Kinh Nikāya Giảng Giải Đức Phật Giảng về Tánh Không
Kinh Nikāya Giảng Giải
ĐỨC PHẬT GIẢNG VỀ TÁNH KHÔNG
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Năm uẩn PAGEREF _Toc111908331 \h 1
II. Không tánh mà Đức Phật dạy PAGEREF _Toc111908332 \h 2
III. Năm dục trưởng dưỡng PAGEREF _Toc111908333 \h 7
IV. Nhất hướng nhàm chán ly tham PAGEREF _Toc111908334 \h 9
V. Chia sẻ trong tu học PAGEREF _Toc111908335 \h 12
I. Năm uẩn
Ở trong Kinh Tạng Nikāya Đức Thế Tôn ngài thường nhấn thật là mạnh là phải liên hệ đến mục đích và quả thật ở trong hơn một tuần ở một mình thì Minh Thành thu hoạch được lợi ích mà mình bất ngờ.
Khi mà mình càng học những lời Đức Phật dạy trong tạng Nikāya mình thực tập, mình nghe những tấm gương của các bậc thánh tăng thì một niềm phát khởi trong nội tâm mình mãnh liệt là sự hổ thẹn là sự xấu hổ và sự nhục nhã. Điều này có thể quý huynh đệ ít nghe, thấy lạ. Tại vì khi tu mình gặp nhau là mình toàn dùng những mỹ từ xưng bá, cao siêu, rộng lớn bao la nhưng thực sự cái đó chỉ là mỹ từ thôi. Nói nghe cho nó hay vậy đó nhưng nếu mình thực sự nhìn lại thì nó không phải như vậy.
Thành ra tinh thần của Kinh Nikāya là diệt tận nhiễm ô và đó cũng là cái mục đích duy nhất của Phật Giáo.
Nếu như mình không thường trực quay trở lại nhìn vào nội tâm của mình.
Mà chữ “Nội Tâm” không thể nói chung chung được. Tâm là thọ, tưởng, hành thức. Phải thấy được cảm giác của mình vận hành như thế nào. Phải thấy được trong nội tâm có những hình bóng gì. Phải thấy được những cái lời nói thầm thầm là những lời nói gì. Phải thấy những cảm giác, cái tưởng trong nội tâm mình, phải thấy rõ như vậy mới là soi rọi lại nội tâm.
Mình ngồi lại mà thọ là gì, thức là gì, tưởng là gì mình không biết cái đó là mù mờ mờ ở trong si ám, si mê không phải là cái trí của Năm Uẩn.
Mình phải phân biệt rõ trong nội tâm mình cái nào là thọ, cái nào là tưởng, cái nào là hành, cái nào là thức. Mà cái Sắc Uẩn đang như thế nào mình phải thấy được. Thành ra quý huynh đệ thấy được cái này là một sự học tập, cố gắng, tư sát, tư duy, quán chiếu và chiêm nghiệm tu tập là cả sự nỗ lực và công trình rất lớn. Khi mình nhìn lại thì lúc đó mình sẽ ôi chao ôi, nhục nhã, xấu hổ vô cùng, tàm quý đầy rẫy trong nội tâm mình nào là dục, ái, si mê, chấp ngã, cống cao ngã mạn, khen mình chê người đủ thứ trong đó hết. Nếu mình nhìn thấy được như vậy thì mình hoàn thành được thánh quả thứ nhất trong kết quả của người tu. Những từ khi nói ra là mình thấy kì, buồn quá vậy ta, nói gì không có gì hay ho đẹp đẻ gì hết vậy nhưng đó là sự thật. Quý huynh đệ phải phân định được Năm Uẩn, nhận diện được Năm Uẩn đây là cánh cửa đi vào trong thân tâm của mình bằng trí huệ. Cảm giác nó như thế nào, nó thuộc về loại cảm giác và trong cảm giác đó có những gì phải thấy được đây ở trong kinh Đức Phật nói là các pháp hiện rõ.
Đức Phật nói ai mà ưa thích hội chúng, ưa thích ồn ào náo nhiệt mà có thể ngồi im lại độc cư là điều đó không thể xảy ra. Người không thể ở một mình, ngồi yên thiền định độc cư mà người đó có thể là nhìn thấy được tâm mình, các pháp trong tâm hiện rõ là điều đó không thể xảy ra.
Tức là người muốn tu mà muốn thành tựu thì người đó phải tách xa đồ chúng, lìa khỏi sự náo nhiệt của phồn hoa đô thị, người đó phải độc cư thiền tịnh. Khi mình độc cư thiền tịnh thì cảnh ở ngoài lắng rồi, thân của mình ngồi yên rồi bắt đầu mình bắt đầu có sự tư sát soi rọi lại bên trong, soi rọi rõ ràng Năm Uẩn, chứ không phải soi rọi một cách chung chung. Khi mình soi rọi rõ ràng như vậy thì các pháp hiện ra, hiện rõ ra ở trong nội tâm của mình.
II. Không tánh mà Đức Phật dạy
Rất là rõ trong bài kinh Khất Thực Thanh Tịnh trong Trung Bộ Kinh tập 3.
Đức Phật dạy rất rõ.
“Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở Rajagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc lâm), tại chỗ nuôi dưỡng sóc (Kalandakanivapa). Rồi Tôn giả Sariputta vào buổi chiều, từ Thiền tịnh độc cư đứng dậy, đi đến Thế Tôn, sau khi dến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Tôn giả Sariputta đang ngồi một bên:
– Này Sariputta, các căn của Ông rất sáng suốt, sắc da của Ông thanh tịnh trong sáng. Này Sariputta, Ông nay đang phần lớn an trú với loại an trú nào? – Bạch Thế Tôn, con nay đang phần lớn an trú với không trú.
– Lành thay, lành thay! Này Sariputta, Ông nay đang phần lớn an trú với sự an trú của bậc Đại nhân. Này Sariputta, sự an trú của bậc Đại nhân tức là không tánh.”
(Trung Bộ Kinh – bài kinh Khất Thực Thanh Tịnh)
Rồi quý huynh đệ coi chữ “Không Tánh” Đức Phật giải thích như thế nào. Đại đa số mình hiểu không chính xác. Chữ không tánh bây giờ viết sách nhiều ngoài kia không phải. Quý huynh đệ coi, đây là Trung Bộ Kinh Nikāya bộ kinh tối cổ của Phật Giáo.
“ Do vậy, này Sariputta, nếu Tỷ-kheo ước mong rằng:: "Mong rằng tôi nay phần lớn an trú với sự an trú không tánh", thời này các Tỷ-kheo, Tỷkheo ấy cần phải suy tư như sau: "Trên con đường ta đã đi vào làng để khất thực, tại trú xứ ta đã đi khất thực, và trên con đường từ làng ta đi khất thực trở về, tại chỗ ấy, đối với các sắc do mắt nhận thức, có khởi lên ở nơi ta dục, tham, sân, si, hay hận tâm không?"
Này Sariputta, nếu Tỷ-kheo sau khi tư duy biết rằng: "Trên con đường ta đã đi vào làng để khất thực, tại trú xứ ta đã đi khất thực và trên con đường từ làng ta đi khất thực trở về, đối với các sắc do mắt nhận thức, có khởi lên nơi ta dục, tham, sân, si hay hận tâm", thời này Sariputta, Tỷ-kheo ấy phải tinh tấn đoạn tận các ác bất thiện pháp ấy.
Nhưng này Sariputta, nếu Tỷ-kheo trong khi suy tư được biết như sau: "Trên con đường ta đã đi.. ta đi khất thực trở về, đối với các sắc do mắt nhận thức, không có khởi lên nơi dục, tham, sân, si hay hận tâm", thời này Sariputta, Tỷ-kheo ấy phải an trú với hỷ và hân hoan, ngày đêm tu học trong các thiện pháp.”
(Trung Bộ Kinh – bài kinh Khất Thực Thanh Tịnh)
“Không Tánh” ở đây là không có dục, không có tham, không có sân, không có si, không có hận tâm chứ không phải là nhìn không có gì hết cái đó là tưởng, đó không phải tuệ giác. Mình vô mình nhìn mình nói hư không không thôi, mà tại sao hư không không mà mình nhìn mình khoái.
Tại sao hư không không mà đưa tờ 500 ngàn mắt trố ra còn đưa tờ 20 ngàn mắt bình thường không thèm muốn nhìn mà cũng màu xanh.
Như vậy thì khi đưa tờ 20 ngàn cũng màu xanh xanh, khi đưa 500 ngàn cũng màu xanh xanh mình nhìn xem khi con mắt mình tiếp xúc với tờ giấy tiền đó có khởi lên tham không? Có khởi lên muốn không? Có khởi lên thích thích khoái khoái không?
Rồi giờ nó đưa ra mẫu nhỏ nhỏ trên zalo là có thích lì xì không?
Đó chỗ này đây là chữ “Không Tánh” của Đức Phật. Không tánh ở đây là không có dục, không có tham, không có sân, không có si, không có những bận tâm ở trong lòng khi mắt tiếp xúc với sắc, tai tiếp xúc với tiếng, mũi tiếp xúc với mùi, lưỡi tiếp với vị, thân tiếp xúc với sự xúc chạm, mình xem tâm mình lúc đó có dục khởi lên không.
Cho nên khi mình ngồi bàn cầu an, cầu siêu mình ghi, đêm 30 tết, đêm giao thừa mình ghi rồi có người đi vô họ cứ nói tới nói lui này nọ mà nhìn thì xấu xí nói hoài không chịu đi thì lúc đó mình có sân khởi lên không. Nếu chỗ này là có thì không phải “Không Tánh”.
Rồi bây giờ có một người rất là đẹp mà lại ngồi nói chuyện mà cười nói này nọ kia nọ lúc đó mình xem trong tâm mình có cái gì? Mình nhìn sâu vào trong tâm mình có cái gì, cái gì trong đó phải nhìn thấy.
Nếu mà có những cái đó thì Tỷ-kheoấy phải tinh tấn đoạn tận các ác bất thiện pháp ấy.
Cho nên đại đa số mình hiểu từ “Không Tánh” không chính xác. Chính vì vậy mình tu không bao giờ đạt đến chữ không tánh của bậc đại nhân. Cho nên thánh đạo, thánh quả không có, trí thức học vấn rất là nhiều, nói thì thiên thu vạn đại trên trời dưới đất mà nói thì ôi cha.
Chỗ này là chỗ học mình đã không nắm vững, không thành tựu chánh chi kiến chính xác về giáo pháp của Đức Phật. Mình không đi trên thành đạo tới thánh quả cho nên tu học không có thành tựu, tu ở trên cái tưởng.
Trong sự tu tập này là luôn luôn thường trực mỗi phút, mỗi giây, mỗi thời, mỗi khắc luôn luôn nhìn lại những dục, tham, sân, si, bản ngã. Diệt tận nó, trừ diệt mọi lúc, mọi nơi đó là Không Thánh, đó là an trú của bậc đại trí, bậc đại nhân.
Trong khi ăn được tăng lên 10 món gắp liên tục, lia lịa. Miệng nhai chưa xong là gắp miếng thứ hai rồi. Lúc đó mình không thấy được các cái pháp mình đang vận hành, khi lưỡi mình tiếp xúc với thức ăn, thọ do tỷ súc sanh, thọ do thiệt súc sanh tức là cái mùi với cái vị. Mình không thấy được duyên sanh pháp vận hành ngay lúc đó, mình không biết được do cái lưỡi, do có thức ăn cho nên nó sanh thiệt thức là rõ biết của các cái vị. Ba pháp nó hội tụ với nhau nó tạo thành thiệt xúc là tiếp xúc của cái lưỡi. Khi tiếp xúc của cái lưỡi thì ái nó sanh, dục nó sanh, nó khoái khoái, nó muốn nữa nữa, dục tham ái ngay trong lúc mình ăn.
