THIỀN GIẢNG NIKAYA-MÙ MỘT MẮT-HAI MẮT SÁNG_M
Nikāya Thiền Giảng
MÙ – MỘT MẮT – HAI MẮT SÁNG
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Quán chiếu đôi mắt PAGEREF _Toc141796468 \h 1
1.Hạnh phúc khi đầy đủ các căn PAGEREF _Toc141796469 \h 1
2.Đôi mắt biết ơn PAGEREF _Toc141796470 \h 2
3.Đôi mắt hiểu thương PAGEREF _Toc141796471 \h 3
II.Bài kinh “Mù Lòa” PAGEREF _Toc141796472 \h 7
1.Người mù PAGEREF _Toc141796473 \h 7
2.Người Có Một Mắt PAGEREF _Toc141796474 \h 8
3.Người Có Hai Mắt PAGEREF _Toc141796475 \h 9
4.Đại pháp nhãn PAGEREF _Toc141796476 \h 9
III.Thiền Quán Đức Thế Tôn ơi! PAGEREF _Toc141796477 \h 11
IV.Đáp từ PAGEREF _Toc141796478 \h 13
Quán chiếu đôi mắt
Buổi sáng phát quà cho những vị khiếm thị hôm nay là đề tài cho tất cả chúng ta chiêm nghiệm, suy xét, quán chiếu một cách sâu sắc vào trong đời sống tự thân của chính mình.
Hạnh phúc khi đầy đủ các căn
Đã bao giờ quý vị tự hỏi, tại sao tôi lại sinh ra như vậy? Tại sao cũng là một con người nhưng có người lại sinh ra trong cảnh đui mù, khiếm thị thế này? Chúng ta có đặt câu hỏi tại sao không? Tại sao có người phải sinh ra với một tấm thân đầy đau bệnh? Tại sao có những người phải sinh ra trong cảnh câm, ngọng, điếc, què quặt, tật nguyền?
Những vị có được cơ thể lành lặn, thể hoàn chỉnh thật sự là một điều may mắn với đầy đủ phước đức, phước báo, phước lành, phước lạc, phước huệ. Hạnh phúc hơn khi chúng ta còn có thể tận tay đem những món quà trao tặng cho những người khiếm thị. Chúng ta có thấy họ vui mừng hạnh phúc không? Lúc đó chúng ta có vui mừng không? Xin chúc mừng cho tất cả những ai có thể cảm nhận được niềm vui ấy.
Khi trao những món quà đến những người tàn tật ngồi trên chiếc xe lăn, chúng ta hãy nhìn những vị ấy và tự soi lại mình. Đây là cơ hội rất quý báu để chúng ta thấy sự phản chiếu của cái gọi là nhân quả, nghiệp báo, tội phước, thiện ác, nghiệp đen nghiệp trắng, nghiệp tốt nghiệp xấu, nghiệp lành nghiệp dữ, nghiệp thiện nghiệp bất thiện. Nhìn những người khổ đó để chúng ta phản ảnh, phản chiếu, phản tỉnh cho tự thân của mình.
Khi Minh Thành ra ngoài miền Trung giảng cho Đạo tràng khiếm thị khoảng 100 người trong khóa tu; có một cô đứng lên hát một ca khúc với nội dung: con chỉ mơ ước một lần trong cuộc đời, đôi mắt con được sáng ra để nhìn thấy gương mặt của mẹ con, mà nào có được quý vị ơi! Một ước mong mà đối với chúng ta hết sức là dễ dàng nhưng với các vị là không thể được. Đối với chúng ta điều đó đã bình thường, tầm thường, thậm chí có người còn khinh thường xem thường, nhưng đối với họ là cả một sự khao khát, thèm khát, thèm muốn, ước mơ, cả một nỗi niềm to lớn không bao giờ với tới. Vậy, tại sao chúng ta không trân quý con mắt của mình? Tại sao chúng ta không kính trọng con mắt này? Khi thấy được ánh sáng là mình là người có được phước lành, phước báo, phước đức trong cuộc đời này.
Đôi mắt biết ơn
Trên Linh Quy Pháp Ấn, Minh Thành cho những đứa con quỳ xuống trước cha mẹ và thực tập thiền biết ơn, Minh Thành nói với những đứa con: “Hãy quỳ xuống và nhìn thật kỹ vầng trán của mẹ, con có nhìn thấy những nếp nhăn không? Con hãy nhìn kỹ mái tóc của mẹ, con có nhìn thấy những sợi tóc bạc hay không? Con hãy nhìn kỹ ánh mắt của mẹ con, ánh mắt mờ, tai điếc, lưng còng, gối mỏi, da nhăn, tóc bạc”, thiền quán từng bộ phận trên cơ thể của mẹ, để những đứa con này cảm nhận được ân đức, cảm nhận được nghĩa tình, cảm nhận được sự hi sinh tột cùng của mẹ cha.
Đó là Minh Thành đang mở đôi mắt biết ơn và nhớ ơn của đạo làm người cho những người con đối với cha mẹ. Nếu không có chánh niệm, dù cho có mắt thì chúng ta cũng không nhìn thấy được tình thương của mẹ cha, chúng ta có trái tim nhưng mà không cảm nhận được nghĩa tình ân đức của thân bằng quyến thuộc. Hơn nữa, không chỉ dừng lại ở cha mẹ mà còn ông bà, cô chú, vợ chồng, con cái, anh chị em, biết bao nhiêu những tấm lòng, biết bao nhiêu những tình thương, biết bao nhiêu những nỗi niềm, chăm sóc hi sinh lo lắng, bảo bọc chăm lo cho chúng ta, cả một thế giới biết ơn và nhớ ơn, cảm ơn.
Trong Tăng Chi Bộ Kinh, Thế Tôn dạy: “Này các Tỷ-kheo! này các đệ tử thế nào là một con người thật sự là người, là địa vị của bậc chân nhân, này các đệ tử người thật sự là người có hai đặc tính là người đó biết ơn và nhớ ơn đối với người có ơn”. Nói thì chúng ta nghe rất là dễ nhưng thật sự chúng ta sống trong trái tim biết ơn và nhớ ơn thường luôn mãi mãi thì cần phải thực tập rất nhiều. Bởi vì hai đặc tính này là hai yếu tố để giúp đời sau trở lại làm người, nếu mình không có hai đặc tính biết ơn và nhớ ơn thì Đức Thế Tôn nói đó là người phi chân nhân, tức là không phải một con người thật sự là người. Vậy ai là người có ơn nhất với mình? Chính là cha và mẹ sinh ra mình, người có ơn nhất với mình mà mình không biết ơn không nhớ ơn vậy thì mình nhớ ơn biết ơn được với ai?
Cho nên chúng ta đi tới đây không phải chỉ để ban phát quà cáp cho mọi người, mà điều quan trọng là biết quay trở lại để nhìn chính mình, chính cái đó là mình đem đôi mắt này nhìn mẹ như thế nào nhìn cha như thế nào? Mình đem ánh mắt này nhìn người chồng, người vợ của mình như thế nào? Nhìn người anh, người chị, người cô, người chú, người bác, ông bà, cô chú của mình như thế nào? Để mình không cô phụ đôi mắt quý báu này.
Quý vị có thấy đôi mắt trên gương mặt mình quý báu không? Chúng ta có khi nào lãng quên đôi mắt này không? Có những lúc, ta dùng đôi mắt này để nhìn dọc nhìn ngang với những người ân nghĩa, như vậy là mình đang sống trong lãng quên. Chúng ta phải biết trân trọng đôi mắt này, trân trọng đôi tai này vì có rất nhiều người sinh ra đã đuôi mù, câm điếc, khiếm khuyết. Vậy, tại sao mình có đôi tai mà không nghe bằng cả trái tim đối với những người thân thương nhất?
Đôi mắt hiểu thương
Trong cuộc sống, người thân của mình đôi khi gặp phải chuyện bực bội, sân si, vô cùng đau khổ, những lúc đó, ta phải lắng nghe sâu thẳm từ trong trái tim của họ. Đừng chỉ nghe ở những âm thanh khó chịu ở bên ngoài tai, mà hãy xuyên qua những âm thanh đó để mình nhìn sâu ở bên trong cảm thọ cảm xúc, trái tim của người đó. Để biết rằng họ đang bị thiêu đốt, nóng bức, khổ đau, thế nên mình không thể mang đau khổ đến với những người thân thương thêm nữa. Hãy thương những người đang bực bội, sân si với mình, vì ta hiểu rằng họ đang chịu đau khổ.
