Pháp Đàm - Ý Căn - Pháp Trần - Ý Thức
Nikāya Pháp Đàm
Ý Căn - Pháp Trần - Ý Thức
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Tùy duyên và tùy dục PAGEREF _Toc162801352 \h 1
II. Duyên sanh pháp PAGEREF _Toc162801353 \h 4
I. Tùy duyên và tùy dục
Kính bạch chư tôn giả, kính thưa các bậc hiền trí Tăng Ni và quý Phật tử. Trong thời gian vừa qua có các sư cô mới về đây nếu còn những điều gì chưa sáng tỏ, chưa rõ, còn nghi vấn trong pháp học và pháp hành của Nikāya hoặc là học căn bản trí mà chưa hiểu thì có thể nêu lên để hỏi.
Nếu không có ai hỏi gì thì Minh Thành xin hỏi các thầy các cô câu hỏi: Khi bước vào trong thiền đường này nhìn vào cái nào thì biết cái đó, nhìn chuông, ghế, bàn, tượng Phật, ly nước, cây tùng, đèn gốm, cánh cửa kính, lồng đèn tre, đồng hồ treo tường, cột sắt, thảm chân, Bồ-đoàn, tọa cụ màu nâu… Từng vật trong căn nhà này rất nhiều, phức tạp, nói đến đâu hiểu đến đó nhưng tại sao khi nghe Đức Thế Tôn phân tích, chia chẻ các pháp lại thấy rắc rối, khó hiểu?
Khi Đức Thế Tôn nói về sáu căn, sáu trần, sáu thức, sáu xúc, sáu thọ, sáu ái thì lúc đó mình lại thấy quá nhiều thứ và khó hiểu, đó là tâm vô minh của chúng ta, chúng ta rất điêu luyện, thuần thục đối với thế pháp nhưng đối với Thánh pháp thì chúng ta lại chưa từng để tâm, không tha thiết, không cần cầu, tâm mình quen với thế pháp, thế sự, thế vật, không quen với Thánh trí, Thánh đạo, Thánh pháp, Thánh ngữ. Khi bước vào nhà bếp có nồi, chảo, muỗng, ly tách, đũa… mình có thể liệt kê không khó khăn gì, không thấy nhiều nhưng tại sao khi Đức Thế Tôn trình bày các pháp về thân tâm lại thấy phức tạp, rắc rối?
Chúng ta chỉ muốn tu cái gì đơn giản thôi, niệm một câu thôi, một hơi thở thôi, đó là tâm vô minh, tâm hoang vu của chúng ta. Ngày xưa Minh Thành cũng giống vậy, chỉ muốn đơn giản, dễ hiểu, đừng học cái gì phức tạp, nhiều thứ, khi ăn thì cả trăm món cũng không thấy nhiều nhưng pháp học lại thấy nhiều. Đây là bệnh chung của tất cả mọi người chứ không riêng một ai, tâm này rất điêu luyện, thuần thục trong thế gian nhưng đưa Thánh đạo, Thánh trí vào thì chống cự, mình phải nhìn ra được những ý nghĩ, cảm thọ đó, nếu không nhìn ra thì không học tới được pháp thể, pháp tánh, chỉ học được một bộ phận nhỏ của pháp thôi, cho nên bất cứ một pháp nào của Đức Phật nói mà mình chưa học, chưa thấy, chưa biết thì mình còn vô minh đối với pháp đó.
Trong ba mươi bảy phẩm trợ đạo, trong sáu căn, sáu trần, sáu thức, sáu thọ, sáu xúc… nếu có một pháp nào mà mình chưa học, chưa hiểu, chưa nhận diện ra nó, đến khi nó xuất hiện thì mình vô minh đối với nó, khi đã vô minh, không thấy không biết nó thì nó qua mặt mình, lậu hoặc nằm trong đó. Minh Thành là người thích đơn giản nên ngày xưa rất thích thiền Trung Hoa vì nó đơn giản, trực chỉ nhưng sau này mình mới biết cái thích đơn giản đó chỉ là dục, ái, tham chứ không phải tâm của người cầu đạo vì thích hay không thích chính là ái, trong khi mình đi tìm sự thật chứ không phải đi tìm cái thích hay không thích.
Những chỗ này cần nhận diện năm uẩn sâu sắc mới thấy, mới biết được nó, nếu không là mình sẽ đi tìm cái thích với cái không thích, nghĩ là đi tìm cái tham với sân, tìm ái, tìm cái mình mong muốn, khoan khoái, hợp gu mới học, không hợp gu thì không học, cái nào làm được thì học, cái nào làm không được thì không học, như vậy thì không bao giờ thành tựu viên mãn chánh kiến và không thể đi đến chỗ trọn vẹn của Thánh đạo.
Minh Thành là người thích đơn giản nhưng khi học đến Đại Niệm Xứ thì hạnh phúc, chấn động, vừa đọc là sụp xuống lạy ngay đó, như vậy mới gọi là Chánh Đẳng Chánh Giác, như vậy mới gọi là Chánh Biến Tri. Chánh Biến Tri là tri kiến biến mãn chân chánh, tức là cái thấy biết cùng khắp tất cả các pháp, cái thấy biết đúng đắn, chân xác, biến mãn cùng khắp tất cả pháp, sự vật, hiện tượng, thân tâm ngũ uẩn, cái thấy đó mới đi đến vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, còn cái thấy của mình là thích thì học, không thích thì không học, thích thì nghe, không thích thì không nghe, như vậy là sống theo dục, ái, tham chứ không phải sống theo pháp.
Trong nhiều bài kinh có chữ "thuận pháp, tùy pháp", chỉ có bốn chữ nhưng khi làm theo bốn chữ đó một cách tuyệt đối thì tối thiểu phải Nhập Lưu và tối cao là A-la-hán. Thuận pháp và tùy pháp là những gì Đức Phật đưa ra mình không chống đối mà tùy thuận theo, những ý niệm chống cự bên trong phải được nhìn ra rồi nhiếp phục, chế ngự nó, áp đặt tâm của mình chứ không được tu theo kiểu sao cũng được, Đức Phật không dạy như vậy. Nếu thường nói câu "con sao cũng được" thì đó là câu của vô minh, không có lập trường, không có mục tiêu của người chưa thấy pháp, thả trôi theo dòng sông như lục bình.
Cần phân biệt rõ ràng tùy duyên và tùy dục. Ví dụ đến giờ học thì học, đến giờ tu thì tu, đến giờ làm thì làm, dù có khó chịu nhưng mình vẫn kham nhẫn thì đó là tùy duyên, ngược lại đến giờ học thì không muốn học, chỉ muốn làm theo những gì bản thân thích thì đó là tùy dục, cho nên muốn thuận pháp và tùy pháp là cả một công trình tu tập, tức là khi nghe những lời Đức Phật trong tạng kinh là chấp nhận, thọ nhận học pháp, nhận diện pháp đó trong thân tâm, người như vậy sẽ có khả năng thành tựu chánh kiến viên mãn.
Khi đi vào con đường tu học này thì Minh Thành bất ngờ rất nhiều, tất cả những gì mình suy nghĩ, tưởng tượng đều ngược lại hết, không hề giống những gì mình đã nghĩ, không dùng được và phải quăng bỏ những kiến thức mà trước nay mình đã tích lũy, đã lấy nó làm chỗ dựa, phải quăng bỏ hết thì mới đi vào nổi dòng pháp này, nghĩa là những gì mình được học trong trường lớp đều không dùng được khi đi vào dòng pháp này. Trong đây chỉ có y cứ vào lời của bậc Chánh Đẳng Giác, không có lời của người thứ hai, dù cho bất kì ai chú giải đều bỏ qua, chỉ học lời của bậc Chánh Đẳng Giác, sau đó nương theo lời đó nhận diện lại thân tâm, mình thấy đúng pháp đó hiển lộ trong tâm mình thì lúc đó mình mới có thể quán pháp trên các pháp.
