Cam giac nhan chim the gioi - 3 - TN BT thang 9.2019
Linh Quy Pháp Ấn
Cảm giác
nhận chìm thế giới
(3)
- Thích Minh Thành –
NHÀ XUẤT BẢN ……………….
Thuyết giảng:
Thích Minh Thành.
Chuyển thành văn bản:
…………………
Biên tập:
Thiện Ngộ.
Sửa bản in:
………………………..
Ban Văn hóa Pháp Ấn
thực hiện
Biên tập 9.2019
MỤC LỤC
Chánh niệm ngay trước mặt ……………………………………………. trang 4
Trở về theo dõi hơi thở …………………………………………………. trang 5
Nội tâm tỉnh sáng cảm giác toàn thân …………………………………... trang 6
Cảm giác toàn thân ………………………………………………………. trang 7
Lý do và mục đích để hành giả thực tập ba Pháp theo tinh thần của kinh Nikàya bao gồm: Chánh niệm trước mặt (hay đặt niệm ở trước mặt), Trở về với hơi thở và Cảm giác toàn thân là nhằm để nhìn sâu kỹ vào các cảm giác đang diễn ra ở trên thân.
Chánh niệm ngay trước mặt (hay đặt niệm ở trước mặt)
Hiện tại ở các trung tâm Thiền tập hoặc các rừng Thiền trên khắp thế giới đều có cùng một cách thực hành giống nhau là khi bắt đầu xếp chân tọa thiền, hầu hết Thiền sinh đều nhắm kín hai mắt và liên tục theo dõi hơi thở ra vào. Điều đáng nói ở đây là khi hai mắt nhắm kín lại và hơi thở đều đặn nhẹ nhàng rất dễ đưa người tu rơi vào trạng thái hôn trầm ngủ gật hoặc dễ đi lạc vào trong mạng lưới của Tưởng uẩn với vô số hình ảnh liên tiếp hiện ra trong tâm trí lôi kéo, gọi là ‘loạn tưởng’. Hầu hết hành giả Thiền tập đều bị rơi vào hai trạng thái này. Hoặc nếu mở to mắt và nhìn thẳng ra phía trước, cũng sẽ dễ bị ngoại cảnh tác động làm cho phân tán tâm. Tất cả những chướng ngại này đều là do không thiết lập được chánh niệm ngay trước mặt. Vậy làm sao để có Chánh niệm ngay trước mặt?
Nếu không có người giảng giải hoặc không tìm hiểu kỹ trong tạng kinh Nikàya, hành giả sẽ khó biết được cách thực hành thiết lập chánh niệm ngay trước mặt. Sau đây là cách thiết lập chánh niệm ngay trước mặt, Đức Phật giảng nói trong tạng kinh Nikàya.
Khi hành giả bắt đầu ngồi xuống bồ-đoàn và xếp chân theo tư thế hoa sen, thiền sinh cần giữ lưng thật thẳng, hai mắt hé mở nhẹ nhàng nhìn xuống về phía trước mặt khoảng cách hơn một mét. Hai mắt tuy mở, nhưng chúng ta phải giữ mắt không được trụ vào bất cứ sự vật hay một điểm nào ở trước mặt. Vì nếu con mắt bám trụ vào những sự vật xung quanh như tấm thảm hay nền nhà thì ít lâu sau đó sẽ có ảo giác, thấy rất nhiều hình ảnh con người hay đồ vật hiện ra trong vọng niệm.
Kế đến, mở rộng tầm nhìn về hai bên đến hết mức và giữ nhãn thức sáng tỏ sẽ giúp cho sự thấy biết của con mắt bao phủ một vùng rất rộng ở trước mặt. Cần lưu ý, mở rộng tầm nhìn của con mắt về hai bên chẳng phải là cố gắng trợn căng hai mắt! Đó chính là sự thiết lập chánh niệm tỉnh thức và đây là cách thực hành đầu tiên có tính chất cực kỳ quan trọng trong Thiền tập. Chỉ khi nào thiện tri thức chịu khó ứng dụng và thực tập đúng cách mới có thể nhận thấy rõ lợi ích của phương pháp này. Không những trong lúc tọa thiền, trong những khi làm việc, ăn uống hoặc đi đứng, nói chuyện,… tất cả đều phải được hành giả thực tập chánh niệm ở ngay trước mặt.
Trở về theo dõi hơi thở
Đa phần các Thiền sinh ở tại các rừng Thiền Thái Lan, Miến Điện đều được hướng dẫn thực tập theo dõi hơi thở ra vào, chú ý đến sự phồng xẹp của phần bụng. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở việc theo dõi sự phồng xẹp của phần bụng trong lúc hơi thở ra vào, nội tâm của hành giả sẽ bị thu nhỏ vì an trú vào một nơi đó, đây chỉ là một phần nhỏ của pháp hành chánh niệm tỉnh giác. Trong khi đó, một trong 16 pháp theo dõi hơi thở của Thiền tập trong tạng kinh Nikàya và pháp quán xét Hơi thở cảm giác toàn thân trong bài kinh Tứ niệm xứ là cánh cửa mở ra tất các các Pháp hành trong đạo Phật.
Vì hơi thở là nhịp cầu kết nối giữa thân (Sắc) và tâm, cho nên khi trở về với hơi thở, chúng ta sẽ dần dần nhìn thấy được những hoạt động của tâm hay còn gọi là Thọ, Tưởng, Hành và Thức. Ở bước thực tập thứ hai này, mình sẽ nhẹ nhàng cảm nhận sự chuyển động của hơi thở ra vào nơi chóp mũi, ở lồng ngực và phần bụng. Hãy để hơi thở ra vào tự nhiên, không cố gắng kéo dài hay rút ngắn hơi thở. Luôn giữ chánh niệm trong từng hơi thở ra vào như vậy, hành giả đang làm lắng dịu mọi hoạt động lăng xăng của thân, gọi là ‘Thân hành’. Khi mọi hoạt động của thân lắng dịu rồi, nội tâm sẽ trở nên tỉnh sáng. Khi đó người tu tập thiền dễ dàng nhìn rõ được sự vận hành của tâm thức, đặc biệt là sự sinh khởi, an trú và hoại diệt của mọi cảm giác ở nơi thân.
Nội tâm tỉnh sáng cảm giác toàn thân
Sau khi mọi hoạt động của thân đã được làm lắng dịu rồi, hành giả bắt đầu thực tập bước thứ ba là mở rộng chánh niệm cảm giác dần dần lan tỏa ra khắp toàn thân. Từ đỉnh đầu cho đến gót chân đều có sự chú tâm quán xét cảm giác một cách rõ ràng. Bất cứ một cảm giác nào sinh khởi ở nơi thân đều được nhận diện một cách rõ ràng, không bỏ sót. Nhận diện cảm giác từ đỉnh đầu, mặt, xuống tới hai vai, thân mình, hai cánh tay, bàn tay và lòng bàn tay. Tiếp tục nhận diện cảm giác ở nơi mông, hai đùi, bắp chân, bàn chân và lòng bàn chân. Cảm nhận cảm giác toàn thân, giữ nội tâm tỉnh giác sáng tỏ và rõ biết ở trước mặt một cách liên tục và thường trực, không lúc nào không biết.
Trong cuộc sống, cũng như trên bước đường tu mỗi chúng ta luôn sống với các loại cảm giác và lúc nào cũng bị chúng nhận chìm lôi kéo theo chiều hướng của tham dục và chấp Ngã, có người biết, có kẻ không, có người biết nhưng vẫn cho nó nhận chìm. Không những lúc mình đang thức mới bị cảm giác điều khiển, ngay cả lúc ngủ cũng bị nó chi phối, cho nên mới có việc nằm mơ. Trong việc tu tập, nếu hành giả không biết phương pháp xoay nhìn lại cảm giác thì muôn đời cũng không thể nào biết được một sự thật đáng sợ là cội gốc của Tham, Sân, Si, Vô minh và Chấp ngã đều nằm ở nơi cảm giác.
Trong kinh Cội rễ các sự vật - Tương ưng bộ, Đức Phật đã xác nhận rằng: “Tất cả pháp đều hội tụ ở nơi cảm thọ”. Tất cả pháp bao gồm: Dục lậu, Hữu lậu và Vô minh lậu, tham, sân, si, chấp ngã, trạo cử, hôn trầm, nghi ngờ… đều hội tụ và ẩn trú trong cảm giác. Cảm giác chính là căn cứ địa vững chắc cho các loại phiền não tùy miên ẩn núp. Nếu thiền sinh không biết cách nhìn lại cảm giác hiện diện nơi thân, sẽ không cách nào đoạn trừ được các phiền não đó. Do không biết nhìn lại cảm giác, ta sẽ không thể nào biết được chỗ trú ẩn, cũng như mặt mũi của phiền não để nhiếp phục và đoạn trừ. Một khi không thể hàng phục được phiền não, chẳng thể nào đạt được kết quả lậu tận giải thoát. Chính vì vậy mà sự tu học thành tựu trí huệ của bậc Thánh theo đúng với tinh thần trong kinh Nikàya là phải thấy rõ được chỗ ẩn náu của các loại bất thiện pháp nằm ngay trong cảm giác.
Thông thường, trong thân luôn có sự hiện diện của ba loại cảm giác là: Vui thích (Lạc thọ), Chán ghét (Khổ thọ) và Không ưa cũng chẳng ghét (Bất lạc bất khổ thọ). Chỉ khi nào mình chịu khó nhìn kỹ sâu vào cảm giác, hành giả sẽ phát hiện được ở bên dưới đó xuất hiện rất nhiều tâm niệm Tham hoặc Sân.
Ví dụ, khi có người đến đảnh lễ, cúng dường, khen ngợi, ngay khi ấy nếu hành giả khéo xoay trở lại cảm giác sẽ thấy rõ trong thân xuất hiện cảm giác khoái chí, ưa thích và âm thầm có những ý niệm chấp ngã, tự hào về bản thân là hay giỏi sinh khởi trong tâm. Hoặc khi bị Sư phụ la rầy, cũng có khi bị người khác chê bai góp ý, lúc đó nếu khéo nhìn lại cảm giác, chúng ta sẽ cảm thấy khó chịu, bực tức, âm thầm có những ý niệm chống đối, bảo vệ cho bản ngã sinh khởi. Nếu không có chánh niệm nhìn rõ được cảm giác lưu trú nơi thân, người tu sẽ bị những âm thanh khen hoặc chê kia lôi cuốn và nhận chìm dưới dòng sông cảm giác và không cách nào thoát ra khỏi chỗ đó. Ngoại trừ thiện tri thức có nhìn rõ được cảm giác toàn thân, có phương pháp chặn đứng được sự lôi cuốn của tâm tham, sân, si mê và thấy được con đường thoát ra.
Cảm giác toàn thân
Cảm giác toàn thân là một pháp thực tập rất quan trọng đối với người xuất gia. Điều này được nói rất nhiều và rất rõ trong phẩm Tương ưng thọ - Tương ưng bộ.
