Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Dục Hỷ Là Tập Khởi Của Khổ - Kinh Giáo Giới Phú Lâu Na -Trung Bộ III

2026-03-03 00:53:20
Kinh Nikāya Giảng Giải

Dục Hỷ Là Tập Khởi Của Khổ

Kinh Giáo Giới Phú Lâu Na - Trung Bộ III

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Dục hỷ PAGEREF _Toc174197724 \h 1

II. Bị chấp thủ và sự chấp thủ PAGEREF _Toc174197725 \h 5

III. Từ bỏ dục hỷ PAGEREF _Toc174197726 \h 7

IV. Cách ứng xử của Ngài Punna PAGEREF _Toc174197727 \h 9

I. Dục hỷ

Hôm nay chúng ta tìm hiểu một bài kinh rất quan trọng trong tinh thần hoằng pháp, chúng ta ở trong lớp đào tạo để trở thành một vị giảng sư, một vị pháp sư, một vị hoằng pháp thừa kế chánh pháp trong hiện tại và tương lai. Đối với chúng ta bài kinh này tuyệt đối quan trọng, nếu chúng ta học trong ngành đào tạo giảng sư hoằng pháp mà chúng ta chưa được nghe, chưa được học, chưa nắm vững tinh thần của bài kinh giáo giới Phú-lâu-na này là một sự thiếu sót rất lớn cho nên hôm nay chúng ta tìm hiểu kĩ bài kinh này.

Trong bài kinh này chúng ta sẽ thấy Đức Đạo Sư vĩ đại của chúng ta đã hướng dẫn giáo giới, truyền dạy cho bậc Thánh Tăng Phú-lâu-na và chính ngài Phú-lâu-na là một bậc thuyết pháp, hùng biện, nghị luận bậc nhất, sự giáo hóa của ngài tuy không nhiều nhưng đã đem lại lợi lạc rất lớn cho mãi 2600 năm sau chúng ta vẫn còn thừa hưởng thân giáo cũng như khẩu giáo, cách sống đạo của ngài cũng như cách hành xử, tinh thần dấn thân hoằng pháp, tinh thần phụng sự và cống hiến, đem chánh pháp, đem những lời dạy của Đức Phật đến những vùng sâu xa, đến những nơi có những người chưa hiểu biết.

Có những tâm thức hung hăng, hung bạo, hung tàn nhưng qua lối sống đạo của ngài, thân chứng, không chỉ lời nói và tự thân này là một bài pháp sống đã giáo hóa thành tựu năm trăm người vùng đó và bản thân ngài cũng thành tựu Thánh quả tối cao tại vùng đó sau ba tháng an cư mùa mưa năm đó. Chúng ta bắt đầu đi vào bài kinh.

"Như vầy tôi nghe.

Một thời, Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà-Lâm), tại tịnh xá ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc).

Rồi Tôn giả Punna (Phú-lâu-na), vào buổi chiều, từ Thiền tịnh độc cư đứng dậy, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Punna bạch Thế Tôn:

-- Bạch Thế Tôn, tốt lành thay nếu Thế Tôn giáo giới với lời giáo giới vắn tắt cho con, để con có thể, sau khi nghe Thế Tôn, sống một mình, nhàn tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.

-- Vậy này Punna, hãy nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ giảng.

-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Tôn giả Punna vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:

-- Này Punna, có những sắc do mắt nhận thức, khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỳ-kheo hoan hỉ tán thưởng, chấp thủ và an trú trong ấy, thời do hoan hỉ tán thưởng, chấp thủ và an trú, dục hỷ sanh; và này Punna, Ta nói rằng, từ sự tập khởi của dục hỷ, là sự tập khởi của khổ".

(Trung Bộ Kinh, 145. Kinh Giáo giới Phú-lâu-na)

Có những hình sắc mà con mắt nhận thức, những hình sắc này đáng yêu, đẹp mắt, vừa lòng, thích ý, những hình sắc này liên hệ đến sự tham muốn, có sự thu hút, hấp dẫn. Nếu vị Tỳ-kheo vui thích, khen ngợi và thưởng thức sắc đẹp đó, nắm giữ sắc đẹp đó, để tâm trong những sắc đáng yêu, vừa lòng, thích ý đó thì dục hỷ sanh. Dục là ham muốn, hỷ là vui mừng, thích thú, do vì mình tán thưởng, để tâm vào những sắc đẹp, hình dáng đó nên sẽ sanh khởi lên sự tham muốn và vui thích.

"Này Punna, có những tiếng do tai nhận thức; có những hương do mũi nhận thức; có những vị do lưỡi nhận thức; có những cảm xúc do thân nhận thức; có những pháp do ý nhận thức; khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỳ-kheo hoan hỉ, tán thưởng, chấp thủ và an trú trong ấy, thời do hoan hỷ, tán thưởng, chấp thủ và an trú tham đắm, dục hỷ sanh; và này Punna. Ta nói rằng, từ sự tập khởi của dục hỷ, là sự tập khởi của khổ".

