Làm An Tâm Người Bệnh 3
KINH NIKĀYA GIẢNG GIẢI
LÀM AN TÂM NGƯỜI BỆNH 3
– Thích Minh Thành–
Cảm nhận hơi thở, cảm nhận cơ thể, cảm giác toàn thân, cảm nhận không gian nơi này. Không khí trong lành mát mẻ, những giọt sương còn đọng lại trên cành trúc đang thấm nhuần thân thể chúng ta, những tiếng chim hót đón bình minh, sương mây giăng phủ khắp trời đất trong sự an tịnh, lắng dịu và tịnh lạc, thấm nhuần trong Thánh pháp này.
Kính lễ ân đức Phật, ân đức pháp, ân đức Tăng.
Kính lễ ân đức Thánh giới.
Kính lễ ân đức bậc đạo sư.
Kính bạch chư Tăng Ni và toàn thể quý Phật tử. Giờ này giữa không gian núi rừng, trời mây, bên vườn trúc chúng ta hồi tưởng lại Đức Thế Tôn và chư vị Thánh Tăng khi còn tại thế, phúc lành cho chúng ta, phước duyên cho chúng ta, thật là lợi đắc thay cho chúng ta là những người con Phật trong khoảnh khắc này sống lại những giây phút huyền nhiệm, thiêng liêng, nghe những lời kinh nguyên chất vang vọng núi rừng, chúng ta cách Đức Thế Tôn không xa, giống như đang kề cận bên ngài để nghe những lời dạy quý báu tuyệt diệu của Đức Thế Tôn.
"Nhân duyên ở Sàvatthi.
Rồi gia chủ Anàthapindika đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với gia chủ Anàthapindika đang ngồi một bên:
-- Khi nào vị Thánh đệ tử, này Gia chủ, làm cho tịnh chỉ năm sự sợ hãi, hận thù (pancabhayàni), thành tựu bốn Dự lưu phần, và nhờ trí tuệ, Thánh lý (nàya) được khéo thấy, được khéo thông đạt, nếu vị ấy muốn, sẽ tự mình tuyên bố về mình như sau: 'Ta đã đoạn tận địa ngục; ta đã đoạn tận các loài bàng sanh; ta đã đoạn tận cõi ngạ quỷ; ta là bậc Dự lưu, không còn thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ'. Thế nào là năm sự sợ hãi, hận thù được tịnh chỉ?" (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương XI. Tương Ưng Dự Lưu (b), III. Phẩm Saranàni, VIII. Hận Thù, hay Anàthapindika (3))
Thế Tôn nói với ông Cấp-cô-độc khi nào người con Phật làm cho dừng lại năm sự sợ hãi, hận thù, thành tựu bốn phần Dự lưu, tin Phật, tin pháp, tin Tăng, giữ gìn các giới cộng thêm nghe pháp, thành tựu trí tuệ thì người này sẽ khéo thấy được Thánh lý, tức là khéo léo thấy được chân lý của bậc Thánh giác ngộ.
"Sự sợ hãi, hận thù, này Gia chủ, ngay trong hiện tại khởi lên cho người sát sanh; do duyên sát sanh, sự sợ, hãi, hận thù khởi lên ở đời sau, sự khổ ưu do tâm người ấy cảm thọ. Với người từ bỏ sát sanh, thời sự sợ hãi, hận thù như vậy được tịnh chỉ.
... khởi lên cho người lấy của không cho...
... khởi lên cho người tà hạnh trong các dục...
... khởi lên cho người nói láo...
Sự sợ hãi, hận thù, này Gia chủ, ngay trong hiện tại khởi lên cho người say đắm rượu men, rượu nấu; do duyên say đắm rượu men, rượu nấu, sự sợ hãi, hận thù khởi lên ở đời sau, khổ ưu do tâm người ấy cảm thọ. Với người từ bỏ say đắm rượu men, rượu nấu, thời sự sợ hãi, hận thù như vậy được tịnh chỉ.
Năm sự sợ hãi, hận thù này được tịnh chỉ". (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương XI. Tương Ưng Dự Lưu (b), III. Phẩm Saranàni, VIII. Hận Thù, hay Anàthapindika (3))
Do nhân duyên sát sanh mà sự sợ hãi, hận thù ngay trong hiện tại khởi lên và cả trong đời sau cho nên nghiệp quả mà chúng ta đang gánh lấy trên toàn cầu từ quả báo chính yếu là do sát sanh, quả lãnh lại là lo lắng, sợ hãi, bất an, chết chóc, tật bệnh. Có rất nhiều hình thái sát sanh, sát sanh loài hữu tình có tình thức, có nhận thức, sát sanh loài vô tình như chặt cây, phá rừng, dời sông, lấp bể, lấn biển, san bằng núi non, làm đập ngăn nước, đó là mình giết hại sự sống của loài vô tình và hữu tình. Sát là giết, sinh là sự sống, sự sống ở đây có hai loại là sự sống có tình thức, có nhận thức và sự sống không có nhận thức gọi là vô tình chúng sanh. Tâm của người sát sanh phải chịu lấy những cảm thọ, cảm xúc lo lắng, bất an, đau đớn, sợ hãi đó. Tịnh chỉ nghĩa là dừng lại, báo chí đưa tin chỉ vừa 17, 18 tuổi mà tụ tập đánh nhau, chém lộn đem lại sự sợ hãi, sự khổ đau cho tự thân người đó và cho người xung quanh, sống trong sự hối tiếc trong tù 20 năm, chung thân, có khi tử hình vì thế việc sát sanh này là ngay trong hiện tại làm cho người đó khởi lên sự sợ hãi và hận thù, mình đánh mình giết người ta thì người ta hận thù cho nên Đức Thế Tôn nói rằng vị Thánh đệ tử là người dừng lại năm sự sợ hãi và hận thù, chữ "hận thù" trong bài kinh này tức là phạm vào năm giới. Đức Phật dùng rất nhiều ngôn ngữ, khía cạnh, phương tiện để trình bày về lợi ích tối thượng của giới, ở đây Đức Phật dùng từ "hận thù" để nói về việc không giữ giới, dùng từ "sợ hãi" để chỉ cho ác nghiệp. Có nhiều vị tâm sự với Minh Thành, ngày xưa nấu nước sôi lột lông gà, nhận nước mấy con chim hoặc đập đầu cá, về sau những người này đều đau bệnh và có những trạng thái như những con vật bị giết chết. Minh Thành thường kể cô Sáu trong gia đình có bệnh lạ, lúc trước cô bán gà đến giờ cô bị bướu độc phải mổ và cô nói chuyện hớp hớp như gà kêu vậy, cô phải tắm nước nóng mới chịu, đó là tự mình phải gánh chịu những cảm giác đau đớn, khổ sở giống vậy. Ở đây chúng ta càng thấm thía hơn khi học kinh biết rằng chỉ có nghiệp quả mới là người thân của mình, chỉ có nghiệp quả mới đi theo mình cho nên sát sanh đồng nghĩa với hận thù, khổ đau và sợ hãi. Qua đây chúng ta thấy rằng Phật rất thương chúng đệ tử của ngài, vừa vào là được truyền cho tam quy ngũ giới, ngài muốn chúng đệ tử ngài có tâm bình an, không sợ hãi, sống hòa đồng, hòa thuận không hận thù nên ngài yêu cầu phải từ bỏ sát sanh. Thật là lợi lạc, tốt lành cho những người con của ngài! Những hận thù sợ hãi khởi lên cho người lấy của không cho trong đời này và trong đời sau, trộm cắp, cướp của người khác. Tại sao trong đời này trộm cắp, cướp của lại phải chịu sợ hãi và hận thù? Vì ăn trộm rồi sẽ lo sợ bị bắt, bị phát hiện cho nên lời kinh rất sâu sắc cần chiêm nghiệm, nếu bị chủ nhà phát hiện sẽ bị thù hận, sống trong sợ hãi ngay trong hiện tại và trong tương lai. Tà hạnh (ngoại tình) trong các dục cũng vậy, cũng sống trong sợ hãi, bất an vì sợ bị đánh ghen, sợ bị phát hiện, bị hận thù, tan nát đổ vỡ một gia đình. Nói láo, uống rượu, sử dụng những chất say sưa nghiện ngập cũng vậy, người này phải chịu đựng những cảm thọ đau khổ và lo lắng, bất an và sợ hãi, đó là người không giữ gìn năm giới. Còn những ai từ bỏ say đắm rượu men, những chất nghiện ngập thì sợ hãi, hận thù được chấm dứt. Thế Tôn đều giải thích từng tí cho mỗi câu hỏi ngài nêu lên, những điều này không phải ông Cấp-cô-độc mới nghe lần đầu nhưng Thế Tôn vẫn giải thích từ đầu đến cuối đầy đủ, còn mình nghe chừng vài ba lần là không muốn nghe nữa.