Nội dung của bài kinh Bệnh (Tương ưng bộ V) thuật lại rằng: “Khi đó, Đức Thế Tôn trú tại thành Vesali vào mùa An cư, thì một cơn bệnh trầm trọng sinh khởi nơi thân của Ngài. Những cảm thọ khốc liệt gần như chết tiếp diễn, và ở đây Đức Thế Tôn đã chánh niệm tỉnh giác, không than vãn. Đức Thế Tôn suy nghĩ: ‘Thật là không có tương xứng với Ta, nếu Ta không báo trước cho các vị ủng hộ Ta và không từ giã chúng Tỳ-kheo mà nhập Niết-bàn. Vậy Ta hãy tinh tấn nhiếp phục trọng bệnh này, lưu giữ mạng hành và sống’. Rồi Thế Tôn với sức tinh tấn nhiếp phục trọng bệnh ấy, lưu giữ mạng hành và sống”.
Một trong những câu quan trọng trong đoạn văn ngắn ở trên có tính chất thuyết phục và rất thực tế ở phần chữ in đậm: “Đức Thế Tôn đã chánh niệm tỉnh giác, không than vãn”, chúng ta cần chú ý. Đó chính là hình ảnh dũng mãnh, kiên cường của bậc Chánh Đẳng Giác khi đối mặt với cơn bạo bệnh khi xuất hiện những cảm giác đau đớn cùng cực để đưa đến cái chết, Ngài vẫn giữ được chánh niệm tỉnh giác, không hề than vãn rên rĩ. Điều này đã chứng minh rằng việc bậc Chánh Đẳng Giác đã than vãn rên rĩ khi bị bệnh ở trong bộ phim ‘Cuộc đời của đức Phật’ do Ấn Độ trình chiếu trong năm 2018 là hoàn toàn không chính xác và phù hợp với cuộc sống thực tế của Ngài khi còn tại thế.
Trong bài kinh Mũi tên - Tương ưng bộ có nói rằng: “Kẻ Vô văn phàm phu khi chịu cảm thọ khổ, thì người này rên rĩ, than khóc, bứt tóc, đấm ngực, té xỉu, đau khổ gần như chết. Nhưng bậc Đa văn Thánh đệ tử tuy có khổ thân, mà chẳng có khổ tâm. Người này chỉ trúng một mũi tên của thân, mà không bị trúng thêm mũi tên thứ hai của tâm”. Theo như lời kinh thì một vị Thánh đệ tử của bậc Đạo Sư còn không rên rĩ khi thân có bệnh, làm sao một bậc Thầy của Trời và Người lại có thể than vãn như nhân vật Đức Phật mà đạo diễn bộ phim kia đã dựng lên! Khi chúng ta xem phim cũng cần phải có trí tuệ quán sát để thấy rõ điểm nào đúng và điểm nào sai đối với sự tu hành giải thoát của Đức Phật. Tuy Ngài có bệnh ở nơi thân, nhưng nội tâm hoàn toàn vắng bặt khổ đau, luôn có chánh niệm tỉnh giác, không có than vãn. Đây là điểm khác biệt giữa hàng Vô văn phàm phu và bậc Đa văn Thánh đệ tử, là chỗ khác biệt giữa chúng sanh và bậc Chánh Đẳng Giác. Đây cũng chính là chỗ mà người tu cần thấy rõ để vận dụng tu tập quán xét nhận diện về cảm giác.
Khi đang đi giữa trời trưa nóng nắng với nhiệt độ lên đến 400C, những người Vô văn phàm phu sẽ vội vã tìm mọi thứ như dù để che hoặc nón để đội, hoặc tìm quạt hay bóng cây để làm bớt nóng và miệng không ngớt than vãn, rên rĩ vì cảm thấy khó chịu, thậm chí bực dọc cằn nhằn, trách móc thời tiết nóng bức. Trái lại bậc Đa văn Thánh đệ tử tuy cũng phải chịu ảnh hưởng bởi sức nóng khủng khiếp, cũng mệt nhọc vì đổ nhiều mồ hôi, cũng cảm thấy rất khó chịu vì mất nước ở nơi thân như bao người khác, nhưng người này có thể nhận rõ được cảm giác khổ đang xuất hiện ở thân và dùng trí tuệ nhiếp phục được cảm giác khổ đó!
Hoặc khi tai tiếp xúc với những lời lẽ xúc phạm, mắng chửi, chỉ trích của những người bạn đồng học hay những người nhỏ tuổi hơn, sẽ làm phát sinh nơi thân một ai đó cảm giác khó chịu. Ngay lúc đó, người không biết tu sẽ bị những âm thanh khó chịu kia lôi kéo, nhấn chìm vào trong dòng sông cảm giác sân si, họ sẽ tìm cách để trả đũa. Trái lại, người có công phu tu tập sẽ nhìn thấy rõ có cảm giác khó chịu, bực tức đang sinh khởi ngay nơi thân và nhận biết rõ đó chỉ là cảm thọ khổ phát sinh do âm thanh tiếp xúc với lỗ tai và nhĩ thức tạo ra, chẳng phải là ‘Tôi đang bị xúc phạm’, nên đã nhiếp phục, làm lắng dịu được cảm giác khó chịu bằng tâm từ tha thứ.
Chỉ có những bậc Đa văn Thánh đệ tử thường xuyên thực tập quán xét về cảm thọ mới có đủ sức đứng vững, bình thản, đủ khả năng nhiếp phục, chế ngự, hóa giải được những đợt sóng cảm giác đang sôi sục đó. Trí tuệ thu nhiếp, điều phục được cảm giác chính là bảo vật quý hiếm và đặc biệt của người tu, gọi là ‘độc đặc’! Đây chính là chỗ đặc biệt, là chỗ sai biệt, là chỗ khác biệt và cũng là chỗ tuyệt vời giữa người có tu và người không tu! Nếu ngay trong hoàn cảnh bức bách ấy, người tu cũng hành xử giống như bao nhiêu người bình thường kia, thì đâu có gì đáng để nói nữa!
Trong cuộc sống hằng ngày phải tiếp duyên xúc cảnh, gặp nhiều lời khen tiếng chê, hoặc nhiều cảnh thuận và nghịch, những lúc đó ta có khả năng nhìn lại cảm giác của chính mình để nhiếp phục phiền não, có vậy được gọi là người có trí tuệ siêu việt của bậc Thánh, gọi là ‘Tuyệt diệu pháp luân’! Thực tập và vượt qua được những việc nhỏ như vậy, dần dần người tu mới có đủ khả năng, trí lực, định lực, tuệ lực để đương đầu với những thống khổ lớn hơn nhiều do bệnh tật, tai nạn và cái chết gây ra. Nếu những việc nhỏ trong cuộc sống như thuận nghịch, được mất, nóng lạnh, vui buồn,… mỗi người chúng ta lại chẳng thể điều phục vượt qua, đến khi thật sự đối diện với bệnh tật và chết chóc xảy ra ở ngay nơi thân của mình, làm sao giữ được chánh niệm tỉnh giác và không than vãn như Đức Thế Tôn?
“Sau khi Thế Tôn với sức tinh tấn nhiếp phục trọng bệnh ấy, lưu giữ mạng hành và sống. Ngài đã qua khỏi cơn bạo bệnh và đi ra khỏi chỗ nằm đến chỗ ngồi đã dọn sẵn ở sau lưng ngôi nhà”. Một điều phi thường mà không ai có thể làm được, ngoại trừ bậc Điều Ngự Trượng Phu đã tinh tấn vượt qua bệnh nặng. Muốn làm được như vậy, Ngài đã phải có được sức mạnh nhiếp phục được cảm thọ nơi thân. Cũng vậy, hiện tại hành giả nương theo chánh pháp của Đức Phật để thực tập chế ngự mọi cảm thọ xảy ra ở thân tứ đại giả huyễn hợp thành này. Trong những lúc buồn hoặc vui, những khi dễ chịu hoặc khó chịu, những lúc khỏe mạnh hoặc đau ốm,… chúng ta đều phải dùng trí tuệ để nhìn lại cảm giác, không cho cảm giác chi phối và nhận chìm vào vòng xoáy của tham, sân, si và chấp ngã.
“Khi ấy, ngài A-nan đi đến đảnh lễ và thưa với Đức Phật rằng:
- Bạch Đức Thế Tôn! Con thấy Thế Tôn kham nhẫn. Bạch Đức Thế Tôn! Con thấy Thế Tôn chịu đựng. Bạch Đức Thế Tôn! Con cảm thấy thân con yếu ớt như là lau sậy, mắt con mờ mịt, không thấy rõ phương hướng. Pháp không được tỏ rõ cho con, vì Thế Tôn bị bệnh. Nhưng, bạch Đức Thế Tôn! Con được chút an ủi rằng, Thế Tôn sẽ không diệt độ, nếu Ngài không có lời Di giáo lại cho chúng Tỳ-kheo”.
Tuy Đức Phật đã tinh tấn nỗ lực đoạn trừ căn bệnh nặng, không lộ vẻ đau đớn, nhưng Tôn giả Ananda vẫn thấy biết và thốt lên rằng: “Con thấy Thế Tôn kham nhẫn. Bạch Đức Thế Tôn! Con thấy Thế Tôn chịu đựng”. Chứng tỏ căn bệnh đang hành hạ bậc Thiện Thệ rất nguy hiểm và cực kỳ nặng sẽ đưa đến cái chết bất cứ lúc nào, nhưng do Ngài đã cố gắng chịu đựng hết sức để tồn tại. Trong hoàn cảnh mười phần nguy cấp như vậy, Tôn giả Ananda tuy đã chứng quả Tu-đà-hoàn vẫn còn chưa thấy rõ phương pháp tu hành chính xác. Khi nhìn thấy thảm trạng của Đức Như Lai như thế, Tôn giả Ananda đã bị xúc động mạnh mẽ với lòng tôn kính vô song đối với bậc Thầy của Ngài và mong muốn Đức Phật để lại những lời dạy sau cùng đối với với chúng đệ tử.
“Đức Phật bảo rằng:
- Này Ananda! Chúng Tỳ-kheo còn mong đợi gì ở nơi Ta? Ananda! Ta giảng pháp không có phân biệt trong ngoài. Vì, này Ananda! Đối với các pháp, Như Lai không bao giờ là vị Đạo sư còn nắm tay”.
Đây chính là những lời Di giáo cội gốc của bậc Chánh Đẳng Giác, từ trước đến nay do mình quên lãng hoặc chưa thật sự chú tâm vào lời dạy ấy. Những lời nói đó là biểu trưng cho trí tuệ siêu việt của bậc Như Lai. Ngài đã trả lời với Tôn giả Ananda rằng Ngài đã giảng dạy, chỉ bày hết tất cả, không có phân biệt trong ngoài, bây giờ chúng đệ tử còn mong đợi gì ở Ngài nữa?
