Thánh Tăng Hộ Niệm Như Thế Nào - Kinh Giáo Giới Cấp Cô Độc B
KINH NIKĀYA GIẢNG GIẢI
THÁNH TĂNG HỘ NIỆM NHƯ THẾ NÀO?
KINH GIÁO GIỚI CẤP CÔ ĐỘC B
–Thích Minh Thành–
"Do vậy, này Cư sĩ, hãy học tập như sau: 'Tôi sẽ không chấp thủ thọ do nhãn xúc sanh khởi, và tôi sẽ không có thức y cứ vào thọ do nhãn xúc sanh khởi'. Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy. Do vậy... 'Tôi sẽ không chấp thủ thọ do nhĩ xúc sanh khởi... Tôi sẽ không chấp thủ thọ do tỷ xúc sanh khởi... Tôi sẽ không chấp thủ thọ do thiệt xúc sanh khởi... Tôi sẽ không chấp thủ thọ do thân xúc sanh khởi... Tôi sẽ không chấp thủ thọ do ý xúc sanh khởi và tôi sẽ không có thức y cứ vào thọ do ý xúc sanh khởi'. Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy". (Trung Bộ Kinh, 143. Kinh Giáo giới Cấp Cô Ðộc)
Khi thọ sanh khởi là lập tức mình bị đồng hóa với nó. Có ai nhận diện được khi thọ sanh khởi lên không? Khi sân sanh khởi lên thì lúc đó thế nào? Cảm giác đó sanh khởi rất nhanh, những thứ nhanh nhất hiện giờ cũng không bằng tốc độ sanh khởi của cảm giác này nữa, thậm chí phi thuyền bay trong không gian cũng chẳng là gì đối với sự vận hành của tâm thức ngũ uẩn, khi cảm thọ sân sanh khởi là toàn bộ ngũ uẩn đều sân theo đó, khi khởi lên tư là lập tức có sắc tư; thanh tư; hương tư; vị tư; xúc tư; pháp tư rồi sau đó là sắc ái; thanh ái; hương ái; vị ái; xúc ái; pháp ái… tất cả tập hợp lại hoạt động, tất cả những suy nghĩ, hình bóng, nhận thức quay cuồng trong đó áp đảo, xâm chiếm toàn bộ ngũ uẩn. Một người không biết nhận diện ngũ uẩn, không biết cảm thọ là gì, không biết sự vận hành, an trú và chấm dứt của cảm thọ, không biết nhân duyên sanh diệt của thọ; tưởng; hành; thức thì làm sao có thể nhiếp phục được nó? Mình đã học, thấy biết chút ít mà mỗi khi nó sanh khởi lên mình vẫn thua nó, không kịp nhận diện được nó cho nên trong sự tu mà xem thường là không bao giờ thành tựu, khi ngồi thiền mà ý xúc sanh khởi, thọ do ý xúc sanh ra, không cần đối diện với con người, âm thanh, mùi hương mà ngồi một mình nhưng những hình bóng, cảm xúc, suy nghĩ sanh khởi rồi nó quật mình gục ngã ngay trên thiền đường, chính những tư tưởng về dục, sân, bản ngã trong đầu, bao nhiêu những lý luận, cảm xúc, hình bóng trong đó, không có bộ phim nào khủng khiếp như bộ phim ngũ uẩn này, không có vở tuồng nào dài tập bằng vở tuồng ngũ uẩn này, không có đạo diễn nào kinh khủng như đạo diễn ngũ uẩn này. Mình đóng tất cả các căn để ngồi yên thiền định trên bồ đoàn hoặc ở một mình trong thất, dưới gốc cây, ven bìa rừng nhưng mình có làm chủ, đối diện hoặc nhiếp phục những cảm giác, suy nghĩ, hình bóng trong thân tâm không? Những tên giặc đó mạnh khủng khiếp mà mình không có vũ khí gì cả hoặc lờ đờ thì mình làm được gì? Phải gỡ ý niệm "tôi" và "của tôi" ra từ từ, gỡ sự bám chắc, bấu víu, buộc chặt vào trong những cái đó.
"Do vậy, này Cư sĩ, hãy học tập như sau: 'Tôi sẽ không chấp thủ địa giới, và tôi sẽ không có thức y cứ vào địa giới'. Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy. Do vậy... 'Tôi sẽ không chấp thủ thủy giới... Tôi sẽ không chấp thủ hỏa giới... Tôi sẽ không chấp thủ phong giới... Tôi sẽ không chấp thủ hư không giới... Tôi sẽ không chấp thủ thức giới, và tôi sẽ không có thức y cứ vào thức giới'. Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy". (Trung Bộ Kinh, 143. Kinh Giáo giới Cấp Cô Ðộc)
Không chấp thủ vào địa giới là không bám vào thân xác xương da này, không bám vào những món đồ, đôi dép, chiếc xe, cái đãi, gường chõng, túi xách, chùa chiền, tịnh thất, phòng ốc, y áo… tất cả mọi cái đều không chấp thủ vào đó và không để cho những cái thức dựa dẫm vào những thứ đó. Phải xoá sạch trong tâm mình sự dựa dẫm, bấu víu, nắm chặt, dính mắc, chấp thủ vào trong những thứ đó, khi có suy nghĩ "cái đãi này đẹp quá" phải tác ý gỡ cái suy nghĩ đó ra khỏi đầu "không có gì là tôi, không có gì của tôi trong cái thứ vô thường, tan nát, hủy hoại này", địa giới là tất cả những gì được đất tạo thành, nếu chấp thủ vào nhà cửa mà lỡ hôm nào nhà sập thì khổ, chấp thủ vào tượng Phật mà lỡ bị bể thì sân hận lên và đừng cho cái thức của mình y cứ vào những thứ này, khi những thứ này bị phá vỡ, bị tan hoại mình không bị khổ đau, đối với thân này cũng vậy. Nhưng những điều này phải được thực tập, huân tập thường xuyên hằng này, hằng giờ, hằng tuần, hằng năm và hằng nhiều năm, phải phá vỡ mọi sự dính mắc, chấp thủ vào cảm giác, suy nghĩ, hình bóng này, những thứ đó là vô thường, tan nát, hủy hoại, hoại diệt, không chấp thủ vào đất; nước; gió; lửa, hư không giới và thức. Phải gỡ ra từng ý niệm, từng cảm thọ, từng suy nghĩ, như vậy mới gọi là tu tâm, mới gọi là thể nhập trí tuệ, khi trạch pháp mình sẽ biết cái đó thuộc về cái gì, thọ do ý xúc sanh hay thọ do nhãn xúc sanh, trong thọ có tham ái hay có chấp thủ, nếu không nhìn thì làm sao thấy những cái này, không thấy thì làm sao biết, mà không biết thì làm sao phân biệt được, không phân biệt thì làm sao nhiếp phục, đoạn trừ, tẩy sạch. Vì thế sự tu tập của chúng ta thuần túy tràn ngập thiền quán, trong sự thực tập đó để tâm lắng dịu, tịnh chỉ rồi bắt đầu nhìn ra, biện biệt trạch pháp, từ đó phân biệt được cái nào là căn, cái nào là trần, cái nào là thức, cái nào là thọ, cái nào là dục ái, vô minh, trong mỗi cái như vậy dùng cái gì tẩy sạch, nhiếp phục, mỗi một cái có phương pháp thích hợp để đối trị, như vậy gọi là thiền quán. Thiền là sự an tịnh, lắng dịu, quán là nhìn kĩ, sau đó mới bắt đầu làm việc, xử lý từng trường hợp cho hợp lý, hiệu quả, nếu vào thiền mà cứ ngồi nhắm mắt thở vào thở ra im lặng rồi hôm nào ngồi yên được thì mừng, hôm nào bị động là buồn thì làm sao giải quyết được vấn đề gốc rễ trong tâm. Muốn xử lý phải biết tình trạng của nó, muốn biết tình trạng thì phải rõ vấn đề nằm ở đâu, muốn biết vấn đề ở đâu thì phải nhìn, ngó mà việc nhìn, ngó chính là nhận diện ngũ uẩn, việc tu rất hệ thống, rõ ràng, thực tế, khoa học. Khi tâm hết lậu hoặc mình sẽ biết, lậu hoặc còn nhiều hay ít mình cũng biết, từ nãy giờ là căn – trần – thức – xúc – thọ nếu được nắm vững thì sau này việc tu hành không đi ra ngoài những thứ này nên mới gọi là căn bản trí. Trong kinh ghi lại lời ngài Xá-lợi-phất nhưng dùng dấu ba chấm để ngắn gọn, chứ thật tế ngài nói lặp đi lặp lại để sanh ra cảm thọ khắc sâu vào tâm của người nghe, ngài Xá-lợi-phất đang giúp ông Cấp-cô-độc tác ý, tôi sẽ không bám chặt, tôi sẽ không bấu chặt, tôi sẽ không để cho thức có chỗ y cứ vào trong sáu giới này, đất, nước, gió, lửa, hư không và thức. Thế nào là không chấp thủ vào phong giới? Người ta nói một câu vậy mà về giận thì đó là chấp thủ vào phong giới, xem câu nói đó là gió, nghe một câu thôi là về phân tích câu nói đó đủ các khía cạnh làm ảnh hưởng thân tâm, đó là chúng ta không biết đó chỉ là gió, là phong giới thôi, phải xem lời nói đó như gió thổi mây bay, khi nghe người ta chửi thì tác ý "cái này là gió độc đang thổi, không có ai ở đây". Mỗi khi nghe chửi là phân tích người đó lớn hay nhỏ mà nói vậy, phân tích câu nói đó, vậy là tâm mình đặt sai hướng, không trú trong pháp, bị chấp thủ vào phong giới và thức y cứ vào phong giới, nghĩa là câu chửi đó hằn sâu trong đầu thậm chí đến khi chết cũng không quên, mỗi lần lặp lại là đau khổ, giày vò, tức tưởi, oán thù, gọi là thức y cứ vào phong giới. Sự bám chặt, bấu víu, buộc chặt, chấp thủ là rất khủng khiếp.
