Làm Sao Hết Tham Ăn - Bốn Loại Thức Ăn - Kinh Thịt Đứa Con 1
Làm Sao Hết Tham Ăn
Bốn Loại Thức Ăn - Kinh Thịt Đứa Con 1
Thích Minh Thành
Ngày 27 tháng 04 năm 2022
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Ví dụ về đoàn thực PAGEREF _Toc103929174 \h 1
II. Nhàm chán sự ăn uống PAGEREF _Toc103929175 \h 6
III. Chất độc từ thực phẩm PAGEREF _Toc103929176 \h 9
IV. Xúc thực PAGEREF _Toc103929177 \h 11
V. Tư niệm thực PAGEREF _Toc103929178 \h 14
I. Ví dụ về đoàn thực
Bài kinh Thịt đức con trong Tương Ưng Bộ tập 2:
“1) ... Ở Sàvatthi.
2)...Này các Tỷ-kheo, có bốn loại đồ ăn này đưa đến sự tồn tại, hay sự chấp thủ tái sanh cho các loài hữu tình hay chúng sanh.
3) Thế nào là bốn? Đoàn thực hoặc thô, hoặc tế; thứ hai là xúc; thứ ba là tư niệm; thứ tư là thức.
Này các Tỷ-kheo, bốn loại đồ ăn này đưa đến sự tồn tại, hay sự chấp thủ tái sanh cho các loài hữu tình hay các loài chúng sanh.”
Đức Thế Tôn nói do ái tập khởi nên tứ thực tập khởi, ái đoạn diệt nên tứ thực đoạn diệt, tức bốn loại thức ăn này tại sao lại có mặt? Đó là vì chúng ta ưa thích, thèm khát, ham muốn. Chính bốn loại thức ăn này nuôi dưỡng cho thân xác, da thịt, cũng như là nuôi dưỡng tâm thức, thọ,t ưởng, hành thức để tiếp tục đi trong tái sanh, luân hồi, sáu nẻo.
Điều đầu tiên Đức Phật dạy chúng ta trong thức ăn là đoàn thực. Ngài ví dụ:
“5) Ví như, này các Tỷ-kheo, hai vợ chồng đem theo một ít lương thực đi qua một quảng đường hoang dã, với một đứa con khả ái, thương mến.
6) Rồi này các Tỷ-kheo, trong khi hai vợ chồng ấy đang đi trên con đường hoang vu, số lương thực ít ỏi ấy đi đến hao mòn, khánh tận. Và một vùng hoang vu còn lại chưa được họ vượt qua.
7) Rồi này các Tỷ-kheo, hai vợ chồng người ấy suy nghĩ: " Đồ lương thực ít ỏi của chúng ta đã bị hao mòn, khánh tận; còn lại vùng hoang vu này chưa được vượt qua; vậy chúng ta hãy giết đứa con một, khả ái, dễ thương này, làm thành thịt khô và thịt ướp, ăn thịt đứa con và vượt qua vùng hoang vu còn lại này, chớ để tất cả ba chúng đều bị chết hại".
8) Rồi hai vợ chồng ấy giết đứa con một, khả ái, dễ thương ấy, làm thịt khô và thịt ướp, ăn thịt người con và vượt qua vùng hoang vu còn lại ấy. Họ vừa ăn thịt con, vừa đập ngực (than khóc): “Đứa con một ở đâu? Đứa con một ở đâu?”
9) Này các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Họ ăn món ăn có phải để vui chơi? Hay họ ăn món ăn để tham đắm? Hay họ ăn món ăn để trang sức? Hay họ ăn món ăn để béo tốt?
- Thưa không phải vậy, bạch Thế Tôn.
10) Có phải họ ăn các món ăn chỉ với mục đích vượt qua vùng hoang vu?
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
11) Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Ta nói đoàn thực cần phải nhận xét như vậy.”
Chúng ta nên nhớ kĩ ví dụ này, để mình quán chiếu, chiêm nghiệm khi ăn, khi thọ thực, thọ trai, khất thực, khi ăn cơm, dùng cơm. Thịt của đứa con một, của đứa con duy nhất, thịt của đứa con đáng thương, rất đáng yêu, hai vợ chồng này ăn trong sự đau xót, trong sự khóc than: “Đứa con một ở đâu? Đứa con một ở đâu?”
Ngày xưa khi Minh Thành đọc bài này thấy rất lạ, nhưng mình chiêm nghiệm kĩ thì mới thấy được trí tuệ thâm sâu của Đức Phật. Vì lòng tham, thích, mê thức ăn của mình rất nặng. Nếu như mình không có sự quán chiếu sâu sắc và đúng với sự thật như lúc trước chúng ta đã có nghe Đức Thế Tôn đã nói trong dòng luân hồi sanh tử vô lượng vô biên kiếp này ít có người nam người nữ nào chưa từng làm cha làm mẹ, làm con, làm anh chị em, vợ chồng.
Nên khi mình ăn những con heo, bò, gà, cá là mình ăn thịt của những bà con, anh chị, em trong vòng luân hồi sanh tử này của chúng ta. Ngay cả mình ăn chay thì trong đó cũng có rất nhiều sinh mạng biến đổi trong đó để mình có những hạt gạo, hạt lúa, những hạt cơm. Hay trong bát canh của mình, trong đồ xào, đồ kho của mình cũng có rất nhiều sinh mạng. Đây đúng là sự thật vì mình đúng là vô minh, không thấy biết, không hiểu nên khi nghe có khi mình sốc nhưng đó là sự thật mà bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, trí tuệ tối thượng, tam minh của Đức Phật nhìn thấy sanh tử trí.
Ngài nhìn thấy được trong dòng sống chết, trong vòng luân hồi vô thỉ này lanh quanh lẩn quẩn, quay qua quay lại, lòng vòng của chúng ta là từng làm cha con, mẹ con, anh em, chị em, bà con, cô bác, chú dì, vợ chồng, ông cháu, bà cháu. Vì tâm tham ái, tham muốn, tham dục, tham ăn, mê ăn mà chúng ta ăn nuốt lẫn nhau, những con vật cấu xé, ăn tươi nuốt sống, xé xác lẫn nhau, con người vì miếng ăn cũng bất chấp những thủ đoạn.
Ví như câu chuyện của bà cụ già tám mươi tuổi mù lòa đi bán vé số nhưng bị giật tiền, vé số. Đó có phải là vì lòng tham, vì miếng ăn mà con người tàn nhẫn, vô lương tâm, mất đạo đức. Nên chúng ta nhìn sâu vào mới thấy được Đức Thế Tôn đưa ra sự quán chiếu này để chúng ta ngao ngán, nhàm chán, không ham, mê, thích ở trong ăn uống. Ăn để giữ thân này, để duy trì sức khỏe tu tập phạm hạnh, để thành tựu trí tuệ. Không phải ăn vì vui sướng, trang sức, hưởng thụ các món ăn ngon.
Chúng ta cứ nhớ ví dụ này mãi, mỗi lần ăn cứ nhắc lại ví dụ, hình ảnh này, khơi gợi lại sự quán chiếu này thì lòng tham hiểu biết thì đối với năm dục trưởng dưỡng được hiểu biết. Vì khi mình thấy được dục, tham, ái của mình đối với món ăn thì mình cũng sẽ thấy được luôn dục, tham, ái đối với năm dục sắc, thanh, hương, vị, xúc. Khi lòng tham đối với năm dục trưởng dưỡng được hiểu biết thì thời không còn kiết sử. Do kiết sử đó, một vị Thánh đệ tử bị trói buộc để phải sanh lại ở đời sau.
Vậy nên, nói về chữ hiểu biết trong kinh Tương Ưng là cả một sự giác ngộ, thấy biết trí tuệ, không phải là sự hiểu biết bình thường của mình sử dụng trong đời sống. Hiểu biết ở đây là thấu suốt, thấy biết tận tường, tận cùng về sự thật, khi lòng tham đối với năm dục được thấy, được biết, được hiểu, tức là hiểu thấu được lòng tham đối với năm dục, thì mình sẽ không còn tham nữa.
Như vậy, nói theo thông thường là khi mình không còn tham ăn nữa là mình sẽ không còn tham ngũ dục và khi mình không còn tham ngũ dục nữa thì mình sẽ không bị cái gì trói cột mình nữa. Và khi mình không còn gì trói cột mình nữa thì mình không còn tái sanh, tức là mình giải phóng dòng sanh tử.
Bài kinh chúng ta đọc có thể là khó hiểu nhưng như Đức Phật nói rằng khi một người đã thấy biết được bản chất thật sự của những thức ăn, tức là thấy được trong bữa ăn này là thịt của con mình, của cháu, ông, bà, cha, mẹ mình, hay của cô, bác, chú, dì, cậu, mợ, thím; hay là thịt của vợ, chồng, con, em, cháu mình. Trong bữa ăn này là nước mắt, máu, xương, là những tiếng kêu gào thảm thiết, là những sự đau đớn tột độ, tột cùng, giãy giụa, kêu la, tức tưởi, sân hận. Trong bữa ăn này là ác nghiệp, ác quả báo, tội lỗi, sát sanh, giết hại, là sự đâm nhau, chém nhau, giết nhau, mổ nhau… Là máu đào, nước mắt.
Có những trường hợp rất cảm động, trong các lò mổ, người ta chuẩn bị đem trâu ra mổ trâu mẹ thì trâu con quỳ lạy, khóc, nước mắt chảy ra. Khi đó ông đồ tể này chuẩn bị mổ thì chạy đi công việc, khi quay trở lại thì tìm dao mổ nhưng tìm hoài không ra. Con trâu con cũng mất và dao mổ không thấy. Ông ta đi kiếm lanh quanh ở trong xóm thì mới phát hiện ra là con trâu con chạy qua người hàng xóm, nước mắt đầm đìa, hoảng sợ, buồn đau.Ông hàng xóm thấy tội nên mua lại con trâu con này và con trâu mẹ đem về nuôi.
Một thời gian con trâu mẹ chết, nhiều năm sau thì con trâu con chết nhưng con dao ngày nào cũng không tìm thấy, người ta vẫn nghi vấn, thắc mắc là một ẩn số. Nhưng khi người ta mổ bụng con trâu con thì thấy lạ mới cắt ra, cuối cùng thì con dao từng dùng để mổ con trâu mẹ ở trong bụng trâu con đó. Trong cơ thể của nó có một chất sinh ra bao bọc lại con dao đó suốt cả mười mấy năm sau.
Như vậy, con trâu con quỳ xuống van xin, nước mắt đầm đìa va nuốt cả con dao vào bụng vì nó biết mẹ nó sắp bị làm thịt nên nó nuốt con dao rồi chạy đi. Như vậy thì chúng ta mới thấy được sự xót xa, đau đớn, nước mắt, máu và nuốt con dao trong bụng.
Những câu chuyện này trong cuốn sánh Thú vật còn như vậy. Câu chuyện có nhiều khía cạnh để mình quán chiếu: tình mẫu tử của loài vật, con thú vật mà còn biết hiếu thảo với mẹ, chẳng lẽ chúng ta là con người mà còn thua thú vật hay sao? Con trâu con thấy trâu mẹ sắp sửa bị làm thịt thì nó nuốt con dao vào bụng.