Sao gọi là ‘không có phân biệt trong ngoài’? ‘Trong’ là những chúng đệ tử xuất gia thân thuộc tu tập theo giáo pháp của Đức Phật và ‘Ngoài’ là những hàng cư sĩ tại gia, cho đến những hàng ngoài đạo, dị học. Nếu sự giảng dạy có phân biệt, người thân hoặc đệ tử sẽ được Đức Phật giảng dạy chỉ bày tận tường chu đáo, còn nếu là người xa lạ, hoặc thuộc các tôn giáo khác, Ngài sẽ dạy sơ sài. Nhưng bậc Vô Thượng Sĩ đã khẳng định rõ là bất cứ hạng người nào, tôn giáo nào, ngành nghề nào, Ngài cũng chỉ dạy tận tình chu đáo bằng cả tâm huyết và trí tuệ để mọi người được hiểu rõ và tu tập thành tựu. Ngài còn nhấn mạnh rằng:“Đối với các pháp, Như Lai không bao giờ là vị Đạo sư còn nắm tay”, tức là còn có ý muốn nắm giữ lại một vài điều bí mật nào đó cho riêng Ngài. Tất cả những điều tối thượng của Chánh pháp đều được Ngài chỉ dạy và giảng nói hết không còn sót lại điều gì! Khác hẳn với những vị Thầy ở thế gian trong các môn Võ học hay trong Văn học là chỉ dạy chín phần, còn một phần giữ lại cho riêng họ, vì sợ học trò sẽ vượt hơn Thầy và làm phản. Hoặc trong các ngành nghề khác như nấu ăn, trồng trọt, sản xuất, mua bán… người trong nghề luôn giữ lại những bí chiêu, hay công thức sản xuất gọi là ‘bí mật nhà nghề’, không truyền cho người ngoài, ngoại trừ con cháu, vì muốn thương hiệu của họ mãi mãi nổi tiếng. Nhưng riêng đối với Đức Phật, Ngài không nắm giữ lại bất cứ điều gì trong giáo pháp, dù là nhỏ nhất!
Một điều bất ngờ nữa khiến cho người xuất gia phải nể phục sát đất đối với bậc Chánh Đẳng Giác là khi Ngài nói rằng:“Này A-nanda! Những ai còn nghĩ Ta là vị cầm đầu chúng Tỳ-kheo hay chúng Tỳ-kheo chịu sự giáo huấn của Ta, người ấy sẽ có lời Di giáo cho chúng Tỳ-kheo. Này Ananda! Như Lai không có nghĩ rằng, Ta sẽ là vị dẫn đầu chúng Tỳ-kheo hay chúng Tỳ-kheo chịu sự giáo huấn của Ta. Này Ananda! Thì làm sao Như Lai lại có lời Di giáo cho chúng Tỳ-kheo?”
Chỉ có những người nào tự xem bản thân là người đứng đầu quản lý dạy dỗ cho những người cấp dưới và những người đó phải nghe lời chỉ dạy của họ, thì mới cần đến những lời Di giáo. Riêng Đức Phật không nghĩ thấy mình là người đứng đầu lãnh đạo Tăng đoàn và cũng chẳng thấy có chúng đệ tử bị bắt buộc phải nghe lời dạy của Ngài, nên đâu cần gì tới lời Di giáo. Trái lại, thời nay, người tu vừa có được một vài chú đệ tử là liền cảm thấy tự hào, đi đến đâu cũng khoe là đệ tử của mình hoặc khi đệ tử không nghe lời dạy thì giận hờn trách móc. Như vậy sự tu hành không đi theo hướng vô Ngã, mà hướng về cho hữu Ngã, hữu danh! Đây là bài Kinh nói về trí huệ vô ngã đã đạt tới chỗ cùng cực của Đức Thế Tôn!
Phải đặt trong tâm cho chính bản thân mình là tu tập cả đời, dù cho gần chết là tê liệt, nói không được hoặc không còn tỉnh táo nữa vẫn dõng mãnh trên đường tu, kiên quyết hành trì đúng lời Phật dạy! Tuy đang cận kề cái chết, đối diện với sự đau khổ cùng cực của tứ đại phân ly mà bậc Chánh Đẳng Giác vẫn tỉnh sáng an nhiên và thể hiện phong thái vô Ngã triệt để đến như vậy. Đây chính là chỗ quan trọng của sự tu hành, những người con Phật cần học và hành trì theo pháp, theo tinh thần đời sống của Như Lai đã hiển bày! Hiểu rõ, hướng đến để đạt được! Không phải tu hành thấu rõ năm uẩn là không còn biết đến cảm giác hay nói rõ hơn là không còn biết đau đớn nữa, mà là không còn bị cảm giác xâm chiếm, chế ngự, chi phối và điều khiển làm cho vị Giác ngộ đó bấn loạn đau khổ. Đó là lý do vì sao tất cả chúng ta mãi mãi đảnh lễ bậc Đại Đạo Sư!
Trong giây phút cuối cùng của cuộc đời, Đức Phật vẫn điềm tĩnh tuyên bố rõ ràng là Ngài không có nghĩ Ngài là vị cầm đầu Tăng đoàn hay là giáo chủ của một giáo phái và chỉ có những ai có ý nghĩ như thế mới cần đến những lời Di chúc sau cùng. Lời tuyên bố rúng động này khiến cho tất cả người tu phải cúi đầu suy xét lại bản thân. Câu nói hùng hồn ấy không phải ai cũng dễ nghe, dễ hiểu và dễ tỏ rõ thâm ý ở bên trong, cần phải có sức thiền quán sâu sắc mới hiểu thấu. Nếu đặt trường hợp hành giả là người tu tập được mấy chục năm và cũng là người có công to lớn khai sơn phá thạch, dựng lập Tùng lâm. Đến giây phút cuối đời, nếu có người đến thưa hỏi giống như vậy, liệu hành giả có đủ can đảm để trả lời với họ rằng, mình không phải là người đầu tiên khai sơn kiến tạo và là người chủ của ngôi chùa đó hay không? Nếu người nào có thể tỉnh táo trả lời ‘Không’ đối với những thứ đã từng tạo lập đó, phải biết người đó có một trí huệ giải thoát sâu sắc đến cỡ nào! Lời nói dõng dạc của Đức Thế Tôn xứng đáng là tấm gương lớn để cho tất cả người tu cùng soi; là bài học vô giá để cho tất cả người tu lấy đó làm kim chỉ nam mà hành trì suốt cả đời. Mấy lời vàng này của Đức Thế Tôn không phải chỉ được khắc vào bia đá, cần phải được khắc vào tim để ghi nhớ mãi mãi. Những lời trong bài kinh này, chúng ta cần phải học thuộc lòng, chẳng phải chỉ đọc hiểu trên kiến thức, quan trọng là hành trì thiết thực trong đời sống hàng ngày.
“Này Ananda! Ta nay đã già, bậc Trưởng thượng, bậc Trưởng lão đã đạt đến đoạn cuối của cuộc đời, đã đến 80 tuổi rồi. Này Ananda! Giống như một cỗ xe đã cũ mòn, sở dĩ còn chạy được là nhờ dây thừng chằng chịt. Cũng vậy, thân của Như Lai được duy trì sự sống chính nhờ những dây thừng chằng chịt. Này Ananda! Chỉ khi Như Lai không tác ý đến tất cả tướng với sự diệt trừ một số cảm thọ, chứng và an trú Vô tướng tâm định, chính khi ấy Như Lai được thoải mái”.
Khác với những loại xe thời hiện đại được tạo thành và kết chặt với nhau bằng những mối hàn và đinh ốc, các cỗ xe kéo vào thời xưa thường được người ta cột chặt bằng những sợi dây thừng để đảm bảo sự bền chắc khi chuyên chở. Cỗ xe này được sử dụng trong một thời gian mấy chục năm thì bị hao mòn, hư hoại. Tấm thân của Như Lai cũng giống như vậy, còn sống và hoạt động được là nhờ những sợi dây thừng buộc ràng lại với nhau. Đức Phật tiết lộ một bí mật vì sao tuy đối diện với sự khủng hoảng của cái chết, vẫn có thể điềm tĩnh an nhiên, không bị chi phối và khống chế bởi các cảm thọ khổ đau là do Ngài không tác ý đến tất cả tướng, cùng với sự diệt trừ một số cảm thọ, chứng và an trú nơi Vô tướng tâm định. Khi Đức Phật an trú vào trong sự định này, Ngài cảm thấy rất yên ổn thoải mái. Với một trí tuệ vĩ đại và sức định rộng lớn như thế, bậc Thế Gian Giải mới có thể đối diện trực tiếp với cảm thọ đau đớn khủng khiếp của cái chết đang đến gần. Đối với một người bình thường không có tu tập, không thể chịu đựng nổi trước một cảm giác đau đớn khốc liệt của tứ đại tan rã.
Việc diệt trừ một số cảm thọ, chứng và an trú nơi Vô tướng tâm định của Đức Phật, chỉ có những người có công phu thực tập quán chiếu sâu sắc mới có thể hiểu được chỗ Ngài chia sẻ. Tạm thời, chúng ta có thể hiểu việc diệt trừ một số cảm thọ của Ngài bằng một ví dụ đơn giản dễ hiểu như đang lúc ngồi học Pháp, bỗng nhiên đèn và quạt đều bị tắt do cúp điện bất thình lình. Ngay khi ấy, có một số người cảm thấy khó chịu do tiết trời nóng bức, nhưng có một số người khác lại cảm thấy vui vì được nghỉ học… Như vậy, khi vui hoặc sân trước sự thay đổi đột ngột, vô tình chúng ta đã bị lôi cuốn theo những cảm thọ vui hoặc khổ của trần cảnh. Trái lại, nếu cũng ngay lúc đó, chúng ta nhiếp tâm tác ý vào trong lời pháp, xem việc nghe pháp là quan trọng hơn và để cảm giác vui hoặc khổ kia sang một bên, gọi là ‘tách tâm mình ra khỏi cảm thọ’, thì sẽ không bị chúng làm cho điên đảo! Đây chính là một pháp tu cực kỳ quan trọng trong việc thực hành pháp. Nói là vậy nhưng không dễ hành trì! Chỉ có những người tha thiết thực tập pháp này, mới thấy được những điều sâu sắc đó, ngoài ra chỉ là những lời nói trên ngôn từ hoặc hiểu theo ý hành mà thôi!
Ngay khi đối diện với một sự việc gây ra sự khó chịu dễ nóng giận, nếu không có thực tập nhìn lại cảm giác, hành giả sẽ đi theo cảm giác sân, gọi là Phi Như lý tác ý. Nếu ta mặc nhiên cho chúng tự do biểu hiện tâm niệm như lửa nóng thiêu rụi kia, sẽ là cơ hội cho bất thiện pháp sinh khởi, xâm nhập, tăng trưởng lớn mạnh hơn và không còn có thể kiểm soát nổi. Người không biết tu tập, chưa đạt được trí tuệ về cảm thọ sẽ bị cảm giác khó chịu (khổ thọ) xông tới xâm chiếm, chi phối, lôi cuốn và nhận chìm trong ngọn lửa nóng bức của sân giận.
Trái lại, ngay lúc đó, người khéo biết tu tập tâm hay có trí tuệ về cảm thọ sẽ chánh niệm thấy rõ sự nguy hại, hậu quả do tâm sân đưa đến sự băng hoại, tan vỡ tình cảm, hết tình cạn lý giữa mình và mọi người, thậm chí là sẽ có những kết cuộc bi thảm ở tại ba nơi (Tam gia) là nhà thương, nhà tù và nhà quàn. Người có trí tuệ, sau khi đã quán xét được sự nguy hại của cảm giác, sẽ lập tức tự tách tâm ra khỏi cảm thọ sân, trở về an trú nơi cảm giác toàn thân. Người ấy thấy rõ họ là họ và cảm thọ là cảm thọ, không có liên quan gì với nhau. Cảm giác chỉ là cảm giác, cảm giác không phải là ‘Tôi’, không phải là ‘cái của Tôi’ và cũng không phải là ‘tự Ngã của tôi’, như vậy người ấy thành tựu được trí tuệ về cảm giác! Hoặc khá hơn nữa là dùng tâm từ để chuyển hóa cơn giận kia trở lại bình thường. Dùng nước mát của từ tâm để tưới ướt và làm mát dịu ngọn lửa sân giận, chính là tâm có tu tập sâu sắc! Người khéo tu tập tâm và người không biết tu tập tâm khác nhau ở chỗ này!