Chỉ riêng pháp học thôi cũng cả một sự gian nan, kham nhẫn, là cả một sự từ bỏ, khi vào bài Đại Niệm Xứ thì Minh Thành bị chấn động, Thánh trí huệ của Đức Phật vượt ngoài tất cả mọi sự tưởng tượng, suy tư của mình, giống như được uống nước cam lộ, giống như mù mà được sáng mắt, giống như được mở tai, mở mắt ra, mở trí, mở tâm, mở cái thấy của mình ra, học kinh như vậy sẽ thấy sung sướng, hoan hỉ rồi Minh Thành quỳ lạy bài kinh ngay tại chỗ, đó là tôn kính pháp, tôn kính những lời chứng ngộ của Đức Phật, vô lượng kiếp vừa qua mình chưa từng được nghe, chưa từng hiểu, chưa từng thấy biết, tu tập như vậy.
Vì thế tâm thái khi học kinh rất quan trọng, chưa cần nói đến cách học nhưng tâm thái, tâm lý, cảm thọ, sự chuẩn bị tâm lúc học pháp rất quan trọng, lắng nghe pháp bằng tâm thái gì, cảm nhận pháp bằng cảm thọ gì, thức tri bằng thức tri gì, suy tư bằng suy tư gì, tưởng bằng tưởng gì rất quan trọng, nếu để hết tâm ý vào nghe pháp và hoàn toàn không có năm triền cái thì mức độ thọ pháp rất tuyệt diệu, dễ dàng Hướng Dự Lưu hoặc Nhập Lưu.
Nếu muốn được vậy thì phải chuẩn bị tâm hiền thiện, tâm cung kính, tâm chấp nhận học pháp, tôn quý pháp, dù cho mình có ngã ra chết tại chỗ thì cũng vui, hạnh phúc, ngoài giờ ngồi thiền ra thì pháp âm vang dội chính là niềm hạnh phúc nhất của người tu cho nên khi Minh Thành nghe các cô học căn bản trí thì Minh Thành rất vui, Minh Thành nhớ lại ngôi chùa của các vị tam tạng pháp sư ở Myanmar cũng vang dội pháp âm như vậy. Mình mong muốn được nghe những người nói pháp, học kinh hoặc nhìn thấy các vị thiền định, ngoài những cái này ra không muốn thấy những cái khác, chỉ mong tai được nghe pháp âm của Đức Phật, mắt được thấy các vị ngồi tĩnh lặng trong thiền tập, đó là niềm hạnh phúc lớn nhất của người tu chúng ta.
II. Duyên sanh pháp
Khi đi sâu vào nhận diện duyên sanh pháp thì phải học thuộc lòng vì không học thuộc là không nhận diện được, không nhận diện thì không tác ý, không tác ý được thì không thể phá tà kiến, chấp thủ. Cho nên những gì Đức Phật nói trong kinh không dư và cũng không thiếu chữ nào, Đức Thế Tôn không nói dư thừa, Đức Như Lai không nói thiếu thốn cho nên cả cuộc đời mình y cứ vào bốn bộ kinh Nikāya, ăn với nó, ngủ với nó, sống với nó, suy tư, nghiền ngẫm với nó, đừng bao giờ rời xa pháp thì sớm muộn cũng thể nhập vào pháp.
"Này các Tỳ-kheo, thế nào là Khổ tập Thánh đế? Sự tham ái đưa đến tái sanh, câu hữu với hỷ và tham, tìm cầu hỷ lạc chỗ này chỗ kia. Như dục ái, hữu ái, vô hữu ái". (Trường Bộ Kinh, 22. Kinh Ðại Niệm xứ)
Bài kinh này có đọc mười ngàn lần cũng phải đọc, có nghe mười ngàn lần cũng phải nghe, không được nói rằng đã học rồi nên không học nữa, nghe đến khi nào chứng nhập thì mới hết nghe nhưng khi đã chứng nhập thì lại càng thích nghe. Bậc đạo sư dạy Minh Thành như vậy, phá vỡ hết tất cả những quy cách thông thường của thế gian cho nên càng an trú nhiều trong pháp thì càng tốt lành cho chúng ta, càng phước báo cho chúng ta và chúng ta được ngâm mình trong những cảm giác, nghĩ tưởng về sự thật, về chân lý.
"Này các Tỳ-kheo, sự tham ái này khi sanh khởi thì sanh khởi ở đâu, khi an trú thì an trú ở đâu? Ở đời, sắc gì thân ái, sắc gì khả ái? Ở đời con mắt là sắc thân ái, là sắc khả ái. Sự tham ái này khi sanh khởi thì sanh khởi ở đấy, khi an trú thì an trú ở đấy. Ở đời cái tai... ở đời mũi... ở đời lưỡi... ở đời thân... ở đời ý là sắc thân ái, là sắc khả ái. Sự tham ái này khi sanh khởi thì sanh khởi ở đấy, khi an trú thì an trú ở đấy". (Trường Bộ Kinh, 22. Kinh Ðại Niệm xứ)
Chỉ mới chỉ ra cái đầu tiên của sáu căn là sắc đã làm chúng ta bất ngờ vì ham thích là ham thích sắc, chính là ham thích chiếc xe, căn nhà, miếng đất, tiền vàng, tài sản chứ không ai nói ham thích con mắt nhưng Đức Phật chỉ ra căn nguyên của ham thích là con mắt, con mắt ở đây là mắt của mình chứ không phải mắt người khác. Tham ái sanh khởi và cư trú ngay trong mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý của mình, chỉ bao nhiêu đây thôi cũng là đề tài cho chúng ta thiền quán nhiều năm. Ở đây có những điều chúng ta cần lưu ý vì nó khó, thứ nhất là ý căn, thứ hai là pháp trần, thứ ba là ý thức, chưa nắm vững được ba cái này thì sự tu học của mình sẽ không được rõ ràng, minh bạch, khi thiền quán sẽ không phân biệt được cái nào là ý, cái nào pháp, cái nào là thức.
Điều đặc biệt của kinh Nikāya là pháp học đi đôi pháp hành, tương ứng với nhau, nếu không học pháp học đúng thì không thực hành được, sẽ không biết được ý căn là gì, pháp trần là gì, ý thức là gì nên không thể nhận diện được. Có khi ngồi thiền bốn mươi năm không biết được ý căn là gì, pháp trần là gì, ý thức là gì, bản thân Minh Thành học pháp học và pháp hành 28 năm, vào các thiền viện học 15 năm nhưng không hề biết, chỉ khi học kinh Nikāya cộng với việc được bậc thành tựu chánh kiến hướng dẫn, chỉ dạy thì mới biết. Pháp trần chính là thọ; tưởng; hành, những cái này thuộc về định lý, định luật, không thể thay đổi nên không thể muốn nói sao là nói, cần bám sát vào lời kinh của Đức Phật. Khi nói mắt; tai; mũi; lưỡi; thân thì ai cũng biết nhưng đến ý thì có vấn đề, khi nói sắc; thanh; hương; vị; xúc thì mọi người có thể hiểu nhưng đến pháp thì có vấn đề, không giải thích ra được, đối với ý thức cũng vậy, không hề đơn giản để hiểu được nó.
Nếu mình không giải thích được, không nhận diện được ý căn thì mình không rõ được pháp trần và ý thức là gì, đây là vấn đề rất thiết yếu trong sự tu. Nhãn căn là mắt, nhĩ căn là lỗ tai, tỷ căn là lỗ mũi, thiệt căn là cái lưỡi, thân căn là tấm thân còn ý căn là gì? Người ta giải thích ý căn là những dây thần kinh vi tế hoặc đi vào thiền định thì mới thấy được nó, không ai biết ý căn là gì nhưng những vị thật tu, thật thấy, thật biết chỉ dạy thì mình mới biết ý căn chính là sự để ý lại bên trong nội tâm của mình.
