưng khi bố thí rồi lại có tâm hối tiếc, nghĩa rằng thà đem thức ăn đó cho người làm trong nhà tốt hơn cho vị Sa-môn kia. Hai sự việc này có nhân quả khác nhau rất rõ ràng, bố thí bữa ăn cho vị Bích-chi Phật được bảy lần sanh lên cõi trời, phước dư lại sanh lên nhân gian bảy lần làm triệu phú, sau đó ý niệm hướng về sự bủn xỉn, hướng về những thức ăn thấp kém thì lời nói, ý niệm này đưa lại quả báo trong nhiều đời sau vị này phải sử dụng những đồ thấp kém dù là giàu có. Sau đó vị này giết đứa cháu để giành tài sản thừa kế, nghiệp ác này phải mang quả báo xuống địa ngục.
Qua đây chúng ta thấy việc nào ra việc đó, nhân quả của việc bố thí, sự tiếc nuối có quả báo phải ăn cháo chua, mặc đồ cũ, sát sanh có quả báo là sanh ra bảy lần đều không có con thừa hưởng gia tài, cướp tài sản người ta có quả báo là sanh ra bảy lần dù giàu có nhưng đều bị vua chúa tịch thu của cải. Phước có quả của phước, tội có quả của tội, cho nên Đức Phật khuyến khích làm việc lành, làm các việc công đức để có chỗ dựa cho đời sau và câu nói chúng ta cần nhớ là "các công đức cũ bị đoạn diệt và công đức mới chưa được chứa cất thêm" cho nên ông này đang ở dưới địa ngục.
Qua bài kinh này chúng ta thấy được nhân quả của nhà triệu phú bủn xỉn và ác độc, nhân quả của bố thí, cúng dường, phước báo. Tội phước và nhân quả rất công bằng, chánh trực để chúng ta cẩn thận trong ba nghiệp thân – miệng – ý. Ra đi một mình không đem theo được một cái gì ngoài ba nghiệp thân – miệng – ý, chúng theo mình như bóng với hình. Những Phật tử đang ở trong tâm dịch, tự thân mình và gia đình có những người bệnh, mất, hoàn cảnh rất xót ra, đau khổ nhưng nhờ chúng ta bám chặt vào chiếc phao của chánh pháp, ngọn đèn của trí tuệ thì quý vị cũng phần nào được vững tâm, tin tưởng mạnh mẽ vào tam bảo, tin tưởng vào thiện pháp, việc lành, tin tưởng vào nhân quả.
Minh Thành thấy thật tốt lành thay, phước báo thay cho quý vị, lợi ích thay cho quý vị, quý vị tiếp tục vững tâm tin chắc vào những lời dạy của Đức Phật, vững tâm tin chắc vào chánh pháp, vào tam bảo trong những hoàn cảnh khó khăn này, quý vị vững trú vào pháp mới có thể giúp cho mình, giúp cho nguòi thân của mình, đừng để những hoàn cảnh bên ngoài tác động nhiều. Mình có sự bình tĩnh, an ổn, sáng suốt, tỉnh giác chánh niệm thì mới biết được cái gì nên làm, cái gì không nên làm và làm như thế nào để tự thân mình được an ổn và giúp đỡ những người thân, gánh vác gia đình. Mong rằng tất cả quý vị luôn luôn bình tâm, tỉnh trí, chánh niệm tỉnh giác để qua được giai đoạn khó khăn này bằng ánh sáng tuệ giác, sự thật tối thượng mà Đức Thế Tôn truyền trao cho chúng ta, đừng để ngọn đèn trí tuệ bị lu mờ, hãy châm dầu thường xuyên, làm cho ánh sáng nội tâm được tỏa rạng mới có thể giúp đỡ người thân trong gia đình và những người xung quanh.
Song song đó cần trải tâm từ thường xuyên, tác ý, quán chiếu thường xuyên trong Khổ Thánh Đế. Tất cả chư Tăng Ni một lòng hướng về cầu nguyện để quý vị tịnh tín bất động trong thiện pháp, tịnh tín bất động trong giáo pháp, tịnh tín bất động trong Thánh pháp và luôn sống trong tâm từ, sống trong tâm thấu hiểu những khổ đau của mình, khổ đau của người, bao dung, tha thứ, sớt chia, gánh vác. Bằng tất cả tấm lòng chân thành của quý Tăng Ni trải cảm thọ bình an, an lạc, hiểu thương này, mong rằng tất cả quý vị sống torng ánh sáng từ bi, trí tuệ, an lạc, hiểu thương này, mong rằng tất cả quý vị sống trong ánh sáng chánh pháp, từ bi, trí tuệ để được an lạc cho mình, cho người, cho gia đình quý vị. Mong rằng quý vị luôn sống trong cảm thọ hiểu thương này, bình an này, trí tuệ này để được lợi lạc.
./.
TƯƠNG ƯNG KOSALA 7
TRIỆU PHÚ KEO KIỆT - ÁC ĐỘC
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Tác hại của bủn xỉn PAGEREF _Toc113979602 \h 1
II. Tài sản bậc Chân nhân PAGEREF _Toc113979603 \h 3
III. Sử dụng tài sản sáng suốt PAGEREF _Toc113979604 \h 6
IV. Triệu phú keo kiệt PAGEREF _Toc113979605 \h 10
I. Tác hại của bủn xỉn
Chúng ta nghe tiếp về Tương Ưng Kosala, bài kinh Không con.
"Nhân duyên ở Sàvatthi.
Rồi vua Pasenadi nước Kosala, vào buổi trưa đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với vua Pasenadi nước Kosala đang ngồi một bên:
-- Thưa Ðại vương, Ðại vương đi từ đâu đến trong giữa trưa như thế này?
-- Ở đây, bạch Thế Tôn, có triệu phú gia chủ ở Sàvatthi bị mệnh chung, và con đến để xem tài sản của vị không có con ấy được chở vào nội thành. Bạch Thế Tôn, có đến tám triệu đồng tiền vàng, không nói đến tiền bằng bạc. Bạch Thế Tôn, tuy vậy đồ ăn của triệu phú gia chủ ấy lại chỉ gồm có cháo tấm chua ngày hôm qua để lại. Còn vải mặc chỉ mang vải gai may thành ba tấm. Còn xe thì đi xe nhỏ, cũ kỹ và hư nát, có gắn tán che bằng lá.