(Trung Bộ Kinh, 145. Kinh Giáo giới Phú-lâu-na)

An trú nghĩa là đặt tâm vào trong sắc đẹp đó, vào tiếng hay đó, mùi thơm, vị ngon, sự xúc chạm đó. Mình để tâm vào những hình bóng, cảm giác, suy nghĩ, trong tâm có vừa lòng, thích ý, khoan khoái, tham đắm trong đó thì dục hỷ sẽ sanh khởi, tham muốn, thích thú sanh khởi. Chỉ với một câu "sự tập khởi của dục hỷ, là sự tập khởi của khổ" là Đức Phật đang nói cho chúng ta biết khổ và nguyên nhân của khổ. Sau đây là Đức Phật nói ngược lại.

"Này Punna, có những sắc do mắt nhận thức, khả ái, khả lạc, khả hỷ, khả ý, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỳ-kheo không hoan hỉ, không tán thưởng, không chấp thủ và an trú, thời dục hỷ diệt. Này Punna, Ta nói rằng, từ sự diệt tận dục hỷ là sự diệt tận đau khổ".

(Trung Bộ Kinh, 145. Kinh Giáo giới Phú-lâu-na)

Vấn đề ở đây là chữ nghĩa, khi chúng ta không lột tả được nghĩa của từ Hán Việt mà chỉ đọc dục hỷ sẽ không hiểu rõ ràng cho nên vấn đề ở đây vừa là âm Hán Việt vừa là sự nhận diện ngũ uẩn trong cảm thọ.

Sắc ở đây là thân người, cảnh vật, đồ vật. Khi mình thấy món đồ đẹp, thấy cảnh đẹp, thấy người đẹp, đáng yêu, vừa lòng, thích ý sẽ sanh khởi lên sự tham muốn, ưa thích và món đồ, cảnh vật, con người đó có một sức hút nên gọi là hấp dẫn. Ngay chỗ con mắt nhìn thấy chiếc xe, căn nhà đẹp, cọc tiền hay con người đẹp mà sanh khởi lên ham muốn, ưa thích, nắm giữ, thưởng thức, khen ngợi thì dục hỷ sanh khởi. Khi tiếp xúc với một con người đẹp, món đồ quý, sang trọng, cảnh đẹp thì khởi lên sự yêu thích, khoan khoái, muốn nắm giữ, muốn chiếm hữu thì lúc đó có vấn đề, đó là sự tập khởi của khổ.

Tập khởi là tụ tập và sanh khởi. Do có con mắt, có người đẹp, khởi lên sự rõ biết người đẹp đó, ba cái này tụ tập lại tạo thành sự tiếp xúc của con mắt. Khi con mắt tiếp xúc người đẹp tạo thành cảm thọ khoan khoái, ưa thích, tham muốn thì chính cảm giác đó là sự sanh khởi của khổ. Đó là Thánh trí huệ của Đức Phật, đối với kẻ vô văn phàm phu khi nhìn thấy như vậy chỉ thấy sướng, nhưng đối với Thánh trí huệ của Đức Phật thì chỉ cần vừa sanh khởi cảm giác khoan khoái, ưa thích, muốn nắm giữ thì đó là mầm móng, là nguồn cơn, là căn nguyên, là sự manh nha của đau khổ bắt đầu trong tâm người đó. Đây là chỗ thâm sâu của Thánh trí tuệ.

Chỉ cần tiếp xúc với người nào mà họ đáng yêu, đáng nhìn, vừa lòng, thích ý, người đó làm cho tâm mình sanh khởi lên sự ham muốn, người đó hấp dẫn mình nhưng mình lại không có chánh niệm tỉnh giác, không nhìn thấy thọ; tưởng; hành, không nhìn thấy lúc đó đang có suy nghĩ, nghĩ tưởng gì trong tâm, mình không thấy không biết, không nhận diện các cảm thọ thì mình thích thú, tán thưởng, nắm giữ hình bóng đó, cất giữ hình bóng đó trong tâm thành ý trung nhân (người trong tim). Tâm mình không thoát khỏi hình bóng đó được, cứ lòng vòng trong đó rồi bị hình bóng đó ám ảnh thì nguồn cơn và mầm móng của khổ đau đã xuất hiện trong tâm người này. Đây là điều mà Đức Phật dạy cho ngài Phú-lâu-na.

Đó là mình nói đến con người, sau đây nói đến món đồ đẹp như chiếc xe đời mới, miếng đất rộng thì mình có cảm giác thích thú, món đồ đó thu hút mình mà mình không nhận diện ra đang có tham muốn bên trong tâm (nội tham), mình để cảm giác ham muốn, ưa thích xâm chiếm, áo đảo, xô ngã mình, nó hoàn toàn ám ảnh tâm mình làm tâm không thoát khỏi hình bóng đó được, như vậy là nó đã an trú, áp đảo mình.