Bỗng nhiên mình ở trong thất hoặc đang ngồi thiền thì để ý trong tâm thấy hình bóng mẹ mình đang hiện ra, nếu lúc đó con mắt thấy bụi tre là con mắt đang hướng ngoại ra ngoài nhưng ở đây mình để ý vào nội tâm thì cái tưởng hiện ra hình bóng mẹ mình. Những cái này mình làm hằng ngày, hằng giờ nhưng do mình không được học, không ai chỉ dạy nên mình không nhận diện được, những cái này mình rất nhuần nhuyễn. Để ý vào trong thì cái tưởng hiện ra hình bóng mẹ mình, có những suy nghĩ về mẹ là hành, vì có pháp trần nên ý thức sanh khởi ra. Do duyên có ý căn, pháp trần nên sanh khởi ra ý thức, vì có sự để ý đó, bên trong có hình bóng mẹ, có cảm giác dễ chịu, ấm áp, có suy nghĩ về mẹ nên có ra sự rõ biết và cái rõ biết này chính là ý thức. Rõ biết đang có hình bóng về mẹ, rõ biết đang có suy nghĩ về mẹ, đang có những cảm giác êm ái đối với mẹ và cái rõ biết đó là ý thức.
Bây giờ mình nhớ lại người làm mình tức giận, nhớ về người làm hại mình, những người hay kiếm chuyện, gây sự với mình thì hình bóng người đó hiện ra trong tâm, hình bóng đó là tưởng, có cảm giác khó chịu sanh khởi, có những suy nghĩ bực bội, sân hận về người đó sanh khởi, lúc đó mình rõ biết đang có hình bóng của người làm mình khó chịu, rõ biết đang có cảm thọ tức giận về họ, rõ biết đang có những suy nghĩ về họ, đó chính là ý căn, pháp trần và ý thức.
Đó là hai ví dụ về tham ái và sân hận, một cái là dễ thương êm ái, còn một cái là bực mình, tức giận. Sau đây là ví dụ về si, chúng ta nhớ về quê hương, về ngôi chùa thân thương hoặc nhớ về một người bạn không thương cũng không ghét thì hình bóng người đó hiện ra, mình có cảm giác không khó chịu cũng không dễ chịu, có suy nghĩ liên hệ đến người đó và mình rõ biết được những điều đó. Trên đây là ba ví dụ về tham, sân, si, một cái là lạc thọ, sự dễ chịu, cái thứ hai là khổ thọ, chính là sân, thứ ba là bất khổ bất lạc thọ, nhưng quan trọng là phải để ý vào trong thì pháp trần mới hiện ra.
Khi được hỏi có tưởng gì lúc trình pháp thì trả lởi không có tưởng gì, có bộ xương trước mặt thì chỉ thấy bộ xương chứ không có tưởng gì cả, đó là mình chưa biết cách nhận diện pháp trần, lúc đó mình không biết thọ; tưởng; hành đang vận hành thế nào, không biết ý căn ra sao, không biết ý thức là gì, mình chỉ nhìn thấy bên ngoài thôi nên trình pháp thì nói không có tưởng gì cả, đó là vô minh, không sáng tỏ về pháp đó, không thấy rõ pháp đó nên nói không có chứ thật ra là có.
Trong một buổi học pháp này có rất nhiều pháp vận hành trong đó, có khi có cảm thọ ưu, có khi là hỷ cũng có khi là xả, có khi hân hoan, phấn khởi, có khi trì trệ, có khi buồn ngủ, có khi bực bội, mình phải thấy phải biết những điều này. Khi nhận diện ngũ uẩn mới thấy được từng pháp vận hành thế nào, khi có cuộc điện thoại đến mà cảm giác khó chịu sanh khởi lên là thấy ngay, nếu là một người bình thường không nhận diện năm uẩn, không có cái nhìn sâu sắc thì không biết sám hối, nghĩ rằng có ai thấy ai biết gì đâu mà cần sám hối.
Khi con mắt để ý vào cây tùng thì mình thấy có cảm thọ dễ chịu, thích thú thì đó là thọ do nhãn xúc sanh, đó là sự hướng ngoại theo ngũ trần bên ngoài, còn pháp trần ở đây đang học là nội trần, là pháp diễn ra trong thân tâm. Nó sâu sắc đến như vậy mà chúng ta không chịu học, chỉ muốn ngồi im tu thôi, không muốn động đậy gì cả, tôi đang thiền nên đừng ai nói gì cả, đó là thiền trong vô minh, thiền trong bản ngã, thiền trong bóng đêm.
Đây mới chỉ là pháp học đơn sơ để nhận diện được ý căn, pháp trần, ý thức thôi chứ chưa đi vào những thứ khác. Bây giờ mình lắng tai chú tâm nghe lời ai đó nói rồi mình có cảm giác bực bội thì cảm giác đó là thọ do nhĩ xúc sanh, thọ đó do pháp bên ngoài là thanh trần, nếu để ý cái mùi thì có cảm xúc, cảm thọ trong cái mùi, để ý vị thì có cảm xúc, cảm thọ trong vị, nếu để ý thân thì khi tiếp xúc, đụng chạm ở đâu sẽ biết ở đó.
Nếu để ý đến cái lưng ngồi lâu bị đau thì có hình bóng cái lưng hiện ra, có cảm giác nhức mỏi, đau, có suy nghĩ về cái đau đó, có sự rõ biết những cái đó cho nên khi hướng ra ngoài sẽ biết ngũ trần, đó là sắc; thanh; hương; vị; xúc, khi hướng vào tâm thì pháp trần là thọ; tưởng; hành sẽ hiện ra, hướng đến chỗ nào thì các pháp ở đó sẽ hiện ra. Học rồi mới thấy rất vi diệu, từng pháp hiện ra rõ ràng, không lẫn lộn vào nhau, không có chung chung mà cái nào ra cái đó cho nên khi để ý vào nội tâm sẽ có thấy hình bóng đang có trong tâm là tưởng, có những suy nghĩ xung quanh hình bóng đó là hành, có cảm giác về hình bóng đó là thọ, lúc nào thọ; tưởng; hành cũng đi chung với nhau, dính chặt vào nhau.
Như vậy là chúng ta nhận diện các pháp bên trong, giờ ngồi thiền tuyệt diệu ở chỗ đóng lại ngũ căn, mắt; tai; mũi; lưỡi; thân được yên tịnh, khép lại thì lúc đó chúng ta mới nhìn vào bên trong, đối diện với thọ; tưởng; hành của mình, còn giờ ngồi thiền mà nhắm mắt lại rồi thở ra thở vào ngủ gục luôn thì làm sao phân biệt được thọ; tưởng; hành. Trong thọ lại chia ra thọ thân và thọ tâm, hai thọ này khác nhau, phải biết những cảm thọ này có liên hệ đến vật chất hay không liên hệ đến vật chất, trong cái tưởng đó có tham, sân, si, dục, ái không hay chỉ là cái tưởng bình thường, cái hành này có dục tư duy, sân tư duy, hại tư duy không, trong suy nghĩ đó có liên hệ đến sân, dục và có nghĩ làm hại người khác không.
Chúng ta phải kiểm tra tất cả những đều này cho nên ngồi thiền làm gì có chuyện ngủ gục được, bây giờ bán hàng mà khách vào nườm nượp, tay chân hoạt động liên hồi thì làm sao ngủ gục được, còn người ngủ gục là người không thấy không biết chuyện mình đang làm, không hiểu được ý nghĩa, giá trị, trách nhiệm, cái cần xử lý giải quyết thì mới ngủ gục, còn người ý thức được rõ ràng ngồi thiền để làm gì thì không bao giờ ngủ vì có biết bao việc cần giải quyết.
Chỉ có ba chữ ý căn, pháp trần, ý thức thôi mà bản thân Minh Thành đi tìm 28 không ra, ngồi thiền 15 năm vẫn không biết, chỉ biết chung chung ngồi thiền bị vọng tưởng nhưng không biết vọng tưởng gì là, nghĩ rằng có cảm giác, hình bóng, suy nghĩ lúc ngồi thiền là vọng tưởng nhưng hoàn toàn không phải vậy, tưởng là riêng biệt, hành là riêng, thọ là riêng và thức là riêng biệt, cái nào rạch ròi ra cái đó, vào bếp lấy muỗng là muỗng, lấy chén là chén, lấy tô là tô chứ không nói chung hết được, ý căn là ý căn, pháp trần là pháp trần, ý thức là ý thức.