"Thân trống rỗng không ai trong đó, không có ai ở trong đâu tâm. Tâm còn yêu thích thân trống rỗng thì còn đau khổ mãi nha tâm".
"Gió trống rỗng không ai trong đó, không có ai mà phải quấy, hơn thua. Gió trống rỗng không ai trong đó, không ai mà đúng với sai, thân còn bám chấp sai với đúng thì còn đau khổ mãi nha tâm".
Những bài này phải được thiền quán liên tục và thường xuyên, đó là tinh hoa Nikāya. Lỡ bị mất món đồ cũng không chấp thủ vào món đồ, không có tâm thức dính mắc vào món đồ đó. Trong từng cái nghe, thấy, tiếp xúc đều phải tập tác ý để tháo gỡ sự chấp thủ, y cứ vào đó mới gọi là tu tâm. Ví dụ có người bỏ bao rác trước cửa nhà rồi mình như thế nào? Có cảm xúc khó chịu sanh khởi, mình phải tác ý "tôi sẽ không chấp thủ vào không giới, vào khoảng trống đó", cái khoảng không để bao rác đó không có la lối gì thì tại sao mình la, mình giận, "tôi không để thức y cứ vào không giới này, vào khoảng trống đó", đó là quán hư không giới trống rỗng, nếu mình muốn chỗ đó không để rác thì đem bao rác đó đi đổ là xong chuyện, gọi là lưỡng toàn kỳ mỹ, nhiều khi như vậy lại cảm hóa được người hay bỏ rác trước nhà mình "đúng ra để vậy phải bực bội đằng này im lặng, không nói gì hết còn đi đổ cho mình nữa", ngược lại mình nổi giận đùng đùng, sân hận lên rồi cuối cùng được khổ đau, phiền não, nhiệt não. Chỉ vì năm tấc đất mà anh em ruột đâm nhau chết 4-5 người, đó là do chấp thủ vào miếng đất, tâm thức bám víu vào miếng đất, ăn không được ngủ không ngon cứ suy nghĩ về miếng đất, chấp thủ vào sắc pháp và thức y cứ vào địa giới là miếng đất nên anh em giết nhau chết, nhẹ nhàng thì không nhìn mặt nhau, thù hận. Mình tu để đạt được tâm không chấp thủ bất cứ một vật gì ở trên đời, tức là không nắm chặt vào bất kì vật gì ở trên đời, cái gì cũng có thể buông bỏ được, thiền tâm xả nhằm buông bỏ, xả bỏ những cái này, tâm buông xả là tâm hạnh phúc. Thánh pháp tối thượng là vậy mà không chịu, cứ thích những thứ làm sầu, bi, khổ, ưu, não, hơn thua rồi tự mình làm khổ cho mình, Đức Phật dạy pháp an lạc, muốn an lạc nhưng con đường dẫn đến an lạc lại không chịu đi, cứ đi ngược đường an lạc để đến con đường đau khổ, gọi là "bội giác hợp trần", quay lưng lại với sự giác ngộ rồi hợp theo trần lao.
"Do vậy, này Cư sĩ, hãy học tập như sau: 'Tôi sẽ không chấp thủ sắc, và tôi sẽ không có thức y cứ vào sắc'. Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy. Do vậy... 'Tôi sẽ không chấp thủ thọ... Tôi sẽ không chấp thủ tưởng... Tôi sẽ không chấp thủ hành... Tôi sẽ không chấp thủ thức và tôi sẽ không có thức y cứ vào thức giới'. Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy". (Trung Bộ Kinh, 143. Kinh Giáo giới Cấp Cô Ðộc)
Ngài Xá-lợi-phất chia ra nhiều phần, đến đây là phần ngũ uẩn nhưng ngũ uẩn lại bao trùm tất cả những pháp kia, nó là cơ sở, là nền tảng. Nắm vào ngũ uẩn sẽ thấy đầy đủ các pháp, sẽ thấy chi tiết từng phần của ngũ uẩn, nếu không nắm được ngũ uẩn hoặc nắm không đầy đủ sẽ không thấy đầy đủ, tu học phải nắm đầy đủ ngũ uẩn vì ngũ uẩn bao trùm tất cả những chi phần, khía cạnh trong pháp. Chỉ riêng phần sắc uẩn đã bao trùm mắt; tai; mũi; lưỡi; thân, ý, cho nên bậc thiện tri thức thấy được ngũ uẩn là cả một trí tuệ cực kì thâm sâu và rộng lớn, nếu chúng ta chỉ học sáu căn thôi đã không đầy đủ chứ đừng nói đến việc chỉ tu trong một hơi thở, chỉ biết sáu căn thì làm sao mình biết được thọ; tưởng; hành? Cho nên bằng nhiều phương tiện, căn cơ, hoàn cảnh nên Đức Phật nói ra nhiều phương pháp nhưng cuối cùng vẫn nằm trong ngũ uẩn, không ra khỏi ngũ uẩn cho nên chúng ta nắm ngũ uẩn là nắm được gốc trễ, cốt lỗi, từ gốc rễ nắm được những chi phần khác khác dễ dàng, đây là lý do tại sao chúng ta phải học, tu, hành trì và quán chiếu về ngũ uẩn, thật sự nó rất vi diệu.
"Do vậy, này Cư sĩ, hãy học tập như sau: 'Tôi sẽ không chấp thủ Hư không vô biên xứ, và tôi sẽ không có thức y cứ vào Hư không vô biên xứ'. Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy. Do vậy... 'Tôi sẽ không chấp thủ Thức vô biên xứ... Tôi sẽ không chấp thủ Vô sở hữu xứ... Tôi sẽ không chấp thủ Phi tưởng phi phi tưởng xứ, và tôi sẽ không có thức y cứ vào Phi tưởng phi phi tưởng xứ'. Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy". (Trung Bộ Kinh, 143. Kinh Giáo giới Cấp Cô Ðộc)
Ở đây đã lên tới tứ thiền bát định, bài giảng này của ngài Xá-lợi-phất đưa ông Cấp-cô-độc lên Thánh quả cao cấp chứ không còn là sự hộ niệm bình thường nữa, không ưa thích, chấp thủ vào tám tầng thiền định vì cứ chấp thủ là còn ở trong luân hồi sanh tử.
"Do vậy, này Cư sĩ, hãy học tập như sau: 'Tôi sẽ không chấp thủ thế giới ở đây và tôi sẽ không có thức y cứ vào thế giới ở đây'. Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy. Do vậy... 'Tôi sẽ không chấp thủ thế giới khác, và tôi sẽ không có thức y cứ vào thế giới khác". Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy". (Trung Bộ Kinh, 143. Kinh Giáo giới Cấp Cô Ðộc)
Người tu thiền đến trạng thái hư không vô biên xứ sẽ ngồi trong định rồi thấy tâm trống rỗng rộng lớn vô lượng vô biên, họ cứ trú trong đó gọi là hư không vô biên xứ, không vô biên xứ. Bây giờ vẫn có người tu theo kiểu này và họ nhầm tưởng đó là Niết-bàn, họ trú trong cái tâm trống rỗng rộng lớn bao la trùm khắp không có hình tướng gì cả nên họ bị chấp thủ, thức y cứ vào đó cho nên không thể giải thoát được. Người đạt được thiền định này không còn ở dục giới có thân xác như mình nữa, không có sắc giới nữa mà họ ở trong vô sắc, trống rỗng trống không và họ chấp thủ vào đó cho đó là họ, là của họ, tâm họ y cứ vào đó nên ở trong đó không đi ra được. Cái thiền này là pháp hữu vi nên có giới hạn, khi người này hết nhân hết duyên trong thiền định, bị mất thiền định sẽ lọt xuống các cõi dục giới, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, hoặc thân người, chư Thiên nhưng thường sẽ bị rơi vào ba ác đạo.
Thức vô biên xứ là người này ngồi quán sự rõ biết của mình bao trùm khắp vô lượng vô biên, cái biết không hình không tướng, không có bờ mé, không có giới hạn. Người này chấp thủ vào cái biết này, sự quán tưởng này, ưa thích, dính mắc và thức y cứ vào đó, nếu người này chứng đắc thì sanh vào cõi trời thức vô biên xứ tưởng và tuổi thọ kéo dài khủng khiếp, tính bằng đại kiếp, họ ở trong cảnh thiền định đó đến khi hết nhân hết duyên thì từ cõi đó rơi xuống vì thức vô biên xứ là pháp hữu vi, là vô thường, do thức tưởng chứ không phải là Thánh trí tuệ.
Vô sở hữu xứ là không có gì hết, người này cứ ngồi trong trạng thái tâm trống rỗng rộng lớn, không có một sắc tưởng, tạp tưởng nào chen vào tâm người đó và người này trú luôn trong cảnh thiền định trống không đó, đến khi chết sanh lên vô sở hữu xứ, là cảnh trời vô sắc. Các cảnh trời từ thấp lên cao là dục giới, sắc giới và vô sắc giới, đó là cảnh trời cao nhất trong ba cõi, tuổi thọ tính bằng đại kiếp, do người này chấp thủ, ưa thích, cho nó là tâm thức mình nên thức an trú trong đó.
