Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Làm An Tâm Người Bệnh 1

2026-03-03 00:53:18
KINH NIKĀYA GIẢNG GIẢI

LÀM AN TÂM NGƯỜI BỆNH 1

–Thích Minh Thành–

Kính bạch chư Tăng Ni và tất cả quý Phật tử, chủ đề hôm nay chúng ta chia sẻ là làm an tâm tất cả người bệnh, trong thời điểm này thì những lời dạy này là bảo bối, là châu ngọc. Qua bài kinh này chúng ta sẽ thấy tướng quân chánh pháp là ngài Xá-lợi-phất làm cho ông Cấp-cô độc đang bị bệnh an tâm và hết bệnh, ngồi dậy dọn cơm cúng dường cho các vị Thánh Tăng, tựa đề đầy đủ là "Làm an tâm người bệnh bằng bốn Dự Lưu phần", làm cho người bệnh an tâm bằng lòng tin kiên định vững chắc về Phật, Pháp, Tăng và Giới. Chúng ta sẽ thấy sự khéo léo, tuyệt diệu của tôn giả Xá-lợi-phất trình bày mười phương diện của bốn Dự Lưu phần, Đức Phật đã khen ngài Xá-lợi-phất là đại tuệ, đại trí, hiền minh.

"Nhân duyên ở Sàvatthi.

Lúc bấy giờ, gia chủ Anàthapindika đang bị bệnh, đau đớn, bị trọng bệnh.

Rồi gia chủ Anàthapindika bảo một người:

-- Hãy đến, này Bạn. Hãy đi đến Tôn giả Sàriputta; sau khi đến nhân danh ta, cúi đầu đảnh lễ chân Tôn giả Sàriputta và thưa: 'Gia chủ Anàthapindika, thưa Tôn giả, bị bệnh, đau đớn, bị trọng bệnh, cúi đầu đảnh lễ chân Tôn giả Sàriputta'; và thưa: 'Lành thay, thưa Tôn giả, nếu Tôn giả Sàriputta đi đến trú xứ của gia chủ Anàthapindika vì lòng từ mẫn!'

-- Thưa vâng, Gia chủ.

Người ấy, vâng đáp gia chủ Anàthapindika, đi đến Tôn giả Sàriputta; sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Sàriputta rồi ngồi xuống một bên.

Ngồi một bên, người ấy thưa với Tôn giả Sàriputta:

-- Gia chủ Anàthapindika, thưa Tôn giả, bị bệnh, đau đớn, bị trọng bệnh, xin cúi đầu đảnh lễ chân Tôn giả Sàriputta, gia chủ thưa: 'Lành thay, thưa Tôn giả, nếu Tôn giả Sàriputta đi đến trú xứ của gia chủ Anàthapindika vì lòng từ mẫn!'

Tôn giả Sàriputta im lặng nhận lời.

Rồi Tôn giả Sàriputta, vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát với Tôn giả Ananda là Sa-môn tùy tùng, đi đến trú xứ của gia chủ Anàthapindika; sau khi đến, ngồi xuống chỗ đã soạn sẵn. Ngồi xuống, Tôn giả Sàriputta nói với gia chủ Anàthapindika:

-- Này Gia chủ, Gia chủ có kham nhẫn nổi không? Gia chủ có chịu đựng nổi không? Có phải khổ thọ giảm thiểu, không có tăng trưởng? Có phải có dấu hiệu giảm thiểu, không có tăng trưởng?

-- Thưa Tôn giả, con không thể kham nhẫn. Con không thể chịu đựng. Kịch liệt là khổ thọ nơi con. Chúng tăng trưởng, không có giảm thiểu. Có dấu hiệu chúng tăng trưởng, không giảm thiểu". (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương XI. Tương Ưng Dự Lưu (b), III. Phẩm Saranàni, VI. Ác Giới, hay Anàthapindika (1))

Tất cả đoạn sau này đều nhằm tán thán thiện pháp, phải học nhiều kinh rồi mới thấy cách tác ý của các bậc Thánh Tăng để khi mình gặp chuyện mới biết cách tác ý, đây là cách tác ý hoan hỉ đối với các thiện pháp của mình làm nên mình sẽ vui.

"-- Vì rằng kẻ vô văn phàm phu, này Gia chủ, thành tựu lòng bất tín đối với Phật, nên sau khi thân hoại mạng chung, bị sanh vào ác sanh, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Nhưng Gia chủ không có lòng bất tín đối với Phật. Trái lại, Gia chủ thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với Phật: 'Ðây là bậc Ứng Cúng... Phật, Thế Tôn'. Nếu Gia chủ tự thấy lòng tịnh tín bất động của Gia chủ đối với đức Phật, thời lập tức các cảm thọ của Gia chủ được an tịnh". (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương XI. Tương Ưng Dự Lưu (b), III. Phẩm Saranàni, VI. Ác Giới, hay Anàthapindika (1))

Những phàm phu không có lòng tin đối với tam bảo nên khi chết đi sẽ sanh vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, còn ông Cấp-cô-độc có lòng tin kiên cố, vững chắc như cột trụ bằng đá chôn sâu xuống đất. "Nếu Gia chủ tự thấy lòng tịnh tín bất động của Gia chủ đối với đức Phật, thời lập tức các cảm thọ của Gia chủ được an tịnh", đây là lời nói có thật của một bậc Thánh Tăng. Người ta không tin Phật thì chết đi đọa vào ba đường ác, còn ông Cấp-cô-độc chẳng những tin Phật mà còn làm biết bao việc tốt như bố thí, cúng dường, nghe pháp, làm các việc công đức cho nên ông hãy an tâm, ngài Xá-lợi-phất nói ông Cấp-cô-độc tự thấy mình có lòng tin bất động với Phật thì các cảm thọ đau đớn, nhức nhối, thống khổ của bệnh tật sẽ an tịnh, "tự thấy" nghĩa là ngài Xá-lợi-phất kêu ngài Cấp-cô-độc quay ngược lại để nhìn lại những thiện pháp đã làm, đó chính là quán chiếu, là tác ý. Một mình Minh Thành trong thất đi thiền hành rồi cười một mình vì thấy hạnh phúc mỗi khi niệm Phật nhưng Minh Thành không niệm Phật giống mọi người là "Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật".