Sau đó dựa vào từng cảm giác mà nhận diện, tham là như thế nào, ái là như thế nào, dục là như thế nào, sân là như thế nào, hờn là như thế nào, mác là như thế nào, thù là như thế nào, hận là như thế nào, mỗi một chữ như vậy đều có cảm giác khác nhau. Trong từng suy nghĩ cũng phải được soi sáng, phải được soi chiếu, phải được kiểm tra, kiểm soát, kiểm điểm trong từng suy nghĩ, vi tế, nhỏ nhiệm như vậy mới đi đến chỗ thấy biết toàn diện về thân tâm, thấy biết một cách đầy đủ viên mãn về ngũ uẩn, về cách vận hành của sắc; thọ; tưởng; hành; thức.
Qua đây mới thấy vô minh thật sự khủng khiếp, khi chưa biết, chưa thấy, chưa thực tập nhận diện cái nào thì mình vô minh với cái đó. Nếu nói theo tiếng Hán Việt thì nghe vô minh có vẻ nặng nề nhưng nói theo Tiếng Việt có nghĩa là không thấy, không biết, không rõ, nếu có tinh thần, nhiệt tâm học pháp thì ai chỉ dạy, hướng dẫn cái gì cũng nghe theo, học hỏi, còn giờ vừa nói đã sân giận, tức lên thì làm sao học được.
Chúng ta nhấn mạnh lại ý căn, tức là sự để ý vào bên trong nội tâm. Khi vào thiền đường chỉ để ý đến tượng Phật, thấy gương mặt Phật từ bi, nếp áo nhẹ nhàng, mềm mại, dáng ngài ngồi tự tại, điềm nhiên thì tất cả pháp khi mình để ý đều hiện rõ ra, từ gương mặt, ánh mặt, vạt áo, dáng ngồi đều hiện ra. Còn giờ không để ý tượng Phật mà để ý bộ bàn ghế thì khi để ý cái nào thì pháp đó được soi rọi, giống như trong ban đêm dùng đèn pin rọi vào chỗ nào thì chỗ đó sáng lên, những thứ được soi sáng sẽ hiển lộ. Đó là ở bên ngoài, đối với trong tâm cũng vậy, bên trong tâm mình không biết cái nào là sắc, cái nào là tưởng, cái nào là thọ, cái nào là tưởng; hành; thức thì làm sao mình soi rọi?
Có soi vào thì cũng là một mớ hỗn độn, chỉ khi nhận diện ngũ uẩn rồi soi vào thọ sẽ thấy đang có khổ thọ khó chịu và cảm thọ này phát sanh từ bản ngã, không vừa ý mình hoặc là soi vào thấy đang có lạc thọ dễ chịu, thích thú vì vừa ý mình, hoặc là soi vào tưởng thì thấy đang có hình bóng gì, khi để ý tới đâu thì pháp đó được soi rọi, được soi chiếu, được soi sáng, giống như bác sĩ nội soi, đưa ống đến đâu là hình ảnh hiện lên màn hình đến đó vì vậy khi trình pháp mà nói không có tưởng gì là do mình chưa biết nhận diện, không phải không có mà do mình không thấy, không để ý, chỉ lo nhìn bên ngoài, trong tâm mình những thọ; tưởng; hành sanh diệt liên tục.
Chúng ta nói thêm về tầm và tứ vì thường xuyên gặp nó. Tầm là sự suy tầm, sự hướng tâm, tứ là bám vào. Sự hướng tâm về pháp, suốt ngày nghĩ về pháp, đi đến đâu cũng thấy chỗ đó học được, pháp đàm được, thiền quán được, do tâm hướng về pháp nên chỗ nào cũng đưa pháp vào, nhìn cái gì cũng nhìn theo pháp. Còn tâm không tầm, tứ vào pháp mà tầm, tứ vào cái khác thì những cái khác đó thường có mặt trong cảm giác, nghĩ tưởng của mình.
Khi tâm hướng về pháp, suy tầm về pháp, mình bám vào pháp thì cái pháp đó có mặt thường trực trong tâm, mình thường bám vào việc nhận diện các cảm thọ và an trú trong sự nhận diện đó hoặc là tâm thường để ý vào thọ; tưởng; hành, soi xét trong này, quán sát, kiểm tra trong này mà không để ý bên ngoài, hoặc tâm hướng ngoại thì chỉ nhìn ra bên ngoài, nếu không nhận diện ngũ uẩn sẽ không biết lúc đó có một cái tầm hướng ngoại, sự hướng tâm ra ngoại cảnh rồi bám víu vào ngoại cảnh, suốt ngày tạo dáng cây kiểng, hôm nay để chậu kiểng ở đây, mai lại đổi sang hướng khác, đó là hướng tâm ra bên ngoài chứ không hướng tâm vào thân; thọ; tâm; pháp, không hướng tâm vào sự nhận diện ngũ uẩn, nhận diện lậu hoặc, nhận diện tham, sân, si, bản ngã, nhưng tất cả mọi việc đều phải xuất phát từ nhận diện ngũ uẩn.
Khi nói câu "mẹ đang tựa cửa trông chờ, hi vọng mình" là không phải nói để sanh khởi tham ái mà có ý khích lệ cho những người mới học, mới tu, phải ý thức được bổn phận, trách nhiệm của một người mới xuất gia chứ không phải nói để khởi lên tham ái, nhớ mong mẹ để về thăm, cho nên mỗi một việc như vậy thì cái nhìn của mình có rất nhiều hướng. Những người mới tu cần phải được khích lệ, cần phải được nhắc nhở, sách tấn, khuyến khích để họ nhớ bổn phận, trách nhiệm của một người xuất gia để họ cố gắng vì có khi đi tu rồi là quên cha, quên mẹ, hưởng nhàn, cái đó tưởng mình hay nhưng lại là bất hiếu, đó cũng là một phương diện để mình tác ý.
Đối với bất khổ bất lạc thọ, nếu mình không biết là si, còn mình biết nó là một cảm giác không phải khổ cũng không phải vui, cảm giác là duyên xúc, cảm giác này không phải mình, không phải của mình thì cái đó là trí, là tuệ, còn nếu cứ đơ ra thì lúc đó mình bị si. Ngay cả cảm giác sân cũng vậy, nếu mình nhận ra nó rồi nhiếp phục, chế ngự thì mình đang tu tập, phải trải qua cả một quá trình tu tập mới thấy biết được cảm giác sân đó, còn nhiếp phục, chế ngự là do công phu của mình thuần thục hay không thuần thục, đủ sức hay không đủ sức chế ngự nó, có khi sức mình chỉ ở 30 phần trăm nhưng đó vẫn là sự thấy biết, cũng có thành tựu trí tuệ. Cho nên sự nhận diện ngũ uẩn không phải chỉ tới đó là xong mà còn có tác ý, quán chiếu, quán tưởng, còn vận dụng nhiều pháp để gội rửa, tẩy sạch, làm vệ sinh các lậu hoặc, cấu nhiễm trong căn nhà nội tâm của mình.
Nguyện đem công đức phước lành này hồi hướng cho cô Sáu là một trong bốn người cô không gia đình nhưng đã lo lắng và phụng sự cho Linh Quy Pháp Ấn, hiện giờ sinh mạng của cô như đèn treo trước gió. Nguyện đem phước lành này hồi hướng về cho cô, nếu thọ mạng chưa hết thì được an lành, nếu thọ mạng đã hết thì cũng được công đức này. Hiện tại các người cô của Minh Thành cũng đang làm rất nhiều việc phước thiện cho cô, bố thí cho những người nghèo khổ, cho những trẻ em mồ côi mất cha mất mẹ trong mùa dịch Covid này, bố thí cho những người mổ mắt, mổ tim, cúng dường sửa nhà bếp cho Linh Quy Pháp Ấn này và cúng dường thất cho các thầy các cô nhập thất, phóng sanh, làm tất cả việc lành. Còn riêng bản thân Minh Thành chỉ biết đem chánh pháp hướng tâm hồi hướng cho cô, nguyện nhờ phước lành này nếu nghiệp cô chưa mãn thì được khỏe trở lại, nếu thọ mạng đã hết thì nhờ phước báo này sanh vào cõi lành.