Phi tưởng phi phi tưởng xứ nghĩa là không phải tưởng và cũng không phải không tưởng, đây là cái rất vi tế, người này chấp thủ và ưa thích nên thức chấp thủ vào trạng thái đó, đây là cảnh giới cao nhất trong tam giới, gọi là nóc nhà chính là tầng thiền thứ tám của vô sắc giới. Ở cảnh giới này không có sắc dục nam nữ cũng hoàn toàn không có thân thịt như mình, sắc giới là còn hình sắc, có những bóng sáng, vô sắc giới là không có hình sắc mà chỉ có tâm tưởng, sống bằng tâm tưởng chứ không có tướng mạo, hình tướng. Tất cả những cái này đều nằm trong ngũ uẩn tế hoặc thô, ở trong những trạng thái thiền định đó là trải qua vô số kiếp nhưng vẫn ở trong ngũ uẩn, chấp thủ và thức y cứ vào đó cho nên ngài Xá-lợi-phất nói với ngài Cấp-cô-độc đừng chấp thủ cũng đừng để thức y cứ vào những tầng thiền định này.
Trong kinh Đức Phật có dạy phải quay lưng với tất cả sự lòe loẹt của thế giới. Trong suy nghĩ, trong thầm ý của mình không ưa thích, nắm giữ bất cứ một cái gì trên đời này, cũng như trong kinh Tứ Niệm Xứ có ghi không nương tựa, chấp trước bất cứ một vật gì trên đời, vì vậy tâm mình đối với tất cả mọi sự vật, sự việc, đến ngay cả ngũ uẩn tự thân tâm cũng không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời.
"Này các Tỳ-kheo, nếu Tỳ-kheo sống nhiều với tưởng không hoan hỉ đối với các thế giới, thời tâm thối lui, tâm trở lưng, quay lưng với các lòe loẹt của thế giới; do đó tâm vị ấy không căng thẳng, thanh thản, khởi lên nhàm chán". (Tăng Chi Bộ, Chương VII - Bảy Pháp, V. Phẩm Ðại Tế Ðàn, (VI). Tưởng (2))
Khi thấy được bản chất vô thường, khổ não, vô ngã, trống rỗng của nó rồi nhàm chán, từ bỏ, xuất ly khỏi nó, đó là ý nghĩa của câu "không chấp thủ thế giới ở đây và tôi sẽ không có thức y cứ vào thế giới ở đây", như vậy mới đi đến Niết-bàn, không còn những yếu tố, động cơ để quay lại thế giới này nữa, như vậy mới gọi là xuất ly tam giới, ra khỏi ba cõi. Dục giới là vô cùng khổ, sắc giới có cái khổ vi tế, chư thiên và A-tu-la đánh nhau liên miên, cõi vô sắc thì yên định nên cứ trú trong đó vô lượng vô biên kiếp nhưng điểm giống nhau là cả ba cõi đều còn trong sanh tử luân hồi cho nên không chấp thủ thế giới là đi ra khỏi ba cõi, xuất ly khỏi nó. "Tôi sẽ không chấp thủ thế giới khác, và tôi sẽ không có thức y cứ vào thế giới khác", thế giới ở đây là cõi dục giới, thế giới khác là cõi sắc và vô sắc, nghĩa là tháo gỡ, buông xả, từ bỏ, nhàm chán, xuất ly ra tất cả thế giới. Khi tác ý mình không còn muốn hơn thua, giành giựt gì nữa, mình đứng ngoài cuộc những sự đúng sai, thị phi, phải quấy, mưu sĩ, mưu mô… người ta muốn làm hại mình, phỉ báng, sỉ nhục mình cũng không ảnh hưởng đến mình, mình xem thế gian này là quán trọ.
"Trần thế âu là cảnh tạm nương,
Cũng như chiếc quán dựa bên đường.
Người đời là khách dừng chân tạm,
Rồi vội lui về nẻo viễn phương".
(Thơ văn Phật Giáo – Ly Gia)
Mình xem cả thế gian này chứ đừng nói gì căn nhà chỉ là quán trọ, cả hành tinh này cả là căn nhà trọ nên không dính mắc khi nhìn thế giới này nhưng từ tâm mình lại bao trùm cả thế gian. Thánh pháp nghĩa là không dính mắc, trói buộc nhưng lại bao trùm bằng sự xót thương, bi mẫn, đây là chỗ tuyệt diệu của chánh pháp, đó là trung đạo đệ nhất nghĩa đế. Bình thường một là dính chặt vào, hai là bỏ mặc luôn, còn đằng này đứng ở ngoài thế gian nhưng lòng bi mẫn bao trùm vạn loại, đó là tâm của bậc Thánh, cũng chính là pháp mà Thế Tôn truyền trao cho hàng đệ tử của ngài.
"-- Này các Tỳ-kheo, Ta không tranh luận với đời, chỉ có đời tranh luận với Ta. Này các Tỳ-kheo, người nói Pháp không tranh luận bất cứ với một ai ở đời". (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Uẩn (f), V. Phẩm Hoa, II. Bông Hoa (hay Tăng trưởng))
Đó là tâm viễn ly, tâm siêu thế, xuất thế, nếu được tâm này sẽ rất vi diệu, không còn hơn thua, giành giựt với ai nữa, ai muốn đấu đá, mưu tính, chỉ trích, phỉ báng thì cứ việc vì đây chỉ là nhà trọ, ở một chút rồi đi thôi. Đó mới là tâm của bậc đại nhân, bậc Thánh nhân, vì thế cần tác ý không nắm giữ bất cứ một cái gì trên thế gian này, tôi không để cho tâm thức tôi bám víu, nương dựa vào thế giới này hoặc thế giới khác.
"Do vậy, này Cư sĩ, hãy học tập như sau: 'Tôi sẽ không chấp thủ những gì được thấy, được nghe, được cảm thọ, được nhận thức, được hy cầu, được tư sát với ý, và tôi sẽ không có thức y cứ vào các pháp (nói trên)'. Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy". (Trung Bộ Kinh, 143. Kinh Giáo giới Cấp Cô Ðộc)
Thấy cái gì cũng biết nó vô thường, khổ, vô ngã. Nghe thì biết nhưng không chấp thủ vào âm thanh đó, xem cảm thọ như mây, như khói, thậm chí không chấp thủ vào cái biết. Cái biết này chỉ là pháp duyên sanh, là trò ảo thuật. Những cái gì được mong cầu trong tâm cũng không chấp thủ, ví dụ khi gần chết dặn dò cái này cái kia để không mong cầu gì nữa. Tư sát với ý là những gì mà ý suy xét cũng không chấp thủ mà buông xả hoàn toàn. "Tôi sẽ không có thức y cứ vào các pháp trên" nghĩa là nó sanh khởi thì sanh khởi chứ mình không chấp thủ vào nó, nó sanh khởi rồi cũng sẽ diệt.
"Khi nghe nói vậy, cư sĩ Cấp Cô Ðộc khóc và chảy nước mắt. Rồi Tôn giả Ananda nói với cư sĩ Cấp Cô Ðộc:
-- Này Cư sĩ, Ông đang gượng lên mà sống, hay chìm xuống (cõi chết)?
-- Thưa Tôn giả Ananda, con không gượng lên mà sống, con đang chìm xuống cõi chết. Dầu cho bậc Ðạo sư được con hầu hạ đã lâu và dầu con đã từng gần gũi các vị Tỳ-kheo tu tập ý lực, con chưa từng được nghe một thời thuyết pháp như vậy.
-- Này Cư sĩ, thuyết pháp như vậy không nói cho các hàng cư sĩ mặc áo trắng. Này Cư sĩ, thuyết pháp như vậy nói cho các hàng xuất gia.
-- Vậy thưa Tôn giả Sariputta, hãy thuyết pháp như vậy cho hàng cư sĩ mặc áo trắng. Thưa Tôn giả Sariputta, có những Thiện gia nam tử sanh ra với cấu uế không nhiều, nếu không được nghe pháp, sẽ bị đọa lạc; nhưng nếu được nghe, họ có thể biết được (Chánh) pháp.
Rồi Tôn giả Sariputta và Tôn giả Ananda sau khi giảng dạy cho cư sĩ Cấp Cô Ðộc với bài thuyết giảng, từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi. Rồi cư sĩ Cấp Cô Ðộc, sau khi Tôn giả Sariputta và Tôn giả Ananda ra đi không bao lâu, thân hoại mạng chung, và sau khi thân hoại mạng chung liền sanh lên cõi Tusita (Ðâu-suất thiên)". (Trung Bộ Kinh, 143. Kinh Giáo giới Cấp Cô Ðộc)
Ngài Cấp-cô-độc sanh lên cõi trời Đâu-suất, chứng Thánh quả trở thành Thánh đệ tử thiên, lên trên đó tu tập tiếp tục để đi đến quả vị tận cùng tối cao A-la-hán. Sau khi lên cõi trời thì ngài Cấp-cô-độc xuống đảnh lễ Đức Thế Tôn, đó là một vị đại cư sĩ đúng theo ý nghĩa Thánh đệ tử thời Đức Phật, chỉ với tâm bố thí, cung kính tam bảo lúc đầu nhưng cuối đời lại được kết quả ngoài sức tưởng tượng, không thể nghĩ bàn, thể nhập Thánh trí, lên cõi trời Đâu-suất để tiếp tục tu tập để thể nhập Thánh quả. Thật là vi diệu, tối thượng với những ai có lòng tin đối với Đức Thế Tôn, đối với Thánh pháp, đối với những bậc bốn đôi tám chúng hiền Thánh Tăng, mong rằng phước báo cao thượng, vi diệu của Thánh pháp sẽ lan tỏa cùng khắp thế giới trời đất này, với tất cả những người đang bị cách ly, bị nhiễm bệnh hay đã chết, tất cả chúng sanh đều thấm nhuần được sự thật chơn chánh tối thượng này sẽ được tâm bình an, thành tựu Thánh trí huệ về khổ đau, giải thoát khỏi tất cả khổ sầu, thành tựu Niết-bàn tối thượng.