"Một người, này các Tỳ-kheo, khi xuất hiện ở đời, đem lại hạnh phúc và an lạc cho số đông, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài người. Một người ấy là ai? Chính là Thế Tôn, bậc A la hán, Chánh đẳng giác. Chính một người này, này các Tỳ-kheo, khi xuất hiện ở đời, sự xuất hiện đem lại hạnh phúc cho đa số, an lạc cho đa số, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người.

Sự xuất hiện của một người, này các Tỳ-kheo, khó gặp được ở đời. Của người nào ? Của Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Sự xuất hiện của một người này, này các Tỳ-kheo, khó gặp được ở đời". (Tăng Chi Bộ, Chương I - Một Pháp, XIII. Phẩm Một Người, Như Lai)

Minh Thành sẽ niệm như vậy, làm cho toàn thân sung sướng, hỷ lạc trào dâng, đó chính là niệm Phật. Khi cư sĩ Cấp-cô-độc nhớ lại những câu kinh này thì ngài quá hạnh phúc, an lạc làm cho những cảm thọ bệnh hoạn, đau khổ lắng dịu xuống, niệm Phật của kinh Nikāya là như vậy đó.

"Một người, này các Tỳ-kheo, khi xuất hiện ở đời, là xuất hiện một người vi diệu. Một người ấy là ai? Chính là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Chính một người này, này các Tỳ-kheo, khi xuất hiện ở đời là xuất hiện một người vi diệu". (Tăng Chi Bộ, Chương I - Một Pháp, XIII. Phẩm Một Người, Như Lai)

Đó là sự xuất hiện vi diệu, tối tôn, tối thượng, tối cao, cùng tột. Người ấy chính là Thế Tôn, Đức Như Lai, bậc tối tôn tối thượng giữa chư thiên và loài người, bậc chứng ngộ thấy biết tận cùng triệt để tất cả phương diện, khía cạnh, góc độ về thân tâm thế giới của ngũ uẩn, sự xuất hiện của người đó ở đời là sự xuất hiện của người màu nhiệm, tối thắng, tối thượng.

"Một người, này các Tỳ-kheo, khi xuất hiện ở đời là xuất hiện một người, không hai, không có đồng bạn, không có so sánh, không có tương trợ, không có đối phần, không có người ngang hàng, không có ngang bằng, không có đặt ngang bằng, bậc Tối thượng giữa các loài hai chân. Một người ấy là ai? Chính là Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Một người này, khi xuất hiện ở đời, là xuất hiện một người, không hai, không có đồng bạn, không có so sánh, không có tương trợ, không có đối phần, không có người ngang hàng, không có ngang bằng, không có đặt ngang bằng, bậc Tối thượng giữa các loài hai chân.

Sự xuất hiện của một người, này các Tỳ-kheo, là sự xuất hiện của mắt lớn, là sự xuất hiện của đại quang, là sự xuất hiện của đại minh, là sự xuất hiện của sáu vô thượng, là sự chứng ngộ bốn vô ngại giải, là sự thông đạt của nhiều giới, là sự thông đạt của các giới sai biệt, là sự chứng ngộ của minh và giải thoát, là sự chứng ngộ quả Dự Lưu, là sự chứng ngộ quả Nhất Lai, là sự chứng ngộ quả Bất Lai, là chứng ngộ quả A-la-hán. Của một người ấy là ai? Chính là Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Sự xuất hiện của một người này, này các Tỳ-kheo, là sự xuất hiện của mắt lớn, là sự xuất hiện của đại quang... là sự chứng ngộ quả A-la-hán". (Tăng Chi Bộ, Chương I - Một Pháp, XIII. Phẩm Một Người, Như Lai)

Sự xuất hiện của người này là sự xuất hiện của mắt lớn, của hào quang lớn, của bốn đôi tám chúng hiền Thánh trên thế gian này.

"Ta không thấy một người nào khác, này các Tỳ-kheo, có thể chơn chánh chuyển vận Vô thượng Pháp luân do Như Lai chuyển vận, này các Tỳ-kheo, như Xá-lợi-phất. Xá-lợi-phất, này các Tỳ-kheo, chơn chánh chuyển vận Vô thượng Pháp luân do Thế Tôn chuyển vận". (Tăng Chi Bộ, Chương I - Một Pháp, XIII. Phẩm Một Người, Như Lai)

Như vậy mới là niệm Phật của kinh Nikāya, vì thế bốn Dự lưu phần này không phải chuyện đơn giản, tu cho đến chết để thành tựu bốn Dự lưu phần này. Bốn Dự lưu phần là bốn phần để Nhập lưu, nhập vào dòng trí huệ của bậc Thánh cho nên phải tụng để ghi nhớ trí đức Như Lai. Khi nhớ về Đức Thế Tôn là nhớ về:

Bậc trí tuệ rộng lớn

Bậc trí tuệ viên thông

Trí tuệ đạt tối thượng

Trí tuệ đạt tột cùng

Không có gì thiếu sót,

Không có người cao hơn.

Vì vậy, Ngài được gọi

Là Bậc Vô Thượng Sĩ,

Bậc Trí tuệ Vô Thượng,

Bậc Trí tuệ Tối thượng,

Con thật kính phục Ngài,

Con thật kính ngưỡng Ngài

Con xin quy phục Ngài,

Con xin đảnh lễ Ngài.

(Nghi thức tu học Nikāya – Đảnh lễ trí đức Như Lai)

Trong kinh nói đến mười danh hiệu của Phật nhưng ở đây mình chỉ nói đến một danh hiệu là bậc Vô Thượng Sĩ và khi mình nhớ nghĩ như vậy thì tâm mình sẽ an, thân sẽ lạc, bớt lo lắng, sợ hãi, bớt khổ đau. Niềm hạnh phúc là có lòng tin không dao động đối với vị đó.

"Khó thay, được làm người,

Khó thay, được sống còn,

Khó thay, nghe diệu pháp,

Khó thay, Phật ra đời!"