Vì vậy, sau chuyến đi này, chúng ta phải tập có cái nhìn khác. Khi thấy những người trong gia đình đang bực bội, căng thẳng, sân si, tức giận, phẫn nộ thì phải thương họ thật nhiều. Chúng ta tập làm từ thiện với họ bằng cách cho đi những cảm giác ngọt ngào, thấu hiểu, bao dung, tha thứ và để những cảm giác đó bao trùm lấy họ. Chúng ta đừng sân hận, tức giận với những người đang tức giận. Nếu mẹ mình đang rất nóng giận mà mình giận lại thì có thông minh không? Mình có hiểu được trái tim của mẹ không? Nhiều khi giận đó nhưng do thương mình nên mới giận. Nhiều khi cha mẹ gọi điện thoại nhiều thì mình cảm thấy bực bội vì cha mẹ cứ gọi hoài, hỏi hoài. Nhưng tới khi mình mất mẹ, mình thèm khát được nghe tiếng điện thoại của mẹ, lúc đó có muốn cũng không được. Chúng ta càng trân quý, trân trọng cuộc sống thì càng phải trân quý, trân trọng những người thân thương nhất của mình.
Quý vị hãy trân trọng từng bước chân của mình, hãy trân trọng những ánh nhìn của mình, hãy trân quý từng lời nói của mình, hãy cẩn thận từng suy nghĩ trong tâm của mình. Mỗi cảm giác sanh khởi phải kiểm soát thật kỹ, đừng để tâm sanh khởi những cảm giác ác bất thiện pháp. Mỗi suy nghĩ sanh khởi phải xử lý, quản lý suy nghĩ của mình. Việc này quan trọng hơn cả quản lý tài sản, quản lý tài sản là cần thiết nhưng có những quản lý còn hơn là quản lý tài sản, có khi tài sản mình có nhưng hạnh phúc mình đổ vỡ. Cho nên mình không những biết quản lý tài sản mà còn phải biết quản lý suy nghĩ, quản lý cảm giác, cảm xúc, quản lý tư tưởng, quản lý thân miệng ý.
Đức Phật nói: “Lành thay bảo vệ mắt, lành thay bảo vệ lỗ tai, lành thay bảo vệ lỗ mũi, lành thay bảo vệ cái miệng, cái lưỡi này, lành thay bảo vệ thân này, lành thay bảo vệ tâm ý, suy nghĩ này, người nào khéo bảo vệ phòng hộ tất cả người đó được hạnh phúc, an lạc chấm dứt khổ đau”.
Lành thay, phòng hộ mắt!
Lành thay, phòng hộ tai.
Lành thay, phòng hộ mũi,
Lành thay, phòng hộ lưỡi.
Lành thay, phòng hộ thân!
Lành thay, phòng hộ lời,
Lành thay, phòng hộ ý.
Lành thay, phòng tất cả.
Tỷ-kheo phòng tất cả.
Thoát được mọi khổ đau.
(Kinh Pháp Cú – Phẩm Tỳ Kheo)
Chúng ta phải quản lý những suy nghĩ, lời nói, hành động, thậm chí quản lý ngay trong từng bước chân của mình, nếu rõ biết tất cả thì mỗi bước chân mình đi cũng có thể trở thành phép màu. Nếu biết mỗi bước chân mình đi là đang đến gần tới lò thiêu, đến nghĩa trang, đến ngục tù thì chúng ta sẽ bước thật nhẹ nhàng, thật là thảnh thơi, bước thật là bình an, đem đến sự thấy biết thương yêu cho tự thân và cho những người ta tiếp xúc. Từng bước chân đi từ nhà đến chùa là từng bánh xe luân chuyển và từng trái tim này lan tỏa sang trái tim kia, từ bàn tay này nâng niu các món quà, từ ánh mắt này nhìn ánh kia với những anh nhìn thiện cảm dành cho người khiếm khuyết, ánh mắt ấy ngọt ngào như sen nở.
Chúng ta phải biết trân trọng đời sống này, cũng một bước chân mà một bước chân thất niệm có thể đưa mình đến những tai nạn và khuyết tật. Có người không chịu tập thể dục ở nhà, mà đi ra ngoài đường lộ lúc 4 giờ sáng, khi trời còn chập choạng sáng tối để tập thể dục và rồi không may xảy ra tai nạn đáng tiếc. Lúc đó người này bị vô minh xâm chiếm, không có chánh niệm, không có tỉnh thức, không biết chỗ nào là chỗ nguy hiểm chỗ nào là chỗ an toàn. Đức Phật dạy nơi nào là nơi không nên làm, xem chỗ đó có phù hợp, thích hợp hay không? Đó là tự mình hủy hoại cuộc sống của mình.
Cũng có đôi chân đi đến đâu là sen nở đến đó, bước đến đâu là hoa nở tới đó tại vì bước chân của mình có tình thương, có sự cảm thông và chia sẻ. Luôn tập cho mình có một đôi mắt thương để nhìn cuộc đời; đừng nhìn đời, nhìn người bằng đôi mắt hung dữ, sân hận, nếu không đời sau mình sẽ rơi vào cảnh tăm tối. Không ai mong muốn bản thân rơi vào hoàn cảnh như vậy, nhưng vì nghiệp quả, vì quả báo của ác nghiệp nên đành phải chấp nhận. Đối với nghiệp, Đức Phật tuyên bố rằng:
“Ta là chủ nhân của nghiệp, là thừa tự của nghiệp, nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa. Phàm nghiệp nào ta sẽ làm thiện hay ác, ta sẽ thừa tự nghiệp ấy”. (Trích Tăng Chi Bộ Kinh II, kinh Sự Kiện Cần Phải Quan Sát)
Nghiệp là sự quyết định, nghiệp là tất cả những gì mình suy nghĩ, nói năng, hành động thì mình phải thừa kế, phải có trách nhiệm gánh lấy hậu quả từ những ngôn ngữ, suy nghĩ, hành động thiện hay bất thiện đó, cho nên nói, mình chính là người thừa kế nghiệp quả.
Không ai tự nhiên sinh ra liền trở thành triệu phú giàu nhất hành tinh, tỷ phú giàu nhất hành tinh; cũng không ai tự nhiên sinh trong gia đình cha mẹ đi ăn xin, tất cả những hoàn cảnh đó là do nghiệp quyết định, nghiệp chính là suy nghĩ, lời nói, hành động mà ta đã tạo tác. Cũng như hôm nay chúng ta đến chùa tu học, đây là thiện nghiệp, là việc thiện lành, tốt lành, an lạc, an vui, an lành, an tịnh, an ổn, an bình, là một quyết định rất thông minh. Có những người làm ra tiền chỉ để cuối tuần, cuối tháng đi nhậu, đi ăn, đi chơi, đi karaoke, đi vũ trường, đi bánh bạc… rồi đôi lúc lại xảy ra những tai nạn chết hàng chục người trong những cuộc vui đó. Mặc dù người ta đi làm thì người ta có quyền hưởng thụ, đó là điều bình thường nhưng những ai biết đem mồ hôi công sức của mình để làm những việc tăng trưởng thêm phước đức, trí tuệ thì vô cùng tuyệt vời.
Chúng ta cũng phải khéo léo tác động tâm ý để khi làm thiện mình có được nhiều niềm vui; đồng thời cũng phải có những mối lo cho những điều bất thiện. Trong sự tu học, có hai cảm thọ có công năng phá cảm thọ si. Cảm thọ thứ nhất là cảm thọ hỷ, đây là cảm thọ vui sướng, hạnh phúc, hoan hỷ khi được làm từ thiện, làm những điều phước báu, công đức. cảm thọ thứ hai là cảm thọ ưu, đây là cảm thọ lo lắng sợ hãi đối với ác và bất thiện pháp, nếu tu mà không có cảm thọ này thì mình không có sự tăng thượng, hướng thượng và không phát triển được, cho nên, cảm thọ phải vô cùng lo lắng đối với những ác và bất thiện pháp của người và của chính mình. Khi nhìn thấy họ đau khổ thì phải phản chiếu lại tự thân, soi rọi lại bản thân mình.
Bài kinh “Mù Lòa”
Có nhiều bài kinh Đức Phật dạy cho chúng ta về con mắt. Nhờ có cơ hội nghe được những bài kinh gốc trong tạng kinh Nikāya mà chúng ta được sanh khởi lên rất nhiều thiện pháp. Đức Phật chia ra có loại ba loại người: người mù, người mù một mắt và người hai mắt sáng. Trong bài kinh Mù Lòa – Tăng Chi Bộ Kinh I – Tr229, Đức Phật có dạy:
- Ba hạng người này, này các Tỷ-kheo, có mặt, xuất hiện ở đời. Thế nào là ba?
Người mù,
Người một mắt,
Người có hai mắt.
Người mù
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là người mù?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người không có mắt để có thể với mắt như vậy, thâu hoạch được tài sản chưa được thâu hoạch hay làm cho tăng trưởng tài sản đã được thâu hoạch; không có mắt để có thể với mắt như vậy, biết được pháp thiện và pháp bất thiện, có tội và không tội, pháp liệt và thắng, pháp thuộc thành phần đen và trắng.
Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hạng người mù.