Chúng ta có thấy xót xa, đau lòng không? Nếu con dao nuốt vào như vậy thì sẽ thấy như thế nào? Nó không phải là con dao thái mình cầm mà đó là con dao rất to, dao dùng để mổ trâu mổ bò. Loài vật còn như thế.
Về tình mẫu tử, sự hiếu thảo của loài vật, qua đó, chúng ta nhìn thấy được ác nghiệp của chúng sanh, sự tàn nhẫn, ác độc, tội lỗi của sát sanh, đưa đến mẫu tử chia lìa, mẹ con sống chết, đưa đến sự đau khổ, quằn quại, đau đớn cho chúng sanh, nước mắt, máu, xương làm cho phân li, chia lìa, oán hận, khổ sầu. Tất cả đó là miếng ăn, đoàn thực. Miếng ăn thì ngon, miệng, lưỡi tạo ra bao nhiêu ác nghiệp.
Vậy nên chúng ta chiêm nghiệm thật sâu sắc, rất nhiều câu chuyện như vậy.
Lúc trước có câu chuyện người ta đi vào rừng săn bắt những con khỉ con, khỉ mẹ đau khổ quá mà vỡ tim chết. Thú vật cũng có tình thương, tình mẫu tử, phụ tử, cũng có mẹ cha, cũng biết tham sống, sợ chết, đau đớn, khổ sở, quằn quại. Chúng ta cũng thấy con người chúng ta vì miếng ăn mà bất kể, bất chấp, ác độc, tham lam.
Chúng ta quán chiếu đoàn thực này thật sâu sắc, rất nhiều. Như hôm trước ở trong thất của Minh Thành có ba bốn con mèo con sanh trên nóc nhà vệ sinh. Nhờ thầy Pháp Tâm nhặt những con mèo con ra để thả thì con mèo mẹ sừng sộ, sân hận, kêu la thảm thiết. May mình ăn chay mình tu, còn những người không biết tu thì gặp chó gặp mèo là lột da cắt thịt, bao nhiêu là nước mắt, đau đớn, khổ sở.
Vậy nên thức ăn này đưa chúng sanh đi đến sự oan oan tương báo, hận thù vay trả trả vay. Mình ăn nuốt nó rồi nó ăn nuốt mình cứ lòng vòng như vậy, không có ngày cùng tận. Giờ mình làm người rồi thì mình có phước rồi ăn nuốt nó, đến khi mình phải trả nghiệp, rơi xuống loài súc sanh rồi thì nó được tiến hóa lên làm người thì nó sẽ tìm ngay đúng mình thì lúc đó nó sẽ mổ thịt mình, chặt đầu, lột da mình, cạo vẩy mình… Chúng sanh cứ như vậy, ăn nhau, nuốt nhau, xoay vòng như vậy mãi mãi không giải thoát.
II. Nhàm chán sự ăn uống
Vậy nên nếu mình muốn giải thoát, muốn đi ra khỏi những thân bất tịnh, mủ máu, tanh hôi, dơ bẩn này thì Đức Phật dạy mình hãy nhàm chán đối với sự ăn uống này, không ưa thích, khoan khoái, thèm khát. Vậy nên chúng ta quán chiếu bài Thịt đứa con một, phải ăn trong sự xót xa, đau đớn. Ăn trong lòng bi mẫn để mình dẹp bỏ tâm ham thích, khoan khoái, dục ái trong những thức ăn này.
Có rất nhiều góc độ, phương diện để chúng ta quán chiếu về đoàn thực này. Đừng nói ăn mặn, ngay cả trong khi ăn chay mà chúng ta không khéo trong món ăn này thì bao nhiêu thứ nghiệp trong đó. Vào bếp một chút là giận, sân si, bản ngã, muốn ăn mónnày, làm món kia, chê khen, ngọt mặn… Vậy nên mình ăn đồ trong bình bát đi khất thực rất hay, nó đã phá đi sự dính mắc, tham đắm trong thiệt thức, tỉ thức, thiệt xúc, tỉ xúc, mình trộn chung vào trong bình bát. Đồ chiên, kho, xào, canh đều trộn hết vào một bình bát.
Cần quán chiếu cho sâu sắc, khi mình thấu hiểu được bản chất của đoàn thực này là có thức ăn này là tạo nghiệp, ác nghiệp, khổ đau cho chúng sanh. Là nước mắt, máu, sinh mạng, là sự sanh ly tử biệt, sự giết hại, tàn sát, ác độc trong miếng ăn này. Lòng tham của mình đối với miếng ăn này được lắng dịu, giảm thiểu xuống, đưa đến ly tham đối với thức ăn, nhàm chán đối với thức ăn.
Khi mình đã ngao ngán, nhàm chán, không còn tham muốn đối với thức ăn nữa thì mình sẽ nhàm chán, không còn tham muốn đối với sắc, thanh, hương, vị, xúc, đối với năm dục trưởng dưỡng. Vì trong miếng ăn có đầy đủ năm dục trưởng dưỡng trong đó, sắc là màu sắc của món ăn, làm cho đẹp mắt, mùi, vị, thiệt xúc, lưỡi đụng chạm vào… Nên khi mình đã nhàm chán đối với món ăn rồi thì mình cũng sẽ nhàm chán đối với năm dục trưởng dưỡng, sắc, thanh, hương, vị, xúc của cuộc đời này. Và khi đã nhàm chán đối với năm dục trưởng dưỡng thì không còn gì trói buộc với cuộc đời này nữa. Khi không còn bị năm dục trói buộc, sai khiến thì một vị Thánh đệ tử không còn phải tái sanh ở đời này nữa.
Chúng ta thấy một pháp đi đến tận cùng của giải thoát nên điều đặc biệt của dòng tu Nikāya này Chánh Kiến khi đã thành tựu thì soi tới đâu sẽ xuyên thủng, xuyên phá, phá đổ tới đó hết. Bất cứ một pháp nào mà Thánh trí huệ đưa vào, rọi vào là xuyên thủng, xuyên thấu, xuyên phá, xuyên vỡ hết tất cả những pháp đó trong Thánh tri kiến, Chánh tri kiến. Khi đó, việc ăn này mà mình quán chiếu tận cùng và thành tựu trí tuệ viên mãn là mình cũng giải thoát sanh tử.
Vậy nên chúng ta cần chiêm nghiệm thêm, Minh Thành chia sẻ thì ở một vài góc độ căn bản, chúng ta thì phải chiêm nghiệm thêm thật nhiều. Chúng ta nên ghi ra nhật ký tu học, trình pháp, quán chiếu về thức ăn này, tiếp tục chuyên đề tu học của chúng ta trong đạo tràng là bắt đầu quán chiếu về thức ăn, viết nhật ký và trình pháp.
Tập nhận ra dục, tham, ái trong khi ăn, tập nhiếp phục, chế ngự những tham muốn trong thực phẩm, soi rọi kĩ tâm mình. Chúng ta thấy chỉ vì miếng ăn mà mẹ con chia lì, sống chết, sanh ly tử biệt, vì miếng ăn mà con trâu con phải nuốt con dao mổ cho mẹ nó. Vì miếng ăn mà nước mắt đầm đìa, đầu rơi, máu đổ, giết hại sinh linh, tạo bao nhiêu ác, nghiệp, oan gia trái chủ, oan oan tương báo, hận thù chồng chất, chiến tranh xảy ra cũng từ những tâm sát sanh này tích tụ, chất chứa.
Dịch bệnh hiện nay cũng là từ các nghiệp ác, sát sanh, mình giết chúng nhiều quá nên giờ nó sanh ra trở lại một loại để giết hàng triệu, hàng vạn. Vì mình giết nó nên nó mới giết lại mình, không để yên cho mình.
Chúng ta nên quán chiếu sâu sắc thật kĩ các góc độ, phương diện ở trong thức ăn, trong tâm tham đắm thức ăn này, nhân quả, nghiệp báo, tội lỗi, ác nghiệp trong đó, sự đau khổ, nước mắt, máu, sương ở trong bữa ăn của mình.
Nhiều khi Minh Thành nhìn thấy rất ngao ngán, khi đi thiền hành vòng quanh thất nhìn thấy những con ểnh ương lọt vào thất không đi ra được cửa kiếng thì các con kiến mở ra một buổi đại tiệc cắn rỉa từng miếng thịt, miếng da, chúng ăn còn bộ xương của con ểnh ương, nhái. Minh Thành đã chụp hình ảnh bộ xương của con ểnh ương đó để quán chiếu. Hay lâu lâu ở trong nhà mát tiếp khách nhìn thấy xác chết của con chuột, máu me loang lổ, bầy nhầy nên thấy rất xót xa.
Đoàn thực, miếng ăn này có bao nhiêu là tội lỗi, nghiệp ác, tai họa bên trong vì tham ăn. Ngày xưa có câu nói: chim ham ăn chắc chắn chết, người tham tiền nhất định tiêu vong. Tham này cũng như con cá tham miếng mồi nhỏ trong lưỡi câu… Hay như con tắt kè ngồi đó chờ các con thêu thân, con trùng chỉ chờ nhào tới ăn.
Nhìn thấy chung quanh đầy rẫy những sát sanh, ác nghiệp mà đều vì ái đoàn thực này. Tới khi mình ăn thì bên trong thúc giục, khoan khoái, thích thú trong này nên nhàm chán với những cảm giác đó. Hay những con dòi bò lúc nhúc trong những đống phân ăn trong đó, thích thú, vui sướng trong đó nhưng đó lại là chỗ dơ bẩn, hôi thối, bẩn thỉu, xú uế trong đó.
Chúng sanh cũng vậy, ăn những thứ dơ bẩn như vậy từ thiệt xúc cho đến thân xúc, xúc chạm của lưỡi này, xúc chạm đến thân, tìm những thứ bất tịnh, dơ dái, bẩn thỉu, khao khát, thèm muốn, đói khát, khát ái trong đó, những đau khổ cứ truy tìm mãi suốt kiếp suốt đời của nó. Đời này chết lại sanh đời sau, cứ tiếp tục đi khát khao, thèm thuồng, khát ái, thèm khát như vậy để rồi đi tìm để đớp, chụp, bắt, xé xác, nhai, nuốt.
Chúng ta thấy đau khổ không? Có thấy đời sống hạ liệt, thấp hèn, hạ tiện, bẩn thiểu, bất tịnh không mà không biết chán? Đến chết rồi cũng không biết chán. Có những người ăn chay đến bốn mươi, năm hay sáu mươi chục năm nhưng đến khi gần chết thì lại thèm, khao khát một món đồ mặn, thịt cá, máu huyết như vậy.
Vậy nên chúng ta thấy ái trong thức ăn rất ghê gớm, tham trong thức ăn hết sức khủng khiếp. Đi tu nhưng suốt ngày bày cái này ra ăn, nấu cái kia ra ăn, ngồi thiền nhưng trong đầu chỉ hiện mấy món ăn. Vậy nên chúng ta cần quán chiếu sâu sắc, thấy mệt mỏi, ngao ngán, chàm chán, thấy hạ liệt, thấp hèn, tồi bại, phàm phu, ngu si, khao khát, thèm khát, khát ái trong những thứ bất tịnh, dơ bẩn, bẩn thỉu này.