(Kinh Pháp Cú 14 – Phẩm Phật Đà, kệ 182)

Ngài Xá-lợi-phất nói với ông Cấp-cô-độc nếu ông tự thấy mình có lòng tin bất động đối với Phật thì lập tức các cảm thọ của ông sẽ được an tịnh, ông Cấp-cô-độc nghe câu này là tâm ông được an tịnh, lắng dịu, dễ chịu.

"Vì rằng kẻ vô văn phàm phu, này Gia chủ, thành tựu lòng bất tín đối với Pháp, nên sau khi thân hoại mạng chung, bị sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Nhưng Gia chủ không có lòng bất tín đối với Pháp. Trái lại, Gia chủ thành tựu tịnh tín bất động đối với Pháp: 'Pháp được Thế Tôn khéo thuyết... tự mình giác hiểu'. Nếu Gia chủ tự mình thấy lòng tịnh tín bất động đối với Pháp, thời lập tức các cảm thọ của Gia chủ được an tịnh". (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương XI. Tương Ưng Dự Lưu (b), III. Phẩm Saranàni, VI. Ác Giới, hay Anàthapindika (1))

Pháp của Thế Tôn rất thực tế, nhìn vào cảm giác có tham thì biết có tham, có sân thì biết có sân, có si thì biết có si, có bản ngã thì biết có bản ngã, khi mình nhiếp phục được nó nghĩa là pháp có hiệu quả tức thời. Khi đang giận thì biết rõ có cảm thọ sân giận, tức giận, mình nhiếp phục được cảm thọ giận đó thì ngay đó có hiệu quả tức thời, thiết thực hiện tại, đến để mà thấy, không có trải qua thời gian, có khả năng hướng thượng, đưa mình lên cao, người trí sẽ tự mình biết điều đó. Người nào không tin pháp khi chết sẽ rơi vào ba đường ác, trái lại cư sĩ Cấp-cô-độc không những tin pháp mà còn có lòng tin bất động thì lập tức tâm của ông Cấp-cô-độc được an tịnh. Bậc tướng quân chánh pháp Xá-lợi-phất giống như đang đem đèn sáng vào trong bóng tối, chỉ đường cho người lạc hướng, giống như thần dược cứu khổ những bệnh nhân có lòng tin tuyệt đối với pháp. Cái pháp thâm sâu, thần thánh, vi diệu như vậy mà mình được nghe, được học, được tu, có lòng tin vững chắc không dao động thì phải hoan hỉ, vui mừng, khi đang có cảm thọ đau bệnh sẽ quên hết mọi thứ, bây giờ được bậc Thánh Tăng nhắc lại nên mình nhớ từ đó mình có cảm thọ hỷ lạc, vui mừng và cảm thọ hỷ lạc này sẽ thay thế cho cảm thọ đau đớn, khó chịu của bệnh tật. Chính vì thế không phải ngài Xá-lợi-phất ban cho ông Cấp-cô-độc sự an lạc mà chính trong tự thân ông Cấp-cô-độc đã có sẵn, khi ngài Xá-lợi-phất hộ niệm nghĩa là nhắc lại thì ông cư sĩ sẽ nhớ ra ngay. Nhân quả ở ngay đây, nhìn thấy giống như đang cho nhưng thực tế là không cho, không cho nhưng có cho. Tại sao lại như vậy? Vì tự thân ông Cấp-cô-độc đã có sẵn trong người nên sự an lạc này không phải của ngài Xá-lợi-phất đem lại cho ông cư sĩ này, chỉ cần ông Cấp-cô-độc thấy ngài Xá-lợi-phất có tướng hảo quang minh, phong thái thiền định, có trí tuệ, đức hạnh, có tâm bình an thì ông cư sĩ này đã thấy an lòng, sau đó ngài Xá-lợi-phất còn nhắc lại bốn Dự lưu phần mà ông cư sĩ đã thành tựu thì lúc đó làm cho thiện pháp đó rực sáng trong tâm ông. Chúng ta phải có sự tu tập, đến khi mạng chung được nhắc lại thiện pháp thì lúc đó sẽ tự có lòng tin bất động đối với Phật, pháp, Tăng và giới. Còn một người không giữ giới, sát sanh, tà dâm, trộm cắp, nói dối, lừa gạt mà lúc chuẩn bị ra đi, mình lại nói họ thành tựu giới thanh tịnh thì làm sao họ biết được, làm sao họ vui được, phải là một người có tu tập giới thì khi được nhắc lại mới nhớ ra những giới họ giữ gìn được, họ đã làm được những việc thiện thì có hai trường hợp xảy ra, thứ nhất nếu nghiệp chưa hết họ sẽ khỏe lại, thứ hai nghiệp đã hết thì họ sẽ ra đi trong hoan hỉ đối với thiện pháp họ đã làm. Cho nên tất cả đều từ nơi tự thân tu được những thiện pháp nào chứ người khác không cho được, họ chỉ nhắc nhở, khơi gợi lại, chỉ cho mình hướng tác ý còn tất cả phải có sẵn trong tâm mình mới được. Nếu được những vị cao Tăng, Thánh Tăng, những vị có chánh kiến, giới đức đến hộ niệm sẽ rất dễ giúp cho mình tác ý, nhưng không phải cầu là muốn được, phải đủ nhân đủ duyên và đủ phước mới được, cho nên vấn đề là "cầu chư nhân bất như cầu chư kỷ", nghĩa là cầu xin ở nơi người không bằng cầu xin chính mình. Bây giờ mình chọn cái nào trong việc ở nhà có sẵn đồ để dùng hay thiếu đồ phải chạy qua xin hàng xóm? Mình muốn trong túi có sẵn tiền muốn là mua hay phải chạy đi mượn tiền mới mua được đồ? Không tu mà cứ muốn được giải thoát, phải tu học để có sẵn vốn khi hữu sự lấy ra dùng, chứ để đến khi có chuyện lại chạy đi mượn thì ai cho? Vì thế mọi chuyện đều phải quay lại bản thân, tích tập các thiện pháp công đức để khi chuẩn bị lâm chung, lúc đối diện với cái chết thì mình sẽ có sự hoan hỉ, tịnh tâm với các thiện pháp mình đã làm, đã có sẵn trong tâm.