"Với bốn Dự lưu phần nào, vị ấy được thành tựu?
Ở đây, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với đức Phật: "Ðây là bậc Ứng Cúng, ... Phật, Thế Tôn..". đối với Pháp... đối với chúng Tăng... vị ấy thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính... đưa đến Thiền định.
Bốn Dự lưu phần này được thành tựu.
Thánh lý nào được vị ấy khéo thấy với trí tuệ, khéo thông đạt?
Ở đây, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử khéo như lý tác ý lý duyên khởi: Do cái này có mặt, cái kia có mặt. Do cái này sanh khởi, cái kia sanh khởi. Do cái này không có mặt, cái kia không có mặt. Do cái này diệt, cái kia diệt. Tức là vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh sắc duyên sáu xứ, sáu xứ duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu, hữu duyên sanh, sanh duyên lão tử. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này. Do sự ly tham, đoạn diệt vô minh không có dư tàn, nên hành diệt. Do hành diệt, nên thức diệt... nên lão tử diệt. Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này vậy.
Ðây là Thánh lý, với trí tuệ, được khéo thấy, khéo thông đạt". (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương XI. Tương Ưng Dự Lưu (b), III. Phẩm Saranàni, VIII. Hận Thù, hay Anàthapindika (3))
Tại sao gọi là có cái này có thì cái kia có? Cái này sanh thì cái kia sanh, cái này diệt thì cái kia diệt? Do mình có xúc nên mới có thọ, do tiếp xúc nên sanh ra cảm giác, cũng như không phải tự nhiên mà giận, nếu vậy là người không bình thường, phải thấy hành động gì đó hoặc nghe câu nói gì đó mới tức giận và phải biết cái này là pháp sanh diệt. Do con mắt thấy, do tai nghe nên bắt đầu sanh khởi nhĩ xúc, nhãn xúc và ý xúc bắt đầu làm việc, những hình bóng, suy nghĩ, cảm giác, đi theo sự tiếp xúc, hội tụ, sanh khởi những cảm giác, hình bóng thì mới có ra cơn giận. Như vậy cơn giận không có thật, do có lời nói, có sự tiếp xúc lỗ tai mới sanh ra cảm thọ, cho nên đây là pháp sanh diệt và phải như lý tác ý "cái này làm cho mình đau khổ, cái này làm cho mình bực bội, bức xúc, cảm thọ này thiêu đốt mình. Hãy từ bỏ cảm thọ này đi", như vậy mình tác ý sự sanh diệt vô thường của các cảm thọ thì cảm giác sân hận sẽ tan biến. Còn lúc đó mình thấy có mình thật, có câu nói đó là thật, có những cảm thọ tức giận đó là thật thì cái đau khổ, cảm giác nhiệt não đó sẽ đeo đẳng, đeo bám mình, mình phải chịu những cảm thọ nhiệt não, đau khổ. Cho nên bậc Đa văn Thánh đệ tử rất khéo tác ý lý duyên khởi, cái này có nên cái kia mới có, do mình thấy người đó đẹp nên mới thích, mới nhớ, nếu không thấy thì đâu có thích, đâu có nhớ, đó cũng là pháp duyên sanh, nếu không thấy thì không biết gì cả, nếu không nghe thì câu nói đó đâu vang vọng trong tai, chính chỗ bị dính mắc, trói buộc trong cảm xúc, hình bóng đó nên mình không thấy bản chất các pháp sanh khởi, duyên hợp nên chấp thủ vào đó, mình không quán lý duyên khởi, không thấy sự lắp ráp, vô thường cho nên trong đoạn kinh trên nói Thánh lý tức là lý duyên khởi, "tức là vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh sắc duyên sáu xứ, sáu xứ duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu, hữu duyên sanh, sanh duyên lão tử".
Chúng ta sẽ lấy kinh để giải thích kinh chứ không lấy luận để giải thích kinh,
"Này các Tỳ-kheo, thế nào là vô minh? Này các Tỳ-kheo, không rõ biết Khổ, không rõ biết Khổ tập, không rõ biết Khổ diệt, không rõ biết Con đường đưa đến Khổ diệt. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là vô minh". (Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (a), I. Phẩm Phật Ðà, II. Phân Biệt)
Không biết được bản chất cuộc đời này là đau khổ, không biết được tham, sân, si, bản ngã sẽ dẫn đến khổ thì đó là vô minh.
"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là ái? Này các Tỳ-kheo, có sáu ái này: sắc ái, thanh ái, hương ái, vị ái, xúc ái, pháp ái. Này các Tỷ- kheo, đây gọi là ái.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là thức? Này các Tỳ-kheo, có sáu thức thân này: nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là thức.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là hành? Này các Tỳ-kheo, có ba hành này: thân hành, khẩu hành, ý hành. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là hành". (Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (a), I. Phẩm Phật Ðà, II. Phân Biệt)
Từ sự không thấy biết về khổ nên những hành động của mình chỉ toàn ác hành, tạo ra nghiệp và chịu lấy quả báo khổ nên mới có ra dòng sanh tử, vì vậy gọi là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này. Từ cái không thấy không biết về khổ đau nên tham đắm, từ tham đắm tạo nghiệp, từ nghiệp mới chịu quả báo của nghiệp, quả báo của nghiệp là thân này cho nên dòng sống chết cứ tiếp diễn, Đức Thế Tôn gọi là sự tập khởi, sự tụ tập của đống khổ này, hành diệt, ái thủ về sanh chấm dứt, sanh tử chấm dứt, đây là ly tham và đoạn diệt vô minh. Làm sao để lìa tham, chấm dứt vô minh, không còn sót chút nào? Chính là phải có chánh kiến mà trong đoạn kinh trên là Thánh lý. Ở đây Đức Phật nói với ông Cấp-cô-độc vài điều, thứ nhất là làm dừng lại năm sự sợ hãi, tức là giữ gìn năm giới, thứ hai là thành tựu bốn Dự lưu phần, tin Phật, tin pháp, tin Tăng, thứ ba là Thánh lý được khéo thấy tức thành tựu chánh kiến, thứ tư có thể tuyên bố chính thức tham dự vào dòng trí tuệ mà Đức Thế Tôn đã truyền trao.
"Khi nào vị Thánh đệ tử, này Gia chủ, được tịnh chỉ năm sự sợ hãi, hận thù này, được thành tựu bốn Dự lưu phần này, và Thánh lý nhờ trí tuệ được khéo thấy, khéo thông đạt thời nếu muốn, vị ấy có thể tự mình tuyên bố về mình như sau: 'Ta đã đoạn tận địa ngục; ta đã đoạn tận loài bàng sanh; ta đã đoạn tận cõi ngạ quỷ; ta đã đoạn tận cõi dữ, ác thú, đọa xứ. Ta là bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ'". (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương XI. Tương Ưng Dự Lưu (b), III. Phẩm Saranàni, VIII. Hận Thù, hay Anàthapindika (3))
Đức Thế Tôn nói với một vị cư sĩ như vậy đó.
"Một thời, Thế Tôn trú ở Vesàlì, tạo Ðại Lâm, giảng đường có nóc nhọn. Rồi Thế Tôn vào buổi chiều, từ Thiền tịnh đứng dậy, đi đến hành lang người bệnh. Thế Tôn thấy một Tỳ-kheo ốm yếu bệnh hoạn, thấy vậy ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
- Này các Tỳ-kheo, nếu năm pháp này không rời bỏ một kẻ ốm yếu bệnh hoạn, thời người ấy được chờ đợi như sau: Không bao lâu, do đoạn diệt các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, với thắng trí sẽ chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. (Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, XIII. Phẩm Bệnh, I. Người Bệnh)
Nếu người bệnh thực hành năm pháp này thì không bao lâu người này sẽ chấm dứt các lậu hoặc ngay trong hiện tại, với trí tuệ sẽ chứng ngộ, chứng đạt và an trú tâm hoàn toàn thanh tịnh vô lậu, giải thoát, tuệ giải thoát, tức là đoạn tận vô minh và tham ái.