Kính thưa đại chúng, chúng ta còn lại một chút khúc cuối của bài kinh. Sau khi ngài Cấp-cô-độc qua đời được sanh lên cõi trời Đâu-suất trở thành thiên tử, vào khoảng 4-5h sáng là giờ chư thiên thường nghe pháp, lúc trời hừng sáng là giờ Đức Phật thường thuyết pháp cho chư thiên cho nên đó là giờ chư thiên cũng như thiên tử Cấp-cô-độc xuất hiện chói sáng. Khi ấy ngài Cấp-cô-độc xuất hiện với thân hình chư thiên chứ không còn là một ông già bệnh gần chết nữa.
"Rồi Thiên tử Cấp Cô Ðộc, khi đêm đã gần mãn, sau khi chói sáng toàn cảnh Jetavana (Kỳ-đà-Lâm) với dung sắc thù thắng đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn và đứng một bên. (Trung Bộ Kinh, 143. Kinh Giáo giới Cấp Cô Ðộc)
Dung sắc thù thắng là vẻ đẹp khó diễn tả được của chư thiên, không phải như da thịt của mình mà cái đẹp đó rất thanh thoát, thanh cao, cao thượng, hơn nữa ngài lại là Thánh đệ tử thiên.
"Ðứng một bên, Thiên tử Cấp Cô Ðộc nói lên với Thế Tôn bài kệ sau đây:
Rừng Jetavana,
Tốt đẹp phước lành này,
Ðược chư Thiên, chúng Tăng,
Thường lui tới an trú,
Ðược Pháp Vương trú trì,
Ban hoan hỉ cho ta.
Nghiệp, minh và Chánh pháp,
Giới, tối thượng sanh mạng,
Chính nhờ các pháp trên,
Khiến chúng sanh thanh tịnh,
Không phải do giai cấp,
Không phải do tài sản.
Do vậy bậc Hiền giả,
Thấy rõ mục đích mình,
Suy tư pháp chân chánh,
Ðược thanh tịnh ở đây.
Như Sariputta,
Về tuệ, giới, tịch tịnh,
Bất luận Tỳ-kheo nào,
Ðã tới bờ bên kia,
Hãy đạt được tối thắng
Trong những pháp kể trên.
Thiên tử Cấp Cô Ðộc nói như vậy. Bậc Ðạo sư tán đồng. Rồi Thiên tử Cấp Cô Ðộc suy nghĩ: 'Bậc Ðạo sư tán đồng ta'. Sau khi đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài rồi biến mất tại chỗ.
Rồi Thế Tôn, khi đêm ấy đã mãn, gọi các Tỳ-kheo:
-- Này các Tỳ-kheo, đêm nay, một vị Thiên tử, khi đêm đã gần mãn, chiếu sáng toàn cảnh Jetavana với dung sắc thù thắng đã đi đến Ta, sau khi đến đảnh lễ Ta rồi đứng một bên. Ðứng một bên, vị Thiên tử ấy nói lên với Ta bài kệ sau đây:
Rừng Jetavana,
Tốt đẹp phước lành này,
Ðược chư Thiên, chúng Tăng,
Thường lui tới an trú,
Ðược Pháp Vương trú trì,
Ban hoan hỉ cho ta.
Nghiệp, minh và Chánh pháp,
Giới, tối thượng sanh mạng,
Chính nhờ các pháp trên,
Khiến chúng sanh thanh tịnh,
Không phải do giai cấp,
Không phải do tài sản.
Do vậy bậc Hiền giả,
Thấy rõ mục đích mình,
Suy tư pháp chân chánh,
Ðược thanh tịnh ở đây.
Như Sariputta,
Về tuệ, giới, tịch tịnh,
Bất luận Tỳ-kheo nào,
Ðã tới bờ bên kia,
Hãy đạt được tối thắng
Trong những pháp kể trên.
Nói vậy xong, này các Tỳ-kheo, vị Thiên tử ấy suy nghĩ: 'Bậc Ðạo sư tán đồng ta', sau khi đảnh lễ thân phía hữu hướng về Ta, rồi biến mất tại chỗ.
Khi được nghe nói vậy, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, có phải vị ấy là Thiên tử Cấp Cô Ðộc chăng? Bạch Thế Tôn, cư sĩ Cấp Cô Ðộc có lòng tịnh tín bất động đối với Tôn giả Sariputta.
-- Lành thay, lành thay, Ananda! Những gì có thể thành đạt được bởi suy tư đã được đạt đến, này Ananda. Chính Cấp Cô Ðộc là vị Thiên tử ấy, không một ai khác.
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả Ananda hoan hỉ tín thọ lời Thế Tôn dạy". (Trung Bộ Kinh, 143. Kinh Giáo giới Cấp Cô Ðộc)
Ngài Anan là người dẫn ngài Xá-lợi-phất đi đến hộ niệm cho ngài Cấp-cô-độc nên ngài thấy trạng thái lúc đó của ông Cấp-cô-độc rất đau đớn, khổ sở nhưng ông ấy lại có sự tịnh tín bất động đối với pháp. Đức Phật nói những gì có thể suy nghĩ để đạt đến thì ngài Anan chính là người đó, ngài Anan đã đoán đúng người nói bài kệ đó chính là thiên tử Cấp-cô-độc. Bài kinh này nhằm giúp các Phật tử hoan hỉ trong thiện pháp để thấy rằng một vị Phật tử bố thí, cúng dường với cái tâm chân thành, cung kính, tịnh tín bất động đối với tam bảo và giây phút cuối cùng của cuộc đời được Thánh Tăng Xá-lợi-phất hộ niệm trở thành một vị Thánh đệ tử thiên. Khi trở về ngài tán thán rừng Cấp-cô-độc viên, Kỳ Đà lâm này tốt đẹp và phước lành khi được chư thiên và chúng Tăng thường an trú ở đây tu, đặc biệt là được bậc pháp vương trụ trì. Ngài Cấp-cô-độc được sanh thiên là do phước đức cúng dường Tinh Xá của ngài, ngoài ra còn tín – giới – tuệ nhưng phần lớn là do công đức cúng dường và ngài hoan hỉ với việc thiện, phước báo đó nên ngài trở về tán thán và trình lên Đức Phật bài kệ, tức là ngài hoan hỉ với phước lành ngài đã làm và phước lành ngài đang được hưởng. Khi trở thành bậc Thánh đệ tử thiên thì ngài xuống trở lại nói lời tri ân, cảm ơn, biết ơn đối với Đức Thế Tôn, đối với các bậc Thánh Tăng và đương nhiên các chư thiên ở Kì Thọ Cấp-cô-độc viên rất nhiều để nghe Thánh pháp, hễ chỗ nào có chánh pháp chỗ đó có chư thiên hộ trì. Sau khi thấy được mục đích thì ngày đêm thiền tư, tư duy những lời Đức Phật dạy, những lời dạy chánh pháp. Ngài Cấp-cô-độc tán thán Phật, tán thán pháp, tán thán Tăng chúng và tán thán phúc lành của cư sĩ Cấp-cô-độc đã làm để ngày nay trổ ra quả thành thiên tử Cấp-cô-độc, không còn là một ông già nằm bệnh đau đớn khổ sở ngày hôm qua nữa mà đã trở thành thiên tử có ánh sáng chói sáng khắp vùng, đó là hoa trái trong tu tập của một vị đại cư sĩ và lời hộ niệm của một vị đại Thánh Tăng. Chúng ta có một buổi thiền quán để chia sẻ về những pháp mà tôn giả Xá-lợi-phất đã khuyến tấn, khích lệ, hộ niệm cho cư sĩ Cấp-cô-độc cũng như khuyến tấn, khích lệ, hộ niệm cho tất cả hữu tình chúng sanh đang có mặt trong ngày hôm nay sau hai mươi mấy ngày ông Cấp-cô-độc qua đời hoặc chỉ mới mấy mươi ngày thôi, vì một ngày đêm trên cõi trời Đâu-suất bằng bốn trăm năm dưới nhân gian.
"Bốn trăm năm của một đời người, này các Tỳ-kheo, bằng một đêm một ngày của chư Thiên cõi trời Tusità (Ðâu-Xuất). Ba mươi đêm của đêm ấy làm thành một tháng, mười hai tháng của tháng ấy làm thành một năm. Bốn ngàn năm chư Thiên của năm ấy làm thành thọ mạng của chư Thiên cõi trời Tusità. Sự kiện này có xảy ra, này các Tỳ-kheo: 'Ở đây, có người đàn bà hay đàn ông, sau khi thực hành ngày trai giới thành tựu tám chi phần, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với chư Thiên cõi trời Tusità'. Do vậy, Ta nói: 'Nhỏ nhoi thay, này các Tỳ-kheo, là quyền của loài người, so sánh với hạnh phúc chư Thiên'". (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, V. Phẩm Ngày Trai Giới, (II). Ngày Trai Giới)
Chúng ta nghe thì thấy nhàn chám đau khổ nhưng khi thấm được thì đạt đến hạnh phúc tuyệt đối. Nghe khổ, quán chiếu về khổ, suy tư về khổ để đạt đến chỗ diệt khổ, vì vậy thể nhập Thánh trí về khổ để đưa đến chấm dứt khổ đau, còn khổ của thế gian là trường viễn bất tận, khổ này để đưa đến khổ khác chứ có ngày chấm dứt nhưng Thánh trí về khổ giúp chúng ta chấm dứt khổ, thoát khổ, đây là chỗ đặc biệt của Thánh pháp, gương sáng ở đây là cư sĩ Cấp-cô-độc. Kính chúc tất cả quý vị có được sự tịnh tín bất động thể nhập vào chánh pháp tối thượng, an lạc này.