"Vì rằng kẻ vô văn phàm phu, này Gia chủ, thành tựu lòng bất tín đối với chúng Tăng, nên sau khi thân hoại mạng chung, bị sanh vào ác sanh, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Nhưng Gia chủ không có lòng bất tín như vậy đối với chúng Tăng. Trái lại, Gia chủ thành tựu tịnh tín đối với chúng Tăng: 'Diệu hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn... là phước điền vô thượng ở đời'. Nếu Gia chủ tự mình thấy lòng tịnh tín bất động đối với chúng Tăng, thời lập tức các cảm thọ của Gia chủ được an tịnh". (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương XI. Tương Ưng Dự Lưu (b), III. Phẩm Saranàni, VI. Ác Giới, hay Anàthapindika (1))

Không phải dễ để tìm được người có diệu hạnh, trực hạnh, ứng lý hạnh, chân chánh hạnh. Có được một hạnh trong bốn hạnh này thôi đã là quý chứ đừng nói gì được cả bốn đức hạnh. Diệu hạnh là hạnh màu nhiệm, khéo léo để tu các thiện pháp, khéo léo diệt ác sanh thiện, khéo léo nhiếp phục, tẩy rửa tham sân si, khéo léo chuyên cần tinh tu giới, định, tuệ. Trực hạnh là tâm ngay thẳng chánh trực, dám nhìn lỗi, dám nhận lỗi để sửa lỗi, tâm không ngụy biện, quanh co, giấu lỗi lầm, tâm chánh trực, ngay thẳng, có lỗi là sám hối, xin lỗi, nhận lỗi, tạ tội. Ứng lý hạnh là ứng hợp với chân lý, tức là những hành động, ngôn ngữ phù hợp với sự thật Đức Phật đã dạy. Chơn chánh hạnh là hạnh chơn chánh, chân thật, chân thành, không có tà bại. Từ nãy giờ là ba dòng cảm thọ tươi mát, an tịnh, lắng dịu, ngọt ngào, hiền hòa được tuôn trào, thấm đượm trong thân tâm ngài Cấp-cô-độc.

"Vì rằng kẻ vô văn phàm phu, này Gia chủ, thành tựu ác giới, nên sau khi thân hoại mạng chung, bị sanh vào... địa ngục. Nhưng Gia chủ không có ác giới như vậy. Trái lại, Gia chủ có giới được các bậc Thánh ái kính... đưa đến Thiền định. Nếu Gia chủ tự thấy các giới được các bậc Thánh ái kính ấy, thời lập tức các cảm thọ của Gia chủ được an tịnh". (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương XI. Tương Ưng Dự Lưu (b), III. Phẩm Saranàni, VI. Ác Giới, hay Anàthapindika (1))

Nhớ nghĩ lại mình đã từng phóng sanh, ăn chay trường, thấy mình từng đi bố thí, cúng dường, thấy mình từng tu tập thiền quán đến trào dâng nước mắt, thấy mình nghe nhiều pháp thoại rồi suy tư, nghiền ngẫm thì tâm của người bệnh sẽ được an tịnh, lắng dịu.

"Vì rằng kẻ vô văn phàm phu, này Gia chủ, thành tựu tà kiến như vậy, nên sau khi thân hoại... địa ngục. Nhưng Gia chủ không có tà kiến như vậy. Trái lại, Gia chủ có chánh kiến. Nếu Gia chủ tự mình thấy chánh kiến của Gia chủ, thời lập tức các cảm thọ của Gia chủ được an tịnh". (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương XI. Tương Ưng Dự Lưu (b), III. Phẩm Saranàni, VI. Ác Giới, hay Anàthapindika (1))

Đức Thế Tôn nói rằng có một người sanh ra làm bất lợi cho đa số, làm đau khổ cho đa số, làm bất hạnh cho chư thiên và loài người lâu dài đó là người có tà kiến xuất hiện ở đời, không những có tri kiến sai lầm, lầm lạc mà còn truyền bá tư tưởng đó, một người như vậy xuất hiện sẽ làm đau khổ, làm bất lợi lớn cho cả chư thiên và loài người.

"Có một người, này các Tỳ-kheo, khi xuất hiện ở đời, sự xuất hiện đưa lại bất hạnh cho đa số, bất lạc cho đa số, bất lợi cho đa số, đưa đến bất hạnh, đau khổ cho chư Thiên và loài Người. Một người ấy là ai? Người có tà kiến, người có điên đảo kiến. Người ấy làm cho đông người xa lìa diệu pháp, an trú phi pháp. Chính một người này, này các Tỳ-kheo, khi xuất hiện ở đời, sự xuất hiện đưa lại bất hạnh cho đa số, bất lạc cho đa số, bất lợi cho đa số, đưa đến bất hạnh, đau khổ cho chư Thiên và loài Người". (Tăng Chi Bộ, Chương I – Một Pháp, XVIII. Phẩm Makkhali, Một Pháp)