Quán thâm sâu như vậy, ngồi và nghĩ về bài kinh Thịt đứa con một của mình. Vì miếng ăn này mà biết bao nhiêu đau khổ trong cuộc đời này, biết bao nhiêu tội lỗi trong cuộc đời này. Ngày xưa, những chuyện tích thời xưa, trong triều đình vua thưởng cho người này trái đào, người kia không được thưởng nên ganh tị, đố kỵ, cuối cùng là giết hại nhau.
Chúng ta thấy dễ sợ không? Nên khi tu chúng ta đừng xem thường, một điều gì mà Đức Phật nêu ra thì đó không phải là chuyện đơn giản. Trí tuệ của Ngài, Ngài đưa ra vấn đề nào là cả một sự tu tập, quán chiếu, thực thấy, thực biết, thực giác, thực chứng, thực ngộ ở trong đó, để cho mình tu. Nên mình tu tại sao không thành công là vì cái gì mình cũng xem thường, “Ăn có là gì đâu!” Nếu mình không chấp nhận học pháp, mình không đủ trí để thấy được bên trong thực ra là đại sự trong đó.
III. Chất độc từ thực phẩm
Chưa kể đến thức ăn bây giờ đều là độc hại, thứ gì cũng nhúng độc ở bên trong, cây, rau, củ, quả đều nhúng độc trong đó, đừng nói chi là các món ăn để hộp, để trong túi đựng, bao đựng. Khoa học nghiên cứu chín mươi chín phần trăm thức ăn của mình là chất độc, hóa chất trong đó. Giờ mình toàn ăn những thứ có độc, chất độc, hóa học bên trong đó, làm bệnh ung thư…
Hôm qua Minh Thành họp ban trị sự, sau đó các thầy mới mời tất cả quý thầy, sư cô đến thăm một chú người đồng bào làm trong ban trị sự huyện và tỉnh, đã đóng góp rất nhiều công sức, tâm tư đối với các chùa từ thời đầu tiên của chùa Di Đà xây dựng lên, chùa Hoa Nghiêm… Khi Minh Thành tới thăm thấy người đó chỉ mới năm mươi mốt tuổi nhưng da đã vàng đen, máu chảy ra miệng vì người đó bị ung thư gan đa ổ ảnh hưởng qua thận. Mọi người rất xót xa, các thầy trụ trì rớm nước mắt, các thầy các cô xúc động.
Minh Thành có điện cho thầy thuốc hỏi thăm bệnh tình hiện trạng như thế nào, như vậy thì ra làm sao thì thầy nói khéo, sợ gia đình người ta buồn là “Tới ngày rồi!”. Da đã bị vàng đen, nám hết, năm mươi mốt tuổi nhưng như một ông cụ tám mươi mốt tuổi. Các thầy nói chú này lúc trước là cao to, đẹp trai, sức khỏe nhưng giờ vào nhìn thì các thầy không cầm được nước mắt, chỉ hai tháng đã biến đổi thành một con người khác. Khi tới Minh Thành cũng phụ một ít để chú uống thuốc, để gia đình lo lắng những ngày cuối đời và vì công đức của chú hộ trì tam bảo trong nhiều chục năm qua.
Minh Thành cũng liên hệ đến hình ảnh lúc xưa có một hòa thượng cũng bị ung thư gan, mẹ Minh Thành cũng bị ung thư gan và nhìn thấy những người xung quanh mình có những triệu chứng của gan. Nên giờ mới thấy chúng ta ăn những thứ độc hại gây ung thư, chỗ nào cũng có thể bị ung thư. Đó cũng là từ cái ăn này, bệnh tùng khẩu nhập, bệnh là từ miệng đi vào, mình nên quán chiếu tại sao mình lại ít bệnh, mình nên cẩn thận đối với các món ăn, mình biết chọn lựa, mình có chánh kiến trong khi dùng thực phẩm, khi ăn. Mình có chánh niệm tỉnh giác, có nhiếp phục lòng tham khi ăn, khi tìm hiểu, thấy rõ, biết được món ăn này, nguồn gốc như thế nào, lợi hại ra sao, có phù hợp với cơ thể mình không, bệnh trạng ra sao, dùng cái gì, ăn như thế nào.
Nên giờ Linh Quy Pháp Ấn giờ trồng rau, cải, bầu, mướp để hạn chế những độc địa, chất độc, hóa chất mà đưa vào trong cơ thể mình rồi sau này bệnh ung thư. Những người lên chùa tu có những người bệnh từ già tới trẻ, từ nam tới nữ, từ xuất gia tới cư sĩ, lê một tấm thân đau đớn, mệt mỏi, nhức nhối, bệnh tật, một phần do nghiệp của quá khứ, một phần cũng vì hiện tại này, những thứ ăn uống của mình.
Ăn uống là từ cảm thọ, thọ do thiệt xúc sanh, cảm giác từ khi lưỡi tiếp xúc sanh khởi ra. Nên từ điều này để chúng ta quán chiếu ra là rất nhiều những khía cạnh, phương diện, góc độ ở trong sự ăn này, không phải là đơn giản. Để mình có được một tấm thân an ổn, khỏe mạnh, điều hòa để mình tu học, một tinh thần vững mạnh, sáng suốt, minh mẫn, tinh anh, trí tuệ là cả một sự để tâm trong ăn uống, sinh hoạt, trong sự dụng tâm nhìn nhận mọi vấn đề trong đời sống.
Nhìn thấy bao nhiêu người bị ung thư, nan y, tật bệnh nên cái ăn của chúng ta là hết sức cẩn thận. Minh Thành luôn khuyên các Phật tử không ăn các đồ chế biến quá nhiều. Chúng ta nên ăn rau, đậu, tốt nhất thì khi ở nhà các Phật tử nên có vườn rau nho nhỏ, thậm chí ở thành thị không có đất thì để vào các thùng xốp trồng xà-lách, rau lan, rau muống, để giảm bớt các chất độc hại đem vào cơ thể của mình.
Khi ăn uống mình nên chánh niệm tỉnh giác, quán xét cái nào nên ăn, không nên ăn, ăn bao nhiêu, ăn như thế nào để cho sức khỏe mình tốt, để tu học. Còn không, mình mang một tấm thân bệnh tật, nếu bệnh có sẵn thì không nói nhưng mình đừng để cho vì cái ăn mà sanh ra thêm những bệnh thêm nữa thì mình hết tu học. Suốt ngày lên trình pháp cứ than bệnh, ngồi thiền thì đau chỗ này nhức chỗ kia, mỏi chỗ nọ, nhìn như một con gà ủ rũ, mặt mày, cơ thể, mắt mờ mịt, không mạnh mẽ, không tinh anh, sáng suốt, không phấn chấn, hân hoan, phấn khởi, nội tâm pháp hỷ.
Chúng ta nên để ý thật kĩ bài kinh ăn Thịt đứa con duy nhất của mình, đứa con đáng yêu.
“Này các Tỷ-kheo, khi đoàn thực được hiểu biết, thời lòng tham đối với năm dục trưởng dưỡng được hiểu biết. Khi lòng tham đối với năm dục trưởng dưỡng được hiểu biết, thời không còn kiết sử, do kiết sử này, một vị Thánh đệ tử bị trói buộc để phải sanh lại đời này.”
Nghĩa là: Khi mình thấy rõ những nguy hiểm, tội lỗi, tai họa, ác nghiệp ở trong món ăn này thì mình sẽ giảm bớt và lìa tham ăn, không tham ăn nữa, không tham đắm trong ăn uống nữa. Khi mình đã hiểu bản chất của những món ăn này là mình sẽ bớt tham, không tham ăn uống nữa. Khi đó, mình cũng không tham đối với năm thứ dục lạc ở thế gian, không còn thứ gì có thể trói buộc, sai khiến mình nữa. Lúc đó, vị Thánh đệ tử sẽ không còn phải sanh trở lại ở đời sau, tức là thoát ra sanh tử, xuất ly sống chết.
IV. Xúc thực
“12) Và này các Tỷ-kheo, xúc thực cần phải nhận xét như thế nào?”
Nói theo đơn giản là sự tiếp xúc, là thấy, nghe, ngửi, nếm, đụng chạm. Con mắt tiếp xúc với hình sắc, muốn nhìn, nghe, được nghe, được nhìn, được ngửi, nếm, đụng chạm, tiếp xúc.
“13) Này các Tỷ-kheo, ví như một con bò cái bị lở da, nếu nó đứng dựa vào tường, thời các sanh vật sống ở tường cắn nó. Nếu nó đứng dựa vào cây, thời các sanh vật sống ở cây cắn nó. Nếu nó đứng ở trong nước, thời các sanh vật sống ở trong nước cắn nó. Nếu nó đứng giữa hư không, thời các sanh vật giữa hư không cắn nó. Này các Tỷ-kheo, con bò cái ấy đứng dựa vào chỗ nào, thời các sanh vật trong các chỗ ấy cắn nó. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Ta nói xúc thực cần phải được nhận xét.”
Khi mắt dựa vào sắc thì sắc cắn nó, tai dựa theo tiếng thì tiếng cắn nó, mũi và lưỡi dựa theo mùi thì mùi và vị cắn nó, cắn lưỡi, cắn mũi. Thân dựa vào sự tiếp xúc, đụng chạm thì xúc đó cắn nó. Dù nó đứng ở chỗ nào thì cũng có con cắn nó, là vì da nó bị lở, những con sinh vật như bù hong, rận, ruồi, nhọng bu vào cắn nó.
Chúng ta thấy mình nhìn cái gì mà cái đó liên hệ với khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục hấp dẫn là cái đó cắn mình. Nhìn thấy nhà đẹp, xe đẹp, món đồ đẹp, con người đẹp, ngôi chùa đẹp là bị cắn ngay. Nghe qua lời khen hay lời chê đều bị cắn. Xúc gì là bị cắn, bị bu theo đến đó. Những con ruồi, nhặng, kiến, bù hong, côn trùng, vi trùng, sinh vật li ti bu vào. Vì da của con bò này bị lở, không lành lặn. Vết lở này là của dục, của tham, của ái nên nhìn thấy là bị bu, bị đeo, bị cắn, nghe, ngửi, nếm đều bị, đụng, chạm đều bị, đứng chỗ nào cũng bị, đứng ở tường hay gần gốc cây, ở dưới nước hay ở trên không đều bị.
Ở trong vườn thì bị theo kiểu trong vườn, ở thành phố thì bị theo kiểu thành phố. Vậy nên xúc này rất ghê gớm.
“14) Này các Tỷ-kheo, khi xúc thực được hiểu biết, thời ba cảm thọ được hiểu biết. Khi ba cảm thọ được hiểu biết, thời Ta nói rằng vị Thánh đệ tử không có gì cần phải làm thêm nữa.”
Tức là không muốn tiếp xúc, không thích, không cần tiếp xúc. Chúng ta quay lại nhìn ngũ uẩn, nhìn thân tâm này, nhìn những rác bẩn, cấu uế của mình, nhìn những thứ còn bẩn thỉu, bất tịnh ở trong này, những thứ còn tác oai tác quái, hành hạ thân tâm mình mà mình chưa có thì giờ để tẩy rửa, mình lau chùi, quét dọn bên trong không hết mà lo dòm ngó bên ngoài làm gì? Nhìn người này, người kia rồi sân hận, hơn thua, so bì, tật đố, ganh tị để làm gì?