./.
THÁNH TĂNG HỘ NIỆM NHƯ THẾ NÀO?
KINH GIÁO GIỚI CẤP CÔ ĐỘC B
–Thích Minh Thành–
"Do vậy, này Cư sĩ, hãy học tập như sau: 'Tôi sẽ không chấp thủ thọ do nhãn xúc sanh khởi, và tôi sẽ không có thức y cứ vào thọ do nhãn xúc sanh khởi'. Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy. Do vậy... 'Tôi sẽ không chấp thủ thọ do nhĩ xúc sanh khởi... Tôi sẽ không chấp thủ thọ do tỷ xúc sanh khởi... Tôi sẽ không chấp thủ thọ do thiệt xúc sanh khởi... Tôi sẽ không chấp thủ thọ do thân xúc sanh khởi... Tôi sẽ không chấp thủ thọ do ý xúc sanh khởi và tôi sẽ không có thức y cứ vào thọ do ý xúc sanh khởi'. Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy". (Trung Bộ Kinh, 143. Kinh Giáo giới Cấp Cô Ðộc)
Khi thọ sanh khởi là lập tức mình bị đồng hóa với nó. Có ai nhận diện được khi thọ sanh khởi lên không? Khi sân sanh khởi lên thì lúc đó thế nào? Cảm giác đó sanh khởi rất nhanh, những thứ nhanh nhất hiện giờ cũng không bằng tốc độ sanh khởi của cảm giác này nữa, thậm chí phi thuyền bay trong không gian cũng chẳng là gì đối với sự vận hành của tâm thức ngũ uẩn, khi cảm thọ sân sanh khởi là toàn bộ ngũ uẩn đều sân theo đó, khi khởi lên tư là lập tức có sắc tư; thanh tư; hương tư; vị tư; xúc tư; pháp tư rồi sau đó là sắc ái; thanh ái; hương ái; vị ái; xúc ái; pháp ái… tất cả tập hợp lại hoạt động, tất cả những suy nghĩ, hình bóng, nhận thức quay cuồng trong đó áp đảo, xâm chiếm toàn bộ ngũ uẩn. Một người không biết nhận diện ngũ uẩn, không biết cảm thọ là gì, không biết sự vận hành, an trú và chấm dứt của cảm thọ, không biết nhân duyên sanh diệt của thọ; tưởng; hành; thức thì làm sao có thể nhiếp phục được nó? Mình đã học, thấy biết chút ít mà mỗi khi nó sanh khởi lên mình vẫn thua nó, không kịp nhận diện được nó cho nên trong sự tu mà xem thường là không bao giờ thành tựu, khi ngồi thiền mà ý xúc sanh khởi, thọ do ý xúc sanh ra, không cần đối diện với con người, âm thanh, mùi hương mà ngồi một mình nhưng những hình bóng, cảm xúc, suy nghĩ sanh khởi rồi nó quật mình gục ngã ngay trên thiền đường, chính những tư tưởng về dục, sân, bản ngã trong đầu, bao nhiêu những lý luận, cảm xúc, hình bóng trong đó, không có bộ phim nào khủng khiếp như bộ phim ngũ uẩn này, không có vở tuồng nào dài tập bằng vở tuồng ngũ uẩn này, không có đạo diễn nào kinh khủng như đạo diễn ngũ uẩn này. Mình đóng tất cả các căn để ngồi yên thiền định trên bồ đoàn hoặc ở một mình trong thất, dưới gốc cây, ven bìa rừng nhưng mình có làm chủ, đối diện hoặc nhiếp phục những cảm giác, suy nghĩ, hình bóng trong thân tâm không? Những tên giặc đó mạnh khủng khiếp mà mình không có vũ khí gì cả hoặc lờ đờ thì mình làm được gì? Phải gỡ ý niệm "tôi" và "của tôi" ra từ từ, gỡ sự bám chắc, bấu víu, buộc chặt vào trong những cái đó.
"Do vậy, này Cư sĩ, hãy học tập như sau: 'Tôi sẽ không chấp thủ địa giới, và tôi sẽ không có thức y cứ vào địa giới'. Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy. Do vậy... 'Tôi sẽ không chấp thủ thủy giới... Tôi sẽ không chấp thủ hỏa giới... Tôi sẽ không chấp thủ phong giới... Tôi sẽ không chấp thủ hư không giới... Tôi sẽ không chấp thủ thức giới, và tôi sẽ không có thức y cứ vào thức giới'. Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy". (Trung Bộ Kinh, 143. Kinh Giáo giới Cấp Cô Ðộc)
Không chấp thủ vào địa giới là không bám vào thân xác xương da này, không bám vào những món đồ, đôi dép, chiếc xe, cái đãi, gường chõng, túi xách, chùa chiền, tịnh thất, phòng ốc, y áo… tất cả mọi cái đều không chấp thủ vào đó và không để cho những cái thức dựa dẫm vào những thứ đó. Phải xoá sạch trong tâm mình sự dựa dẫm, bấu víu, nắm chặt, dính mắc, chấp thủ vào trong những thứ đó, khi có suy nghĩ "cái đãi này đẹp quá" phải tác ý gỡ cái suy nghĩ đó ra khỏi đầu "không có gì là tôi, không có gì của tôi trong cái thứ vô thường, tan nát, hủy hoại này", địa giới là tất cả những gì được đất tạo thành, nếu chấp thủ vào nhà cửa mà lỡ hôm nào nhà sập thì khổ, chấp thủ vào tượng Phật mà lỡ bị bể thì sân hận lên và đừng cho cái thức của mình y cứ vào những thứ này, khi những thứ này bị phá vỡ, bị tan hoại mình không bị khổ đau, đối với thân này cũng vậy. Nhưng những điều này phải được thực tập, huân tập thường xuyên hằng này, hằng giờ, hằng tuần, hằng năm và hằng nhiều năm, phải phá vỡ mọi sự dính mắc, chấp thủ vào cảm giác, suy nghĩ, hình bóng này, những thứ đó là vô thường, tan nát, hủy hoại, hoại diệt, không chấp thủ vào đất; nước; gió; lửa, hư không giới và thức. Phải gỡ ra từng ý niệm, từng cảm thọ, từng suy nghĩ, như vậy mới gọi là tu tâm, mới gọi là thể nhập trí tuệ, khi trạch pháp mình sẽ biết cái đó thuộc về cái gì, thọ do ý xúc sanh hay thọ do nhãn xúc sanh, trong thọ có tham ái hay có chấp thủ, nếu không nhìn thì làm sao thấy những cái này, không thấy thì làm sao biết, mà không biết thì làm sao phân biệt được, không phân biệt thì làm sao nhiếp phục, đoạn trừ, tẩy sạch. Vì thế sự tu tập của chúng ta thuần túy tràn ngập thiền quán, trong sự thực tập đó để tâm lắng dịu, tịnh chỉ rồi bắt đầu nhìn ra, biện biệt trạch pháp, từ đó phân biệt được cái nào là căn, cái nào là trần, cái nào là thức, cái nào là thọ, cái nào là dục ái, vô minh, trong mỗi cái như vậy dùng cái gì tẩy sạch, nhiếp phục, mỗi một cái có phương pháp thích hợp để đối trị, như vậy gọi là thiền quán. Thiền là sự an tịnh, lắng dịu, quán là nhìn kĩ, sau đó mới bắt đầu làm việc, xử lý từng trường hợp cho hợp lý, hiệu quả, nếu vào thiền mà cứ ngồi nhắm mắt thở vào thở ra im lặng rồi hôm nào ngồi yên được thì mừng, hôm nào bị động là buồn thì làm sao giải quyết được vấn đề gốc rễ trong tâm. Muốn xử lý phải biết tình trạng của nó, muốn biết tình trạng thì phải rõ vấn đề nằm ở đâu, muốn biết vấn đề ở đâu thì phải nhìn, ngó mà việc nhìn, ngó chính là nhận diện ngũ uẩn, việc tu rất hệ thống, rõ ràng, thực tế, khoa học. Khi tâm hết lậu hoặc mình sẽ biết, lậu hoặc còn nhiều hay ít mình cũng biết, từ nãy giờ là căn – trần – thức – xúc – thọ nếu được nắm vững thì sau này việc tu hành không đi ra ngoài những thứ này nên mới gọi là căn bản trí. Trong kinh ghi lại lời ngài Xá-lợi-phất nhưng dùng dấu ba chấm để ngắn gọn, chứ thật tế ngài nói lặp đi lặp lại để sanh ra cảm thọ khắc sâu vào tâm của người nghe, ngài Xá-lợi-phất đang giúp ông Cấp-cô-độc tác ý, tôi sẽ không bám chặt, tôi sẽ không bấu chặt, tôi sẽ không để cho thức có chỗ y cứ vào trong sáu giới này, đất, nước, gió, lửa, hư không và thức. Thế nào là không chấp thủ vào phong giới? Người ta nói một câu vậy mà về giận thì đó là chấp thủ vào phong giới, xem câu nói đó là gió, nghe một câu thôi là về phân tích câu nói đó đủ các khía cạnh làm ảnh hưởng thân tâm, đó là chúng ta không biết đó chỉ là gió, là phong giới thôi, phải xem lời nói đó như gió thổi mây bay, khi nghe người ta chửi thì tác ý "cái này là gió độc đang thổi, không có ai ở đây". Mỗi khi nghe chửi là phân tích người đó lớn hay nhỏ mà nói vậy, phân tích câu nói đó, vậy là tâm mình đặt sai hướng, không trú trong pháp, bị chấp thủ vào phong giới và thức y cứ vào phong giới, nghĩa là câu chửi đó hằn sâu trong đầu thậm chí đến khi chết cũng không quên, mỗi lần lặp lại là đau khổ, giày vò, tức tưởi, oán thù, gọi là thức y cứ vào phong giới. Sự bám chặt, bấu víu, buộc chặt, chấp thủ là rất khủng khiếp.
