Kinh NIKAYA Giảng Giải - Pháp Truyền Thống Của Chư Phật
Kinh Nikāya Giảng Giải
PHÁP TRUYỀN THỐNG CỦA CHƯ PHẬT
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Bài kinh Nàlanda: PAGEREF _Toc111536819 \h 1
II. Con đường của các Bậc Giác Ngộ: PAGEREF _Toc111536820 \h 3
III. Năm triền cái: PAGEREF _Toc111536821 \h 5
IV. Bài kinh khu rừng: PAGEREF _Toc111536822 \h 10
V. Diệt Tâm Hướng Ngoại PAGEREF _Toc111536823 \h 11
VI. Chia sẻ: PAGEREF _Toc111536824 \h 22
Phật tử 1 PAGEREF _Toc111536825 \h 22
Cô Thông Tuệ PAGEREF _Toc111536826 \h 23
Cô Tuệ Khiêm PAGEREF _Toc111536827 \h 24
Cô Tuệ Đức PAGEREF _Toc111536828 \h 25
Chú Sĩ PAGEREF _Toc111536829 \h 26
Chú Tam PAGEREF _Toc111536830 \h 27
Phật tử 2 PAGEREF _Toc111536831 \h 28
Bài kinh Nàlanda:
Hôm nay chúng ta sẽ nghe kinh “Nàlanda” trong Tương Ưng Bộ tập 5, con đường của các bậc Chánh Đẳng Giác.
“Một thời, Thế Tôn trú ở Nàlanda, tại rừng Pavàrikamba.
Rồi Tôn giả Sàriputta (Xá-lợi-phất) đi đến Thế Tôn... Ngồi một bên, Tôn giả Sàriputta (Xá-lợi-phất) bạch Thế Tôn:
- Như vậy, bạch Thế Tôn, là lòng tịnh tín của con đối với Thế Tôn. Không thể đã có, không thể sẽ có, không thể hiện có một Sa-môn hay Bà-la-môn nào khác có thể vĩ đại hơn, thắng trí hơn Thế Tôn về Chánh giác”.
“Không thể đã có, không thể sẽ có, không thể hiện đang có bất cứ một bậc tu hành nào có thể vĩ đại hơn, thắng trí hơn Đức Thế Tôn về Chánh Giác”.
Tức là trong quá khứ, hiện tại và tương lai, không có một người nào vượt hơn sự giác ngộ của Ngài, không thể có chuyện đó xảy ra.
“- Thật là đại ngôn (ulàra), này Sàriputta, là lời tuyên bố như con ngưu vương này của Ông, lời tuyên bố một chiều, tiếng rống của con sư tử: Như vậy là lòng tịnh tín của con đối với Thế Tôn. Không thể đã có, không thể sẽ có, không thể hiện có một Sa-môn hay một Bà-la-môn nào khác, có thể vĩ đại hơn, thắng trí hơn Thế Tôn về Chánh giác”.
“Này Sàriputta, đối với các vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác trong thời quá khứ, tất cả các vị Thế Tôn ấy, Ông có thể biết rõ tâm niệm với tâm của Ông rằng: Các bậc Thế Tôn ấy đã có giới đức như vậy. Các bậc Thế Tôn ấy đã có pháp như vậy. Các bậc Thế Tôn ấy đã có tuệ như vậy. Các bậc Thế Tôn ấy đã có hạnh trú như vậy. Các bậc Thế Tôn ấy đã giải thoát như vậy?
- Thưa không, bạch Thế Tôn”.
“- Này Sàriputta, đối với các vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác trong thời vị lai, tất cả các vị Thế Tôn ấy, Ông có thể biết rõ tâm niệm với tâm của Ông: Các bậc Thế Tôn ấy sẽ có giới đức như vậy. Các bậc Thế Tôn ấy sẽ có pháp như vậy. Các bậc Thế Tôn ấy sẽ có tuệ như vậy. Các bậc Thế Tôn ấy sẽ có hạnh trú như vậy. Các bậc Thế Tôn ấy sẽ giải thoát như vậy?
- Thưa không, bạch Thế Tôn”.
“-Này Sàriputta, đối với các vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác trong thời hiện tại, tất cả các bậc Thế Tôn ấy, Ông có thể biết rõ tâm niệm với tâm của Ông rằng: Các bậc Thế Tôn ấy hiện có giới đức như vậy. Các bậc Thế Tôn ấy hiện có pháp như vậy. Các bậc Thế Tôn ấy hiện có tuệ như vậy. Các bậc Thế Tôn ấy hiện có hạnh trú như vậy. Các bậc Thế Tôn ấy hiện có giải thoát như vậy?
- Thưa không, bạch Thế Tôn”.
“-Và này Sàriputta, ở đây, Ông không có chánh trí với tâm của Ông biết được tâm của các vị A-lahán, Chánh Ðẳng Giác, quá khứ, vị lai, hiện tại; thời này Sàriputta, do ý nghĩa gì Ông lại thốt ra lời đại ngôn, lời tuyên bố như con ngưu vương, lời tuyên bố một chiều, tiếng rống tiếng con sư tử của Ông rằng: Như vậy là lòng tịnh tín của con đối với Thế Tôn. Không thể đã có, không thể sẽ có, không thể hiện có một Sa-môn, hay Bà-la-môn nào khác, có thể vĩ đại hơn, thắng trí hơn Thế Tôn về Chánh giác?
- Bạch Thế Tôn, con không có chánh trí với tâm của con biết được tâm các vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, quá khứ, vị lai, hiện tại, nhưng bạch Thế Tôn, con biết được pháp truyền thống (dhammanvayo)”.
“Ví như, bạch Thế Tôn, tại một thành ở biên giới, với những hào lũy kiên cố, vững chắc, với những thành quách, tháp canh kiên cố và chỉ có một cửa ra vào. Tại đấy, có một người gác cửa sáng suốt, thông minh, có trí, không cho vào những người lạ mặt, chỉ cho vào những người quen mặt. Trong khi người ấy đi tuần đến con đường xung quanh thành trì ấy để xem, không thấy có một khe hở ở tường nào, hay lỗ hổng ở tường nào, cho đến một con mèo có thể lọt qua được. Và người ấy suy nghĩ rằng: Có những sinh loại thô lớn nào đi vào hay đi ra ngôi thành này, tất cả phải đi vào hay đi ra cửa này. Như vậy, bạch Thế Tôn, là pháp truyền thống mà con được biết.
Bạch Thế Tôn, phàm có những bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác nào trong thời quá khứ, tất cả bậc Thế Tôn ấy, sau khi đoạn tận năm triền cái, những pháp làm uế nhiễm tâm, làm yếu kém trí tuệ, sau khi khéo an trú tâm trên bốn niệm xứ, sau khi như thật tu tập bảy giác chi, đã chứng ngộ vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Bạch Thế Tôn, phàm có những bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác nào trong thời vị lai, tất cả các bậc Thế Tôn ấy, sau khi đoạn tận năm triền cái, các pháp làm uế nhiễm tâm, làm yếu ớt trí tuệ, sau khi khéo an trú tâm trên bốn niệm xứ, sau khi như thật tu tập bảy giác chi, sẽ chứng ngộ vô thượng Chánh đẳng Chánh giác”.
“Còn Thế Tôn, bạch Thế Tôn, là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, sau khi đoạn tận năm triền cái, những pháp làm uế nhiễm tâm, làm yếu kém trí tuệ, sau khi khéo an trú tâm trên bốn niệm xứ, sau khi như thật tu tập bảy giác chi, chứng ngộ vô thượng Chánh đẳng giác.
- Lành thay, lành thay, này Sàriputta! Ông hãy luôn luôn thuyết pháp thoại này cho các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, các nam cư sĩ, các nữ cư sĩ. Này Sàriputta, nếu có những người ngu si nào còn có những nghi ngờ, hay những do dự đối với Như Lai sau khi nghe pháp thoại này của Ta, sự nghi ngờ, do dự ấy của họ đối với Như Lai sẽ trừ diệt”.
II. Con đường của các Bậc Giác Ngộ:
Bài kinh này hết sức là quan trọng, truyền thống của tất cả các bậc Chánh Đẳng Giác. Chúng ta thấy cuộc đối thoại, sự trình bày của bậc tướng quân Chánh Pháp, Thánh Tăng - Ngài Xá Lợi Phất, đến lạy dưới chân Đức Phật rồi kính bạch bậc tôn quý trên đời:
“Con có lòng tin chắc chắn, xác quyết, trong sáng, thanh tịnh đối với Thế Tôn. Không thể đã có, không thể sẽ có, không thể hiện có bất cứ một bậc tu hành nào có thể vĩ đại hơn Thế Tôn về trí tuệ Chánh Giác”. Tức là quá khứ, vị lai và hiện tại, không thể có một ai có trí tuệ hơn Như Lai, đó là lòng tin của con đối với Ngài.
Đức Thế Tôn hỏi: - Vậy chứ với cái tâm của ông, với trí tuệ của ông, ông có biết rằng thuở xa xưa, quá khứ, các bậc Chánh Đẳng Giác đã tu như thế nào, đã giới như thế nào, pháp như thế nào, đức hạnh như thế nào, giải thoát như thế nào, ông có biết không? Ông có thấy được không?
- Xá-Lợi-Phất: Bạch Thế Tôn, con không thấy, con không biết.
- Đức Thế Tôn: Vậy các bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác tương lai tu như thế nào, giới như thế nào, pháp như thế nào, giải thoát như thế nào, ông có biết không, ông có thấy không? Và hiện tại, ông có thấy biết không?
- Xá-lợi-phất: Dạ thưa không. Nhưng mà con biết pháp truyền thống của Chư Phật. Giống như, thưa Thế Tôn. Ở biên cương, biên ải, biên thùy, thành quách kiên cố, vững chắc, chỉ một cánh cửa ra vào. Người đi tuần này hết sức kỹ lưỡng, cẩn thận, thận trọng, xem xét từng ngõ ngách, không có một chỗ hở nào con mèo có thể chui qua được. Tất cả các sinh loại (những loài có mạng sống), muốn đi qua, thì duy nhất chỉ có một cánh cửa đó, không thể có con đường thứ hai để đi ra, đi vào”.
Cửa đó là gì?
Cái này chúng ta phải học thuộc, nếu không thuộc cái này là không phải đệ tử chân chính của Đức Phật. “Sau khi đoạn tận Năm Triền Cái, những pháp làm uế nhiễm tâm, làm cho yếu kém trí tuệ, sau khi khéo an trú tâm trên Bốn Niệm Xứ, sau khi tu tập như thật Bảy Giác Chi thì đã chứng ngộ vô thượng Chánh Đẳng, Chánh Giác”, đây là truyền thống của tất cả Đức Phật trong quá khứ, hiện tại và vị lai. Phải đi qua cánh cửa đó, không có một vị Phật nào, một bậc giác ngộ nào mà không tu tập những pháp này, đó gọi là những pháp truyền thống.
Đức Thế Tôn khen ngợi hết lời. Ý ông Xá-lợi-phất nói là: Các bậc Chánh Giác ở quá khứ đã tu tập như vậy, những bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác thời tương lai sẽ tu tập như vậy, Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác ngay trong hiện tại, Người đã tu tập như vậy, chứng ngộ thành bậc Vô Thượng Giác, Chánh Biến Tri, đó là con biết pháp truyền thống phải như vậy, không thể khác được.
Thế Tôn nói: “Ông nói lời này rất là to lớn, tiếng gầm con sư tử, hay lắm Xá-lợi-phất, tuyệt vời lắm Xá-lợi-phất, lành thay Xá-lợi-phất. Ông phải nói pháp này cho Tỳ-kheo, Tỳ-kheo Ni, cho những người nam nữ cư sĩ, những kẻ ngu si, mê muội, còn nghi ngờ. Khi nghe được pháp này, sẽ đoạn tận hết tất cả nghi ngờ về Như Lai, về giáo Pháp”.
Như vậy thì phát truyền thống của Đức Phật đầu tiên là gì? Đoạn tận Năm Triền Cái. Mình xem lại coi Năm Triền Cái mình đoạn được bao nhiêu? Không thể có cánh cửa thứ hai, không thể có con đường thứ hai.
III. Năm triền cái:
“Năm Triền Cái là gì cô Huệ Tâm?”
Cô Huệ Tâm
“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Con kính thưa sư phụ
Con kính thưa quý thầy, quý sư cô và toàn thể đại chúng.
Dạ Năm Triền Cái là tham dục, sân, thùy miên, trạo hối và nghi.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật”
Mình phải nhớ từ “đoạn tận Năm Triền Cái, những pháp làm uế nhiễm tâm, làm cho yếu kém trí tuệ”. Tiếp theo là “khéo an trú tâm trên Bốn Niệm Xứ”. Tại vì Năm Triền Cái mà mình không phá nó, có thì sự an trú trong Bốn Niệm Xứ không thành tựu một cách viên mãn. Mình nói thí dụ cho nó gần là sự tu tập của mình, khi ngồi thiền mà mình hôn trầm, mình có an trú được trong Bốn Niệm Xứ không? Có Niệm thân được không? Khi bình thường mình giận ai, mình có an trú được vô Bốn Niệm Xứ không? Không được. Tại vì cái đó nó làm cho ô nhiễm tâm, làm cho yếu kém trí tuệ.