Trong pháp hành đòi hỏi người tu phải có tâm tha thiết cầu học và phải chuyên tâm nghiền ngẫm đào sâu vào trong tạng kinh Nikàya mới có thể thành tựu bảy trí về năm uẩn. Trong đó đặc biệt là sự thành tựu trí tuệ về Cảm thọ.
1. Thế nào là cảm thọ? Là những cảm giác xảy ra ở trên thân và tâm.
2. Có mấy loại cảm thọ? Có 3 loại cảm thọ: vui, khổ và không vui cũng không khổ.
3. Thế nào là thọ sanh? Do Xúc tập khởi, nên Thọ tập khởi. Do có sự tiếp xúc, đụng chạm, nên mới có cảm giác.
4. Thế nào là Thọ diệt? Do Xúc đoạn diệt, nên Thọ đoạn diệt. Do không có sự tiếp xúc, đụng chạm, nên cũng không có cảm giác.
5. Thế nào là vị ngọt của Thọ? Bất cứ duyên của Thọ nào làm khởi lên hỷ lạc, chính là vị ngọt của Thọ. Trong các cảm giác đưa đến sự thích thú, khoan khoái, say mê, yêu thích đó là vị ngọt của cảm giác.
6. Thế nào là sự nguy hại của Thọ? Là sự dính mắc và bị vị ngọt của cảm giác xâm chiếm, chi phối và nhấn chìm làm cho đau khổ cùng tột.
7. Thế nào là sự xuất ly khỏi Thọ? Là sự thấy rõ sự nguy hại của cảm giác. Thường trực nhìn lại cảm giác, nhận diện rõ để không bị chúng chi phối điều khiển và nhấn chìm và dùng trí tuệ năm uẩn để tách tâm ra khỏi vòng xoáy của chúng và được giải thoát.
Ví dụ, trong khi cầm đưa một đồ vật, vô tình bàn tay trắng trẻo, mềm mại của một cô gái xinh đẹp chạm phải bàn tay của ta, xuất hiện một cảm giác mềm mát và thích thú. Từ sự xúc chạm sinh ra cảm giác vui thích, gọi là ‘Xúc sinh Thọ’. Về đến chùa ngồi thiền, vẫn cứ nhớ về sự đụng chạm đó và hình bóng bàn tay kia cứ lởn vởn trong đầu. Từ cảm giác thích thú, trong tâm sẽ có sự yêu thích, gọi là ‘từ Thọ sinh Ái’. Từ tâm yêu thích đó phát triển mạnh dần lên là muốn nắm giữ, sở hữu cảm giác mềm ấm đó mãi, gọi là ‘Ái sinh Thủ’. Từ nơi nắm giữ mà tạo ra nghiệp, gọi là ‘từ Thủ mà có Hữu’. Nếu muốn nắm giữ mà không được thì khổ sầu. Trái lại, muốn mà được toại ý thì tham đắm không ngừng và suốt ngày khổ vì lo gìn giữ sợ mất. Rồi đến khi sự ưa thích mất đi thì càng sầu khổ nhiều hơn! Không chỉ riêng một việc xúc chạm nơi thân, đối với các việc khác ở năm căn còn lại như: Mắt, tai, mũi, lưỡi, ý cũng đều xảy ra giống như vậy. Một vòng vận hành của ngũ uẩn xảy ra liên tục không ngừng và chúng nhận chìm trong dòng sông cảm giác suốt cả ngày nhưng chúng ta không hề hay biết. Do đó, sự tu tập không phải là chạy đi tìm cái gì cao siêu ở bên ngoài mà là xoay lại nhìn sự vận hành của năm uẩn, nhìn lại cảm thọ diễn biến nơi thân này.
Khi tâm có sự chi phối, dẫn dắt và điều khiển thúc giục phải làm làm một việc gì hoặc phải đi đâu đó, không thể ngồi yên, chính là ‘Dục’. Suốt cả ngày và thậm chí suốt cả đời sống của chúng ta luôn luôn bị tham dục chi phối dẫn dắt, điều khiển nhưng không dễ hay biết. Ai đang như vậy, tức là đang sống trong si mê tăm tối của vô minh. Trái lại, người nào nhìn thấy rõ được sự sinh khởi và tìm cách đoạn trừ những Dục, Ái, Tham, Sân, Si, bản Ngã là bậc có trí tuệ năm Uẩn. Càng nhìn thấy rõ về Dục bao nhiêu thì trí tuệ về năm uẩn càng thành tựu bấy nhiêu. Đây là chỗ độc đáo của sự tu tập Thánh trí, chẳng phải là việc làm của người bình thường!
Trong sự tu học về trí tuệ năm uẩn, có ba loại trí tuệ: Vị ngọt, sự Nguy hại và sự Xuất ly đối với cảm thọ là cực kỳ quan trọng mà người tu cần hiểu rõ và nắm vững để hành trì. Bất cứ duyên của Thọ nào làm khởi lên hỷ lạc, chính là vị ngọt của Thọ. Nói rõ hơn, trong các cảm giác đưa đến sự thích thú, khoan khoái, say mê, yêu thích đó là vị ngọt của cảm giác. Hằng ngày, chúng ta có thường bị dính mắc với vị ngọt của cảm thọ và chìm đắm ở trong sự ưa thích hay không? Khi bị vị ngọt của cảm thọ nhấn chìm, ta có kịp thời nhận biết để tránh xa hay là cứ tiếp tục nhào tới? Câu thần chú ‘Án! Xa ra, Xa ra, Xa ra!’ chính là một pháp hành rất quan trọng của hành giả áp dụng trong mọi sinh hoạt hằng ngày để thực tập hạnh viễn ly. Xa ra, Xa ra, đừng có sáp vô, vì sáp vô sẽ chết! Đây là câu thần chú mới mà hành giả tu tập hạnh viễn ly cần nên nhớ để thực hành!
Có một vị nữ Phật tử ở nước ngoài đã gửi Email cảm ơn, vì sau khi ứng dụng câu ‘thần chú’ này đã giúp cô tránh xa mọi việc phiền toái trong cuộc sống. Như vậy hiệu quả của thần chú là khi con mắt tiếp xúc với hình sắc, tai tiếp xúc với âm thanh, mũi tiếp xúc với hương thơm, lưỡi tiếp xúc với vị ngọt, thân tiếp xúc với sự êm ái mà có cảm giác khoan khoái, dễ chịu hay thích thú, người tu lập tức đọc lên câu ‘Án! Xa ra, Xa ra, Xa ra!’ để không bị nhấn chìm vào trong dòng sông cảm giác đó. Nếu không nhớ câu thần chú này, mà cứ sáp vào thì mình lập tức bị nguy hiểm bởi tác hại của Dục và cảm giác gây ra. Vô số những vụ trọng án hình sự, những tai nạn thương tâm và những cảnh khổ đau mà báo đài thường xuyên đăng tải đều bắt nguồn từ sự tham dục và việc truy tìm cảm giác không ngừng nghỉ mà có. Hút chích ma túy, sử dụng thuốc lắc, đua xe gây tai nạn chết người, hát karaoke rồi đánh nhau đến thiệt mạng vì lời khen tiếng chê, hãm hiếp, cướp giật v.v… đều bắt nguồn từ cảm giác. Chính cảm giác đang ngày đêm nhận chìm thế giới!
Ngay nơi chỗ ngồi hiện tại trên trường Phật học và vào giờ phút sắp hết giờ học này, tất cả mọi người đang đều có cùng một cảm giác nôn nao muốn được mau chóng ra về. Đó chính là cảm giác thôi thúc của Dục, chúng ta cần phải nhìn thấy và nhiếp phục. Dù người tu đã sống thân cận với Dục rất nhiều năm, nhưng nếu không hiểu rõ mặt mũi, nơi cư trú, đặc tính của cảm giác như thể nào, chắc chắn chẳng có thể nhiếp phục được Dục. Dù Dục cư trú ở ngay trong thân của hành giả, nhưng muốn diễn tả được nó như thế nào thì không phải là việc dễ dàng. Nếu khéo nhìn lại cảm giác đang thôi thúc, giục giã đang xuất hiện ở trong thân, thì sẽ thấy ngay đó chính là Dục đang vận hành một cách mạnh mẽ.
Kế tiếp là Ái, tức là cảm giác yêu thích, khoái chí hoặc bịn rịn, lưu luyến, càng muốn xiết chặt và không muốn rời xa.
Lại nữa, đó là Tham, tức là muốn có thêm nhiều hơn nữa. Cho nên hai chữ ‘Tham dục’ có nghĩa sự thúc đẩy để làm tăng trưởng hay có thêm nhiều hơn nữa và không bao giờ muốn dừng lại, chưa bao giờ biết đủ! Cho nên mới nói bản chất của Dục chính là khổ!
Toàn bộ tinh hoa của tạng kinh Nikàya nếu rút gọn lại sẽ còn lại năm uẩn. Nếu tiếp tục rút gọn năm uẩn hơn nữa sẽ chỉ còn lại cảm giác (Thọ). Đây chính là bí kíp của Chánh pháp mà thiện tri thức rất may mắn mới được học hiểu và ứng dụng ngay trong đời này! Bất cứ ai làm chủ được cảm giác đều là bậc Hiền Thánh, chẳng phải người thường. Trong suốt 24 giờ của một ngày, tất cả mọi hoạt động đi, đứng, nằm, ngồi hoặc nói, nín, động, tịnh của mình đều bị chi phối và điều khiển bởi cảm giác, mà không một ai có thể nhận biết. Chỉ khi nào hành giả biết xoay nhìn lại nội tâm mới có thể nhìn thấy rõ Dục, Tham, Sân, Si và bản Ngã hiện ra một cách đầy đủ. Khi đã nhìn thấy chúng rõ ràng, người tu mới tìm cách nhiếp phục và đoạn trừ chúng ra khỏi tâm.
Một khi nắm vững được cách thực hành để nhận diện, nhiếp nhục và đoạn trừ được tất cả các lậu hoặc của Dục, Tham, Sân, Si, bản Ngã, hành giả đã nắm chắc trong tay công phu thượng thừa ‘Ngũ trảo thần công, Như Lai thần chưởng, Thượng phương bảo kiếm, Độc cô cầu bại, Thiên hạ vô địch’. Hành giả nắm vững được pháp này có thể làm Bá chủ toàn cầu, tung hoành ngang dọc trong khắp Tam giới, chẳng phải chỉ ở nơi thế giới nhỏ hẹp này! Hoặc dù chưa thực hành đến chỗ triệt để, nhưng nếu nắm vững được pháp này, cũng đã thấy được sự hiệu quả và lợi ích thiết thực ngay nơi bản thân. Do đó, việc nắm vững được chỗ tinh hoa tu tập là thường xuyên nhìn lại và phát hiện cảm giác là một việc trọng yếu đưa người tu đạt đến chỗ giải thoát rốt ráo với vô số điều kỳ diệu, mầu nhiệm và hết sức độc đáo, chớ có lãng quên!