Khi mình nói, mình đối diện với người đẹp, khác phái những người mình ưa thích thì mình đã không kiểm soát được rồi, nó đã ngầm ngầm qua mặt mình gọi là dục lậu.
Tức là dục là thứ nhiễm tâm ở trong tâm của mình, tức là nó âm thầm qua mặt mình, mà mình không thấy không biết gì hết đó là đi hàng lậu, gọi là dục lậu. Mà hằng ngày như vậy là nó lậu trong con mắt, lậu trong lỗ tai, lậu trong lỗ mũi, lậu trong cái thân.
Ví Dụ: Mình lên ngồi xe mà kế một người đẹp mà mỗi lần đi qua ổ gà nó quẹo một cái, cái nó chạm vô thì lúc đó thọ do thân súc sanh. Mà nếu chỗ đó mình không nhìn ra được trong cái thọ có cái gì thì mình chết. Lúc đó mình nhận cái pháp đó nó đi vào trong nội tâm của mình, bắt đầu mình trở về mình ngồi thiền là những cảm xúc đó, những cảm giác đó nó hiện khởi trở lại nó hiện hành nó tiếp tục tương tác ở bên trong, thọ tưởng hành tiếp tục, tiếp tục như vậy có thể mình sẽ chết với cảm giác đó. Cho nên có thể một chuyến xe thôi mà về người ta có thể có con với nhau được chỉ ngồi chung chuyến xe bus.
Xúc này ghê gớm lắm mà hằng ngày mình không nhìn thấy, mình không nhìn thấy.
Đây là tu theo tinh thần Đức Phật là đây. Luôn luôn lúc nào mình cũng để ý mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý của mình khi mình tiếp xúc với cái gì đó mà nó sanh khởi cảm giác là mình chặn đứng lại liền, không cho nó tiếp xúc, nó nhìn nữa những cái này là cái tu kỹ. Tu như vậy nó mới đi đến kết quả, thành quả đúng theo Đức Phật nói là bốn thành quả.
Nhưng này Xá Lợi Phất nếu Tỷ-kheotrong khi tư duy mà được biết như sau trên con đường ta đi khất thực mà sáu căn tiếp xúc như vậy mà không có khởi lên dục, tham, sân, si hay là hận tâm thời này Xá Lợi Phất Tỷ-kheoấy phải an trú với hỉ và hân hoan ngài đem tu học trong các thiện pháp.
Làm gì mà không có khởi lên đây là những cái bậc hiền thánh, bậc
Alahan hay là bậc Bất Lai chẳng hạn. Không có khởi thô cũng có khởi tế là mình khởi lên mà vấn đề khởi lên mà mình không thấy nó khởi mà nó sanh khởi lên gọi là tồn chỉ. Tức là nó tồn tại an trú trong nội tâm mình rồi nó xâm chiếm, áp đảo và mình trở thành trở thành một kẻ chiến bại và cuối cùng là mình túc thủ mình bó tay đầu hàng với nó như vậy là mình chiến bại chứ không phải là dũng sĩ, không phải là chiến sĩ. Sau này chúng ta sẽ học bài kinh chiến sĩ, cho nên Đức Thế Tôn được tôn là bậc chiến thắng đấng chiến thắng, chiến thắng dục, tham, sân, si, bản ngã, chiến thắng hết tất cả toàn thắng đại thắng.
III. Năm dục trưởng dưỡng
“Lại nữa, này Sariputta, Tỷ-kheo cần phải suy tư như sau: "Ta đã đoạn tận năm dục trưởng dưỡng chưa?
Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo, trong khi suy tư được biết như sau: "Ta chưa đoạn tận năm dục trưởng dưỡng", thời này Sariputta, Tỷkheo ấy phải tinh tấn đoạn tận năm dục trưởng dưỡng.
Nhưng nếu, này Sariputta, Tỷ-kheo trong khi suy tư được biết như sau: "Ta đã đoạn tận năm dục trưởng dưỡng", thời này Sariputta, Tỷkheo ấy phải an trú với hỷ và hân hoan ngày đêm tu học trong các thiện pháp.”
(Trung Bộ Kinh – bài kinh Khất Thực Thanh Tịnh)
Cho nên lại nữa Này Xá Lợi Phất tỳ kheo cần phải suy tư như sau ta đã đoạn tận năm dục trưởng dưỡng chưa.
Năm dục trưởng dưỡng là cái gì?
Năm dục trưởng dưỡng là khi con mắt tiếp xúc với sắc, khi lỗ tai tiếp xúc với âm thanh, cái sắc, thanh, hương vị đó, cái xúc cái đó là năm dục trưởng dưỡng. Năm cái đó làm cái tham dục của mình lớn mạnh lên gọi là năm dục trưởng dưỡng.
Ta chưa đoạn tận Năm Dục Trưởng Dưỡng thời này Xá Lợi Phất tỷ kheo ấy phải tinh tấn đoạn tận năm Dục Trưởng Dưỡng.
Như vậy không phải là đập tan hết tất cả sắc, không phải bịt tai, không phải là làm cho mù mắt, không phải. Mà khi con mắt tiếp xúc với sắc mà nó có sanh khởi lên tham, dục, ái thì mình đoạn tận tham, dục, ái khởi lên đó, cái đó gọi là đoạn tận năm dục trưởng dưỡng.
Ví dụ: Mình đi vào ngôi chùa lớn nhất thế giới, lúc mình bước vô thì cảm giác mình như thế nào?
Khi chưa đi mới mở lên màn ảnh thôi, thấy được, con mắt mình tiếp xúc thì cảm giác gì sanh khởi lên, trong tâm mình có những hình bóng gì, có những bình bóng gì. Đó là tham, là dục, là ái ưa thích.
Tu cái này là khó, mà tu cái này mới thành thánh nhân, mới thành thánh quả. Cho nên mình nhìn lại mình xấu hổ lắm. Quý huynh đệ nhìn lại cói có phải mình tu là mình ráng kiếm cái chùa cho lớn không, đẹp hơn nữa không. Nó không liên hệ tới mục đích, đó là mình đã bị tham, đã bị ái trói cổ và giờ chúng ta không đúng đường của Đức Phật dạy. Đây là một sự đau lòng và như thế người xuất gia không giải quyết được vấn đề của chính mình thì làm sao mình giúp ích được mọi người. Trong lòng mình nhìn lại vẫn còn tràn đầy dục, tham, ái, sân, si, bản ngã thì làm sao mình giúp được những người khác hết được những cái đó. Mà như vậy mình cũng trong mù mờ rồi người ta cũng mù mờ thì cùng nhau mù mờ thôi.
Trong kinh Nikāya Đức Phật ví dụ một người mù đi trước rồi những người mù đi sau ôm eo đi theo rồi cuối cùng dẫn nhau xuống hố, xuống vực. Người dẫn đầu không phải là bậc chánh tri kiến, không phải là người đắc pháp nhãn tịnh cho nên cái này hết sức là quan trọng. Quý huynh đệ trong bốn năm này Minh Thành muốn quý huynh đệ phải thành tựu được chánh tri kiến, tối thiểu là hướng dự lưu, hướng dực lưu quả tức là chính thức là đệ tử Phật. Không phải là cạo đầu, đắp y là đệ tử Phật đâu, bốn đôi tám chúng mới là đệ tử chính thức của Phật. Giờ mình hiểu nó không chính xác, mình đừng tưởng lên đắp y, cạo tóc lên giới đàn là đệ tử của Phật không phải. Đệ tử phật người đó đó phải là người bốn đôi tám chúng của hiền thánh là người đó phải thành tựu Chánh Tri Kiến. Người đó phải thấy được cái pháp, thành tựu lòng tin bất động với những lời Đức Phật đã dạy, lòng tin bất động với pháp Đức Phật đã giảng.
IV. Nhất hướng nhàm chán ly tham
Vậy pháp Đức Phật đã giảng là gì?
Là ly tham đối với Năm Uẩn.
Tức là khi mình nghe mình hiểu pháp. Mình có hướng đi ra Năm Uẩn chứ không có hướng đi vô thì như vậy mới là bậc Bốn Đôi Tám Chúng đệ tử của Phật chính thức.
Còn cái kia là mình thuộc giống như là ôn thi, luyện thi đại học chứ chưa là đệ tử của Phật. Đệ tử của Phật là Bốn Đôi Tám chúng của Hiền Thánh, là phải hướng dự lưu quả.
Tức là hướng đi ra Ngũ Uẩn, hướng ly tham.
Không còn tham muốn, ước muốn mãnh liệt đối với cái Sắc Uẩn của cuộc đời này. Không còn khao khát, ham muốn mãnh liệt đối với cảm giác, nghĩ tưởng nhận thức thì đây được gọi là bậc Bốn Đôi Tám chúng của Đức Phật, đây là bậc đáng được cung kính, đáng được chắp tay, đáng được đảnh lễ, đáng được cúng dường là ruộng phước vô thượng ở trên đời dù cho người đó là cư sĩ tại gia vẫn chứng quả như thường, quả Bất Lai quả thứ ba trong bốn quả thánh. Cho nên mình không có xem thường những vị cư sĩ tu tập về bộ kinh Nikāya.
Nguyên bài kinh Đức Phật nói: Tỷ-kheosuy tư mà có khởi lên dục, tham, sân si, hay là hận tâm phải tinh tấn đoạn tận các ác bất thiện pháp đó. Còn nếu không có khởi thì phải an trú với hỉ, hân hoan ngài đem tu học với các thiện pháp.
Quý huynh đệ thấy đó, nó không có khởi mấy cái đó lên mình trống trơn, buồn hiu là không phải. Nếu không khởi lên thì mình hân han, hoan hỉ lên. Tại sao vậy? Tại mình không có mấy cái đó chi phối.
Ví dụ: Mình được món đồ gì đó mình mới vui, không phải như vậy. Mình không có bị ra đời cho nên mình đã vui rồi, mình không bị nghiềm thuốc là mình đã vui rồi, mình không bị xì ke là mình vui rồi, mình không bị bệnh là mình vui rồi, giờ thiền định mình không có bị đau nhức, không bị giao động đó là vui rồi. Không có tham, sân, si là hoan hỉ an vui chứ không phải là được thêm cái gì đó.
Giờ không khéo mình tu là mình đòi được cái gì đó thì cái đó không trúng, đó không phải là pháp ly tham. Phải lìa bỏ chứ không được, nếu được là mình dính mắc vào đó chứ mình không có giải thoát, không bao giờ mình giải thoát. Mình phải tu đến chỗ bất động tâm giải thoát tức là bất cả sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp trên quả đất không có một cái gì làm cho tâm mình giao động.
Đó là bậc thánh nhân, mình tu là hướng tới đó, lúc đó mới có thể ban vui cứu khổ cho chúng sanh. Vậy đó mà mình không làm mà tối ngày mình chạy mình làm cái này, cái kia mình giúp người ta, không phải, không có dính dáng gì hết đó là thiện pháp người cư sĩ làm. Người xuất gia của mình tăng thượng giới học, tăng thượng tuệ học, tăng thượng giải thoát tri kiến học.
Nói gọn là ba cái đó thôi mà bây giờ mình chạy rần rần vậy đó. Mục đích của mình càng ngày càng xa. Quý huynh đệ nhìn lại bản chất của người tu giờ đạo đức người xuất gia càng ngày càng yếu kém và người cư sĩ tính tâm của người ta càng ngày càng suy giảm. Thành ra cái này là cái vấn đề đáng báo động ở trong hiện nay.