Chúng ta có nhớ hình ảnh những con khỉ làm hình ảnh bịt mắt, bịt tai, bịt miệng, ý nói: không phải cái nào cũng nhìn, cũng nghe, cũng nói. Có khi thấy mà giống như không thấy, thấy hộ trì căn tu tập, có khi nghe rồi lại bỏ qua ngay lập tức, không để vào tâm, không thọ nhận. Nên chúng ta nên thấy nhàm chán với những xúc này, xúc sanh phiền não, sanh hơn thua, để phải quấy, thị phi để làm gì? Mình tiếp xúc với pháp của Thánh hiền, tiếp xúc với sự thật, với Thánh trí, với tuệ nhãn, pháp nhãn, đạo nhãn, chân nhân, hiền thánh, tiếp xúc với những lời vi diệu, tối thượng của Đức Như Lai. Tiếp xúc với những cấu nhiễm, trần tục, thấp hèn, phàm phu là nó lôi mình đi xuống.
Vậy nên không ưa nhìn, không ưa thấy, không ưa nghe, không ưa ngửi, nếm hay tiếp xúc. Chỉ nên ưa thích quay trở về nội tâm, tẩy trừ những cấu nhiễm, rác bẩn, xú uế, bẩn thỉu trong này, dọn dẹp căn nhà nội tâm của mình.
Vài ngày gặp thì được hỏi “Chị hay gì chưa? Anh hay gì chưa? Tôi nói cho nghe chuyện này nè…” Chuyện về người này người kia người nọ để làm gì? Xong rồi lại bị cắn, bị các câu chuyện đó cắn. Nên nhàm chán đối với các sự tiếp xúc.
“Này các Tỷ-kheo, khi xúc thực được hiểu biết, thời ba cảm thọ được hiểu biết.”
Khi mình thấu rõ bản chất của xúc này, vì xúc sanh thọ mà mình thấy xúc này là nhân sanh khởi các tham, sân, si, bản ngã, mình không ưa thích tiếp xúc, không ham, không mê tiếp xúc, không đi tìm tiếp xúc nữa thì các cảm thọ sẽ không bị chìm đắm, nhận chìm, cuốn trôi bởi các cảm thọ vì mình chặn từ chỗ xúc, xúc mới sanh ra thọ, tiếp xúc mới sanh ra cảm giác. Giờ mình không muốn, không thích, không ham xúc, không ưa xúc, chỉ xúc với Thánh pháp, Thánh trí, Thánh tuệ, Thánh đạo thì các cảm thọ không nhấn chìm, lôi cuốn, dẫn dắt, xâm chiếm, áp đảo mình được.
“Khi ba cảm thọ được hiểu biết, thời Ta nói rằng vị Thánh đệ tử không có gì cần phải làm thêm nữa.”
Ba cảm thọ được hiểu biết là thấu hiểu được bản chất nguồn cội của tham, sân, si, chặn đứng động cơ từ ở nơi xúc, xúc này cần hết sức tinh tế, không đơn giản mà mình thấy được. Thọ thô mình mới thấy, còn thọ tế mình không thấy. Nên sự tiếp xúc này mà mình muốn nhận diện nó thì mình phải có một sự thiền định, có một sự chánh niệm tỉnh giác cao độ và sắc bén. Vì nó rất nhanh, xúc qua thọ và có khi vi tế mình không thấy được, nên cái thô thiển mình mới thấy.
V. Tư niệm thực
“15) Và này các Tỷ-kheo, tư niệm thực cần phải nhận xét như thế nào?”
Tư là nhớ, niệm là nghĩ, tư niệm là nhớ nghĩ. Nhớ nghĩ là một thứ thức ăn tinh thần của tâm.
“16) Này các Tỷ-kheo, ví như một hố than hừng, sâu hơn một thân người, chứa đầy than cháy đỏ rực, hừng cháy không có khói. Rồi một người đi đến, muốn sống, không muốn chết, muốn lạc, chán ghét khổ. Rồi hai người lực sĩ đi đến, nắm chặt hai cánh tay người ấy, kéo người ấy đến hố than hừng ấy. Này các Tỷ-kheo, người ấy quyết chí muốn lánh xa, tinh cần muốn lánh xa, phát nguyện muốn lánh xa (hố than hừng ấy).
17) Vì sao? Này các Tỷ-kheo, người ấy chỉ nghĩ như sau: "Nếu ta rơi vào hố than hừng này, do nhân duyên ấy, ta đi đến chết, hay đi đến khổ gần như chết". Như vậy, này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng tư niệm thực cần phải nhận xét.”
Nhớ nghĩ này rất ghê gớm, một mình cũng có thể nhớ lung tung, nghĩ lung tung, nói nghĩ, suy tưởng, ảo tưởng, hư tưởng, uyển tưởng, vọng tưởng. Cứ nhớ cái này rồi nghĩ cái kia, buồn cái nọ, than cái kia, tiếc cái khác, yêu cái này, ghét cái kia, hận cái nọ. Cứ nhớ hoài, nghĩ hoài như vậy là đang cho ngũ uẩn ăn.
Hôm trước chúng ta đã nói giữa yêu và hận, thương cũng vậy mà ghét cũng vậy, do nhớ nghĩ hoài nên mới thương nhiều, nhớ nghĩ hoài mới ghét, hận thù nhiều. Nhớ nghĩ đó Đức Phật dạy ví dụ quán chiếu là hố than hừng, tập sự an tịnh lắng dịu, dễ chịu, nếu nhớ nghĩ pháp, bất tịnh quán, Thánh trí tuệ trong sự thực tập của mình là tốt. Còn nhớ nghĩ theo chiều ngũ dục, tham, sân si, bản ngã, hơn thua thì nhớ nghĩ đó là hố than hừng. Chúng ta phải nhớ kĩ điều này, nhớ nghĩ về pháp là tốt, tuyệt vời, mình cũng đang cho ăn nhưng là cho pháp thân ăn, trí huệ thân ăn, giới thân ăn, định thân ăn, giải thoát thân ăn. Đó là nhớ nghĩ nhưng là nhớ nghĩ về Chánh Pháp của Đức Phật.
Chúng ta phải nhớ, giờ nói “Tôi không nhớ nghĩ không được, tôi phải nhớ nghĩ!” Vậy thì giờ nhớ nghĩ pháp, chúng ta phải tranh thủ thời gian khi rảnh là mình học pháp, trình pháp, viết bài nhật ký tu học về pháp thì đó là mình đang cho ăn, không phải cho thân ngũ uẩn ăn mà là cho thân ly tham ăn. Cho thân giới đức được ăn dinh dưỡng, bồi bổ cho thân thiền định, trí tuệ, giải thoát tri kiến, thân chánh tri kiến, Thánh tri kiến, thân giải thoát.
Nhớ nghĩ tham, sân si, vô minh, bản ngã, hơn thua thì đó là thức ăn cho ngũ uẩn, thức ăn cho vô minh, thức ăn cho nghiệp. Còn nhớ nghĩ về Thánh pháp, Thánh trí, Thánh tuệ, Thánh đạo, Thánh tăng, Thánh đức thì nhớ nghĩ đó là đang cho giới thân ăn, định thân ăn, tuệ thân ăn, giải thoát thân ăn dinh dưỡng. Vậy chúng ta nên cho thân nào ăn? Cho thân vô minh, ngũ uẩn, khát ái ăn hay là cho thân giới, định, tuệ, giải thoát, tri kiến ăn?
Khi chúng ta thiền quán tức là tư niệm thực, nhưng tư niệm của chúng ta là về trí huệ, sự thật, Thánh pháp nên gọi là thiền quán. Còn khi mình tư niệm, nhớ nghĩ những thứ đời, thế gian, giận, thương, sợ, yêu, ghét, tham đắm, sân si thì nhớ nghĩ đó là thức ăn cho vô minh, khát ái, cho tham, sân si, cho đau khổ nên gọi là tư niệm thực.
Hiện tại chúng ta đang ngồi cho ăn, chúng ta có thấy không? Mình đang cho ăn bằng Thánh ngữ, Thánh trí, tuệ giác tối thượng của Như Lai, đó là mình đang tư niệm. Chúng ta phải nhớ rõ vấn đề, nếu mình không hiểu, không tư niệm, suy nghĩ, nhớ gì nữa là không phải. Không nghĩ nhớ về dục tham, ái, sân hận, bản ngã, hơn thua, danh lơi của thế gian mà nhớ nghĩ về ly tham, ly sân, bất hại, nghĩ nhớ về sự nhàm chán thốt ra, về bất tịnh, vô thường, khổ đau, bại hoại, nguy hại của các hành, sự vận hành trong ngũ uẩn này là đau khổ, bất an, tội lỗi, là đầy tai họa. Còn nghĩ nhớ về phàm phu, tục tử là hố than hừng, không đi theo đó.
“Này các Tỷ-kheo, khi tư niệm thực được hiểu biết, thời ba ái được hiểu biết. Khi ba ái được hiểu biết, Ta nói rằng vị Thánh đệ tử không có gì cần phải làm thêm nữa.”
(Bài kinh Thịt đứa con – VII. Đại phẩm thứ bảy – Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên – Tập II. Thiên Nhân Duyên – Tăng Chi Bộ Kinh)
Thường nhớ nghĩ của mình là nhớ nghĩ trong ba cõi, trong dục ái, sắc ái và vô sắc ái. Nhớ nghĩ của mình là nhớ nghĩ về sắc ái, thanh ái, hương ái, vị ái, xúc ái, pháp ái, sắc tư, thanh tư, hương tư, vị tư, xúc tư, pháp tư, nhớ nghĩ trong những sự yêu thích của mình là cõi dục này, những thứ mình ham muốn đó hay là mình nhớ nghĩ để mình được không ở đây nữa mà mình lên trời hưởng phước? Muốn tu để đời sau chết thì lên trời hưởng phước thì sanh cõi cho sung sướng nữa? Đó là sắc ái.
Còn mình nói “Thôi, giờ hình sắc cũng khổ đau quá. Giờ mình yêu thích cảnh giới mà không còn sắc tướng gì nữa!” trống rỗng, trống không mênh mông vô tận không vô biên xứ, sở hữu xứ, muốn mình trở thành trống không, rảnh rang vậy, mình yêu thích, khoái trạng thái đó thì đó là vô sắc ái.
Tất cả nhớ nghĩ của mình đều nằm trong đó, nên giờ một khi mình đã thấu hiểu nhớ nghĩ rồi thì mình biết nhớ nghĩ này là hố than hừng, đưa đến tham, sân, si, chấp thủ, mình từ bỏ nó, quán chiếu để diệt tận nó thì lúc đó mình không còn tham ái đối với tam giới, cõi dục, cõi sắc và cõi vô sắc.
“Khi ba ái được hiểu biết, Ta nói rằng vị Thánh đệ tử không có gì cần phải làm thêm nữa.”
Là vị đó đã vượt qua ba cõi, đã đến cửa bất tử, thể nhập vào thế giới của bất tử.
Đại chúng có ai muốn chia sẻ về lời dạy của Đức Phật trong buổi hôm nay không? Hôm nay chúng ta chia sẻ tới đây, phần thức thực rất thâm sâu nên chúng ta để dần dần sẽ quán chiếu.
Mời đại chúng chia sẻ về những thọ, tưởng, hành trong khi mình nghe pháp, nghe lời Đức Phật dạy.
76:12-88: Phật tử trình pháp
Nguyện đem công đức này
Hướng về khắp tất cả
Đệ tử và chúng sanh
Đều trọn thành Phật đạo.