"Thế nào là năm?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, vị Tỳ-kheo sống quán bất tịnh trên thân, với tưởng ghê tởm đối với các món ăn, với tưởng không thích thú đối với tất cả thế giới, quán vô thường trong tất cả hành, và nội tâm khéo an trú trong tưởng về chết.
- Này các Tỳ-kheo, nếu năm pháp này không rời bỏ một kẻ ốm yếu bệnh hoạn, thời người ấy được chờ đợi như sau: Không bao lâu, do đoạn diệt các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, với thắng trí sẽ chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát". (Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, XIII. Phẩm Bệnh, I. Người Bệnh)
Thứ nhất là quán bất tịnh trên thân, bị ốm yếu bệnh hoạn càng quán cái này dễ hơn người khỏe, người khỏe không bệnh cũng phải quán vì thân không bệnh thì tâm cũng bệnh, dùng mọi cách thức, phương tiện để quán, ví dụ bị sổ mũi hoặc người kế bên mình có mùi cơ thể quá mạnh, đứng gần chịu không nổi thì hãy lấy pháp đó để quán, lấy mồ hôi, nước mũi, nước bọt, ráy tai, ghèn, nước tiểu, phân… để quán. Thứ hai là quán cái tưởng ghê gớm đối với các món ăn, người ta bị tham ái, dính mắc với cái đầu tiên là thân này, kế đó là thức ăn, tiếp theo là dính mắc với sự lòe loẹt của thế gian, cái thứ ba là không thích thú đối với tất cả thế giới, thứ tư là quán vô thường trong các hành, "các hành" chính là sự vận hành của ngũ uẩn, thứ năm là nội tâm khéo an trú trong tưởng chết, thời gian này rất phù hợp với pháp tu này. Hằng ngày mọi người nhớ quán bất tịnh được bao lâu? Lên Bồ-đoàn ngồi quán được mấy tiếng? Một tuần lễ quán được mấy buổi? Năm pháp này sẽ giúp cho mình thành tựu vì những pháp này đánh thẳng vào tham ái.
Thân trống rỗng không ai trong đó
Chỉ có tim, gan, máu thịt, xương
Phủ ngoài lớp da trơn láng
Che hết vô vàn thứ nhớp nhơ.
Đó chính là quán bất tịnh, là phần quán thân đầu tiên trong Tứ Niệm Xứ, không phải đợi đến lúc lên thiền đường mới quán mà phải thường tác ý để nhắc nhở bản thân nhả ra bớt sự nắm chặt, say mê, si ám đối với sắc thân này, nếu không quán sẽ làm tổ trong thân này.
Thân trống rỗng không ai trong đó
Tâm vào đây làm tổ chi tâm
Tâm làm đây làm ổ làm gì
Thân trống rỗng dễ tan vỡ lắm.
Nếu không quán bất tịnh là không thể thoát khỏi thân, làm hang, làm tổ, làm sào huyệt cho nên chỉ có quán bất tịnh mới phá sự chấp thủ sắc thủ này vì thế quán bất tịnh vô cùng quan trọng với người tu, không quán bất tịnh, không thành tựu trí huệ bất tịnh thì không thể phá được sắc thủ uẩn, không thể ly dục, ly tham được, đối với thân xác này làm sao chấm dứt tham dục, tham ái, làm sao đoạn tận luân hồi sanh tử được? Có nhiều người nghĩ tu bất tịnh ghê quá nên không tu nhưng pháp này do chính bậc Chánh Đẳng Chánh Giác chứng ngộ và giảng dạy, vì thế phải thường tác ý trong mọi sinh hoạt thường nhật, cả khi giặt đồ, sổ mũi, ngoáy tai… Phải phanh phui, giải phẫu bên trong nữa, thường nhìn sâu vào ba mươi hai thể trược, nếu không quán những cái này thì chắc chắn sẽ sống với thân kiến, sống với tham ái, chấp thủ trong hình hài, hình dáng này, khi vóc dáng này tan rã thì chắc chắn sẽ đau khổ. Tiếp theo là quán tưởng sự ghê gớm với thức ăn, phải tập bớt dính mắc với những món ăn, pháp đi khất thực rất hay nhưng hiện tại mình không thể đi khất thực nên khi ăn cơm cứ đổ hết mọi thứ vào nhau trộn lại để phá hương ái, vị ái, chánh quán thọ thực cũng nhằm ngăn chặn sự tham đắm trong món ăn. Ngay nhà mát có con chuột chết, Minh Thành nói đừng quét đi vì nó chết ngoài nhà mát, trưa chiều đi ngang không thấy nên đi tìm thì thấy nó nằm trong kẹt ghế trương sình lên thành một đống giòi, nó không còn là xác chuột nữa mà là nguyên một đống giòi bò lúc nhúc và bộ xương hôi thối. Bộ xương khô đó là chung cuộc của kiếp người, giành giật, tham dục, sân hận, ta đây, lên mặt, hống hách, kiêu căng… rồi cuối cùng nằm dài trên đất, gom góp, chất chứa, tích lũy, thù hận, tranh giành rồi cuối cùng là hai bàn tay trắng.
"Ðầu sọ khô cài hoa giắt ngọc,
Túi da hôi ướp xạ xông hương,
Cắt lụa là che đậy máu tanh,
Giòi son phấn át thùng phân thúi".
(Trần Thái Tông - Phổ thuyết sắc thân)
Một ánh mắt cũng không bỏ qua, từng hành động cũng tranh cãi, từng đồng bạc cũng hơn thua rồi cuối cùng là bộ xương khô nằm dài trên đất bất động, ai muốn chôn, muốn khiêng, muốn làm gì thì làm, thậm chí quăng cho kên kên, diều hâu, chó rừng, các loài giả can xé thịt nhau cũng không biết nhưng còn hơi thở là còn tranh đấu, còn kiêu căng, ngạo mạn, hơn thua. Thật là thương xót cho chúng ta! Thật là cay đắng cho chúng ta vì cái tâm u mê, ám muội này, cái tâm khờ dại này, cái tâm ác tuệ, tà kiến này, thông minh để đi hại người ta, để tạo nghiệp, toan tính để lợi dụng, bóc lột sức lao động của người ta rồi chết đi cũng chỉ là hai bàn tay trắng, trong vòng luân hồi sanh tử này đã có biết bao thây chết chất chồng tiếp nối lên nhau, chính tự thân mình sanh ra cũng tham dục, tham lam, sân hận, xảo trá, kênh kiệu rồi cuối cùng nhắm mắt là đi về đọa xứ, ác thú, khổ cảnh trong địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Vô minh mà cho rằng thông minh, lấy khổ làm vui, thật là đáng thương cho chúng ta với những đời sống bất tịnh, vô thường, khổ đau và ác nghiệp này. Hãy đặt mình vào hoàn cảnh đang cố gắng thở những hơi thở nặng nề trong sự khó khăn, khổ sở rồi cuối cùng tắt thở, nằm dài ra đó lạnh ngắt, xanh rờn, thân thể bắt đầu trương phình lên, nứt nẻ ra, những chất dịch chảy ra, giòi bọ tuôn ra bò lúc nhúc mọi nơi trên thân thể này. Máu, thịt, gân bắt đầu phân hủy, bốc mùi hôi thối kinh hãi không ai chịu nổi, từ từ xương này theo năm tháng cũng rã rời, chỗ này là xương sườn, chỗ kia là xương ống tay, chỗ nọ là xương đầu, xương tay, xương sống, gió mưa làm xương mục nát thành bụi, gió thổi bay vào hư không. Bản chất cuộc đời là trống rỗng, bản chất thân thể này là trống không, bản chất hình hài này là cảnh mộng, dễ dàng tan biến vào hư không, nội tâm mình phải khéo an trú vào trong tưởng chết, khéo an trú trong vô thường tưởng, trong khổ đau tưởng, trong cái tưởng về thân hoại mạng chung, chết chóc để buông xả tâm tham dục, tham ái, tham vọng, ác tham, xả bỏ tâm sân hận, đấu đá, nhân ngã thị phi, cao thấp, khen chê, đúng sai, hay dở, tôi ta. Nằm dài ra trên đất rồi ai đúng ai sai, ai cao ai thấp, cao 1m7 cũng nằm xuống, cao 1m50 cũng nằm xuống như nhau nên có ai cao ai thấp ở đây, tất cả đều ngã xuống, đổ xuống biến hoại và tan rã. Hãy nhìn sâu sắc vào bộ xương trắng đang nằm đây, hãy nhìn sâu sắc vào bao máu mủ đang ngồi đây, tim gan, phèo phổi, ruột non, ruột già.