Chưa kể những thành phần bên ngoài mượn danh phật giáo thời gian gần đây. Khất thực giả, rồi quấn y giả vô xin tiền ……………
Chưa kể đó mà cái thật còn không thật thì cái giả còn nói gì nữa. Mình thực sự đi xuất gia mà mình chưa có chân tu, chưa có thật sự hết tấm lòng mình tu học, khi thực sự có tấm lòng tu học mà mình chưa có chánh kiến. Thì mình tu đâu có đúng đâu tối ngày niệm niệm cầu nguyện cho ai tới rước, ai tới độ, cái đó là không phải, Phật không dạy mấy cái đó. Phật dạy mình quay lại nhìn những cái cấu nhiễm, những rác bẩn trong tâm mình để mình dọn dẹp cho nó sạch.
Thấy được rác là thánh quả thứ nhất.
Dọn rác đổ rác là thánh quả thứ hai.
Sau khi đổ rác rồi mà nó còn dính lại ở phía dưới, chùi cái dính lại là thánh quả thứ ba.
Khi chùi tẩy rửa sạch hết không còn cáu bẩn mùi hôi hoàn toàn trong sạch lúc đó là thánh quả thứ tư.
Toàn bộ sự tu hành có bao nhiêu đó thôi, không có bao giờ hướng ngoại xin ai hết dù đó là Đức Thế Tôn ngài cũng không có dạy như vậy. Cho nên mình quay lại để nhìn thấy rõ những cấu bẩn là mình vào hướng dự lưu cho đến dự lưu thánh quả thứ nhất. Chỗ này là chỗ hết sức quan trọng.
Xin thưa quý huynh đệ ba chục năm Minh Thành đi cầu đạo thì mới một năm nay mới là nhất hướng để đi vào kinh tạng Nikāya. Ba chục năm xuất gia mà tới năm cuối cùng năm 28, 29 này Minh Thành mới vào chính thức một năm đây thôi mới thấy rõ được cái pháp và niềm tin bất động đối với giáo pháp này. Pháp của Thế Tôn khéo thuyết là thiết thực hiện tại có hiệu quả thiết thực đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng người trí tự mình giác hiểu, đó là định nghĩa của Đức Phật, chính Đức Phật định nghĩa.
Đến để mà thấy, thiết thực hiện tại là sao? Là trong nội tâm mình có tham mình thấy là có tham, trong nội tâm mình có sân là mình thấy là có sân, trong nội tâm mình có si là mình thấy là có si. Mà mình thấy như vậy là thấy ba cái này đưa đến bất hạnh, đưa đến khổ đau và mình có phương pháp tẩy rửa diệt tận nó. Tham dùng cái gì trị? Bất tịnh quán trị, ba mươi hai thể trượt để trị, chín giai đoạn của một tử thi để trị, niệm tử để trị.
Sân dùng cái gì để trị? Từ tâm giải thoát để trị, trải tâm từ, niệm tâm từ.
Si dùng cái gì để trị? Tinh cần, tinh tấn quán chiếu, đánh tan nó.
Đức Phật nói đó là Niết-Bàn thiết thực hiện tại, dập hết tham sân si đó là Niết-Bàn.
Bây giờ quý huynh đệ thấy sự tu của mình sao?
Tín ngưỡng là mình bỏ cái đó qua một bên rồi, mình đây là đi sâu vào pháp tạng mình mới vào trường mình học chứ.
Tối ngày cứ cúng kiến, tụng niệm hết cái này đến cái kia, hết cái kia đến cái nọ đủ thứ kiểu hết rồi mình tu đến bao giờ mới thành tựu cứu cánh đời sống của phạm hạnh.
Cho nên thánh đạo bị mai một ở hiện tại chính vì vậy mới gọi đây là thời đại Tượng Pháp. Bốn bộ Nikāya đó là chánh pháp, ngày nào mà mình còn thực hành theo bốn bộ Nikāya đó, ngày nào còn thực hành theo bát chánh đạo thì tứ thánh quả còn trên thế gian này. Sẽ có Tỷ-kheothánh quả thứ nhất, Tỷ-kheothánh quả thứ hai, Tỷ-kheothánh quả thứ ba và Tỷ-kheothánh quả thứ tư ở thế gian này. Ngày nào mà không còn Bát Chánh Đạo, không còn Tứ Niệm Xứ, không còn Tứ Thánh Đế, không còn trí Năm Uẩn thì khi đó là không còn Hiền Thánh Tăng ở trên thế gian này nữa. Quý huynh đệ đừng nghĩ là những vị đỉnh điển nổi danh này kia mà quý vị nghĩ đó là thánh tăng chưa chắc, danh tăng thì được chứ còn thánh tăng là khác.
V. Chia sẻ trong tu học
Quý huynh đệ học cái này là thấy nó sâu xa mà nó tuyệt diệu lắm. Danh tăng khác, cao tăng khác, thánh tăng khác. Học đi đã lắm, sướng lắm, cái này mới sướng thiệt, chịu khó học đi rồi sẽ thấy tuyệt vời lắm.
Xin thưa quý huynh đệ từ ngày xuất gia đến giờ là bôn ba khắp trong nước ngoài nước toàn thế giới, chỗ nào mà có bậc cao tăng, những vị tu hành là Minh Thành đi tới đó tìm học không có ngừng nghỉ.
Vừa rồi Minh Thành đi qua Thái Lan qua các rừng thiền, đi qua Sri Lanca, đi qua Myanmar các nước phật giáo. Còn trước đó khỏi nói, các nước bắc tông của Phật giáo là đi hết. Bắc tông là không nói rồi là trở về nguồn, mà khi trở về nguồn các nước nguyên thuỷ Phật Giáo cũng chưa có nguyên thuỷ. Những nước bây giờ chú trọng vào tạng Vi Diệu Pháp và tạng chú giải chứ không chú trọng nhiều vào tạng Nikāya. Mà hiện tại Linh Quy Pháp ấn ta là chuyên ròng Nikāya thôi. Tụng kinh, ngồi thiền, ăn cơm tất cả nghi thức đều chỉ lấy trong Nikāya mà thôi, tất cả nghi thức trong đó đầy đủ hết. Những nghi thức giờ đang sử dụng là những tổ tổ tổ sau này, nhất là của Trung Hoa mình ảnh hưởng rất là nhiều. Thành ra những cái này là những cái rất sâu sắc là Minh Thành muốn tâm sự với quý huynh đệ. Không vội phản ứng, không vội kết luận mà từ từ tìm hiểu là quý huynh đệ thấy tuyệt diệu lắm.
Bây giờ cả thế giới đang quay về Phật Giáo nguyên thuỷ mà trong khi Phật Giáo nguyên thuỷ chú trọng những bộ phía sau này chú giải giống như bên phát triển mình vậy đó. Tạng Vi Diệu Pháp gần gần giống như nghi thức học của Phật Giáo phát triển mình. Rồi dần dần những bộ chú giải bộ luận sau này giải thích ra mà trong khi lời Phật này giờ nó rõ như mặt trời vậy đó nhưng mà không có đi theo. Tại sao vậy? Đi theo cái này khó lắm vì đi theo cái này là từ bỏ hết, chấm dứt hết mới đi đến giải thoát. Cái kia là nghiên cứu cho đã, nói cho nó ngon lành sướng, thâm sâu rồi cuối cùng Phật Giáo trở thành môn nghiên cứu triết học.
Thành ra chỗ này là chỗ rất là thâm sâu. Đây là trái tim mà Minh Thành trao cho các huynh đệ.
Xin thưa quý huynh đệ hôm nay quý huynh đệ ở đây thật ra, đúng ra là không có vì Minh Thành định nghĩ ít nhất là một năm ở trên rừng, độc cư thiền tịnh. Nhưng chắc có lẽ không lâu nữa mà ít nhất là một năm nhiều là phải vài năm để chứng nhập những lời Đức Phật dạy. Giờ con đường là mình thấy rõ quá rồi giờ chỉ đi là tới thôi, chỉ đi là tới thôi.
Tại vì đúng theo tinh thần Đức Phật dạy đúng theo con đường này mà nếu như mình không độc cư thiền tịnh ở trong núi rừng thì cực kì khó khăn chứng nhập. Cần phải chứng ngộ những điều chưa chứng ngộ, chứng đắc những điều chưa chứng đắc, chứng đạt những điều chưa chứng đạt phải có cái tâm như vậy đó là tứ chánh cần.
Xin chưa quý huynh đệ thời gian không có lâu nữa quý huynh đệ sẽ không gặp Minh Thành mà muốn gặp thì hơi khó, phải bò lên rừng mới được. Tại vì Minh Thành đã đi một dòng hết rồi, nhất là Phật Giáo nguyên thuỷ những cái thánh tích, lịch sử rất là tuyệt vời nhưng ngay cả trong những trường thiền nổi tiếng mà thế giới về học thì cũng đơn sơ một vài phần nhỏ trong Tứ Niệm Xứ thôi chứ không đầy đủ vì Minh Thành đã đi qua. Thành ra đây là một nhân duyên rất là tuyệt diệu, mình cố gắng mình nắm vững tinh thần này rồi sau này quý huynh đệ có dạy lại, có chia sẻ cho ai, có tu thì huynh đệ sẽ đi chính xác.
Bây giờ khoan hãy nói cao siêu, thánh quả thứ tư bây giờ quý huynh đệ hướng dự lưu thôi là quý huynh đệ ngon rồi, thành rồi vậy là đủ vốn rồi.
Hướng dự lưu, cho nên quý huynh đệ phải đem hết tấm lòng. Đây là tình thương huynh đệ, linh sơn cốt nhục, quyến thuộc bồ đề Minh Thành chia sẻ cho quý huynh đệ. Trong buổi học của Minh Thành quý huynh đệ ráng cố gắng nắm được tại vì đây là tinh hoa của Tạng Kinh Nikāya. Đây là cái lõi của tất cả giáo pháp quý huynh đệ phải nắm thật vững cái này.
Sau này quý huynh đệ có đi chia sẻ, có đi giảng dạy hay có tu tập thì quý huynh đệ sẽ thấy giá trị vĩ đại của nó.
Mình Thành đã đánh đổi bằng sinh mạng mới tìm ra được cái pháp này không phải đơn giản.
Xin thưa quý huynh đệ Minh Thành dám bỏ hết tất cả hai mươi mấy năm học trước đây, bỏ hết bây giờ nhất hướng cái này thôi. Đây là mới thực sự là lời Đức Phật dạy mà mình thực hiện là thấy rõ ràng như trong lòng bàn tay.
Quý huynh đệ về mở ra sẽ thấy cái bài pháp trong lòng bàn tay của Minh Thành giảng ở trong lòng bàn tay mà câu đó của một vị Tỷ-kheotán thán giáo pháp của Đức Phật thời Đức Thế Tôn còn tại thế trong tạng Kinh Nikāya.
Lại nữa này Xá Lợi Phất Tỷ-kheocần phải suy tư như sau: Ta đã đoạn tận năm triền cái chưa.
Năm cái pháp này làm chướng ngại tâm, ngăn che cái tâm. Năm cái pháp này nó làm ra không mắt, không trí, nó làm cho tâm bị bao phủ, che phủ, chướng ngại, nó làm cho tâm không phát triển trí huệ. Nếu bây cứ một người nào tu tập đầu tiên không phá năm triền cái này thì không bao giờ thăng tiến được, không bao giờ vào thiền định được. Cho nên đầu tiên người tu phải công phá năm cái này dục, tham và phải dùng bất tịnh quán.
Sân là phải dùng từ bi, trải tâm từ, từ tâm giải thoát.
Hôn trầm, trạo cử và hoài nghi phải diệt tận năm cái.
Này cho nên Ngài Xá Lợi Phất này Tỷ-kheocần phải suy tư như sau: Ta đã đoạn tận năm triền cái hay chưa?
Đoạn tận tức là dứt hết, diệt hết nó chưa.