Có một cái gì đó trong tâm mình bị dao động, nó lo lắng một vấn đề gì đó, mình có an trú được trong Niệm Xứ không? Nó trạo hối, nó lăng xăng, hối tiếc, hay là nó nghi ngờ, hoài nghi một vấn đề gì trong pháp, hay trong tự thân của mình, thì không thể an trú trong Bốn Niệm Xứ. Cho nên sau khi đoạn tận Năm Triền Cái, những pháp làm uế nhiễm tâm, làm yếu kém trí tuệ, sau khi khéo an trú tâm trên Bốn Niệm Xứ. Nên trong giai đoạn đầu tiên mình tu, mình chỉa mũi dùi thẳng vô Năm Triền Cái, mình phá tham dục, sân, hôn trầm, trạo hối, sự lao chao, lóc chóc của thân, sự dao động của tâm, mình mới phá hoài nghi đối với Phật, đối với pháp và đối với Tăng, đối với tự thân của mình.
Năm cái này còn nhiều quá, còn thô quá, thì mình không thể an trú vào Bốn Niệm Xứ được, mình không thể thực tập Thân, Hành, Niệm được. Mà con đường này mình đi là con đường của các bậc Chánh Đẳng Giác đã đi qua, bây giờ mình đi, đó mới gọi là Chơn Chánh Phật tử. Sự dụng công của mình thì mình phải biết, mình bắn giặt thì mình phải nhắm cho chính xác, chứ không phải mình bắn tùm lum. Dục tham, tham ái đối với gia đình, thấy vậy chứ không phải dễ. Có những người tu đến suốt cuộc đời, nhưng mà cái ái với gia đình vẫn không đoạn được (suốt đời à nha).
Có cô chú lên trên đây công quả, sau đó xin tập sự xuất gia tám tháng nhưng con không cho xuất gia. Chú chờ lâu không được, chú qua chỗ khác xuất gia cho nó nhanh, chú đi đến thiền viện lớn lắm. Xuất gia rồi chú lại đi qua một thiền viện khác để ở, sau đó chú trở về đây, sau đó chú đi về với vợ cũ. Tại vì con biết tâm người này chưa có quyết chắc xả ly đối với gia đình, cho nên con không cho xuất gia, dù ở đây tám tháng, làm được nhiều việc cho chùa. Thành ra các dục, ái nó nhiều lắm, nó không chỉ là nam nữ.
Thứ nhất mình tu nhận diện năm uẩn, mình thấy ra phải không? Nó rất là nhiều phương diện, khía cạnh. Cho nên một người gọi là chân tu tha thiết, chân thành, phải để ý rất nhiều trong nội tâm của mình. Ái chồng, ái con, ái cha, ái mẹ, ái anh, chị em, ái bà nội, bà ngoại… Có nhiều người muốn đi xuất gia, nhưng mà thương ngoại quá. Như chú Sĩ ở đây, nhà có bà ngoại, không có sống với ba mẹ, sống với ngoại nhiều hơn, nên thương bà ngoại nhiều hơn, xúc sanh thọ, thọ sanh ái, người mình tiếp xúc nhiều thì người đó mình có tình cảm nhiều hơn, cho nên ái là duyên sanh mà. Xúc sanh thọ, thọ sanh ái, xúc nhiều mới có thật nhiều thọ, thọ nhiều mới có ái nhiều, ái nhiều mới có sự ràng buộc nhiều, nhiều lắm.
Vợ xong rồi nội, ngoại, chồng, con, còn không thôi là chị, em, có nhiều người hai chị em thương lắm, thương vô cùng thương, sống với nhau hoài như vậy mấy chục năm, rồi đi tu thì cũng đi tu chung (mấy cô có thấy không?). Nhưng thực sự mình không nắm được cái pháp, thì tất cả nó tiềm tàn, nó biến dạng, cái tham ái nó biến dạng, nó vi tế, phải có trí tuệ ngũ uẩn, phải nhìn.
Đó là mình nói nhẹ nhẹ ngoài đời thôi, vô chùa bắt đầu ái Sư phụ, ái Sư tỷ, ái Sư muội, Sư thúc, Sư bá gì đó, như vậy là dị dạng của ái, một hình thức khác của ái. Có ái thì có dục, tức là muốn ở gần, muốn ở chung. Có nhiều người không thích Sư phụ bằng Sư tỷ hay là sư thúc gì đó, xin Sư phụ đi qua ở với Sư thúc, có không? Mấy cô có thấy không? Thành ra đó là cái bẫy hết, Năm Triền Cái hết, mà mình không biết. Rồi nhớ chùa, ở chùa đó, cái phòng đó lâu rồi, ghê gớm lắm. Cái này mình học nó dài lắm, nó vi tế.
Lúc trước Minh Thành ra Thiền Viện Trúc Lâm ở sáu tháng, lúc đó mình chưa biết pháp năm uẩn, nhưng mình thấy được, bây giờ mình nhìn lại nó ghê gớm lắm. Khi trở về, đi bộ xa xa, gần tới chùa, tiếng chuông chùa nó vang lên, mình nhìn thấy cái chùa trong lòng mình nó quen thuộc, ấm áp (coi cười hết trơn rồi kìa), nó quen làm sao, ấm áp, ngọt ngào, ái đó. Tim của mình nhiều khi nó muốn thắt lại, nhiều khi nó muốn vỡ ra, nó đau lòng, đau xót, ái không đó.
Tại sao vậy? Mình không có tu tập các truyền thống của bậc Chánh Đẳng Giác, mình không có nhìn thấy được. Bây giờ hỏi Năm Triền Cái thôi mà còn nhiều người không biết Năm Triền Cái là cái gì, hoặc là nhớ lộn xộn, thì làm sao mà tu? Cái tên, mặt mũi mình không biết, tính tình mình càng không biết thì làm sao mình xử lý, diệt tận nó được? Ở đây dùng từ là “đoạn tận những Năm Triền Cái” mà. Không đoạn tận thì Đức Thế Tôn ngồi nhớ Da-du-đà la, nhớ La-hầu-la, rồi nửa đêm bỏ cây bồ đề đi về hay sao? Chúng ta thấy không? Cả một chiến tích vĩ đại, phải đi qua, tức là phải đoạn tận Năm Triền Cái trước. Chứ lâu lâu buồn rồi điện thoại về hỏi thăm Sư muội, Sư tỷ là ái, phải nhìn thấy, phải đọc được hết tất cả những thọ, tưởng, hành đó. Không phải nói mình cắt là mình cắt hết, không phải. Mình phải nhìn ra cái nào là cần thiết trong công việc, và cái nào là ái nó đang hoạt động, phải thấy, mình thấy được chỗ này chưa?
Gia đình cũng vậy, mình điện thoại đó là mình điện với ở bên trong này là một sự muốn giúp đỡ, hướng dẫn cha mẹ về Phật pháp, muốn khuyến khích, khích lệ, dẫn dắt, tạo duyên cho cha mẹ tu tập, hay là mình điện cái đó là vì cái ái? Nó khác nhau chỗ đó, nhưng mình không thành tựu Chánh Kiến, không thành tựu trí huệ thì sao mình biết được cái nào là cái nào, phải không? Làm sao mình biết được cái nào là từ, cái nào là ái, cái nào là tuệ, cái nào là báo hiếu, mình không thể phân biệt được. Chính vì vậy mình phải tu học trên núi năm năm, mười năm, rồi sau đó xuống núi.
Thành ra nhớ về cái chùa, nhớ về thầy, nhớ về huynh đệ, những cái đó là gì? Nếu mà cái đó nó quyết định, là phải trở về sống với cái đó, nó quen rồi “sống ở đâu quen ở đó, giờ qua chỗ khác nó lạ”. Như vậy là tìm chỗ quen, tìm chỗ ái, chứ không phải tìm cầu pháp, rõ chỗ này chưa? Tức là “chỗ đó nó hợp gu với mình, nó quen với mình, nó dễ thương, nó thân thuộc, ấm áp, ngọt ngào. Còn chỗ này lạ, không ai quen hết, sư phụ không quan tâm, không gần gũi bằng, dưới kia có bạn”, như vậy mình đi tìm ái, hay là mình đi tìm cầu pháp? Mình không khéo thì sự đi tu của mình là đi tìm ái, tham ái, nhiều lắm.
Thật sự từ ngày con xuất gia, con cẩn thận trong cái này hết sức nhiều. Từ ngày đi tu, từ hồi mười mấy tuổi thôi, con đã nhận ra điều này, chắc đời trước con cũng đã tu tập rồi. Cho nên khi đệ tử đi xuống một lần chục người, con bình thường. Đương nhiên đệ tử đi thì mình cũng có gợn lên chút “ôi, cái này duyên. Không có gì hết”, con đã thấy được điều đó từ lúc mà mới xuất gia. Dễ lắm, cái dục, ái này nó ghê gớm, nó cũng khiếp lắm, khủng khiếp vô cùng. Mà cái ái này là gì? Là làm ô uế tâm, ô nhiễm tâm, làm yếu kém trí tuệ, nó làm cho tâm mình dơ, nó không còn trong sáng đối với cái pháp nữa. Bất cứ mình ái một cái gì, từ con người, sự vật, một món đồ hay chỗ làm việc, thì tâm mình đều bị dơ, nó không có trong sáng.
Bây giờ mình thích làm công việc đó, mà sư phụ cho làm cái khác, không làm cái đó . Lúc đó mình làm sao? Sân không? Khó chịu không? Thấy chưa? Nó vòng vòng trong Năm Triền Cái thôi, nó không dục, không ái, thì nó sân, mà người đó không biết đó là bài tập của thầy cho, tại sao? Vì thầy đưa ra bài tập đó, nếu mình là người chân tu, thì mình phải “ờ, ái công việc, ái chỗ đó”.
IV. Bài kinh khu rừng:
Mình đi tu chỉ cầu pháp thôi, chỗ nào có Chánh Pháp, tu đúng Chánh Pháp, chết cũng không đi. Hôm nào cũng sẽ học bài kinh “Khu Rừng” (mấy nay có mấy người muốn đi nữa nè), bài kinh này hay lắm, mình chưa có học. Bài kinh này mới đúng là sự cầu pháp mà Đức Phật dạy, bài kinh “Khu Rừng” (dưới này mấy chú có ai đọc bài kinh đó chưa? Chưa ai đọc hết hả?). Mình nói vắn tắt thôi:
“- Chư Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo sống tại một khu rừng nào. Tỷ-kheo sống tại khu rừng này, các niệm chưa được an trú không được an trú, tâm tư chưa được định tĩnh không được định tĩnh, các lậu hoặc chưa được hoàn toàn đoạn trừ không được hoàn toàn đoạn trừ, vô thượng an ổn khỏi các ách phược chưa được chứng đạt không được chứng đạt, và những vật dụng này cần thiết cho đời sống mà một người xuất gia cần phải sắm đủ, như y phục, đồ ăn khất thực, sàng tọa, y dược trị bệnh, những vật dụng này kiếm được một cách khó khăn”.
Đại ý Đức Phật dạy mình: Cái gì, chỗ nào, mình đến mà chỗ đó có ăn, thực phẩm đầy đủ, chỗ ở ngon lành, tốt đẹp, mà không có pháp thì đi, đừng ở. Dù chỗ đó đầy đủ tất cả mọi vật chất, mà không có pháp, đừng ở. Còn nếu chỗ nào mà tới đó có pháp, mà thiếu thốn vật chất, thì ở, ở đó tu. Mình cầu pháp, cầu đạo, hay cầu gạo? Cầu cái nào? Mình cầu pháp. Bây giờ có pháp mà nhiều khi thiếu thốn, đơn sơ, như vậy mà dễ dàng thực hành pháp, cho nên Đức Phật nói “ở chỗ đó tu”. Mà mình bây giờ đến một chỗ nào đó mà vừa có pháp, vừa có thực nữa, thì đuổi cũng không đi, đó là ý Đức Phật dạy như vậy. Sau này mình sẽ học được bài kinh hay lắm, tuyệt vời lắm, đuổi cũng không đi. Chỗ đó mình ở mà thiện pháp tăng trưởng, là mình ở, chỗ đó nên ở. Chỗ ở mà ác pháp tăng trưởng, thì bỏ đi ngay lập tức, không cần xin, Đức Phật dạy như vậy “bỏ đi ngay lập tức, không cần xin, không cần từ giã”.
Như vậy thì mình coi, cái tâm mình có phải cầu pháp không? Hay là mình đi cầu cái gì? Cầu dục, cầu ái, cầu tham, cầu danh, cầu lợi, cầu sự dễ dàng, sự dễ vui, sự “ẩn dương nương Phật”, sự êm ái, thoải mái hay là cầu pháp? Phải kiểm soát cái tâm của mình, xem xét nó, cái này nhiều lắm. Không có chân thật, không có chân tu thật, đi tìm chỗ sung sướng, đi tìm chỗ thuận theo ái, dục, tham của mình. Thì mình thấy Chánh Pháp mình vẫn bỏ như thường, để đi tìm những thứ đó, đau lòng không? Đau xót không? Đau khổ cho người tu không?