Thân trống rỗng không ai trong đó
Chỉ có tanh hôi với hôi tanh
Máu mủ bầy nhầy phân nước tiểu
Nhìn kỹ bên trong chẳng có ai.
Thân trống rỗng không ai trong đó
Chẳng có ai trú ở trong đây
Tất cả chỉ toàn hôi với thối
Thế mà cao ngạo nói ta đây.
Thân trống rỗng không ai trong đó
Thế mà vỗ ngực nói ta đây
Như một bao rác đầy hôi thối
Lại vỗ vào bao nói ta tôi.
Hãy nhìn thật kĩ để khắc sâu hình ảnh này vào trong tâm, cất thật kĩ lưỡng hình ảnh này trong tâm, xem nó như báu vật, đừng bao giờ quên hình ảnh này, đó là tài sản bậc Thánh để lại cho chúng ta, những dục ái, tham muốn, thèm muốn, đói khát, khao khát.
Tâm đã luân hồi bao nhiêu kiếp
Chỉ vì yêu thích thịt, xương, da.
Hãy sống quán bất tịnh trên thân, hãy sống với tưởng không thích thú cái gì với tất cả màu sắc lòe loẹt của cuộc đời này, không thấy hào hứng, thèm khát gì nữa, hãy trú với sự quán chiếu các hành là vô thường, tất cả đều đi đến sự hoại diệt, tan rã, mơn mởn rồi chai sần, tiều tụy rồi tan rã, sẽ có người đem lại tận nhà hủ tro cốt trong dịch bệnh, có người sẽ giao tận nhà hủ tro bụi, hủ hài cốt. Nội tâm khéo an trú trong tưởng về chết để từ bỏ, nhàm chán, hướng tâm đến sự xa lìa những đời sống đầy nước mắt, đầy dơ bẩn, khổ đau, bệnh tật, đầy chết chóc này, an trú tâm mình với hình bóng này để ngao ngán, chán chê, ê chề, để hướng đến sự lìa tham muốn, lìa tham ái, chấp thủ đối với thân xác xương, da, máu, thịt này. Còn cái gì ở đây mà chấp thủ? Xương nát thành tro, thậm chí xương cũng không còn chứ đừng nói đến da thịt, tất cả đều tan nát, hãy đem những hình ảnh này cất giữ trong tâm thật kĩ như giữ báu vật của chính mình, đây chính là báu vật của Đức Thế Tôn trao cho hàng đệ tử của ngài, chính là sự quán chiếu về bộ xương (cốt tưởng).
Thân trống rỗng không ai trong đó
Có gì đâu để khổ vậy tâm
Có gì đâu để nhốt tâm này
Trong thân xác tràn đầy hôi thối.
Thân trống rỗng không ai trong đó
Có gì đâu để đắm tham tâm
Tâm được cái gì khi tham đắm
Cái thân trống rỗng nhớp nhơ này.
Thân trống rỗng không ai trong đó
Có gì đâu để tức giận tâm
Tâm được cái gì khi sân tức
Cái thân trống rỗng nhớp nhơ này.
Thân trống rỗng không ai trong đó
Có gì đâu để khổ vậy tâm
Để lửa dục đốt thiêu tâm trí
Tâm được cái gì vậy hỡi tâm.
Thân trống rỗng không ai trong đó
Có gì đâu để khổ vậy tâm
Để lửa giận đốt thiêu tâm trí
Tâm được cái gì khi giận sân.
Thân trống rỗng không ai trong đó
Chỉ có tâm lậu hoặc lang thang
Rày đây mai đó trong lang bạt
Hết gá thân này lại thân kia.
Thân trống rỗng không ai trong đó
Chỉ có tâm lậu hoặc, tham lam
Thèm muốn mãi những thân hôi thối
Để rồi rong ruổi chốn khổ đau.
Thân trống rỗng không ai trong đó
Chỉ có tâm xảo trá trong thân
Giả dối, khoe khoang, phô bản ngã
Ngụy biện quanh co giấu lỗi lầm.
Thân trống rỗng không ai trong đó
Chỉ có tâm dục ái tham sân
Đắm đuối chấp mê thân trống rỗng
Không tìm thấy lối để thoát ra.
Thân trống rỗng không ai trong đó
Tâm vào đây làm tổ chi tâm
Tâm vào đây làm ổ làm gì
Thân trống rỗng dễ tan vỡ lắm.
Thân trống rỗng không ai trong đó
Nhớ nha tâm, buông bỏ đi tâm
Tâm đã trầm luân bao nhiêu kiếp
Chỉ vì yêu thích thịt, xương, da.
Thân trống rỗng không ai trong đó
Nhớ nha tâm, buông bỏ đi tâm
Buông dục, ái, tham sân, bản ngã.
Trước xác thân vô ngã rỗng không.
Thân trống rỗng không ai trong đó
Nhớ nha tâm, buông bỏ đi tâm
Đừng để lòng dục tham thân rỗng
Nhận chìm tâm trong bể trầm luân.
Thân trống rỗng không ai trong đó
Ráng nhớ thân trống rỗng nha tâm
Tâm đừng sân hận, thân trống rỗng
Để rơi vào địa ngục nha tâm.
Thân trống rỗng không ai trong đó
Ráng nhớ thân trống rỗng nha tâm
Tâm đừng tham dục, thân trống rỗng
Để rồi làm súc vật nha tâm.
Thân trống rỗng không ai trong đó
Ráng nhớ thân trống rỗng nha tâm
Tâm đừng mãi lang thang vô định
Để rồi làm ngạ quỷ nha tâm.
Thân trống rỗng không ai trong đó
Ráng nhớ thân trống rỗng nha tâm
Tâm đừng tham đắm thân rỗng nữa
Để trầm luân khổ mãi nha tâm.
Thân trống rỗng không ai trong đó
Chẳng có ai ở trỏng đâu tâm
Đất trời rộng lớn thênh thang lắm
Dại gì chui vào chỗ tối tăm.
Thân trống rỗng không ai trong đó
Chẳng có ai ở trỏng đâu tâm
Tâm mau từ bỏ thân trống rỗng
Nếu không tâm gặp nạn trong thân.
Thân trống rỗng không ai trong đó
Rõ chưa tâm, thông tỏ chưa tâm
Tâm còn mê muội, thân trống rỗng
Thì còn than khóc mãi nha tâm.
Thân trống rỗng không ai trong đó
Rõ chưa tâm, thông tỏ chưa tâm
Tâm còn tham đắm thân trống rỗng
Thì còn thống khổ mãi nha tâm.
Thân trống rỗng không ai trong đó
Rõ chưa tâm, thông tỏ chưa tâm
Tâm còn đeo bám, thân trống rỗng
Thì còn sanh tử mãi nha tâm.
Thân trống rỗng không ai trong đó
Rõ chưa tâm, thông tỏ chưa tâm
Đừng để lòng si mê thân rỗng
Dẫn tâm lòng vòng trong khổ đau.
Thân trống rỗng không ai trong đó
Tỉnh đi tâm, buông bỏ đi tâm
Tỉnh lên tâm, thoát khỏi thân này
Bằng tám chánh, Thánh Nhân chỉ dạy.
Thân trống rỗng không ai trong đó
Tỉnh đi tâm, buông bỏ đi tâm
Thoát đi tâm, thoát khỏi thân này
Đừng tìm lấy khổ đau chi nữa.
Thân trống rỗng không ai trong đó
Tỉnh đi tâm, buông bỏ đi tâm
Tâm buông bỏ là tâm hạnh phúc
Thoát cảnh ngục tù trong tử sanh.
Thân trống rỗng không ai trong đó
Tỉnh đi tâm, buông bỏ nha tâm
Dục ái tham sân, tâm khổ lắm
Bỏ hết, tâm yên, thật Niết bàn.