"Thân trống rỗng không ai trong đó, không có ai ở trong đâu tâm. Tâm còn yêu thích thân trống rỗng thì còn đau khổ mãi nha tâm".
"Gió trống rỗng không ai trong đó, không có ai mà phải quấy, hơn thua. Gió trống rỗng không ai trong đó, không ai mà đúng với sai, thân còn bám chấp sai với đúng thì còn đau khổ mãi nha tâm".
Những bài này phải được thiền quán liên tục và thường xuyên, đó là tinh hoa Nikāya. Lỡ bị mất món đồ cũng không chấp thủ vào món đồ, không có tâm thức dính mắc vào món đồ đó. Trong từng cái nghe, thấy, tiếp xúc đều phải tập tác ý để tháo gỡ sự chấp thủ, y cứ vào đó mới gọi là tu tâm. Ví dụ có người bỏ bao rác trước cửa nhà rồi mình như thế nào? Có cảm xúc khó chịu sanh khởi, mình phải tác ý "tôi sẽ không chấp thủ vào không giới, vào khoảng trống đó", cái khoảng không để bao rác đó không có la lối gì thì tại sao mình la, mình giận, "tôi không để thức y cứ vào không giới này, vào khoảng trống đó", đó là quán hư không giới trống rỗng, nếu mình muốn chỗ đó không để rác thì đem bao rác đó đi đổ là xong chuyện, gọi là lưỡng toàn kỳ mỹ, nhiều khi như vậy lại cảm hóa được người hay bỏ rác trước nhà mình "đúng ra để vậy phải bực bội đằng này im lặng, không nói gì hết còn đi đổ cho mình nữa", ngược lại mình nổi giận đùng đùng, sân hận lên rồi cuối cùng được khổ đau, phiền não, nhiệt não. Chỉ vì năm tấc đất mà anh em ruột đâm nhau chết 4-5 người, đó là do chấp thủ vào miếng đất, tâm thức bám víu vào miếng đất, ăn không được ngủ không ngon cứ suy nghĩ về miếng đất, chấp thủ vào sắc pháp và thức y cứ vào địa giới là miếng đất nên anh em giết nhau chết, nhẹ nhàng thì không nhìn mặt nhau, thù hận. Mình tu để đạt được tâm không chấp thủ bất cứ một vật gì ở trên đời, tức là không nắm chặt vào bất kì vật gì ở trên đời, cái gì cũng có thể buông bỏ được, thiền tâm xả nhằm buông bỏ, xả bỏ những cái này, tâm buông xả là tâm hạnh phúc. Thánh pháp tối thượng là vậy mà không chịu, cứ thích những thứ làm sầu, bi, khổ, ưu, não, hơn thua rồi tự mình làm khổ cho mình, Đức Phật dạy pháp an lạc, muốn an lạc nhưng con đường dẫn đến an lạc lại không chịu đi, cứ đi ngược đường an lạc để đến con đường đau khổ, gọi là "bội giác hợp trần", quay lưng lại với sự giác ngộ rồi hợp theo trần lao.
"Do vậy, này Cư sĩ, hãy học tập như sau: 'Tôi sẽ không chấp thủ sắc, và tôi sẽ không có thức y cứ vào sắc'. Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy. Do vậy... 'Tôi sẽ không chấp thủ thọ... Tôi sẽ không chấp thủ tưởng... Tôi sẽ không chấp thủ hành... Tôi sẽ không chấp thủ thức và tôi sẽ không có thức y cứ vào thức giới'. Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy". (Trung Bộ Kinh, 143. Kinh Giáo giới Cấp Cô Ðộc)
Ngài Xá-lợi-phất chia ra nhiều phần, đến đây là phần ngũ uẩn nhưng ngũ uẩn lại bao trùm tất cả những pháp kia, nó là cơ sở, là nền tảng. Nắm vào ngũ uẩn sẽ thấy đầy đủ các pháp, sẽ thấy chi tiết từng phần của ngũ uẩn, nếu không nắm được ngũ uẩn hoặc nắm không đầy đủ sẽ không thấy đầy đủ, tu học phải nắm đầy đủ ngũ uẩn vì ngũ uẩn bao trùm tất cả những chi phần, khía cạnh trong pháp. Chỉ riêng phần sắc uẩn đã bao trùm mắt; tai; mũi; lưỡi; thân, ý, cho nên bậc thiện tri thức thấy được ngũ uẩn là cả một trí tuệ cực kì thâm sâu và rộng lớn, nếu chúng ta chỉ học sáu căn thôi đã không đầy đủ chứ đừng nói đến việc chỉ tu trong một hơi thở, chỉ biết sáu căn thì làm sao mình biết được thọ; tưởng; hành? Cho nên bằng nhiều phương tiện, căn cơ, hoàn cảnh nên Đức Phật nói ra nhiều phương pháp nhưng cuối cùng vẫn nằm trong ngũ uẩn, không ra khỏi ngũ uẩn cho nên chúng ta nắm ngũ uẩn là nắm được gốc trễ, cốt lỗi, từ gốc rễ nắm được những chi phần khác khác dễ dàng, đây là lý do tại sao chúng ta phải học, tu, hành trì và quán chiếu về ngũ uẩn, thật sự nó rất vi diệu.
"Do vậy, này Cư sĩ, hãy học tập như sau: 'Tôi sẽ không chấp thủ Hư không vô biên xứ, và tôi sẽ không có thức y cứ vào Hư không vô biên xứ'. Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy. Do vậy... 'Tôi sẽ không chấp thủ Thức vô biên xứ... Tôi sẽ không chấp thủ Vô sở hữu xứ... Tôi sẽ không chấp thủ Phi tưởng phi phi tưởng xứ, và tôi sẽ không có thức y cứ vào Phi tưởng phi phi tưởng xứ'. Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy". (Trung Bộ Kinh, 143. Kinh Giáo giới Cấp Cô Ðộc)
Ở đây đã lên tới tứ thiền bát định, bài giảng này của ngài Xá-lợi-phất đưa ông Cấp-cô-độc lên Thánh quả cao cấp chứ không còn là sự hộ niệm bình thường nữa, không ưa thích, chấp thủ vào tám tầng thiền định vì cứ chấp thủ là còn ở trong luân hồi sanh tử.
"Do vậy, này Cư sĩ, hãy học tập như sau: 'Tôi sẽ không chấp thủ thế giới ở đây và tôi sẽ không có thức y cứ vào thế giới ở đây'. Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy. Do vậy... 'Tôi sẽ không chấp thủ thế giới khác, và tôi sẽ không có thức y cứ vào thế giới khác". Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy". (Trung Bộ Kinh, 143. Kinh Giáo giới Cấp Cô Ðộc)
Người tu thiền đến trạng thái hư không vô biên xứ sẽ ngồi trong định rồi thấy tâm trống rỗng rộng lớn vô lượng vô biên, họ cứ trú trong đó gọi là hư không vô biên xứ, không vô biên xứ. Bây giờ vẫn có người tu theo kiểu này và họ nhầm tưởng đó là Niết-bàn, họ trú trong cái tâm trống rỗng rộng lớn bao la trùm khắp không có hình tướng gì cả nên họ bị chấp thủ, thức y cứ vào đó cho nên không thể giải thoát được. Người đạt được thiền định này không còn ở dục giới có thân xác như mình nữa, không có sắc giới nữa mà họ ở trong vô sắc, trống rỗng trống không và họ chấp thủ vào đó cho đó là họ, là của họ, tâm họ y cứ vào đó nên ở trong đó không đi ra được. Cái thiền này là pháp hữu vi nên có giới hạn, khi người này hết nhân hết duyên trong thiền định, bị mất thiền định sẽ lọt xuống các cõi dục giới, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, hoặc thân người, chư Thiên nhưng thường sẽ bị rơi vào ba ác đạo.
Thức vô biên xứ là người này ngồi quán sự rõ biết của mình bao trùm khắp vô lượng vô biên, cái biết không hình không tướng, không có bờ mé, không có giới hạn. Người này chấp thủ vào cái biết này, sự quán tưởng này, ưa thích, dính mắc và thức y cứ vào đó, nếu người này chứng đắc thì sanh vào cõi trời thức vô biên xứ tưởng và tuổi thọ kéo dài khủng khiếp, tính bằng đại kiếp, họ ở trong cảnh thiền định đó đến khi hết nhân hết duyên thì từ cõi đó rơi xuống vì thức vô biên xứ là pháp hữu vi, là vô thường, do thức tưởng chứ không phải là Thánh trí tuệ.
Vô sở hữu xứ là không có gì hết, người này cứ ngồi trong trạng thái tâm trống rỗng rộng lớn, không có một sắc tưởng, tạp tưởng nào chen vào tâm người đó và người này trú luôn trong cảnh thiền định trống không đó, đến khi chết sanh lên vô sở hữu xứ, là cảnh trời vô sắc. Các cảnh trời từ thấp lên cao là dục giới, sắc giới và vô sắc giới, đó là cảnh trời cao nhất trong ba cõi, tuổi thọ tính bằng đại kiếp, do người này chấp thủ, ưa thích, cho nó là tâm thức mình nên thức an trú trong đó.