Đi đâu mình cũng nhớ món đồ đó, ngôi nhà đó, tịnh thất đó, chiếc xe đó, tâm mình nắm giữ những thứ đó, nó bị những cái đó xâm chiếm, ám ảnh vì mình vui thích, thích thú, tán thưởng với những thứ đó, nắm giữ nó thì khổ bắt đầu sanh khởi, bắt đầu sẽ có sự lo lắng, bất an, bắt đầu sẽ có sự mong chờ, mong đợi, hi vọng, ước mơ, bắt đầu sẽ có sự ham muốn, thèm muốn, khao khát, đó gọi là từ sự tập khởi của dục hỷ sẽ có sự tập khởi của khổ đau. Nghĩa là con mắt, các sắc, nhãn thức, nhãn xúc, thọ do nhãn xúc sanh tụ tập với nhau để sanh khởi ra khổ, sanh khởi ra sự ham muốn, yêu thích cái vô thường, cái biến đổi, ham muốn những thứ mong manh, tạm bợ như hoa phù dung sớm nở tối tàn rồi bắt đầu đau khổ.

Như vậy bắt đầu hi vọng, ước mơ, mong chờ, danh từ Đức Thế Tôn dùng là "khát ái". Khát là khao khát, ái là yêu thích, ưa thích, chính sự ưa thích, khao khát làm cho nội tâm người đó không an tịnh, lắng dịu mà thường xuyên bị dao động, lúc nào cũng ở trong lo lắng. Đầu tiên là lo vì không được, cầu mà không có, khi được rồi lại sợ mất đi, có được món đồ quý giá đi đâu cũng sợ mất, có được người đẹp rồi đi đâu cũng ghen. Cà ba thời đều khổ, chưa được gọi là cầu bất đắc khổ, cứ mong cầu, ước ao, chờ đợi mãi mà không được thì khổ, được rồi sợ bị trộm, sợ bị cướp, sợ bị lấy mất đồ của mình, người của mình, đó là ngay khi được cũng phập phồng lo lắng, sợ hãi, đến khi mất đi lại càng khổ hơn nữa.

Qua đây chúng ta thấy rằng một khi tâm đã dính mắc vào sự ham muốn, ưa thích (dục hỷ) thì trong thời nào cũng khổ, chưa được thì khổ theo kiểu chưa được, được rồi thì khổ theo kiểu được rồi, mất đi thì càng khổ theo kiểu mất đi, vậy là cả ba thời đều khổ. Chính vì vậy toàn bộ giáo pháp của Đức Thế Tôn là nhiếp phục dục tham và đoạn tận dục tham, tổng cương lĩnh của toàn bộ giáo pháp Đức Phật là nhiếp phục dục tham và đoạn tận dục tham vì dục tham là nguồn cơn của khổ.

Dục tham chính là tham muốn, tham muốn đối với sắc đẹp, sắc này bao gồm cảnh vật, đồ vật và con người, bao gồm cả thân thể tứ đại của mình, tham muốn thứ hai là đối với tiếng, âm thanh, tham muốn thứ ba là mùi hương, tham muốn thứ tư là vị ngon, đồ ăn, tham muốn thứ năm là muốn được tiếp xúc, được nhìn ngó, được nghe, được ngửi, được nếm. Đó là năm thứ nuôi lớn lòng tham muốn của chúng sanh nên được Đức Thế Tôn gọi là năm dục trưởng dưỡng, năm thứ này làm cho tăng trưởng, phát triển lòng dục của con người, vì thế khi nói tham muốn chính là tham muốn năm thứ này.

II. Bị chấp thủ và sự chấp thủ

Đức Thế Tôn phân tích sâu hơn nữa, ngài nói năm thứ đó không phải là dục, nó chỉ là trợ duyên nuôi lớn dục thôi, còn cái dục sâu sắc mà Thế Tôn chỉ ra là những suy tư, tham muốn, ưa thích, đó mới thật sự là dục của con người. Đức Thế Tôn phân chia ra cái tham muốn và cái bị tham muốn, cái tham muốn chính là suy nghĩ bên trong tâm, cảm giác thúc giục, những hình bóng bên trong tâm, cái bị tham muốn là sắc; thanh; hương; vị; xúc bên ngoài.

"-- Này các Tỳ-kheo, Ta sẽ thuyết giảng cho các Ông về các pháp bị chấp thủ và sự chấp thủ. Hãy lắng nghe.

Và này các Tỳ-kheo, thế nào là các pháp bị chấp thủ? Thế nào là sự chấp thủ? Sắc, này các Tỳ-kheo, là pháp bị chấp thủ. Dục và tham đối với sắc là sự chấp thủ đối với sắc.

... Thọ... Tưởng... Các hành...