Có được chánh kiến rất quý báu, hy hữu hiếm có, khó gặp, đó là cái thấy đúng về sự thật của pháp, vậy mà giờ ông Cấp-cô-độc có được chánh kiến này và ông thấy được chánh kiến của chính mình thì những cảm thọ đau khổ của cơn bệnh sẽ được lắng dịu, an tịnh, dễ chịu. Chánh kiến là thấy được nhân quả một cách chân xác, thấy được nghiệp báo đáng sợ, thấy được ngũ uẩn cấu tạo thân tâm thế giới, thấy được tham, sân, si, bản ngã, vô minh, lậu hoặc ở trong ngũ uẩn đó và hướng đến nhàm chán, không tham muốn, hướng đến từ bỏ, chấm dứt thì đó là chánh kiến và chánh kiến này là cực kì hiếm có khó gặp, hy hữu, tối thượng, người có chánh kiến ít như đất dính trong móng tay, người tà kiến nhiều như đất trên hành tinh này cho nên chánh kiến rất hiếm hoi, ít ỏi vì thế người có chánh kiến hoặc gặp được bậc chánh kiến phải vui mừng, hỷ lạc. Nếu nói về tà kiến mà đi từ cạn vào sâu là họ không tin nhân quả, chết là hết, họ không tin nghiệp báo nên cứ hưởng lạc trước mắt, đó là tà kiến cấp độ thấp, còn sâu sắc hơn của tà kiến là cho sắc này là thường còn, thọ; tưởng; hành; thức là thường còn, là tự ngã. Chánh kiến là thấy được ngũ uẩn này là vô thường, khổ, vô ngã, trống rỗng, thấy được ngũ uẩn này là thứ phiền phức, phiền hà, phiền não, thấy được bản chất ngũ uẩn là thứ đáng nhàm chán, ngao ngán, không đáng để ưa thích, đầu tư vào mà phải xa lìa, thoát ra, thấy nhân quả nghiệp báo, thấy ngũ uẩn, lậu hoặc, thấy đạo lộ xuất ly khỏi ngũ uẩn. Cái khó thấy, khó hiểu, khó tu, khó học mà giờ ông Cấp-cô-độc được thấy, được hiểu, được tu, được học nên ông hoan hỉ, tuyệt vời. Lấy một lá trúc nhúng xuống mặt nước đại dương rồi cầm lên, nhỏ xuống đất vài giọt nước, cũng vậy, nước dưới cả đại dương là chỉ cho người tà kiến, những giọt nước còn đọng lại trên lá trúc là người chánh kiến. Những người thành tựu được minh kiến, thành tựu được sự thấy đúng về ngũ uẩn ít như nước đọng lại trên lá trúc sau khi nhúng lá trúc xuống nước rồi lấy lên, vì thế trong thời gian tu học chánh kiến phải cố gắng tác ý, tư duy thường xuyên vì chỉ cần rời xa pháp là trở lại tà kiến, cho rằng sắc; thọ; tưởng; hành; thức là tôi, là của tôi, chỉ cần rời xa tư duy, quán chiếu là tà kiến quay lại ngay, cho nên cần nuôi lớn và tu tập chánh kiến thường xuyên.

"Vì rằng kẻ vô văn phàm phu, này Gia chủ, thành tựu tà tư duy... tà ngữ... tà nghiệp... tà mạng... tà tinh tấn... tà niệm... tà định... tà trí... tà giải thoát như vậy, nên sau khi thân hoại mạng chung, bị sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Nhưng Gia chủ không có từ tư duy... tà ngữ... tà nghiệp... tà mạng... tà tinh tấn... tà niệm... tà định... tà trí... tà giải thoát như vậy. Trái lại, Gia chủ có chánh tư duy... chánh ngữ... chánh nghiệp... chánh mạng... chánh tinh tấn... chánh niệm... chánh định... chánh trí... chánh giải thoát. Nếu Gia chủ tự mình thấy chánh tư duy... chánh ngữ... chánh nghiệp... chánh mạng... chánh tinh tấn... chánh niệm... chánh định... chánh trí... chánh giải thoát của Gia chủ, thời lập tức các cảm thọ của Gia chủ được an tịnh". (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương XI. Tương Ưng Dự Lưu (b), III. Phẩm Saranàni, VI. Ác Giới, hay Anàthapindika (1))

Ở đây không còn là Bát Chánh Đạo nữa mà là Thập Thánh Đạo, Bát Chánh Đạo thêm hai phần chánh trí và chánh giải thoát sẽ thành Thập Thánh Đạo, vì chánh định sẽ đưa đến chánh trí, chánh trí chắc chắn sẽ đưa đến chánh giải thoát cho nên Bát Chánh Đạo chỉ dừng lại ở chánh định thôi. Tất cả phàm phu đều suy nghĩ theo tà vì suy nghĩ trong năm uẩn, suy nghĩ về dục, suy nghĩ đi tìm tham dục, suy nghĩ về đối tượng tham dục mà những cái này đều vô thường, khổ, vô ngã nhưng lại nghĩ là hạnh phúc, sung sướng, thành công nhưng thành công trên đống bọt vì thế tất cả những suy nghĩ của phàm phu không thành tựu chánh kiến đều là tà tư duy. Vì thế nếu trong suy nghĩ của mình không nghĩ ngũ uẩn, không nghĩ tham, sân, si là đau khổ để có hướng nhàm chán, thoát ra thì những suy nghĩ này đều sai hết, mình nghĩ sau này mình sẽ làm cái này cái kia, mình sẽ thành ông này bà kia, nghĩ rằng mình sẽ làm nên công trình to lớn này nọ… đều là tà tư duy. Suy nghĩ đau khổ, phiền não, trống rỗng, vô thường tương ứng với chín giai đoạn của một tử thi, suy nghĩ sự tan hoại, hủy hoại của các uẩn, các hành thì đó là chánh tư duy, là suy nghĩ đúng. Tất cả những lời nói cũng giống như suy nghĩ, lời nói nào không đưa đến pháp, không đưa đến Thánh trí về ngũ uẩn, lậu hoặc, không đưa đến Thánh trí từ bỏ, thoát ly tham, sân, ly đều là tà ngữ, là nói sai, lời nói nào đưa đến sự diệt tận tham, sân, si, nhiếp phục bản ngã, vô minh đó là lời chánh ngữ. Qua đây chúng ta thấy người có chánh kiến rất ít ỏi, là hy hữu hiếm có khó gặp, như vậy mới là bậc tối thượng, tối tôn giữa chư thiên và loài người, còn người có tà kiến nhiều như đất của cả đại địa.

Tôi biết mình chỉ là đom đóm

Quặn lòng nhìn bóng tối vô minh,

Ngày đêm bao phủ tâm nhân thế

Khống chế cuộc đời trong dục mê.