./.
LÀM AN TÂM NGƯỜI BỆNH 3
– Thích Minh Thành–
Cảm nhận hơi thở, cảm nhận cơ thể, cảm giác toàn thân, cảm nhận không gian nơi này. Không khí trong lành mát mẻ, những giọt sương còn đọng lại trên cành trúc đang thấm nhuần thân thể chúng ta, những tiếng chim hót đón bình minh, sương mây giăng phủ khắp trời đất trong sự an tịnh, lắng dịu và tịnh lạc, thấm nhuần trong Thánh pháp này.
Kính lễ ân đức Phật, ân đức pháp, ân đức Tăng.
Kính lễ ân đức Thánh giới.
Kính lễ ân đức bậc đạo sư.
Kính bạch chư Tăng Ni và toàn thể quý Phật tử. Giờ này giữa không gian núi rừng, trời mây, bên vườn trúc chúng ta hồi tưởng lại Đức Thế Tôn và chư vị Thánh Tăng khi còn tại thế, phúc lành cho chúng ta, phước duyên cho chúng ta, thật là lợi đắc thay cho chúng ta là những người con Phật trong khoảnh khắc này sống lại những giây phút huyền nhiệm, thiêng liêng, nghe những lời kinh nguyên chất vang vọng núi rừng, chúng ta cách Đức Thế Tôn không xa, giống như đang kề cận bên ngài để nghe những lời dạy quý báu tuyệt diệu của Đức Thế Tôn.
"Nhân duyên ở Sàvatthi.
Rồi gia chủ Anàthapindika đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với gia chủ Anàthapindika đang ngồi một bên:
-- Khi nào vị Thánh đệ tử, này Gia chủ, làm cho tịnh chỉ năm sự sợ hãi, hận thù (pancabhayàni), thành tựu bốn Dự lưu phần, và nhờ trí tuệ, Thánh lý (nàya) được khéo thấy, được khéo thông đạt, nếu vị ấy muốn, sẽ tự mình tuyên bố về mình như sau: 'Ta đã đoạn tận địa ngục; ta đã đoạn tận các loài bàng sanh; ta đã đoạn tận cõi ngạ quỷ; ta là bậc Dự lưu, không còn thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ'. Thế nào là năm sự sợ hãi, hận thù được tịnh chỉ?" (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương XI. Tương Ưng Dự Lưu (b), III. Phẩm Saranàni, VIII. Hận Thù, hay Anàthapindika (3))
Thế Tôn nói với ông Cấp-cô-độc khi nào người con Phật làm cho dừng lại năm sự sợ hãi, hận thù, thành tựu bốn phần Dự lưu, tin Phật, tin pháp, tin Tăng, giữ gìn các giới cộng thêm nghe pháp, thành tựu trí tuệ thì người này sẽ khéo thấy được Thánh lý, tức là khéo léo thấy được chân lý của bậc Thánh giác ngộ.
"Sự sợ hãi, hận thù, này Gia chủ, ngay trong hiện tại khởi lên cho người sát sanh; do duyên sát sanh, sự sợ, hãi, hận thù khởi lên ở đời sau, sự khổ ưu do tâm người ấy cảm thọ. Với người từ bỏ sát sanh, thời sự sợ hãi, hận thù như vậy được tịnh chỉ.
... khởi lên cho người lấy của không cho...
... khởi lên cho người tà hạnh trong các dục...
... khởi lên cho người nói láo...
Sự sợ hãi, hận thù, này Gia chủ, ngay trong hiện tại khởi lên cho người say đắm rượu men, rượu nấu; do duyên say đắm rượu men, rượu nấu, sự sợ hãi, hận thù khởi lên ở đời sau, khổ ưu do tâm người ấy cảm thọ. Với người từ bỏ say đắm rượu men, rượu nấu, thời sự sợ hãi, hận thù như vậy được tịnh chỉ.
Năm sự sợ hãi, hận thù này được tịnh chỉ". (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương XI. Tương Ưng Dự Lưu (b), III. Phẩm Saranàni, VIII. Hận Thù, hay Anàthapindika (3))
Do nhân duyên sát sanh mà sự sợ hãi, hận thù ngay trong hiện tại khởi lên và cả trong đời sau cho nên nghiệp quả mà chúng ta đang gánh lấy trên toàn cầu từ quả báo chính yếu là do sát sanh, quả lãnh lại là lo lắng, sợ hãi, bất an, chết chóc, tật bệnh. Có rất nhiều hình thái sát sanh, sát sanh loài hữu tình có tình thức, có nhận thức, sát sanh loài vô tình như chặt cây, phá rừng, dời sông, lấp bể, lấn biển, san bằng núi non, làm đập ngăn nước, đó là mình giết hại sự sống của loài vô tình và hữu tình. Sát là giết, sinh là sự sống, sự sống ở đây có hai loại là sự sống có tình thức, có nhận thức và sự sống không có nhận thức gọi là vô tình chúng sanh. Tâm của người sát sanh phải chịu lấy những cảm thọ, cảm xúc lo lắng, bất an, đau đớn, sợ hãi đó. Tịnh chỉ nghĩa là dừng lại, báo chí đưa tin chỉ vừa 17, 18 tuổi mà tụ tập đánh nhau, chém lộn đem lại sự sợ hãi, sự khổ đau cho tự thân người đó và cho người xung quanh, sống trong sự hối tiếc trong tù 20 năm, chung thân, có khi tử hình vì thế việc sát sanh này là ngay trong hiện tại làm cho người đó khởi lên sự sợ hãi và hận thù, mình đánh mình giết người ta thì người ta hận thù cho nên Đức Thế Tôn nói rằng vị Thánh đệ tử là người dừng lại năm sự sợ hãi và hận thù, chữ "hận thù" trong bài kinh này tức là phạm vào năm giới. Đức Phật dùng rất nhiều ngôn ngữ, khía cạnh, phương tiện để trình bày về lợi ích tối thượng của giới, ở đây Đức Phật dùng từ "hận thù" để nói về việc không giữ giới, dùng từ "sợ hãi" để chỉ cho ác nghiệp. Có nhiều vị tâm sự với Minh Thành, ngày xưa nấu nước sôi lột lông gà, nhận nước mấy con chim hoặc đập đầu cá, về sau những người này đều đau bệnh và có những trạng thái như những con vật bị giết chết. Minh Thành thường kể cô Sáu trong gia đình có bệnh lạ, lúc trước cô bán gà đến giờ cô bị bướu độc phải mổ và cô nói chuyện hớp hớp như gà kêu vậy, cô phải tắm nước nóng mới chịu, đó là tự mình phải gánh chịu những cảm giác đau đớn, khổ sở giống vậy. Ở đây chúng ta càng thấm thía hơn khi học kinh biết rằng chỉ có nghiệp quả mới là người thân của mình, chỉ có nghiệp quả mới đi theo mình cho nên sát sanh đồng nghĩa với hận thù, khổ đau và sợ hãi. Qua đây chúng ta thấy rằng Phật rất thương chúng đệ tử của ngài, vừa vào là được truyền cho tam quy ngũ giới, ngài muốn chúng đệ tử ngài có tâm bình an, không sợ hãi, sống hòa đồng, hòa thuận không hận thù nên ngài yêu cầu phải từ bỏ sát sanh. Thật là lợi lạc, tốt lành cho những người con của ngài! Những hận thù sợ hãi khởi lên cho người lấy của không cho trong đời này và trong đời sau, trộm cắp, cướp của người khác. Tại sao trong đời này trộm cắp, cướp của lại phải chịu sợ hãi và hận thù? Vì ăn trộm rồi sẽ lo sợ bị bắt, bị phát hiện cho nên lời kinh rất sâu sắc cần chiêm nghiệm, nếu bị chủ nhà phát hiện sẽ bị thù hận, sống trong sợ hãi ngay trong hiện tại và trong tương lai. Tà hạnh (ngoại tình) trong các dục cũng vậy, cũng sống trong sợ hãi, bất an vì sợ bị đánh ghen, sợ bị phát hiện, bị hận thù, tan nát đổ vỡ một gia đình. Nói láo, uống rượu, sử dụng những chất say sưa nghiện ngập cũng vậy, người này phải chịu đựng những cảm thọ đau khổ và lo lắng, bất an và sợ hãi, đó là người không giữ gìn năm giới. Còn những ai từ bỏ say đắm rượu men, những chất nghiện ngập thì sợ hãi, hận thù được chấm dứt. Thế Tôn đều giải thích từng tí cho mỗi câu hỏi ngài nêu lên, những điều này không phải ông Cấp-cô-độc mới nghe lần đầu nhưng Thế Tôn vẫn giải thích từ đầu đến cuối đầy đủ, còn mình nghe chừng vài ba lần là không muốn nghe nữa.