./.
Cảm giác
nhận chìm thế giới
(3)
- Thích Minh Thành –
NHÀ XUẤT BẢN ……………….
Thuyết giảng:
Thích Minh Thành.
Chuyển thành văn bản:
…………………
Biên tập:
Thiện Ngộ.
Sửa bản in:
………………………..
Ban Văn hóa Pháp Ấn
thực hiện
Biên tập 9.2019
MỤC LỤC
Chánh niệm ngay trước mặt ……………………………………………. trang 4
Trở về theo dõi hơi thở …………………………………………………. trang 5
Nội tâm tỉnh sáng cảm giác toàn thân …………………………………... trang 6
Cảm giác toàn thân ………………………………………………………. trang 7
Lý do và mục đích để hành giả thực tập ba Pháp theo tinh thần của kinh Nikàya bao gồm: Chánh niệm trước mặt (hay đặt niệm ở trước mặt), Trở về với hơi thở và Cảm giác toàn thân là nhằm để nhìn sâu kỹ vào các cảm giác đang diễn ra ở trên thân.
Chánh niệm ngay trước mặt (hay đặt niệm ở trước mặt)
Hiện tại ở các trung tâm Thiền tập hoặc các rừng Thiền trên khắp thế giới đều có cùng một cách thực hành giống nhau là khi bắt đầu xếp chân tọa thiền, hầu hết Thiền sinh đều nhắm kín hai mắt và liên tục theo dõi hơi thở ra vào. Điều đáng nói ở đây là khi hai mắt nhắm kín lại và hơi thở đều đặn nhẹ nhàng rất dễ đưa người tu rơi vào trạng thái hôn trầm ngủ gật hoặc dễ đi lạc vào trong mạng lưới của Tưởng uẩn với vô số hình ảnh liên tiếp hiện ra trong tâm trí lôi kéo, gọi là ‘loạn tưởng’. Hầu hết hành giả Thiền tập đều bị rơi vào hai trạng thái này. Hoặc nếu mở to mắt và nhìn thẳng ra phía trước, cũng sẽ dễ bị ngoại cảnh tác động làm cho phân tán tâm. Tất cả những chướng ngại này đều là do không thiết lập được chánh niệm ngay trước mặt. Vậy làm sao để có Chánh niệm ngay trước mặt?
Nếu không có người giảng giải hoặc không tìm hiểu kỹ trong tạng kinh Nikàya, hành giả sẽ khó biết được cách thực hành thiết lập chánh niệm ngay trước mặt. Sau đây là cách thiết lập chánh niệm ngay trước mặt, Đức Phật giảng nói trong tạng kinh Nikàya.
Khi hành giả bắt đầu ngồi xuống bồ-đoàn và xếp chân theo tư thế hoa sen, thiền sinh cần giữ lưng thật thẳng, hai mắt hé mở nhẹ nhàng nhìn xuống về phía trước mặt khoảng cách hơn một mét. Hai mắt tuy mở, nhưng chúng ta phải giữ mắt không được trụ vào bất cứ sự vật hay một điểm nào ở trước mặt. Vì nếu con mắt bám trụ vào những sự vật xung quanh như tấm thảm hay nền nhà thì ít lâu sau đó sẽ có ảo giác, thấy rất nhiều hình ảnh con người hay đồ vật hiện ra trong vọng niệm.
Kế đến, mở rộng tầm nhìn về hai bên đến hết mức và giữ nhãn thức sáng tỏ sẽ giúp cho sự thấy biết của con mắt bao phủ một vùng rất rộng ở trước mặt. Cần lưu ý, mở rộng tầm nhìn của con mắt về hai bên chẳng phải là cố gắng trợn căng hai mắt! Đó chính là sự thiết lập chánh niệm tỉnh thức và đây là cách thực hành đầu tiên có tính chất cực kỳ quan trọng trong Thiền tập. Chỉ khi nào thiện tri thức chịu khó ứng dụng và thực tập đúng cách mới có thể nhận thấy rõ lợi ích của phương pháp này. Không những trong lúc tọa thiền, trong những khi làm việc, ăn uống hoặc đi đứng, nói chuyện,… tất cả đều phải được hành giả thực tập chánh niệm ở ngay trước mặt.
Trở về theo dõi hơi thở
Đa phần các Thiền sinh ở tại các rừng Thiền Thái Lan, Miến Điện đều được hướng dẫn thực tập theo dõi hơi thở ra vào, chú ý đến sự phồng xẹp của phần bụng. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở việc theo dõi sự phồng xẹp của phần bụng trong lúc hơi thở ra vào, nội tâm của hành giả sẽ bị thu nhỏ vì an trú vào một nơi đó, đây chỉ là một phần nhỏ của pháp hành chánh niệm tỉnh giác. Trong khi đó, một trong 16 pháp theo dõi hơi thở của Thiền tập trong tạng kinh Nikàya và pháp quán xét Hơi thở cảm giác toàn thân trong bài kinh Tứ niệm xứ là cánh cửa mở ra tất các các Pháp hành trong đạo Phật.
Vì hơi thở là nhịp cầu kết nối giữa thân (Sắc) và tâm, cho nên khi trở về với hơi thở, chúng ta sẽ dần dần nhìn thấy được những hoạt động của tâm hay còn gọi là Thọ, Tưởng, Hành và Thức. Ở bước thực tập thứ hai này, mình sẽ nhẹ nhàng cảm nhận sự chuyển động của hơi thở ra vào nơi chóp mũi, ở lồng ngực và phần bụng. Hãy để hơi thở ra vào tự nhiên, không cố gắng kéo dài hay rút ngắn hơi thở. Luôn giữ chánh niệm trong từng hơi thở ra vào như vậy, hành giả đang làm lắng dịu mọi hoạt động lăng xăng của thân, gọi là ‘Thân hành’. Khi mọi hoạt động của thân lắng dịu rồi, nội tâm sẽ trở nên tỉnh sáng. Khi đó người tu tập thiền dễ dàng nhìn rõ được sự vận hành của tâm thức, đặc biệt là sự sinh khởi, an trú và hoại diệt của mọi cảm giác ở nơi thân.
Nội tâm tỉnh sáng cảm giác toàn thân
Sau khi mọi hoạt động của thân đã được làm lắng dịu rồi, hành giả bắt đầu thực tập bước thứ ba là mở rộng chánh niệm cảm giác dần dần lan tỏa ra khắp toàn thân. Từ đỉnh đầu cho đến gót chân đều có sự chú tâm quán xét cảm giác một cách rõ ràng. Bất cứ một cảm giác nào sinh khởi ở nơi thân đều được nhận diện một cách rõ ràng, không bỏ sót. Nhận diện cảm giác từ đỉnh đầu, mặt, xuống tới hai vai, thân mình, hai cánh tay, bàn tay và lòng bàn tay. Tiếp tục nhận diện cảm giác ở nơi mông, hai đùi, bắp chân, bàn chân và lòng bàn chân. Cảm nhận cảm giác toàn thân, giữ nội tâm tỉnh giác sáng tỏ và rõ biết ở trước mặt một cách liên tục và thường trực, không lúc nào không biết.
Trong cuộc sống, cũng như trên bước đường tu mỗi chúng ta luôn sống với các loại cảm giác và lúc nào cũng bị chúng nhận chìm lôi kéo theo chiều hướng của tham dục và chấp Ngã, có người biết, có kẻ không, có người biết nhưng vẫn cho nó nhận chìm. Không những lúc mình đang thức mới bị cảm giác điều khiển, ngay cả lúc ngủ cũng bị nó chi phối, cho nên mới có việc nằm mơ. Trong việc tu tập, nếu hành giả không biết phương pháp xoay nhìn lại cảm giác thì muôn đời cũng không thể nào biết được một sự thật đáng sợ là cội gốc của Tham, Sân, Si, Vô minh và Chấp ngã đều nằm ở nơi cảm giác.
Trong kinh Cội rễ các sự vật - Tương ưng bộ, Đức Phật đã xác nhận rằng: “Tất cả pháp đều hội tụ ở nơi cảm thọ”. Tất cả pháp bao gồm: Dục lậu, Hữu lậu và Vô minh lậu, tham, sân, si, chấp ngã, trạo cử, hôn trầm, nghi ngờ… đều hội tụ và ẩn trú trong cảm giác. Cảm giác chính là căn cứ địa vững chắc cho các loại phiền não tùy miên ẩn núp. Nếu thiền sinh không biết cách nhìn lại cảm giác hiện diện nơi thân, sẽ không cách nào đoạn trừ được các phiền não đó. Do không biết nhìn lại cảm giác, ta sẽ không thể nào biết được chỗ trú ẩn, cũng như mặt mũi của phiền não để nhiếp phục và đoạn trừ. Một khi không thể hàng phục được phiền não, chẳng thể nào đạt được kết quả lậu tận giải thoát. Chính vì vậy mà sự tu học thành tựu trí huệ của bậc Thánh theo đúng với tinh thần trong kinh Nikàya là phải thấy rõ được chỗ ẩn náu của các loại bất thiện pháp nằm ngay trong cảm giác.
Thông thường, trong thân luôn có sự hiện diện của ba loại cảm giác là: Vui thích (Lạc thọ), Chán ghét (Khổ thọ) và Không ưa cũng chẳng ghét (Bất lạc bất khổ thọ). Chỉ khi nào mình chịu khó nhìn kỹ sâu vào cảm giác, hành giả sẽ phát hiện được ở bên dưới đó xuất hiện rất nhiều tâm niệm Tham hoặc Sân.
Ví dụ, khi có người đến đảnh lễ, cúng dường, khen ngợi, ngay khi ấy nếu hành giả khéo xoay trở lại cảm giác sẽ thấy rõ trong thân xuất hiện cảm giác khoái chí, ưa thích và âm thầm có những ý niệm chấp ngã, tự hào về bản thân là hay giỏi sinh khởi trong tâm. Hoặc khi bị Sư phụ la rầy, cũng có khi bị người khác chê bai góp ý, lúc đó nếu khéo nhìn lại cảm giác, chúng ta sẽ cảm thấy khó chịu, bực tức, âm thầm có những ý niệm chống đối, bảo vệ cho bản ngã sinh khởi. Nếu không có chánh niệm nhìn rõ được cảm giác lưu trú nơi thân, người tu sẽ bị những âm thanh khen hoặc chê kia lôi cuốn và nhận chìm dưới dòng sông cảm giác và không cách nào thoát ra khỏi chỗ đó. Ngoại trừ thiện tri thức có nhìn rõ được cảm giác toàn thân, có phương pháp chặn đứng được sự lôi cuốn của tâm tham, sân, si mê và thấy được con đường thoát ra.
Cảm giác toàn thân
Cảm giác toàn thân là một pháp thực tập rất quan trọng đối với người xuất gia. Điều này được nói rất nhiều và rất rõ trong phẩm Tương ưng thọ - Tương ưng bộ.