Đem lên cái bàn cân thì cái dục, cái tham, nó nặng hơn là cầu pháp. Chính vì vậy mà bỏ cái pháp đi theo cái dục, tham, ái đó. Chính dục, tham, ái đó, nó xúi giục mình chạy hoài, ở không yên để tu.
Con đọc bài “Diệt Tâm Hướng Ngoại” cho đại chúng nghe, nó không cho mình tu. Cái tâm tham ái đó, cái tâm dục đó, nó thúc giục ở trong, nó không cho mình ở yên tu. Cái này phải nhìn thấy được, không nhìn thấy là mình khổ dài dài. Con đi tu mấy chục năm mà không biết tâm hướng ngoại, bây giờ đi vào dòng pháp này rồi mới thấy khủng khiếp.
(Bây giờ mình nghe rầy nha, chứ nghe ngọt hoài nó không thấm).
V. Diệt Tâm Hướng Ngoại
“Tâm hướng ngoại này, đồ mất dạy,
Nói bao nhiêu lần cũng chẳng nghe,
Âm thầm xúi giục đi đây đó,
Chẳng chịu yên lòng, quyết tiến tu.
Tâm hướng ngoại này, thứ cô hồn,
Giục người lang thang mãi không thôi,
Ngày đây mai đó, sống vất vưởng,
Lòng không an tịnh như ma trơi.
Tâm hướng ngoại này, như thú hoang,
Liên hồi nhảy nhót đứng chẳng yên,
Chuyền cành qua lại kêu hú mãi,
Lăng xăng, lộn xộn, dao động hoài.
Tâm hướng ngoại này, giống quỷ ma,
Ẩn ẩn, hiện hiện bóng chập chờn,
Rủ rê, rong chạy tìm ái dục,
Thiền không định được, lòng bất an.
Tâm hướng ngoại này như thằng điên,
Thì thầm, thỏ thẻ, thủ thỉ nhây,
Vẽ vời, dụ hoặc theo cảnh sắc,
Chết nổi, chết chìm trong biển mê.
Tâm hướng ngoại này như kẻ trộm,
Lén lén, lút lút, lẻn vô nhà,
Lấy hết của báu trong tâm ta,
Xuất gia một đời toàn trống rỗng.
Tâm hướng ngoại này như đói khát,
Đòi hoài, đòi mãi vẫn không vừa,
Tham lam vơ vét không xấu hổ,
Cuối đời nhắm mắt trong khốn cùng.
Tâm hướng ngoại này quá nghèo hèn,
Hạ liệt, bần tiện, vô liêm sỉ,
Tìm kiếm suốt đời chẳng thỏa lòng,
Chất chứa, tích lũy gom góp mãi,
Chẳng tu ít muốn, biết đủ xài.
Con thề thành đạo ở nơi này,
Nếu không rắn độc cắn chết tươi,
Ung thư, tai biến nằm một chỗ,
Trầm luân, sanh tử đến muôn đời.
Con thề thành đạo ở nơi này,
Nếu không địa ngục đoạ chẳng ra,
Đắm chìm vĩnh viễn trong khổ cảnh,
Đoạ đày vô lượng kiếp hằng xa.
Con thề thành đạo ở nơi này,
Nếu không chết chẳng được toàn thây,
Bầy nhầy gan ruột văng tứ phía,
Chặt đầu, phân xác, nát thịt da.
Con thề thành đạo ở nơi này,
Nếu không chết yểu, chết thình lình,
Chết bờ, chết bụi, chết tai nạn,
Chết bị mất xác tìm không ra.
Con thề thành đạo ở nơi này,
Nếu không bệnh dữ, lậu, giang mai,
Điên khùng, mất trí, ngu, khờ dại,
Cha mẹ, cô bác, chẳng biết ai.
Con thề thành đạo ở nơi này,
Nếu không núi lở, bị đá đè,
Lũ lụt cuốn trôi không thấy xác,
Bão táp nổi lên hất chết ngay,
Con thề thành đạo ở nơi này,
Một lòng sống chết, quyết tử sanh,
Hằng xa số kiếp trong quá khứ,
Đã chết bao lần trong mộng mê.
Con thề thành đạo ở nơi này,
Xương tan, thịt nát tại chỗ đây,
Chết vì Thánh đạo. Ôi! oanh liệt,
Sống kiếp đê hèn, nhục nào hơn.
Con thề thành đào ở nơi này,
Tử chiến dục, tham, ái, vô minh,
Diệt cho sạch hết mầm bản ngã,
Diệt cho sạch hết tâm lợi danh,
Diệt cho sạch hết lòng hướng ngoại,
Diệt cho sạch hết ý tìm cầu,
Diệt cho sạch hết mọi toan tính,
Diệt cho sạch hết nghiệp vừa qua,
Diệt cho sạch hết nghiệp hiện tại,
Diệt cho sạch hết nghiệp tương lai,
Diệt cho sạch hết sự chấp thủ,
Bám chặt, keo sơn ngũ uẩn này.
Thoát ra khỏi cảnh tù ngục mãi,
Tự do, tự tại xuất thế gian,
Không nương tựa vật gì ở đời,
Dứt sạch sầu, bi, khổ, ưu, não,
Tiêu dao, siêu thế lạc an vui.
Tiêu dao, siêu thế lạc an vui,
Chuyển Chánh Pháp luân đến mọi loài,
Từ đây xóa sạch màn hắc ám,
Bình minh Thánh tuệ rạn muôn nơi.
Chỉ có một đường tiến thẳng nhanh,
Không cho phân vân, do dự sanh,
Nếu ngươi không tu ngươi cứ biến,
Mình ta trụ sơn lòng tịnh thanh.
Chỉ có một đường tiến thẳng nhanh,
Tâm ta đã quyết, ngươi tuân hành,
Đừng hòng rù quến và dụ hoặc,
Kiếm thần một nhát đứt làm đôi.
Ta đã thấy ngươi, đã biết ngươi,
Hữu lậu, hướng ngoại thật tinh ranh,
Trăm mưu, ngàn kế giăng mồi bẫy,
Dụ hoặc ta ra khỏi thất nhanh.
Ta đã thấy ngươi, đã biết ngươi,
Đầu ngươi có sừng, miệng có nanh,
Móng vuốt sắc bén chạy quanh quẩn,
Hiện ra người đẹp mỹ nhân kế,
Dụ dỗ chúng sanh mãi mê si.
Ta đã thấy ngươi đã biết ngươi,
Lời ngon, tiếng ngọt khéo vẽ vời,
Vẽ ra viễn cảnh trò tham ái,
Lôi kéo người tu chẳng đạt thành.
Ta đã thấy ngươi, đã biết ngươi,
Thì thầm, thỏ thẻ mãi bên tai,
Rủ rê, bày vẽ bao nhiêu thứ,
Khiến khách hữu tình hoạn nạn hoài.
Ta đã thấy ngươi, đã biết ngươi,
Âm mưu thâm độc nhất trên đời,
Dựng tuồng, diễn kịch theo ngoại cảnh,
Nội tâm rối bời, lòng bất an.
Ta đã thấy ngươi, đã biết ngươi,
Hỡi quân khốn nạn khéo lừa người,
Bày trò ma mị trong trí não,
Dẫn ta vào bể khổ sầu đau.
Ta đã thấy ngươi, đã biết ngươi,
Hỡi quân mất dạy khéo hại người,
Xúi giục người tu không an tịnh,
Lang thang, vất vưởng như ma trơi.
Ta đã thấy ngươi đã biết ngươi,
Hỡi quân ác độc khéo giết người,
Giết giới hạnh, thiền định, trí tuệ,
Giết hùng tâm, chán chí tu hành.
Ta đã thấy, ngươi đã biết ngươi,
Hỡi quân gian manh khéo gạt người,
Lọc lừa, mánh khóe thêm trá ngụy,
Gạt hết thế nhân khắp hành tinh.
Ta đã thấy ngươi, đã biết ngươi,
Hỡi cái tâm hướng ngoại rong chơi,
Ngày đây, mai đó tợ cô hồn,
Nghêu ngao phố thị theo trần cảnh,
Mất hết Thiền, Định, Tuệ sau sanh.
Ta đã thấy ngươi, đã biết ngươi,
Quyết tâm diệt tận, diệt sạch mi,
An nhiên, tĩnh lặng, không dao động,
Siêu sinh thoát tử, vượt hồng trần.
Minh Thành, mày phải chết ngay đi!
Mày chết thật đi, chết thật đi,
Chết hết, chết sạch, chết hoàn toàn,
Chết ái, chết dục, chết bản ngã,
Chết tham, sân, si, chết vô minh,
Chết tên, chết tuổi, chết mặt mũi,
Chết tiếng, chết tăm, chết bề ngoài,
Chết hơn, chết thua, chết danh lợi,
Chết lòng cao thấp, giai cấp phân,
Chết tâm hướng ngoại theo trần cảnh,
Chết tâm truy tầm tưởng tương lai,
Chết tâm tiếc nuối về dĩ vãng,
Chết tâm dính mắc phút giây này,
Chết tánh ta đây và kiêu ngạo,
Chết luôn ích kỷ với tranh giành,
Chết hết sắc, thọ, tưởng, thức, hành,
Chết sạch tứ đại, ngũ dục, tham,
Chết tươi tự ngã, vô minh, ái,
Chết cả cuộc đời trong dối gian,
Chết tan, chết nát, tâm ngạo mạn,
Chết mãi, chết hết tật kiêu căng,
Chết buồn, chết giận, chết hờn dỗi,
Chết ghét, chết thương, chết muốn mong.
Để ta sống lại sinh mạng mới,
Sạch sẽ, tinh anh, trong sáng ngời,
Thân tâm mát mẻ, thật xinh tươi,
Hiền hòa, lắng diệu quá tuyệt vời,
Tình thương dào dạt tràn vũ trụ,
Trí tuệ rạng ngời soi cuộc đời,
Bao dung, đức độ tâm vô lượng,
Từ ái chứa chan lòng thênh thang,
Giới hạnh thanh tịnh tợ lưu ly,
Thiền định vững chắc khó ai bì,
Thánh tuệ chiếu soi toàn hoàn vũ,
Nhân từ mát dịu thấm muôn nơi.
Con thề thành đạo ở nơi này,
Nếu không động đất sập chết liền,
Hỏa hoạn, cháy thiêu không còn xác,
Ăn nhầm thuốc độc đột tử ngay.
Con thề thành đạo ở nơi này,
Xuống núi đi tàu vỡ chìm thuyền,
Máy bay rơi xuống tan banh xác,
Leo núi trượt chân bể đầu ra.
Con thề thành đạo ở nơi này,
Nếu không ngủ rồi không dậy luôn,
Nằm liệt một chỗ phân, tiểu dãi,
Toàn thân bất động, chết thê lương.
Con thề thành đạo ở nơi này,
Nếu không tai biến, đột quỵ liền,
Chết bờ, chết bụi không ai biết,
Chết tức, chết tưởi chẳng người hay.
Con thề thành đạo ở nơi này,
Chùa chiền xem như một đống phân,
Đất đai, xe cộ như cứt mũi,
Tiền bạc khác gì giấy cầu tiêu.
Mọi thứ tài sản ở trên đời,
Vật chất ruộng vườn có ích gì?
Chỉ là mầm mống sanh ràng buộc,
Tham dục, tham lam không thoát ra.
Mồi nhử ác ma đó biết chăng,
Đống phân chỉ giòi nó thích ăn,
Người tu hãy khéo soi xét rõ,
Quán sâu, quán kỹ thoát hầm phân.
Người tu phải khéo soi xét rõ,
Quán sâu, quán kỹ thoát hầm phân.
Người tu hãy khéo soi xét rõ,
Quán sâu, quán kỹ thoát hầm phân”.
VI. Chia sẻ:
“Chúng mình có ai muốn chia sẻ về tâm hướng ngoại không? Cái tâm này độc lắm à”.
Phật tử 1
“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Con Kính Bạch Sư phụ,
Con kính bạch quý Sư thầy,
Con kính bạch quý Sư cô và toàn thể đại chúng.
Trong thời gian con tu học theo dòng Thánh pháp, thì con chỉ mới có một chút ít khả năng để nhìn về tâm hướng ngoại. Con xin trình trên sư phụ và con kính mong sư phụ sẽ chỉ dạy cho con nhiều hơn về việc con nhìn nhận về tâm hướng ngoại như vậy là có đúng hay chưa? Và chỉ dạy thêm cho con.
Con thấy tâm hướng ngoại là một trở ngại rất lớn về việc tu tập, việc an trú các đề mục mà con được sư phụ hoặc là cô Toàn chỉ dạy. Tâm thích hướng ra bên ngoài, nhìn người, vật bên ngoài, nhìn rồi soi mói, tìm lỗi của người khác. Kế đó là khen mình, chê người, nhìn ra bên ngoài, dính mắc, tham ái, chạy, chứ không an trú được trong nội tâm, các pháp không được an trú một cách liên tục, thuần thục. Chính vì tâm hướng ngoại này, mà con chưa nhiếp phục được, con thấy nó rất là khó để có thể hoàn toàn quay về nội tâm của mình, để có thể thực hiện được các pháp mà Đức Phật đã chỉ dạy.