-- Thật như vậy, thưa Ðại vương! Thật như vậy, thưa Ðại vương! Một kẻ không phải Chân nhân, thưa Ðại vương, dầu cho có được tài sản lớn không đem lại an lạc cho mình, không đem lại an lạc cho cha mẹ, không đem lại an lạc cho vợ con, không đem lại an lạc cho các người phục vụ, cho các người làm công hoan hỷ, không đem lại an lạc cho bạn bè thân hữu; đối với các vị Sa-môn, Bà-la-môn, không thiết trí các sự cúng dường hướng thượng, có khả năng đưa lên thượng giới, đưa đến lạc quả, hướng đến Thiên giới. Các tài sản của người ấy nếu không thọ dụng chơn chánh, thời vua chúa sẽ cướp đoạt, hay trộm cắp cướp đoạt, hay bị lửa đốt, hay bị nước cuốn trôi, hay bị con cháu thừa tự thù nghịch cướp đoạt. Sự việc là như vậy, thưa Ðại vương, các tài sản nếu không thọ dụng chơn chánh, đưa đến tổn giảm, không đưa đến thọ hưởng".
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, II. Phẩm Thứ Hai, IX. Không Con)
Chân nhân là một người thật sự là người, nếu một người không phải là chân nhân thì dù cho họ có là đại gia, tỷ phú cũng không biết chia sẻ, giúp đỡ bất kì ai, ngay cả bản thân họ cũng không dám ăn, không dám mặc, đi xe hư cũ thì làm sao họ có thể giúp đỡ bất kì ai, làm sao có thể phụng sự cho cha mẹ, giúp đỡ anh em, bà con, ở đây nói lên tính bủn xỉn, keo kiệt, xan tham. Họ quá keo kiệt như thế nên làm sao họ có thể cúng dường, bố thí, họ sống quá ích kỷ, chỉ biết gom góp, thu vào cho bản thân chứ không biết đưa ra, không biết giúp đỡ, san sẻ, sớt chia, không biết cúng dường, không biết bố thí cho những bậc tu hành đức độ Sa-môn, Bà-la-môn.
Họ không biết sử dụng tài sản của họ một cách đúng đắn, chân chánh, không biết dùng đúng chỗ sẽ bị vua chúa cướp đoạt, chết rồi để lại tám triệu đồng tiền vàng, con số này ngày xưa thật sự rất lớn, với số tài sản như vậy mà không biết dùng đúng cách, không có tâm từ ái, không có tâm từ thiện, bố thí, giúp đỡ người thân trong gia đình chứ đừng nói gì đến cúng dường, cho nên Đức Phật mới nói "các tài sản của người ấy nếu không thọ dụng chơn chánh, thời vua chúa sẽ cướp đoạt, hay trộm cắp cướp đoạt, hay bị lửa đốt, hay bị nước cuốn trôi, hay bị con cháu thừa tự thù nghịch cướp đoạt".
Thứ nhất tài sản sẽ bị vua chúa cướp đoạt, thứ hai sẽ bị trộm cắp cướp đoạt, thứ ba sẽ bị lửa đốt, thứ tư là bị nước cuốn trôi và cuối cùng là bị tranh giành, xâu xé bởi con cháu, lịch sử đã ghi lại không biết bao nhiêu lần con cháu, thái tử, hoàng tử mưu mô giành ngôi báu, tài sản thừa kế, vua A-xà-thế giết cha cướp ngôi vua, vì không có nhân đức, từ tâm, phước báo bao bọc, bảo vệ cho nên tài sản đó bị năm nhà cướp đoạt, tịch thu.
Gom góp, tích lũy, chất chứa tài sản không dám ăn, không dám mặc vậy mà bà hỏa đi ngang qua là thiêu rụi mọi thứ hoặc gặp một trận sóng thần, bão lũ là cuốn hết mọi thứ, chỉ trong một đêm nước cuốn trôi trắng tay, giữ được mạng sống đã là một điều may mắn cho nên tiền bạc, tài sản rất vô thường, mong manh, tạm bợ, nếu mình không biết sử dụng đúng cách, đúng chỗ sẽ bị năm trường hợp này lấy mất hết. "Sự việc là như vậy, thưa Ðại vương, các tài sản nếu không thọ dụng chơn chánh, đưa đến tổn giảm, không đưa đến thọ hưởng", nó là lẽ đương nhiên của cuộc đời này. "Sự việc là như vậy, thưa Ðại vương, các tài sản nếu không thọ dụng chơn chánh, đưa đến tổn giảm, không đưa đến thọ hưởng".
Nếu không biết dùng thì tài sản sẽ bị tổn giảm chứ không đưa đến thụ hưởng cho bản thân người đó trong hiện tại, tương lai và cả những người xung quanh, vì bị lửa thiêu rụi, bị trộm cắp hết rồi làm sao mà thọ hưởng, bị tịch thu thì làm sao thọ hưởng, không biết san sẻ cho người khác nên làm sao những người xung quanh thọ hưởng, tự thân họ bủn xỉn nên ăn đồ thiu, mặc vải thô, đi xe cũ, xe hư là tự thân họ đã không hưởng rồi người thân xung quanh như cha mẹ, anh chị em họ cũng không được hưởng, lại còn bị lửa, bão lũ, trộm cắp mất tài sản, bị vua chúa tịch thu, bị những người con cháu tranh giành, thậm chí trở thành nguyên nhân để đấu đá, huynh đệ tương tàn. Cũng như hai con chó đang chơi với nhau, chỉ cần quăng cục xương xuống là hai con sủa nhau, cắn lộn nhau để tranh giành cục xương đó, cục xương đó đại diện cho tiền bạc, của cải.
II. Tài sản bậc Chân nhân
Cho nên khi biết sử dụng đúng tài sản sẽ tuyệt vời, còn không biết sử dụng là đưa đến tổn giảm chứ không đưa đến thọ hưởng, cũng không biết cúng dường, bố thí cho các vị có giới đức tu hành, hoặc những vị làm lợi lạc cho mọi người nên không có phước báo, đời này họ không được thụ hưởng và đời sau cũng không được thụ hưởng, nếu họ đem tài sản đi san sẻ, sớt chia, cúng dường, làm biết bao việc thiện thì tự thân họ được thụ hưởng, người thân được thụ hưởng và đời sau sanh ra họ lại tiếp tục thụ hưởng, có lợi ích cho cả đời này và đời sau.
"Ví như, thưa Ðại vương, một hồ nước tại chỗ vắng người, với nước trong sáng, với nước mát lạnh, với nước dịu ngọt, với nước trắng tinh, với bờ bến tốt đẹp và khả ái. Nhưng không có người đến gánh nước, hay uống nước, hay tắm, hay sử dụng hồ nước ấy vào bất cứ công việc gì. Như vậy, thưa Ðại vương, nước ấy không được thọ dụng chơn chánh sẽ đưa đến tổn giảm, không đưa đến thọ hưởng. Cũng vậy, thưa Ðại vương, một kẻ không phải Chân nhân, dầu cho có được tài sản lớn, không đem lại an lạc cho mình... ... Sự việc là như vậy, thưa Ðại vương, các tài sản nếu không thọ dụng chơn chánh, đưa đến tổn giảm, không đưa đến thọ hưởng".