Đức Phật nói, hạng người mù là người không có cả con mắt vật lý, tức là những người khiếm thị và cũng không có cả con mắt trong tâm. Vật chất lẫn tinh thần họ đều không thấy được; những người này không thể phân biệt được đâu là thiện đâu là bất thiện, đâu là có tội đâu là có phước, đâu là thấp kém đâu là cao thượng, đâu là đen đâu là trắng, đâu là lành đâu là dữ. Đức Phật cho rằng, những người này dù có mắt nhưng vẫn là mù và hiện này có rất nhiều người như vậy.
Đức Phật có rất nhiều ví dụ đặc biệt, Ngài đưa lên một cọng cỏ nhúng xuống biển sau đó Ngài đưa lên chỉ còn mấy giọt nước đọng lại trên cọng cỏ, Ngài hỏi các vị Tỷ-kheo: “Này các vị nước ở trong đại dương này so với mấy giọt nước còn đọng trong cọng cỏ cái nào là nhiều hơn? Các thầy mới nói, nước ở trong đại dương là vô lượng, vô số, vô biên không thể so sánh, không thể ví dụ, không thể tính kể, so với mấy giọt nước đọng trên cọng cỏ. Đức Phật nói cũng vậy, này các Đệ tử con người sau khi chết trở lại làm người ít như giọt nước đọng trên cọng cỏ. Sau khi ở cõi người rớt xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh nhiều giống như nước đại dương”. Ngày xưa Minh Thành mới học cũng thắc mắc sao lại như vậy nhưng bây giờ chúng ta thấy người ác nhiều, sân si nhiều, tham lam, gian dối, xảo trá, và những con người có những trạng thái này thì rớt xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh rất nhiều.
Đức Phật ví dụ trong kinh Nikāya rất nhiều hình ảnh, do nghiệp quả mà từ ở trên lầu cao rồi xuống tới kiệu, rồi xuống tới voi, xuống tới ngựa, xuống dưới đất sau cùng xuống dưới vực. Từ trên lầu cao mà xuống tới vực sâu. Vì vậy, căn bản làm người hết sức quan trọng về thiện và bất thiện, tội và phước, lành và dữ, đen và trắng. Không thấy được điều đó thì Đức Phật nói là mù lòa.
Người Có Một Mắt
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người có một mắt?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người có mắt để có thể với mắt như vậy, thâu hoạch được tài sản chưa được thâu hoạch hay làm cho tăng trưởng tài sản đã được thâu hoạch; nhưng không có mắt để có thể với mắt như vậy, biết được pháp thiện và pháp bất thiện, có tội và không tội, pháp liệt và thắng, pháp thuộc thành phần đen và trắng. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hạng người có một mắt.
Người có một mắt mà Đức Phật nói tức là người có mắt vật chất không bị mù, nhưng con mắt tâm không có, cho nên gọi là có một mắt. Biết làm ra tiền mà không biết tu hành phước thiện, phước báo, công đức mà cứ lo nhặt vào, nhặt vào cuối cùng là được một đống tro tàn cùng với ác nghiệp đem theo. Cứ lo giành giành, giật giật, cấu xé với nhau cuối cùng dành được một miếng đất bề ngang một thước, bề dài hai thước, cả một cuộc đời cứ tranh giành cuối cùng thì được gì? Đức Phật gọi những người như vậy là chột mắt, chỉ có một con mắt thôi tức là mắt sáng nhưng tâm thì không biết thiện ác, tội phước, đen trắng.
Người Có Hai Mắt
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người có hai mắt?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người có mắt để có thể với mắt như vậy, thâu hoạch được tài sản chưa được thâu hoạch hay làm cho tăng trưởng tài sản đã được thâu hoạch; và có mắt để có thể với mắt như vậy, biết được pháp thiện và pháp bất thiện, có tội và không tội, pháp liệt và thắng, pháp thuộc thành phần đen và trắng. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hạng người có hai mắt.
(Tăng Chi Bộ Kinh I, Chương Ba Pháp, III. Phẩm Người, bài kinh Mù Lòa)
Người có hai mắt, người này chẳng những có hai con mắt vật chất mà còn sáng con mắt tâm, con mắt trí tuệ. Vừa biết tạo dựng của cải, tài sản, vừa biết thiện nghiệp quả, tội phước, thiện ác.
Đại pháp nhãn
Đi sâu hơn nữa là con mắt của Thánh trí tuệ, Đức Phật được gọi là Đại Pháp Nhãn, sự xuất hiện của Đức Phật được gọi là sự xuất hiện của con mắt lớn của trời và người.
Một người, này các Tỷ-kheo, khi xuất hiện ở đời, sự xuất hiện đem lại hạnh phúc cho đa số, an lạc cho đa số, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người. Một người ấy là ai? Chính là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Chính một người này, này các Tỷ- kheo, khi xuất hiện ở đời, sự xuất hiện đem lại hạnh phúc cho đa số, an lạc cho đa số, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người.
Sự xuất hiện của một người, này các Tỷ-kheo, là sự xuất hiện của mắt lớn, là sự xuất hiện của đại quang, là sự xuất hiện của đại-minh, là sự xuất hiện của sáu vô thượng, là sự chứng ngộ bốn vô ngại giải, là sự thông đạt của nhiều giới, là sự thông đạt của các giới sai biệt, là sự chứng ngộ của minh và giải thoát, là sự chứng ngộ quả Dự Lưu, là sự chứng ngộ quả Nhất Lai, là sự chứng ngộ quả Bất Lai, là sự chứng ngộ quả A-la-hán. Của một người ấy là ai? Chính là Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Sự xuất hiện của một người này, này các Tỷ-kheo, là sự xuất hiện của mắt lớn, là sự xuất hiện của đại quang... là sự chứng ngộ quả A-la-hán.
(Tăng Chi Bộ Kinh I, Chương Một Pháp, XIII. Phẩm Một Người, bài kinh Như Lai)
Như vậy con mắt sau cùng là con mắt lớn là chỉ cho bậc Đại Giác Thế Tôn. Trong kinh Nikāya Đức Phật nói tất cả chúng sanh đều là mù lòa, không thấy được sự thật Khổ Thánh Đế. Vì vô minh, vì tham sân si, bản ngã làm cho mình khổ đau. Không vì một điều gì khác bên ngoài làm mình khổ, mà chính những cảm giác ham muốn, nóng giận, hơn thua của mình làm cho mình khổ đau. Đức Phật là người duy nhất mở con mắt cho chúng sanh và chư Tăng là người từ giã cuộc đời thế gian để đi theo đạo lộ của bậc Thánh, giáo pháp chính là thần dược, diệu dược là thánh dược, là pháp dược, là Phật dược để trị con mắt mù lòa của chúng ta được sáng lên, được tỏa lên, được rõ lên. Sáng con mắt ra để nhìn rõ sự thật đau khổ của cuộc đời này, tất cả đều do tham, sân, si, vô minh, bản ngã.
Sự tu hành của mình phải đi đến rốt ráo, cứu cánh thì mới thoát khỏi khổ đau, giải thoát biển sanh tử. Điều cốt lõi nhất là phải luôn luôn nhìn lại cảm giác để nhiếp phục tham, sân, si, bản ngã, hơn thua cái này là quyết định tất cả trong sự tu học của mình. Phải thường xuyên nhìn lại nội tâm của mình, luôn luôn quan sát cảm thọ cảm giác, cảm xúc của mình, chính là mình có con mắt thần, có con mắt đạo, có con mắt pháp, có con mắt trí, có con mắt tuệ, có con mắt Phật ở trong tâm. Phải luôn luôn nhìn cuộc đời này bằng con mắt trí tuệ, phải nhìn thấy thật sâu sắc nỗi khổ của mình và những nỗi khổ của người thân đang bị thiêu đốt.
Mỗi người một nỗi khổ
Mỗi loài một niềm đau
Xin cùng nhau thấu hiểu
Những nỗi khổ trong nhau.
Thiền Quán Đức Thế Tôn ơi!
Con dập đầu cúi lạy
Bậc tôn kính nhất đời
Tâm hoàn toàn thanh tịnh
Diệt tận tham sân si
Bậc giác ngộ hoàn toàn
Thân tâm là thế giới
Phật thích ca mâu ni
Đức Thế Tôn ơi! Hôm nay con biết rồi, hôm nay con hiểu rồi, lời dạy đầy tình thương của Ngài, con hứa với Ngài từ hôm nay về sau con sẽ là người nhớ ơn và biết ơn, con sẽ là người con hiền, cháu thảo, con sẽ cẩn thận đối với nhân quả, con sẽ lánh dữ làm lành, sẽ bỏ nghiệp đen và làm nghiệp trắng, con sẽ từ bỏ bóng tối của vô minh, hướng đến ánh sáng của trí tuệ, con sẽ sống trong lòng biết ơn, lòng nhớ ơn, lòng báo ơn, lòng đền ơn. Con nguyện sống tâm hiền từ, hiền hậu, hiền lương, hiền hòa, hiền nhân, hiền đức, hiền trí, con sẽ đi theo gương hạnh của các bậc Hiền Thánh.