Thức, này các Tỳ-kheo, là pháp bị chấp thủ. Dục và tham đối với thức là sự chấp thủ đối với thức.

Này các Tỳ-kheo, các pháp này, được gọi là các pháp bị chấp thủ. Ðây là sự chấp thủ".

(Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Uẩn (g), II. Phẩm Thuyết Pháp, IX. Chấp Thủ)

Ví dụ có kim cương ngay dưới chỗ mình ngồi nhưng mình không hay biết thì mình không ham muốn, không nắm giữ nó, nhưng khi mình biết có kim cương, thấy kim cương là mình nổi lòng tham muốn chiếm hữu, muốn có nó. Cho nên Đức Phật nói cái sắc không thật sự là cái dục của con người, nó chỉ là trợ duyên làm tăng trưởng lòng dục nhưng cái tham ái, tham dục thật sự chính là những suy nghĩ, tư tưởng, những cảm giác thúc giục trong tâm, là những thọ; tưởng; hành, đó cũng là lý do khi thực tập pháp hành của kinh tạng Nikāya lúc nào cũng được nhắc nhở phải thực tập nhận diện ngũ uẩn.

Nghĩa là nhìn lại trong tâm đang có suy nghĩ gì, đang có cảm giác gì, đang có hình bóng gì trong tâm, chỉ có nhìn lại mới thấy được nó rồi mới nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận được nó. Thói quen của phàm phu là hay hướng ngoại, nhìn ra sắc, con người, đồ vật, cảnh vật, chạy theo tiếng, mùi vị, thức ăn ngon, chạy theo sự tiếp xúc, nghe ngóng, ngửi nếm, xúc chạm, còn giờ tu là quay ngược vào bên trong tâm để nhìn ra được căn nguyên, nguồn cội, mầm móng làm mình đau khổ thật sự chính là những cảm giác thúc giục, suy nghĩ tham muốn và những hình bóng ám ảnh trong tâm, chính nó mới là sự tập khởi của khổ.

Đức Thế Tôn đã nói nguyên nhân của khổ chính là khát ái, chính là những ý nghĩ, những cảm giác, hình bóng trong tâm cứ thúc giục, nghĩ ngợi cho nên sự tập khởi của dục hỷ là sự tập khởi của khổ. Ham muốn trong từng cảm giác, suy nghĩ, hình bóng và cứ chất chứa, tập hợp, tích lũy để sanh khởi ra thì gọi là tập khởi cho nên chữ "tập khởi" rất sâu sắc. Từ những ý niệm, hình bóng trong tâm sẽ phát ra lời nói, biểu hiện ra hành động, rồi thực hiện hành động đó chiếm hữu những cái nó yêu thích, ham muốn, từ đó có ra quả báo khổ. Vì thế mà ngài nói từ sự tập khởi của ham muốn có ra sự tập khởi của khổ.

III. Từ bỏ dục hỷ

Đó là khổ và nguyên nhân của khổ, sau đây là diệt khổ. Khi mắt nhìn thấy sắc đẹp, đáng yêu, vừa lòng, thích ý, có sự liên hệ đến ham muốn, hấp dẫn, thu hút nhưng người tu hành không vui thích, không tán thưởng sắc đẹp đó, không nắm giữ sắc đẹp đó, hình bóng đó, món đồ đó, tâm không đặt để vào đó thì dục hỷ diệt, sự tham dục, hoan hỉ trong những cái đó bị diệt.

Vì chiều hướng của tâm là một chiều hướng thoát ra, rời xa, chiều hướng nhàm chán, viễn ly, xuất ly chứ không hướng vào, không đi tìm cầu cho nên tuy rằng thấy sắc đáng yêu, vừa lòng, thích ý nhưng tâm nhàm chán, tâm không nắm giữ mà buông bỏ, tâm không an trú mà tâm thoát ra thì tham dục và hoan hỉ bị chấm dứt, sự tham muốn sắc đẹp bị chấm dứt, đoạn diệt. Thế Tôn nói rằng từ sự đoạn diệt hoan hỉ, thích thú đó là sự diệt tận khổ đau.