(Đom đóm – Chơn Tín Toàn)

Tức là bóng tối của vô minh, tà kiến đã bao phủ khắp mọi nơi cho nên dân gian có câu "Thà rằng chẳng biết cho xong, biết bao nhiêu lại đau lòng bấy nhiêu". Vì thế phải tu học chánh kiến để khi ra đi giống như điều ngài Xá-lợi-phất nói với ông Cấp-cô-độc "Nếu Gia chủ tự mình thấy chánh kiến của Gia chủ, thời lập tức các cảm thọ của Gia chủ được an tịnh", đương nhiên có chánh kiến sẽ thấy ngũ uẩn này không phải là tôi, của tôi, nó là vô thường, khổ, vô ngã, cái đau bệnh chỉ là thọ uẩn nên nó sẽ an tịnh, lắng dịu, vì thế pháp của Thế Tôn rất khoa học, thực tế, rõ ràng, cụ thể, không có gì là mơ hồ. Tà tinh tấn nghĩa là mất ăn bỏ ngủ, siêng năng, cố gắng, suy tư nhưng tất cả những sự nỗ lực đó đều là tà, là sai đường, nỗ lực để giành giật, nỗ lực để hơn thua, tính kế lừa gạt thì cái nỗ lực đó làm sao lại chân chánh được cho nên nó là tà tinh tấn, vì thế càng nỗ lực, càng tinh tấn, càng suy tư, càng bán mạng thì càng đọa địa ngục mau chừng đó, càng rớt vào ngạ quỷ nhanh chừng đó, càng đi vào súc sanh nhiều chừng đó. Siêng năng sai đường, trong các bộ phim kiếm hiệp thường có sự tinh tấn, nỗ lực tu luyện nhưng lại rơi vào tà đạo, ma đạo, có nhiều chuyện rất rùng rợn, đi thuê người đi tìm đầu lâu của các cô gái còn trinh để luyện tà đạo (thiên linh cái) bị công an phát hiện bắt giam, những cái tà thuật, tà đạo đó phải rất nỗ lực luyện trong nhiều năm nhưng rất tiếc là sai đường. Dân gian có câu chuyện mang tính giáo dục, có một ông thầy luyện thần thông 30 năm gặp thiền sư nên hai người đi dạo đàm đạo, khi đến bờ sông thì ông luyện thần thông phi thân bay qua sông đứng chiễm chệ bên bờ kia, ông thiền sư đưa ra hai xu để người đưa đò chở qua sông. Một người mất 30 năm để bay qua được sông, còn một người chỉ mất có hai đồng xu để qua sông, 30 năm đó là tà tinh tấn, tức là siêng năng, nỗ lực nhưng không giải quyết được tham, sân, si, vô minh, bản ngã, nhiều khi lại làm tăng thêm cái tôi, cái ta, không cần ngồi thuyền mà bay qua luôn. Trong kinh ghi lại có một tiên nhân tu hành trên núi được nhà vua, hoàng hậu cung kính mời xuống hoàng cung thọ trai, hôm đó ông đó đi ngang đúng lúc hoàng hậu bị rớt xiêm y thế là ông ấy bị dục lạc làm đảo điên mất thần thông.

"Một thuở nọ khi vua Brahmadatta trị vì ở Ba-la-nại, Bồ-tát thọ sanh vào một gia đình Bà-la-môn giàu có tại quốc độ Kàsi. Khi ngài trưởng thành và việc học vấn đã hoàn mãn, ngài từ bỏ dục tham, xuất gia sống đời ẩn sĩ, đi vào chốn độc cư ở núi Tuyết Sơn. Tại đó, nhờ thành tựu các pháp môn đưa đến Thiền định, ngài đã đạt các Thắng trí và các Thiền chứng, và sống an vui như vậy trong Thiền lạc vi diệu.

Vì thiếu muối và giấm, một ngày kia ngài vào Ba-la-nại, tại đó ngài đến cư trú trong ngự viên của nhà vua. Ngày kế tiếp, sau khi đã tắm rửa xong thân mình, ngài xếp chiếc y bằng vỏ cây vẫn thường đắp, khoác lên vai tấm da linh dương màu đen, buộc các cuộn tóc rối thành một búi trên đỉnh đầu và mang đòn gánh với hai thúng trên lưng, ngài bắt đầu du hành để khất thực.

Trên đường đi đến cổng hoàng cung, oai nghi của ngài khiến nhà vua thán phục và truyền mời ngài vào. Thế là vị ẩn sĩ được đặt lên một bảo tọa cực kỳ huy hoàng lộng lẫy và thết đãi mọi thứ cao lương mỹ vị. Khi ngài nói lời tùy hỷ công đức, ngài lại được mời đến cư ngụ ở hoa viên. Vị ẩn sĩ nhận lời mời và trong mười sáu năm liền sống ở hoa viên, thường thuyết giáo cho cả hoàng gia và thọ hưởng ngự thiện do vua cúng dường.

Bấy giờ, một ngày kia vua phải ra chốn biên địa để dẹp loạn. Song trước khi khởi hành, vua ủy thác cho Hoàng hậu được mệnh danh là Từ Tâm, phải cung cấp các vật dụng cần thiết cho vị ẩn sĩ thanh tịnh kia. Vì vậy, sau khi vua ra đi, Bồ-tát vẫn thường đi đến cung điện khi ngài muốn.

Một ngày kia hoàng hậu Từ Tâm đã chuẩn bị một bữa cơm dâng cúng Bồ-tát, nhưng vì ngài đến muộn nên hoàng hậu vô phòng tắm rửa. Sau khi tắm nước hoa xong, bà vận xiêm y hết sức lộng lẫy, và nằm xuống đợi ngài đến trên một bảo tọa nhỏ trong một khách sảnh rộng lớn.

Khi vừa xuất khỏi Thiền định, thấy đã trễ giờ, Bồ-tát liền phi hành qua không gian để đến cung điện. Chợt nghe tiếng sột soạt của chiếc y bằng vỏ cây, hoàng hậu vội vã đứng dậy để đón tiếp ngài. Trong lúc vội vàng, chiếc y của hoàng hậu tuột xuống, để lộ mọi vẻ kiều diễm của bà trước mặt vị ẩn sĩ khi ngài vừa đến cửa. Thấy vậy, ngài bỗng ham thích chiêm ngưỡng sắc đẹp nữ nhân kỳ diện kia nên đã phạm Giới đức: Lửa dục nhen nhúm trong tâm ngài, khiến ngài giống như thân cây to bị chiếc rìu đốn ngã.