Đức Thế Tôn ơi! Chúng con đã trở về dưới chân Ngài, chúng con đã trở về dưới ánh sáng của Ngài. Đức Thế Tôn ơi! Chúng con thật là biết ơn Ngài vô hạn, Ngài đã mở con mắt mù lòa trong vô lượng, vô biên kiếp cho chúng con, nếu không có Ngài ra đời chúng con sẽ bị đắm chìm trong biển cả của tham, sân, si. Chúng con bị bao phủ trong bóng tối vô minh, si ám. Chúng con quằn quại của những ngọn lửa sân hận, tức giận, bực bội, hận thù. Nếu không có Ngài thì chúng con sống trong một cái tâm hơn thua, bản ngã tôi, ta, khen mình chê người, cống cao ngã mạn. Nếu không có Ngài làm sao chúng con biết được giáo pháp ly tham thần diệu này, nếu không có Đức Thế Tôn làm sao con khai mở cảm thọ của từ tâm, hiền hòa vô hạn này, nếu không có Đức Thế Tôn làm sao con học được đức hạnh khiêm cung, thiên hạ, khiêm nhường, khiêm hòa, khiêm tốn này. Chúng con giờ phút này xin dâng cả trái tim và tất cả tấm lòng biết ơn vô hạn xin dập đầu cúi lạy bậc Thiên Nhân Sư.
Đức Thế Tôn ơi! Chúng con đã trở về, chúng con đang tắm mình trong cơn mưa cam lộ pháp nhũ, từng giọt mưa bên ngoài cũng như từng giọt cam lồ pháp nhũ mà Ngài đã rưới vào tim con, Ngài đã quán đảnh rưới lên đầu của con, giờ phút này con thật là dào dạt, thật là thấm đẫm, thấm nhuần từ đỉnh tóc cho đến gót chân con tràn ngập từng huyết quản, từng hơi thở, từng làn da, thớ thịt thấm vào xương tủy của con là một tình thương dào dạt vô tận, chúng con giờ này hạnh phúc quá Đức Thế Tôn ơi! Thật là bình an, thật là an lành, an lạc, thật là an ổn nhiệm màu khó tả, con đã xuyên không trở về Trúc Lâm Tinh Xá, con đã xuyên không trở về Kỳ Viên, con đã trở về Linh Thứu, vượt qua 2.600 năm mà giờ này Linh Sơn như tại phảng phất đâu đây là hình bóng của bậc Đại GiáC Chánh Biến Tri, Vô Thượng Sĩ và các bậc Thánh, chúng con như đang ngược dòng thời gian vượt 26 thế kỷ trở về cùng tham dự Linh Sơn pháp hội, trái tim con đang dào dạt thấm đẫm, cảm giác từ, bi, hỷ, xả vô lượng, vô biên này, thật là hạnh phúc dạt dào, thật là ngọt ngào, thật là dễ chịu, giây phút này là giây phút thần thánh, giây phút thiêng liêng nhất của cuộc đời con, giây phút tối thượng hiếm có khó gặp, hi hữu trong dòng luân hồi vô lượng vô biên kiếp này, con hạnh phúc lắm Thế Tôn ơi! Con đang hạnh phúc lắm, con xin cúi lạy dưới chân người.
Đức Thế Tôn ơi! Giờ này hơi thở của con như đang hòa nhịp cùng với các bậc Hiền Thánh, giờ này tim con đang nhịp đập cùng với các Tôn giả Ananda, Ma-Ha-Ca-Diếp, Mục-Kiền-Liên…không gian này tương thông, tương cảm với Linh Sơn thắng hội. Cảm giác này thật là linh thiêng, thật là ngọt ngào, thật là dễ chịu làm sao, con như đang tắm mình trong dòng suối thanh lương Pháp bảo tối thượng. Con nguyện với Ngài từ nay về sau con sẽ luôn luôn nhìn lại cảm xúc của mình, con thật sự hứa với Ngài, con thật sự phát nguyện trước Tam Bảo mỗi hơi thở, mỗi lời nói, mỗi hành động, mỗi lời nói của con sẽ được con giám sát, quán sát, quan sát thật là kỹ. Con nguyện từ nay về sau sẽ an trú trong cảm giác hiền thiện, hiền lành này, con yêu tâm hiền, con kính tâm hiền này, con thương tâm hiền này, con quý con hiền này, con đội trên đầu tâm hiền thiện lành, con lấy tâm hiền làm bàn thờ của con, con nguyện trong tim con có một bàn thờ đó là bàn thờ của tâm hiền thiện, ngọt ngào, dễ chịu và an yên.
Đức Thế Tôn ơi! Con đã rất gần với Ngài, con như xúc chạm vào Kim thân, Thánh đức của Ngài, trái tim con đang trào dâng lên những cảm xúc dạt dào, hạnh phúc này, tình thương này, con nguyện làm cho sinh khởi, tăng trưởng, phát triển, quảng đại. Con nguyện từ đây về sau sẽ luôn sống với tâm từ, tâm thương rộng lớn, lan tỏa. Con không làm khổ cho mình và không làm khổ cho những người thân thương nhất của cuộc đời mình. Con sẽ đem cảm giác thấu hiểu và thương yêu này lan tỏa đến cùng gia đình, xã hội và vạn loại chúng sanh.
Đáp từ
Đạo tràng chùa Bửu Thành:
Hôm nay thật hội đủ duyên lành chúng con cảm thấy hạnh phúc vô cùng, Bổn Tự chùa Bửu Thành nói chung và đạo tràng hỏi Bông Sen nói riêng được đón tiếp bước chân an lạc của Thượng Tọa Viện Chủ chùa Bửu Liên và trụ trì Linh Quy Pháp Ấn. Ngài đã không ngại đường xá xa xôi vượt hàng trăm cây số làm hướng đầu sơn cho hội Bông Sen làm thiện nguyện của người con Phật. Hôm nay tại đạo tràng chùa Bửu Thành, Thượng Tọa Giảng Sư có đôi lời pháp thoại đã trải lòng của người con Phật đối với thế giới, thiên nhiên bao la và chúng con kính nghe Đức Phật nói làm thân người là khó được gặp Phật pháp lại càng khó hơn, đặc biệt được sinh ra thân người lục căn đầy đủ, Thượng Tọa đã nói lên đầy đủ ý nghĩa của đôi mắt, trí tuệ của đạo Phật, vì đôi mắt là cửa sổ của tâm hồn chúng ta có đôi mắt trí tuệ, có đôi mắt này chúng ta mới nhìn thấy được tinh thần thương yêu nhân loại, thương những người có nỗi niềm khó khăn và đau khổ xung quanh chúng ta.
Hôm nay thật là hạnh phúc vô biên, chúng con không biết nói gì hơn xin được thay lời Bổn tự Bửu Thành cũng như quý nam nữ Phật tử trong hội Bông Sen xin nguyện hồng ân Tam Bảo gia hộ cho Thượng Tọa Giảng Sư đạo thọ được tăng trưởng, thế thọ được viên trường, mãi mãi là bóng cây đại thọ, là bức tường vững chắc cho hàng Phật tử chúng con được nương tựa tu nhân học đạo. Cũng nhân đây chúng tôi xin thay lời Bổn tự cảm niệm công thức toàn thể nam nữ Phật tử trong hội Bông Sen đã thực hiện chuyến hành hương thiện nguyện ngày hôm nay thật nhiều ý nghĩa này và chùa Bửu Thành cũng rất hoan hỷ khi được đón tiếp quý vị. Mong rằng trong thời gian sắp tới đây nếu đủ duyên quý vị sẽ trở về cộng tu cùng với Bổn tự chúng tôi.
Cuối cùng thay lời Bổn tự xin cảm niệm công đức toàn thể quý vị rất nhiều chúc cho quý vị thân khỏe, tâm an, mãi mãi là cánh hoa tươi thắm để vun bồi ngôi nhà Phật pháp ngày càng phát triển và hưng thịnh.
Sư Phụ
Minh Thành xin thay mặt cho toàn thể nam nữ Phật tử trong hội Bông Sen gửi lời cảm ơn với tấm lòng linh sơn cốt nhục quyến thuộc Bồ đề với tâm từ lan tỏa rộng lớn Phật môn quảng đại của Thầy trụ trì và chư Phật tử tại Bổn tự đã tiếp đón rất là chu đáo, từ miếng ăn, giấc ngủ để cho chúng con có được ngày tu học, thiện nguyện viên mãn. Chúng con xin cầu nguyện Tam Bảo gia hộ cho Thượng tọa trụ trì phước trí nhị nghiêm, thành tựu cứu cánh phạm hạnh của người xuất gia. Cầu nguyện cho tất cả quý Phật tử ở tại Bổn tự phước huệ song tu, thành tựu lòng tin bất động đối với Đức Phật, đối với Chánh Pháp, Chúng Tăng và Thánh Giới.
Nguyện đem công đức này lan tỏa cùng khắp chư Thiên, chư Thần tất cả chư vị ở tại nơi này hữu hình và vô hình tất cả đều được thấm nhuần ân đức tối thượng của Chánh Pháp đều được lợi lạc.