Lúc đầu ngài Phú-lâu-na xin Thế Tôn dạy pháp vắn tắt nên Thế Tôn nói vắn tắt, còn giờ chúng ta nói đầy đủ. Làm thế nào để tâm không hoan hỉ, tán thán, không nắm giữ, tâm không đặt để vào sắc đẹp? Chính là phải thường xuyên tu tập Thân Hành Niệm, phải thấy được vị ngọt của sắc, phải thấy sự nguy hiểm và tác hại của sắc, phải thấy sự xuất ly thoát ra khỏi sắc, đây là ba loại trí tuệ cần phải thành tựu, nói rộng ra có thêm bốn loại trí tuệ nữa là bảy loại trí tuệ về sắc. Thứ nhất sắc là gì, sắc chỉ là tứ đại. Thứ hai sắc sanh là gì, là do thức ăn tập khởi nên sắc tập khởi. Thứ ba sắc diệt là gì, đó là thức ăn đoạn diệt nên sắc đoạn diệt, thân này tồn tại là do thức ăn nên nó là pháp duyên sanh, pháp lệ thuộc, pháp nương nhờ. Trí huệ thứ tư là sắc diệt đạo, tức là con đường đưa đến sự chấm dứt sắc chính là phải thấy đúng về sắc, đó là tám đúng, là Bát Chánh Đạo. Thứ năm là vị ngọt của sắc. Thứ sáu là sự nguy hiểm và tác hại của sắc. Cuối cùng là sự xuất ly khỏi sắc. Như vậy để thoát ra khỏi sắc, để không hoan hỉ, không tán thưởng, không chấp thủ, không an trú thì phải thấy được sự nguy hiểm và tác hại của sắc. Phải thường quán chiếu, tư duy, suy nghĩ, tác động tâm ý về sự nguy hiểm và tác hại của sắc.

Khi tiếp xúc mà sanh ra sự vui thích, thích thú, khoan khoái thì đó là vị ngọt của sắc. Sự nguy hại của sắc là vô thường, khổ, là thứ chịu sự biến hoại, khía cạnh nguy hiểm và tác hại này phải được thường xuyên quán chiếu, thường xuyên tư duy, thường xuyên nghiền ngẫm, thường xuyên tác ý.

Chúng ta phải thường quán chiếu tứ đại, thường quán chiếu ba mươi hai thể trược: tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, bao tử, lá lách, dạ dày, tim, gan, tùy phế thận, phân, mật, đàm, mủ, máu, nước tiểu, mồ hôi, đàm giải, tìm xem cái tôi, cái ta, cái mình nào ở trong những thứ này hay chỉ là một đống bất tịnh, một đống không sạch sẽ kết hợp với nhau. Tiếp theo phải thường quán chín giai đoạn của một tử thi, thân thể này rồi sẽ nằm dài trên gường bệnh để lấy hơi lên, cuối cùng tắt thở, lạnh ngắt, xanh rờn, tím bầm, trương phình lên, nứt nẻ, chảy máu, chảy mủ ra, hôi thối bốc lên, giòi bò lổn ngổn, tan rã ra chỉ còn xương dính chút gân thịt, ngày tháng dần trôi gân thịt cũng không còn mà trơ ra bộ xương trắng màu vỏ ốc.

Cuối cùng xương cũng rời rạc, đây là xương sườn, kia là xương sọ, nọ là xương ống chân, sau cùng xương tan rã thành cát bụi gió thổi bay vào hư không. Đó là quán chiếu sự nguy hiểm và tác hại của sắc uẩn này, của thân xác này, nhờ sự quán chiếu thường xuyên và thâm sâu như vậy thì tâm mới nhàm chán đối với sắc, không tán thưởng mà xa rời, không chấp thủ, nắm giữ mà buông bỏ, không an trú mà chỉ muốn thoát ra. Vì thế phải thành tựu bảy loại trí tuệ về sắc mới có thể thực tập được phương pháp "không hoan hỉ, không tán thưởng, không chấp thủ và an trú", lúc đó những ham muốn, hoan hỉ đối với sắc sẽ bị nhiếp phục, chế ngự, cuối cùng là đoạn tận.

Trước khi muốn thực hành được những điều đã nói ở trên thì đầu tiên phải có pháp học, phải học thuộc và nắm vững từng cái thì khi thực hành quán chiếu mới đi sâu vào được. Khi đã thực hành thường xuyên và liên tục nhiều tuần, nhiều tháng, nhiều năm, nhiều chục năm cho đến suốt cuộc đời thì sẽ có lúc đi đến chín muồi thì tất cả sự tham muốn của mình sẽ được nhiếp phục, chế ngự và chấm dứt. Sự tham muốn đối với sắc; thanh; hương; vị; xúc, sự tham muốn đối với mọi thứ trên cuộc đời này sẽ đi đến chấm dứt, khi chấm dứt tham muốn đó cũng đồng nghĩa với chấm dứt khổ đau, đây là hai phần sau của Tứ Thánh Đế, chính là Đạo Đế và Diệt Đế. Đây là bài pháp vắn tắt mà Đức Thế Tôn truyền khẩu quyết giác ngộ cho ngài Phú-lâu-na.

IV. Cách ứng xử của Ngài Punna

Sau khi nói xong thì Thế Tôn hỏi:

"Này Punna, Ông sẽ sống ở quốc độ nào, nay Ông đã được Ta giáo giới với lời giáo giới vắn tắt?

-- Bạch Thế Tôn, nay con đã được Thế Tôn giáo giới với lời giáo giới vắn tắt, có một quốc độ tên là Sunaparanta (Tây Phương Du-na Quốc), con sẽ sống tại đấy".