Nội dung của bài kinh Bệnh (Tương ưng bộ V) thuật lại rằng: “Khi đó, Đức Thế Tôn trú tại thành Vesali vào mùa An cư, thì một cơn bệnh trầm trọng sinh khởi nơi thân của Ngài. Những cảm thọ khốc liệt gần như chết tiếp diễn, và ở đây Đức Thế Tôn đã chánh niệm tỉnh giác, không than vãn. Đức Thế Tôn suy nghĩ: ‘Thật là không có tương xứng với Ta, nếu Ta không báo trước cho các vị ủng hộ Ta và không từ giã chúng Tỳ-kheo mà nhập Niết-bàn. Vậy Ta hãy tinh tấn nhiếp phục trọng bệnh này, lưu giữ mạng hành và sống’. Rồi Thế Tôn với sức tinh tấn nhiếp phục trọng bệnh ấy, lưu giữ mạng hành và sống”.
Một trong những câu quan trọng trong đoạn văn ngắn ở trên có tính chất thuyết phục và rất thực tế ở phần chữ in đậm: “Đức Thế Tôn đã chánh niệm tỉnh giác, không than vãn”, chúng ta cần chú ý. Đó chính là hình ảnh dũng mãnh, kiên cường của bậc Chánh Đẳng Giác khi đối mặt với cơn bạo bệnh khi xuất hiện những cảm giác đau đớn cùng cực để đưa đến cái chết, Ngài vẫn giữ được chánh niệm tỉnh giác, không hề than vãn rên rĩ. Điều này đã chứng minh rằng việc bậc Chánh Đẳng Giác đã than vãn rên rĩ khi bị bệnh ở trong bộ phim ‘Cuộc đời của đức Phật’ do Ấn Độ trình chiếu trong năm 2018 là hoàn toàn không chính xác và phù hợp với cuộc sống thực tế của Ngài khi còn tại thế.
Trong bài kinh Mũi tên - Tương ưng bộ có nói rằng: “Kẻ Vô văn phàm phu khi chịu cảm thọ khổ, thì người này rên rĩ, than khóc, bứt tóc, đấm ngực, té xỉu, đau khổ gần như chết. Nhưng bậc Đa văn Thánh đệ tử tuy có khổ thân, mà chẳng có khổ tâm. Người này chỉ trúng một mũi tên của thân, mà không bị trúng thêm mũi tên thứ hai của tâm”. Theo như lời kinh thì một vị Thánh đệ tử của bậc Đạo Sư còn không rên rĩ khi thân có bệnh, làm sao một bậc Thầy của Trời và Người lại có thể than vãn như nhân vật Đức Phật mà đạo diễn bộ phim kia đã dựng lên! Khi chúng ta xem phim cũng cần phải có trí tuệ quán sát để thấy rõ điểm nào đúng và điểm nào sai đối với sự tu hành giải thoát của Đức Phật. Tuy Ngài có bệnh ở nơi thân, nhưng nội tâm hoàn toàn vắng bặt khổ đau, luôn có chánh niệm tỉnh giác, không có than vãn. Đây là điểm khác biệt giữa hàng Vô văn phàm phu và bậc Đa văn Thánh đệ tử, là chỗ khác biệt giữa chúng sanh và bậc Chánh Đẳng Giác. Đây cũng chính là chỗ mà người tu cần thấy rõ để vận dụng tu tập quán xét nhận diện về cảm giác.
Khi đang đi giữa trời trưa nóng nắng với nhiệt độ lên đến 400C, những người Vô văn phàm phu sẽ vội vã tìm mọi thứ như dù để che hoặc nón để đội, hoặc tìm quạt hay bóng cây để làm bớt nóng và miệng không ngớt than vãn, rên rĩ vì cảm thấy khó chịu, thậm chí bực dọc cằn nhằn, trách móc thời tiết nóng bức. Trái lại bậc Đa văn Thánh đệ tử tuy cũng phải chịu ảnh hưởng bởi sức nóng khủng khiếp, cũng mệt nhọc vì đổ nhiều mồ hôi, cũng cảm thấy rất khó chịu vì mất nước ở nơi thân như bao người khác, nhưng người này có thể nhận rõ được cảm giác khổ đang xuất hiện ở thân và dùng trí tuệ nhiếp phục được cảm giác khổ đó!
Hoặc khi tai tiếp xúc với những lời lẽ xúc phạm, mắng chửi, chỉ trích của những người bạn đồng học hay những người nhỏ tuổi hơn, sẽ làm phát sinh nơi thân một ai đó cảm giác khó chịu. Ngay lúc đó, người không biết tu sẽ bị những âm thanh khó chịu kia lôi kéo, nhấn chìm vào trong dòng sông cảm giác sân si, họ sẽ tìm cách để trả đũa. Trái lại, người có công phu tu tập sẽ nhìn thấy rõ có cảm giác khó chịu, bực tức đang sinh khởi ngay nơi thân và nhận biết rõ đó chỉ là cảm thọ khổ phát sinh do âm thanh tiếp xúc với lỗ tai và nhĩ thức tạo ra, chẳng phải là ‘Tôi đang bị xúc phạm’, nên đã nhiếp phục, làm lắng dịu được cảm giác khó chịu bằng tâm từ tha thứ.
Chỉ có những bậc Đa văn Thánh đệ tử thường xuyên thực tập quán xét về cảm thọ mới có đủ sức đứng vững, bình thản, đủ khả năng nhiếp phục, chế ngự, hóa giải được những đợt sóng cảm giác đang sôi sục đó. Trí tuệ thu nhiếp, điều phục được cảm giác chính là bảo vật quý hiếm và đặc biệt của người tu, gọi là ‘độc đặc’! Đây chính là chỗ đặc biệt, là chỗ sai biệt, là chỗ khác biệt và cũng là chỗ tuyệt vời giữa người có tu và người không tu! Nếu ngay trong hoàn cảnh bức bách ấy, người tu cũng hành xử giống như bao nhiêu người bình thường kia, thì đâu có gì đáng để nói nữa!
Trong cuộc sống hằng ngày phải tiếp duyên xúc cảnh, gặp nhiều lời khen tiếng chê, hoặc nhiều cảnh thuận và nghịch, những lúc đó ta có khả năng nhìn lại cảm giác của chính mình để nhiếp phục phiền não, có vậy được gọi là người có trí tuệ siêu việt của bậc Thánh, gọi là ‘Tuyệt diệu pháp luân’! Thực tập và vượt qua được những việc nhỏ như vậy, dần dần người tu mới có đủ khả năng, trí lực, định lực, tuệ lực để đương đầu với những thống khổ lớn hơn nhiều do bệnh tật, tai nạn và cái chết gây ra. Nếu những việc nhỏ trong cuộc sống như thuận nghịch, được mất, nóng lạnh, vui buồn,… mỗi người chúng ta lại chẳng thể điều phục vượt qua, đến khi thật sự đối diện với bệnh tật và chết chóc xảy ra ở ngay nơi thân của mình, làm sao giữ được chánh niệm tỉnh giác và không than vãn như Đức Thế Tôn?
“Sau khi Thế Tôn với sức tinh tấn nhiếp phục trọng bệnh ấy, lưu giữ mạng hành và sống. Ngài đã qua khỏi cơn bạo bệnh và đi ra khỏi chỗ nằm đến chỗ ngồi đã dọn sẵn ở sau lưng ngôi nhà”. Một điều phi thường mà không ai có thể làm được, ngoại trừ bậc Điều Ngự Trượng Phu đã tinh tấn vượt qua bệnh nặng. Muốn làm được như vậy, Ngài đã phải có được sức mạnh nhiếp phục được cảm thọ nơi thân. Cũng vậy, hiện tại hành giả nương theo chánh pháp của Đức Phật để thực tập chế ngự mọi cảm thọ xảy ra ở thân tứ đại giả huyễn hợp thành này. Trong những lúc buồn hoặc vui, những khi dễ chịu hoặc khó chịu, những lúc khỏe mạnh hoặc đau ốm,… chúng ta đều phải dùng trí tuệ để nhìn lại cảm giác, không cho cảm giác chi phối và nhận chìm vào vòng xoáy của tham, sân, si và chấp ngã.
“Khi ấy, ngài A-nan đi đến đảnh lễ và thưa với Đức Phật rằng:
- Bạch Đức Thế Tôn! Con thấy Thế Tôn kham nhẫn. Bạch Đức Thế Tôn! Con thấy Thế Tôn chịu đựng. Bạch Đức Thế Tôn! Con cảm thấy thân con yếu ớt như là lau sậy, mắt con mờ mịt, không thấy rõ phương hướng. Pháp không được tỏ rõ cho con, vì Thế Tôn bị bệnh. Nhưng, bạch Đức Thế Tôn! Con được chút an ủi rằng, Thế Tôn sẽ không diệt độ, nếu Ngài không có lời Di giáo lại cho chúng Tỳ-kheo”.
Tuy Đức Phật đã tinh tấn nỗ lực đoạn trừ căn bệnh nặng, không lộ vẻ đau đớn, nhưng Tôn giả Ananda vẫn thấy biết và thốt lên rằng: “Con thấy Thế Tôn kham nhẫn. Bạch Đức Thế Tôn! Con thấy Thế Tôn chịu đựng”. Chứng tỏ căn bệnh đang hành hạ bậc Thiện Thệ rất nguy hiểm và cực kỳ nặng sẽ đưa đến cái chết bất cứ lúc nào, nhưng do Ngài đã cố gắng chịu đựng hết sức để tồn tại. Trong hoàn cảnh mười phần nguy cấp như vậy, Tôn giả Ananda tuy đã chứng quả Tu-đà-hoàn vẫn còn chưa thấy rõ phương pháp tu hành chính xác. Khi nhìn thấy thảm trạng của Đức Như Lai như thế, Tôn giả Ananda đã bị xúc động mạnh mẽ với lòng tôn kính vô song đối với bậc Thầy của Ngài và mong muốn Đức Phật để lại những lời dạy sau cùng đối với với chúng đệ tử.
“Đức Phật bảo rằng:
- Này Ananda! Chúng Tỳ-kheo còn mong đợi gì ở nơi Ta? Ananda! Ta giảng pháp không có phân biệt trong ngoài. Vì, này Ananda! Đối với các pháp, Như Lai không bao giờ là vị Đạo sư còn nắm tay”.
Đây chính là những lời Di giáo cội gốc của bậc Chánh Đẳng Giác, từ trước đến nay do mình quên lãng hoặc chưa thật sự chú tâm vào lời dạy ấy. Những lời nói đó là biểu trưng cho trí tuệ siêu việt của bậc Như Lai. Ngài đã trả lời với Tôn giả Ananda rằng Ngài đã giảng dạy, chỉ bày hết tất cả, không có phân biệt trong ngoài, bây giờ chúng đệ tử còn mong đợi gì ở Ngài nữa?