MÙ – MỘT MẮT – HAI MẮT SÁNG
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Quán chiếu đôi mắt PAGEREF _Toc141796468 \h 1
1.Hạnh phúc khi đầy đủ các căn PAGEREF _Toc141796469 \h 1
2.Đôi mắt biết ơn PAGEREF _Toc141796470 \h 2
3.Đôi mắt hiểu thương PAGEREF _Toc141796471 \h 3
II.Bài kinh “Mù Lòa” PAGEREF _Toc141796472 \h 7
1.Người mù PAGEREF _Toc141796473 \h 7
2.Người Có Một Mắt PAGEREF _Toc141796474 \h 8
3.Người Có Hai Mắt PAGEREF _Toc141796475 \h 9
4.Đại pháp nhãn PAGEREF _Toc141796476 \h 9
III.Thiền Quán Đức Thế Tôn ơi! PAGEREF _Toc141796477 \h 11
IV.Đáp từ PAGEREF _Toc141796478 \h 13
Quán chiếu đôi mắt
Buổi sáng phát quà cho những vị khiếm thị hôm nay là đề tài cho tất cả chúng ta chiêm nghiệm, suy xét, quán chiếu một cách sâu sắc vào trong đời sống tự thân của chính mình.
Hạnh phúc khi đầy đủ các căn
Đã bao giờ quý vị tự hỏi, tại sao tôi lại sinh ra như vậy? Tại sao cũng là một con người nhưng có người lại sinh ra trong cảnh đui mù, khiếm thị thế này? Chúng ta có đặt câu hỏi tại sao không? Tại sao có người phải sinh ra với một tấm thân đầy đau bệnh? Tại sao có những người phải sinh ra trong cảnh câm, ngọng, điếc, què quặt, tật nguyền?
Những vị có được cơ thể lành lặn, thể hoàn chỉnh thật sự là một điều may mắn với đầy đủ phước đức, phước báo, phước lành, phước lạc, phước huệ. Hạnh phúc hơn khi chúng ta còn có thể tận tay đem những món quà trao tặng cho những người khiếm thị. Chúng ta có thấy họ vui mừng hạnh phúc không? Lúc đó chúng ta có vui mừng không? Xin chúc mừng cho tất cả những ai có thể cảm nhận được niềm vui ấy.
Khi trao những món quà đến những người tàn tật ngồi trên chiếc xe lăn, chúng ta hãy nhìn những vị ấy và tự soi lại mình. Đây là cơ hội rất quý báu để chúng ta thấy sự phản chiếu của cái gọi là nhân quả, nghiệp báo, tội phước, thiện ác, nghiệp đen nghiệp trắng, nghiệp tốt nghiệp xấu, nghiệp lành nghiệp dữ, nghiệp thiện nghiệp bất thiện. Nhìn những người khổ đó để chúng ta phản ảnh, phản chiếu, phản tỉnh cho tự thân của mình.
Khi Minh Thành ra ngoài miền Trung giảng cho Đạo tràng khiếm thị khoảng 100 người trong khóa tu; có một cô đứng lên hát một ca khúc với nội dung: con chỉ mơ ước một lần trong cuộc đời, đôi mắt con được sáng ra để nhìn thấy gương mặt của mẹ con, mà nào có được quý vị ơi! Một ước mong mà đối với chúng ta hết sức là dễ dàng nhưng với các vị là không thể được. Đối với chúng ta điều đó đã bình thường, tầm thường, thậm chí có người còn khinh thường xem thường, nhưng đối với họ là cả một sự khao khát, thèm khát, thèm muốn, ước mơ, cả một nỗi niềm to lớn không bao giờ với tới. Vậy, tại sao chúng ta không trân quý con mắt của mình? Tại sao chúng ta không kính trọng con mắt này? Khi thấy được ánh sáng là mình là người có được phước lành, phước báo, phước đức trong cuộc đời này.
Đôi mắt biết ơn
Trên Linh Quy Pháp Ấn, Minh Thành cho những đứa con quỳ xuống trước cha mẹ và thực tập thiền biết ơn, Minh Thành nói với những đứa con: “Hãy quỳ xuống và nhìn thật kỹ vầng trán của mẹ, con có nhìn thấy những nếp nhăn không? Con hãy nhìn kỹ mái tóc của mẹ, con có nhìn thấy những sợi tóc bạc hay không? Con hãy nhìn kỹ ánh mắt của mẹ con, ánh mắt mờ, tai điếc, lưng còng, gối mỏi, da nhăn, tóc bạc”, thiền quán từng bộ phận trên cơ thể của mẹ, để những đứa con này cảm nhận được ân đức, cảm nhận được nghĩa tình, cảm nhận được sự hi sinh tột cùng của mẹ cha.
Đó là Minh Thành đang mở đôi mắt biết ơn và nhớ ơn của đạo làm người cho những người con đối với cha mẹ. Nếu không có chánh niệm, dù cho có mắt thì chúng ta cũng không nhìn thấy được tình thương của mẹ cha, chúng ta có trái tim nhưng mà không cảm nhận được nghĩa tình ân đức của thân bằng quyến thuộc. Hơn nữa, không chỉ dừng lại ở cha mẹ mà còn ông bà, cô chú, vợ chồng, con cái, anh chị em, biết bao nhiêu những tấm lòng, biết bao nhiêu những tình thương, biết bao nhiêu những nỗi niềm, chăm sóc hi sinh lo lắng, bảo bọc chăm lo cho chúng ta, cả một thế giới biết ơn và nhớ ơn, cảm ơn.
Trong Tăng Chi Bộ Kinh, Thế Tôn dạy: “Này các Tỷ-kheo! này các đệ tử thế nào là một con người thật sự là người, là địa vị của bậc chân nhân, này các đệ tử người thật sự là người có hai đặc tính là người đó biết ơn và nhớ ơn đối với người có ơn”. Nói thì chúng ta nghe rất là dễ nhưng thật sự chúng ta sống trong trái tim biết ơn và nhớ ơn thường luôn mãi mãi thì cần phải thực tập rất nhiều. Bởi vì hai đặc tính này là hai yếu tố để giúp đời sau trở lại làm người, nếu mình không có hai đặc tính biết ơn và nhớ ơn thì Đức Thế Tôn nói đó là người phi chân nhân, tức là không phải một con người thật sự là người. Vậy ai là người có ơn nhất với mình? Chính là cha và mẹ sinh ra mình, người có ơn nhất với mình mà mình không biết ơn không nhớ ơn vậy thì mình nhớ ơn biết ơn được với ai?
Cho nên chúng ta đi tới đây không phải chỉ để ban phát quà cáp cho mọi người, mà điều quan trọng là biết quay trở lại để nhìn chính mình, chính cái đó là mình đem đôi mắt này nhìn mẹ như thế nào nhìn cha như thế nào? Mình đem ánh mắt này nhìn người chồng, người vợ của mình như thế nào? Nhìn người anh, người chị, người cô, người chú, người bác, ông bà, cô chú của mình như thế nào? Để mình không cô phụ đôi mắt quý báu này.
Quý vị có thấy đôi mắt trên gương mặt mình quý báu không? Chúng ta có khi nào lãng quên đôi mắt này không? Có những lúc, ta dùng đôi mắt này để nhìn dọc nhìn ngang với những người ân nghĩa, như vậy là mình đang sống trong lãng quên. Chúng ta phải biết trân trọng đôi mắt này, trân trọng đôi tai này vì có rất nhiều người sinh ra đã đuôi mù, câm điếc, khiếm khuyết. Vậy, tại sao mình có đôi tai mà không nghe bằng cả trái tim đối với những người thân thương nhất?
Đôi mắt hiểu thương
Trong cuộc sống, người thân của mình đôi khi gặp phải chuyện bực bội, sân si, vô cùng đau khổ, những lúc đó, ta phải lắng nghe sâu thẳm từ trong trái tim của họ. Đừng chỉ nghe ở những âm thanh khó chịu ở bên ngoài tai, mà hãy xuyên qua những âm thanh đó để mình nhìn sâu ở bên trong cảm thọ cảm xúc, trái tim của người đó. Để biết rằng họ đang bị thiêu đốt, nóng bức, khổ đau, thế nên mình không thể mang đau khổ đến với những người thân thương thêm nữa. Hãy thương những người đang bực bội, sân si với mình, vì ta hiểu rằng họ đang chịu đau khổ.