Bốn Loại Thức Ăn - Kinh Thịt Đứa Con 1
Thích Minh Thành
Ngày 27 tháng 04 năm 2022
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Ví dụ về đoàn thực PAGEREF _Toc103929174 \h 1
II. Nhàm chán sự ăn uống PAGEREF _Toc103929175 \h 6
III. Chất độc từ thực phẩm PAGEREF _Toc103929176 \h 9
IV. Xúc thực PAGEREF _Toc103929177 \h 11
V. Tư niệm thực PAGEREF _Toc103929178 \h 14
I. Ví dụ về đoàn thực
Bài kinh Thịt đức con trong Tương Ưng Bộ tập 2:
“1) ... Ở Sàvatthi.
2)...Này các Tỷ-kheo, có bốn loại đồ ăn này đưa đến sự tồn tại, hay sự chấp thủ tái sanh cho các loài hữu tình hay chúng sanh.
3) Thế nào là bốn? Đoàn thực hoặc thô, hoặc tế; thứ hai là xúc; thứ ba là tư niệm; thứ tư là thức.
Này các Tỷ-kheo, bốn loại đồ ăn này đưa đến sự tồn tại, hay sự chấp thủ tái sanh cho các loài hữu tình hay các loài chúng sanh.”
Đức Thế Tôn nói do ái tập khởi nên tứ thực tập khởi, ái đoạn diệt nên tứ thực đoạn diệt, tức bốn loại thức ăn này tại sao lại có mặt? Đó là vì chúng ta ưa thích, thèm khát, ham muốn. Chính bốn loại thức ăn này nuôi dưỡng cho thân xác, da thịt, cũng như là nuôi dưỡng tâm thức, thọ,t ưởng, hành thức để tiếp tục đi trong tái sanh, luân hồi, sáu nẻo.
Điều đầu tiên Đức Phật dạy chúng ta trong thức ăn là đoàn thực. Ngài ví dụ:
“5) Ví như, này các Tỷ-kheo, hai vợ chồng đem theo một ít lương thực đi qua một quảng đường hoang dã, với một đứa con khả ái, thương mến.
6) Rồi này các Tỷ-kheo, trong khi hai vợ chồng ấy đang đi trên con đường hoang vu, số lương thực ít ỏi ấy đi đến hao mòn, khánh tận. Và một vùng hoang vu còn lại chưa được họ vượt qua.
7) Rồi này các Tỷ-kheo, hai vợ chồng người ấy suy nghĩ: " Đồ lương thực ít ỏi của chúng ta đã bị hao mòn, khánh tận; còn lại vùng hoang vu này chưa được vượt qua; vậy chúng ta hãy giết đứa con một, khả ái, dễ thương này, làm thành thịt khô và thịt ướp, ăn thịt đứa con và vượt qua vùng hoang vu còn lại này, chớ để tất cả ba chúng đều bị chết hại".
8) Rồi hai vợ chồng ấy giết đứa con một, khả ái, dễ thương ấy, làm thịt khô và thịt ướp, ăn thịt người con và vượt qua vùng hoang vu còn lại ấy. Họ vừa ăn thịt con, vừa đập ngực (than khóc): “Đứa con một ở đâu? Đứa con một ở đâu?”
9) Này các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Họ ăn món ăn có phải để vui chơi? Hay họ ăn món ăn để tham đắm? Hay họ ăn món ăn để trang sức? Hay họ ăn món ăn để béo tốt?
- Thưa không phải vậy, bạch Thế Tôn.
10) Có phải họ ăn các món ăn chỉ với mục đích vượt qua vùng hoang vu?
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
11) Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Ta nói đoàn thực cần phải nhận xét như vậy.”
Chúng ta nên nhớ kĩ ví dụ này, để mình quán chiếu, chiêm nghiệm khi ăn, khi thọ thực, thọ trai, khất thực, khi ăn cơm, dùng cơm. Thịt của đứa con một, của đứa con duy nhất, thịt của đứa con đáng thương, rất đáng yêu, hai vợ chồng này ăn trong sự đau xót, trong sự khóc than: “Đứa con một ở đâu? Đứa con một ở đâu?”
Ngày xưa khi Minh Thành đọc bài này thấy rất lạ, nhưng mình chiêm nghiệm kĩ thì mới thấy được trí tuệ thâm sâu của Đức Phật. Vì lòng tham, thích, mê thức ăn của mình rất nặng. Nếu như mình không có sự quán chiếu sâu sắc và đúng với sự thật như lúc trước chúng ta đã có nghe Đức Thế Tôn đã nói trong dòng luân hồi sanh tử vô lượng vô biên kiếp này ít có người nam người nữ nào chưa từng làm cha làm mẹ, làm con, làm anh chị em, vợ chồng.
Nên khi mình ăn những con heo, bò, gà, cá là mình ăn thịt của những bà con, anh chị, em trong vòng luân hồi sanh tử này của chúng ta. Ngay cả mình ăn chay thì trong đó cũng có rất nhiều sinh mạng biến đổi trong đó để mình có những hạt gạo, hạt lúa, những hạt cơm. Hay trong bát canh của mình, trong đồ xào, đồ kho của mình cũng có rất nhiều sinh mạng. Đây đúng là sự thật vì mình đúng là vô minh, không thấy biết, không hiểu nên khi nghe có khi mình sốc nhưng đó là sự thật mà bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, trí tuệ tối thượng, tam minh của Đức Phật nhìn thấy sanh tử trí.
Ngài nhìn thấy được trong dòng sống chết, trong vòng luân hồi vô thỉ này lanh quanh lẩn quẩn, quay qua quay lại, lòng vòng của chúng ta là từng làm cha con, mẹ con, anh em, chị em, bà con, cô bác, chú dì, vợ chồng, ông cháu, bà cháu. Vì tâm tham ái, tham muốn, tham dục, tham ăn, mê ăn mà chúng ta ăn nuốt lẫn nhau, những con vật cấu xé, ăn tươi nuốt sống, xé xác lẫn nhau, con người vì miếng ăn cũng bất chấp những thủ đoạn.
Ví như câu chuyện của bà cụ già tám mươi tuổi mù lòa đi bán vé số nhưng bị giật tiền, vé số. Đó có phải là vì lòng tham, vì miếng ăn mà con người tàn nhẫn, vô lương tâm, mất đạo đức. Nên chúng ta nhìn sâu vào mới thấy được Đức Thế Tôn đưa ra sự quán chiếu này để chúng ta ngao ngán, nhàm chán, không ham, mê, thích ở trong ăn uống. Ăn để giữ thân này, để duy trì sức khỏe tu tập phạm hạnh, để thành tựu trí tuệ. Không phải ăn vì vui sướng, trang sức, hưởng thụ các món ăn ngon.
Chúng ta cứ nhớ ví dụ này mãi, mỗi lần ăn cứ nhắc lại ví dụ, hình ảnh này, khơi gợi lại sự quán chiếu này thì lòng tham hiểu biết thì đối với năm dục trưởng dưỡng được hiểu biết. Vì khi mình thấy được dục, tham, ái của mình đối với món ăn thì mình cũng sẽ thấy được luôn dục, tham, ái đối với năm dục sắc, thanh, hương, vị, xúc. Khi lòng tham đối với năm dục trưởng dưỡng được hiểu biết thì thời không còn kiết sử. Do kiết sử đó, một vị Thánh đệ tử bị trói buộc để phải sanh lại ở đời sau.
Vậy nên, nói về chữ hiểu biết trong kinh Tương Ưng là cả một sự giác ngộ, thấy biết trí tuệ, không phải là sự hiểu biết bình thường của mình sử dụng trong đời sống. Hiểu biết ở đây là thấu suốt, thấy biết tận tường, tận cùng về sự thật, khi lòng tham đối với năm dục được thấy, được biết, được hiểu, tức là hiểu thấu được lòng tham đối với năm dục, thì mình sẽ không còn tham nữa.
Như vậy, nói theo thông thường là khi mình không còn tham ăn nữa là mình sẽ không còn tham ngũ dục và khi mình không còn tham ngũ dục nữa thì mình sẽ không bị cái gì trói cột mình nữa. Và khi mình không còn gì trói cột mình nữa thì mình không còn tái sanh, tức là mình giải phóng dòng sanh tử.
Bài kinh chúng ta đọc có thể là khó hiểu nhưng như Đức Phật nói rằng khi một người đã thấy biết được bản chất thật sự của những thức ăn, tức là thấy được trong bữa ăn này là thịt của con mình, của cháu, ông, bà, cha, mẹ mình, hay của cô, bác, chú, dì, cậu, mợ, thím; hay là thịt của vợ, chồng, con, em, cháu mình. Trong bữa ăn này là nước mắt, máu, xương, là những tiếng kêu gào thảm thiết, là những sự đau đớn tột độ, tột cùng, giãy giụa, kêu la, tức tưởi, sân hận. Trong bữa ăn này là ác nghiệp, ác quả báo, tội lỗi, sát sanh, giết hại, là sự đâm nhau, chém nhau, giết nhau, mổ nhau… Là máu đào, nước mắt.
Có những trường hợp rất cảm động, trong các lò mổ, người ta chuẩn bị đem trâu ra mổ trâu mẹ thì trâu con quỳ lạy, khóc, nước mắt chảy ra. Khi đó ông đồ tể này chuẩn bị mổ thì chạy đi công việc, khi quay trở lại thì tìm dao mổ nhưng tìm hoài không ra. Con trâu con cũng mất và dao mổ không thấy. Ông ta đi kiếm lanh quanh ở trong xóm thì mới phát hiện ra là con trâu con chạy qua người hàng xóm, nước mắt đầm đìa, hoảng sợ, buồn đau.Ông hàng xóm thấy tội nên mua lại con trâu con này và con trâu mẹ đem về nuôi.
Một thời gian con trâu mẹ chết, nhiều năm sau thì con trâu con chết nhưng con dao ngày nào cũng không tìm thấy, người ta vẫn nghi vấn, thắc mắc là một ẩn số. Nhưng khi người ta mổ bụng con trâu con thì thấy lạ mới cắt ra, cuối cùng thì con dao từng dùng để mổ con trâu mẹ ở trong bụng trâu con đó. Trong cơ thể của nó có một chất sinh ra bao bọc lại con dao đó suốt cả mười mấy năm sau.
Như vậy, con trâu con quỳ xuống van xin, nước mắt đầm đìa va nuốt cả con dao vào bụng vì nó biết mẹ nó sắp bị làm thịt nên nó nuốt con dao rồi chạy đi. Như vậy thì chúng ta mới thấy được sự xót xa, đau đớn, nước mắt, máu và nuốt con dao trong bụng.
Những câu chuyện này trong cuốn sánh Thú vật còn như vậy. Câu chuyện có nhiều khía cạnh để mình quán chiếu: tình mẫu tử của loài vật, con thú vật mà còn biết hiếu thảo với mẹ, chẳng lẽ chúng ta là con người mà còn thua thú vật hay sao? Con trâu con thấy trâu mẹ sắp sửa bị làm thịt thì nó nuốt con dao vào bụng.
Chúng ta có thấy xót xa, đau lòng không? Nếu con dao nuốt vào như vậy thì sẽ thấy như thế nào? Nó không phải là con dao thái mình cầm mà đó là con dao rất to, dao dùng để mổ trâu mổ bò. Loài vật còn như thế.