"Với bốn Dự lưu phần nào, vị ấy được thành tựu?
Ở đây, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với đức Phật: "Ðây là bậc Ứng Cúng, ... Phật, Thế Tôn..". đối với Pháp... đối với chúng Tăng... vị ấy thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính... đưa đến Thiền định.
Bốn Dự lưu phần này được thành tựu.
Thánh lý nào được vị ấy khéo thấy với trí tuệ, khéo thông đạt?
Ở đây, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử khéo như lý tác ý lý duyên khởi: Do cái này có mặt, cái kia có mặt. Do cái này sanh khởi, cái kia sanh khởi. Do cái này không có mặt, cái kia không có mặt. Do cái này diệt, cái kia diệt. Tức là vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh sắc duyên sáu xứ, sáu xứ duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu, hữu duyên sanh, sanh duyên lão tử. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này. Do sự ly tham, đoạn diệt vô minh không có dư tàn, nên hành diệt. Do hành diệt, nên thức diệt... nên lão tử diệt. Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này vậy.
Ðây là Thánh lý, với trí tuệ, được khéo thấy, khéo thông đạt". (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương XI. Tương Ưng Dự Lưu (b), III. Phẩm Saranàni, VIII. Hận Thù, hay Anàthapindika (3))
Tại sao gọi là có cái này có thì cái kia có? Cái này sanh thì cái kia sanh, cái này diệt thì cái kia diệt? Do mình có xúc nên mới có thọ, do tiếp xúc nên sanh ra cảm giác, cũng như không phải tự nhiên mà giận, nếu vậy là người không bình thường, phải thấy hành động gì đó hoặc nghe câu nói gì đó mới tức giận và phải biết cái này là pháp sanh diệt. Do con mắt thấy, do tai nghe nên bắt đầu sanh khởi nhĩ xúc, nhãn xúc và ý xúc bắt đầu làm việc, những hình bóng, suy nghĩ, cảm giác, đi theo sự tiếp xúc, hội tụ, sanh khởi những cảm giác, hình bóng thì mới có ra cơn giận. Như vậy cơn giận không có thật, do có lời nói, có sự tiếp xúc lỗ tai mới sanh ra cảm thọ, cho nên đây là pháp sanh diệt và phải như lý tác ý "cái này làm cho mình đau khổ, cái này làm cho mình bực bội, bức xúc, cảm thọ này thiêu đốt mình. Hãy từ bỏ cảm thọ này đi", như vậy mình tác ý sự sanh diệt vô thường của các cảm thọ thì cảm giác sân hận sẽ tan biến. Còn lúc đó mình thấy có mình thật, có câu nói đó là thật, có những cảm thọ tức giận đó là thật thì cái đau khổ, cảm giác nhiệt não đó sẽ đeo đẳng, đeo bám mình, mình phải chịu những cảm thọ nhiệt não, đau khổ. Cho nên bậc Đa văn Thánh đệ tử rất khéo tác ý lý duyên khởi, cái này có nên cái kia mới có, do mình thấy người đó đẹp nên mới thích, mới nhớ, nếu không thấy thì đâu có thích, đâu có nhớ, đó cũng là pháp duyên sanh, nếu không thấy thì không biết gì cả, nếu không nghe thì câu nói đó đâu vang vọng trong tai, chính chỗ bị dính mắc, trói buộc trong cảm xúc, hình bóng đó nên mình không thấy bản chất các pháp sanh khởi, duyên hợp nên chấp thủ vào đó, mình không quán lý duyên khởi, không thấy sự lắp ráp, vô thường cho nên trong đoạn kinh trên nói Thánh lý tức là lý duyên khởi, "tức là vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh sắc duyên sáu xứ, sáu xứ duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu, hữu duyên sanh, sanh duyên lão tử".
Chúng ta sẽ lấy kinh để giải thích kinh chứ không lấy luận để giải thích kinh,
"Này các Tỳ-kheo, thế nào là vô minh? Này các Tỳ-kheo, không rõ biết Khổ, không rõ biết Khổ tập, không rõ biết Khổ diệt, không rõ biết Con đường đưa đến Khổ diệt. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là vô minh". (Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (a), I. Phẩm Phật Ðà, II. Phân Biệt)
Không biết được bản chất cuộc đời này là đau khổ, không biết được tham, sân, si, bản ngã sẽ dẫn đến khổ thì đó là vô minh.
"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là ái? Này các Tỳ-kheo, có sáu ái này: sắc ái, thanh ái, hương ái, vị ái, xúc ái, pháp ái. Này các Tỷ- kheo, đây gọi là ái.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là thức? Này các Tỳ-kheo, có sáu thức thân này: nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là thức.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là hành? Này các Tỳ-kheo, có ba hành này: thân hành, khẩu hành, ý hành. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là hành". (Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (a), I. Phẩm Phật Ðà, II. Phân Biệt)
Từ sự không thấy biết về khổ nên những hành động của mình chỉ toàn ác hành, tạo ra nghiệp và chịu lấy quả báo khổ nên mới có ra dòng sanh tử, vì vậy gọi là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này. Từ cái không thấy không biết về khổ đau nên tham đắm, từ tham đắm tạo nghiệp, từ nghiệp mới chịu quả báo của nghiệp, quả báo của nghiệp là thân này cho nên dòng sống chết cứ tiếp diễn, Đức Thế Tôn gọi là sự tập khởi, sự tụ tập của đống khổ này, hành diệt, ái thủ về sanh chấm dứt, sanh tử chấm dứt, đây là ly tham và đoạn diệt vô minh. Làm sao để lìa tham, chấm dứt vô minh, không còn sót chút nào? Chính là phải có chánh kiến mà trong đoạn kinh trên là Thánh lý. Ở đây Đức Phật nói với ông Cấp-cô-độc vài điều, thứ nhất là làm dừng lại năm sự sợ hãi, tức là giữ gìn năm giới, thứ hai là thành tựu bốn Dự lưu phần, tin Phật, tin pháp, tin Tăng, thứ ba là Thánh lý được khéo thấy tức thành tựu chánh kiến, thứ tư có thể tuyên bố chính thức tham dự vào dòng trí tuệ mà Đức Thế Tôn đã truyền trao.
"Khi nào vị Thánh đệ tử, này Gia chủ, được tịnh chỉ năm sự sợ hãi, hận thù này, được thành tựu bốn Dự lưu phần này, và Thánh lý nhờ trí tuệ được khéo thấy, khéo thông đạt thời nếu muốn, vị ấy có thể tự mình tuyên bố về mình như sau: 'Ta đã đoạn tận địa ngục; ta đã đoạn tận loài bàng sanh; ta đã đoạn tận cõi ngạ quỷ; ta đã đoạn tận cõi dữ, ác thú, đọa xứ. Ta là bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ'". (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương XI. Tương Ưng Dự Lưu (b), III. Phẩm Saranàni, VIII. Hận Thù, hay Anàthapindika (3))
Đức Thế Tôn nói với một vị cư sĩ như vậy đó.
"Một thời, Thế Tôn trú ở Vesàlì, tạo Ðại Lâm, giảng đường có nóc nhọn. Rồi Thế Tôn vào buổi chiều, từ Thiền tịnh đứng dậy, đi đến hành lang người bệnh. Thế Tôn thấy một Tỳ-kheo ốm yếu bệnh hoạn, thấy vậy ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
- Này các Tỳ-kheo, nếu năm pháp này không rời bỏ một kẻ ốm yếu bệnh hoạn, thời người ấy được chờ đợi như sau: Không bao lâu, do đoạn diệt các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, với thắng trí sẽ chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. (Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, XIII. Phẩm Bệnh, I. Người Bệnh)
Nếu người bệnh thực hành năm pháp này thì không bao lâu người này sẽ chấm dứt các lậu hoặc ngay trong hiện tại, với trí tuệ sẽ chứng ngộ, chứng đạt và an trú tâm hoàn toàn thanh tịnh vô lậu, giải thoát, tuệ giải thoát, tức là đoạn tận vô minh và tham ái.