(Trung Bộ Kinh, 145. Kinh Giáo giới Phú-lâu-na)

Thời Đức Phật còn tại thế Ấn Độ được chia ra rất nhiều vùng, nhiều tiểu bang hay còn gọi là ngũ thiên trúc cho nên Thế Tôn hỏi ngài Phú-lâu-na sau khi nghe lời dạy thì ông sẽ sống ở đâu, ngài Phú-lâu-na trả lời rằng ông sẽ sống ở Sunaparanta (Tây Phương Du-na Quốc).

"-- Này Punna, người nước Sunaparanta là hung bạo. Này Punna, người nước Sunaparanta là thô ác. Này Punna, nếu người nước Sunaparanta mắng nhiếc Ông, nhục mạ Ông, thời này Punna, tại đấy Ông sẽ như thế nào?

-- Bạch Thế Tôn, nếu người nước Sunaparanta mắng nhiếc con, nhục mạ con, thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: 'Thật là hiền thiện, người nước Sunaparanta này! Thật là chí thiện, người nước Sunaparanta này! Vì rằng họ không lấy tay đánh đập ta'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy. Bạch Thiện Thệ, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy".

(Trung Bộ Kinh, 145. Kinh Giáo giới Phú-lâu-na)

Trên đây là cách tác ý của các bậc Thánh. Nếu họ mắng nhiếc, nhục mạ thì họ vẫn còn hiền vì họ chưa đánh đập, họ chỉ nói miệng thôi chứ chưa dùng đến gậy gộc, tay chân.

"-- Nhưng này Punna, nếu các người nước Sunaparanta lấy tay đánh đập Ông, thời này Punna, tại đấy Ông sẽ nghĩ như thế nào?

-- Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunaparanta lấy tay đánh đập con; thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: 'Thật là thiện, người nước Sunaparanta này! Thật là chí thiện, người nước Sunaparanta này! Vì rằng họ không lấy các cục đất ném đánh ta'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy! Bạch Thiện Thệ, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy".

(Trung Bộ Kinh, 145. Kinh Giáo giới Phú-lâu-na)

Ban đầu họ chỉ mắng nhiếc hủy nhục chứ chưa đánh, còn bây giờ họ dùng tay chân đánh thì ông nghĩ như thế nào? Ngài Phú-lâu-na nói nếu họ dùng tay đánh thì họ vẫn còn hiền vì họ chưa dùng đất đá ném vào ông.

"-- Nhưng này Punna, nếu các người nước Sunaparanta lấy các cục đất ném đánh Ông, thời này Punna, tại đấy Ông sẽ nghĩ thế nào?

-- Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunaparanta lấy cục đất ném đánh con; thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: 'Thật là hiền thiện, các người nước Sunaparanta! Thật là chí thiện, các người nước Sunaparanta! Vì rằng họ không lấy gậy đánh đập ta'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy. Bạch Thiện Thệ, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy".

(Trung Bộ Kinh, 145. Kinh Giáo giới Phú-lâu-na)

Nếu họ dùng đất ném đánh ông thì ông nghĩ họ vẫn còn hiền, còn nương tay vì họ không lấy gậy đánh ông.

"-- Nhưng này Punna, nếu các người nước Sunaparanta lấy gậy đánh đập Ông, thời này Punna, tại đấy Ông nghĩ thế nào?

-- Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunaparanta lấy gậy đánh đập con; thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: 'Thật là hiền thiện, các người nước Sunaparanta! Thật là chí thiện, các người nước Sunaparanta! Vì rằng họ không lấy dao đánh đập ta'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy. Bạch Thiện Thệ, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy".

(Trung Bộ Kinh, 145. Kinh Giáo giới Phú-lâu-na)

Càng ngày cấp độ càng tăng trưởng mạnh lên thêm vì giờ họ đã lấy gậy đánh đập ông thì ông nghĩ họ vẫn chưa hung ác với ông vì họ chưa lấy gươm dao đâm ông, giết ông.

"-- Nhưng này Punna, nếu các người nước Sunaparanta lấy dao sắc bén đoạt hại mạng Ông, thời này Punna, tại đấy Ông nghĩ thế nào?

-- -Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunapa ranta sẽ lấy dao sắc bén đoạt hại mạng con; thời tại đấy con sẽ nghĩ như sau: 'Có những đệ tử của Thế Tôn, ưu phiền và nhàm chán thân thể và sinh mạng đi tìm con dao (để tự sát). Nay ta khỏi cần đi tìm đã được con dao ấy'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy. Bạch Thiện Thệ, tại đấy, con sẽ nghĩ như vậy".

(Trung Bộ Kinh, 145. Kinh Giáo giới Phú-lâu-na)

Ngài Phú-lâu-na nói rằng có những vị Tỳ-kheo khi quán bất tịnh, quán nhàm chán thân xác này thì có những vị tự họ sẽ từ bỏ thân này, nhàm chán sự sanh tử, nhàm chán đời sống, nhàm chán thân xác bất tịnh này. Bây giờ ngài không cần tự mình từ bỏ thân xác này mà tự động có người giúp ngài bỏ đi thân xác đầy bệnh tật, vô thường, bất an này nên ngài cảm ơn họ.