Và con cũng kính xin sư phụ sẽ chỉ dạy cho con, cách làm sao để diệt được tâm hướng ngoại này một cách hoàn toàn.
Dạ con xin hết”.
“Cô thông tuệ có muốn chia sẻ không? Tâm hướng ngoại này trong Năm Triền Cái là trạo hối”
Cô Thông Tuệ
“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Con kính bạch trên thầy, trên quý thầy, quý Sư cô cùng toàn thể thiền đường đại chúng.
Con biết là tâm hướng ngoại của con rất nhiều, con rất là muốn đi chơi, con hay ngụy biện là con còn nhỏ, con hay ngụy biện là “dây đàn căng quá thì nó sẽ đứt”, nên là con cứ ngụy biện để con được đi chơi. Dù biết cái đó là không tốt, nhưng mà con vẫn chưa đủ mạnh mẽ, vẫn chưa quyết liệt, nghiêm túc, cho sự tu của mình. Con hứa với thầy là con sẽ cố gắng để nhiếp phục tâm hướng ngoại đó, và lo cho sự tu của mình nhiều hơn.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật”.
Nó thúc giục ở trong, nó làm cho mình không yên, mình phải nhận diện ngũ uẩn thật kỹ. Cái đó cũng chỉ là ý hành thôi, cũng là thọ ở trong nó thúc giục, cái cảm giác ở trong nó thúc giục, rồi mình suy nghĩ nó dẫn dắt. Mà quan trọng là mình không biết nó là hành, mình nhận theo nó. Lúc đó mình không nhận diện năm uẩn, hoặc là mình nhận diện một cách yếu đuối, mình không chỉ mặt nó là hành, rồi mình chấp nhận những suy nghĩ đó.
Thí dụ nó nói “mình còn nhỏ mà! Căng quá đứt dây”, thì chính suy nghĩ đó nó để cho mình buông ra, thả ra. Chỉ cần mình chuyển suy nghĩ lại, mình tác ý suy nghĩ đó, thì từ từ mình sẽ nhiếp phục.
“Cô Tuệ Khiêm có muốn chia sẻ không? Phải nhận diện ngũ uẩn, tất cả chỉ là ngũ uẩn thôi”.
Cô Tuệ Khiêm
“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Kính bạch trên thầy,
Kính bạch quý thầy, quý Sư cô cùng đại chúng.
Tất cả những lời Phật dạy, con cũng khắc ghi trong lòng, những cái dục, ái con không bị vướng mắc, nhưng con chọn con đường tu đích thực. Những gì thầy chỉ dạy cho con, con rất cảm niệm công đức của thầy. Những việc con học được thì con sẽ hành trì. Con cảm niệm công đức thầy.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật”.
“Mời cô Tuệ Đức”
Cô Tuệ Đức
“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Con kính trên Sư phụ, quý thầy, quý Sư cô, cùng toàn thể đại chúng
Qua bài tác ý của sư phụ về tâm hướng ngoại, con xin trình lên sư phụ là con có tâm hướng ngoại. Mấy hôm nay con luôn nghĩ tưởng về mẹ con, cứ lo sợ “sau này nếu con không về thăm mẹ, lỡ như chỉ được nhìn như thấy đống tro như bà Năm, chắc con hối hận”.
Một là sợ hối hận, một bên là lo mình về nhà mình không tu được.
Ý hành con cứ khởi lên lo nghĩ là sợ sau này con hối hận, con chưa có tác ý được. Nhưng một bên thì con sợ, con sợ vướng mắc vào cái dục đi về, cái ái của mẹ, rồi con tu không được. Rồi con cứ phân vân hoài, nên con lên thưa sư phụ, chính vì con thưa sư phụ mà cái tâm luyến ái về mẹ trong ý hành con vẫn còn suy nghĩ. Con xin sư phụ, quý thầy, quý sư cô, từ bi, hoan hỷ, chỉ dạy cho con, để con tác ý mạnh mẽ, cũng như trên con đường “tịnh tính bất động” về Chánh Pháp, cho con được mạnh mẽ hơn.
Đối trước Tam Bảo, Sư phụ, quý thầy, quý Sư cô, cho con được thành tâm sám hối với những ngày con làm ở dưới bếp, vì con chưa được Chánh niệm tỉnh giác nên có nhiều cái con rất là sơ sót. Và tham, sân, si, bản ngã, làm cho quý Sư cô cùng quý Phật tử trong công việc phải buồn lòng vì con. Con xin Sư phụ, quý thầy, quý Sư cô và quý Phật tử chấp nhận đây là một lỗi lầm, để con phòng hộ trong tương lai.
Con xin đảnh lễ sư phụ ba lạy, cùng đại chúng ba lạy, để con ghi nhớ lỗi lầm này, để con luôn phòng hộ trong tương lai.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật”.
“Thầy: Đứng quay về lạy chung ba lạy là được rồi”.
“Thầy: Mời chú Sĩ, chú Tam chia sẻ”
Chú Sĩ
“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Con kính bạch trên Sư phụ,
Con kính thưa quý thầy,
Kính thưa quý Sư cô, cùng toàn thể đại chúng.
Con xin chân thành cảm ơn Sư phụ về buổi giảng ngày hôm nay, con xin chia sẻ về tâm hướng ngoại. Trong sự tu tập và trong thời gian vừa qua, con cũng có sự dính mắc đối với ngoại cảnh, vì tâm hướng ngoại chi phối, làm cho tâm không có định tĩnh, không có chuyên chú vào sự tu tập. Thời gian vừa qua không có an trú trong pháp, những dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu nó trôi về và nó dẫn dắt, nó khiến cho tâm không có định tĩnh và không có nhận rõ pháp. Những thọ, tưởng, hành của quá khứ thì nó liên tục trỗi dậy, nó dẫn dắt và nó khiến cho mình khó chịu, bực bội, ngồi thiền thì luôn dao động, học bài thì nó khiến cho mình kiếm cái này, cái khác để làm.
Con thấy sự nguy hại của tâm hướng ngoại, rất là nguy hại. Ngày hôm nay được sư phụ chia sẻ nó nằm trong Năm Triền Cái là trạo hối, thì con đã giải tỏa được cái đó. Con cảm ơn Sư phụ, đó cũng là cái hữu lậu để khiến cho tâm dao động liên tục, ngồi thiền bức xúc. Ngày hôm nay, con cảm ơn Sư phụ đã chia sẻ, vì bài pháp đạo lộ tu tập của Đức Phật và bài kinh “Khu Rừng”, khiến cho con có lòng tin hơn, có ý chí mạnh mẽ hơn. Trong những ngày vừa qua, con thấy mình không có chuyên tâm tu tập, khiến cho nội tâm dao động, khiến cho Sư phụ, quý thầy, quý Sư cô buồn vì con.
Ngày hôm nay con xin chân thành cảm ơn những lời chia sẻ, khuyến khích của Sư phụ, để cho con có thể cố gắng tinh tấn, nỗ lực và thực hành trong giáo pháp của Đức Phật.
Con xin chân thành cảm ơn Sư phụ về buổi pháp ngày hôm nay.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật”.
Chú Tam
“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Con kính bạch trên Sư phụ,
Kính bạch trên quý thầy,
Kính bạch trên quý Sư cô, cùng toàn thể đại chúng.
Qua buổi giảng sáng nay Sư phụ dạy, cảm thọ của con cảm thấy niềm hỉ lạc trong tâm. Vì những ngày con chưa biết đến dòng pháp này, thì tâm của con nó luôn lang thang, nó đi đầu này, đầu kia. Nó không chỉ dẫn dắt tâm, mà nó còn theo ý hành đó, cái thân đi đầu này, đầu kia, tìm cầu niềm vui, tìm cầu dục, ham muốn dục, luôn đi tìm, rong ruổi, lang thang, không biết tâm như thế nào, tâm luôn rong ruổi, vất vơ, hoang vu.
Còn khi con biết đến dòng pháp, thì có được sự định tĩnh, quay về biết được nơi thân tâm mình, và có được một chút an trú, cảm thấy niềm an lạc, hạnh phúc. Nhưng trong khi đó, những cái dục lậu và hữu lậu trong con vẫn còn rất nhiều. Khi nó sanh khởi thì con vẫn còn nhiều vô minh, si mê chưa nhận rõ, và chưa an trú trong pháp, nên bị dẫn dắt. Khi học pháp thì chưa được hân hoan, nhiều hỷ lạc và cảm thấy vẫn còn bị dẫn dắt tìm kiếm giải trí, chưa được chú tâm. Nên việc học pháp con cảm nhận vẫn chưa được nhiều kết quả. Khi ngồi thiền thì tâm vẫn còn nhiều dao động, vẫn còn cảm thấy khó chịu, khi chưa nhiếp phục được cơn đau.
Con xin sư phụ vì lòng thương nơi chúng sanh và con. Cho con được đảnh lễ sư phụ, để con có thể thân cận với bậc chân nhân, để tâm và thân được an tịnh, để nghe diệu pháp, được tinh cần, tinh tấn, dõng mãnh, tâm không thụ động, để thực hành pháp và tùy pháp.
Con cũng xin đảnh lễ trên quý thầy, quý sư cô và đại chúng, để con có được lòng dõng mãnh, sự tinh tấn trong Chánh Pháp và luôn nhận diện về thâm tâm, để biết nhận rõ được những ý hành và tâm si mê, tâm thụ động nơi con, để con có thể tinh tấn, nỗ lực trong Chánh Pháp này.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật”.
“Thầy: Chú đứng lạy chung là được”
Phật tử 2
“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Kính bạch trên Sư phụ,
Kính thưa quý thầy, quý Sư cô, cùng toàn thể đại chúng.
Trong suốt bài pháp thoại, khi Sư phụ giảng tới đâu con thấy mình tới đó. Tại vì vấn đề nào con cũng sai phạm, nó đưa con nhìn lại “nếu mình không đi tu, thì chắc mình không bao giờ biết vấn đề này, không biết được Năm Triền Cái, không biết được những cái trong người mình là vô minh, si mê như thế. Mình không hôn trầm thì cũng chuyển sang trạo cử, hối tiếc”, cái tâm hướng ngoại thì rất kinh khủng, khủng khiếp, mỗi ngày nó đều hiện khởi những ý nhỏ nhỏ, li ti. Và rồi trong lúc mình nghe pháp, mình ngồi thiền hay mình làm việc cũng vậy, nó luôn kề cận sát bên, làm cho mình không an trú. Trong nghe pháp không được định tĩnh, và làm cho cái tâm si mê của mình mỗi ngày nó dày đặc thêm, mình làm việc hoặc bất cứ cái gì nó cũng đi tới sự sai phạm, si mê hết. Cũng vì tâm hướng ngoại này, mà mình không nhận diện được ngũ uẩn.
Trong khi con học ở trường trung cấp năm thứ hai, lúc vào thi có một ý hành nhỏ khởi lên “nó muốn không học nữa”. Con thấy những cái uẩn khác bắt đầu nó theo, lúc đó thì mình theo nó mà mình không biết, thấy cứ theo nó gần một tiếng đồng hồ, nó cứ thôi thúc mình là “không học nữa”, xong tự nhiên đúng một tiếng đó, thì con chợt tỉnh “mình đang làm cái gì vậy? Đang suy nghĩ cái gì vậy? Cái này có đáng để suy nghĩ không? Cái này là cái gì vậy?”. Cũng một niềm mê đó và cũng một niềm chợt tỉnh, tỉnh giấc trong hiện tại, thì con mới thoát được nó. Không thì chỉ có một niệm nhỏ thôi là con có thể là con rời, con không học nữa ở trường, không đi trọn vẹn trên bước đường học mà mình đã đặt ra.
Cũng cái tâm hướng ngoại này, nó tạo cho mình rất nhiều khó khăn, bất cứ mình tu tập, mình học hay làm việc gì cũng vậy, nó thích dễ vui, dễ chịu và nó luôn xui khiến mình đi vào con đường xấu, đi vào con đường si mê, mà bao đời bao kiếp rồi.
Xưa giờ con chưa từng học về pháp này, con học được ở thầy đó là làm gì thì làm đến tận cùng. Mình đã đặt ra thì nhất định phải làm được, dù khó khăn đến mấy. Nên khi con quyết làm gì, thì nhất định sẽ làm được. Nên sau đợt này con về, con nhất định sẽ lên lại. Và đã con hứa và con quyết sẽ làm được, và có thể ở đây năm năm hoặc mười năm. Khi nào thật sự thành tựu đầy đủ Chánh Pháp thì con mới xin phép thầy xuống núi, và con nhất định con sẽ làm được. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Con thành kính tri ân thầy, đại chúng và mọi người, mình mới thấy được những xấu xa của mình. Mình mới đi đúng con đường Chánh Pháp, thấy được sự an lạc, sự hoan hỷ, vi diệu của Chánh Pháp. Và mình thấy đời tu của mình thật sự đúng nghĩa, hạnh phúc, lợi lạc cho mình và mọi người. Không uổng cuộc đời xuất gia tu hành và sự hi sinh của mọi người đã dành cho mình. Con thành kính tri ân đại chúng và thầy.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật”.