Lập tức ngài đánh mất Thiền lực, ngài chẳng khác gì con quạ bị cắt cụt đôi cánh. Ngài vẫn đứng yên tay nắm chặt thức ăn, nhưng ngài không ăn được mà bước ra đi, toàn thân rung động vì dục vọng, ngài trở về am thất trong vườn hoa, nằm xuống trên sàng tọa bằng gỗ, và suốt bảy ngày liền chịu đói khát, toàn thân bị siết chặt trong vòng vây của sắc đẹp yêu kiều kia, nội tâm ngài như bị lửa dục thiêu đốt bừng bừng". (Tiểu Bộ Kinh - Tập IV, Chuyện Tiền Thân Đức Phật (I), Phẩm Nữ Nhân, 66. Chuyện Hoàng Hậu Từ Tâm (Tiền thân Mudulakkhana))

Nghĩa là sự nỗ lực tinh tấn tu hành đó không thể diệt tận tham, sân, si, chỉ làm tăng trưởng bản ngã, dục vọng, tham ái, vì thế thần thông có thể bị mất bất cứ lúc nào, còn pháp mà mình nỗ lực nhiếp phục tham, sân, si thấy chậm chạp, vô vị, không ai tung hô mà chỉ ngồi im thấy tham lên là biết rồi đánh đuổi, thấy sân là dẹp bỏ, thấy bản ngã là từ bỏ nhưng lại rất chất lượng, kim cương tuy nhỏ nhưng giá trị vô cùng, còn gạch đá cả đống nhưng giá trị thua xa kim cương, đó là sự quý giá trong việc tu học chánh kiến, chánh tín, chánh pháp, chánh đạo, chánh tinh tấn. Chỉ cần nói tà tinh tấn thôi là thấy được cả thế gian, họ nỗ lực để được năm dục trưởng dưỡng, tinh tấn để phát huy bản ngã chứ không phải nỗ lực, tinh tấn để nhiếp phục, trừ diệt, thoát ra khỏi những cái đó cho nên những sự nỗ lực, tinh tấn đó đều sai đường nên Đức Thế Tôn gọi là tà tinh tấn, siêng năng sai đường nên không đưa đến diệt tận gốc rễ của khổ đau, ngoài ra còn tà niệm, tà định, tà trí, tà giải thoát. Có rất nhiều mánh khóe lừa gạt không thể tưởng tượng nổi, nhà người ta nghèo phải đi mượn nợ trị bệnh, trong bệnh viện giả vờ đi chen lấn hoặc đổ nước mắm vào người ta làm người ta phải vào toilet thay quần áo, lợi dụng sơ hở lấy cắp mất tiền người ta vừa vay để trị bệnh, những kẻ đó cũng có trí khôn, suy nghĩ cách làm sao ăn cắp được tiền, đó là tà trí, tà niệm, họ vận dụng đầu óc sắp đặt mánh khóe, lừa gạt, tất cả những cái này đều là tà, càng nhiều thủ đoạn chừng nào thì càng đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh mau chừng đó. Bọn chúng còn suy nghĩ ra cách gửi tin nhắn hoặc gọi điện báo trúng thưởng này kia với giải thưởng rất lớn, muốn nhận giải thưởng phải gửi trước một số tiền, tin tưởng gửi tiền là mất tiền vì thế những kẻ lừa đảo, lừa gạt rất giỏi, rất thông minh suy nghĩ đủ mọi cách để lừa người ta, đó là tà trí sẽ đưa đến đau khổ, bất hạnh lâu dài chứ không đưa đến an lạc, hạnh phúc. Những người chế tạo ra những loại vũ khí tiên tiến, hủy diệt hàng loạt là những người rất thông minh nhưng lại là tà trí, tà tinh tấn, đưa đến khổ mình, khổ người và khổ cho tất cả chúng sanh, có rất nhiều cái tà nhưng cái hại chúng sanh khủng khiếp nhất chính là tà kiến. Khi ông Cấp-cô-độc nhìn thấy ngũ uẩn, thấy khổ, thấy nguyên nhân của khổ, thấy đạo lộ thoát khổ thì quá tuyệt vời nên ông hoan hỉ, hỷ lạc, vui sướng nên các cảm thọ đau bệnh an tịnh, lắng dịu.

"Rồi các cảm thọ của gia chủ Anàthapindika lập tức được an tịnh.

Rồi gia chủ Anàthapindika mời Tôn giả Sàriputta và Tôn giả Ananda dùng bữa ăn (từ nơi nồi nấu cơm của mình)". (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương XI. Tương Ưng Dự Lưu (b), III. Phẩm Saranàni, VI. Ác Giới, hay Anàthapindika (1))

Mọi người trong thời diểm dịch bệnh này nên quán chiếu về những thiện pháp mình đã làm, cái nào làm ít thì bây giờ tăng thượng lên, tinh cần, tinh tấn, tu tập chánh tri kiến và các thiện pháp. Lúc đầu ông Cấp-cô-độc gặp ngài Xá-lợi-phất thì cảm thọ đau bệnh tăng trưởng khó chịu chứ không có giảm thiểu, sau khi nghe ngài Xá-lợi-phất khơi gợi lại những thiện pháp ông cư sĩ đã có trong người thì cảm thọ đau bệnh ấy an tịnh, lắng dịu, sau đó ông cư sĩ mời ngài Ananda và ngài Xá-lợi-phất dùng cơm.

"Sau khi Tôn giả Sàriputta ăn xong, tay đã rời khỏi bát, gia chủ Anàthapindika đi đến Tôn giả Sàriputta; sau khi đến, lấy một ghế thấp và ngồi xuống một bên.

Tôn giả Sàriputta tán thán gia chủ Anàthapindika với những lời kệ này:

Ai tin tưởng Như Lai,

Bất động khéo an lập.

Ai có giới thiện lành,

Ðược bậc Thánh ái kính.

Ai tin tưởng chúng Tăng,

Sở kiến được chánh trực,

Người ấy gọi 'Không nghèo',

Ðời sống không uổng phí.