Nếu mà trong khi suy tư như sau mà chưa đoạn tận năm triền cái thì vị ấy cần phải tinh tấn đoạn tận năm triền cái
Bây giờ mình ngồi thiền dục tham có khởi lên không, rồi mình có đoạn tận nó không? Rồi mình có dùng bất tịnh quán không?
Cho nên nhiều khi vào tu năm năm, bảy năm, mười năm chưa một lần quán bất tịnh. Thì cái tham dục còn y nguyên ở trong, còn y nguyên nó không bứng được gốc rễ cho nên một số người nghĩ rằng ngồi thiền là ngồi rồi thở đừng suy nghĩ gì hết trơn. Đó không phải là thiền của Đạo Phật đó không phải, đó là si thiền. Nếu mà nó khởi lên dục tham thì phải dùng phương pháp đối trị thì như vậy mình dùng cái bất tịnh đánh vào cái tưởng, cái tịnh tưởng là cái cho là hấp dẫn là sạch là đẹp. Là đáng khả lạc, khả ý, khả ái liên hệ đến dục hấp dẫn đó mình cho là tịnh tướng là đẹp. Giờ mình phải dùng bộ xương, đống thịt bầy nhầy, những con giòi, sinh chương lên, đen nám lại, rỉ chảy ra, rồi vữa ra, vỡ ra, hôi thúi kinh hồn dùng những cái đó đánh cái tịnh tưởng kia, khi mình đánh đến tận cùng là nó dứt nọc luôn, bứng cái rễ của dục tham thì mới đi đến lậu tận.
Còn mình thở vô thở ra niệm A Di Đà Phật hay làm gì đó thì nó còn y nguyên thì sao mà giải quyết vấn đề, khi mình thấy là nó bừng bừng nó hưng khởi. Dùng từ hưng là mạnh lắm đó, mình không thấy không sao mà nhiều khi không thấy mà nó còn chưa để cho mình yên nữa, ngủ nằm chiêm bao. Tại sao vậy? Tại sao nằm chiêm bao? Tại vì những hạt giống những này kia trong đó nó còn đầy rẫy trong đó mình không có dọn dẹp hàng tồn kho, nó là cái hàng tồn kho mình phải thanh lý chứ, thanh lý hàng tồn kho chứ. Thanh lí bằng cách nào? Bằng cách quán bất tịnh để tẩy rửa, không phải tới lúc dục nó khởi mình mới quán thì không có kịp đâu. Quán bình thường lúc nó chưa khởi và lúc nó sanh khởi lên là dùng như lý tác ý mạnh. Mình phải chửi nó là súc sanh, là thú vậy mình phải chửi tâm dục đó.
Quý huynh đệ về nghe bài cách diệt dục của Cô Chơn Tín Toàn, cô này chuyên về tạng kinh Nikāya mười lăm năm, bộ Minh Thành đang giảng là cô phân loại.
Xin thưa quý huynh đệ là mình phải chửi nó, mình dùng như lý tác ý đó là tuệ lực chứ không có gì hết. Phải chửi nó là súc sanh, thú vật, trâu bò chứ không phải con người. Tại sao mình là người xuất gia mình lại nghĩ những chuyện đó, tại sao trước tam bảo mà mình lại nghĩ về những hình ảnh đó mà dơ bẩn, nhục nhã, xấu hổ chửi cái tâm lâu rồi riết là nó mắc cỡ, riết là nó e thẹn, riết là nó không dám cụ cựa nó cuối cùng là mình diệt tận nó, đập nó tan nát luôn, diệt tận nó luôn là Alahan.
Ít nhất cũng là tu đạo hoàng, thì mình thấy lúc trước mình nhập cuộc chung với nó luôn mà quý huynh đệ thấy phải vậy không?
Nó khởi lên là tạo thành một vòng xoáy, nó tạo thành cái lực đẩy, nó tạo thành một cái bọc lưu là nó cuốn mình luôn giống như thác lũ nó cuốn mình luôn. Giờ mình phát hiện mình chống cự với nó, đó bắt đầu là chiến sĩ, lúc đó mới bắt đầu là đánh giặc. Mà giờ nó khởi lên thì theo luôn thì có gì đâu là chiến sẽ, như lụt trôi chiến sĩ, lụt trôi là đi luôn.
Chiến sĩ ở đây nè, chiến sĩ là nhìn thấy nó, chiến đấu lại với nó, không chịu thua với nó. Lúc đầu mình thua không sao, đánh tiếp từ từ là nó ba tháng bảy thua, rồi từ từ bốn thắng sáu thua, rồi từ từ năm thắng năm thua, rồi từ từ bắt đầu lên tới đây là khá khá rồi đó, rồi từ từ mình nâng lên. Quan trọng mình có chịu khai chiến chịu đánh nó không chứ còn mình thôi nó cần tay dẫn đi đâu dẫn đi, nhiều khi còn khoái thôi cứ việc đưa đi. Đó là rồi rồi như vậy gọi là tu sao gọi là chiến sĩ sao gọi là vô thượng sĩ.
Nhíp phục dục và tham, đoạn tận dục và tham đó là mục đích của giáo pháp Đức Thế Tôn.
Không phải với nữ sắc không mà đối với món ăn, giấc ngủ, áo mặc, cái tiếng khen tất cả mọi cái, cái chùa bổn đạo phật tử, cái điện thoại, tất cả mọi thứ là diệt liền, quán liền. Mê cái gì ở trong đây, có cái gì mà trong đây, cái đống thịt, hay bộ xương hay những con giòi đó là mình dùng tuệ lực, sức mạnh của trí huệ tinh tấn niệm định hệ, năm căn biến thành năm lực đập tan nó hết thì quý huynh đệ tu cái này nó đã lắm, nó sướng lắm. Coi như là mình vô thất hay ngồi thiền là mình không bao giờ là thất nghiệp hay không bao giờ không có công việc làm hết. Liên tục, liên tục mình nhìn lại nội tâm mình nó hoạt động khủng khiếp lắm, không có cái gì bằng cái nội tâm mình.
Nó vi tế và hoạt động siêu siêu như vậy mới là trí huệ của bậc Thánh.
Trong từ Nikāya gọi là thể nhập thánh trí.
Tức là khi mình tu mà mình nhìn được Năm Uẩn thì tất cả những gì trong nội tâm mình, mình kiểm soát, mình thấy biết hết không có cái nào mình không biết có những cái mình chưa thắng được thôi rồi từ từ mình thắng. Không có cái nào mình không thấy không biết, đây là chỗ đặc thù đây là chỗ thù thắng của bậc tu đạo hoàng, của bậc đã thành tựu Minh Kiến.
Này các Tỷ-kheogiống như biển nước vô tận như vậy có người lấy một cộng cỏ chấm xuống biển nước đem lên có bảy giọt nước trên đầu ngọn cỏ. Thì như vậy bảy giọi nước trên đầu ngọn cỏ nhiều hay biển trong đại dương là nhiều.
Bạch Thế Tôn: Biển nước trong đại dương là nhiều.
Vài giọi nước trong ngọn cây rất là ít. Đức Phật nói cũng vậy, bậc đã thành tựu Minh Kiến, đã thấy đúng được rồi thì cái khổ bị trừ diệt nhiều như nước trong đại dương mà cái khổ còn lại nó ít giống như mấy giọt ở trên đầu ngọn cỏ thôi. Đó là bậc thành tự Minh Kiến, Chánh Tri kiến.
Đức Phật ngồi vậy rồi cúi xuống hốt bảy hòn sỏi rồi hỏi tuỳ kheo. Mấy viên sỏi trong tay ta là nhiều hay đất ở trong đại địa là nhiều.
Tỷ-kheonói: Đất trong đại địa rất là nhiều so với bảy hòn sỏi.
Đức Phật nói cũng vậy: Người mà thành tựu thánh trí của Bậc Dự Lưu Quả, đã thấy được thân tâm Ngũ Uẩn thì đau khổ còn lại chỉ như bảy hòn sỏi thôi, còn đau khổ đã diệt thì nó giống như đại địa của quả đất.
Cho nên Minh Thành muốn ở đây tất cả phải dự lưu Thánh Quả.
Như vậy mới hướng dẫn người ta tu hành, mình mù mờ không thầy gì thì mình hướng dẫn ai, cảm giác của mình mình không biết, cái tưởng trong nội tâm mình không biết, những suy nghĩ trong đó có cái gì mình không biết.
Cho nên lại nữa này Xaribota Tỷ-kheophải suy tư như sau: Ta có liễu tri Thủ Uẩn hay chưa.
Liễu tri là biết đầy đủ thấu đáo đầy đủ tất cả khía cạnh của Năm Uẩn còn gọi là chánh biến tri về năm Thủ Uẩn.
Biết rõ sắc như thế nào, biết rõ cảm giác vận hành ra làm sao, những nghĩ tưởng suy tương của mình và nhận thức như thế nào phải biết rõ thấy rõ, thấy tường tận cái tính chất vô thường, đặc tính khổ vô ngã của nó như thế nào phải thấy biết đó gọi là liễu tri.
Nếu mà chưa liễu tri phải tinh tấn thấu suốt Năm Uẩn. Nếu mà liêu tri rồi thì phải an trú với hỉ, hân hoan ngày đêm tu học đối với Tứ Niệm Xứ, đối với Bốn Cánh Cần, đối với bốn như ý túc, đối với năm căn, năm lực, bảy giác tri, bát chánh đạo cũng như vậy.
Đối với chỉ quán, ta đã tu tập chỉ và quán chưa?
Ta đã chứng ngộ minh và giải thoát hay chưa?
Ta chưa chứng ngộ minh và giải thoát. Này Xá Lợi Phất vị Tỷ-kheoấy phải tinh tấn tu tập minh và giải thoát.
Nếu đã chứng ngộ minh và giải thoát rồi thì phải an trú với hỉ, hân hoan ngày đêm tu học. Tuyệt vời lắm.
Này Xaribota những Xa Môn hay Bà La Môn những vị tu nào trong thời quá khứ đã làm cho khất thực được thanh tịnh, tất cả những vị ấy đã làm cho khất thực được thanh tịnh bằng cách suy tư, suy tư như vậy.
Này Xá Lợi Phất những vị Tu Sĩ, Sa Môn, Bà La Môn nào ở trong tương lai sẽ làm cho sự khất thực của mình được trong sạch thanh tịnh thì tất cả những vị ấy bằng cách suy tư như vậy nãy giờ ta đã nói.
Hay là những vị trong hiện tại cũng như vậy trong ba thời đều như vậy hết.
Tất cả bậc hiền thành từ quá khứ, hiện tại, vị lai mà muốn làm cho sự khất thực của mình được thanh tịnh, muốn xứng đáng được mọi người cung kính, cúng dường, đảnh lễ, tôn trọng thì những vị đó suy tư giống như nãy giờ suy tư, tu tập giống như nãy giờ tu tập, hành trì giống như nãy giờ hành trì thì đó là cái đường lối mà của bậc Hiền Thánh Tăng.
Vậy này Xá Lợi Phất các ông cần phải học tập như sau: Sau khi suy tư, suy tư chúng ta sẽ làm khất thực được thanh tịnh.
Như vậy chúng ta học bài kinh Khất Thực Thanh Tinh ở Trung Bộ Kinh tập 3 ở đây có một từ rất quan trọng là “An Trú Không Tánh”. Chữ “Không Tánh” Đức Phật dạy không giống như chúng ta hiểu bây giờ.
Không Thánh ở đây là không tham, không sân, không si, không có hại tâm không có những phiền não đó, đoạn tận những cái đó thì lúc đó gọi là không tánh là cái tâm tánh của mình được rỗng rang, nó được trống vắng nó được thanh tịnh, chính cái đó cũng là làm cho thanh tịnh, làm cho trong sạch sự khất thực, đó cũng là xứng đáng để nhận sự cúng dường của chư thiên và nhân loại.