./.
PHÁP TRUYỀN THỐNG CỦA CHƯ PHẬT
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Bài kinh Nàlanda: PAGEREF _Toc111536819 \h 1
II. Con đường của các Bậc Giác Ngộ: PAGEREF _Toc111536820 \h 3
III. Năm triền cái: PAGEREF _Toc111536821 \h 5
IV. Bài kinh khu rừng: PAGEREF _Toc111536822 \h 10
V. Diệt Tâm Hướng Ngoại PAGEREF _Toc111536823 \h 11
VI. Chia sẻ: PAGEREF _Toc111536824 \h 22
Phật tử 1 PAGEREF _Toc111536825 \h 22
Cô Thông Tuệ PAGEREF _Toc111536826 \h 23
Cô Tuệ Khiêm PAGEREF _Toc111536827 \h 24
Cô Tuệ Đức PAGEREF _Toc111536828 \h 25
Chú Sĩ PAGEREF _Toc111536829 \h 26
Chú Tam PAGEREF _Toc111536830 \h 27
Phật tử 2 PAGEREF _Toc111536831 \h 28
Bài kinh Nàlanda:
Hôm nay chúng ta sẽ nghe kinh “Nàlanda” trong Tương Ưng Bộ tập 5, con đường của các bậc Chánh Đẳng Giác.
“Một thời, Thế Tôn trú ở Nàlanda, tại rừng Pavàrikamba.
Rồi Tôn giả Sàriputta (Xá-lợi-phất) đi đến Thế Tôn... Ngồi một bên, Tôn giả Sàriputta (Xá-lợi-phất) bạch Thế Tôn:
- Như vậy, bạch Thế Tôn, là lòng tịnh tín của con đối với Thế Tôn. Không thể đã có, không thể sẽ có, không thể hiện có một Sa-môn hay Bà-la-môn nào khác có thể vĩ đại hơn, thắng trí hơn Thế Tôn về Chánh giác”.
“Không thể đã có, không thể sẽ có, không thể hiện đang có bất cứ một bậc tu hành nào có thể vĩ đại hơn, thắng trí hơn Đức Thế Tôn về Chánh Giác”.
Tức là trong quá khứ, hiện tại và tương lai, không có một người nào vượt hơn sự giác ngộ của Ngài, không thể có chuyện đó xảy ra.
“- Thật là đại ngôn (ulàra), này Sàriputta, là lời tuyên bố như con ngưu vương này của Ông, lời tuyên bố một chiều, tiếng rống của con sư tử: Như vậy là lòng tịnh tín của con đối với Thế Tôn. Không thể đã có, không thể sẽ có, không thể hiện có một Sa-môn hay một Bà-la-môn nào khác, có thể vĩ đại hơn, thắng trí hơn Thế Tôn về Chánh giác”.
“Này Sàriputta, đối với các vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác trong thời quá khứ, tất cả các vị Thế Tôn ấy, Ông có thể biết rõ tâm niệm với tâm của Ông rằng: Các bậc Thế Tôn ấy đã có giới đức như vậy. Các bậc Thế Tôn ấy đã có pháp như vậy. Các bậc Thế Tôn ấy đã có tuệ như vậy. Các bậc Thế Tôn ấy đã có hạnh trú như vậy. Các bậc Thế Tôn ấy đã giải thoát như vậy?
- Thưa không, bạch Thế Tôn”.
“- Này Sàriputta, đối với các vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác trong thời vị lai, tất cả các vị Thế Tôn ấy, Ông có thể biết rõ tâm niệm với tâm của Ông: Các bậc Thế Tôn ấy sẽ có giới đức như vậy. Các bậc Thế Tôn ấy sẽ có pháp như vậy. Các bậc Thế Tôn ấy sẽ có tuệ như vậy. Các bậc Thế Tôn ấy sẽ có hạnh trú như vậy. Các bậc Thế Tôn ấy sẽ giải thoát như vậy?
- Thưa không, bạch Thế Tôn”.
“-Này Sàriputta, đối với các vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác trong thời hiện tại, tất cả các bậc Thế Tôn ấy, Ông có thể biết rõ tâm niệm với tâm của Ông rằng: Các bậc Thế Tôn ấy hiện có giới đức như vậy. Các bậc Thế Tôn ấy hiện có pháp như vậy. Các bậc Thế Tôn ấy hiện có tuệ như vậy. Các bậc Thế Tôn ấy hiện có hạnh trú như vậy. Các bậc Thế Tôn ấy hiện có giải thoát như vậy?
- Thưa không, bạch Thế Tôn”.
“-Và này Sàriputta, ở đây, Ông không có chánh trí với tâm của Ông biết được tâm của các vị A-lahán, Chánh Ðẳng Giác, quá khứ, vị lai, hiện tại; thời này Sàriputta, do ý nghĩa gì Ông lại thốt ra lời đại ngôn, lời tuyên bố như con ngưu vương, lời tuyên bố một chiều, tiếng rống tiếng con sư tử của Ông rằng: Như vậy là lòng tịnh tín của con đối với Thế Tôn. Không thể đã có, không thể sẽ có, không thể hiện có một Sa-môn, hay Bà-la-môn nào khác, có thể vĩ đại hơn, thắng trí hơn Thế Tôn về Chánh giác?
- Bạch Thế Tôn, con không có chánh trí với tâm của con biết được tâm các vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, quá khứ, vị lai, hiện tại, nhưng bạch Thế Tôn, con biết được pháp truyền thống (dhammanvayo)”.
“Ví như, bạch Thế Tôn, tại một thành ở biên giới, với những hào lũy kiên cố, vững chắc, với những thành quách, tháp canh kiên cố và chỉ có một cửa ra vào. Tại đấy, có một người gác cửa sáng suốt, thông minh, có trí, không cho vào những người lạ mặt, chỉ cho vào những người quen mặt. Trong khi người ấy đi tuần đến con đường xung quanh thành trì ấy để xem, không thấy có một khe hở ở tường nào, hay lỗ hổng ở tường nào, cho đến một con mèo có thể lọt qua được. Và người ấy suy nghĩ rằng: Có những sinh loại thô lớn nào đi vào hay đi ra ngôi thành này, tất cả phải đi vào hay đi ra cửa này. Như vậy, bạch Thế Tôn, là pháp truyền thống mà con được biết.
Bạch Thế Tôn, phàm có những bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác nào trong thời quá khứ, tất cả bậc Thế Tôn ấy, sau khi đoạn tận năm triền cái, những pháp làm uế nhiễm tâm, làm yếu kém trí tuệ, sau khi khéo an trú tâm trên bốn niệm xứ, sau khi như thật tu tập bảy giác chi, đã chứng ngộ vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Bạch Thế Tôn, phàm có những bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác nào trong thời vị lai, tất cả các bậc Thế Tôn ấy, sau khi đoạn tận năm triền cái, các pháp làm uế nhiễm tâm, làm yếu ớt trí tuệ, sau khi khéo an trú tâm trên bốn niệm xứ, sau khi như thật tu tập bảy giác chi, sẽ chứng ngộ vô thượng Chánh đẳng Chánh giác”.
“Còn Thế Tôn, bạch Thế Tôn, là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, sau khi đoạn tận năm triền cái, những pháp làm uế nhiễm tâm, làm yếu kém trí tuệ, sau khi khéo an trú tâm trên bốn niệm xứ, sau khi như thật tu tập bảy giác chi, chứng ngộ vô thượng Chánh đẳng giác.
- Lành thay, lành thay, này Sàriputta! Ông hãy luôn luôn thuyết pháp thoại này cho các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, các nam cư sĩ, các nữ cư sĩ. Này Sàriputta, nếu có những người ngu si nào còn có những nghi ngờ, hay những do dự đối với Như Lai sau khi nghe pháp thoại này của Ta, sự nghi ngờ, do dự ấy của họ đối với Như Lai sẽ trừ diệt”.
II. Con đường của các Bậc Giác Ngộ:
Bài kinh này hết sức là quan trọng, truyền thống của tất cả các bậc Chánh Đẳng Giác. Chúng ta thấy cuộc đối thoại, sự trình bày của bậc tướng quân Chánh Pháp, Thánh Tăng - Ngài Xá Lợi Phất, đến lạy dưới chân Đức Phật rồi kính bạch bậc tôn quý trên đời:
“Con có lòng tin chắc chắn, xác quyết, trong sáng, thanh tịnh đối với Thế Tôn. Không thể đã có, không thể sẽ có, không thể hiện có bất cứ một bậc tu hành nào có thể vĩ đại hơn Thế Tôn về trí tuệ Chánh Giác”. Tức là quá khứ, vị lai và hiện tại, không thể có một ai có trí tuệ hơn Như Lai, đó là lòng tin của con đối với Ngài.
Đức Thế Tôn hỏi: - Vậy chứ với cái tâm của ông, với trí tuệ của ông, ông có biết rằng thuở xa xưa, quá khứ, các bậc Chánh Đẳng Giác đã tu như thế nào, đã giới như thế nào, pháp như thế nào, đức hạnh như thế nào, giải thoát như thế nào, ông có biết không? Ông có thấy được không?
- Xá-Lợi-Phất: Bạch Thế Tôn, con không thấy, con không biết.
- Đức Thế Tôn: Vậy các bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác tương lai tu như thế nào, giới như thế nào, pháp như thế nào, giải thoát như thế nào, ông có biết không, ông có thấy không? Và hiện tại, ông có thấy biết không?
- Xá-lợi-phất: Dạ thưa không. Nhưng mà con biết pháp truyền thống của Chư Phật. Giống như, thưa Thế Tôn. Ở biên cương, biên ải, biên thùy, thành quách kiên cố, vững chắc, chỉ một cánh cửa ra vào. Người đi tuần này hết sức kỹ lưỡng, cẩn thận, thận trọng, xem xét từng ngõ ngách, không có một chỗ hở nào con mèo có thể chui qua được. Tất cả các sinh loại (những loài có mạng sống), muốn đi qua, thì duy nhất chỉ có một cánh cửa đó, không thể có con đường thứ hai để đi ra, đi vào”.
Cửa đó là gì?
Cái này chúng ta phải học thuộc, nếu không thuộc cái này là không phải đệ tử chân chính của Đức Phật. “Sau khi đoạn tận Năm Triền Cái, những pháp làm uế nhiễm tâm, làm cho yếu kém trí tuệ, sau khi khéo an trú tâm trên Bốn Niệm Xứ, sau khi tu tập như thật Bảy Giác Chi thì đã chứng ngộ vô thượng Chánh Đẳng, Chánh Giác”, đây là truyền thống của tất cả Đức Phật trong quá khứ, hiện tại và vị lai. Phải đi qua cánh cửa đó, không có một vị Phật nào, một bậc giác ngộ nào mà không tu tập những pháp này, đó gọi là những pháp truyền thống.
Đức Thế Tôn khen ngợi hết lời. Ý ông Xá-lợi-phất nói là: Các bậc Chánh Giác ở quá khứ đã tu tập như vậy, những bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác thời tương lai sẽ tu tập như vậy, Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác ngay trong hiện tại, Người đã tu tập như vậy, chứng ngộ thành bậc Vô Thượng Giác, Chánh Biến Tri, đó là con biết pháp truyền thống phải như vậy, không thể khác được.
Thế Tôn nói: “Ông nói lời này rất là to lớn, tiếng gầm con sư tử, hay lắm Xá-lợi-phất, tuyệt vời lắm Xá-lợi-phất, lành thay Xá-lợi-phất. Ông phải nói pháp này cho Tỳ-kheo, Tỳ-kheo Ni, cho những người nam nữ cư sĩ, những kẻ ngu si, mê muội, còn nghi ngờ. Khi nghe được pháp này, sẽ đoạn tận hết tất cả nghi ngờ về Như Lai, về giáo Pháp”.
Như vậy thì phát truyền thống của Đức Phật đầu tiên là gì? Đoạn tận Năm Triền Cái. Mình xem lại coi Năm Triền Cái mình đoạn được bao nhiêu? Không thể có cánh cửa thứ hai, không thể có con đường thứ hai.
III. Năm triền cái:
“Năm Triền Cái là gì cô Huệ Tâm?”
Cô Huệ Tâm
“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Con kính thưa sư phụ
Con kính thưa quý thầy, quý sư cô và toàn thể đại chúng.
Dạ Năm Triền Cái là tham dục, sân, thùy miên, trạo hối và nghi.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật”
Mình phải nhớ từ “đoạn tận Năm Triền Cái, những pháp làm uế nhiễm tâm, làm cho yếu kém trí tuệ”. Tiếp theo là “khéo an trú tâm trên Bốn Niệm Xứ”. Tại vì Năm Triền Cái mà mình không phá nó, có thì sự an trú trong Bốn Niệm Xứ không thành tựu một cách viên mãn. Mình nói thí dụ cho nó gần là sự tu tập của mình, khi ngồi thiền mà mình hôn trầm, mình có an trú được trong Bốn Niệm Xứ không? Có Niệm thân được không? Khi bình thường mình giận ai, mình có an trú được vô Bốn Niệm Xứ không? Không được. Tại vì cái đó nó làm cho ô nhiễm tâm, làm cho yếu kém trí tuệ.