Do vậy, bậc Hiền minh

Cần tu tập tín giới,

Thấy rõ được Chánh pháp,

Không quên lời Phật dạy". (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương XI. Tương Ưng Dự Lưu (b), III. Phẩm Saranàni, VI. Ác Giới, hay Anàthapindika (1))

Mặc dù ông Cấp-cô-độc là chủ nhà nhưng vẫn ngồi ghế thấp hơn các vị Tỳ-kheo, đây là điều mà các Phật tử phải học hỏi theo. Ông Cấp-cô-độc đã thành tựu lòng tin tịnh tín đối với tam bảo, có lòng tôn kính đối với Phật, pháp, Tăng, các ngài có đức hạnh, có trí tuệ cao siêu nên phải ngồi chỗ cao là đúng pháp, còn mình không được ngồi ghế giữa, không được ngồi ghế cao, ngồi như vậy là sai pháp không tôn kính tam bảo vì thế các cư sĩ mời quý thầy đến nhà vào dịp nào đó thì phải có chỗ ngồi trang trọng nhất, còn mình ngồi chỗ thấp hơn, đừng nghĩ nhà tôi nên tôi muốn ngồi đâu là ngồi, đó là vô văn phàm phu, không phải là đệ tử ngoan của Đức Phật, chưa thành tựu tịnh tín đối với tam bảo. Trong pháp không giống với thế gian, ngoài thế gian chủ nhà muốn ngồi đâu là ngồi nhưng trong pháp thì mình là con của tam bảo và tam bảo là bậc đáng tôn kính cho nên phải dành chỗ cao thượng, trang trọng để cho tam bảo. Chỉ vừa đỡ bệnh nên ngài Cấp-cô-độc ngồi ghế nhỏ, thấp, để chỗ cao cho hai vị Thánh Tăng ngồi, khi đọc kinh phải để ý những điểm nhỏ này, chính những chỗ nhỏ này mới thành tựu đức hạnh lớn.

Khi tu tinh tấn, tâm thường trú trong pháp liên tục sẽ tự nói ra thơ kệ, cảm thọ trú trong pháp thanh tịnh, khinh an, an lạc là tự động xuất khẩu thành thơ dù mình không học làm thơ, đó là lý do tại sao ngày xưa các bậc Thánh Tăng nói ra đều thành thi kệ vì tâm các ngài thanh tịnh, trí huệ sáng suốt, pháp rực sáng trong tâm và từ ngữ các ngài đã học cho nên xuất khẩu là thành thơ. Ngài Xá-lợi-phất khen ngợi ông Cấp-cô-độc người nào tin tưởng Như Lai, tâm không dao động lại khéo an trú và có giới thiện lành sẽ được bậc Thánh thương kính, người nào tin tưởng chúng Tăng và có sự thấy biết chân chánh thì đời sống này không nghèo, không uổng phí. Không phải căn cứ trên tiền bạc mà căn cứ và lòng tin Như Lai, không dao động, có giới thiện lành, được các bậc Thánh thương kính, tin tưởng chúng Tăng, cái thấy biết ngay thẳng đúng với chánh pháp thì người đó không nghèo, mà không nghèo tức là giàu, giàu là đại gia trong Phật pháp, tức là người nào có tịnh tín bất động sẽ là đại gia trong Phật giáo. Trong sử sách ghi lại ông Cấp-cô-độc bố thí đến nỗi gia tài chẳng còn gì, có giai đoạn các vị Thánh Tăng thấy ông là úp bình bát vì thương ông, sợ ông đói, ông ấy cúng hết mọi thứ ông có, vì thế đoạn kinh trên có khả năng là lúc ông Cấp-cô-độc cúng hết mọi thứ nên ngài Xá-lợi-phất mới nói ông ấy không có nghèo được, vì ông đã thành tựu tịnh tín bất động nên không còn quan trọng tài sản gì cả và sự bố thí của ông đã trải qua gần ba ngàn năm nhưng vẫn không ai quên được, tiếng vang về hạnh bố bí của ông kéo dài mãi gần ba ngàn năm.

"Rồi Tôn giả Sàriputta, sau khi nói lời hoan hỷ tán thán với các lời kệ này, từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.

Rồi Tôn giả Ananda đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Tôn giả Aananda đang ngồi một bên:

-- Này Ananda, Ông đi đâu để nghỉ trưa?

-- Bạch Thế Tôn, gia chủ Anàthapindika đã được Tôn giả Sàriputta giáo giới với lời giáo giới như thế này, thế này...

-- Hiền minh, này Ananda, là Sàriputta ! Ðại tuệ, này Ananda, là Sàriputta ! Vị ấy có thể chia chẻ bốn Dự lưu phần thành mười tướng. (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương XI. Tương Ưng Dự Lưu (b), III. Phẩm Saranàni, VI. Ác Giới, hay Anàthapindika (1))

Đức Phật nói hiền lành và minh trí là Xá-lợi-phất, bậc có trí tuệ rộng lớn là Xá-lợi-phất, Đức Phật khen ngợi ngài Xá-lợi-phất trong rất nhiều bài kinh. Chia chẻ bốn Dự lưu phần nghĩa là phân tích ra các góc độ, khía cạnh của bốn Dự lưu, đó là làm an tâm người bệnh bằng bốn Dự lưu phần qua mười góc độ, đưa Thập Thánh Đạo vào trong đây. Bài kinh này chính là cách hộ niệm thời Đức Phật cũng là cách làm cho người bệnh được an tâm, tin Phật, tin pháp, tin Tăng, tin giới và soi chiếu vào Thập Thánh Đạo. Căn bản ở đây là tác ý những thiện pháp mà mình đã làm trước kia trong khi bệnh nặng, nhất là bốn Dự lưu phần, kế đó là những đức hạnh hiền thiện thì nó sẽ xoa dịu những cảm thọ đau đớn, khó chịu khi đang bị bệnh. Ngay trong thời kì dịch bệnh này Minh Thành tìm những bài kinh phù hợp, nhất là những Phật tử và các Tăng Ni cũng bệnh rất nhiều, hãy lấy những bài kinh này đề suy nghiệm, tác ý, thực tập sẽ được an tâm trong dịch bệnh, bình tâm trong thời điểm khó khăn này.

./.