ĐỨC PHẬT GIẢNG VỀ TÁNH KHÔNG
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Năm uẩn PAGEREF _Toc111908331 \h 1
II. Không tánh mà Đức Phật dạy PAGEREF _Toc111908332 \h 2
III. Năm dục trưởng dưỡng PAGEREF _Toc111908333 \h 7
IV. Nhất hướng nhàm chán ly tham PAGEREF _Toc111908334 \h 9
V. Chia sẻ trong tu học PAGEREF _Toc111908335 \h 12
I. Năm uẩn
Ở trong Kinh Tạng Nikāya Đức Thế Tôn ngài thường nhấn thật là mạnh là phải liên hệ đến mục đích và quả thật ở trong hơn một tuần ở một mình thì Minh Thành thu hoạch được lợi ích mà mình bất ngờ.
Khi mà mình càng học những lời Đức Phật dạy trong tạng Nikāya mình thực tập, mình nghe những tấm gương của các bậc thánh tăng thì một niềm phát khởi trong nội tâm mình mãnh liệt là sự hổ thẹn là sự xấu hổ và sự nhục nhã. Điều này có thể quý huynh đệ ít nghe, thấy lạ. Tại vì khi tu mình gặp nhau là mình toàn dùng những mỹ từ xưng bá, cao siêu, rộng lớn bao la nhưng thực sự cái đó chỉ là mỹ từ thôi. Nói nghe cho nó hay vậy đó nhưng nếu mình thực sự nhìn lại thì nó không phải như vậy.
Thành ra tinh thần của Kinh Nikāya là diệt tận nhiễm ô và đó cũng là cái mục đích duy nhất của Phật Giáo.
Nếu như mình không thường trực quay trở lại nhìn vào nội tâm của mình.
Mà chữ “Nội Tâm” không thể nói chung chung được. Tâm là thọ, tưởng, hành thức. Phải thấy được cảm giác của mình vận hành như thế nào. Phải thấy được trong nội tâm có những hình bóng gì. Phải thấy được những cái lời nói thầm thầm là những lời nói gì. Phải thấy những cảm giác, cái tưởng trong nội tâm mình, phải thấy rõ như vậy mới là soi rọi lại nội tâm.
Mình ngồi lại mà thọ là gì, thức là gì, tưởng là gì mình không biết cái đó là mù mờ mờ ở trong si ám, si mê không phải là cái trí của Năm Uẩn.
Mình phải phân biệt rõ trong nội tâm mình cái nào là thọ, cái nào là tưởng, cái nào là hành, cái nào là thức. Mà cái Sắc Uẩn đang như thế nào mình phải thấy được. Thành ra quý huynh đệ thấy được cái này là một sự học tập, cố gắng, tư sát, tư duy, quán chiếu và chiêm nghiệm tu tập là cả sự nỗ lực và công trình rất lớn. Khi mình nhìn lại thì lúc đó mình sẽ ôi chao ôi, nhục nhã, xấu hổ vô cùng, tàm quý đầy rẫy trong nội tâm mình nào là dục, ái, si mê, chấp ngã, cống cao ngã mạn, khen mình chê người đủ thứ trong đó hết. Nếu mình nhìn thấy được như vậy thì mình hoàn thành được thánh quả thứ nhất trong kết quả của người tu. Những từ khi nói ra là mình thấy kì, buồn quá vậy ta, nói gì không có gì hay ho đẹp đẻ gì hết vậy nhưng đó là sự thật. Quý huynh đệ phải phân định được Năm Uẩn, nhận diện được Năm Uẩn đây là cánh cửa đi vào trong thân tâm của mình bằng trí huệ. Cảm giác nó như thế nào, nó thuộc về loại cảm giác và trong cảm giác đó có những gì phải thấy được đây ở trong kinh Đức Phật nói là các pháp hiện rõ.
Đức Phật nói ai mà ưa thích hội chúng, ưa thích ồn ào náo nhiệt mà có thể ngồi im lại độc cư là điều đó không thể xảy ra. Người không thể ở một mình, ngồi yên thiền định độc cư mà người đó có thể là nhìn thấy được tâm mình, các pháp trong tâm hiện rõ là điều đó không thể xảy ra.
Tức là người muốn tu mà muốn thành tựu thì người đó phải tách xa đồ chúng, lìa khỏi sự náo nhiệt của phồn hoa đô thị, người đó phải độc cư thiền tịnh. Khi mình độc cư thiền tịnh thì cảnh ở ngoài lắng rồi, thân của mình ngồi yên rồi bắt đầu mình bắt đầu có sự tư sát soi rọi lại bên trong, soi rọi rõ ràng Năm Uẩn, chứ không phải soi rọi một cách chung chung. Khi mình soi rọi rõ ràng như vậy thì các pháp hiện ra, hiện rõ ra ở trong nội tâm của mình.
II. Không tánh mà Đức Phật dạy
Rất là rõ trong bài kinh Khất Thực Thanh Tịnh trong Trung Bộ Kinh tập 3.
Đức Phật dạy rất rõ.
“Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở Rajagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc lâm), tại chỗ nuôi dưỡng sóc (Kalandakanivapa). Rồi Tôn giả Sariputta vào buổi chiều, từ Thiền tịnh độc cư đứng dậy, đi đến Thế Tôn, sau khi dến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Tôn giả Sariputta đang ngồi một bên:
– Này Sariputta, các căn của Ông rất sáng suốt, sắc da của Ông thanh tịnh trong sáng. Này Sariputta, Ông nay đang phần lớn an trú với loại an trú nào? – Bạch Thế Tôn, con nay đang phần lớn an trú với không trú.
– Lành thay, lành thay! Này Sariputta, Ông nay đang phần lớn an trú với sự an trú của bậc Đại nhân. Này Sariputta, sự an trú của bậc Đại nhân tức là không tánh.”
(Trung Bộ Kinh – bài kinh Khất Thực Thanh Tịnh)
Rồi quý huynh đệ coi chữ “Không Tánh” Đức Phật giải thích như thế nào. Đại đa số mình hiểu không chính xác. Chữ không tánh bây giờ viết sách nhiều ngoài kia không phải. Quý huynh đệ coi, đây là Trung Bộ Kinh Nikāya bộ kinh tối cổ của Phật Giáo.
“ Do vậy, này Sariputta, nếu Tỷ-kheo ước mong rằng:: "Mong rằng tôi nay phần lớn an trú với sự an trú không tánh", thời này các Tỷ-kheo, Tỷkheo ấy cần phải suy tư như sau: "Trên con đường ta đã đi vào làng để khất thực, tại trú xứ ta đã đi khất thực, và trên con đường từ làng ta đi khất thực trở về, tại chỗ ấy, đối với các sắc do mắt nhận thức, có khởi lên ở nơi ta dục, tham, sân, si, hay hận tâm không?"
Này Sariputta, nếu Tỷ-kheo sau khi tư duy biết rằng: "Trên con đường ta đã đi vào làng để khất thực, tại trú xứ ta đã đi khất thực và trên con đường từ làng ta đi khất thực trở về, đối với các sắc do mắt nhận thức, có khởi lên nơi ta dục, tham, sân, si hay hận tâm", thời này Sariputta, Tỷ-kheo ấy phải tinh tấn đoạn tận các ác bất thiện pháp ấy.
Nhưng này Sariputta, nếu Tỷ-kheo trong khi suy tư được biết như sau: "Trên con đường ta đã đi.. ta đi khất thực trở về, đối với các sắc do mắt nhận thức, không có khởi lên nơi dục, tham, sân, si hay hận tâm", thời này Sariputta, Tỷ-kheo ấy phải an trú với hỷ và hân hoan, ngày đêm tu học trong các thiện pháp.”
(Trung Bộ Kinh – bài kinh Khất Thực Thanh Tịnh)
“Không Tánh” ở đây là không có dục, không có tham, không có sân, không có si, không có hận tâm chứ không phải là nhìn không có gì hết cái đó là tưởng, đó không phải tuệ giác. Mình vô mình nhìn mình nói hư không không thôi, mà tại sao hư không không mà mình nhìn mình khoái.
Tại sao hư không không mà đưa tờ 500 ngàn mắt trố ra còn đưa tờ 20 ngàn mắt bình thường không thèm muốn nhìn mà cũng màu xanh.
Như vậy thì khi đưa tờ 20 ngàn cũng màu xanh xanh, khi đưa 500 ngàn cũng màu xanh xanh mình nhìn xem khi con mắt mình tiếp xúc với tờ giấy tiền đó có khởi lên tham không? Có khởi lên muốn không? Có khởi lên thích thích khoái khoái không?
Rồi giờ nó đưa ra mẫu nhỏ nhỏ trên zalo là có thích lì xì không?
Đó chỗ này đây là chữ “Không Tánh” của Đức Phật. Không tánh ở đây là không có dục, không có tham, không có sân, không có si, không có những bận tâm ở trong lòng khi mắt tiếp xúc với sắc, tai tiếp xúc với tiếng, mũi tiếp xúc với mùi, lưỡi tiếp với vị, thân tiếp xúc với sự xúc chạm, mình xem tâm mình lúc đó có dục khởi lên không.
Cho nên khi mình ngồi bàn cầu an, cầu siêu mình ghi, đêm 30 tết, đêm giao thừa mình ghi rồi có người đi vô họ cứ nói tới nói lui này nọ mà nhìn thì xấu xí nói hoài không chịu đi thì lúc đó mình có sân khởi lên không. Nếu chỗ này là có thì không phải “Không Tánh”.
Rồi bây giờ có một người rất là đẹp mà lại ngồi nói chuyện mà cười nói này nọ kia nọ lúc đó mình xem trong tâm mình có cái gì? Mình nhìn sâu vào trong tâm mình có cái gì, cái gì trong đó phải nhìn thấy.
Nếu mà có những cái đó thì Tỷ-kheoấy phải tinh tấn đoạn tận các ác bất thiện pháp ấy.
Cho nên đại đa số mình hiểu từ “Không Tánh” không chính xác. Chính vì vậy mình tu không bao giờ đạt đến chữ không tánh của bậc đại nhân. Cho nên thánh đạo, thánh quả không có, trí thức học vấn rất là nhiều, nói thì thiên thu vạn đại trên trời dưới đất mà nói thì ôi cha.
Chỗ này là chỗ học mình đã không nắm vững, không thành tựu chánh chi kiến chính xác về giáo pháp của Đức Phật. Mình không đi trên thành đạo tới thánh quả cho nên tu học không có thành tựu, tu ở trên cái tưởng.
Trong sự tu tập này là luôn luôn thường trực mỗi phút, mỗi giây, mỗi thời, mỗi khắc luôn luôn nhìn lại những dục, tham, sân, si, bản ngã. Diệt tận nó, trừ diệt mọi lúc, mọi nơi đó là Không Thánh, đó là an trú của bậc đại trí, bậc đại nhân.
Trong khi ăn được tăng lên 10 món gắp liên tục, lia lịa. Miệng nhai chưa xong là gắp miếng thứ hai rồi. Lúc đó mình không thấy được các cái pháp mình đang vận hành, khi lưỡi mình tiếp xúc với thức ăn, thọ do tỷ súc sanh, thọ do thiệt súc sanh tức là cái mùi với cái vị. Mình không thấy được duyên sanh pháp vận hành ngay lúc đó, mình không biết được do cái lưỡi, do có thức ăn cho nên nó sanh thiệt thức là rõ biết của các cái vị. Ba pháp nó hội tụ với nhau nó tạo thành thiệt xúc là tiếp xúc của cái lưỡi. Khi tiếp xúc của cái lưỡi thì ái nó sanh, dục nó sanh, nó khoái khoái, nó muốn nữa nữa, dục tham ái ngay trong lúc mình ăn.