Có một cái gì đó trong tâm mình bị dao động, nó lo lắng một vấn đề gì đó, mình có an trú được trong Niệm Xứ không? Nó trạo hối, nó lăng xăng, hối tiếc, hay là nó nghi ngờ, hoài nghi một vấn đề gì trong pháp, hay trong tự thân của mình, thì không thể an trú trong Bốn Niệm Xứ. Cho nên sau khi đoạn tận Năm Triền Cái, những pháp làm uế nhiễm tâm, làm yếu kém trí tuệ, sau khi khéo an trú tâm trên Bốn Niệm Xứ. Nên trong giai đoạn đầu tiên mình tu, mình chỉa mũi dùi thẳng vô Năm Triền Cái, mình phá tham dục, sân, hôn trầm, trạo hối, sự lao chao, lóc chóc của thân, sự dao động của tâm, mình mới phá hoài nghi đối với Phật, đối với pháp và đối với Tăng, đối với tự thân của mình.
Năm cái này còn nhiều quá, còn thô quá, thì mình không thể an trú vào Bốn Niệm Xứ được, mình không thể thực tập Thân, Hành, Niệm được. Mà con đường này mình đi là con đường của các bậc Chánh Đẳng Giác đã đi qua, bây giờ mình đi, đó mới gọi là Chơn Chánh Phật tử. Sự dụng công của mình thì mình phải biết, mình bắn giặt thì mình phải nhắm cho chính xác, chứ không phải mình bắn tùm lum. Dục tham, tham ái đối với gia đình, thấy vậy chứ không phải dễ. Có những người tu đến suốt cuộc đời, nhưng mà cái ái với gia đình vẫn không đoạn được (suốt đời à nha).
Có cô chú lên trên đây công quả, sau đó xin tập sự xuất gia tám tháng nhưng con không cho xuất gia. Chú chờ lâu không được, chú qua chỗ khác xuất gia cho nó nhanh, chú đi đến thiền viện lớn lắm. Xuất gia rồi chú lại đi qua một thiền viện khác để ở, sau đó chú trở về đây, sau đó chú đi về với vợ cũ. Tại vì con biết tâm người này chưa có quyết chắc xả ly đối với gia đình, cho nên con không cho xuất gia, dù ở đây tám tháng, làm được nhiều việc cho chùa. Thành ra các dục, ái nó nhiều lắm, nó không chỉ là nam nữ.
Thứ nhất mình tu nhận diện năm uẩn, mình thấy ra phải không? Nó rất là nhiều phương diện, khía cạnh. Cho nên một người gọi là chân tu tha thiết, chân thành, phải để ý rất nhiều trong nội tâm của mình. Ái chồng, ái con, ái cha, ái mẹ, ái anh, chị em, ái bà nội, bà ngoại… Có nhiều người muốn đi xuất gia, nhưng mà thương ngoại quá. Như chú Sĩ ở đây, nhà có bà ngoại, không có sống với ba mẹ, sống với ngoại nhiều hơn, nên thương bà ngoại nhiều hơn, xúc sanh thọ, thọ sanh ái, người mình tiếp xúc nhiều thì người đó mình có tình cảm nhiều hơn, cho nên ái là duyên sanh mà. Xúc sanh thọ, thọ sanh ái, xúc nhiều mới có thật nhiều thọ, thọ nhiều mới có ái nhiều, ái nhiều mới có sự ràng buộc nhiều, nhiều lắm.
Vợ xong rồi nội, ngoại, chồng, con, còn không thôi là chị, em, có nhiều người hai chị em thương lắm, thương vô cùng thương, sống với nhau hoài như vậy mấy chục năm, rồi đi tu thì cũng đi tu chung (mấy cô có thấy không?). Nhưng thực sự mình không nắm được cái pháp, thì tất cả nó tiềm tàn, nó biến dạng, cái tham ái nó biến dạng, nó vi tế, phải có trí tuệ ngũ uẩn, phải nhìn.
Đó là mình nói nhẹ nhẹ ngoài đời thôi, vô chùa bắt đầu ái Sư phụ, ái Sư tỷ, ái Sư muội, Sư thúc, Sư bá gì đó, như vậy là dị dạng của ái, một hình thức khác của ái. Có ái thì có dục, tức là muốn ở gần, muốn ở chung. Có nhiều người không thích Sư phụ bằng Sư tỷ hay là sư thúc gì đó, xin Sư phụ đi qua ở với Sư thúc, có không? Mấy cô có thấy không? Thành ra đó là cái bẫy hết, Năm Triền Cái hết, mà mình không biết. Rồi nhớ chùa, ở chùa đó, cái phòng đó lâu rồi, ghê gớm lắm. Cái này mình học nó dài lắm, nó vi tế.
Lúc trước Minh Thành ra Thiền Viện Trúc Lâm ở sáu tháng, lúc đó mình chưa biết pháp năm uẩn, nhưng mình thấy được, bây giờ mình nhìn lại nó ghê gớm lắm. Khi trở về, đi bộ xa xa, gần tới chùa, tiếng chuông chùa nó vang lên, mình nhìn thấy cái chùa trong lòng mình nó quen thuộc, ấm áp (coi cười hết trơn rồi kìa), nó quen làm sao, ấm áp, ngọt ngào, ái đó. Tim của mình nhiều khi nó muốn thắt lại, nhiều khi nó muốn vỡ ra, nó đau lòng, đau xót, ái không đó.
Tại sao vậy? Mình không có tu tập các truyền thống của bậc Chánh Đẳng Giác, mình không có nhìn thấy được. Bây giờ hỏi Năm Triền Cái thôi mà còn nhiều người không biết Năm Triền Cái là cái gì, hoặc là nhớ lộn xộn, thì làm sao mà tu? Cái tên, mặt mũi mình không biết, tính tình mình càng không biết thì làm sao mình xử lý, diệt tận nó được? Ở đây dùng từ là “đoạn tận những Năm Triền Cái” mà. Không đoạn tận thì Đức Thế Tôn ngồi nhớ Da-du-đà la, nhớ La-hầu-la, rồi nửa đêm bỏ cây bồ đề đi về hay sao? Chúng ta thấy không? Cả một chiến tích vĩ đại, phải đi qua, tức là phải đoạn tận Năm Triền Cái trước. Chứ lâu lâu buồn rồi điện thoại về hỏi thăm Sư muội, Sư tỷ là ái, phải nhìn thấy, phải đọc được hết tất cả những thọ, tưởng, hành đó. Không phải nói mình cắt là mình cắt hết, không phải. Mình phải nhìn ra cái nào là cần thiết trong công việc, và cái nào là ái nó đang hoạt động, phải thấy, mình thấy được chỗ này chưa?
Gia đình cũng vậy, mình điện thoại đó là mình điện với ở bên trong này là một sự muốn giúp đỡ, hướng dẫn cha mẹ về Phật pháp, muốn khuyến khích, khích lệ, dẫn dắt, tạo duyên cho cha mẹ tu tập, hay là mình điện cái đó là vì cái ái? Nó khác nhau chỗ đó, nhưng mình không thành tựu Chánh Kiến, không thành tựu trí huệ thì sao mình biết được cái nào là cái nào, phải không? Làm sao mình biết được cái nào là từ, cái nào là ái, cái nào là tuệ, cái nào là báo hiếu, mình không thể phân biệt được. Chính vì vậy mình phải tu học trên núi năm năm, mười năm, rồi sau đó xuống núi.
Thành ra nhớ về cái chùa, nhớ về thầy, nhớ về huynh đệ, những cái đó là gì? Nếu mà cái đó nó quyết định, là phải trở về sống với cái đó, nó quen rồi “sống ở đâu quen ở đó, giờ qua chỗ khác nó lạ”. Như vậy là tìm chỗ quen, tìm chỗ ái, chứ không phải tìm cầu pháp, rõ chỗ này chưa? Tức là “chỗ đó nó hợp gu với mình, nó quen với mình, nó dễ thương, nó thân thuộc, ấm áp, ngọt ngào. Còn chỗ này lạ, không ai quen hết, sư phụ không quan tâm, không gần gũi bằng, dưới kia có bạn”, như vậy mình đi tìm ái, hay là mình đi tìm cầu pháp? Mình không khéo thì sự đi tu của mình là đi tìm ái, tham ái, nhiều lắm.
Thật sự từ ngày con xuất gia, con cẩn thận trong cái này hết sức nhiều. Từ ngày đi tu, từ hồi mười mấy tuổi thôi, con đã nhận ra điều này, chắc đời trước con cũng đã tu tập rồi. Cho nên khi đệ tử đi xuống một lần chục người, con bình thường. Đương nhiên đệ tử đi thì mình cũng có gợn lên chút “ôi, cái này duyên. Không có gì hết”, con đã thấy được điều đó từ lúc mà mới xuất gia. Dễ lắm, cái dục, ái này nó ghê gớm, nó cũng khiếp lắm, khủng khiếp vô cùng. Mà cái ái này là gì? Là làm ô uế tâm, ô nhiễm tâm, làm yếu kém trí tuệ, nó làm cho tâm mình dơ, nó không còn trong sáng đối với cái pháp nữa. Bất cứ mình ái một cái gì, từ con người, sự vật, một món đồ hay chỗ làm việc, thì tâm mình đều bị dơ, nó không có trong sáng.
Bây giờ mình thích làm công việc đó, mà sư phụ cho làm cái khác, không làm cái đó . Lúc đó mình làm sao? Sân không? Khó chịu không? Thấy chưa? Nó vòng vòng trong Năm Triền Cái thôi, nó không dục, không ái, thì nó sân, mà người đó không biết đó là bài tập của thầy cho, tại sao? Vì thầy đưa ra bài tập đó, nếu mình là người chân tu, thì mình phải “ờ, ái công việc, ái chỗ đó”.
IV. Bài kinh khu rừng:
Mình đi tu chỉ cầu pháp thôi, chỗ nào có Chánh Pháp, tu đúng Chánh Pháp, chết cũng không đi. Hôm nào cũng sẽ học bài kinh “Khu Rừng” (mấy nay có mấy người muốn đi nữa nè), bài kinh này hay lắm, mình chưa có học. Bài kinh này mới đúng là sự cầu pháp mà Đức Phật dạy, bài kinh “Khu Rừng” (dưới này mấy chú có ai đọc bài kinh đó chưa? Chưa ai đọc hết hả?). Mình nói vắn tắt thôi:
“- Chư Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo sống tại một khu rừng nào. Tỷ-kheo sống tại khu rừng này, các niệm chưa được an trú không được an trú, tâm tư chưa được định tĩnh không được định tĩnh, các lậu hoặc chưa được hoàn toàn đoạn trừ không được hoàn toàn đoạn trừ, vô thượng an ổn khỏi các ách phược chưa được chứng đạt không được chứng đạt, và những vật dụng này cần thiết cho đời sống mà một người xuất gia cần phải sắm đủ, như y phục, đồ ăn khất thực, sàng tọa, y dược trị bệnh, những vật dụng này kiếm được một cách khó khăn”.
Đại ý Đức Phật dạy mình: Cái gì, chỗ nào, mình đến mà chỗ đó có ăn, thực phẩm đầy đủ, chỗ ở ngon lành, tốt đẹp, mà không có pháp thì đi, đừng ở. Dù chỗ đó đầy đủ tất cả mọi vật chất, mà không có pháp, đừng ở. Còn nếu chỗ nào mà tới đó có pháp, mà thiếu thốn vật chất, thì ở, ở đó tu. Mình cầu pháp, cầu đạo, hay cầu gạo? Cầu cái nào? Mình cầu pháp. Bây giờ có pháp mà nhiều khi thiếu thốn, đơn sơ, như vậy mà dễ dàng thực hành pháp, cho nên Đức Phật nói “ở chỗ đó tu”. Mà mình bây giờ đến một chỗ nào đó mà vừa có pháp, vừa có thực nữa, thì đuổi cũng không đi, đó là ý Đức Phật dạy như vậy. Sau này mình sẽ học được bài kinh hay lắm, tuyệt vời lắm, đuổi cũng không đi. Chỗ đó mình ở mà thiện pháp tăng trưởng, là mình ở, chỗ đó nên ở. Chỗ ở mà ác pháp tăng trưởng, thì bỏ đi ngay lập tức, không cần xin, Đức Phật dạy như vậy “bỏ đi ngay lập tức, không cần xin, không cần từ giã”.
Như vậy thì mình coi, cái tâm mình có phải cầu pháp không? Hay là mình đi cầu cái gì? Cầu dục, cầu ái, cầu tham, cầu danh, cầu lợi, cầu sự dễ dàng, sự dễ vui, sự “ẩn dương nương Phật”, sự êm ái, thoải mái hay là cầu pháp? Phải kiểm soát cái tâm của mình, xem xét nó, cái này nhiều lắm. Không có chân thật, không có chân tu thật, đi tìm chỗ sung sướng, đi tìm chỗ thuận theo ái, dục, tham của mình. Thì mình thấy Chánh Pháp mình vẫn bỏ như thường, để đi tìm những thứ đó, đau lòng không? Đau xót không? Đau khổ cho người tu không?