Vì vậy, sau chuyến đi này, chúng ta phải tập có cái nhìn khác. Khi thấy những người trong gia đình đang bực bội, căng thẳng, sân si, tức giận, phẫn nộ thì phải thương họ thật nhiều. Chúng ta tập làm từ thiện với họ bằng cách cho đi những cảm giác ngọt ngào, thấu hiểu, bao dung, tha thứ và để những cảm giác đó bao trùm lấy họ. Chúng ta đừng sân hận, tức giận với những người đang tức giận. Nếu mẹ mình đang rất nóng giận mà mình giận lại thì có thông minh không? Mình có hiểu được trái tim của mẹ không? Nhiều khi giận đó nhưng do thương mình nên mới giận. Nhiều khi cha mẹ gọi điện thoại nhiều thì mình cảm thấy bực bội vì cha mẹ cứ gọi hoài, hỏi hoài. Nhưng tới khi mình mất mẹ, mình thèm khát được nghe tiếng điện thoại của mẹ, lúc đó có muốn cũng không được. Chúng ta càng trân quý, trân trọng cuộc sống thì càng phải trân quý, trân trọng những người thân thương nhất của mình.
Quý vị hãy trân trọng từng bước chân của mình, hãy trân trọng những ánh nhìn của mình, hãy trân quý từng lời nói của mình, hãy cẩn thận từng suy nghĩ trong tâm của mình. Mỗi cảm giác sanh khởi phải kiểm soát thật kỹ, đừng để tâm sanh khởi những cảm giác ác bất thiện pháp. Mỗi suy nghĩ sanh khởi phải xử lý, quản lý suy nghĩ của mình. Việc này quan trọng hơn cả quản lý tài sản, quản lý tài sản là cần thiết nhưng có những quản lý còn hơn là quản lý tài sản, có khi tài sản mình có nhưng hạnh phúc mình đổ vỡ. Cho nên mình không những biết quản lý tài sản mà còn phải biết quản lý suy nghĩ, quản lý cảm giác, cảm xúc, quản lý tư tưởng, quản lý thân miệng ý.
Đức Phật nói: “Lành thay bảo vệ mắt, lành thay bảo vệ lỗ tai, lành thay bảo vệ lỗ mũi, lành thay bảo vệ cái miệng, cái lưỡi này, lành thay bảo vệ thân này, lành thay bảo vệ tâm ý, suy nghĩ này, người nào khéo bảo vệ phòng hộ tất cả người đó được hạnh phúc, an lạc chấm dứt khổ đau”.
Lành thay, phòng hộ mắt!
Lành thay, phòng hộ tai.
Lành thay, phòng hộ mũi,
Lành thay, phòng hộ lưỡi.
Lành thay, phòng hộ thân!
Lành thay, phòng hộ lời,
Lành thay, phòng hộ ý.
Lành thay, phòng tất cả.
Tỷ-kheo phòng tất cả.
Thoát được mọi khổ đau.
(Kinh Pháp Cú – Phẩm Tỳ Kheo)
Chúng ta phải quản lý những suy nghĩ, lời nói, hành động, thậm chí quản lý ngay trong từng bước chân của mình, nếu rõ biết tất cả thì mỗi bước chân mình đi cũng có thể trở thành phép màu. Nếu biết mỗi bước chân mình đi là đang đến gần tới lò thiêu, đến nghĩa trang, đến ngục tù thì chúng ta sẽ bước thật nhẹ nhàng, thật là thảnh thơi, bước thật là bình an, đem đến sự thấy biết thương yêu cho tự thân và cho những người ta tiếp xúc. Từng bước chân đi từ nhà đến chùa là từng bánh xe luân chuyển và từng trái tim này lan tỏa sang trái tim kia, từ bàn tay này nâng niu các món quà, từ ánh mắt này nhìn ánh kia với những anh nhìn thiện cảm dành cho người khiếm khuyết, ánh mắt ấy ngọt ngào như sen nở.
Chúng ta phải biết trân trọng đời sống này, cũng một bước chân mà một bước chân thất niệm có thể đưa mình đến những tai nạn và khuyết tật. Có người không chịu tập thể dục ở nhà, mà đi ra ngoài đường lộ lúc 4 giờ sáng, khi trời còn chập choạng sáng tối để tập thể dục và rồi không may xảy ra tai nạn đáng tiếc. Lúc đó người này bị vô minh xâm chiếm, không có chánh niệm, không có tỉnh thức, không biết chỗ nào là chỗ nguy hiểm chỗ nào là chỗ an toàn. Đức Phật dạy nơi nào là nơi không nên làm, xem chỗ đó có phù hợp, thích hợp hay không? Đó là tự mình hủy hoại cuộc sống của mình.
Cũng có đôi chân đi đến đâu là sen nở đến đó, bước đến đâu là hoa nở tới đó tại vì bước chân của mình có tình thương, có sự cảm thông và chia sẻ. Luôn tập cho mình có một đôi mắt thương để nhìn cuộc đời; đừng nhìn đời, nhìn người bằng đôi mắt hung dữ, sân hận, nếu không đời sau mình sẽ rơi vào cảnh tăm tối. Không ai mong muốn bản thân rơi vào hoàn cảnh như vậy, nhưng vì nghiệp quả, vì quả báo của ác nghiệp nên đành phải chấp nhận. Đối với nghiệp, Đức Phật tuyên bố rằng:
“Ta là chủ nhân của nghiệp, là thừa tự của nghiệp, nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa. Phàm nghiệp nào ta sẽ làm thiện hay ác, ta sẽ thừa tự nghiệp ấy”. (Trích Tăng Chi Bộ Kinh II, kinh Sự Kiện Cần Phải Quan Sát)
Nghiệp là sự quyết định, nghiệp là tất cả những gì mình suy nghĩ, nói năng, hành động thì mình phải thừa kế, phải có trách nhiệm gánh lấy hậu quả từ những ngôn ngữ, suy nghĩ, hành động thiện hay bất thiện đó, cho nên nói, mình chính là người thừa kế nghiệp quả.
Không ai tự nhiên sinh ra liền trở thành triệu phú giàu nhất hành tinh, tỷ phú giàu nhất hành tinh; cũng không ai tự nhiên sinh trong gia đình cha mẹ đi ăn xin, tất cả những hoàn cảnh đó là do nghiệp quyết định, nghiệp chính là suy nghĩ, lời nói, hành động mà ta đã tạo tác. Cũng như hôm nay chúng ta đến chùa tu học, đây là thiện nghiệp, là việc thiện lành, tốt lành, an lạc, an vui, an lành, an tịnh, an ổn, an bình, là một quyết định rất thông minh. Có những người làm ra tiền chỉ để cuối tuần, cuối tháng đi nhậu, đi ăn, đi chơi, đi karaoke, đi vũ trường, đi bánh bạc… rồi đôi lúc lại xảy ra những tai nạn chết hàng chục người trong những cuộc vui đó. Mặc dù người ta đi làm thì người ta có quyền hưởng thụ, đó là điều bình thường nhưng những ai biết đem mồ hôi công sức của mình để làm những việc tăng trưởng thêm phước đức, trí tuệ thì vô cùng tuyệt vời.
Chúng ta cũng phải khéo léo tác động tâm ý để khi làm thiện mình có được nhiều niềm vui; đồng thời cũng phải có những mối lo cho những điều bất thiện. Trong sự tu học, có hai cảm thọ có công năng phá cảm thọ si. Cảm thọ thứ nhất là cảm thọ hỷ, đây là cảm thọ vui sướng, hạnh phúc, hoan hỷ khi được làm từ thiện, làm những điều phước báu, công đức. cảm thọ thứ hai là cảm thọ ưu, đây là cảm thọ lo lắng sợ hãi đối với ác và bất thiện pháp, nếu tu mà không có cảm thọ này thì mình không có sự tăng thượng, hướng thượng và không phát triển được, cho nên, cảm thọ phải vô cùng lo lắng đối với những ác và bất thiện pháp của người và của chính mình. Khi nhìn thấy họ đau khổ thì phải phản chiếu lại tự thân, soi rọi lại bản thân mình.
Bài kinh “Mù Lòa”
Có nhiều bài kinh Đức Phật dạy cho chúng ta về con mắt. Nhờ có cơ hội nghe được những bài kinh gốc trong tạng kinh Nikāya mà chúng ta được sanh khởi lên rất nhiều thiện pháp. Đức Phật chia ra có loại ba loại người: người mù, người mù một mắt và người hai mắt sáng. Trong bài kinh Mù Lòa – Tăng Chi Bộ Kinh I – Tr229, Đức Phật có dạy:
- Ba hạng người này, này các Tỷ-kheo, có mặt, xuất hiện ở đời. Thế nào là ba?
Người mù,
Người một mắt,
Người có hai mắt.
Người mù
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là người mù?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người không có mắt để có thể với mắt như vậy, thâu hoạch được tài sản chưa được thâu hoạch hay làm cho tăng trưởng tài sản đã được thâu hoạch; không có mắt để có thể với mắt như vậy, biết được pháp thiện và pháp bất thiện, có tội và không tội, pháp liệt và thắng, pháp thuộc thành phần đen và trắng.
Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hạng người mù.
Đức Phật nói, hạng người mù là người không có cả con mắt vật lý, tức là những người khiếm thị và cũng không có cả con mắt trong tâm. Vật chất lẫn tinh thần họ đều không thấy được; những người này không thể phân biệt được đâu là thiện đâu là bất thiện, đâu là có tội đâu là có phước, đâu là thấp kém đâu là cao thượng, đâu là đen đâu là trắng, đâu là lành đâu là dữ. Đức Phật cho rằng, những người này dù có mắt nhưng vẫn là mù và hiện này có rất nhiều người như vậy.