"Thế nào là năm?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, vị Tỳ-kheo sống quán bất tịnh trên thân, với tưởng ghê tởm đối với các món ăn, với tưởng không thích thú đối với tất cả thế giới, quán vô thường trong tất cả hành, và nội tâm khéo an trú trong tưởng về chết.
- Này các Tỳ-kheo, nếu năm pháp này không rời bỏ một kẻ ốm yếu bệnh hoạn, thời người ấy được chờ đợi như sau: Không bao lâu, do đoạn diệt các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, với thắng trí sẽ chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát". (Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, XIII. Phẩm Bệnh, I. Người Bệnh)
Thứ nhất là quán bất tịnh trên thân, bị ốm yếu bệnh hoạn càng quán cái này dễ hơn người khỏe, người khỏe không bệnh cũng phải quán vì thân không bệnh thì tâm cũng bệnh, dùng mọi cách thức, phương tiện để quán, ví dụ bị sổ mũi hoặc người kế bên mình có mùi cơ thể quá mạnh, đứng gần chịu không nổi thì hãy lấy pháp đó để quán, lấy mồ hôi, nước mũi, nước bọt, ráy tai, ghèn, nước tiểu, phân… để quán. Thứ hai là quán cái tưởng ghê gớm đối với các món ăn, người ta bị tham ái, dính mắc với cái đầu tiên là thân này, kế đó là thức ăn, tiếp theo là dính mắc với sự lòe loẹt của thế gian, cái thứ ba là không thích thú đối với tất cả thế giới, thứ tư là quán vô thường trong các hành, "các hành" chính là sự vận hành của ngũ uẩn, thứ năm là nội tâm khéo an trú trong tưởng chết, thời gian này rất phù hợp với pháp tu này. Hằng ngày mọi người nhớ quán bất tịnh được bao lâu? Lên Bồ-đoàn ngồi quán được mấy tiếng? Một tuần lễ quán được mấy buổi? Năm pháp này sẽ giúp cho mình thành tựu vì những pháp này đánh thẳng vào tham ái.
Thân trống rỗng không ai trong đó
Chỉ có tim, gan, máu thịt, xương
Phủ ngoài lớp da trơn láng
Che hết vô vàn thứ nhớp nhơ.
Đó chính là quán bất tịnh, là phần quán thân đầu tiên trong Tứ Niệm Xứ, không phải đợi đến lúc lên thiền đường mới quán mà phải thường tác ý để nhắc nhở bản thân nhả ra bớt sự nắm chặt, say mê, si ám đối với sắc thân này, nếu không quán sẽ làm tổ trong thân này.
Thân trống rỗng không ai trong đó
Tâm vào đây làm tổ chi tâm
Tâm làm đây làm ổ làm gì
Thân trống rỗng dễ tan vỡ lắm.
Nếu không quán bất tịnh là không thể thoát khỏi thân, làm hang, làm tổ, làm sào huyệt cho nên chỉ có quán bất tịnh mới phá sự chấp thủ sắc thủ này vì thế quán bất tịnh vô cùng quan trọng với người tu, không quán bất tịnh, không thành tựu trí huệ bất tịnh thì không thể phá được sắc thủ uẩn, không thể ly dục, ly tham được, đối với thân xác này làm sao chấm dứt tham dục, tham ái, làm sao đoạn tận luân hồi sanh tử được? Có nhiều người nghĩ tu bất tịnh ghê quá nên không tu nhưng pháp này do chính bậc Chánh Đẳng Chánh Giác chứng ngộ và giảng dạy, vì thế phải thường tác ý trong mọi sinh hoạt thường nhật, cả khi giặt đồ, sổ mũi, ngoáy tai… Phải phanh phui, giải phẫu bên trong nữa, thường nhìn sâu vào ba mươi hai thể trược, nếu không quán những cái này thì chắc chắn sẽ sống với thân kiến, sống với tham ái, chấp thủ trong hình hài, hình dáng này, khi vóc dáng này tan rã thì chắc chắn sẽ đau khổ. Tiếp theo là quán tưởng sự ghê gớm với thức ăn, phải tập bớt dính mắc với những món ăn, pháp đi khất thực rất hay nhưng hiện tại mình không thể đi khất thực nên khi ăn cơm cứ đổ hết mọi thứ vào nhau trộn lại để phá hương ái, vị ái, chánh quán thọ thực cũng nhằm ngăn chặn sự tham đắm trong món ăn. Ngay nhà mát có con chuột chết, Minh Thành nói đừng quét đi vì nó chết ngoài nhà mát, trưa chiều đi ngang không thấy nên đi tìm thì thấy nó nằm trong kẹt ghế trương sình lên thành một đống giòi, nó không còn là xác chuột nữa mà là nguyên một đống giòi bò lúc nhúc và bộ xương hôi thối. Bộ xương khô đó là chung cuộc của kiếp người, giành giật, tham dục, sân hận, ta đây, lên mặt, hống hách, kiêu căng… rồi cuối cùng nằm dài trên đất, gom góp, chất chứa, tích lũy, thù hận, tranh giành rồi cuối cùng là hai bàn tay trắng.
"Ðầu sọ khô cài hoa giắt ngọc,
Túi da hôi ướp xạ xông hương,
Cắt lụa là che đậy máu tanh,
Giòi son phấn át thùng phân thúi".
(Trần Thái Tông - Phổ thuyết sắc thân)
Một ánh mắt cũng không bỏ qua, từng hành động cũng tranh cãi, từng đồng bạc cũng hơn thua rồi cuối cùng là bộ xương khô nằm dài trên đất bất động, ai muốn chôn, muốn khiêng, muốn làm gì thì làm, thậm chí quăng cho kên kên, diều hâu, chó rừng, các loài giả can xé thịt nhau cũng không biết nhưng còn hơi thở là còn tranh đấu, còn kiêu căng, ngạo mạn, hơn thua. Thật là thương xót cho chúng ta! Thật là cay đắng cho chúng ta vì cái tâm u mê, ám muội này, cái tâm khờ dại này, cái tâm ác tuệ, tà kiến này, thông minh để đi hại người ta, để tạo nghiệp, toan tính để lợi dụng, bóc lột sức lao động của người ta rồi chết đi cũng chỉ là hai bàn tay trắng, trong vòng luân hồi sanh tử này đã có biết bao thây chết chất chồng tiếp nối lên nhau, chính tự thân mình sanh ra cũng tham dục, tham lam, sân hận, xảo trá, kênh kiệu rồi cuối cùng nhắm mắt là đi về đọa xứ, ác thú, khổ cảnh trong địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Vô minh mà cho rằng thông minh, lấy khổ làm vui, thật là đáng thương cho chúng ta với những đời sống bất tịnh, vô thường, khổ đau và ác nghiệp này. Hãy đặt mình vào hoàn cảnh đang cố gắng thở những hơi thở nặng nề trong sự khó khăn, khổ sở rồi cuối cùng tắt thở, nằm dài ra đó lạnh ngắt, xanh rờn, thân thể bắt đầu trương phình lên, nứt nẻ ra, những chất dịch chảy ra, giòi bọ tuôn ra bò lúc nhúc mọi nơi trên thân thể này. Máu, thịt, gân bắt đầu phân hủy, bốc mùi hôi thối kinh hãi không ai chịu nổi, từ từ xương này theo năm tháng cũng rã rời, chỗ này là xương sườn, chỗ kia là xương ống tay, chỗ nọ là xương đầu, xương tay, xương sống, gió mưa làm xương mục nát thành bụi, gió thổi bay vào hư không. Bản chất cuộc đời là trống rỗng, bản chất thân thể này là trống không, bản chất hình hài này là cảnh mộng, dễ dàng tan biến vào hư không, nội tâm mình phải khéo an trú vào trong tưởng chết, khéo an trú trong vô thường tưởng, trong khổ đau tưởng, trong cái tưởng về thân hoại mạng chung, chết chóc để buông xả tâm tham dục, tham ái, tham vọng, ác tham, xả bỏ tâm sân hận, đấu đá, nhân ngã thị phi, cao thấp, khen chê, đúng sai, hay dở, tôi ta. Nằm dài ra trên đất rồi ai đúng ai sai, ai cao ai thấp, cao 1m7 cũng nằm xuống, cao 1m50 cũng nằm xuống như nhau nên có ai cao ai thấp ở đây, tất cả đều ngã xuống, đổ xuống biến hoại và tan rã. Hãy nhìn sâu sắc vào bộ xương trắng đang nằm đây, hãy nhìn sâu sắc vào bao máu mủ đang ngồi đây, tim gan, phèo phổi, ruột non, ruột già.