./.
Ý Căn - Pháp Trần - Ý Thức
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Tùy duyên và tùy dục PAGEREF _Toc162801352 \h 1
II. Duyên sanh pháp PAGEREF _Toc162801353 \h 4
I. Tùy duyên và tùy dục
Kính bạch chư tôn giả, kính thưa các bậc hiền trí Tăng Ni và quý Phật tử. Trong thời gian vừa qua có các sư cô mới về đây nếu còn những điều gì chưa sáng tỏ, chưa rõ, còn nghi vấn trong pháp học và pháp hành của Nikāya hoặc là học căn bản trí mà chưa hiểu thì có thể nêu lên để hỏi.
Nếu không có ai hỏi gì thì Minh Thành xin hỏi các thầy các cô câu hỏi: Khi bước vào trong thiền đường này nhìn vào cái nào thì biết cái đó, nhìn chuông, ghế, bàn, tượng Phật, ly nước, cây tùng, đèn gốm, cánh cửa kính, lồng đèn tre, đồng hồ treo tường, cột sắt, thảm chân, Bồ-đoàn, tọa cụ màu nâu… Từng vật trong căn nhà này rất nhiều, phức tạp, nói đến đâu hiểu đến đó nhưng tại sao khi nghe Đức Thế Tôn phân tích, chia chẻ các pháp lại thấy rắc rối, khó hiểu?
Khi Đức Thế Tôn nói về sáu căn, sáu trần, sáu thức, sáu xúc, sáu thọ, sáu ái thì lúc đó mình lại thấy quá nhiều thứ và khó hiểu, đó là tâm vô minh của chúng ta, chúng ta rất điêu luyện, thuần thục đối với thế pháp nhưng đối với Thánh pháp thì chúng ta lại chưa từng để tâm, không tha thiết, không cần cầu, tâm mình quen với thế pháp, thế sự, thế vật, không quen với Thánh trí, Thánh đạo, Thánh pháp, Thánh ngữ. Khi bước vào nhà bếp có nồi, chảo, muỗng, ly tách, đũa… mình có thể liệt kê không khó khăn gì, không thấy nhiều nhưng tại sao khi Đức Thế Tôn trình bày các pháp về thân tâm lại thấy phức tạp, rắc rối?
Chúng ta chỉ muốn tu cái gì đơn giản thôi, niệm một câu thôi, một hơi thở thôi, đó là tâm vô minh, tâm hoang vu của chúng ta. Ngày xưa Minh Thành cũng giống vậy, chỉ muốn đơn giản, dễ hiểu, đừng học cái gì phức tạp, nhiều thứ, khi ăn thì cả trăm món cũng không thấy nhiều nhưng pháp học lại thấy nhiều. Đây là bệnh chung của tất cả mọi người chứ không riêng một ai, tâm này rất điêu luyện, thuần thục trong thế gian nhưng đưa Thánh đạo, Thánh trí vào thì chống cự, mình phải nhìn ra được những ý nghĩ, cảm thọ đó, nếu không nhìn ra thì không học tới được pháp thể, pháp tánh, chỉ học được một bộ phận nhỏ của pháp thôi, cho nên bất cứ một pháp nào của Đức Phật nói mà mình chưa học, chưa thấy, chưa biết thì mình còn vô minh đối với pháp đó.
Trong ba mươi bảy phẩm trợ đạo, trong sáu căn, sáu trần, sáu thức, sáu thọ, sáu xúc… nếu có một pháp nào mà mình chưa học, chưa hiểu, chưa nhận diện ra nó, đến khi nó xuất hiện thì mình vô minh đối với nó, khi đã vô minh, không thấy không biết nó thì nó qua mặt mình, lậu hoặc nằm trong đó. Minh Thành là người thích đơn giản nên ngày xưa rất thích thiền Trung Hoa vì nó đơn giản, trực chỉ nhưng sau này mình mới biết cái thích đơn giản đó chỉ là dục, ái, tham chứ không phải tâm của người cầu đạo vì thích hay không thích chính là ái, trong khi mình đi tìm sự thật chứ không phải đi tìm cái thích hay không thích.
Những chỗ này cần nhận diện năm uẩn sâu sắc mới thấy, mới biết được nó, nếu không là mình sẽ đi tìm cái thích với cái không thích, nghĩ là đi tìm cái tham với sân, tìm ái, tìm cái mình mong muốn, khoan khoái, hợp gu mới học, không hợp gu thì không học, cái nào làm được thì học, cái nào làm không được thì không học, như vậy thì không bao giờ thành tựu viên mãn chánh kiến và không thể đi đến chỗ trọn vẹn của Thánh đạo.
Minh Thành là người thích đơn giản nhưng khi học đến Đại Niệm Xứ thì hạnh phúc, chấn động, vừa đọc là sụp xuống lạy ngay đó, như vậy mới gọi là Chánh Đẳng Chánh Giác, như vậy mới gọi là Chánh Biến Tri. Chánh Biến Tri là tri kiến biến mãn chân chánh, tức là cái thấy biết cùng khắp tất cả các pháp, cái thấy biết đúng đắn, chân xác, biến mãn cùng khắp tất cả pháp, sự vật, hiện tượng, thân tâm ngũ uẩn, cái thấy đó mới đi đến vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, còn cái thấy của mình là thích thì học, không thích thì không học, thích thì nghe, không thích thì không nghe, như vậy là sống theo dục, ái, tham chứ không phải sống theo pháp.
Trong nhiều bài kinh có chữ "thuận pháp, tùy pháp", chỉ có bốn chữ nhưng khi làm theo bốn chữ đó một cách tuyệt đối thì tối thiểu phải Nhập Lưu và tối cao là A-la-hán. Thuận pháp và tùy pháp là những gì Đức Phật đưa ra mình không chống đối mà tùy thuận theo, những ý niệm chống cự bên trong phải được nhìn ra rồi nhiếp phục, chế ngự nó, áp đặt tâm của mình chứ không được tu theo kiểu sao cũng được, Đức Phật không dạy như vậy. Nếu thường nói câu "con sao cũng được" thì đó là câu của vô minh, không có lập trường, không có mục tiêu của người chưa thấy pháp, thả trôi theo dòng sông như lục bình.
Cần phân biệt rõ ràng tùy duyên và tùy dục. Ví dụ đến giờ học thì học, đến giờ tu thì tu, đến giờ làm thì làm, dù có khó chịu nhưng mình vẫn kham nhẫn thì đó là tùy duyên, ngược lại đến giờ học thì không muốn học, chỉ muốn làm theo những gì bản thân thích thì đó là tùy dục, cho nên muốn thuận pháp và tùy pháp là cả một công trình tu tập, tức là khi nghe những lời Đức Phật trong tạng kinh là chấp nhận, thọ nhận học pháp, nhận diện pháp đó trong thân tâm, người như vậy sẽ có khả năng thành tựu chánh kiến viên mãn.
Khi đi vào con đường tu học này thì Minh Thành bất ngờ rất nhiều, tất cả những gì mình suy nghĩ, tưởng tượng đều ngược lại hết, không hề giống những gì mình đã nghĩ, không dùng được và phải quăng bỏ những kiến thức mà trước nay mình đã tích lũy, đã lấy nó làm chỗ dựa, phải quăng bỏ hết thì mới đi vào nổi dòng pháp này, nghĩa là những gì mình được học trong trường lớp đều không dùng được khi đi vào dòng pháp này. Trong đây chỉ có y cứ vào lời của bậc Chánh Đẳng Giác, không có lời của người thứ hai, dù cho bất kì ai chú giải đều bỏ qua, chỉ học lời của bậc Chánh Đẳng Giác, sau đó nương theo lời đó nhận diện lại thân tâm, mình thấy đúng pháp đó hiển lộ trong tâm mình thì lúc đó mình mới có thể quán pháp trên các pháp.