Đem lên cái bàn cân thì cái dục, cái tham, nó nặng hơn là cầu pháp. Chính vì vậy mà bỏ cái pháp đi theo cái dục, tham, ái đó. Chính dục, tham, ái đó, nó xúi giục mình chạy hoài, ở không yên để tu.
Con đọc bài “Diệt Tâm Hướng Ngoại” cho đại chúng nghe, nó không cho mình tu. Cái tâm tham ái đó, cái tâm dục đó, nó thúc giục ở trong, nó không cho mình ở yên tu. Cái này phải nhìn thấy được, không nhìn thấy là mình khổ dài dài. Con đi tu mấy chục năm mà không biết tâm hướng ngoại, bây giờ đi vào dòng pháp này rồi mới thấy khủng khiếp.
(Bây giờ mình nghe rầy nha, chứ nghe ngọt hoài nó không thấm).
V. Diệt Tâm Hướng Ngoại
“Tâm hướng ngoại này, đồ mất dạy,
Nói bao nhiêu lần cũng chẳng nghe,
Âm thầm xúi giục đi đây đó,
Chẳng chịu yên lòng, quyết tiến tu.
Tâm hướng ngoại này, thứ cô hồn,
Giục người lang thang mãi không thôi,
Ngày đây mai đó, sống vất vưởng,
Lòng không an tịnh như ma trơi.
Tâm hướng ngoại này, như thú hoang,
Liên hồi nhảy nhót đứng chẳng yên,
Chuyền cành qua lại kêu hú mãi,
Lăng xăng, lộn xộn, dao động hoài.
Tâm hướng ngoại này, giống quỷ ma,
Ẩn ẩn, hiện hiện bóng chập chờn,
Rủ rê, rong chạy tìm ái dục,
Thiền không định được, lòng bất an.
Tâm hướng ngoại này như thằng điên,
Thì thầm, thỏ thẻ, thủ thỉ nhây,
Vẽ vời, dụ hoặc theo cảnh sắc,
Chết nổi, chết chìm trong biển mê.
Tâm hướng ngoại này như kẻ trộm,
Lén lén, lút lút, lẻn vô nhà,
Lấy hết của báu trong tâm ta,
Xuất gia một đời toàn trống rỗng.
Tâm hướng ngoại này như đói khát,
Đòi hoài, đòi mãi vẫn không vừa,
Tham lam vơ vét không xấu hổ,
Cuối đời nhắm mắt trong khốn cùng.
Tâm hướng ngoại này quá nghèo hèn,
Hạ liệt, bần tiện, vô liêm sỉ,
Tìm kiếm suốt đời chẳng thỏa lòng,
Chất chứa, tích lũy gom góp mãi,
Chẳng tu ít muốn, biết đủ xài.
Con thề thành đạo ở nơi này,
Nếu không rắn độc cắn chết tươi,
Ung thư, tai biến nằm một chỗ,
Trầm luân, sanh tử đến muôn đời.
Con thề thành đạo ở nơi này,
Nếu không địa ngục đoạ chẳng ra,
Đắm chìm vĩnh viễn trong khổ cảnh,
Đoạ đày vô lượng kiếp hằng xa.
Con thề thành đạo ở nơi này,
Nếu không chết chẳng được toàn thây,
Bầy nhầy gan ruột văng tứ phía,
Chặt đầu, phân xác, nát thịt da.
Con thề thành đạo ở nơi này,
Nếu không chết yểu, chết thình lình,
Chết bờ, chết bụi, chết tai nạn,
Chết bị mất xác tìm không ra.
Con thề thành đạo ở nơi này,
Nếu không bệnh dữ, lậu, giang mai,
Điên khùng, mất trí, ngu, khờ dại,
Cha mẹ, cô bác, chẳng biết ai.
Con thề thành đạo ở nơi này,
Nếu không núi lở, bị đá đè,
Lũ lụt cuốn trôi không thấy xác,
Bão táp nổi lên hất chết ngay,
Con thề thành đạo ở nơi này,
Một lòng sống chết, quyết tử sanh,
Hằng xa số kiếp trong quá khứ,
Đã chết bao lần trong mộng mê.
Con thề thành đạo ở nơi này,
Xương tan, thịt nát tại chỗ đây,
Chết vì Thánh đạo. Ôi! oanh liệt,
Sống kiếp đê hèn, nhục nào hơn.
Con thề thành đào ở nơi này,
Tử chiến dục, tham, ái, vô minh,
Diệt cho sạch hết mầm bản ngã,
Diệt cho sạch hết tâm lợi danh,
Diệt cho sạch hết lòng hướng ngoại,
Diệt cho sạch hết ý tìm cầu,
Diệt cho sạch hết mọi toan tính,
Diệt cho sạch hết nghiệp vừa qua,
Diệt cho sạch hết nghiệp hiện tại,
Diệt cho sạch hết nghiệp tương lai,
Diệt cho sạch hết sự chấp thủ,
Bám chặt, keo sơn ngũ uẩn này.
Thoát ra khỏi cảnh tù ngục mãi,
Tự do, tự tại xuất thế gian,
Không nương tựa vật gì ở đời,
Dứt sạch sầu, bi, khổ, ưu, não,
Tiêu dao, siêu thế lạc an vui.
Tiêu dao, siêu thế lạc an vui,
Chuyển Chánh Pháp luân đến mọi loài,
Từ đây xóa sạch màn hắc ám,
Bình minh Thánh tuệ rạn muôn nơi.
Chỉ có một đường tiến thẳng nhanh,
Không cho phân vân, do dự sanh,
Nếu ngươi không tu ngươi cứ biến,
Mình ta trụ sơn lòng tịnh thanh.
Chỉ có một đường tiến thẳng nhanh,
Tâm ta đã quyết, ngươi tuân hành,
Đừng hòng rù quến và dụ hoặc,
Kiếm thần một nhát đứt làm đôi.
Ta đã thấy ngươi, đã biết ngươi,
Hữu lậu, hướng ngoại thật tinh ranh,
Trăm mưu, ngàn kế giăng mồi bẫy,
Dụ hoặc ta ra khỏi thất nhanh.
Ta đã thấy ngươi, đã biết ngươi,
Đầu ngươi có sừng, miệng có nanh,
Móng vuốt sắc bén chạy quanh quẩn,
Hiện ra người đẹp mỹ nhân kế,
Dụ dỗ chúng sanh mãi mê si.
Ta đã thấy ngươi đã biết ngươi,
Lời ngon, tiếng ngọt khéo vẽ vời,
Vẽ ra viễn cảnh trò tham ái,
Lôi kéo người tu chẳng đạt thành.
Ta đã thấy ngươi, đã biết ngươi,
Thì thầm, thỏ thẻ mãi bên tai,
Rủ rê, bày vẽ bao nhiêu thứ,
Khiến khách hữu tình hoạn nạn hoài.
Ta đã thấy ngươi, đã biết ngươi,
Âm mưu thâm độc nhất trên đời,
Dựng tuồng, diễn kịch theo ngoại cảnh,
Nội tâm rối bời, lòng bất an.
Ta đã thấy ngươi, đã biết ngươi,
Hỡi quân khốn nạn khéo lừa người,
Bày trò ma mị trong trí não,
Dẫn ta vào bể khổ sầu đau.
Ta đã thấy ngươi, đã biết ngươi,
Hỡi quân mất dạy khéo hại người,
Xúi giục người tu không an tịnh,
Lang thang, vất vưởng như ma trơi.
Ta đã thấy ngươi đã biết ngươi,
Hỡi quân ác độc khéo giết người,
Giết giới hạnh, thiền định, trí tuệ,
Giết hùng tâm, chán chí tu hành.
Ta đã thấy, ngươi đã biết ngươi,
Hỡi quân gian manh khéo gạt người,
Lọc lừa, mánh khóe thêm trá ngụy,
Gạt hết thế nhân khắp hành tinh.
Ta đã thấy ngươi, đã biết ngươi,
Hỡi cái tâm hướng ngoại rong chơi,
Ngày đây, mai đó tợ cô hồn,
Nghêu ngao phố thị theo trần cảnh,
Mất hết Thiền, Định, Tuệ sau sanh.
Ta đã thấy ngươi, đã biết ngươi,
Quyết tâm diệt tận, diệt sạch mi,
An nhiên, tĩnh lặng, không dao động,
Siêu sinh thoát tử, vượt hồng trần.
Minh Thành, mày phải chết ngay đi!
Mày chết thật đi, chết thật đi,
Chết hết, chết sạch, chết hoàn toàn,
Chết ái, chết dục, chết bản ngã,
Chết tham, sân, si, chết vô minh,
Chết tên, chết tuổi, chết mặt mũi,
Chết tiếng, chết tăm, chết bề ngoài,
Chết hơn, chết thua, chết danh lợi,
Chết lòng cao thấp, giai cấp phân,
Chết tâm hướng ngoại theo trần cảnh,
Chết tâm truy tầm tưởng tương lai,
Chết tâm tiếc nuối về dĩ vãng,
Chết tâm dính mắc phút giây này,
Chết tánh ta đây và kiêu ngạo,
Chết luôn ích kỷ với tranh giành,
Chết hết sắc, thọ, tưởng, thức, hành,
Chết sạch tứ đại, ngũ dục, tham,
Chết tươi tự ngã, vô minh, ái,
Chết cả cuộc đời trong dối gian,
Chết tan, chết nát, tâm ngạo mạn,
Chết mãi, chết hết tật kiêu căng,
Chết buồn, chết giận, chết hờn dỗi,
Chết ghét, chết thương, chết muốn mong.
Để ta sống lại sinh mạng mới,
Sạch sẽ, tinh anh, trong sáng ngời,
Thân tâm mát mẻ, thật xinh tươi,
Hiền hòa, lắng diệu quá tuyệt vời,
Tình thương dào dạt tràn vũ trụ,
Trí tuệ rạng ngời soi cuộc đời,
Bao dung, đức độ tâm vô lượng,
Từ ái chứa chan lòng thênh thang,
Giới hạnh thanh tịnh tợ lưu ly,
Thiền định vững chắc khó ai bì,
Thánh tuệ chiếu soi toàn hoàn vũ,
Nhân từ mát dịu thấm muôn nơi.
Con thề thành đạo ở nơi này,
Nếu không động đất sập chết liền,
Hỏa hoạn, cháy thiêu không còn xác,
Ăn nhầm thuốc độc đột tử ngay.
Con thề thành đạo ở nơi này,
Xuống núi đi tàu vỡ chìm thuyền,
Máy bay rơi xuống tan banh xác,
Leo núi trượt chân bể đầu ra.
Con thề thành đạo ở nơi này,
Nếu không ngủ rồi không dậy luôn,
Nằm liệt một chỗ phân, tiểu dãi,
Toàn thân bất động, chết thê lương.
Con thề thành đạo ở nơi này,
Nếu không tai biến, đột quỵ liền,
Chết bờ, chết bụi không ai biết,
Chết tức, chết tưởi chẳng người hay.
Con thề thành đạo ở nơi này,
Chùa chiền xem như một đống phân,
Đất đai, xe cộ như cứt mũi,
Tiền bạc khác gì giấy cầu tiêu.
Mọi thứ tài sản ở trên đời,
Vật chất ruộng vườn có ích gì?
Chỉ là mầm mống sanh ràng buộc,
Tham dục, tham lam không thoát ra.
Mồi nhử ác ma đó biết chăng,
Đống phân chỉ giòi nó thích ăn,
Người tu hãy khéo soi xét rõ,
Quán sâu, quán kỹ thoát hầm phân.
Người tu phải khéo soi xét rõ,
Quán sâu, quán kỹ thoát hầm phân.
Người tu hãy khéo soi xét rõ,
Quán sâu, quán kỹ thoát hầm phân”.
VI. Chia sẻ:
“Chúng mình có ai muốn chia sẻ về tâm hướng ngoại không? Cái tâm này độc lắm à”.
Phật tử 1
“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Con Kính Bạch Sư phụ,
Con kính bạch quý Sư thầy,
Con kính bạch quý Sư cô và toàn thể đại chúng.
Trong thời gian con tu học theo dòng Thánh pháp, thì con chỉ mới có một chút ít khả năng để nhìn về tâm hướng ngoại. Con xin trình trên sư phụ và con kính mong sư phụ sẽ chỉ dạy cho con nhiều hơn về việc con nhìn nhận về tâm hướng ngoại như vậy là có đúng hay chưa? Và chỉ dạy thêm cho con.
Con thấy tâm hướng ngoại là một trở ngại rất lớn về việc tu tập, việc an trú các đề mục mà con được sư phụ hoặc là cô Toàn chỉ dạy. Tâm thích hướng ra bên ngoài, nhìn người, vật bên ngoài, nhìn rồi soi mói, tìm lỗi của người khác. Kế đó là khen mình, chê người, nhìn ra bên ngoài, dính mắc, tham ái, chạy, chứ không an trú được trong nội tâm, các pháp không được an trú một cách liên tục, thuần thục. Chính vì tâm hướng ngoại này, mà con chưa nhiếp phục được, con thấy nó rất là khó để có thể hoàn toàn quay về nội tâm của mình, để có thể thực hiện được các pháp mà Đức Phật đã chỉ dạy.