"-- Lành thay, lành thay, này Punna! Này Punna, Ông có thể sống trong nước Sunaparanta, khi Ông có được đầy đủ sự nhiếp phục và an tịnh này. Này Punna, Ông nay hãy làm những gì Ông nghĩ là hợp thời"

(Trung Bộ Kinh, 145. Kinh Giáo giới Phú-lâu-na)

Đức Thế Tôn khen ngợi ngài Phú-lâu-na, chữ "lành thay" nghĩa là tốt lắm. Khi tâm của ngài Phú-lâu-na có được cái nhìn thâm sâu chánh kiến hoàn toàn về đời sống này, đã phá vỡ chấp ngã, thân kiến này thì ngài có đầy đủ sự nhiếp phục và an tịnh nên ngài làm những gì mà ngài nghĩ là hợp thời. Đây là những vị Thánh Tăng, tuy rằng chưa chứng A-la-hán sạch hết các lậu hoặc nhưng cái ngài đã vào sơ quả, nhị quả rồi nên lời các ngài nói không hề giống mình bây giờ, mình nói tới đâu là biện luận, thể hiện bản thân đến nó.

Cái ngài nói bằng tâm hiền thiện, trí tuệ, cung kính, khi sự thật là vậy thì các ngài trình lên cho Đức Thế Tôn, còn mình cũng nói giống ngài nhưng khi người ta đến thì mình sân si lên hoặc xách giỏ chạy mất, lúc bình thường thì mạnh miệng nhưng khi đụng chuyện thì biến mất hoặc là đánh nhau. Các vị này là trực hạnh, nghĩa là tâm ngay thẳng, chánh trực, hiền trí, chân thật, có gì nói đó, có sao nói vậy chứ các ngài không xảo biện, không biện luận. Đây là bài tập mà Đức Thế Tôn muốn kiểm tra tâm và trí tuệ của ngài Phú-lâu-na thành tựu đến mức độ nào, sau khi ngài trình pháp thì Thế Tôn nói ngài đã đầy đủ sự an tịnh và nhiếp phục nên những gì ngài nghĩ là hợp thời thì hãy làm theo đó.

"Rồi Tôn giả Punna, sau khi hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài, dọn dẹp sàng tọa, lấy y bát, rồi ra đi, đi đến nước Sunaparanta. Tiếp tục du hành, Tôn giả Punna đi đến nước Sunaparanta. Tại đây, Tôn giả Punna sống trong nước Sunaparanta. Rồi Tôn giả Punna nội trong mùa an cư mùa mưa ấy, nhiếp được khoảng năm trăm nam cư sĩ; cũng trong mùa an cư mùa mưa ấy, nhiếp độ khoảng năm trăm nữ cư sĩ; cũng trong mùa an cư mùa mưa ấy, chứng được Tam minh. Sau một thời gian, Tôn giả Punna mệnh chung".

(Trung Bộ Kinh, 145. Kinh Giáo giới Phú-lâu-na)

Chỉ có ba tháng mùa mưa thôi mà ngài Phú-lâu-na đã độ đến năm trăm nam cư sĩ, khi được ngài độ thì đó là những người thật sự chân thành, tịnh tín đối với Phật, Pháp, Tăng. Sau đó ngài độ thêm cho năm trăm nữ cư sĩ, vậy là cả ngàn người, giúp cho những vị này quy y tam bảo, giữ gìn năm giới, có sự thấy biết chân chánh về nhân quả, nghiệp báo, chánh kiến. Tiếp đó ngài còn chứng được cả tam minh:

Túc mạng minh: Thành tựu trí tuệ thấy biết tất cả những đời sống quá khứ của mình trong vô lượng vô biên kiếp vừa qua.

Sanh tử minh: Thành tựu trí huệ thấyđược tất cả những đời sống của chúng sanh trong vô lượng vô biên kiếp vừa qua.

Lậu tận minh: Thành tựu được trí huệ tẩy sạch hết tất cả các tham, sân, si, vô minh, bản ngã, mê lầm hoạt động ngấm ngầm trong thân tâm một cách hoàn toàn, không còn sót lại dù chỉ là một hạt bụi.

Trong ba tháng an cư đó ngài độ cho một ngàn vị cư sĩ có nam lẫn nữ, thành tựu Thánh quả A-la-hán, diệt tận tham, sân, si và chứng ba loại Thánh trí tuệ tam minh, thấy được tất cả dòng sanh tự vô lượng vô biên kiếp của tự thân mình và của chúng sanh, sạch hết tham, sân, si, mê lầm, lậu hoặc. Còn mình tu ba năm, ba mươi năm cũng chưa thành tựu được chánh kiến, đó là sự khác biệt giữa tu đúng và tu không đúng, được bậc đại đạo sư là Đức Thế Tôn hướng dẫn. Thời gian sau ngài mệnh chung, nhập Niết-bàn.