Thân trống rỗng không ai trong đó
Chỉ có tanh hôi với hôi tanh
Máu mủ bầy nhầy phân nước tiểu
Nhìn kỹ bên trong chẳng có ai.
Thân trống rỗng không ai trong đó
Chẳng có ai trú ở trong đây
Tất cả chỉ toàn hôi với thối
Thế mà cao ngạo nói ta đây.
Thân trống rỗng không ai trong đó
Thế mà vỗ ngực nói ta đây
Như một bao rác đầy hôi thối
Lại vỗ vào bao nói ta tôi.
Hãy nhìn thật kĩ để khắc sâu hình ảnh này vào trong tâm, cất thật kĩ lưỡng hình ảnh này trong tâm, xem nó như báu vật, đừng bao giờ quên hình ảnh này, đó là tài sản bậc Thánh để lại cho chúng ta, những dục ái, tham muốn, thèm muốn, đói khát, khao khát.
Tâm đã luân hồi bao nhiêu kiếp
Chỉ vì yêu thích thịt, xương, da.
Hãy sống quán bất tịnh trên thân, hãy sống với tưởng không thích thú cái gì với tất cả màu sắc lòe loẹt của cuộc đời này, không thấy hào hứng, thèm khát gì nữa, hãy trú với sự quán chiếu các hành là vô thường, tất cả đều đi đến sự hoại diệt, tan rã, mơn mởn rồi chai sần, tiều tụy rồi tan rã, sẽ có người đem lại tận nhà hủ tro cốt trong dịch bệnh, có người sẽ giao tận nhà hủ tro bụi, hủ hài cốt. Nội tâm khéo an trú trong tưởng về chết để từ bỏ, nhàm chán, hướng tâm đến sự xa lìa những đời sống đầy nước mắt, đầy dơ bẩn, khổ đau, bệnh tật, đầy chết chóc này, an trú tâm mình với hình bóng này để ngao ngán, chán chê, ê chề, để hướng đến sự lìa tham muốn, lìa tham ái, chấp thủ đối với thân xác xương, da, máu, thịt này. Còn cái gì ở đây mà chấp thủ? Xương nát thành tro, thậm chí xương cũng không còn chứ đừng nói đến da thịt, tất cả đều tan nát, hãy đem những hình ảnh này cất giữ trong tâm thật kĩ như giữ báu vật của chính mình, đây chính là báu vật của Đức Thế Tôn trao cho hàng đệ tử của ngài, chính là sự quán chiếu về bộ xương (cốt tưởng).
Thân trống rỗng không ai trong đó
Có gì đâu để khổ vậy tâm
Có gì đâu để nhốt tâm này
Trong thân xác tràn đầy hôi thối.
Thân trống rỗng không ai trong đó
Có gì đâu để đắm tham tâm
Tâm được cái gì khi tham đắm
Cái thân trống rỗng nhớp nhơ này.
Thân trống rỗng không ai trong đó
Có gì đâu để tức giận tâm
Tâm được cái gì khi sân tức
Cái thân trống rỗng nhớp nhơ này.
Thân trống rỗng không ai trong đó
Có gì đâu để khổ vậy tâm
Để lửa dục đốt thiêu tâm trí
Tâm được cái gì vậy hỡi tâm.
Thân trống rỗng không ai trong đó
Có gì đâu để khổ vậy tâm
Để lửa giận đốt thiêu tâm trí
Tâm được cái gì khi giận sân.
Thân trống rỗng không ai trong đó
Chỉ có tâm lậu hoặc lang thang
Rày đây mai đó trong lang bạt
Hết gá thân này lại thân kia.
Thân trống rỗng không ai trong đó
Chỉ có tâm lậu hoặc, tham lam
Thèm muốn mãi những thân hôi thối
Để rồi rong ruổi chốn khổ đau.
Thân trống rỗng không ai trong đó
Chỉ có tâm xảo trá trong thân
Giả dối, khoe khoang, phô bản ngã
Ngụy biện quanh co giấu lỗi lầm.
Thân trống rỗng không ai trong đó
Chỉ có tâm dục ái tham sân
Đắm đuối chấp mê thân trống rỗng
Không tìm thấy lối để thoát ra.
Thân trống rỗng không ai trong đó
Tâm vào đây làm tổ chi tâm
Tâm vào đây làm ổ làm gì
Thân trống rỗng dễ tan vỡ lắm.
Thân trống rỗng không ai trong đó
Nhớ nha tâm, buông bỏ đi tâm
Tâm đã trầm luân bao nhiêu kiếp
Chỉ vì yêu thích thịt, xương, da.
Thân trống rỗng không ai trong đó
Nhớ nha tâm, buông bỏ đi tâm
Buông dục, ái, tham sân, bản ngã.
Trước xác thân vô ngã rỗng không.
Thân trống rỗng không ai trong đó
Nhớ nha tâm, buông bỏ đi tâm
Đừng để lòng dục tham thân rỗng
Nhận chìm tâm trong bể trầm luân.
Thân trống rỗng không ai trong đó
Ráng nhớ thân trống rỗng nha tâm
Tâm đừng sân hận, thân trống rỗng
Để rơi vào địa ngục nha tâm.
Thân trống rỗng không ai trong đó
Ráng nhớ thân trống rỗng nha tâm
Tâm đừng tham dục, thân trống rỗng
Để rồi làm súc vật nha tâm.
Thân trống rỗng không ai trong đó
Ráng nhớ thân trống rỗng nha tâm
Tâm đừng mãi lang thang vô định
Để rồi làm ngạ quỷ nha tâm.
Thân trống rỗng không ai trong đó
Ráng nhớ thân trống rỗng nha tâm
Tâm đừng tham đắm thân rỗng nữa
Để trầm luân khổ mãi nha tâm.
Thân trống rỗng không ai trong đó
Chẳng có ai ở trỏng đâu tâm
Đất trời rộng lớn thênh thang lắm
Dại gì chui vào chỗ tối tăm.
Thân trống rỗng không ai trong đó
Chẳng có ai ở trỏng đâu tâm
Tâm mau từ bỏ thân trống rỗng
Nếu không tâm gặp nạn trong thân.
Thân trống rỗng không ai trong đó
Rõ chưa tâm, thông tỏ chưa tâm
Tâm còn mê muội, thân trống rỗng
Thì còn than khóc mãi nha tâm.
Thân trống rỗng không ai trong đó
Rõ chưa tâm, thông tỏ chưa tâm
Tâm còn tham đắm thân trống rỗng
Thì còn thống khổ mãi nha tâm.
Thân trống rỗng không ai trong đó
Rõ chưa tâm, thông tỏ chưa tâm
Tâm còn đeo bám, thân trống rỗng
Thì còn sanh tử mãi nha tâm.
Thân trống rỗng không ai trong đó
Rõ chưa tâm, thông tỏ chưa tâm
Đừng để lòng si mê thân rỗng
Dẫn tâm lòng vòng trong khổ đau.
Thân trống rỗng không ai trong đó
Tỉnh đi tâm, buông bỏ đi tâm
Tỉnh lên tâm, thoát khỏi thân này
Bằng tám chánh, Thánh Nhân chỉ dạy.
Thân trống rỗng không ai trong đó
Tỉnh đi tâm, buông bỏ đi tâm
Thoát đi tâm, thoát khỏi thân này
Đừng tìm lấy khổ đau chi nữa.
Thân trống rỗng không ai trong đó
Tỉnh đi tâm, buông bỏ đi tâm
Tâm buông bỏ là tâm hạnh phúc
Thoát cảnh ngục tù trong tử sanh.
Thân trống rỗng không ai trong đó
Tỉnh đi tâm, buông bỏ nha tâm
Dục ái tham sân, tâm khổ lắm
Bỏ hết, tâm yên, thật Niết bàn.
./.