Chỉ riêng pháp học thôi cũng cả một sự gian nan, kham nhẫn, là cả một sự từ bỏ, khi vào bài Đại Niệm Xứ thì Minh Thành bị chấn động, Thánh trí huệ của Đức Phật vượt ngoài tất cả mọi sự tưởng tượng, suy tư của mình, giống như được uống nước cam lộ, giống như mù mà được sáng mắt, giống như được mở tai, mở mắt ra, mở trí, mở tâm, mở cái thấy của mình ra, học kinh như vậy sẽ thấy sung sướng, hoan hỉ rồi Minh Thành quỳ lạy bài kinh ngay tại chỗ, đó là tôn kính pháp, tôn kính những lời chứng ngộ của Đức Phật, vô lượng kiếp vừa qua mình chưa từng được nghe, chưa từng hiểu, chưa từng thấy biết, tu tập như vậy.
Vì thế tâm thái khi học kinh rất quan trọng, chưa cần nói đến cách học nhưng tâm thái, tâm lý, cảm thọ, sự chuẩn bị tâm lúc học pháp rất quan trọng, lắng nghe pháp bằng tâm thái gì, cảm nhận pháp bằng cảm thọ gì, thức tri bằng thức tri gì, suy tư bằng suy tư gì, tưởng bằng tưởng gì rất quan trọng, nếu để hết tâm ý vào nghe pháp và hoàn toàn không có năm triền cái thì mức độ thọ pháp rất tuyệt diệu, dễ dàng Hướng Dự Lưu hoặc Nhập Lưu.
Nếu muốn được vậy thì phải chuẩn bị tâm hiền thiện, tâm cung kính, tâm chấp nhận học pháp, tôn quý pháp, dù cho mình có ngã ra chết tại chỗ thì cũng vui, hạnh phúc, ngoài giờ ngồi thiền ra thì pháp âm vang dội chính là niềm hạnh phúc nhất của người tu cho nên khi Minh Thành nghe các cô học căn bản trí thì Minh Thành rất vui, Minh Thành nhớ lại ngôi chùa của các vị tam tạng pháp sư ở Myanmar cũng vang dội pháp âm như vậy. Mình mong muốn được nghe những người nói pháp, học kinh hoặc nhìn thấy các vị thiền định, ngoài những cái này ra không muốn thấy những cái khác, chỉ mong tai được nghe pháp âm của Đức Phật, mắt được thấy các vị ngồi tĩnh lặng trong thiền tập, đó là niềm hạnh phúc lớn nhất của người tu chúng ta.
II. Duyên sanh pháp
Khi đi sâu vào nhận diện duyên sanh pháp thì phải học thuộc lòng vì không học thuộc là không nhận diện được, không nhận diện thì không tác ý, không tác ý được thì không thể phá tà kiến, chấp thủ. Cho nên những gì Đức Phật nói trong kinh không dư và cũng không thiếu chữ nào, Đức Thế Tôn không nói dư thừa, Đức Như Lai không nói thiếu thốn cho nên cả cuộc đời mình y cứ vào bốn bộ kinh Nikāya, ăn với nó, ngủ với nó, sống với nó, suy tư, nghiền ngẫm với nó, đừng bao giờ rời xa pháp thì sớm muộn cũng thể nhập vào pháp.
"Này các Tỳ-kheo, thế nào là Khổ tập Thánh đế? Sự tham ái đưa đến tái sanh, câu hữu với hỷ và tham, tìm cầu hỷ lạc chỗ này chỗ kia. Như dục ái, hữu ái, vô hữu ái". (Trường Bộ Kinh, 22. Kinh Ðại Niệm xứ)
Bài kinh này có đọc mười ngàn lần cũng phải đọc, có nghe mười ngàn lần cũng phải nghe, không được nói rằng đã học rồi nên không học nữa, nghe đến khi nào chứng nhập thì mới hết nghe nhưng khi đã chứng nhập thì lại càng thích nghe. Bậc đạo sư dạy Minh Thành như vậy, phá vỡ hết tất cả những quy cách thông thường của thế gian cho nên càng an trú nhiều trong pháp thì càng tốt lành cho chúng ta, càng phước báo cho chúng ta và chúng ta được ngâm mình trong những cảm giác, nghĩ tưởng về sự thật, về chân lý.
"Này các Tỳ-kheo, sự tham ái này khi sanh khởi thì sanh khởi ở đâu, khi an trú thì an trú ở đâu? Ở đời, sắc gì thân ái, sắc gì khả ái? Ở đời con mắt là sắc thân ái, là sắc khả ái. Sự tham ái này khi sanh khởi thì sanh khởi ở đấy, khi an trú thì an trú ở đấy. Ở đời cái tai... ở đời mũi... ở đời lưỡi... ở đời thân... ở đời ý là sắc thân ái, là sắc khả ái. Sự tham ái này khi sanh khởi thì sanh khởi ở đấy, khi an trú thì an trú ở đấy". (Trường Bộ Kinh, 22. Kinh Ðại Niệm xứ)
Chỉ mới chỉ ra cái đầu tiên của sáu căn là sắc đã làm chúng ta bất ngờ vì ham thích là ham thích sắc, chính là ham thích chiếc xe, căn nhà, miếng đất, tiền vàng, tài sản chứ không ai nói ham thích con mắt nhưng Đức Phật chỉ ra căn nguyên của ham thích là con mắt, con mắt ở đây là mắt của mình chứ không phải mắt người khác. Tham ái sanh khởi và cư trú ngay trong mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý của mình, chỉ bao nhiêu đây thôi cũng là đề tài cho chúng ta thiền quán nhiều năm. Ở đây có những điều chúng ta cần lưu ý vì nó khó, thứ nhất là ý căn, thứ hai là pháp trần, thứ ba là ý thức, chưa nắm vững được ba cái này thì sự tu học của mình sẽ không được rõ ràng, minh bạch, khi thiền quán sẽ không phân biệt được cái nào là ý, cái nào pháp, cái nào là thức.
Điều đặc biệt của kinh Nikāya là pháp học đi đôi pháp hành, tương ứng với nhau, nếu không học pháp học đúng thì không thực hành được, sẽ không biết được ý căn là gì, pháp trần là gì, ý thức là gì nên không thể nhận diện được. Có khi ngồi thiền bốn mươi năm không biết được ý căn là gì, pháp trần là gì, ý thức là gì, bản thân Minh Thành học pháp học và pháp hành 28 năm, vào các thiền viện học 15 năm nhưng không hề biết, chỉ khi học kinh Nikāya cộng với việc được bậc thành tựu chánh kiến hướng dẫn, chỉ dạy thì mới biết. Pháp trần chính là thọ; tưởng; hành, những cái này thuộc về định lý, định luật, không thể thay đổi nên không thể muốn nói sao là nói, cần bám sát vào lời kinh của Đức Phật. Khi nói mắt; tai; mũi; lưỡi; thân thì ai cũng biết nhưng đến ý thì có vấn đề, khi nói sắc; thanh; hương; vị; xúc thì mọi người có thể hiểu nhưng đến pháp thì có vấn đề, không giải thích ra được, đối với ý thức cũng vậy, không hề đơn giản để hiểu được nó.
Nếu mình không giải thích được, không nhận diện được ý căn thì mình không rõ được pháp trần và ý thức là gì, đây là vấn đề rất thiết yếu trong sự tu. Nhãn căn là mắt, nhĩ căn là lỗ tai, tỷ căn là lỗ mũi, thiệt căn là cái lưỡi, thân căn là tấm thân còn ý căn là gì? Người ta giải thích ý căn là những dây thần kinh vi tế hoặc đi vào thiền định thì mới thấy được nó, không ai biết ý căn là gì nhưng những vị thật tu, thật thấy, thật biết chỉ dạy thì mình mới biết ý căn chính là sự để ý lại bên trong nội tâm của mình.