Khi mình nói, mình đối diện với người đẹp, khác phái những người mình ưa thích thì mình đã không kiểm soát được rồi, nó đã ngầm ngầm qua mặt mình gọi là dục lậu.
Tức là dục là thứ nhiễm tâm ở trong tâm của mình, tức là nó âm thầm qua mặt mình, mà mình không thấy không biết gì hết đó là đi hàng lậu, gọi là dục lậu. Mà hằng ngày như vậy là nó lậu trong con mắt, lậu trong lỗ tai, lậu trong lỗ mũi, lậu trong cái thân.
Ví Dụ: Mình lên ngồi xe mà kế một người đẹp mà mỗi lần đi qua ổ gà nó quẹo một cái, cái nó chạm vô thì lúc đó thọ do thân súc sanh. Mà nếu chỗ đó mình không nhìn ra được trong cái thọ có cái gì thì mình chết. Lúc đó mình nhận cái pháp đó nó đi vào trong nội tâm của mình, bắt đầu mình trở về mình ngồi thiền là những cảm xúc đó, những cảm giác đó nó hiện khởi trở lại nó hiện hành nó tiếp tục tương tác ở bên trong, thọ tưởng hành tiếp tục, tiếp tục như vậy có thể mình sẽ chết với cảm giác đó. Cho nên có thể một chuyến xe thôi mà về người ta có thể có con với nhau được chỉ ngồi chung chuyến xe bus.
Xúc này ghê gớm lắm mà hằng ngày mình không nhìn thấy, mình không nhìn thấy.
Đây là tu theo tinh thần Đức Phật là đây. Luôn luôn lúc nào mình cũng để ý mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý của mình khi mình tiếp xúc với cái gì đó mà nó sanh khởi cảm giác là mình chặn đứng lại liền, không cho nó tiếp xúc, nó nhìn nữa những cái này là cái tu kỹ. Tu như vậy nó mới đi đến kết quả, thành quả đúng theo Đức Phật nói là bốn thành quả.
Nhưng này Xá Lợi Phất nếu Tỷ-kheotrong khi tư duy mà được biết như sau trên con đường ta đi khất thực mà sáu căn tiếp xúc như vậy mà không có khởi lên dục, tham, sân, si hay là hận tâm thời này Xá Lợi Phất Tỷ-kheoấy phải an trú với hỉ và hân hoan ngài đem tu học trong các thiện pháp.
Làm gì mà không có khởi lên đây là những cái bậc hiền thánh, bậc
Alahan hay là bậc Bất Lai chẳng hạn. Không có khởi thô cũng có khởi tế là mình khởi lên mà vấn đề khởi lên mà mình không thấy nó khởi mà nó sanh khởi lên gọi là tồn chỉ. Tức là nó tồn tại an trú trong nội tâm mình rồi nó xâm chiếm, áp đảo và mình trở thành trở thành một kẻ chiến bại và cuối cùng là mình túc thủ mình bó tay đầu hàng với nó như vậy là mình chiến bại chứ không phải là dũng sĩ, không phải là chiến sĩ. Sau này chúng ta sẽ học bài kinh chiến sĩ, cho nên Đức Thế Tôn được tôn là bậc chiến thắng đấng chiến thắng, chiến thắng dục, tham, sân, si, bản ngã, chiến thắng hết tất cả toàn thắng đại thắng.
III. Năm dục trưởng dưỡng
“Lại nữa, này Sariputta, Tỷ-kheo cần phải suy tư như sau: "Ta đã đoạn tận năm dục trưởng dưỡng chưa?
Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo, trong khi suy tư được biết như sau: "Ta chưa đoạn tận năm dục trưởng dưỡng", thời này Sariputta, Tỷkheo ấy phải tinh tấn đoạn tận năm dục trưởng dưỡng.
Nhưng nếu, này Sariputta, Tỷ-kheo trong khi suy tư được biết như sau: "Ta đã đoạn tận năm dục trưởng dưỡng", thời này Sariputta, Tỷkheo ấy phải an trú với hỷ và hân hoan ngày đêm tu học trong các thiện pháp.”
(Trung Bộ Kinh – bài kinh Khất Thực Thanh Tịnh)
Cho nên lại nữa Này Xá Lợi Phất tỳ kheo cần phải suy tư như sau ta đã đoạn tận năm dục trưởng dưỡng chưa.
Năm dục trưởng dưỡng là cái gì?
Năm dục trưởng dưỡng là khi con mắt tiếp xúc với sắc, khi lỗ tai tiếp xúc với âm thanh, cái sắc, thanh, hương vị đó, cái xúc cái đó là năm dục trưởng dưỡng. Năm cái đó làm cái tham dục của mình lớn mạnh lên gọi là năm dục trưởng dưỡng.
Ta chưa đoạn tận Năm Dục Trưởng Dưỡng thời này Xá Lợi Phất tỷ kheo ấy phải tinh tấn đoạn tận năm Dục Trưởng Dưỡng.
Như vậy không phải là đập tan hết tất cả sắc, không phải bịt tai, không phải là làm cho mù mắt, không phải. Mà khi con mắt tiếp xúc với sắc mà nó có sanh khởi lên tham, dục, ái thì mình đoạn tận tham, dục, ái khởi lên đó, cái đó gọi là đoạn tận năm dục trưởng dưỡng.
Ví dụ: Mình đi vào ngôi chùa lớn nhất thế giới, lúc mình bước vô thì cảm giác mình như thế nào?
Khi chưa đi mới mở lên màn ảnh thôi, thấy được, con mắt mình tiếp xúc thì cảm giác gì sanh khởi lên, trong tâm mình có những hình bóng gì, có những bình bóng gì. Đó là tham, là dục, là ái ưa thích.
Tu cái này là khó, mà tu cái này mới thành thánh nhân, mới thành thánh quả. Cho nên mình nhìn lại mình xấu hổ lắm. Quý huynh đệ nhìn lại cói có phải mình tu là mình ráng kiếm cái chùa cho lớn không, đẹp hơn nữa không. Nó không liên hệ tới mục đích, đó là mình đã bị tham, đã bị ái trói cổ và giờ chúng ta không đúng đường của Đức Phật dạy. Đây là một sự đau lòng và như thế người xuất gia không giải quyết được vấn đề của chính mình thì làm sao mình giúp ích được mọi người. Trong lòng mình nhìn lại vẫn còn tràn đầy dục, tham, ái, sân, si, bản ngã thì làm sao mình giúp được những người khác hết được những cái đó. Mà như vậy mình cũng trong mù mờ rồi người ta cũng mù mờ thì cùng nhau mù mờ thôi.
Trong kinh Nikāya Đức Phật ví dụ một người mù đi trước rồi những người mù đi sau ôm eo đi theo rồi cuối cùng dẫn nhau xuống hố, xuống vực. Người dẫn đầu không phải là bậc chánh tri kiến, không phải là người đắc pháp nhãn tịnh cho nên cái này hết sức là quan trọng. Quý huynh đệ trong bốn năm này Minh Thành muốn quý huynh đệ phải thành tựu được chánh tri kiến, tối thiểu là hướng dự lưu, hướng dực lưu quả tức là chính thức là đệ tử Phật. Không phải là cạo đầu, đắp y là đệ tử Phật đâu, bốn đôi tám chúng mới là đệ tử chính thức của Phật. Giờ mình hiểu nó không chính xác, mình đừng tưởng lên đắp y, cạo tóc lên giới đàn là đệ tử của Phật không phải. Đệ tử phật người đó đó phải là người bốn đôi tám chúng của hiền thánh là người đó phải thành tựu Chánh Tri Kiến. Người đó phải thấy được cái pháp, thành tựu lòng tin bất động với những lời Đức Phật đã dạy, lòng tin bất động với pháp Đức Phật đã giảng.
IV. Nhất hướng nhàm chán ly tham
Vậy pháp Đức Phật đã giảng là gì?
Là ly tham đối với Năm Uẩn.
Tức là khi mình nghe mình hiểu pháp. Mình có hướng đi ra Năm Uẩn chứ không có hướng đi vô thì như vậy mới là bậc Bốn Đôi Tám Chúng đệ tử của Phật chính thức.
Còn cái kia là mình thuộc giống như là ôn thi, luyện thi đại học chứ chưa là đệ tử của Phật. Đệ tử của Phật là Bốn Đôi Tám chúng của Hiền Thánh, là phải hướng dự lưu quả.
Tức là hướng đi ra Ngũ Uẩn, hướng ly tham.
Không còn tham muốn, ước muốn mãnh liệt đối với cái Sắc Uẩn của cuộc đời này. Không còn khao khát, ham muốn mãnh liệt đối với cảm giác, nghĩ tưởng nhận thức thì đây được gọi là bậc Bốn Đôi Tám chúng của Đức Phật, đây là bậc đáng được cung kính, đáng được chắp tay, đáng được đảnh lễ, đáng được cúng dường là ruộng phước vô thượng ở trên đời dù cho người đó là cư sĩ tại gia vẫn chứng quả như thường, quả Bất Lai quả thứ ba trong bốn quả thánh. Cho nên mình không có xem thường những vị cư sĩ tu tập về bộ kinh Nikāya.
Nguyên bài kinh Đức Phật nói: Tỷ-kheosuy tư mà có khởi lên dục, tham, sân si, hay là hận tâm phải tinh tấn đoạn tận các ác bất thiện pháp đó. Còn nếu không có khởi thì phải an trú với hỉ, hân hoan ngài đem tu học với các thiện pháp.
Quý huynh đệ thấy đó, nó không có khởi mấy cái đó lên mình trống trơn, buồn hiu là không phải. Nếu không khởi lên thì mình hân han, hoan hỉ lên. Tại sao vậy? Tại mình không có mấy cái đó chi phối.
Ví dụ: Mình được món đồ gì đó mình mới vui, không phải như vậy. Mình không có bị ra đời cho nên mình đã vui rồi, mình không bị nghiềm thuốc là mình đã vui rồi, mình không bị xì ke là mình vui rồi, mình không bị bệnh là mình vui rồi, giờ thiền định mình không có bị đau nhức, không bị giao động đó là vui rồi. Không có tham, sân, si là hoan hỉ an vui chứ không phải là được thêm cái gì đó.
Giờ không khéo mình tu là mình đòi được cái gì đó thì cái đó không trúng, đó không phải là pháp ly tham. Phải lìa bỏ chứ không được, nếu được là mình dính mắc vào đó chứ mình không có giải thoát, không bao giờ mình giải thoát. Mình phải tu đến chỗ bất động tâm giải thoát tức là bất cả sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp trên quả đất không có một cái gì làm cho tâm mình giao động.
Đó là bậc thánh nhân, mình tu là hướng tới đó, lúc đó mới có thể ban vui cứu khổ cho chúng sanh. Vậy đó mà mình không làm mà tối ngày mình chạy mình làm cái này, cái kia mình giúp người ta, không phải, không có dính dáng gì hết đó là thiện pháp người cư sĩ làm. Người xuất gia của mình tăng thượng giới học, tăng thượng tuệ học, tăng thượng giải thoát tri kiến học.
Nói gọn là ba cái đó thôi mà bây giờ mình chạy rần rần vậy đó. Mục đích của mình càng ngày càng xa. Quý huynh đệ nhìn lại bản chất của người tu giờ đạo đức người xuất gia càng ngày càng yếu kém và người cư sĩ tính tâm của người ta càng ngày càng suy giảm. Thành ra cái này là cái vấn đề đáng báo động ở trong hiện nay.