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, II. Phẩm Thứ Hai, IX. Không Con)
Một hồ nước vừa trong vừa sạch lại vừa đẹp mà không có ai đến gánh nước về uống, cũng không có ai dùng nước đó để tắm giặt, nấu ăn, bỏ không hồ nước đó, như vậy nước đó sẽ cạn, tổn giảm chứ không thọ dụng, hưởng thụ được. Cũng vậy, dù cho có tài sản to lớn không đem đến niềm vui cho ai, không đem lại an lạc cho mẹ, cho cha, cho ông, cho bà, cho vợ, cho con, cho chị em, anh em, không đem lại niềm vui cho những người thấp kém, nô bộc, tùy tùng, không đem lại sự hướng thượng cho đời sống của họ bằng cách bố thí, cúng dường cho những bậc có đạo hạnh, có đức hạnh.
"Và bậc Chân nhân, thưa Ðại vương, có được tài sản lớn, đem lại an lạc cho mình, đem lại an lạc cho cha mẹ, đem lại an lạc cho vợ con, đem lại an lạc cho người phục vụ, cho người làm công, đem lại an lạc cho bạn bè thân hữu; đối với các vị Sa-môn, Bà-la-môn, thiết trí các sự cúng dường hướng thượng, có khả năng thăng lên thượng giới, đưa đến lạc quả, hướng đến Thiên giới. Các tài sản của người ấy được thọ dụng chơn chánh, thời vua chúa không cướp đoạt, hay trộm cắp không cướp đoạt, hay không bị lửa đốt, hay không bị nước cuốn trôi, hay không bị con cháu thừa tự thù nghịch cướp đoạt. Sự việc là như vậy, thưa Ðại vương, các tài sản nếu thọ dụng chơn chánh, sẽ đưa đến thọ hưởng, không đưa đến tổn giảm".
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, II. Phẩm Thứ Hai, IX. Không Con)
Đối với những bậc chân nhân, những người có tình thương, từ tâm những người thật sự là người biết tu học giáo pháp mà có tài sản lớn sẽ "đem lại an lạc cho mình, đem lại an lạc cho cha mẹ, đem lại an lạc cho vợ con, đem lại an lạc cho người phục vụ, cho người làm công, đem lại an lạc cho bạn bè thân hữu". Ở đây có hai vế chúng ta cần chú ý, thứ nhất là đem lại niềm vui, niềm hạnh phúc bằng sự chia sẻ, giúp đỡ những người trong gia đình, những người gần gũi, những người phục vụ và bạn bè. Thứ hai là sử dụng tài sản chân chánh, đúng đắn đối với những bậc tu hành, khi nãy là giúp đỡ những người ngang hàng hoặc thấp hơn mình hoặc là trong gia đình mình, còn bây giờ là "thiết trí các sự cúng dường hướng thượng, có khả năng thăng lên thượng giới".
Đức Thế Tôn gọi đây là sự cúng dường hướng thượng. Cúng dường nghĩa là cung cấp và nuôi dưỡng, đọc đúng phải là "cung dưỡng" nhưng chúng ta thường đọc trại thành "cúng dường", cung cấp và nuôi dưỡng những bậc tu hành, những bậc rời xa trần tục, thế vật của cuộc đời để hướng tâm về sự giải thoát, sự mong cầu giác ngộ và mình cung cấp, nuôi dưỡng cho những bậc đó, như vậy Thế Tôn gọi là "thiết trí các sự cúng dường hướng thượng, có khả năng thăng lên thượng giới, đưa đến lạc quả, hướng đến Thiên giới".
Thượng giới là những cảnh giới cao cấp, tức là đỉnh cao cảnh giới của loài người và những cảnh giới của chư thiên, cao nhất trong chư thiên chính là Tịnh Cư Thiên, đó là cảnh giới của bậc Bất Lai, Thánh quả thứ ba, đó là chỗ chờ cuối cùng để sạch hết các lậu hoặc, diệt tận vô minh, tham ái và chứng quả vị sau cùng là A-la-hán, cho nên chữ "thiên giới" bao gồm rất nhiều cảnh giới nhưng cảnh giới tối cao của thiên giới trong hàng Thánh đệ tử là Tịnh Cư Thiên. Tịnh là thanh tịnh, cư là cư trú, là chỗ cư trú của các bậc thanh tịnh, các vị chư thiên khi ở đó là những vị Thánh đệ tử thiên, đã hoàn toàn sạch hết tham sân không còn trở lại đời này nữa.
Sự cúng dường này sẽ đưa đến kết quả vui sướng trong hiện tại và cả đời sau, hướng đến thiên giới, thiên giới ở đây bao trùm cả phước hữu lậu và phước vô lậu vì trong chư thiên lại chia ra hai bậc là Thánh đệ tử thiên và phàm phu thiên. Các Phật tử hỏi bố thí, cúng dường như thế nào mới đúng pháp thì hãy nghe bài hôm nay và bài "Nhà cháy, lấy đồ ra", trong đó Đức Phật chỉ cách bố thí, cúng dường đúng pháp. Khi tài sản được sử dụng đúng pháp thì "vua chúa không cướp đoạt, hay trộm cắp không cướp đoạt, hay không bị lửa đốt, hay không bị nước cuốn trôi, hay không bị con cháu thừa tự thù nghịch cướp đoạt", sau đó Đức Phật ví dụ lại hình ảnh hồ nước.
"Ví như, thưa Ðại vương, một hồ nước không xa làng mạc hay thị trấn, với nước trong sáng, với nước mát lạnh, với nước dịu ngọt, với nước trắng tinh, với bờ bến tốt đẹp và khả ái. Và có người đến gánh nước, hay uống nước, hay tắm, hay xử dụng hồ nước ấy vào bất cứ công việc gì. Như vậy, thưa Ðại vương, nước ấy được thọ dụng chơn chánh, sẽ đưa đến thọ hưởng, không đưa đến tổn giảm. Cũng vậy, thưa Ðại vương, một bậc Chân nhân khi được tài sản lớn, đem lại an lạc cho mình... ... Sự việc là vậy, các tài sản được sử dụng chơn chánh, sẽ đưa đến thọ hưởng, không đưa đến tổn giảm".