Sao gọi là ‘không có phân biệt trong ngoài’? ‘Trong’ là những chúng đệ tử xuất gia thân thuộc tu tập theo giáo pháp của Đức Phật và ‘Ngoài’ là những hàng cư sĩ tại gia, cho đến những hàng ngoài đạo, dị học. Nếu sự giảng dạy có phân biệt, người thân hoặc đệ tử sẽ được Đức Phật giảng dạy chỉ bày tận tường chu đáo, còn nếu là người xa lạ, hoặc thuộc các tôn giáo khác, Ngài sẽ dạy sơ sài. Nhưng bậc Vô Thượng Sĩ đã khẳng định rõ là bất cứ hạng người nào, tôn giáo nào, ngành nghề nào, Ngài cũng chỉ dạy tận tình chu đáo bằng cả tâm huyết và trí tuệ để mọi người được hiểu rõ và tu tập thành tựu. Ngài còn nhấn mạnh rằng:“Đối với các pháp, Như Lai không bao giờ là vị Đạo sư còn nắm tay”, tức là còn có ý muốn nắm giữ lại một vài điều bí mật nào đó cho riêng Ngài. Tất cả những điều tối thượng của Chánh pháp đều được Ngài chỉ dạy và giảng nói hết không còn sót lại điều gì! Khác hẳn với những vị Thầy ở thế gian trong các môn Võ học hay trong Văn học là chỉ dạy chín phần, còn một phần giữ lại cho riêng họ, vì sợ học trò sẽ vượt hơn Thầy và làm phản. Hoặc trong các ngành nghề khác như nấu ăn, trồng trọt, sản xuất, mua bán… người trong nghề luôn giữ lại những bí chiêu, hay công thức sản xuất gọi là ‘bí mật nhà nghề’, không truyền cho người ngoài, ngoại trừ con cháu, vì muốn thương hiệu của họ mãi mãi nổi tiếng. Nhưng riêng đối với Đức Phật, Ngài không nắm giữ lại bất cứ điều gì trong giáo pháp, dù là nhỏ nhất!
Một điều bất ngờ nữa khiến cho người xuất gia phải nể phục sát đất đối với bậc Chánh Đẳng Giác là khi Ngài nói rằng:“Này A-nanda! Những ai còn nghĩ Ta là vị cầm đầu chúng Tỳ-kheo hay chúng Tỳ-kheo chịu sự giáo huấn của Ta, người ấy sẽ có lời Di giáo cho chúng Tỳ-kheo. Này Ananda! Như Lai không có nghĩ rằng, Ta sẽ là vị dẫn đầu chúng Tỳ-kheo hay chúng Tỳ-kheo chịu sự giáo huấn của Ta. Này Ananda! Thì làm sao Như Lai lại có lời Di giáo cho chúng Tỳ-kheo?”
Chỉ có những người nào tự xem bản thân là người đứng đầu quản lý dạy dỗ cho những người cấp dưới và những người đó phải nghe lời chỉ dạy của họ, thì mới cần đến những lời Di giáo. Riêng Đức Phật không nghĩ thấy mình là người đứng đầu lãnh đạo Tăng đoàn và cũng chẳng thấy có chúng đệ tử bị bắt buộc phải nghe lời dạy của Ngài, nên đâu cần gì tới lời Di giáo. Trái lại, thời nay, người tu vừa có được một vài chú đệ tử là liền cảm thấy tự hào, đi đến đâu cũng khoe là đệ tử của mình hoặc khi đệ tử không nghe lời dạy thì giận hờn trách móc. Như vậy sự tu hành không đi theo hướng vô Ngã, mà hướng về cho hữu Ngã, hữu danh! Đây là bài Kinh nói về trí huệ vô ngã đã đạt tới chỗ cùng cực của Đức Thế Tôn!
Phải đặt trong tâm cho chính bản thân mình là tu tập cả đời, dù cho gần chết là tê liệt, nói không được hoặc không còn tỉnh táo nữa vẫn dõng mãnh trên đường tu, kiên quyết hành trì đúng lời Phật dạy! Tuy đang cận kề cái chết, đối diện với sự đau khổ cùng cực của tứ đại phân ly mà bậc Chánh Đẳng Giác vẫn tỉnh sáng an nhiên và thể hiện phong thái vô Ngã triệt để đến như vậy. Đây chính là chỗ quan trọng của sự tu hành, những người con Phật cần học và hành trì theo pháp, theo tinh thần đời sống của Như Lai đã hiển bày! Hiểu rõ, hướng đến để đạt được! Không phải tu hành thấu rõ năm uẩn là không còn biết đến cảm giác hay nói rõ hơn là không còn biết đau đớn nữa, mà là không còn bị cảm giác xâm chiếm, chế ngự, chi phối và điều khiển làm cho vị Giác ngộ đó bấn loạn đau khổ. Đó là lý do vì sao tất cả chúng ta mãi mãi đảnh lễ bậc Đại Đạo Sư!
Trong giây phút cuối cùng của cuộc đời, Đức Phật vẫn điềm tĩnh tuyên bố rõ ràng là Ngài không có nghĩ Ngài là vị cầm đầu Tăng đoàn hay là giáo chủ của một giáo phái và chỉ có những ai có ý nghĩ như thế mới cần đến những lời Di chúc sau cùng. Lời tuyên bố rúng động này khiến cho tất cả người tu phải cúi đầu suy xét lại bản thân. Câu nói hùng hồn ấy không phải ai cũng dễ nghe, dễ hiểu và dễ tỏ rõ thâm ý ở bên trong, cần phải có sức thiền quán sâu sắc mới hiểu thấu. Nếu đặt trường hợp hành giả là người tu tập được mấy chục năm và cũng là người có công to lớn khai sơn phá thạch, dựng lập Tùng lâm. Đến giây phút cuối đời, nếu có người đến thưa hỏi giống như vậy, liệu hành giả có đủ can đảm để trả lời với họ rằng, mình không phải là người đầu tiên khai sơn kiến tạo và là người chủ của ngôi chùa đó hay không? Nếu người nào có thể tỉnh táo trả lời ‘Không’ đối với những thứ đã từng tạo lập đó, phải biết người đó có một trí huệ giải thoát sâu sắc đến cỡ nào! Lời nói dõng dạc của Đức Thế Tôn xứng đáng là tấm gương lớn để cho tất cả người tu cùng soi; là bài học vô giá để cho tất cả người tu lấy đó làm kim chỉ nam mà hành trì suốt cả đời. Mấy lời vàng này của Đức Thế Tôn không phải chỉ được khắc vào bia đá, cần phải được khắc vào tim để ghi nhớ mãi mãi. Những lời trong bài kinh này, chúng ta cần phải học thuộc lòng, chẳng phải chỉ đọc hiểu trên kiến thức, quan trọng là hành trì thiết thực trong đời sống hàng ngày.
“Này Ananda! Ta nay đã già, bậc Trưởng thượng, bậc Trưởng lão đã đạt đến đoạn cuối của cuộc đời, đã đến 80 tuổi rồi. Này Ananda! Giống như một cỗ xe đã cũ mòn, sở dĩ còn chạy được là nhờ dây thừng chằng chịt. Cũng vậy, thân của Như Lai được duy trì sự sống chính nhờ những dây thừng chằng chịt. Này Ananda! Chỉ khi Như Lai không tác ý đến tất cả tướng với sự diệt trừ một số cảm thọ, chứng và an trú Vô tướng tâm định, chính khi ấy Như Lai được thoải mái”.
Khác với những loại xe thời hiện đại được tạo thành và kết chặt với nhau bằng những mối hàn và đinh ốc, các cỗ xe kéo vào thời xưa thường được người ta cột chặt bằng những sợi dây thừng để đảm bảo sự bền chắc khi chuyên chở. Cỗ xe này được sử dụng trong một thời gian mấy chục năm thì bị hao mòn, hư hoại. Tấm thân của Như Lai cũng giống như vậy, còn sống và hoạt động được là nhờ những sợi dây thừng buộc ràng lại với nhau. Đức Phật tiết lộ một bí mật vì sao tuy đối diện với sự khủng hoảng của cái chết, vẫn có thể điềm tĩnh an nhiên, không bị chi phối và khống chế bởi các cảm thọ khổ đau là do Ngài không tác ý đến tất cả tướng, cùng với sự diệt trừ một số cảm thọ, chứng và an trú nơi Vô tướng tâm định. Khi Đức Phật an trú vào trong sự định này, Ngài cảm thấy rất yên ổn thoải mái. Với một trí tuệ vĩ đại và sức định rộng lớn như thế, bậc Thế Gian Giải mới có thể đối diện trực tiếp với cảm thọ đau đớn khủng khiếp của cái chết đang đến gần. Đối với một người bình thường không có tu tập, không thể chịu đựng nổi trước một cảm giác đau đớn khốc liệt của tứ đại tan rã.
Việc diệt trừ một số cảm thọ, chứng và an trú nơi Vô tướng tâm định của Đức Phật, chỉ có những người có công phu thực tập quán chiếu sâu sắc mới có thể hiểu được chỗ Ngài chia sẻ. Tạm thời, chúng ta có thể hiểu việc diệt trừ một số cảm thọ của Ngài bằng một ví dụ đơn giản dễ hiểu như đang lúc ngồi học Pháp, bỗng nhiên đèn và quạt đều bị tắt do cúp điện bất thình lình. Ngay khi ấy, có một số người cảm thấy khó chịu do tiết trời nóng bức, nhưng có một số người khác lại cảm thấy vui vì được nghỉ học… Như vậy, khi vui hoặc sân trước sự thay đổi đột ngột, vô tình chúng ta đã bị lôi cuốn theo những cảm thọ vui hoặc khổ của trần cảnh. Trái lại, nếu cũng ngay lúc đó, chúng ta nhiếp tâm tác ý vào trong lời pháp, xem việc nghe pháp là quan trọng hơn và để cảm giác vui hoặc khổ kia sang một bên, gọi là ‘tách tâm mình ra khỏi cảm thọ’, thì sẽ không bị chúng làm cho điên đảo! Đây chính là một pháp tu cực kỳ quan trọng trong việc thực hành pháp. Nói là vậy nhưng không dễ hành trì! Chỉ có những người tha thiết thực tập pháp này, mới thấy được những điều sâu sắc đó, ngoài ra chỉ là những lời nói trên ngôn từ hoặc hiểu theo ý hành mà thôi!
Ngay khi đối diện với một sự việc gây ra sự khó chịu dễ nóng giận, nếu không có thực tập nhìn lại cảm giác, hành giả sẽ đi theo cảm giác sân, gọi là Phi Như lý tác ý. Nếu ta mặc nhiên cho chúng tự do biểu hiện tâm niệm như lửa nóng thiêu rụi kia, sẽ là cơ hội cho bất thiện pháp sinh khởi, xâm nhập, tăng trưởng lớn mạnh hơn và không còn có thể kiểm soát nổi. Người không biết tu tập, chưa đạt được trí tuệ về cảm thọ sẽ bị cảm giác khó chịu (khổ thọ) xông tới xâm chiếm, chi phối, lôi cuốn và nhận chìm trong ngọn lửa nóng bức của sân giận.
Trái lại, ngay lúc đó, người khéo biết tu tập tâm hay có trí tuệ về cảm thọ sẽ chánh niệm thấy rõ sự nguy hại, hậu quả do tâm sân đưa đến sự băng hoại, tan vỡ tình cảm, hết tình cạn lý giữa mình và mọi người, thậm chí là sẽ có những kết cuộc bi thảm ở tại ba nơi (Tam gia) là nhà thương, nhà tù và nhà quàn. Người có trí tuệ, sau khi đã quán xét được sự nguy hại của cảm giác, sẽ lập tức tự tách tâm ra khỏi cảm thọ sân, trở về an trú nơi cảm giác toàn thân. Người ấy thấy rõ họ là họ và cảm thọ là cảm thọ, không có liên quan gì với nhau. Cảm giác chỉ là cảm giác, cảm giác không phải là ‘Tôi’, không phải là ‘cái của Tôi’ và cũng không phải là ‘tự Ngã của tôi’, như vậy người ấy thành tựu được trí tuệ về cảm giác! Hoặc khá hơn nữa là dùng tâm từ để chuyển hóa cơn giận kia trở lại bình thường. Dùng nước mát của từ tâm để tưới ướt và làm mát dịu ngọn lửa sân giận, chính là tâm có tu tập sâu sắc! Người khéo tu tập tâm và người không biết tu tập tâm khác nhau ở chỗ này!