Bỗng nhiên mình ở trong thất hoặc đang ngồi thiền thì để ý trong tâm thấy hình bóng mẹ mình đang hiện ra, nếu lúc đó con mắt thấy bụi tre là con mắt đang hướng ngoại ra ngoài nhưng ở đây mình để ý vào nội tâm thì cái tưởng hiện ra hình bóng mẹ mình. Những cái này mình làm hằng ngày, hằng giờ nhưng do mình không được học, không ai chỉ dạy nên mình không nhận diện được, những cái này mình rất nhuần nhuyễn. Để ý vào trong thì cái tưởng hiện ra hình bóng mẹ mình, có những suy nghĩ về mẹ là hành, vì có pháp trần nên ý thức sanh khởi ra. Do duyên có ý căn, pháp trần nên sanh khởi ra ý thức, vì có sự để ý đó, bên trong có hình bóng mẹ, có cảm giác dễ chịu, ấm áp, có suy nghĩ về mẹ nên có ra sự rõ biết và cái rõ biết này chính là ý thức. Rõ biết đang có hình bóng về mẹ, rõ biết đang có suy nghĩ về mẹ, đang có những cảm giác êm ái đối với mẹ và cái rõ biết đó là ý thức.
Bây giờ mình nhớ lại người làm mình tức giận, nhớ về người làm hại mình, những người hay kiếm chuyện, gây sự với mình thì hình bóng người đó hiện ra trong tâm, hình bóng đó là tưởng, có cảm giác khó chịu sanh khởi, có những suy nghĩ bực bội, sân hận về người đó sanh khởi, lúc đó mình rõ biết đang có hình bóng của người làm mình khó chịu, rõ biết đang có cảm thọ tức giận về họ, rõ biết đang có những suy nghĩ về họ, đó chính là ý căn, pháp trần và ý thức.
Đó là hai ví dụ về tham ái và sân hận, một cái là dễ thương êm ái, còn một cái là bực mình, tức giận. Sau đây là ví dụ về si, chúng ta nhớ về quê hương, về ngôi chùa thân thương hoặc nhớ về một người bạn không thương cũng không ghét thì hình bóng người đó hiện ra, mình có cảm giác không khó chịu cũng không dễ chịu, có suy nghĩ liên hệ đến người đó và mình rõ biết được những điều đó. Trên đây là ba ví dụ về tham, sân, si, một cái là lạc thọ, sự dễ chịu, cái thứ hai là khổ thọ, chính là sân, thứ ba là bất khổ bất lạc thọ, nhưng quan trọng là phải để ý vào trong thì pháp trần mới hiện ra.
Khi được hỏi có tưởng gì lúc trình pháp thì trả lởi không có tưởng gì, có bộ xương trước mặt thì chỉ thấy bộ xương chứ không có tưởng gì cả, đó là mình chưa biết cách nhận diện pháp trần, lúc đó mình không biết thọ; tưởng; hành đang vận hành thế nào, không biết ý căn ra sao, không biết ý thức là gì, mình chỉ nhìn thấy bên ngoài thôi nên trình pháp thì nói không có tưởng gì cả, đó là vô minh, không sáng tỏ về pháp đó, không thấy rõ pháp đó nên nói không có chứ thật ra là có.
Trong một buổi học pháp này có rất nhiều pháp vận hành trong đó, có khi có cảm thọ ưu, có khi là hỷ cũng có khi là xả, có khi hân hoan, phấn khởi, có khi trì trệ, có khi buồn ngủ, có khi bực bội, mình phải thấy phải biết những điều này. Khi nhận diện ngũ uẩn mới thấy được từng pháp vận hành thế nào, khi có cuộc điện thoại đến mà cảm giác khó chịu sanh khởi lên là thấy ngay, nếu là một người bình thường không nhận diện năm uẩn, không có cái nhìn sâu sắc thì không biết sám hối, nghĩ rằng có ai thấy ai biết gì đâu mà cần sám hối.
Khi con mắt để ý vào cây tùng thì mình thấy có cảm thọ dễ chịu, thích thú thì đó là thọ do nhãn xúc sanh, đó là sự hướng ngoại theo ngũ trần bên ngoài, còn pháp trần ở đây đang học là nội trần, là pháp diễn ra trong thân tâm. Nó sâu sắc đến như vậy mà chúng ta không chịu học, chỉ muốn ngồi im tu thôi, không muốn động đậy gì cả, tôi đang thiền nên đừng ai nói gì cả, đó là thiền trong vô minh, thiền trong bản ngã, thiền trong bóng đêm.
Đây mới chỉ là pháp học đơn sơ để nhận diện được ý căn, pháp trần, ý thức thôi chứ chưa đi vào những thứ khác. Bây giờ mình lắng tai chú tâm nghe lời ai đó nói rồi mình có cảm giác bực bội thì cảm giác đó là thọ do nhĩ xúc sanh, thọ đó do pháp bên ngoài là thanh trần, nếu để ý cái mùi thì có cảm xúc, cảm thọ trong cái mùi, để ý vị thì có cảm xúc, cảm thọ trong vị, nếu để ý thân thì khi tiếp xúc, đụng chạm ở đâu sẽ biết ở đó.
Nếu để ý đến cái lưng ngồi lâu bị đau thì có hình bóng cái lưng hiện ra, có cảm giác nhức mỏi, đau, có suy nghĩ về cái đau đó, có sự rõ biết những cái đó cho nên khi hướng ra ngoài sẽ biết ngũ trần, đó là sắc; thanh; hương; vị; xúc, khi hướng vào tâm thì pháp trần là thọ; tưởng; hành sẽ hiện ra, hướng đến chỗ nào thì các pháp ở đó sẽ hiện ra. Học rồi mới thấy rất vi diệu, từng pháp hiện ra rõ ràng, không lẫn lộn vào nhau, không có chung chung mà cái nào ra cái đó cho nên khi để ý vào nội tâm sẽ có thấy hình bóng đang có trong tâm là tưởng, có những suy nghĩ xung quanh hình bóng đó là hành, có cảm giác về hình bóng đó là thọ, lúc nào thọ; tưởng; hành cũng đi chung với nhau, dính chặt vào nhau.
Như vậy là chúng ta nhận diện các pháp bên trong, giờ ngồi thiền tuyệt diệu ở chỗ đóng lại ngũ căn, mắt; tai; mũi; lưỡi; thân được yên tịnh, khép lại thì lúc đó chúng ta mới nhìn vào bên trong, đối diện với thọ; tưởng; hành của mình, còn giờ ngồi thiền mà nhắm mắt lại rồi thở ra thở vào ngủ gục luôn thì làm sao phân biệt được thọ; tưởng; hành. Trong thọ lại chia ra thọ thân và thọ tâm, hai thọ này khác nhau, phải biết những cảm thọ này có liên hệ đến vật chất hay không liên hệ đến vật chất, trong cái tưởng đó có tham, sân, si, dục, ái không hay chỉ là cái tưởng bình thường, cái hành này có dục tư duy, sân tư duy, hại tư duy không, trong suy nghĩ đó có liên hệ đến sân, dục và có nghĩ làm hại người khác không.
Chúng ta phải kiểm tra tất cả những đều này cho nên ngồi thiền làm gì có chuyện ngủ gục được, bây giờ bán hàng mà khách vào nườm nượp, tay chân hoạt động liên hồi thì làm sao ngủ gục được, còn người ngủ gục là người không thấy không biết chuyện mình đang làm, không hiểu được ý nghĩa, giá trị, trách nhiệm, cái cần xử lý giải quyết thì mới ngủ gục, còn người ý thức được rõ ràng ngồi thiền để làm gì thì không bao giờ ngủ vì có biết bao việc cần giải quyết.
Chỉ có ba chữ ý căn, pháp trần, ý thức thôi mà bản thân Minh Thành đi tìm 28 không ra, ngồi thiền 15 năm vẫn không biết, chỉ biết chung chung ngồi thiền bị vọng tưởng nhưng không biết vọng tưởng gì là, nghĩ rằng có cảm giác, hình bóng, suy nghĩ lúc ngồi thiền là vọng tưởng nhưng hoàn toàn không phải vậy, tưởng là riêng biệt, hành là riêng, thọ là riêng và thức là riêng biệt, cái nào rạch ròi ra cái đó, vào bếp lấy muỗng là muỗng, lấy chén là chén, lấy tô là tô chứ không nói chung hết được, ý căn là ý căn, pháp trần là pháp trần, ý thức là ý thức.