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, II. Phẩm Thứ Hai, IX. Không Con)
Hồ nước trong sạch, mát lạnh, mọi người đến đó lấy nước uống, tắm giặt, khi nước được sử dụng chân chánh sẽ đưa đến thọ hưởng chứ không đưa đến tổn giảm.
"Như nước trong tươi mát,
Nằm tại chỗ không người,
Không người uống, người dùng,
Ði đến chỗ tổn giảm;
Cũng vậy là tài sản,
Kẻ hạ liệt có được,
Không tự mình thọ hưởng,
Lại không cho một ai.
Kẻ trí tuệ sáng suốt,
Tài sản thâu hoạch được,
Biết thọ dụng, phục vụ,
Với bà con, đoàn thể,
Trở thành như ngưu vương,
Nuôi dưỡng và giúp đỡ,
Vô tội khi bị chết,
Ðược sanh lên Thiên giới".
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, II. Phẩm Thứ Hai, IX. Không Con)
Người có trí tuệ sáng suốt, làm lụn để thu hoạch được tài sản thì người ta biết sử dụng tài sản thông minh, khéo léo với bà con, đoàn thể, nghĩa là giúp đỡ khi người khác gặp khó khăn, nguy nan. Sư bà Chứng Nghiêm ở Đài Loan thành lập bệnh viện rất lớn, lúc sư bà còn nhỏ chứng kiến cảnh tượng một thai phụ trẻ đến bệnh viện xin vào để sanh nhưng vì không có tiền nên không được nhận vào, sư bà bị ấn tượng sâu sắc nên sau này sư bà thành lập một bệnh viện lớn ở Hoa Liên.
III. Sử dụng tài sản sáng suốt
Ở Đài Loan có bốn nhánh lớn gọi là Tứ Đại Thiên Vương của Phật giáo, đó là Pháp Cổ Sơn, Phật Quang Sơn, Trung Đài Thiền Tự và Từ Tế - làm từ thiện, giúp đỡ mọi người. Người ta đau đớn chuẩn bi sanh đẻ mà không có tiền là không được vào bệnh viện, bây giờ có những trường hợp nghèo không tiền đi bệnh viện nên chết ở nhà, vì đồng tiền có thể cứu mạng người ta và cũng vì đồng tiền có thể giết chết mạng sống người ta, đây là việc khéo léo và không khéo léo sử dụng đồng tiền, tiền có thể kiếm lại được nhưng khi đã mất mạng thì làm sao tìm lại được nữa, tục ngữ có câu: "Dù xây chín bậc phù đồ, không bằng làm phúc cứu cho một người" nhằm đề cao giá trị nhân văn giúp đỡ người khác một cách trực tiếp thì tốt hơn là xây dựng những gì mang tính hình thức theo tôn giáo, như vậy chỉ vì đồng tiền mà để người khác phải chết.
"Kẻ trí tuệ sáng suốt,
Tài sản thâu hoạch được,
Biết thọ dụng, phục vụ,
Với bà con, đoàn thể,
Trở thành như ngưu vương,
Nuôi dưỡng và giúp đỡ,
Vô tội khi bị chết,
Ðược sanh lên Thiên giới".
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, II. Phẩm Thứ Hai, IX. Không Con)
Ngưu vương là con trâu chúa, thời Đức Phật hay ví dụ bằng từ này, nghĩa là đem lại lợi ích cho mọi người. Nếu không biết sử dụng đồng tiền đúng cách là nguy hiểm, có thể mất mạng, còn biết sử dụng đồng tiền sẽ mang lại lợi ích cho rất nhiều người, cứu mạng được nhiều người. Đã có biết bao bài nhạc, bao khúc ca, câu chuyện viết về đồng tiền, tiền chỉ là tờ giấy nhưng làm mờ mắt mọi người, ngoài ra còn thêm keo kiệt, bủn xỉn, hà tiện.
Tiền mục lúa hư, không cứu đói rét;
Lụa là chất đống, nào có giúp ai.
Được người mấy trăm, chưa cho là nhiều;
Mất mình một đồng, tưởng như hao lớn.
Trên từ châu báu, dưới đến tơ gai;
Kho đụn chất đầy, chưa từng bố thí.
Bao nhiêu sự việc, ngày tính đêm lo;
Khổ tứ lao thần, đều từ tham nghiệp.
(Sám hối sáu căn)
Chẳng thà để tiền mục, lúa hư chứ không cứu sự đói rét, đồ ăn để hư chứ không cho ai, đồ đạc để hư nát, mục rữa nhưng người cần lại xin vẫn không cho, để trong hốc trong xó nhưng ai đụng đến là không cho, đó là người keo kiệt. Khi đi trên xe hay thấy người già đến chìa tay ra xin, trong túi mình có tiền, mình không cho nhiều thì cũng cho được những đồng lẻ, hoặc đang ăn nhưng có người đến xin thì cứ chia sẻ, mình có dư dầu gió người ta bệnh cảm thì chia cho người ta dầu, viên thuốc, người ta lạnh giá áo quần rách nát mà mình có dư thì hãy chia cho họ, không cần họ phải xin mà mình để ý sẽ thấy ngay, trong huynh đệ, đại chúng hoặc những người bên ngoài mình thấy thì hỏi thăm đồ mặc đủ không, có áo ấm không, có tất vớ mang không, đó là bậc chân nhân, đó là sống với tâm từ ái, biết sử dụng đem lại lợi ích cho mình và cho người. Bây giờ để tiền trong tủ không đem lại lợi ích cho ai cả, để lâu bị hư bị mục, có quần áo dư thì đem ra chia cho người đang cần, thuốc men cũng vậy, đồ ăn cũng vậy, mọi thứ đều cần chia sẻ, mình càng chia nhiều chừng nào thì mình càng có lợi nhiều chừng đó.
Xin hãy cứ cho, hãy cứ cho!
Niềm vui nho nhỏ cứ đem cho
Có người thí vật, người thí pháp
Cái gì thí được, cứ đem cho…
Xin hãy cứ cho, hãy cứ cho!
Những lời hòa ái cứ đem cho
Cho lời an ổn, lời an lạc
Người an, ta ổn, xin hiểu cho!
Xin hãy cứ cho, hãy cứ cho!
Tấm lòng từ ái cứ đem cho
Một ngày nào đó, thôi ngưng thở
Giấc mộng tan rồi, chớ vấn vương.