Trong pháp hành đòi hỏi người tu phải có tâm tha thiết cầu học và phải chuyên tâm nghiền ngẫm đào sâu vào trong tạng kinh Nikàya mới có thể thành tựu bảy trí về năm uẩn. Trong đó đặc biệt là sự thành tựu trí tuệ về Cảm thọ.
1. Thế nào là cảm thọ? Là những cảm giác xảy ra ở trên thân và tâm.
2. Có mấy loại cảm thọ? Có 3 loại cảm thọ: vui, khổ và không vui cũng không khổ.
3. Thế nào là thọ sanh? Do Xúc tập khởi, nên Thọ tập khởi. Do có sự tiếp xúc, đụng chạm, nên mới có cảm giác.
4. Thế nào là Thọ diệt? Do Xúc đoạn diệt, nên Thọ đoạn diệt. Do không có sự tiếp xúc, đụng chạm, nên cũng không có cảm giác.
5. Thế nào là vị ngọt của Thọ? Bất cứ duyên của Thọ nào làm khởi lên hỷ lạc, chính là vị ngọt của Thọ. Trong các cảm giác đưa đến sự thích thú, khoan khoái, say mê, yêu thích đó là vị ngọt của cảm giác.
6. Thế nào là sự nguy hại của Thọ? Là sự dính mắc và bị vị ngọt của cảm giác xâm chiếm, chi phối và nhấn chìm làm cho đau khổ cùng tột.
7. Thế nào là sự xuất ly khỏi Thọ? Là sự thấy rõ sự nguy hại của cảm giác. Thường trực nhìn lại cảm giác, nhận diện rõ để không bị chúng chi phối điều khiển và nhấn chìm và dùng trí tuệ năm uẩn để tách tâm ra khỏi vòng xoáy của chúng và được giải thoát.
Ví dụ, trong khi cầm đưa một đồ vật, vô tình bàn tay trắng trẻo, mềm mại của một cô gái xinh đẹp chạm phải bàn tay của ta, xuất hiện một cảm giác mềm mát và thích thú. Từ sự xúc chạm sinh ra cảm giác vui thích, gọi là ‘Xúc sinh Thọ’. Về đến chùa ngồi thiền, vẫn cứ nhớ về sự đụng chạm đó và hình bóng bàn tay kia cứ lởn vởn trong đầu. Từ cảm giác thích thú, trong tâm sẽ có sự yêu thích, gọi là ‘từ Thọ sinh Ái’. Từ tâm yêu thích đó phát triển mạnh dần lên là muốn nắm giữ, sở hữu cảm giác mềm ấm đó mãi, gọi là ‘Ái sinh Thủ’. Từ nơi nắm giữ mà tạo ra nghiệp, gọi là ‘từ Thủ mà có Hữu’. Nếu muốn nắm giữ mà không được thì khổ sầu. Trái lại, muốn mà được toại ý thì tham đắm không ngừng và suốt ngày khổ vì lo gìn giữ sợ mất. Rồi đến khi sự ưa thích mất đi thì càng sầu khổ nhiều hơn! Không chỉ riêng một việc xúc chạm nơi thân, đối với các việc khác ở năm căn còn lại như: Mắt, tai, mũi, lưỡi, ý cũng đều xảy ra giống như vậy. Một vòng vận hành của ngũ uẩn xảy ra liên tục không ngừng và chúng nhận chìm trong dòng sông cảm giác suốt cả ngày nhưng chúng ta không hề hay biết. Do đó, sự tu tập không phải là chạy đi tìm cái gì cao siêu ở bên ngoài mà là xoay lại nhìn sự vận hành của năm uẩn, nhìn lại cảm thọ diễn biến nơi thân này.
Khi tâm có sự chi phối, dẫn dắt và điều khiển thúc giục phải làm làm một việc gì hoặc phải đi đâu đó, không thể ngồi yên, chính là ‘Dục’. Suốt cả ngày và thậm chí suốt cả đời sống của chúng ta luôn luôn bị tham dục chi phối dẫn dắt, điều khiển nhưng không dễ hay biết. Ai đang như vậy, tức là đang sống trong si mê tăm tối của vô minh. Trái lại, người nào nhìn thấy rõ được sự sinh khởi và tìm cách đoạn trừ những Dục, Ái, Tham, Sân, Si, bản Ngã là bậc có trí tuệ năm Uẩn. Càng nhìn thấy rõ về Dục bao nhiêu thì trí tuệ về năm uẩn càng thành tựu bấy nhiêu. Đây là chỗ độc đáo của sự tu tập Thánh trí, chẳng phải là việc làm của người bình thường!
Trong sự tu học về trí tuệ năm uẩn, có ba loại trí tuệ: Vị ngọt, sự Nguy hại và sự Xuất ly đối với cảm thọ là cực kỳ quan trọng mà người tu cần hiểu rõ và nắm vững để hành trì. Bất cứ duyên của Thọ nào làm khởi lên hỷ lạc, chính là vị ngọt của Thọ. Nói rõ hơn, trong các cảm giác đưa đến sự thích thú, khoan khoái, say mê, yêu thích đó là vị ngọt của cảm giác. Hằng ngày, chúng ta có thường bị dính mắc với vị ngọt của cảm thọ và chìm đắm ở trong sự ưa thích hay không? Khi bị vị ngọt của cảm thọ nhấn chìm, ta có kịp thời nhận biết để tránh xa hay là cứ tiếp tục nhào tới? Câu thần chú ‘Án! Xa ra, Xa ra, Xa ra!’ chính là một pháp hành rất quan trọng của hành giả áp dụng trong mọi sinh hoạt hằng ngày để thực tập hạnh viễn ly. Xa ra, Xa ra, đừng có sáp vô, vì sáp vô sẽ chết! Đây là câu thần chú mới mà hành giả tu tập hạnh viễn ly cần nên nhớ để thực hành!
Có một vị nữ Phật tử ở nước ngoài đã gửi Email cảm ơn, vì sau khi ứng dụng câu ‘thần chú’ này đã giúp cô tránh xa mọi việc phiền toái trong cuộc sống. Như vậy hiệu quả của thần chú là khi con mắt tiếp xúc với hình sắc, tai tiếp xúc với âm thanh, mũi tiếp xúc với hương thơm, lưỡi tiếp xúc với vị ngọt, thân tiếp xúc với sự êm ái mà có cảm giác khoan khoái, dễ chịu hay thích thú, người tu lập tức đọc lên câu ‘Án! Xa ra, Xa ra, Xa ra!’ để không bị nhấn chìm vào trong dòng sông cảm giác đó. Nếu không nhớ câu thần chú này, mà cứ sáp vào thì mình lập tức bị nguy hiểm bởi tác hại của Dục và cảm giác gây ra. Vô số những vụ trọng án hình sự, những tai nạn thương tâm và những cảnh khổ đau mà báo đài thường xuyên đăng tải đều bắt nguồn từ sự tham dục và việc truy tìm cảm giác không ngừng nghỉ mà có. Hút chích ma túy, sử dụng thuốc lắc, đua xe gây tai nạn chết người, hát karaoke rồi đánh nhau đến thiệt mạng vì lời khen tiếng chê, hãm hiếp, cướp giật v.v… đều bắt nguồn từ cảm giác. Chính cảm giác đang ngày đêm nhận chìm thế giới!
Ngay nơi chỗ ngồi hiện tại trên trường Phật học và vào giờ phút sắp hết giờ học này, tất cả mọi người đang đều có cùng một cảm giác nôn nao muốn được mau chóng ra về. Đó chính là cảm giác thôi thúc của Dục, chúng ta cần phải nhìn thấy và nhiếp phục. Dù người tu đã sống thân cận với Dục rất nhiều năm, nhưng nếu không hiểu rõ mặt mũi, nơi cư trú, đặc tính của cảm giác như thể nào, chắc chắn chẳng có thể nhiếp phục được Dục. Dù Dục cư trú ở ngay trong thân của hành giả, nhưng muốn diễn tả được nó như thế nào thì không phải là việc dễ dàng. Nếu khéo nhìn lại cảm giác đang thôi thúc, giục giã đang xuất hiện ở trong thân, thì sẽ thấy ngay đó chính là Dục đang vận hành một cách mạnh mẽ.
Kế tiếp là Ái, tức là cảm giác yêu thích, khoái chí hoặc bịn rịn, lưu luyến, càng muốn xiết chặt và không muốn rời xa.
Lại nữa, đó là Tham, tức là muốn có thêm nhiều hơn nữa. Cho nên hai chữ ‘Tham dục’ có nghĩa sự thúc đẩy để làm tăng trưởng hay có thêm nhiều hơn nữa và không bao giờ muốn dừng lại, chưa bao giờ biết đủ! Cho nên mới nói bản chất của Dục chính là khổ!
Toàn bộ tinh hoa của tạng kinh Nikàya nếu rút gọn lại sẽ còn lại năm uẩn. Nếu tiếp tục rút gọn năm uẩn hơn nữa sẽ chỉ còn lại cảm giác (Thọ). Đây chính là bí kíp của Chánh pháp mà thiện tri thức rất may mắn mới được học hiểu và ứng dụng ngay trong đời này! Bất cứ ai làm chủ được cảm giác đều là bậc Hiền Thánh, chẳng phải người thường. Trong suốt 24 giờ của một ngày, tất cả mọi hoạt động đi, đứng, nằm, ngồi hoặc nói, nín, động, tịnh của mình đều bị chi phối và điều khiển bởi cảm giác, mà không một ai có thể nhận biết. Chỉ khi nào hành giả biết xoay nhìn lại nội tâm mới có thể nhìn thấy rõ Dục, Tham, Sân, Si và bản Ngã hiện ra một cách đầy đủ. Khi đã nhìn thấy chúng rõ ràng, người tu mới tìm cách nhiếp phục và đoạn trừ chúng ra khỏi tâm.
Một khi nắm vững được cách thực hành để nhận diện, nhiếp nhục và đoạn trừ được tất cả các lậu hoặc của Dục, Tham, Sân, Si, bản Ngã, hành giả đã nắm chắc trong tay công phu thượng thừa ‘Ngũ trảo thần công, Như Lai thần chưởng, Thượng phương bảo kiếm, Độc cô cầu bại, Thiên hạ vô địch’. Hành giả nắm vững được pháp này có thể làm Bá chủ toàn cầu, tung hoành ngang dọc trong khắp Tam giới, chẳng phải chỉ ở nơi thế giới nhỏ hẹp này! Hoặc dù chưa thực hành đến chỗ triệt để, nhưng nếu nắm vững được pháp này, cũng đã thấy được sự hiệu quả và lợi ích thiết thực ngay nơi bản thân. Do đó, việc nắm vững được chỗ tinh hoa tu tập là thường xuyên nhìn lại và phát hiện cảm giác là một việc trọng yếu đưa người tu đạt đến chỗ giải thoát rốt ráo với vô số điều kỳ diệu, mầu nhiệm và hết sức độc đáo, chớ có lãng quên!
./.