Đức Phật có rất nhiều ví dụ đặc biệt, Ngài đưa lên một cọng cỏ nhúng xuống biển sau đó Ngài đưa lên chỉ còn mấy giọt nước đọng lại trên cọng cỏ, Ngài hỏi các vị Tỷ-kheo: “Này các vị nước ở trong đại dương này so với mấy giọt nước còn đọng trong cọng cỏ cái nào là nhiều hơn? Các thầy mới nói, nước ở trong đại dương là vô lượng, vô số, vô biên không thể so sánh, không thể ví dụ, không thể tính kể, so với mấy giọt nước đọng trên cọng cỏ. Đức Phật nói cũng vậy, này các Đệ tử con người sau khi chết trở lại làm người ít như giọt nước đọng trên cọng cỏ. Sau khi ở cõi người rớt xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh nhiều giống như nước đại dương”. Ngày xưa Minh Thành mới học cũng thắc mắc sao lại như vậy nhưng bây giờ chúng ta thấy người ác nhiều, sân si nhiều, tham lam, gian dối, xảo trá, và những con người có những trạng thái này thì rớt xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh rất nhiều.
Đức Phật ví dụ trong kinh Nikāya rất nhiều hình ảnh, do nghiệp quả mà từ ở trên lầu cao rồi xuống tới kiệu, rồi xuống tới voi, xuống tới ngựa, xuống dưới đất sau cùng xuống dưới vực. Từ trên lầu cao mà xuống tới vực sâu. Vì vậy, căn bản làm người hết sức quan trọng về thiện và bất thiện, tội và phước, lành và dữ, đen và trắng. Không thấy được điều đó thì Đức Phật nói là mù lòa.
Người Có Một Mắt
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người có một mắt?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người có mắt để có thể với mắt như vậy, thâu hoạch được tài sản chưa được thâu hoạch hay làm cho tăng trưởng tài sản đã được thâu hoạch; nhưng không có mắt để có thể với mắt như vậy, biết được pháp thiện và pháp bất thiện, có tội và không tội, pháp liệt và thắng, pháp thuộc thành phần đen và trắng. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hạng người có một mắt.
Người có một mắt mà Đức Phật nói tức là người có mắt vật chất không bị mù, nhưng con mắt tâm không có, cho nên gọi là có một mắt. Biết làm ra tiền mà không biết tu hành phước thiện, phước báo, công đức mà cứ lo nhặt vào, nhặt vào cuối cùng là được một đống tro tàn cùng với ác nghiệp đem theo. Cứ lo giành giành, giật giật, cấu xé với nhau cuối cùng dành được một miếng đất bề ngang một thước, bề dài hai thước, cả một cuộc đời cứ tranh giành cuối cùng thì được gì? Đức Phật gọi những người như vậy là chột mắt, chỉ có một con mắt thôi tức là mắt sáng nhưng tâm thì không biết thiện ác, tội phước, đen trắng.
Người Có Hai Mắt
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người có hai mắt?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người có mắt để có thể với mắt như vậy, thâu hoạch được tài sản chưa được thâu hoạch hay làm cho tăng trưởng tài sản đã được thâu hoạch; và có mắt để có thể với mắt như vậy, biết được pháp thiện và pháp bất thiện, có tội và không tội, pháp liệt và thắng, pháp thuộc thành phần đen và trắng. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hạng người có hai mắt.
(Tăng Chi Bộ Kinh I, Chương Ba Pháp, III. Phẩm Người, bài kinh Mù Lòa)
Người có hai mắt, người này chẳng những có hai con mắt vật chất mà còn sáng con mắt tâm, con mắt trí tuệ. Vừa biết tạo dựng của cải, tài sản, vừa biết thiện nghiệp quả, tội phước, thiện ác.
Đại pháp nhãn
Đi sâu hơn nữa là con mắt của Thánh trí tuệ, Đức Phật được gọi là Đại Pháp Nhãn, sự xuất hiện của Đức Phật được gọi là sự xuất hiện của con mắt lớn của trời và người.
Một người, này các Tỷ-kheo, khi xuất hiện ở đời, sự xuất hiện đem lại hạnh phúc cho đa số, an lạc cho đa số, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người. Một người ấy là ai? Chính là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Chính một người này, này các Tỷ- kheo, khi xuất hiện ở đời, sự xuất hiện đem lại hạnh phúc cho đa số, an lạc cho đa số, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người.
Sự xuất hiện của một người, này các Tỷ-kheo, là sự xuất hiện của mắt lớn, là sự xuất hiện của đại quang, là sự xuất hiện của đại-minh, là sự xuất hiện của sáu vô thượng, là sự chứng ngộ bốn vô ngại giải, là sự thông đạt của nhiều giới, là sự thông đạt của các giới sai biệt, là sự chứng ngộ của minh và giải thoát, là sự chứng ngộ quả Dự Lưu, là sự chứng ngộ quả Nhất Lai, là sự chứng ngộ quả Bất Lai, là sự chứng ngộ quả A-la-hán. Của một người ấy là ai? Chính là Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Sự xuất hiện của một người này, này các Tỷ-kheo, là sự xuất hiện của mắt lớn, là sự xuất hiện của đại quang... là sự chứng ngộ quả A-la-hán.
(Tăng Chi Bộ Kinh I, Chương Một Pháp, XIII. Phẩm Một Người, bài kinh Như Lai)
Như vậy con mắt sau cùng là con mắt lớn là chỉ cho bậc Đại Giác Thế Tôn. Trong kinh Nikāya Đức Phật nói tất cả chúng sanh đều là mù lòa, không thấy được sự thật Khổ Thánh Đế. Vì vô minh, vì tham sân si, bản ngã làm cho mình khổ đau. Không vì một điều gì khác bên ngoài làm mình khổ, mà chính những cảm giác ham muốn, nóng giận, hơn thua của mình làm cho mình khổ đau. Đức Phật là người duy nhất mở con mắt cho chúng sanh và chư Tăng là người từ giã cuộc đời thế gian để đi theo đạo lộ của bậc Thánh, giáo pháp chính là thần dược, diệu dược là thánh dược, là pháp dược, là Phật dược để trị con mắt mù lòa của chúng ta được sáng lên, được tỏa lên, được rõ lên. Sáng con mắt ra để nhìn rõ sự thật đau khổ của cuộc đời này, tất cả đều do tham, sân, si, vô minh, bản ngã.
Sự tu hành của mình phải đi đến rốt ráo, cứu cánh thì mới thoát khỏi khổ đau, giải thoát biển sanh tử. Điều cốt lõi nhất là phải luôn luôn nhìn lại cảm giác để nhiếp phục tham, sân, si, bản ngã, hơn thua cái này là quyết định tất cả trong sự tu học của mình. Phải thường xuyên nhìn lại nội tâm của mình, luôn luôn quan sát cảm thọ cảm giác, cảm xúc của mình, chính là mình có con mắt thần, có con mắt đạo, có con mắt pháp, có con mắt trí, có con mắt tuệ, có con mắt Phật ở trong tâm. Phải luôn luôn nhìn cuộc đời này bằng con mắt trí tuệ, phải nhìn thấy thật sâu sắc nỗi khổ của mình và những nỗi khổ của người thân đang bị thiêu đốt.
Mỗi người một nỗi khổ
Mỗi loài một niềm đau
Xin cùng nhau thấu hiểu
Những nỗi khổ trong nhau.
Thiền Quán Đức Thế Tôn ơi!
Con dập đầu cúi lạy
Bậc tôn kính nhất đời
Tâm hoàn toàn thanh tịnh
Diệt tận tham sân si
Bậc giác ngộ hoàn toàn
Thân tâm là thế giới
Phật thích ca mâu ni
Đức Thế Tôn ơi! Hôm nay con biết rồi, hôm nay con hiểu rồi, lời dạy đầy tình thương của Ngài, con hứa với Ngài từ hôm nay về sau con sẽ là người nhớ ơn và biết ơn, con sẽ là người con hiền, cháu thảo, con sẽ cẩn thận đối với nhân quả, con sẽ lánh dữ làm lành, sẽ bỏ nghiệp đen và làm nghiệp trắng, con sẽ từ bỏ bóng tối của vô minh, hướng đến ánh sáng của trí tuệ, con sẽ sống trong lòng biết ơn, lòng nhớ ơn, lòng báo ơn, lòng đền ơn. Con nguyện sống tâm hiền từ, hiền hậu, hiền lương, hiền hòa, hiền nhân, hiền đức, hiền trí, con sẽ đi theo gương hạnh của các bậc Hiền Thánh.