(Cửa vào bất tử - Chơn Tín Toàn)
Ngày xưa ông nội Minh Thành rất hay làm phước, đến ba Minh Thành là thầy Pháp An cũng làm phước, mình thừa hưởng được tinh thần đó nên làm phước được thấy rất vui. Minh Thành về Tây Ninh được ba lần để hốt thuốc cho bà Năm là mẹ Minh Thành, người thầy thuốc nam này không lấy tiền của ai bao giờ, mình lấy chín mươi thang thuốc mà họ không lấy đồng bạc nào, mình mời người làm trong đó một ly nước uống cũng không nhận, mua đồ ăn vào cũng không nhận, người ta chỉ thuần túy làm công quả thôi.
Minh Thành năn nỉ xin hỗ trợ tiền đi tìm thuốc nam đến lần thứ năm, đúng duyên chiếc xe chở cây thuốc về, trong vòng một hai năm người ta mới chở về một hai xe thuốc như vậy thôi, được thầy thuốc đồng ý nên trong túi có bao nhiêu tiền Minh Thành lấy ra hết cúng dường chiếc xe thuốc hai mươi triệu, mình cảm thấy vui mừng vì biết bao người cần uống thuốc này, cứu giúp được nhiều người.
Có nhiều Phật tử ở xa gửi về làm từ thiện mổ mắt giúp người nghèo, đồng tiền biết làm phước rất tuyệt vời, nhất là với những người trong gia đình mình trước, là cha mẹ, anh chị em, bà con thân quyến, sau đó đến những bậc tu hành tam bảo, những người nghèo khổ mà mình thấy, đã tiếp xúc, đừng bỏ qua họ, người ta đến xin mình mà mình không cho lại đi từ thiện ở nơi xa xôi, người ta đến tìm mình là người ta đang cần nên ít nhiều hãy giúp đỡ họ dù chỉ chút ít.
Cho người ta gánh vài đôi nước trong cái hồ đó rồi tự nhiên nước sẽ có trở lại, không dùng thì nước cạn kiệt nhưng dùng thì nước sẽ tự động chảy ra lại. Đồng tiền được sử dụng bằng từ tâm, bằng tình thương, bằng sự san sẻ, sớt chia sẽ rất đẹp và vui mừng, suy nghĩ trước khi làm đã thấy vui rồi, trong khi đang làm cũng thấy vui, sau khi làm xong mình nhớ lại những điều mình đã bố thí, cúng dường, giúp đỡ mình thấy hoan hỉ, hân hoan, Đức Phật gọi là người biết thọ hưởng ngay trong đời này và đời sau.
Đối với những người làm công cho mình hoặc những người phục vụ trong gia đình, có đồ ăn là phải cho người ta, có gì thì hãy sớt chia cho họ, những người lang thang ngủ dưới gầm cần, đi nhặt phế liệu, ve chai, đi bán vé số mà gặp mình thì hãy giúp đỡ họ, cuộc đời này đã quá đau khổ rồi nên mình hãy giúp đỡ cho họ dù chỉ một chút để cả hai đều có niềm vui, đừng sống mà chỉ biết nghĩ cho mình, hãy nghĩ đến những người xung quanh, nghĩ cho số đông, nghĩ cho cộng đồng, nghĩ cho toàn thể thế giới, làm được như vậy sẽ rất đẹp, phước báo sẽ không mất, nếu sanh ở nhân gian sẽ ở trên đỉnh cao của loài người, nếu sanh ở thiên thượng sẽ hưởng được thiên sắc, thiên phước.
Nếu ở trong Thánh pháp này sẽ thành tựu được Thánh trí tuệ cộng với phước đức mình có sẽ như con chim có hai cánh, như đại bàng, như máy bay cất cánh lên cao, còn bây giờ chỉ khăng khăng muốn tu trí tuệ thôi chứ không muốn làm gì khác sẽ như con chim có một cánh, không bay được cho nên phước huệ phải song tu, bi trí song vận thì mới cân bằng để dễ dàng tu học. Khi đã có phước rất dễ tu dễ học, dễ tiến bộ, đi đến đâu cũng thuận thảo, không có phước rất khổ, làm gì cũng bị chướng ngại, trắc trở, vào tu không bị vọng tưởng cũng buồn ngủ, hoặc không buồn ngủ, không vọng tưởng thì bị bệnh, không bệnh cũng gặp tai nạn, bị nhiều thứ làm chướng ngại trong sự tu, khi có phước tu dễ dàng, học gì cũng nhẹ nhàng, làm gì cũng thuận lợi, sau khi chết còn được sanh lên thiên giới để tiếp tục tu tập Thánh tuệ.
IV. Triệu phú keo kiệt
Bây giờ là một bài kinh Không con thứ hai ở góc độ khác.
"Rồi vua Pasenadi nước Kosala, giữa trưa, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với vua Pasenadi nước Kosala đang ngồi một bên:
-- Thưa Ðại vương, Ðại vương đi đâu lại giữa trưa như thế này?.
-- Ở đây, bạch Thế Tôn, có triệu phú gia chủ ở Sàvatthi bị mệnh chung. Và con đến để xem tài sản của vị không có con ấy được chở vào nội thành. Bạch Thế Tôn, có đến tám triệu đồng tiền vàng, không nói đến tiền bằng bạc. Bạch Thế Tôn, tuy vậy đồ ăn của vị triệu phú gia chủ ấy lại chỉ gồm có cháo tấm chua ngày hôm qua để lại. Còn vải mặc chỉ mang vải gai may thành ba tấm. Còn xe thì đi xe nhỏ cũ kỹ và hư nát, có gắn tán che bằng lá.
-- Thật như vậy, thưa Ðại vương. Thật như vậy, thưa Ðại vương. Thưa Ðại vương, vị triệu phú gia chủ ấy thuở xưa, đã bố thí đồ ăn khất thực cho một vị Bích-chi Phật tên là Tagarasikkhi. Vị ấy nói: 'Hãy bố thí cho vị Sa-môn'. Nói xong, vị ấy từ chỗ ngồi đứng dậy, rồi bỏ đi. Nhưng về sau, vị ấy hối tiếc, nói rằng: 'Tốt hơn, các người phục dịch hay làm công ăn đồ ăn khất thực này'. Và hơn nữa, vị ấy đoạt mạng sống người con độc nhất của người anh, vì tài sản của người ấy".