Sau đó dựa vào từng cảm giác mà nhận diện, tham là như thế nào, ái là như thế nào, dục là như thế nào, sân là như thế nào, hờn là như thế nào, mác là như thế nào, thù là như thế nào, hận là như thế nào, mỗi một chữ như vậy đều có cảm giác khác nhau. Trong từng suy nghĩ cũng phải được soi sáng, phải được soi chiếu, phải được kiểm tra, kiểm soát, kiểm điểm trong từng suy nghĩ, vi tế, nhỏ nhiệm như vậy mới đi đến chỗ thấy biết toàn diện về thân tâm, thấy biết một cách đầy đủ viên mãn về ngũ uẩn, về cách vận hành của sắc; thọ; tưởng; hành; thức.
Qua đây mới thấy vô minh thật sự khủng khiếp, khi chưa biết, chưa thấy, chưa thực tập nhận diện cái nào thì mình vô minh với cái đó. Nếu nói theo tiếng Hán Việt thì nghe vô minh có vẻ nặng nề nhưng nói theo Tiếng Việt có nghĩa là không thấy, không biết, không rõ, nếu có tinh thần, nhiệt tâm học pháp thì ai chỉ dạy, hướng dẫn cái gì cũng nghe theo, học hỏi, còn giờ vừa nói đã sân giận, tức lên thì làm sao học được.
Chúng ta nhấn mạnh lại ý căn, tức là sự để ý vào bên trong nội tâm. Khi vào thiền đường chỉ để ý đến tượng Phật, thấy gương mặt Phật từ bi, nếp áo nhẹ nhàng, mềm mại, dáng ngài ngồi tự tại, điềm nhiên thì tất cả pháp khi mình để ý đều hiện rõ ra, từ gương mặt, ánh mặt, vạt áo, dáng ngồi đều hiện ra. Còn giờ không để ý tượng Phật mà để ý bộ bàn ghế thì khi để ý cái nào thì pháp đó được soi rọi, giống như trong ban đêm dùng đèn pin rọi vào chỗ nào thì chỗ đó sáng lên, những thứ được soi sáng sẽ hiển lộ. Đó là ở bên ngoài, đối với trong tâm cũng vậy, bên trong tâm mình không biết cái nào là sắc, cái nào là tưởng, cái nào là thọ, cái nào là tưởng; hành; thức thì làm sao mình soi rọi?
Có soi vào thì cũng là một mớ hỗn độn, chỉ khi nhận diện ngũ uẩn rồi soi vào thọ sẽ thấy đang có khổ thọ khó chịu và cảm thọ này phát sanh từ bản ngã, không vừa ý mình hoặc là soi vào thấy đang có lạc thọ dễ chịu, thích thú vì vừa ý mình, hoặc là soi vào tưởng thì thấy đang có hình bóng gì, khi để ý tới đâu thì pháp đó được soi rọi, được soi chiếu, được soi sáng, giống như bác sĩ nội soi, đưa ống đến đâu là hình ảnh hiện lên màn hình đến đó vì vậy khi trình pháp mà nói không có tưởng gì là do mình chưa biết nhận diện, không phải không có mà do mình không thấy, không để ý, chỉ lo nhìn bên ngoài, trong tâm mình những thọ; tưởng; hành sanh diệt liên tục.
Chúng ta nói thêm về tầm và tứ vì thường xuyên gặp nó. Tầm là sự suy tầm, sự hướng tâm, tứ là bám vào. Sự hướng tâm về pháp, suốt ngày nghĩ về pháp, đi đến đâu cũng thấy chỗ đó học được, pháp đàm được, thiền quán được, do tâm hướng về pháp nên chỗ nào cũng đưa pháp vào, nhìn cái gì cũng nhìn theo pháp. Còn tâm không tầm, tứ vào pháp mà tầm, tứ vào cái khác thì những cái khác đó thường có mặt trong cảm giác, nghĩ tưởng của mình.
Khi tâm hướng về pháp, suy tầm về pháp, mình bám vào pháp thì cái pháp đó có mặt thường trực trong tâm, mình thường bám vào việc nhận diện các cảm thọ và an trú trong sự nhận diện đó hoặc là tâm thường để ý vào thọ; tưởng; hành, soi xét trong này, quán sát, kiểm tra trong này mà không để ý bên ngoài, hoặc tâm hướng ngoại thì chỉ nhìn ra bên ngoài, nếu không nhận diện ngũ uẩn sẽ không biết lúc đó có một cái tầm hướng ngoại, sự hướng tâm ra ngoại cảnh rồi bám víu vào ngoại cảnh, suốt ngày tạo dáng cây kiểng, hôm nay để chậu kiểng ở đây, mai lại đổi sang hướng khác, đó là hướng tâm ra bên ngoài chứ không hướng tâm vào thân; thọ; tâm; pháp, không hướng tâm vào sự nhận diện ngũ uẩn, nhận diện lậu hoặc, nhận diện tham, sân, si, bản ngã, nhưng tất cả mọi việc đều phải xuất phát từ nhận diện ngũ uẩn.
Khi nói câu "mẹ đang tựa cửa trông chờ, hi vọng mình" là không phải nói để sanh khởi tham ái mà có ý khích lệ cho những người mới học, mới tu, phải ý thức được bổn phận, trách nhiệm của một người mới xuất gia chứ không phải nói để khởi lên tham ái, nhớ mong mẹ để về thăm, cho nên mỗi một việc như vậy thì cái nhìn của mình có rất nhiều hướng. Những người mới tu cần phải được khích lệ, cần phải được nhắc nhở, sách tấn, khuyến khích để họ nhớ bổn phận, trách nhiệm của một người xuất gia để họ cố gắng vì có khi đi tu rồi là quên cha, quên mẹ, hưởng nhàn, cái đó tưởng mình hay nhưng lại là bất hiếu, đó cũng là một phương diện để mình tác ý.
Đối với bất khổ bất lạc thọ, nếu mình không biết là si, còn mình biết nó là một cảm giác không phải khổ cũng không phải vui, cảm giác là duyên xúc, cảm giác này không phải mình, không phải của mình thì cái đó là trí, là tuệ, còn nếu cứ đơ ra thì lúc đó mình bị si. Ngay cả cảm giác sân cũng vậy, nếu mình nhận ra nó rồi nhiếp phục, chế ngự thì mình đang tu tập, phải trải qua cả một quá trình tu tập mới thấy biết được cảm giác sân đó, còn nhiếp phục, chế ngự là do công phu của mình thuần thục hay không thuần thục, đủ sức hay không đủ sức chế ngự nó, có khi sức mình chỉ ở 30 phần trăm nhưng đó vẫn là sự thấy biết, cũng có thành tựu trí tuệ. Cho nên sự nhận diện ngũ uẩn không phải chỉ tới đó là xong mà còn có tác ý, quán chiếu, quán tưởng, còn vận dụng nhiều pháp để gội rửa, tẩy sạch, làm vệ sinh các lậu hoặc, cấu nhiễm trong căn nhà nội tâm của mình.
Nguyện đem công đức phước lành này hồi hướng cho cô Sáu là một trong bốn người cô không gia đình nhưng đã lo lắng và phụng sự cho Linh Quy Pháp Ấn, hiện giờ sinh mạng của cô như đèn treo trước gió. Nguyện đem phước lành này hồi hướng về cho cô, nếu thọ mạng chưa hết thì được an lành, nếu thọ mạng đã hết thì cũng được công đức này. Hiện tại các người cô của Minh Thành cũng đang làm rất nhiều việc phước thiện cho cô, bố thí cho những người nghèo khổ, cho những trẻ em mồ côi mất cha mất mẹ trong mùa dịch Covid này, bố thí cho những người mổ mắt, mổ tim, cúng dường sửa nhà bếp cho Linh Quy Pháp Ấn này và cúng dường thất cho các thầy các cô nhập thất, phóng sanh, làm tất cả việc lành. Còn riêng bản thân Minh Thành chỉ biết đem chánh pháp hướng tâm hồi hướng cho cô, nguyện nhờ phước lành này nếu nghiệp cô chưa mãn thì được khỏe trở lại, nếu thọ mạng đã hết thì nhờ phước báo này sanh vào cõi lành.
./.