Phi tưởng phi phi tưởng xứ nghĩa là không phải tưởng và cũng không phải không tưởng, đây là cái rất vi tế, người này chấp thủ và ưa thích nên thức chấp thủ vào trạng thái đó, đây là cảnh giới cao nhất trong tam giới, gọi là nóc nhà chính là tầng thiền thứ tám của vô sắc giới. Ở cảnh giới này không có sắc dục nam nữ cũng hoàn toàn không có thân thịt như mình, sắc giới là còn hình sắc, có những bóng sáng, vô sắc giới là không có hình sắc mà chỉ có tâm tưởng, sống bằng tâm tưởng chứ không có tướng mạo, hình tướng. Tất cả những cái này đều nằm trong ngũ uẩn tế hoặc thô, ở trong những trạng thái thiền định đó là trải qua vô số kiếp nhưng vẫn ở trong ngũ uẩn, chấp thủ và thức y cứ vào đó cho nên ngài Xá-lợi-phất nói với ngài Cấp-cô-độc đừng chấp thủ cũng đừng để thức y cứ vào những tầng thiền định này.
Trong kinh Đức Phật có dạy phải quay lưng với tất cả sự lòe loẹt của thế giới. Trong suy nghĩ, trong thầm ý của mình không ưa thích, nắm giữ bất cứ một cái gì trên đời này, cũng như trong kinh Tứ Niệm Xứ có ghi không nương tựa, chấp trước bất cứ một vật gì trên đời, vì vậy tâm mình đối với tất cả mọi sự vật, sự việc, đến ngay cả ngũ uẩn tự thân tâm cũng không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời.
"Này các Tỳ-kheo, nếu Tỳ-kheo sống nhiều với tưởng không hoan hỉ đối với các thế giới, thời tâm thối lui, tâm trở lưng, quay lưng với các lòe loẹt của thế giới; do đó tâm vị ấy không căng thẳng, thanh thản, khởi lên nhàm chán". (Tăng Chi Bộ, Chương VII - Bảy Pháp, V. Phẩm Ðại Tế Ðàn, (VI). Tưởng (2))
Khi thấy được bản chất vô thường, khổ não, vô ngã, trống rỗng của nó rồi nhàm chán, từ bỏ, xuất ly khỏi nó, đó là ý nghĩa của câu "không chấp thủ thế giới ở đây và tôi sẽ không có thức y cứ vào thế giới ở đây", như vậy mới đi đến Niết-bàn, không còn những yếu tố, động cơ để quay lại thế giới này nữa, như vậy mới gọi là xuất ly tam giới, ra khỏi ba cõi. Dục giới là vô cùng khổ, sắc giới có cái khổ vi tế, chư thiên và A-tu-la đánh nhau liên miên, cõi vô sắc thì yên định nên cứ trú trong đó vô lượng vô biên kiếp nhưng điểm giống nhau là cả ba cõi đều còn trong sanh tử luân hồi cho nên không chấp thủ thế giới là đi ra khỏi ba cõi, xuất ly khỏi nó. "Tôi sẽ không chấp thủ thế giới khác, và tôi sẽ không có thức y cứ vào thế giới khác", thế giới ở đây là cõi dục giới, thế giới khác là cõi sắc và vô sắc, nghĩa là tháo gỡ, buông xả, từ bỏ, nhàm chán, xuất ly ra tất cả thế giới. Khi tác ý mình không còn muốn hơn thua, giành giựt gì nữa, mình đứng ngoài cuộc những sự đúng sai, thị phi, phải quấy, mưu sĩ, mưu mô… người ta muốn làm hại mình, phỉ báng, sỉ nhục mình cũng không ảnh hưởng đến mình, mình xem thế gian này là quán trọ.
"Trần thế âu là cảnh tạm nương,
Cũng như chiếc quán dựa bên đường.
Người đời là khách dừng chân tạm,
Rồi vội lui về nẻo viễn phương".
(Thơ văn Phật Giáo – Ly Gia)
Mình xem cả thế gian này chứ đừng nói gì căn nhà chỉ là quán trọ, cả hành tinh này cả là căn nhà trọ nên không dính mắc khi nhìn thế giới này nhưng từ tâm mình lại bao trùm cả thế gian. Thánh pháp nghĩa là không dính mắc, trói buộc nhưng lại bao trùm bằng sự xót thương, bi mẫn, đây là chỗ tuyệt diệu của chánh pháp, đó là trung đạo đệ nhất nghĩa đế. Bình thường một là dính chặt vào, hai là bỏ mặc luôn, còn đằng này đứng ở ngoài thế gian nhưng lòng bi mẫn bao trùm vạn loại, đó là tâm của bậc Thánh, cũng chính là pháp mà Thế Tôn truyền trao cho hàng đệ tử của ngài.
"-- Này các Tỳ-kheo, Ta không tranh luận với đời, chỉ có đời tranh luận với Ta. Này các Tỳ-kheo, người nói Pháp không tranh luận bất cứ với một ai ở đời". (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Uẩn (f), V. Phẩm Hoa, II. Bông Hoa (hay Tăng trưởng))
Đó là tâm viễn ly, tâm siêu thế, xuất thế, nếu được tâm này sẽ rất vi diệu, không còn hơn thua, giành giựt với ai nữa, ai muốn đấu đá, mưu tính, chỉ trích, phỉ báng thì cứ việc vì đây chỉ là nhà trọ, ở một chút rồi đi thôi. Đó mới là tâm của bậc đại nhân, bậc Thánh nhân, vì thế cần tác ý không nắm giữ bất cứ một cái gì trên thế gian này, tôi không để cho tâm thức tôi bám víu, nương dựa vào thế giới này hoặc thế giới khác.
"Do vậy, này Cư sĩ, hãy học tập như sau: 'Tôi sẽ không chấp thủ những gì được thấy, được nghe, được cảm thọ, được nhận thức, được hy cầu, được tư sát với ý, và tôi sẽ không có thức y cứ vào các pháp (nói trên)'. Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy". (Trung Bộ Kinh, 143. Kinh Giáo giới Cấp Cô Ðộc)
Thấy cái gì cũng biết nó vô thường, khổ, vô ngã. Nghe thì biết nhưng không chấp thủ vào âm thanh đó, xem cảm thọ như mây, như khói, thậm chí không chấp thủ vào cái biết. Cái biết này chỉ là pháp duyên sanh, là trò ảo thuật. Những cái gì được mong cầu trong tâm cũng không chấp thủ, ví dụ khi gần chết dặn dò cái này cái kia để không mong cầu gì nữa. Tư sát với ý là những gì mà ý suy xét cũng không chấp thủ mà buông xả hoàn toàn. "Tôi sẽ không có thức y cứ vào các pháp trên" nghĩa là nó sanh khởi thì sanh khởi chứ mình không chấp thủ vào nó, nó sanh khởi rồi cũng sẽ diệt.
"Khi nghe nói vậy, cư sĩ Cấp Cô Ðộc khóc và chảy nước mắt. Rồi Tôn giả Ananda nói với cư sĩ Cấp Cô Ðộc:
-- Này Cư sĩ, Ông đang gượng lên mà sống, hay chìm xuống (cõi chết)?
-- Thưa Tôn giả Ananda, con không gượng lên mà sống, con đang chìm xuống cõi chết. Dầu cho bậc Ðạo sư được con hầu hạ đã lâu và dầu con đã từng gần gũi các vị Tỳ-kheo tu tập ý lực, con chưa từng được nghe một thời thuyết pháp như vậy.
-- Này Cư sĩ, thuyết pháp như vậy không nói cho các hàng cư sĩ mặc áo trắng. Này Cư sĩ, thuyết pháp như vậy nói cho các hàng xuất gia.
-- Vậy thưa Tôn giả Sariputta, hãy thuyết pháp như vậy cho hàng cư sĩ mặc áo trắng. Thưa Tôn giả Sariputta, có những Thiện gia nam tử sanh ra với cấu uế không nhiều, nếu không được nghe pháp, sẽ bị đọa lạc; nhưng nếu được nghe, họ có thể biết được (Chánh) pháp.
Rồi Tôn giả Sariputta và Tôn giả Ananda sau khi giảng dạy cho cư sĩ Cấp Cô Ðộc với bài thuyết giảng, từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi. Rồi cư sĩ Cấp Cô Ðộc, sau khi Tôn giả Sariputta và Tôn giả Ananda ra đi không bao lâu, thân hoại mạng chung, và sau khi thân hoại mạng chung liền sanh lên cõi Tusita (Ðâu-suất thiên)". (Trung Bộ Kinh, 143. Kinh Giáo giới Cấp Cô Ðộc)
Ngài Cấp-cô-độc sanh lên cõi trời Đâu-suất, chứng Thánh quả trở thành Thánh đệ tử thiên, lên trên đó tu tập tiếp tục để đi đến quả vị tận cùng tối cao A-la-hán. Sau khi lên cõi trời thì ngài Cấp-cô-độc xuống đảnh lễ Đức Thế Tôn, đó là một vị đại cư sĩ đúng theo ý nghĩa Thánh đệ tử thời Đức Phật, chỉ với tâm bố thí, cung kính tam bảo lúc đầu nhưng cuối đời lại được kết quả ngoài sức tưởng tượng, không thể nghĩ bàn, thể nhập Thánh trí, lên cõi trời Đâu-suất để tiếp tục tu tập để thể nhập Thánh quả. Thật là vi diệu, tối thượng với những ai có lòng tin đối với Đức Thế Tôn, đối với Thánh pháp, đối với những bậc bốn đôi tám chúng hiền Thánh Tăng, mong rằng phước báo cao thượng, vi diệu của Thánh pháp sẽ lan tỏa cùng khắp thế giới trời đất này, với tất cả những người đang bị cách ly, bị nhiễm bệnh hay đã chết, tất cả chúng sanh đều thấm nhuần được sự thật chơn chánh tối thượng này sẽ được tâm bình an, thành tựu Thánh trí huệ về khổ đau, giải thoát khỏi tất cả khổ sầu, thành tựu Niết-bàn tối thượng.