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, II. Phẩm Thứ Hai, X. Không Con)
Người có tám triệu đồng tiền vàng ăn cháo chua, mặc đồ cũ, đi xe hư, xấu xí có đời trước từng bố thí cúng dường cho một vị Bích-chi Phật tên là Tagarasikkhi. Bích-chi Phật là một vị Độc Giác, tức là sanh ra trong thời kì không có chánh pháp, không có bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, tự bản thân vị này nghiền ngẫm sự đau khổ của thế gian, nghiền ngẫm lý duyên sanh của các pháp và tự vị này chứng ngộ và vị này không có khả năng phổ độ chúng sanh một cách rộng lớn, ai có duyên thì vị này giúp đỡ trong nhân duyên của người đó thôi cho nên vị này được gọi là Độc Giác. Vị Độc Giác này sanh ra trong khời kì không có Thánh pháp cũng không có bậc Chánh Đẳng Giác, do sự tu tập từ nhiều đời nhiều kiếp đến đúng lúc chín muồi thể ngộ được chân lý nên trở thành Bích-chi Phật, vị Phật Độc Giác, tức là một vị Phật tự giác ngộ, không phải là bậc toàn giác Chánh Đẳng Chánh Giác. Ông đại gia ăn cháo chua, mặc vải cũ này trong những đời xa xưa trước đó đã cúng dường cho vị Bích-chi Phật này.
"Vị ấy nói: 'Hãy bố thí cho vị Sa-môn'. Nói xong, vị ấy từ chỗ ngồi đứng dậy, rồi bỏ đi", có thể ông ấy kêu người hầu hoặc những người tùy tùng bố thí cho vị Sa-môn đó nhưng thời gian sau ông lại hối tiếc với quyết định cúng dường này nên đã nói rằng "tốt hơn, các người phục dịch hay làm công ăn đồ ăn khất thực này", nghĩa là ông suy nghĩ lại phải chi cho những người làm công, tôi tớ trong gia đình còn hơn đi cho vị Sa-môn đó. "Vị ấy đoạt mạng sống người con độc nhất của người anh, vì tài sản của người ấy", người này giết cháu ruột để lấy tài sản của đứa cháu.
"Thưa Ðại vương, vì người triệu phú gia chủ ấy có bố thí đồ ăn khất thực cho vị Ðộc Giác Phật tên là Tagarasikkhi. Do kết quả hành động ấy, vị ấy được sanh bảy lần lên thiện thú, Thiên giới. Do kết quả dư hưởng còn lại, vị ấy được làm nhà triệu phú bảy lần ở Sàvatthi này".
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, II. Phẩm Thứ Hai, X. Không Con)
Chỉ cúng có một lần, đã vậy cúng xong rồi hối tiếc muốn lấy lại để cho người làm, làm công trong gia đình nhưng vẫn được bảy lần sanh lên cõi trời vì cúng đúng ngay vị Độc Giác Phật chứ không phải cúng cho người bình thường. Dư hưởng là kết quả sau khi hưởng xong bảy lần trên cõi trời còn xót lại thì được làm triệu phú bảy lần ở thành Xá-vệ. Một ngày trên cõi trời bằng cả trăm năm ở thế gian, một đời trên đó bằng biết bao ngàn tuổi dưới nhân gian, vậy mà được sanh lên đến bảy lần trên thiên giới, sau đó phước dư còn xót lại là sanh lên cõi người bảy lần làm triệu phú.
"Thưa Ðại vương, vì người triệu phú gia chủ ấy sau khi bố thí về, lại hối tiếc nói rằng: 'Tốt hơn, các người phục vụ hay làm công ăn đồ ăn khất thực này'. Do kết quả của hành động ấy, tâm của vị ấy hướng về các món ăn không được tốt đẹp, tâm của vị ấy hướng về các đồ mặc không được tốt đẹp, tâm của vị ấy hướng về các xe cộ không được tốt đẹp, tâm của vị ấy hướng về sự thọ hưởng năm dục công đức không được tốt đẹp".
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, II. Phẩm Thứ Hai, X. Không Con)
Vì tâm lúc đó hướng về sự tiếc nuối món ăn khi đã cho vị Sa-môn kia cho nên người đó hướng đến những thức ăn, đồ mặc, xe cộ không tốt đẹp.
"Thưa Ðại vương, vì người triệu phú gia chủ ấy đoạt mạng sống người con độc nhất của người anh, vì tài sản của người ấy. Do kết quả hành động của vị ấy, vị ấy bị nung nấu ở địa ngục nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều trăm ngàn năm. Do kết quả dư hưởng còn lại, gia tài không con bảy lần phải nhập vào công khố của vua. Thưa Ðại vương, đối với người triệu phú gia chủ này, các công đức cũ bị đoạn diệt và công đức mới chưa được chứa cất thêm. Và nay, thưa Ðại vương, người triệu phú gia chủ đang bị nung nấu trong địa ngục Mahàroruva".
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, II. Phẩm Thứ Hai, X. Không Con)
Người này đoạt mạng cháu mình là đứa con độc nhất của người anh để lấy tài sản nên bị nung nấu dưới địa ngục trong vạc dầu sôi, trong cột đồng cháy đỏ, trong những thành trì rực lửa "nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều trăm ngàn năm". Qua đây chúng ta thấy chuyện nào ra chuyện đó, cúng dường một bữa ăn đúng ngay Bích-chi Phật được phước báo sanh lên cõi trời bảy lần là phước dư xót lại là sanh xuống nhân gian bảy lần làm triệu phú. Sau đó cúng dường rồi lại hối tiếc, cái tâm hướng đến sự thấp kém của đồ ăn, quần áo, xe cộ cho nên tuy làm triệu phú giàu có, tài sản đến tám triệu đồng tiền vàng, đó là chưa kể đến tiền bạc nhưng lại ăn cháo cũ, mặc vải cũ, đi xe xấu.
Chính vì tâm hối tiếc, bủn xin không dám tiêu xài nên chết đi bị vua chúa tịch thu tài sản. Cái tâm bủn xỉn, keo kiệt, hà tiện rất khủng khiếp, trải qua biết bao nhiêu kiếp nhưng vẫn không đoạn trừ được tâm này tuy rằng có phước, thọ; tưởng; hành thật sự rất ghê gớm, đó chính là ý nghiệp. Nếu không học pháp, không có chánh tri kiến để giải phá được những cảm thọ, suy nghĩ đó thì nó sẽ đi theo mình trong vô lượng vô biên kiếp, bảy lần lên thiên giới và bảy lần xuống nhân gian mà vẫn không hết được tâm bủn xỉn đó trong khi thời gian trên thiên giới là không thể so tính được.
Ác nghiệp giết cháu phải bị đọa vào địa ngục, sau khi trả ác nghiệp dưới địa ngục trong "nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều trăm ngàn năm" thì hậu quả dư tàn lại là "gia tài không con bảy lần phải nhập vào công khố của vua", cái phước bố thí còn xót lại là vẫn còn là đại gia, triệu phú nhưng vì cướp tài sản của người cháu nên đời nào sanh ra dù có tiền nhưng tiền bạc vẫn vào công khố của vua chúa, không hưởng được chút nào, bảy lần được làm đại gia, triệu phú thì bảy lần không có con và bảy lần bị tịch thu tài sản vào công khố vì tâm bố thí nhưng lại hối tiếc.