Và con cũng kính xin sư phụ sẽ chỉ dạy cho con, cách làm sao để diệt được tâm hướng ngoại này một cách hoàn toàn.
Dạ con xin hết”.
“Cô thông tuệ có muốn chia sẻ không? Tâm hướng ngoại này trong Năm Triền Cái là trạo hối”
Cô Thông Tuệ
“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Con kính bạch trên thầy, trên quý thầy, quý Sư cô cùng toàn thể thiền đường đại chúng.
Con biết là tâm hướng ngoại của con rất nhiều, con rất là muốn đi chơi, con hay ngụy biện là con còn nhỏ, con hay ngụy biện là “dây đàn căng quá thì nó sẽ đứt”, nên là con cứ ngụy biện để con được đi chơi. Dù biết cái đó là không tốt, nhưng mà con vẫn chưa đủ mạnh mẽ, vẫn chưa quyết liệt, nghiêm túc, cho sự tu của mình. Con hứa với thầy là con sẽ cố gắng để nhiếp phục tâm hướng ngoại đó, và lo cho sự tu của mình nhiều hơn.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật”.
Nó thúc giục ở trong, nó làm cho mình không yên, mình phải nhận diện ngũ uẩn thật kỹ. Cái đó cũng chỉ là ý hành thôi, cũng là thọ ở trong nó thúc giục, cái cảm giác ở trong nó thúc giục, rồi mình suy nghĩ nó dẫn dắt. Mà quan trọng là mình không biết nó là hành, mình nhận theo nó. Lúc đó mình không nhận diện năm uẩn, hoặc là mình nhận diện một cách yếu đuối, mình không chỉ mặt nó là hành, rồi mình chấp nhận những suy nghĩ đó.
Thí dụ nó nói “mình còn nhỏ mà! Căng quá đứt dây”, thì chính suy nghĩ đó nó để cho mình buông ra, thả ra. Chỉ cần mình chuyển suy nghĩ lại, mình tác ý suy nghĩ đó, thì từ từ mình sẽ nhiếp phục.
“Cô Tuệ Khiêm có muốn chia sẻ không? Phải nhận diện ngũ uẩn, tất cả chỉ là ngũ uẩn thôi”.
Cô Tuệ Khiêm
“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Kính bạch trên thầy,
Kính bạch quý thầy, quý Sư cô cùng đại chúng.
Tất cả những lời Phật dạy, con cũng khắc ghi trong lòng, những cái dục, ái con không bị vướng mắc, nhưng con chọn con đường tu đích thực. Những gì thầy chỉ dạy cho con, con rất cảm niệm công đức của thầy. Những việc con học được thì con sẽ hành trì. Con cảm niệm công đức thầy.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật”.
“Mời cô Tuệ Đức”
Cô Tuệ Đức
“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Con kính trên Sư phụ, quý thầy, quý Sư cô, cùng toàn thể đại chúng
Qua bài tác ý của sư phụ về tâm hướng ngoại, con xin trình lên sư phụ là con có tâm hướng ngoại. Mấy hôm nay con luôn nghĩ tưởng về mẹ con, cứ lo sợ “sau này nếu con không về thăm mẹ, lỡ như chỉ được nhìn như thấy đống tro như bà Năm, chắc con hối hận”.
Một là sợ hối hận, một bên là lo mình về nhà mình không tu được.
Ý hành con cứ khởi lên lo nghĩ là sợ sau này con hối hận, con chưa có tác ý được. Nhưng một bên thì con sợ, con sợ vướng mắc vào cái dục đi về, cái ái của mẹ, rồi con tu không được. Rồi con cứ phân vân hoài, nên con lên thưa sư phụ, chính vì con thưa sư phụ mà cái tâm luyến ái về mẹ trong ý hành con vẫn còn suy nghĩ. Con xin sư phụ, quý thầy, quý sư cô, từ bi, hoan hỷ, chỉ dạy cho con, để con tác ý mạnh mẽ, cũng như trên con đường “tịnh tính bất động” về Chánh Pháp, cho con được mạnh mẽ hơn.
Đối trước Tam Bảo, Sư phụ, quý thầy, quý Sư cô, cho con được thành tâm sám hối với những ngày con làm ở dưới bếp, vì con chưa được Chánh niệm tỉnh giác nên có nhiều cái con rất là sơ sót. Và tham, sân, si, bản ngã, làm cho quý Sư cô cùng quý Phật tử trong công việc phải buồn lòng vì con. Con xin Sư phụ, quý thầy, quý Sư cô và quý Phật tử chấp nhận đây là một lỗi lầm, để con phòng hộ trong tương lai.
Con xin đảnh lễ sư phụ ba lạy, cùng đại chúng ba lạy, để con ghi nhớ lỗi lầm này, để con luôn phòng hộ trong tương lai.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật”.
“Thầy: Đứng quay về lạy chung ba lạy là được rồi”.
“Thầy: Mời chú Sĩ, chú Tam chia sẻ”
Chú Sĩ
“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Con kính bạch trên Sư phụ,
Con kính thưa quý thầy,
Kính thưa quý Sư cô, cùng toàn thể đại chúng.
Con xin chân thành cảm ơn Sư phụ về buổi giảng ngày hôm nay, con xin chia sẻ về tâm hướng ngoại. Trong sự tu tập và trong thời gian vừa qua, con cũng có sự dính mắc đối với ngoại cảnh, vì tâm hướng ngoại chi phối, làm cho tâm không có định tĩnh, không có chuyên chú vào sự tu tập. Thời gian vừa qua không có an trú trong pháp, những dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu nó trôi về và nó dẫn dắt, nó khiến cho tâm không có định tĩnh và không có nhận rõ pháp. Những thọ, tưởng, hành của quá khứ thì nó liên tục trỗi dậy, nó dẫn dắt và nó khiến cho mình khó chịu, bực bội, ngồi thiền thì luôn dao động, học bài thì nó khiến cho mình kiếm cái này, cái khác để làm.
Con thấy sự nguy hại của tâm hướng ngoại, rất là nguy hại. Ngày hôm nay được sư phụ chia sẻ nó nằm trong Năm Triền Cái là trạo hối, thì con đã giải tỏa được cái đó. Con cảm ơn Sư phụ, đó cũng là cái hữu lậu để khiến cho tâm dao động liên tục, ngồi thiền bức xúc. Ngày hôm nay, con cảm ơn Sư phụ đã chia sẻ, vì bài pháp đạo lộ tu tập của Đức Phật và bài kinh “Khu Rừng”, khiến cho con có lòng tin hơn, có ý chí mạnh mẽ hơn. Trong những ngày vừa qua, con thấy mình không có chuyên tâm tu tập, khiến cho nội tâm dao động, khiến cho Sư phụ, quý thầy, quý Sư cô buồn vì con.
Ngày hôm nay con xin chân thành cảm ơn những lời chia sẻ, khuyến khích của Sư phụ, để cho con có thể cố gắng tinh tấn, nỗ lực và thực hành trong giáo pháp của Đức Phật.
Con xin chân thành cảm ơn Sư phụ về buổi pháp ngày hôm nay.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật”.
Chú Tam
“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Con kính bạch trên Sư phụ,
Kính bạch trên quý thầy,
Kính bạch trên quý Sư cô, cùng toàn thể đại chúng.
Qua buổi giảng sáng nay Sư phụ dạy, cảm thọ của con cảm thấy niềm hỉ lạc trong tâm. Vì những ngày con chưa biết đến dòng pháp này, thì tâm của con nó luôn lang thang, nó đi đầu này, đầu kia. Nó không chỉ dẫn dắt tâm, mà nó còn theo ý hành đó, cái thân đi đầu này, đầu kia, tìm cầu niềm vui, tìm cầu dục, ham muốn dục, luôn đi tìm, rong ruổi, lang thang, không biết tâm như thế nào, tâm luôn rong ruổi, vất vơ, hoang vu.
Còn khi con biết đến dòng pháp, thì có được sự định tĩnh, quay về biết được nơi thân tâm mình, và có được một chút an trú, cảm thấy niềm an lạc, hạnh phúc. Nhưng trong khi đó, những cái dục lậu và hữu lậu trong con vẫn còn rất nhiều. Khi nó sanh khởi thì con vẫn còn nhiều vô minh, si mê chưa nhận rõ, và chưa an trú trong pháp, nên bị dẫn dắt. Khi học pháp thì chưa được hân hoan, nhiều hỷ lạc và cảm thấy vẫn còn bị dẫn dắt tìm kiếm giải trí, chưa được chú tâm. Nên việc học pháp con cảm nhận vẫn chưa được nhiều kết quả. Khi ngồi thiền thì tâm vẫn còn nhiều dao động, vẫn còn cảm thấy khó chịu, khi chưa nhiếp phục được cơn đau.
Con xin sư phụ vì lòng thương nơi chúng sanh và con. Cho con được đảnh lễ sư phụ, để con có thể thân cận với bậc chân nhân, để tâm và thân được an tịnh, để nghe diệu pháp, được tinh cần, tinh tấn, dõng mãnh, tâm không thụ động, để thực hành pháp và tùy pháp.
Con cũng xin đảnh lễ trên quý thầy, quý sư cô và đại chúng, để con có được lòng dõng mãnh, sự tinh tấn trong Chánh Pháp và luôn nhận diện về thâm tâm, để biết nhận rõ được những ý hành và tâm si mê, tâm thụ động nơi con, để con có thể tinh tấn, nỗ lực trong Chánh Pháp này.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật”.
“Thầy: Chú đứng lạy chung là được”
Phật tử 2
“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Kính bạch trên Sư phụ,
Kính thưa quý thầy, quý Sư cô, cùng toàn thể đại chúng.
Trong suốt bài pháp thoại, khi Sư phụ giảng tới đâu con thấy mình tới đó. Tại vì vấn đề nào con cũng sai phạm, nó đưa con nhìn lại “nếu mình không đi tu, thì chắc mình không bao giờ biết vấn đề này, không biết được Năm Triền Cái, không biết được những cái trong người mình là vô minh, si mê như thế. Mình không hôn trầm thì cũng chuyển sang trạo cử, hối tiếc”, cái tâm hướng ngoại thì rất kinh khủng, khủng khiếp, mỗi ngày nó đều hiện khởi những ý nhỏ nhỏ, li ti. Và rồi trong lúc mình nghe pháp, mình ngồi thiền hay mình làm việc cũng vậy, nó luôn kề cận sát bên, làm cho mình không an trú. Trong nghe pháp không được định tĩnh, và làm cho cái tâm si mê của mình mỗi ngày nó dày đặc thêm, mình làm việc hoặc bất cứ cái gì nó cũng đi tới sự sai phạm, si mê hết. Cũng vì tâm hướng ngoại này, mà mình không nhận diện được ngũ uẩn.
Trong khi con học ở trường trung cấp năm thứ hai, lúc vào thi có một ý hành nhỏ khởi lên “nó muốn không học nữa”. Con thấy những cái uẩn khác bắt đầu nó theo, lúc đó thì mình theo nó mà mình không biết, thấy cứ theo nó gần một tiếng đồng hồ, nó cứ thôi thúc mình là “không học nữa”, xong tự nhiên đúng một tiếng đó, thì con chợt tỉnh “mình đang làm cái gì vậy? Đang suy nghĩ cái gì vậy? Cái này có đáng để suy nghĩ không? Cái này là cái gì vậy?”. Cũng một niềm mê đó và cũng một niềm chợt tỉnh, tỉnh giấc trong hiện tại, thì con mới thoát được nó. Không thì chỉ có một niệm nhỏ thôi là con có thể là con rời, con không học nữa ở trường, không đi trọn vẹn trên bước đường học mà mình đã đặt ra.
Cũng cái tâm hướng ngoại này, nó tạo cho mình rất nhiều khó khăn, bất cứ mình tu tập, mình học hay làm việc gì cũng vậy, nó thích dễ vui, dễ chịu và nó luôn xui khiến mình đi vào con đường xấu, đi vào con đường si mê, mà bao đời bao kiếp rồi.
Xưa giờ con chưa từng học về pháp này, con học được ở thầy đó là làm gì thì làm đến tận cùng. Mình đã đặt ra thì nhất định phải làm được, dù khó khăn đến mấy. Nên khi con quyết làm gì, thì nhất định sẽ làm được. Nên sau đợt này con về, con nhất định sẽ lên lại. Và đã con hứa và con quyết sẽ làm được, và có thể ở đây năm năm hoặc mười năm. Khi nào thật sự thành tựu đầy đủ Chánh Pháp thì con mới xin phép thầy xuống núi, và con nhất định con sẽ làm được. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Con thành kính tri ân thầy, đại chúng và mọi người, mình mới thấy được những xấu xa của mình. Mình mới đi đúng con đường Chánh Pháp, thấy được sự an lạc, sự hoan hỷ, vi diệu của Chánh Pháp. Và mình thấy đời tu của mình thật sự đúng nghĩa, hạnh phúc, lợi lạc cho mình và mọi người. Không uổng cuộc đời xuất gia tu hành và sự hi sinh của mọi người đã dành cho mình. Con thành kính tri ân đại chúng và thầy.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật”.
./.