Về tình mẫu tử, sự hiếu thảo của loài vật, qua đó, chúng ta nhìn thấy được ác nghiệp của chúng sanh, sự tàn nhẫn, ác độc, tội lỗi của sát sanh, đưa đến mẫu tử chia lìa, mẹ con sống chết, đưa đến sự đau khổ, quằn quại, đau đớn cho chúng sanh, nước mắt, máu, xương làm cho phân li, chia lìa, oán hận, khổ sầu. Tất cả đó là miếng ăn, đoàn thực. Miếng ăn thì ngon, miệng, lưỡi tạo ra bao nhiêu ác nghiệp.
Vậy nên chúng ta chiêm nghiệm thật sâu sắc, rất nhiều câu chuyện như vậy.
Lúc trước có câu chuyện người ta đi vào rừng săn bắt những con khỉ con, khỉ mẹ đau khổ quá mà vỡ tim chết. Thú vật cũng có tình thương, tình mẫu tử, phụ tử, cũng có mẹ cha, cũng biết tham sống, sợ chết, đau đớn, khổ sở, quằn quại. Chúng ta cũng thấy con người chúng ta vì miếng ăn mà bất kể, bất chấp, ác độc, tham lam.
Chúng ta quán chiếu đoàn thực này thật sâu sắc, rất nhiều. Như hôm trước ở trong thất của Minh Thành có ba bốn con mèo con sanh trên nóc nhà vệ sinh. Nhờ thầy Pháp Tâm nhặt những con mèo con ra để thả thì con mèo mẹ sừng sộ, sân hận, kêu la thảm thiết. May mình ăn chay mình tu, còn những người không biết tu thì gặp chó gặp mèo là lột da cắt thịt, bao nhiêu là nước mắt, đau đớn, khổ sở.
Vậy nên thức ăn này đưa chúng sanh đi đến sự oan oan tương báo, hận thù vay trả trả vay. Mình ăn nuốt nó rồi nó ăn nuốt mình cứ lòng vòng như vậy, không có ngày cùng tận. Giờ mình làm người rồi thì mình có phước rồi ăn nuốt nó, đến khi mình phải trả nghiệp, rơi xuống loài súc sanh rồi thì nó được tiến hóa lên làm người thì nó sẽ tìm ngay đúng mình thì lúc đó nó sẽ mổ thịt mình, chặt đầu, lột da mình, cạo vẩy mình… Chúng sanh cứ như vậy, ăn nhau, nuốt nhau, xoay vòng như vậy mãi mãi không giải thoát.
II. Nhàm chán sự ăn uống
Vậy nên nếu mình muốn giải thoát, muốn đi ra khỏi những thân bất tịnh, mủ máu, tanh hôi, dơ bẩn này thì Đức Phật dạy mình hãy nhàm chán đối với sự ăn uống này, không ưa thích, khoan khoái, thèm khát. Vậy nên chúng ta quán chiếu bài Thịt đứa con một, phải ăn trong sự xót xa, đau đớn. Ăn trong lòng bi mẫn để mình dẹp bỏ tâm ham thích, khoan khoái, dục ái trong những thức ăn này.
Có rất nhiều góc độ, phương diện để chúng ta quán chiếu về đoàn thực này. Đừng nói ăn mặn, ngay cả trong khi ăn chay mà chúng ta không khéo trong món ăn này thì bao nhiêu thứ nghiệp trong đó. Vào bếp một chút là giận, sân si, bản ngã, muốn ăn mónnày, làm món kia, chê khen, ngọt mặn… Vậy nên mình ăn đồ trong bình bát đi khất thực rất hay, nó đã phá đi sự dính mắc, tham đắm trong thiệt thức, tỉ thức, thiệt xúc, tỉ xúc, mình trộn chung vào trong bình bát. Đồ chiên, kho, xào, canh đều trộn hết vào một bình bát.
Cần quán chiếu cho sâu sắc, khi mình thấu hiểu được bản chất của đoàn thực này là có thức ăn này là tạo nghiệp, ác nghiệp, khổ đau cho chúng sanh. Là nước mắt, máu, sinh mạng, là sự sanh ly tử biệt, sự giết hại, tàn sát, ác độc trong miếng ăn này. Lòng tham của mình đối với miếng ăn này được lắng dịu, giảm thiểu xuống, đưa đến ly tham đối với thức ăn, nhàm chán đối với thức ăn.
Khi mình đã ngao ngán, nhàm chán, không còn tham muốn đối với thức ăn nữa thì mình sẽ nhàm chán, không còn tham muốn đối với sắc, thanh, hương, vị, xúc, đối với năm dục trưởng dưỡng. Vì trong miếng ăn có đầy đủ năm dục trưởng dưỡng trong đó, sắc là màu sắc của món ăn, làm cho đẹp mắt, mùi, vị, thiệt xúc, lưỡi đụng chạm vào… Nên khi mình đã nhàm chán đối với món ăn rồi thì mình cũng sẽ nhàm chán đối với năm dục trưởng dưỡng, sắc, thanh, hương, vị, xúc của cuộc đời này. Và khi đã nhàm chán đối với năm dục trưởng dưỡng thì không còn gì trói buộc với cuộc đời này nữa. Khi không còn bị năm dục trói buộc, sai khiến thì một vị Thánh đệ tử không còn phải tái sanh ở đời này nữa.
Chúng ta thấy một pháp đi đến tận cùng của giải thoát nên điều đặc biệt của dòng tu Nikāya này Chánh Kiến khi đã thành tựu thì soi tới đâu sẽ xuyên thủng, xuyên phá, phá đổ tới đó hết. Bất cứ một pháp nào mà Thánh trí huệ đưa vào, rọi vào là xuyên thủng, xuyên thấu, xuyên phá, xuyên vỡ hết tất cả những pháp đó trong Thánh tri kiến, Chánh tri kiến. Khi đó, việc ăn này mà mình quán chiếu tận cùng và thành tựu trí tuệ viên mãn là mình cũng giải thoát sanh tử.
Vậy nên chúng ta cần chiêm nghiệm thêm, Minh Thành chia sẻ thì ở một vài góc độ căn bản, chúng ta thì phải chiêm nghiệm thêm thật nhiều. Chúng ta nên ghi ra nhật ký tu học, trình pháp, quán chiếu về thức ăn này, tiếp tục chuyên đề tu học của chúng ta trong đạo tràng là bắt đầu quán chiếu về thức ăn, viết nhật ký và trình pháp.
Tập nhận ra dục, tham, ái trong khi ăn, tập nhiếp phục, chế ngự những tham muốn trong thực phẩm, soi rọi kĩ tâm mình. Chúng ta thấy chỉ vì miếng ăn mà mẹ con chia lì, sống chết, sanh ly tử biệt, vì miếng ăn mà con trâu con phải nuốt con dao mổ cho mẹ nó. Vì miếng ăn mà nước mắt đầm đìa, đầu rơi, máu đổ, giết hại sinh linh, tạo bao nhiêu ác, nghiệp, oan gia trái chủ, oan oan tương báo, hận thù chồng chất, chiến tranh xảy ra cũng từ những tâm sát sanh này tích tụ, chất chứa.
Dịch bệnh hiện nay cũng là từ các nghiệp ác, sát sanh, mình giết chúng nhiều quá nên giờ nó sanh ra trở lại một loại để giết hàng triệu, hàng vạn. Vì mình giết nó nên nó mới giết lại mình, không để yên cho mình.
Chúng ta nên quán chiếu sâu sắc thật kĩ các góc độ, phương diện ở trong thức ăn, trong tâm tham đắm thức ăn này, nhân quả, nghiệp báo, tội lỗi, ác nghiệp trong đó, sự đau khổ, nước mắt, máu, sương ở trong bữa ăn của mình.
Nhiều khi Minh Thành nhìn thấy rất ngao ngán, khi đi thiền hành vòng quanh thất nhìn thấy những con ểnh ương lọt vào thất không đi ra được cửa kiếng thì các con kiến mở ra một buổi đại tiệc cắn rỉa từng miếng thịt, miếng da, chúng ăn còn bộ xương của con ểnh ương, nhái. Minh Thành đã chụp hình ảnh bộ xương của con ểnh ương đó để quán chiếu. Hay lâu lâu ở trong nhà mát tiếp khách nhìn thấy xác chết của con chuột, máu me loang lổ, bầy nhầy nên thấy rất xót xa.
Đoàn thực, miếng ăn này có bao nhiêu là tội lỗi, nghiệp ác, tai họa bên trong vì tham ăn. Ngày xưa có câu nói: chim ham ăn chắc chắn chết, người tham tiền nhất định tiêu vong. Tham này cũng như con cá tham miếng mồi nhỏ trong lưỡi câu… Hay như con tắt kè ngồi đó chờ các con thêu thân, con trùng chỉ chờ nhào tới ăn.
Nhìn thấy chung quanh đầy rẫy những sát sanh, ác nghiệp mà đều vì ái đoàn thực này. Tới khi mình ăn thì bên trong thúc giục, khoan khoái, thích thú trong này nên nhàm chán với những cảm giác đó. Hay những con dòi bò lúc nhúc trong những đống phân ăn trong đó, thích thú, vui sướng trong đó nhưng đó lại là chỗ dơ bẩn, hôi thối, bẩn thỉu, xú uế trong đó.
Chúng sanh cũng vậy, ăn những thứ dơ bẩn như vậy từ thiệt xúc cho đến thân xúc, xúc chạm của lưỡi này, xúc chạm đến thân, tìm những thứ bất tịnh, dơ dái, bẩn thỉu, khao khát, thèm muốn, đói khát, khát ái trong đó, những đau khổ cứ truy tìm mãi suốt kiếp suốt đời của nó. Đời này chết lại sanh đời sau, cứ tiếp tục đi khát khao, thèm thuồng, khát ái, thèm khát như vậy để rồi đi tìm để đớp, chụp, bắt, xé xác, nhai, nuốt.
Chúng ta thấy đau khổ không? Có thấy đời sống hạ liệt, thấp hèn, hạ tiện, bẩn thiểu, bất tịnh không mà không biết chán? Đến chết rồi cũng không biết chán. Có những người ăn chay đến bốn mươi, năm hay sáu mươi chục năm nhưng đến khi gần chết thì lại thèm, khao khát một món đồ mặn, thịt cá, máu huyết như vậy.
Vậy nên chúng ta thấy ái trong thức ăn rất ghê gớm, tham trong thức ăn hết sức khủng khiếp. Đi tu nhưng suốt ngày bày cái này ra ăn, nấu cái kia ra ăn, ngồi thiền nhưng trong đầu chỉ hiện mấy món ăn. Vậy nên chúng ta cần quán chiếu sâu sắc, thấy mệt mỏi, ngao ngán, chàm chán, thấy hạ liệt, thấp hèn, tồi bại, phàm phu, ngu si, khao khát, thèm khát, khát ái trong những thứ bất tịnh, dơ bẩn, bẩn thỉu này.
Quán thâm sâu như vậy, ngồi và nghĩ về bài kinh Thịt đứa con một của mình. Vì miếng ăn này mà biết bao nhiêu đau khổ trong cuộc đời này, biết bao nhiêu tội lỗi trong cuộc đời này. Ngày xưa, những chuyện tích thời xưa, trong triều đình vua thưởng cho người này trái đào, người kia không được thưởng nên ganh tị, đố kỵ, cuối cùng là giết hại nhau.