Tâm hối tiếc, keo kiệt không phải chỉ ở trong việc bố thí mà đời sống thường ngày cũng chất chứa những thọ; tưởng; hành hà tiện, bủn xỉn đó, cho nên dù lên thiên giới bao nhiêu lần, xuống địa ngục bao nhiêu lần, làm người bao nhiêu kiếp mà tâm bủn xỉn, keo kiệt, hà tiện đó vẫn không mất đi, như vậy mới gọi là nghiệp, tức là những suy nghĩ, cảm thọ đã quen như vậy rồi trừ khi nào học pháp để phá vỡ suy nghĩ, cảm thọ đó.
Chính vì vậy như lý tác ý có công năng rất khủng khiếp, nó giúp đánh phá, diệt trừ những suy nghĩ xấu ác, phải dùng tác ý đánh đuổi suy nghĩ tham lam, keo kiệt đó. Chẳng những dùng tác ý đánh đuổi mà còn dùng lời nói, hành động để diệt trừ những pháp xấu đó, cái nào quá ham thích thì đem cái đó ra cúng dường cho nên như lý tác ý là tuyệt diệu tối thượng nên mới giải phá được những cảm giác, nghĩ tưởng đó.
Mình với người đó quen lúc còn trẻ, mười lăm năm sau gặp lại nhau nghĩ rằng thời gian lâu chắc người đó có nhiều sự thay đổi vậy mà gặp rồi mới thấy cử chỉ, hành động, tánh tình vẫn y như lúc xưa, không hề thay đổi gì cả, hoặc là bốn mươi năm sau gặp lại nghĩ rằng lớn tuổi nên chắc đổi tánh rồi vậy mà hóa ra cũng vẫn như vậy, tóc có bạc, mắt mờ, lưng còng gối mỏi, sắc tướng thay đổi nhưng thọ; tưởng; hành; thức vẫn không thay đổi cho nên mới có câu "giang sơn dễ đổi, bán tánh khó dời".
Giang sơn là cả đất nước dễ thay đổi nhưng bản tánh bên trong khó dời vì sự nắm chặt trong những cảm thọ, suy nghĩ, hình bóng, nhận thức đó, minh chứng là sự keo kiệt, bủn xỉn kéo dài, nắm chặt trong thân tâm từ lúc lên thiên giới, xuống địa ngục rồi trở lại cõi người vẫn không hết tính bủn xỉn, hà tiện vì thế tu để giải phá thọ; tưởng; hành là cả một sự để tâm, là cả một sự giải phá, công phá, nếu không sau bao nhiêu năm tánh tình vẫn vậy, rất khó thay đổi, vì thế dù đứa con đã trở thành lãnh đạo nhưng cha mẹ nhìn vào vẫn là đứa con nít cho nên con có lớn thế nào đi nữa vẫn cứ quản lý nó thành ra nó không thích nữa, tu là đưa thiện pháp vào để đánh đổi bất thiện pháp ra khỏi thân tâm, đổi xan tham bằng sự bố thí, cúng dường, sự san sẻ, giúp đỡ, học được những cái này giúp ích rất nhiều trong cuộc sống của mình cho nên có rất nhiều pháp để tu học, thực tập, vừa tác ý bên trong, vừa là những lời nói, hành động bên ngoài để trị những bất thiện pháp đó nhằm thay đổi con người.
Câu nói "giang sơn dễ đổi, bán tánh khó dời" không phải là chân lý vì nếu là chân lý thì không ai tu được hết, mình dùng câu này để thể hiện việc thay đổi tính nết là một điều rất khó, phải bỏ rất nhiều công sức vào đó, nỗ lực tu tập chứ không phải lấy câu nói đó ra làm lý do không sửa đổi tính nết, như vậy là tà kiến chứ không phải chánh kiến, mình nói câu đó để thấy khó nhằm nỗ lực, cố gắng sửa đổi chứ không phải nói ra để thấy khó rồi không sửa tánh luôn, cho nên cũng một câu nói nhưng mình hiểu theo tích cực thì nó là tích cực, còn hiểu theo tiêu cực là đi theo hướng tiêu cực.
"Thưa Ðại vương, đối với người triệu phú gia chủ này, các công đức cũ bị đoạn diệt và công đức mới chưa được chứa cất thêm. Và nay, thưa Ðại vương, người triệu phú gia chủ đang bị nung nấu trong địa ngục Mahàroruva".
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, II. Phẩm Thứ Hai, X. Không Con)
Công đức cũ đã hết rồi, công đức mới không có thêm. Vị vua này đi lấy tài sản của người đàn ông không con, đi ngang nên ghé vào thăm Đức Phật thì Đức Phật hỏi đại vương đi đâu giữa trưa nắng. Đại vương kể lại cho Đức Phật nghe mình đi tịch thu tài sản của người đàn ông vừa chết không có con tổng cộng là tám triệu đồng tiền vàng, chưa kể tiền bạc, Đức Thế Tôn kể cho đại vương nghe hiện tại bây giờ ông triệu phú đó đang ở địa ngục. Thật là khủng khiếp, phàm phu làm sao biết được điều này, lúc còn sống là triệu phú giàu có sung túc, vậy mà khi chết đi phải xuống dưới địa ngục, vì thế không ai biết được đời sau của mình ngoài việc tu tập thiện pháp.
"-- Bạch Thế Tôn, như vậy người triệu phú gia chủ đã sanh vào địa ngục Mahàroruva?
-- Thưa Ðại vương, như vậy người triệu phú gia chủ đã sanh vào địa ngục Mahàroruva.
Lúa, tài sản, vàng bạc,
Hay mọi vật sở hữu,
Nô tỳ và lao công,
Các mạng sống tùy thuộc,
Vị ấy phải ra đi,
Không đem theo được ai,
Tất cả phải bỏ lại,
Khi ra đi một mình.
Chỉ có các hành động,
Về thân, miệng và ý.
Mới thật thuộc vị ấy,
Mang theo khi ra đi,
Nghiệp ấy theo vị ấy,
Như bóng không rời hình.
Do vậy hãy làm lành,
Tích lũy cho đời sau,
Công đức cho đời sau,
Làm hậu cứ cho người".