Chưa kể những thành phần bên ngoài mượn danh phật giáo thời gian gần đây. Khất thực giả, rồi quấn y giả vô xin tiền ……………
Chưa kể đó mà cái thật còn không thật thì cái giả còn nói gì nữa. Mình thực sự đi xuất gia mà mình chưa có chân tu, chưa có thật sự hết tấm lòng mình tu học, khi thực sự có tấm lòng tu học mà mình chưa có chánh kiến. Thì mình tu đâu có đúng đâu tối ngày niệm niệm cầu nguyện cho ai tới rước, ai tới độ, cái đó là không phải, Phật không dạy mấy cái đó. Phật dạy mình quay lại nhìn những cái cấu nhiễm, những rác bẩn trong tâm mình để mình dọn dẹp cho nó sạch.
Thấy được rác là thánh quả thứ nhất.
Dọn rác đổ rác là thánh quả thứ hai.
Sau khi đổ rác rồi mà nó còn dính lại ở phía dưới, chùi cái dính lại là thánh quả thứ ba.
Khi chùi tẩy rửa sạch hết không còn cáu bẩn mùi hôi hoàn toàn trong sạch lúc đó là thánh quả thứ tư.
Toàn bộ sự tu hành có bao nhiêu đó thôi, không có bao giờ hướng ngoại xin ai hết dù đó là Đức Thế Tôn ngài cũng không có dạy như vậy. Cho nên mình quay lại để nhìn thấy rõ những cấu bẩn là mình vào hướng dự lưu cho đến dự lưu thánh quả thứ nhất. Chỗ này là chỗ hết sức quan trọng.
Xin thưa quý huynh đệ ba chục năm Minh Thành đi cầu đạo thì mới một năm nay mới là nhất hướng để đi vào kinh tạng Nikāya. Ba chục năm xuất gia mà tới năm cuối cùng năm 28, 29 này Minh Thành mới vào chính thức một năm đây thôi mới thấy rõ được cái pháp và niềm tin bất động đối với giáo pháp này. Pháp của Thế Tôn khéo thuyết là thiết thực hiện tại có hiệu quả thiết thực đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng người trí tự mình giác hiểu, đó là định nghĩa của Đức Phật, chính Đức Phật định nghĩa.
Đến để mà thấy, thiết thực hiện tại là sao? Là trong nội tâm mình có tham mình thấy là có tham, trong nội tâm mình có sân là mình thấy là có sân, trong nội tâm mình có si là mình thấy là có si. Mà mình thấy như vậy là thấy ba cái này đưa đến bất hạnh, đưa đến khổ đau và mình có phương pháp tẩy rửa diệt tận nó. Tham dùng cái gì trị? Bất tịnh quán trị, ba mươi hai thể trượt để trị, chín giai đoạn của một tử thi để trị, niệm tử để trị.
Sân dùng cái gì để trị? Từ tâm giải thoát để trị, trải tâm từ, niệm tâm từ.
Si dùng cái gì để trị? Tinh cần, tinh tấn quán chiếu, đánh tan nó.
Đức Phật nói đó là Niết-Bàn thiết thực hiện tại, dập hết tham sân si đó là Niết-Bàn.
Bây giờ quý huynh đệ thấy sự tu của mình sao?
Tín ngưỡng là mình bỏ cái đó qua một bên rồi, mình đây là đi sâu vào pháp tạng mình mới vào trường mình học chứ.
Tối ngày cứ cúng kiến, tụng niệm hết cái này đến cái kia, hết cái kia đến cái nọ đủ thứ kiểu hết rồi mình tu đến bao giờ mới thành tựu cứu cánh đời sống của phạm hạnh.
Cho nên thánh đạo bị mai một ở hiện tại chính vì vậy mới gọi đây là thời đại Tượng Pháp. Bốn bộ Nikāya đó là chánh pháp, ngày nào mà mình còn thực hành theo bốn bộ Nikāya đó, ngày nào còn thực hành theo bát chánh đạo thì tứ thánh quả còn trên thế gian này. Sẽ có Tỷ-kheothánh quả thứ nhất, Tỷ-kheothánh quả thứ hai, Tỷ-kheothánh quả thứ ba và Tỷ-kheothánh quả thứ tư ở thế gian này. Ngày nào mà không còn Bát Chánh Đạo, không còn Tứ Niệm Xứ, không còn Tứ Thánh Đế, không còn trí Năm Uẩn thì khi đó là không còn Hiền Thánh Tăng ở trên thế gian này nữa. Quý huynh đệ đừng nghĩ là những vị đỉnh điển nổi danh này kia mà quý vị nghĩ đó là thánh tăng chưa chắc, danh tăng thì được chứ còn thánh tăng là khác.
V. Chia sẻ trong tu học
Quý huynh đệ học cái này là thấy nó sâu xa mà nó tuyệt diệu lắm. Danh tăng khác, cao tăng khác, thánh tăng khác. Học đi đã lắm, sướng lắm, cái này mới sướng thiệt, chịu khó học đi rồi sẽ thấy tuyệt vời lắm.
Xin thưa quý huynh đệ từ ngày xuất gia đến giờ là bôn ba khắp trong nước ngoài nước toàn thế giới, chỗ nào mà có bậc cao tăng, những vị tu hành là Minh Thành đi tới đó tìm học không có ngừng nghỉ.
Vừa rồi Minh Thành đi qua Thái Lan qua các rừng thiền, đi qua Sri Lanca, đi qua Myanmar các nước phật giáo. Còn trước đó khỏi nói, các nước bắc tông của Phật giáo là đi hết. Bắc tông là không nói rồi là trở về nguồn, mà khi trở về nguồn các nước nguyên thuỷ Phật Giáo cũng chưa có nguyên thuỷ. Những nước bây giờ chú trọng vào tạng Vi Diệu Pháp và tạng chú giải chứ không chú trọng nhiều vào tạng Nikāya. Mà hiện tại Linh Quy Pháp ấn ta là chuyên ròng Nikāya thôi. Tụng kinh, ngồi thiền, ăn cơm tất cả nghi thức đều chỉ lấy trong Nikāya mà thôi, tất cả nghi thức trong đó đầy đủ hết. Những nghi thức giờ đang sử dụng là những tổ tổ tổ sau này, nhất là của Trung Hoa mình ảnh hưởng rất là nhiều. Thành ra những cái này là những cái rất sâu sắc là Minh Thành muốn tâm sự với quý huynh đệ. Không vội phản ứng, không vội kết luận mà từ từ tìm hiểu là quý huynh đệ thấy tuyệt diệu lắm.
Bây giờ cả thế giới đang quay về Phật Giáo nguyên thuỷ mà trong khi Phật Giáo nguyên thuỷ chú trọng những bộ phía sau này chú giải giống như bên phát triển mình vậy đó. Tạng Vi Diệu Pháp gần gần giống như nghi thức học của Phật Giáo phát triển mình. Rồi dần dần những bộ chú giải bộ luận sau này giải thích ra mà trong khi lời Phật này giờ nó rõ như mặt trời vậy đó nhưng mà không có đi theo. Tại sao vậy? Đi theo cái này khó lắm vì đi theo cái này là từ bỏ hết, chấm dứt hết mới đi đến giải thoát. Cái kia là nghiên cứu cho đã, nói cho nó ngon lành sướng, thâm sâu rồi cuối cùng Phật Giáo trở thành môn nghiên cứu triết học.
Thành ra chỗ này là chỗ rất là thâm sâu. Đây là trái tim mà Minh Thành trao cho các huynh đệ.
Xin thưa quý huynh đệ hôm nay quý huynh đệ ở đây thật ra, đúng ra là không có vì Minh Thành định nghĩ ít nhất là một năm ở trên rừng, độc cư thiền tịnh. Nhưng chắc có lẽ không lâu nữa mà ít nhất là một năm nhiều là phải vài năm để chứng nhập những lời Đức Phật dạy. Giờ con đường là mình thấy rõ quá rồi giờ chỉ đi là tới thôi, chỉ đi là tới thôi.
Tại vì đúng theo tinh thần Đức Phật dạy đúng theo con đường này mà nếu như mình không độc cư thiền tịnh ở trong núi rừng thì cực kì khó khăn chứng nhập. Cần phải chứng ngộ những điều chưa chứng ngộ, chứng đắc những điều chưa chứng đắc, chứng đạt những điều chưa chứng đạt phải có cái tâm như vậy đó là tứ chánh cần.
Xin chưa quý huynh đệ thời gian không có lâu nữa quý huynh đệ sẽ không gặp Minh Thành mà muốn gặp thì hơi khó, phải bò lên rừng mới được. Tại vì Minh Thành đã đi một dòng hết rồi, nhất là Phật Giáo nguyên thuỷ những cái thánh tích, lịch sử rất là tuyệt vời nhưng ngay cả trong những trường thiền nổi tiếng mà thế giới về học thì cũng đơn sơ một vài phần nhỏ trong Tứ Niệm Xứ thôi chứ không đầy đủ vì Minh Thành đã đi qua. Thành ra đây là một nhân duyên rất là tuyệt diệu, mình cố gắng mình nắm vững tinh thần này rồi sau này quý huynh đệ có dạy lại, có chia sẻ cho ai, có tu thì huynh đệ sẽ đi chính xác.
Bây giờ khoan hãy nói cao siêu, thánh quả thứ tư bây giờ quý huynh đệ hướng dự lưu thôi là quý huynh đệ ngon rồi, thành rồi vậy là đủ vốn rồi.
Hướng dự lưu, cho nên quý huynh đệ phải đem hết tấm lòng. Đây là tình thương huynh đệ, linh sơn cốt nhục, quyến thuộc bồ đề Minh Thành chia sẻ cho quý huynh đệ. Trong buổi học của Minh Thành quý huynh đệ ráng cố gắng nắm được tại vì đây là tinh hoa của Tạng Kinh Nikāya. Đây là cái lõi của tất cả giáo pháp quý huynh đệ phải nắm thật vững cái này.
Sau này quý huynh đệ có đi chia sẻ, có đi giảng dạy hay có tu tập thì quý huynh đệ sẽ thấy giá trị vĩ đại của nó.
Mình Thành đã đánh đổi bằng sinh mạng mới tìm ra được cái pháp này không phải đơn giản.
Xin thưa quý huynh đệ Minh Thành dám bỏ hết tất cả hai mươi mấy năm học trước đây, bỏ hết bây giờ nhất hướng cái này thôi. Đây là mới thực sự là lời Đức Phật dạy mà mình thực hiện là thấy rõ ràng như trong lòng bàn tay.
Quý huynh đệ về mở ra sẽ thấy cái bài pháp trong lòng bàn tay của Minh Thành giảng ở trong lòng bàn tay mà câu đó của một vị Tỷ-kheotán thán giáo pháp của Đức Phật thời Đức Thế Tôn còn tại thế trong tạng Kinh Nikāya.
Lại nữa này Xá Lợi Phất Tỷ-kheocần phải suy tư như sau: Ta đã đoạn tận năm triền cái chưa.
Năm cái pháp này làm chướng ngại tâm, ngăn che cái tâm. Năm cái pháp này nó làm ra không mắt, không trí, nó làm cho tâm bị bao phủ, che phủ, chướng ngại, nó làm cho tâm không phát triển trí huệ. Nếu bây cứ một người nào tu tập đầu tiên không phá năm triền cái này thì không bao giờ thăng tiến được, không bao giờ vào thiền định được. Cho nên đầu tiên người tu phải công phá năm cái này dục, tham và phải dùng bất tịnh quán.
Sân là phải dùng từ bi, trải tâm từ, từ tâm giải thoát.
Hôn trầm, trạo cử và hoài nghi phải diệt tận năm cái.
Này cho nên Ngài Xá Lợi Phất này Tỷ-kheocần phải suy tư như sau: Ta đã đoạn tận năm triền cái hay chưa?
Đoạn tận tức là dứt hết, diệt hết nó chưa.