Đức Thế Tôn ơi! Chúng con đã trở về dưới chân Ngài, chúng con đã trở về dưới ánh sáng của Ngài. Đức Thế Tôn ơi! Chúng con thật là biết ơn Ngài vô hạn, Ngài đã mở con mắt mù lòa trong vô lượng, vô biên kiếp cho chúng con, nếu không có Ngài ra đời chúng con sẽ bị đắm chìm trong biển cả của tham, sân, si. Chúng con bị bao phủ trong bóng tối vô minh, si ám. Chúng con quằn quại của những ngọn lửa sân hận, tức giận, bực bội, hận thù. Nếu không có Ngài thì chúng con sống trong một cái tâm hơn thua, bản ngã tôi, ta, khen mình chê người, cống cao ngã mạn. Nếu không có Ngài làm sao chúng con biết được giáo pháp ly tham thần diệu này, nếu không có Đức Thế Tôn làm sao con khai mở cảm thọ của từ tâm, hiền hòa vô hạn này, nếu không có Đức Thế Tôn làm sao con học được đức hạnh khiêm cung, thiên hạ, khiêm nhường, khiêm hòa, khiêm tốn này. Chúng con giờ phút này xin dâng cả trái tim và tất cả tấm lòng biết ơn vô hạn xin dập đầu cúi lạy bậc Thiên Nhân Sư.
Đức Thế Tôn ơi! Chúng con đã trở về, chúng con đang tắm mình trong cơn mưa cam lộ pháp nhũ, từng giọt mưa bên ngoài cũng như từng giọt cam lồ pháp nhũ mà Ngài đã rưới vào tim con, Ngài đã quán đảnh rưới lên đầu của con, giờ phút này con thật là dào dạt, thật là thấm đẫm, thấm nhuần từ đỉnh tóc cho đến gót chân con tràn ngập từng huyết quản, từng hơi thở, từng làn da, thớ thịt thấm vào xương tủy của con là một tình thương dào dạt vô tận, chúng con giờ này hạnh phúc quá Đức Thế Tôn ơi! Thật là bình an, thật là an lành, an lạc, thật là an ổn nhiệm màu khó tả, con đã xuyên không trở về Trúc Lâm Tinh Xá, con đã xuyên không trở về Kỳ Viên, con đã trở về Linh Thứu, vượt qua 2.600 năm mà giờ này Linh Sơn như tại phảng phất đâu đây là hình bóng của bậc Đại GiáC Chánh Biến Tri, Vô Thượng Sĩ và các bậc Thánh, chúng con như đang ngược dòng thời gian vượt 26 thế kỷ trở về cùng tham dự Linh Sơn pháp hội, trái tim con đang dào dạt thấm đẫm, cảm giác từ, bi, hỷ, xả vô lượng, vô biên này, thật là hạnh phúc dạt dào, thật là ngọt ngào, thật là dễ chịu, giây phút này là giây phút thần thánh, giây phút thiêng liêng nhất của cuộc đời con, giây phút tối thượng hiếm có khó gặp, hi hữu trong dòng luân hồi vô lượng vô biên kiếp này, con hạnh phúc lắm Thế Tôn ơi! Con đang hạnh phúc lắm, con xin cúi lạy dưới chân người.
Đức Thế Tôn ơi! Giờ này hơi thở của con như đang hòa nhịp cùng với các bậc Hiền Thánh, giờ này tim con đang nhịp đập cùng với các Tôn giả Ananda, Ma-Ha-Ca-Diếp, Mục-Kiền-Liên…không gian này tương thông, tương cảm với Linh Sơn thắng hội. Cảm giác này thật là linh thiêng, thật là ngọt ngào, thật là dễ chịu làm sao, con như đang tắm mình trong dòng suối thanh lương Pháp bảo tối thượng. Con nguyện với Ngài từ nay về sau con sẽ luôn luôn nhìn lại cảm xúc của mình, con thật sự hứa với Ngài, con thật sự phát nguyện trước Tam Bảo mỗi hơi thở, mỗi lời nói, mỗi hành động, mỗi lời nói của con sẽ được con giám sát, quán sát, quan sát thật là kỹ. Con nguyện từ nay về sau sẽ an trú trong cảm giác hiền thiện, hiền lành này, con yêu tâm hiền, con kính tâm hiền này, con thương tâm hiền này, con quý con hiền này, con đội trên đầu tâm hiền thiện lành, con lấy tâm hiền làm bàn thờ của con, con nguyện trong tim con có một bàn thờ đó là bàn thờ của tâm hiền thiện, ngọt ngào, dễ chịu và an yên.
Đức Thế Tôn ơi! Con đã rất gần với Ngài, con như xúc chạm vào Kim thân, Thánh đức của Ngài, trái tim con đang trào dâng lên những cảm xúc dạt dào, hạnh phúc này, tình thương này, con nguyện làm cho sinh khởi, tăng trưởng, phát triển, quảng đại. Con nguyện từ đây về sau sẽ luôn sống với tâm từ, tâm thương rộng lớn, lan tỏa. Con không làm khổ cho mình và không làm khổ cho những người thân thương nhất của cuộc đời mình. Con sẽ đem cảm giác thấu hiểu và thương yêu này lan tỏa đến cùng gia đình, xã hội và vạn loại chúng sanh.
Đáp từ
Đạo tràng chùa Bửu Thành:
Hôm nay thật hội đủ duyên lành chúng con cảm thấy hạnh phúc vô cùng, Bổn Tự chùa Bửu Thành nói chung và đạo tràng hỏi Bông Sen nói riêng được đón tiếp bước chân an lạc của Thượng Tọa Viện Chủ chùa Bửu Liên và trụ trì Linh Quy Pháp Ấn. Ngài đã không ngại đường xá xa xôi vượt hàng trăm cây số làm hướng đầu sơn cho hội Bông Sen làm thiện nguyện của người con Phật. Hôm nay tại đạo tràng chùa Bửu Thành, Thượng Tọa Giảng Sư có đôi lời pháp thoại đã trải lòng của người con Phật đối với thế giới, thiên nhiên bao la và chúng con kính nghe Đức Phật nói làm thân người là khó được gặp Phật pháp lại càng khó hơn, đặc biệt được sinh ra thân người lục căn đầy đủ, Thượng Tọa đã nói lên đầy đủ ý nghĩa của đôi mắt, trí tuệ của đạo Phật, vì đôi mắt là cửa sổ của tâm hồn chúng ta có đôi mắt trí tuệ, có đôi mắt này chúng ta mới nhìn thấy được tinh thần thương yêu nhân loại, thương những người có nỗi niềm khó khăn và đau khổ xung quanh chúng ta.
Hôm nay thật là hạnh phúc vô biên, chúng con không biết nói gì hơn xin được thay lời Bổn tự Bửu Thành cũng như quý nam nữ Phật tử trong hội Bông Sen xin nguyện hồng ân Tam Bảo gia hộ cho Thượng Tọa Giảng Sư đạo thọ được tăng trưởng, thế thọ được viên trường, mãi mãi là bóng cây đại thọ, là bức tường vững chắc cho hàng Phật tử chúng con được nương tựa tu nhân học đạo. Cũng nhân đây chúng tôi xin thay lời Bổn tự cảm niệm công thức toàn thể nam nữ Phật tử trong hội Bông Sen đã thực hiện chuyến hành hương thiện nguyện ngày hôm nay thật nhiều ý nghĩa này và chùa Bửu Thành cũng rất hoan hỷ khi được đón tiếp quý vị. Mong rằng trong thời gian sắp tới đây nếu đủ duyên quý vị sẽ trở về cộng tu cùng với Bổn tự chúng tôi.
Cuối cùng thay lời Bổn tự xin cảm niệm công đức toàn thể quý vị rất nhiều chúc cho quý vị thân khỏe, tâm an, mãi mãi là cánh hoa tươi thắm để vun bồi ngôi nhà Phật pháp ngày càng phát triển và hưng thịnh.
Sư Phụ
Minh Thành xin thay mặt cho toàn thể nam nữ Phật tử trong hội Bông Sen gửi lời cảm ơn với tấm lòng linh sơn cốt nhục quyến thuộc Bồ đề với tâm từ lan tỏa rộng lớn Phật môn quảng đại của Thầy trụ trì và chư Phật tử tại Bổn tự đã tiếp đón rất là chu đáo, từ miếng ăn, giấc ngủ để cho chúng con có được ngày tu học, thiện nguyện viên mãn. Chúng con xin cầu nguyện Tam Bảo gia hộ cho Thượng tọa trụ trì phước trí nhị nghiêm, thành tựu cứu cánh phạm hạnh của người xuất gia. Cầu nguyện cho tất cả quý Phật tử ở tại Bổn tự phước huệ song tu, thành tựu lòng tin bất động đối với Đức Phật, đối với Chánh Pháp, Chúng Tăng và Thánh Giới.
Nguyện đem công đức này lan tỏa cùng khắp chư Thiên, chư Thần tất cả chư vị ở tại nơi này hữu hình và vô hình tất cả đều được thấm nhuần ân đức tối thượng của Chánh Pháp đều được lợi lạc.