Chúng ta thấy dễ sợ không? Nên khi tu chúng ta đừng xem thường, một điều gì mà Đức Phật nêu ra thì đó không phải là chuyện đơn giản. Trí tuệ của Ngài, Ngài đưa ra vấn đề nào là cả một sự tu tập, quán chiếu, thực thấy, thực biết, thực giác, thực chứng, thực ngộ ở trong đó, để cho mình tu. Nên mình tu tại sao không thành công là vì cái gì mình cũng xem thường, “Ăn có là gì đâu!” Nếu mình không chấp nhận học pháp, mình không đủ trí để thấy được bên trong thực ra là đại sự trong đó.
III. Chất độc từ thực phẩm
Chưa kể đến thức ăn bây giờ đều là độc hại, thứ gì cũng nhúng độc ở bên trong, cây, rau, củ, quả đều nhúng độc trong đó, đừng nói chi là các món ăn để hộp, để trong túi đựng, bao đựng. Khoa học nghiên cứu chín mươi chín phần trăm thức ăn của mình là chất độc, hóa chất trong đó. Giờ mình toàn ăn những thứ có độc, chất độc, hóa học bên trong đó, làm bệnh ung thư…
Hôm qua Minh Thành họp ban trị sự, sau đó các thầy mới mời tất cả quý thầy, sư cô đến thăm một chú người đồng bào làm trong ban trị sự huyện và tỉnh, đã đóng góp rất nhiều công sức, tâm tư đối với các chùa từ thời đầu tiên của chùa Di Đà xây dựng lên, chùa Hoa Nghiêm… Khi Minh Thành tới thăm thấy người đó chỉ mới năm mươi mốt tuổi nhưng da đã vàng đen, máu chảy ra miệng vì người đó bị ung thư gan đa ổ ảnh hưởng qua thận. Mọi người rất xót xa, các thầy trụ trì rớm nước mắt, các thầy các cô xúc động.
Minh Thành có điện cho thầy thuốc hỏi thăm bệnh tình hiện trạng như thế nào, như vậy thì ra làm sao thì thầy nói khéo, sợ gia đình người ta buồn là “Tới ngày rồi!”. Da đã bị vàng đen, nám hết, năm mươi mốt tuổi nhưng như một ông cụ tám mươi mốt tuổi. Các thầy nói chú này lúc trước là cao to, đẹp trai, sức khỏe nhưng giờ vào nhìn thì các thầy không cầm được nước mắt, chỉ hai tháng đã biến đổi thành một con người khác. Khi tới Minh Thành cũng phụ một ít để chú uống thuốc, để gia đình lo lắng những ngày cuối đời và vì công đức của chú hộ trì tam bảo trong nhiều chục năm qua.
Minh Thành cũng liên hệ đến hình ảnh lúc xưa có một hòa thượng cũng bị ung thư gan, mẹ Minh Thành cũng bị ung thư gan và nhìn thấy những người xung quanh mình có những triệu chứng của gan. Nên giờ mới thấy chúng ta ăn những thứ độc hại gây ung thư, chỗ nào cũng có thể bị ung thư. Đó cũng là từ cái ăn này, bệnh tùng khẩu nhập, bệnh là từ miệng đi vào, mình nên quán chiếu tại sao mình lại ít bệnh, mình nên cẩn thận đối với các món ăn, mình biết chọn lựa, mình có chánh kiến trong khi dùng thực phẩm, khi ăn. Mình có chánh niệm tỉnh giác, có nhiếp phục lòng tham khi ăn, khi tìm hiểu, thấy rõ, biết được món ăn này, nguồn gốc như thế nào, lợi hại ra sao, có phù hợp với cơ thể mình không, bệnh trạng ra sao, dùng cái gì, ăn như thế nào.
Nên giờ Linh Quy Pháp Ấn giờ trồng rau, cải, bầu, mướp để hạn chế những độc địa, chất độc, hóa chất mà đưa vào trong cơ thể mình rồi sau này bệnh ung thư. Những người lên chùa tu có những người bệnh từ già tới trẻ, từ nam tới nữ, từ xuất gia tới cư sĩ, lê một tấm thân đau đớn, mệt mỏi, nhức nhối, bệnh tật, một phần do nghiệp của quá khứ, một phần cũng vì hiện tại này, những thứ ăn uống của mình.
Ăn uống là từ cảm thọ, thọ do thiệt xúc sanh, cảm giác từ khi lưỡi tiếp xúc sanh khởi ra. Nên từ điều này để chúng ta quán chiếu ra là rất nhiều những khía cạnh, phương diện, góc độ ở trong sự ăn này, không phải là đơn giản. Để mình có được một tấm thân an ổn, khỏe mạnh, điều hòa để mình tu học, một tinh thần vững mạnh, sáng suốt, minh mẫn, tinh anh, trí tuệ là cả một sự để tâm trong ăn uống, sinh hoạt, trong sự dụng tâm nhìn nhận mọi vấn đề trong đời sống.
Nhìn thấy bao nhiêu người bị ung thư, nan y, tật bệnh nên cái ăn của chúng ta là hết sức cẩn thận. Minh Thành luôn khuyên các Phật tử không ăn các đồ chế biến quá nhiều. Chúng ta nên ăn rau, đậu, tốt nhất thì khi ở nhà các Phật tử nên có vườn rau nho nhỏ, thậm chí ở thành thị không có đất thì để vào các thùng xốp trồng xà-lách, rau lan, rau muống, để giảm bớt các chất độc hại đem vào cơ thể của mình.
Khi ăn uống mình nên chánh niệm tỉnh giác, quán xét cái nào nên ăn, không nên ăn, ăn bao nhiêu, ăn như thế nào để cho sức khỏe mình tốt, để tu học. Còn không, mình mang một tấm thân bệnh tật, nếu bệnh có sẵn thì không nói nhưng mình đừng để cho vì cái ăn mà sanh ra thêm những bệnh thêm nữa thì mình hết tu học. Suốt ngày lên trình pháp cứ than bệnh, ngồi thiền thì đau chỗ này nhức chỗ kia, mỏi chỗ nọ, nhìn như một con gà ủ rũ, mặt mày, cơ thể, mắt mờ mịt, không mạnh mẽ, không tinh anh, sáng suốt, không phấn chấn, hân hoan, phấn khởi, nội tâm pháp hỷ.
Chúng ta nên để ý thật kĩ bài kinh ăn Thịt đứa con duy nhất của mình, đứa con đáng yêu.
“Này các Tỷ-kheo, khi đoàn thực được hiểu biết, thời lòng tham đối với năm dục trưởng dưỡng được hiểu biết. Khi lòng tham đối với năm dục trưởng dưỡng được hiểu biết, thời không còn kiết sử, do kiết sử này, một vị Thánh đệ tử bị trói buộc để phải sanh lại đời này.”
Nghĩa là: Khi mình thấy rõ những nguy hiểm, tội lỗi, tai họa, ác nghiệp ở trong món ăn này thì mình sẽ giảm bớt và lìa tham ăn, không tham ăn nữa, không tham đắm trong ăn uống nữa. Khi mình đã hiểu bản chất của những món ăn này là mình sẽ bớt tham, không tham ăn uống nữa. Khi đó, mình cũng không tham đối với năm thứ dục lạc ở thế gian, không còn thứ gì có thể trói buộc, sai khiến mình nữa. Lúc đó, vị Thánh đệ tử sẽ không còn phải sanh trở lại ở đời sau, tức là thoát ra sanh tử, xuất ly sống chết.
IV. Xúc thực
“12) Và này các Tỷ-kheo, xúc thực cần phải nhận xét như thế nào?”
Nói theo đơn giản là sự tiếp xúc, là thấy, nghe, ngửi, nếm, đụng chạm. Con mắt tiếp xúc với hình sắc, muốn nhìn, nghe, được nghe, được nhìn, được ngửi, nếm, đụng chạm, tiếp xúc.
“13) Này các Tỷ-kheo, ví như một con bò cái bị lở da, nếu nó đứng dựa vào tường, thời các sanh vật sống ở tường cắn nó. Nếu nó đứng dựa vào cây, thời các sanh vật sống ở cây cắn nó. Nếu nó đứng ở trong nước, thời các sanh vật sống ở trong nước cắn nó. Nếu nó đứng giữa hư không, thời các sanh vật giữa hư không cắn nó. Này các Tỷ-kheo, con bò cái ấy đứng dựa vào chỗ nào, thời các sanh vật trong các chỗ ấy cắn nó. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Ta nói xúc thực cần phải được nhận xét.”
Khi mắt dựa vào sắc thì sắc cắn nó, tai dựa theo tiếng thì tiếng cắn nó, mũi và lưỡi dựa theo mùi thì mùi và vị cắn nó, cắn lưỡi, cắn mũi. Thân dựa vào sự tiếp xúc, đụng chạm thì xúc đó cắn nó. Dù nó đứng ở chỗ nào thì cũng có con cắn nó, là vì da nó bị lở, những con sinh vật như bù hong, rận, ruồi, nhọng bu vào cắn nó.
Chúng ta thấy mình nhìn cái gì mà cái đó liên hệ với khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục hấp dẫn là cái đó cắn mình. Nhìn thấy nhà đẹp, xe đẹp, món đồ đẹp, con người đẹp, ngôi chùa đẹp là bị cắn ngay. Nghe qua lời khen hay lời chê đều bị cắn. Xúc gì là bị cắn, bị bu theo đến đó. Những con ruồi, nhặng, kiến, bù hong, côn trùng, vi trùng, sinh vật li ti bu vào. Vì da của con bò này bị lở, không lành lặn. Vết lở này là của dục, của tham, của ái nên nhìn thấy là bị bu, bị đeo, bị cắn, nghe, ngửi, nếm đều bị, đụng, chạm đều bị, đứng chỗ nào cũng bị, đứng ở tường hay gần gốc cây, ở dưới nước hay ở trên không đều bị.
Ở trong vườn thì bị theo kiểu trong vườn, ở thành phố thì bị theo kiểu thành phố. Vậy nên xúc này rất ghê gớm.
“14) Này các Tỷ-kheo, khi xúc thực được hiểu biết, thời ba cảm thọ được hiểu biết. Khi ba cảm thọ được hiểu biết, thời Ta nói rằng vị Thánh đệ tử không có gì cần phải làm thêm nữa.”
Tức là không muốn tiếp xúc, không thích, không cần tiếp xúc. Chúng ta quay lại nhìn ngũ uẩn, nhìn thân tâm này, nhìn những rác bẩn, cấu uế của mình, nhìn những thứ còn bẩn thỉu, bất tịnh ở trong này, những thứ còn tác oai tác quái, hành hạ thân tâm mình mà mình chưa có thì giờ để tẩy rửa, mình lau chùi, quét dọn bên trong không hết mà lo dòm ngó bên ngoài làm gì? Nhìn người này, người kia rồi sân hận, hơn thua, so bì, tật đố, ganh tị để làm gì?