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, II. Phẩm Thứ Hai, X. Không Con)
Lúa, gạo, tiền bạc, nhà cửa, bà con, nô tì, lao công đều không đem theo được một cái gì, ra đi một mình nhưng chỉ có những suy nghĩ, lời nói, hành động của thân – miệng – ý, ba nghiệp mới thật sự thuộc về vị đó. Những gì vị đó đã làm, những hình bóng lưu giữ trong tâm, những cảm xúc, cảm thọ chất chứa trong thọ, những suy nghĩ, những lời nói lầm thầm trong hành, những nhận thức trong thức uẩn, cái nghiệp thân – miệng – ý và thọ, tưởng, hành đi theo vị ấy khi ra đi như bóng không rời hình. Hậu là về sau, cứ là chỗ dựa, hậu cứ nghĩa là chỗ dựa về sau cho mình, tức là công đức, "do vậy hãy làm lành, tích lũy cho đời sau, công đức cho đời sau, làm hậu cứ cho người".
Khi ra đi chỉ một mình, không đem theo được bất kì cái gì, bất kì ai ngoài những hành động, nghĩ tưởng của mình, cho nên hãy tích lũy công đức, hãy làm lành, làm thiện, tích lũy thiện pháp. Ở đây cần nhớ Thế Tôn nói rằng công đức cũ đã hết, công đức mới chưa được bao nhiêu nên cần phải làm lành, làm thiện, giúp đỡ mọi người, tích lũy công đức, phước báo về sau, lấy cái đó làm chỗ dựa cho mình trong đời sau.
Hôm nay chúng ta học hai bài kinh Không con với nội dung nói về vị đại gia bủn xỉn, keo kiệt. Bài kinh này liên hệ đến nhiều sự việc đời thường rất thật, nhân quả của thiện và ác rất minh bạch, công chánh, công bằng. Trong từng hành động hoặc ý niệm đều có nhân quả, thứ nhất ông này bố thí một bữa ăn cho một vị Bích-chi Phật nhưng khi bố thí rồi lại có tâm hối tiếc, nghĩa rằng thà đem thức ăn đó cho người làm trong nhà tốt hơn cho vị Sa-môn kia. Hai sự việc này có nhân quả khác nhau rất rõ ràng, bố thí bữa ăn cho vị Bích-chi Phật được bảy lần sanh lên cõi trời, phước dư lại sanh lên nhân gian bảy lần làm triệu phú, sau đó ý niệm hướng về sự bủn xỉn, hướng về những thức ăn thấp kém thì lời nói, ý niệm này đưa lại quả báo trong nhiều đời sau vị này phải sử dụng những đồ thấp kém dù là giàu có. Sau đó vị này giết đứa cháu để giành tài sản thừa kế, nghiệp ác này phải mang quả báo xuống địa ngục.
Qua đây chúng ta thấy việc nào ra việc đó, nhân quả của việc bố thí, sự tiếc nuối có quả báo phải ăn cháo chua, mặc đồ cũ, sát sanh có quả báo là sanh ra bảy lần đều không có con thừa hưởng gia tài, cướp tài sản người ta có quả báo là sanh ra bảy lần dù giàu có nhưng đều bị vua chúa tịch thu của cải. Phước có quả của phước, tội có quả của tội, cho nên Đức Phật khuyến khích làm việc lành, làm các việc công đức để có chỗ dựa cho đời sau và câu nói chúng ta cần nhớ là "các công đức cũ bị đoạn diệt và công đức mới chưa được chứa cất thêm" cho nên ông này đang ở dưới địa ngục.
Qua bài kinh này chúng ta thấy được nhân quả của nhà triệu phú bủn xỉn và ác độc, nhân quả của bố thí, cúng dường, phước báo. Tội phước và nhân quả rất công bằng, chánh trực để chúng ta cẩn thận trong ba nghiệp thân – miệng – ý. Ra đi một mình không đem theo được một cái gì ngoài ba nghiệp thân – miệng – ý, chúng theo mình như bóng với hình. Những Phật tử đang ở trong tâm dịch, tự thân mình và gia đình có những người bệnh, mất, hoàn cảnh rất xót ra, đau khổ nhưng nhờ chúng ta bám chặt vào chiếc phao của chánh pháp, ngọn đèn của trí tuệ thì quý vị cũng phần nào được vững tâm, tin tưởng mạnh mẽ vào tam bảo, tin tưởng vào thiện pháp, việc lành, tin tưởng vào nhân quả.
Minh Thành thấy thật tốt lành thay, phước báo thay cho quý vị, lợi ích thay cho quý vị, quý vị tiếp tục vững tâm tin chắc vào những lời dạy của Đức Phật, vững tâm tin chắc vào chánh pháp, vào tam bảo trong những hoàn cảnh khó khăn này, quý vị vững trú vào pháp mới có thể giúp cho mình, giúp cho nguòi thân của mình, đừng để những hoàn cảnh bên ngoài tác động nhiều. Mình có sự bình tĩnh, an ổn, sáng suốt, tỉnh giác chánh niệm thì mới biết được cái gì nên làm, cái gì không nên làm và làm như thế nào để tự thân mình được an ổn và giúp đỡ những người thân, gánh vác gia đình. Mong rằng tất cả quý vị luôn luôn bình tâm, tỉnh trí, chánh niệm tỉnh giác để qua được giai đoạn khó khăn này bằng ánh sáng tuệ giác, sự thật tối thượng mà Đức Thế Tôn truyền trao cho chúng ta, đừng để ngọn đèn trí tuệ bị lu mờ, hãy châm dầu thường xuyên, làm cho ánh sáng nội tâm được tỏa rạng mới có thể giúp đỡ người thân trong gia đình và những người xung quanh.
Song song đó cần trải tâm từ thường xuyên, tác ý, quán chiếu thường xuyên trong Khổ Thánh Đế. Tất cả chư Tăng Ni một lòng hướng về cầu nguyện để quý vị tịnh tín bất động trong thiện pháp, tịnh tín bất động trong giáo pháp, tịnh tín bất động trong Thánh pháp và luôn sống trong tâm từ, sống trong tâm thấu hiểu những khổ đau của mình, khổ đau của người, bao dung, tha thứ, sớt chia, gánh vác. Bằng tất cả tấm lòng chân thành của quý Tăng Ni trải cảm thọ bình an, an lạc, hiểu thương này, mong rằng tất cả quý vị sống torng ánh sáng từ bi, trí tuệ, an lạc, hiểu thương này, mong rằng tất cả quý vị sống trong ánh sáng chánh pháp, từ bi, trí tuệ để được an lạc cho mình, cho người, cho gia đình quý vị. Mong rằng quý vị luôn sống trong cảm thọ hiểu thương này, bình an này, trí tuệ này để được lợi lạc.
./.