Nếu mà trong khi suy tư như sau mà chưa đoạn tận năm triền cái thì vị ấy cần phải tinh tấn đoạn tận năm triền cái
Bây giờ mình ngồi thiền dục tham có khởi lên không, rồi mình có đoạn tận nó không? Rồi mình có dùng bất tịnh quán không?
Cho nên nhiều khi vào tu năm năm, bảy năm, mười năm chưa một lần quán bất tịnh. Thì cái tham dục còn y nguyên ở trong, còn y nguyên nó không bứng được gốc rễ cho nên một số người nghĩ rằng ngồi thiền là ngồi rồi thở đừng suy nghĩ gì hết trơn. Đó không phải là thiền của Đạo Phật đó không phải, đó là si thiền. Nếu mà nó khởi lên dục tham thì phải dùng phương pháp đối trị thì như vậy mình dùng cái bất tịnh đánh vào cái tưởng, cái tịnh tưởng là cái cho là hấp dẫn là sạch là đẹp. Là đáng khả lạc, khả ý, khả ái liên hệ đến dục hấp dẫn đó mình cho là tịnh tướng là đẹp. Giờ mình phải dùng bộ xương, đống thịt bầy nhầy, những con giòi, sinh chương lên, đen nám lại, rỉ chảy ra, rồi vữa ra, vỡ ra, hôi thúi kinh hồn dùng những cái đó đánh cái tịnh tưởng kia, khi mình đánh đến tận cùng là nó dứt nọc luôn, bứng cái rễ của dục tham thì mới đi đến lậu tận.
Còn mình thở vô thở ra niệm A Di Đà Phật hay làm gì đó thì nó còn y nguyên thì sao mà giải quyết vấn đề, khi mình thấy là nó bừng bừng nó hưng khởi. Dùng từ hưng là mạnh lắm đó, mình không thấy không sao mà nhiều khi không thấy mà nó còn chưa để cho mình yên nữa, ngủ nằm chiêm bao. Tại sao vậy? Tại sao nằm chiêm bao? Tại vì những hạt giống những này kia trong đó nó còn đầy rẫy trong đó mình không có dọn dẹp hàng tồn kho, nó là cái hàng tồn kho mình phải thanh lý chứ, thanh lý hàng tồn kho chứ. Thanh lí bằng cách nào? Bằng cách quán bất tịnh để tẩy rửa, không phải tới lúc dục nó khởi mình mới quán thì không có kịp đâu. Quán bình thường lúc nó chưa khởi và lúc nó sanh khởi lên là dùng như lý tác ý mạnh. Mình phải chửi nó là súc sanh, là thú vậy mình phải chửi tâm dục đó.
Quý huynh đệ về nghe bài cách diệt dục của Cô Chơn Tín Toàn, cô này chuyên về tạng kinh Nikāya mười lăm năm, bộ Minh Thành đang giảng là cô phân loại.
Xin thưa quý huynh đệ là mình phải chửi nó, mình dùng như lý tác ý đó là tuệ lực chứ không có gì hết. Phải chửi nó là súc sanh, thú vật, trâu bò chứ không phải con người. Tại sao mình là người xuất gia mình lại nghĩ những chuyện đó, tại sao trước tam bảo mà mình lại nghĩ về những hình ảnh đó mà dơ bẩn, nhục nhã, xấu hổ chửi cái tâm lâu rồi riết là nó mắc cỡ, riết là nó e thẹn, riết là nó không dám cụ cựa nó cuối cùng là mình diệt tận nó, đập nó tan nát luôn, diệt tận nó luôn là Alahan.
Ít nhất cũng là tu đạo hoàng, thì mình thấy lúc trước mình nhập cuộc chung với nó luôn mà quý huynh đệ thấy phải vậy không?
Nó khởi lên là tạo thành một vòng xoáy, nó tạo thành cái lực đẩy, nó tạo thành một cái bọc lưu là nó cuốn mình luôn giống như thác lũ nó cuốn mình luôn. Giờ mình phát hiện mình chống cự với nó, đó bắt đầu là chiến sĩ, lúc đó mới bắt đầu là đánh giặc. Mà giờ nó khởi lên thì theo luôn thì có gì đâu là chiến sẽ, như lụt trôi chiến sĩ, lụt trôi là đi luôn.
Chiến sĩ ở đây nè, chiến sĩ là nhìn thấy nó, chiến đấu lại với nó, không chịu thua với nó. Lúc đầu mình thua không sao, đánh tiếp từ từ là nó ba tháng bảy thua, rồi từ từ bốn thắng sáu thua, rồi từ từ năm thắng năm thua, rồi từ từ bắt đầu lên tới đây là khá khá rồi đó, rồi từ từ mình nâng lên. Quan trọng mình có chịu khai chiến chịu đánh nó không chứ còn mình thôi nó cần tay dẫn đi đâu dẫn đi, nhiều khi còn khoái thôi cứ việc đưa đi. Đó là rồi rồi như vậy gọi là tu sao gọi là chiến sĩ sao gọi là vô thượng sĩ.
Nhíp phục dục và tham, đoạn tận dục và tham đó là mục đích của giáo pháp Đức Thế Tôn.
Không phải với nữ sắc không mà đối với món ăn, giấc ngủ, áo mặc, cái tiếng khen tất cả mọi cái, cái chùa bổn đạo phật tử, cái điện thoại, tất cả mọi thứ là diệt liền, quán liền. Mê cái gì ở trong đây, có cái gì mà trong đây, cái đống thịt, hay bộ xương hay những con giòi đó là mình dùng tuệ lực, sức mạnh của trí huệ tinh tấn niệm định hệ, năm căn biến thành năm lực đập tan nó hết thì quý huynh đệ tu cái này nó đã lắm, nó sướng lắm. Coi như là mình vô thất hay ngồi thiền là mình không bao giờ là thất nghiệp hay không bao giờ không có công việc làm hết. Liên tục, liên tục mình nhìn lại nội tâm mình nó hoạt động khủng khiếp lắm, không có cái gì bằng cái nội tâm mình.
Nó vi tế và hoạt động siêu siêu như vậy mới là trí huệ của bậc Thánh.
Trong từ Nikāya gọi là thể nhập thánh trí.
Tức là khi mình tu mà mình nhìn được Năm Uẩn thì tất cả những gì trong nội tâm mình, mình kiểm soát, mình thấy biết hết không có cái nào mình không biết có những cái mình chưa thắng được thôi rồi từ từ mình thắng. Không có cái nào mình không thấy không biết, đây là chỗ đặc thù đây là chỗ thù thắng của bậc tu đạo hoàng, của bậc đã thành tựu Minh Kiến.
Này các Tỷ-kheogiống như biển nước vô tận như vậy có người lấy một cộng cỏ chấm xuống biển nước đem lên có bảy giọt nước trên đầu ngọn cỏ. Thì như vậy bảy giọi nước trên đầu ngọn cỏ nhiều hay biển trong đại dương là nhiều.
Bạch Thế Tôn: Biển nước trong đại dương là nhiều.
Vài giọi nước trong ngọn cây rất là ít. Đức Phật nói cũng vậy, bậc đã thành tựu Minh Kiến, đã thấy đúng được rồi thì cái khổ bị trừ diệt nhiều như nước trong đại dương mà cái khổ còn lại nó ít giống như mấy giọt ở trên đầu ngọn cỏ thôi. Đó là bậc thành tự Minh Kiến, Chánh Tri kiến.
Đức Phật ngồi vậy rồi cúi xuống hốt bảy hòn sỏi rồi hỏi tuỳ kheo. Mấy viên sỏi trong tay ta là nhiều hay đất ở trong đại địa là nhiều.
Tỷ-kheonói: Đất trong đại địa rất là nhiều so với bảy hòn sỏi.
Đức Phật nói cũng vậy: Người mà thành tựu thánh trí của Bậc Dự Lưu Quả, đã thấy được thân tâm Ngũ Uẩn thì đau khổ còn lại chỉ như bảy hòn sỏi thôi, còn đau khổ đã diệt thì nó giống như đại địa của quả đất.
Cho nên Minh Thành muốn ở đây tất cả phải dự lưu Thánh Quả.
Như vậy mới hướng dẫn người ta tu hành, mình mù mờ không thầy gì thì mình hướng dẫn ai, cảm giác của mình mình không biết, cái tưởng trong nội tâm mình không biết, những suy nghĩ trong đó có cái gì mình không biết.
Cho nên lại nữa này Xaribota Tỷ-kheophải suy tư như sau: Ta có liễu tri Thủ Uẩn hay chưa.
Liễu tri là biết đầy đủ thấu đáo đầy đủ tất cả khía cạnh của Năm Uẩn còn gọi là chánh biến tri về năm Thủ Uẩn.
Biết rõ sắc như thế nào, biết rõ cảm giác vận hành ra làm sao, những nghĩ tưởng suy tương của mình và nhận thức như thế nào phải biết rõ thấy rõ, thấy tường tận cái tính chất vô thường, đặc tính khổ vô ngã của nó như thế nào phải thấy biết đó gọi là liễu tri.
Nếu mà chưa liễu tri phải tinh tấn thấu suốt Năm Uẩn. Nếu mà liêu tri rồi thì phải an trú với hỉ, hân hoan ngày đêm tu học đối với Tứ Niệm Xứ, đối với Bốn Cánh Cần, đối với bốn như ý túc, đối với năm căn, năm lực, bảy giác tri, bát chánh đạo cũng như vậy.
Đối với chỉ quán, ta đã tu tập chỉ và quán chưa?
Ta đã chứng ngộ minh và giải thoát hay chưa?
Ta chưa chứng ngộ minh và giải thoát. Này Xá Lợi Phất vị Tỷ-kheoấy phải tinh tấn tu tập minh và giải thoát.
Nếu đã chứng ngộ minh và giải thoát rồi thì phải an trú với hỉ, hân hoan ngày đêm tu học. Tuyệt vời lắm.
Này Xaribota những Xa Môn hay Bà La Môn những vị tu nào trong thời quá khứ đã làm cho khất thực được thanh tịnh, tất cả những vị ấy đã làm cho khất thực được thanh tịnh bằng cách suy tư, suy tư như vậy.
Này Xá Lợi Phất những vị Tu Sĩ, Sa Môn, Bà La Môn nào ở trong tương lai sẽ làm cho sự khất thực của mình được trong sạch thanh tịnh thì tất cả những vị ấy bằng cách suy tư như vậy nãy giờ ta đã nói.
Hay là những vị trong hiện tại cũng như vậy trong ba thời đều như vậy hết.
Tất cả bậc hiền thành từ quá khứ, hiện tại, vị lai mà muốn làm cho sự khất thực của mình được thanh tịnh, muốn xứng đáng được mọi người cung kính, cúng dường, đảnh lễ, tôn trọng thì những vị đó suy tư giống như nãy giờ suy tư, tu tập giống như nãy giờ tu tập, hành trì giống như nãy giờ hành trì thì đó là cái đường lối mà của bậc Hiền Thánh Tăng.
Vậy này Xá Lợi Phất các ông cần phải học tập như sau: Sau khi suy tư, suy tư chúng ta sẽ làm khất thực được thanh tịnh.
Như vậy chúng ta học bài kinh Khất Thực Thanh Tinh ở Trung Bộ Kinh tập 3 ở đây có một từ rất quan trọng là “An Trú Không Tánh”. Chữ “Không Tánh” Đức Phật dạy không giống như chúng ta hiểu bây giờ.
Không Thánh ở đây là không tham, không sân, không si, không có hại tâm không có những phiền não đó, đoạn tận những cái đó thì lúc đó gọi là không tánh là cái tâm tánh của mình được rỗng rang, nó được trống vắng nó được thanh tịnh, chính cái đó cũng là làm cho thanh tịnh, làm cho trong sạch sự khất thực, đó cũng là xứng đáng để nhận sự cúng dường của chư thiên và nhân loại.