Kính thưa đại chúng, chúng ta còn lại một chút khúc cuối của bài kinh. Sau khi ngài Cấp-cô-độc qua đời được sanh lên cõi trời Đâu-suất trở thành thiên tử, vào khoảng 4-5h sáng là giờ chư thiên thường nghe pháp, lúc trời hừng sáng là giờ Đức Phật thường thuyết pháp cho chư thiên cho nên đó là giờ chư thiên cũng như thiên tử Cấp-cô-độc xuất hiện chói sáng. Khi ấy ngài Cấp-cô-độc xuất hiện với thân hình chư thiên chứ không còn là một ông già bệnh gần chết nữa.
"Rồi Thiên tử Cấp Cô Ðộc, khi đêm đã gần mãn, sau khi chói sáng toàn cảnh Jetavana (Kỳ-đà-Lâm) với dung sắc thù thắng đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn và đứng một bên. (Trung Bộ Kinh, 143. Kinh Giáo giới Cấp Cô Ðộc)
Dung sắc thù thắng là vẻ đẹp khó diễn tả được của chư thiên, không phải như da thịt của mình mà cái đẹp đó rất thanh thoát, thanh cao, cao thượng, hơn nữa ngài lại là Thánh đệ tử thiên.
"Ðứng một bên, Thiên tử Cấp Cô Ðộc nói lên với Thế Tôn bài kệ sau đây:
Rừng Jetavana,
Tốt đẹp phước lành này,
Ðược chư Thiên, chúng Tăng,
Thường lui tới an trú,
Ðược Pháp Vương trú trì,
Ban hoan hỉ cho ta.
Nghiệp, minh và Chánh pháp,
Giới, tối thượng sanh mạng,
Chính nhờ các pháp trên,
Khiến chúng sanh thanh tịnh,
Không phải do giai cấp,
Không phải do tài sản.
Do vậy bậc Hiền giả,
Thấy rõ mục đích mình,
Suy tư pháp chân chánh,
Ðược thanh tịnh ở đây.
Như Sariputta,
Về tuệ, giới, tịch tịnh,
Bất luận Tỳ-kheo nào,
Ðã tới bờ bên kia,
Hãy đạt được tối thắng
Trong những pháp kể trên.
Thiên tử Cấp Cô Ðộc nói như vậy. Bậc Ðạo sư tán đồng. Rồi Thiên tử Cấp Cô Ðộc suy nghĩ: 'Bậc Ðạo sư tán đồng ta'. Sau khi đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài rồi biến mất tại chỗ.
Rồi Thế Tôn, khi đêm ấy đã mãn, gọi các Tỳ-kheo:
-- Này các Tỳ-kheo, đêm nay, một vị Thiên tử, khi đêm đã gần mãn, chiếu sáng toàn cảnh Jetavana với dung sắc thù thắng đã đi đến Ta, sau khi đến đảnh lễ Ta rồi đứng một bên. Ðứng một bên, vị Thiên tử ấy nói lên với Ta bài kệ sau đây:
Rừng Jetavana,
Tốt đẹp phước lành này,
Ðược chư Thiên, chúng Tăng,
Thường lui tới an trú,
Ðược Pháp Vương trú trì,
Ban hoan hỉ cho ta.
Nghiệp, minh và Chánh pháp,
Giới, tối thượng sanh mạng,
Chính nhờ các pháp trên,
Khiến chúng sanh thanh tịnh,
Không phải do giai cấp,
Không phải do tài sản.
Do vậy bậc Hiền giả,
Thấy rõ mục đích mình,
Suy tư pháp chân chánh,
Ðược thanh tịnh ở đây.
Như Sariputta,
Về tuệ, giới, tịch tịnh,
Bất luận Tỳ-kheo nào,
Ðã tới bờ bên kia,
Hãy đạt được tối thắng
Trong những pháp kể trên.
Nói vậy xong, này các Tỳ-kheo, vị Thiên tử ấy suy nghĩ: 'Bậc Ðạo sư tán đồng ta', sau khi đảnh lễ thân phía hữu hướng về Ta, rồi biến mất tại chỗ.
Khi được nghe nói vậy, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, có phải vị ấy là Thiên tử Cấp Cô Ðộc chăng? Bạch Thế Tôn, cư sĩ Cấp Cô Ðộc có lòng tịnh tín bất động đối với Tôn giả Sariputta.
-- Lành thay, lành thay, Ananda! Những gì có thể thành đạt được bởi suy tư đã được đạt đến, này Ananda. Chính Cấp Cô Ðộc là vị Thiên tử ấy, không một ai khác.
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả Ananda hoan hỉ tín thọ lời Thế Tôn dạy". (Trung Bộ Kinh, 143. Kinh Giáo giới Cấp Cô Ðộc)
Ngài Anan là người dẫn ngài Xá-lợi-phất đi đến hộ niệm cho ngài Cấp-cô-độc nên ngài thấy trạng thái lúc đó của ông Cấp-cô-độc rất đau đớn, khổ sở nhưng ông ấy lại có sự tịnh tín bất động đối với pháp. Đức Phật nói những gì có thể suy nghĩ để đạt đến thì ngài Anan chính là người đó, ngài Anan đã đoán đúng người nói bài kệ đó chính là thiên tử Cấp-cô-độc. Bài kinh này nhằm giúp các Phật tử hoan hỉ trong thiện pháp để thấy rằng một vị Phật tử bố thí, cúng dường với cái tâm chân thành, cung kính, tịnh tín bất động đối với tam bảo và giây phút cuối cùng của cuộc đời được Thánh Tăng Xá-lợi-phất hộ niệm trở thành một vị Thánh đệ tử thiên. Khi trở về ngài tán thán rừng Cấp-cô-độc viên, Kỳ Đà lâm này tốt đẹp và phước lành khi được chư thiên và chúng Tăng thường an trú ở đây tu, đặc biệt là được bậc pháp vương trụ trì. Ngài Cấp-cô-độc được sanh thiên là do phước đức cúng dường Tinh Xá của ngài, ngoài ra còn tín – giới – tuệ nhưng phần lớn là do công đức cúng dường và ngài hoan hỉ với việc thiện, phước báo đó nên ngài trở về tán thán và trình lên Đức Phật bài kệ, tức là ngài hoan hỉ với phước lành ngài đã làm và phước lành ngài đang được hưởng. Khi trở thành bậc Thánh đệ tử thiên thì ngài xuống trở lại nói lời tri ân, cảm ơn, biết ơn đối với Đức Thế Tôn, đối với các bậc Thánh Tăng và đương nhiên các chư thiên ở Kì Thọ Cấp-cô-độc viên rất nhiều để nghe Thánh pháp, hễ chỗ nào có chánh pháp chỗ đó có chư thiên hộ trì. Sau khi thấy được mục đích thì ngày đêm thiền tư, tư duy những lời Đức Phật dạy, những lời dạy chánh pháp. Ngài Cấp-cô-độc tán thán Phật, tán thán pháp, tán thán Tăng chúng và tán thán phúc lành của cư sĩ Cấp-cô-độc đã làm để ngày nay trổ ra quả thành thiên tử Cấp-cô-độc, không còn là một ông già nằm bệnh đau đớn khổ sở ngày hôm qua nữa mà đã trở thành thiên tử có ánh sáng chói sáng khắp vùng, đó là hoa trái trong tu tập của một vị đại cư sĩ và lời hộ niệm của một vị đại Thánh Tăng. Chúng ta có một buổi thiền quán để chia sẻ về những pháp mà tôn giả Xá-lợi-phất đã khuyến tấn, khích lệ, hộ niệm cho cư sĩ Cấp-cô-độc cũng như khuyến tấn, khích lệ, hộ niệm cho tất cả hữu tình chúng sanh đang có mặt trong ngày hôm nay sau hai mươi mấy ngày ông Cấp-cô-độc qua đời hoặc chỉ mới mấy mươi ngày thôi, vì một ngày đêm trên cõi trời Đâu-suất bằng bốn trăm năm dưới nhân gian.
"Bốn trăm năm của một đời người, này các Tỳ-kheo, bằng một đêm một ngày của chư Thiên cõi trời Tusità (Ðâu-Xuất). Ba mươi đêm của đêm ấy làm thành một tháng, mười hai tháng của tháng ấy làm thành một năm. Bốn ngàn năm chư Thiên của năm ấy làm thành thọ mạng của chư Thiên cõi trời Tusità. Sự kiện này có xảy ra, này các Tỳ-kheo: 'Ở đây, có người đàn bà hay đàn ông, sau khi thực hành ngày trai giới thành tựu tám chi phần, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với chư Thiên cõi trời Tusità'. Do vậy, Ta nói: 'Nhỏ nhoi thay, này các Tỳ-kheo, là quyền của loài người, so sánh với hạnh phúc chư Thiên'". (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, V. Phẩm Ngày Trai Giới, (II). Ngày Trai Giới)
Chúng ta nghe thì thấy nhàn chám đau khổ nhưng khi thấm được thì đạt đến hạnh phúc tuyệt đối. Nghe khổ, quán chiếu về khổ, suy tư về khổ để đạt đến chỗ diệt khổ, vì vậy thể nhập Thánh trí về khổ để đưa đến chấm dứt khổ đau, còn khổ của thế gian là trường viễn bất tận, khổ này để đưa đến khổ khác chứ có ngày chấm dứt nhưng Thánh trí về khổ giúp chúng ta chấm dứt khổ, thoát khổ, đây là chỗ đặc biệt của Thánh pháp, gương sáng ở đây là cư sĩ Cấp-cô-độc. Kính chúc tất cả quý vị có được sự tịnh tín bất động thể nhập vào chánh pháp tối thượng, an lạc này.
./.