Chúng ta có nhớ hình ảnh những con khỉ làm hình ảnh bịt mắt, bịt tai, bịt miệng, ý nói: không phải cái nào cũng nhìn, cũng nghe, cũng nói. Có khi thấy mà giống như không thấy, thấy hộ trì căn tu tập, có khi nghe rồi lại bỏ qua ngay lập tức, không để vào tâm, không thọ nhận. Nên chúng ta nên thấy nhàm chán với những xúc này, xúc sanh phiền não, sanh hơn thua, để phải quấy, thị phi để làm gì? Mình tiếp xúc với pháp của Thánh hiền, tiếp xúc với sự thật, với Thánh trí, với tuệ nhãn, pháp nhãn, đạo nhãn, chân nhân, hiền thánh, tiếp xúc với những lời vi diệu, tối thượng của Đức Như Lai. Tiếp xúc với những cấu nhiễm, trần tục, thấp hèn, phàm phu là nó lôi mình đi xuống.
Vậy nên không ưa nhìn, không ưa thấy, không ưa nghe, không ưa ngửi, nếm hay tiếp xúc. Chỉ nên ưa thích quay trở về nội tâm, tẩy trừ những cấu nhiễm, rác bẩn, xú uế, bẩn thỉu trong này, dọn dẹp căn nhà nội tâm của mình.
Vài ngày gặp thì được hỏi “Chị hay gì chưa? Anh hay gì chưa? Tôi nói cho nghe chuyện này nè…” Chuyện về người này người kia người nọ để làm gì? Xong rồi lại bị cắn, bị các câu chuyện đó cắn. Nên nhàm chán đối với các sự tiếp xúc.
“Này các Tỷ-kheo, khi xúc thực được hiểu biết, thời ba cảm thọ được hiểu biết.”
Khi mình thấu rõ bản chất của xúc này, vì xúc sanh thọ mà mình thấy xúc này là nhân sanh khởi các tham, sân, si, bản ngã, mình không ưa thích tiếp xúc, không ham, không mê tiếp xúc, không đi tìm tiếp xúc nữa thì các cảm thọ sẽ không bị chìm đắm, nhận chìm, cuốn trôi bởi các cảm thọ vì mình chặn từ chỗ xúc, xúc mới sanh ra thọ, tiếp xúc mới sanh ra cảm giác. Giờ mình không muốn, không thích, không ham xúc, không ưa xúc, chỉ xúc với Thánh pháp, Thánh trí, Thánh tuệ, Thánh đạo thì các cảm thọ không nhấn chìm, lôi cuốn, dẫn dắt, xâm chiếm, áp đảo mình được.
“Khi ba cảm thọ được hiểu biết, thời Ta nói rằng vị Thánh đệ tử không có gì cần phải làm thêm nữa.”
Ba cảm thọ được hiểu biết là thấu hiểu được bản chất nguồn cội của tham, sân, si, chặn đứng động cơ từ ở nơi xúc, xúc này cần hết sức tinh tế, không đơn giản mà mình thấy được. Thọ thô mình mới thấy, còn thọ tế mình không thấy. Nên sự tiếp xúc này mà mình muốn nhận diện nó thì mình phải có một sự thiền định, có một sự chánh niệm tỉnh giác cao độ và sắc bén. Vì nó rất nhanh, xúc qua thọ và có khi vi tế mình không thấy được, nên cái thô thiển mình mới thấy.
V. Tư niệm thực
“15) Và này các Tỷ-kheo, tư niệm thực cần phải nhận xét như thế nào?”
Tư là nhớ, niệm là nghĩ, tư niệm là nhớ nghĩ. Nhớ nghĩ là một thứ thức ăn tinh thần của tâm.
“16) Này các Tỷ-kheo, ví như một hố than hừng, sâu hơn một thân người, chứa đầy than cháy đỏ rực, hừng cháy không có khói. Rồi một người đi đến, muốn sống, không muốn chết, muốn lạc, chán ghét khổ. Rồi hai người lực sĩ đi đến, nắm chặt hai cánh tay người ấy, kéo người ấy đến hố than hừng ấy. Này các Tỷ-kheo, người ấy quyết chí muốn lánh xa, tinh cần muốn lánh xa, phát nguyện muốn lánh xa (hố than hừng ấy).
17) Vì sao? Này các Tỷ-kheo, người ấy chỉ nghĩ như sau: "Nếu ta rơi vào hố than hừng này, do nhân duyên ấy, ta đi đến chết, hay đi đến khổ gần như chết". Như vậy, này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng tư niệm thực cần phải nhận xét.”
Nhớ nghĩ này rất ghê gớm, một mình cũng có thể nhớ lung tung, nghĩ lung tung, nói nghĩ, suy tưởng, ảo tưởng, hư tưởng, uyển tưởng, vọng tưởng. Cứ nhớ cái này rồi nghĩ cái kia, buồn cái nọ, than cái kia, tiếc cái khác, yêu cái này, ghét cái kia, hận cái nọ. Cứ nhớ hoài, nghĩ hoài như vậy là đang cho ngũ uẩn ăn.
Hôm trước chúng ta đã nói giữa yêu và hận, thương cũng vậy mà ghét cũng vậy, do nhớ nghĩ hoài nên mới thương nhiều, nhớ nghĩ hoài mới ghét, hận thù nhiều. Nhớ nghĩ đó Đức Phật dạy ví dụ quán chiếu là hố than hừng, tập sự an tịnh lắng dịu, dễ chịu, nếu nhớ nghĩ pháp, bất tịnh quán, Thánh trí tuệ trong sự thực tập của mình là tốt. Còn nhớ nghĩ theo chiều ngũ dục, tham, sân si, bản ngã, hơn thua thì nhớ nghĩ đó là hố than hừng. Chúng ta phải nhớ kĩ điều này, nhớ nghĩ về pháp là tốt, tuyệt vời, mình cũng đang cho ăn nhưng là cho pháp thân ăn, trí huệ thân ăn, giới thân ăn, định thân ăn, giải thoát thân ăn. Đó là nhớ nghĩ nhưng là nhớ nghĩ về Chánh Pháp của Đức Phật.
Chúng ta phải nhớ, giờ nói “Tôi không nhớ nghĩ không được, tôi phải nhớ nghĩ!” Vậy thì giờ nhớ nghĩ pháp, chúng ta phải tranh thủ thời gian khi rảnh là mình học pháp, trình pháp, viết bài nhật ký tu học về pháp thì đó là mình đang cho ăn, không phải cho thân ngũ uẩn ăn mà là cho thân ly tham ăn. Cho thân giới đức được ăn dinh dưỡng, bồi bổ cho thân thiền định, trí tuệ, giải thoát tri kiến, thân chánh tri kiến, Thánh tri kiến, thân giải thoát.
Nhớ nghĩ tham, sân si, vô minh, bản ngã, hơn thua thì đó là thức ăn cho ngũ uẩn, thức ăn cho vô minh, thức ăn cho nghiệp. Còn nhớ nghĩ về Thánh pháp, Thánh trí, Thánh tuệ, Thánh đạo, Thánh tăng, Thánh đức thì nhớ nghĩ đó là đang cho giới thân ăn, định thân ăn, tuệ thân ăn, giải thoát thân ăn dinh dưỡng. Vậy chúng ta nên cho thân nào ăn? Cho thân vô minh, ngũ uẩn, khát ái ăn hay là cho thân giới, định, tuệ, giải thoát, tri kiến ăn?
Khi chúng ta thiền quán tức là tư niệm thực, nhưng tư niệm của chúng ta là về trí huệ, sự thật, Thánh pháp nên gọi là thiền quán. Còn khi mình tư niệm, nhớ nghĩ những thứ đời, thế gian, giận, thương, sợ, yêu, ghét, tham đắm, sân si thì nhớ nghĩ đó là thức ăn cho vô minh, khát ái, cho tham, sân si, cho đau khổ nên gọi là tư niệm thực.
Hiện tại chúng ta đang ngồi cho ăn, chúng ta có thấy không? Mình đang cho ăn bằng Thánh ngữ, Thánh trí, tuệ giác tối thượng của Như Lai, đó là mình đang tư niệm. Chúng ta phải nhớ rõ vấn đề, nếu mình không hiểu, không tư niệm, suy nghĩ, nhớ gì nữa là không phải. Không nghĩ nhớ về dục tham, ái, sân hận, bản ngã, hơn thua, danh lơi của thế gian mà nhớ nghĩ về ly tham, ly sân, bất hại, nghĩ nhớ về sự nhàm chán thốt ra, về bất tịnh, vô thường, khổ đau, bại hoại, nguy hại của các hành, sự vận hành trong ngũ uẩn này là đau khổ, bất an, tội lỗi, là đầy tai họa. Còn nghĩ nhớ về phàm phu, tục tử là hố than hừng, không đi theo đó.
“Này các Tỷ-kheo, khi tư niệm thực được hiểu biết, thời ba ái được hiểu biết. Khi ba ái được hiểu biết, Ta nói rằng vị Thánh đệ tử không có gì cần phải làm thêm nữa.”
(Bài kinh Thịt đứa con – VII. Đại phẩm thứ bảy – Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên – Tập II. Thiên Nhân Duyên – Tăng Chi Bộ Kinh)
Thường nhớ nghĩ của mình là nhớ nghĩ trong ba cõi, trong dục ái, sắc ái và vô sắc ái. Nhớ nghĩ của mình là nhớ nghĩ về sắc ái, thanh ái, hương ái, vị ái, xúc ái, pháp ái, sắc tư, thanh tư, hương tư, vị tư, xúc tư, pháp tư, nhớ nghĩ trong những sự yêu thích của mình là cõi dục này, những thứ mình ham muốn đó hay là mình nhớ nghĩ để mình được không ở đây nữa mà mình lên trời hưởng phước? Muốn tu để đời sau chết thì lên trời hưởng phước thì sanh cõi cho sung sướng nữa? Đó là sắc ái.
Còn mình nói “Thôi, giờ hình sắc cũng khổ đau quá. Giờ mình yêu thích cảnh giới mà không còn sắc tướng gì nữa!” trống rỗng, trống không mênh mông vô tận không vô biên xứ, sở hữu xứ, muốn mình trở thành trống không, rảnh rang vậy, mình yêu thích, khoái trạng thái đó thì đó là vô sắc ái.
Tất cả nhớ nghĩ của mình đều nằm trong đó, nên giờ một khi mình đã thấu hiểu nhớ nghĩ rồi thì mình biết nhớ nghĩ này là hố than hừng, đưa đến tham, sân, si, chấp thủ, mình từ bỏ nó, quán chiếu để diệt tận nó thì lúc đó mình không còn tham ái đối với tam giới, cõi dục, cõi sắc và cõi vô sắc.
“Khi ba ái được hiểu biết, Ta nói rằng vị Thánh đệ tử không có gì cần phải làm thêm nữa.”
Là vị đó đã vượt qua ba cõi, đã đến cửa bất tử, thể nhập vào thế giới của bất tử.
Đại chúng có ai muốn chia sẻ về lời dạy của Đức Phật trong buổi hôm nay không? Hôm nay chúng ta chia sẻ tới đây, phần thức thực rất thâm sâu nên chúng ta để dần dần sẽ quán chiếu.
Mời đại chúng chia sẻ về những thọ, tưởng, hành trong khi mình nghe pháp, nghe lời Đức Phật dạy.
76:12-88: Phật tử trình pháp
Nguyện đem công đức này
Hướng về khắp tất cả
Đệ tử và chúng sanh
Đều trọn thành Phật đạo.