" Rồi một số đông Tỳ-kheo đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các Tỳ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

-- Bạch Thế Tôn, Thiện nam tử Punna ấy, sau khi được Thế Tôn giáo giới với bài giáo giới vắn tắt đã mệnh chung. Sanh thú của vị ấy là gì? Ðời sau của vị ấy là thế nào?

-- Này các Tỳ-kheo, Thiện nam tử Punna là bậc Hiền trí. Vị ấy thực hành pháp và tùy pháp. Vị ấy không phiền nhiễu Ta với những câu hỏi về pháp. Này các Tỳ-kheo, Thiện nam tử Punna đã nhập Niết-bàn.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỳ-kheo ấy hoan hỉ tín thọ lời Thế Tôn dạy".

(Trung Bộ Kinh, 145. Kinh Giáo giới Phú-lâu-na)

Các vị Tỳ-kheo khác khi đến Thế Tôn hỏi rằng ngài Phú-lâu-na được Thế Tôn dạy cho bài pháp vắn tắt rồi đến Du-na quốc tu như vậy mà chỉ trong thời gian ngắn đã qua đời thì sau khi qua đời ngài ấy sanh về đâu? Sanh thú là chỗ thú hướng của thọ sanh, đời sau của vị ấy như thế nào. Đức Thế Tôn nói ngài Phú-lâu-na là bậc hiền trí, lúc nào cũng thực hành pháp dù bất cứ ở nơi nào, ngài rất sáng suốt trí tuệ chứ không làm phiền Thế Tôn về những câu hỏi về pháp. Thế Tôn nói ngài Phú-lâu-na đã nhập Niết-bàn, tức là chứng Thánh quả tối cao A-la-hán.

Các vị giảng sư, pháp sư tương lai phải thấy được tinh thần dấn thân phụng sự của ngài Phú-lâu-na, chỉ trong ba tháng đã độ cho cả ngàn người cư sĩ tại gia và chứng tam minh. Đọc câu chuyện của ngài rất thích, mình thích dấn thân, thích phụng sự, thích xả thân nhưng nếu không biết gốc rễ, cái lõi bên trong mà chỉ nhìn cành lá, hoa quả bên ngoài thì mình chưa hiểu được ngài. Cái lõi bên trong chính là bài pháp khẩu quyết Đức Phật nói bên trên, tức là ngài Phú-lâu-na thường an trú trong Thân Hành Niệm, quán bất tịnh, quán tứ đại, quán ba mươi hai thể trược, phá trừ thân kiến, đây là cái lõi và ngài đạt được nó, đạt được sự thấy đúng này, ngài phá vỡ dục hỷ, tham ái đối với tự thân, sau đó ngài mới đi đến chỗ tu hành theo duyên để hóa độ hàng ngàn người đệ tử.

Còn bây giờ mình vẫn chấp thủ, nắm giữ rất chặt vào thân xác này, còn yêu thích những món đồ vật, sắc đẹp, tài sản, tiền bạc, ruộng vườn, xe cộ, nhà cửa, chùa chiền, vẫn còn những khả lạc, khả hỷ, khả ái liên hệ đến dục hấp dẫn, mình còn hoan hỉ, còn tán thưởng, còn chấp thủ, còn an trú trong đó thì làm sao có thể dấn thân để độ chúng sanh? Phải thấy được vấn đề nằm ngay đây, đó là diệt tận ham muốn là diệt tận khổ đau, sự diệt tận tham ái là sự diệt tận khổ đau, sự diệt tận khao khát yêu thích là sự diệt tận khổ đau.

Khao khát yêu thích cái gì? Khao khát yêu thích tiền của, tài sản vật chất, xe cộ, nhà cửa, tịnh thất, yêu thích người đẹp, cảnh đẹp, đồ đẹp, yêu thích thân xác này, hình hài này. Chấm dứt sự yêu thích đó là chấm dứt sự khổ đau, đó là Thánh ngữ, Thánh trí, Thánh pháp, Thánh đạo, đó là công thức của bậc Thánh, định luật của bậc Thánh, trí tuệ của bậc Thánh, con đường của bậc Thánh, bí quyết của bậc Thánh. Nắm được cái này thì những cái đằng sau mới có ý nghĩa, chúng ta học lại chỉ thích những gì ở phía sau, thích đối đáp cho hay ho, thích nói cho lưu loát.

Khi ngài Phú-lâu-na thường thực hành Thân Hành Niệm, quán chiếu thân xác này là nhơ nhớp, là bất tịnh, là bộ xương khô, là đống giòi, là tử thi, là hủ cốt, là nắm tro tàn, thường xuyên an trú và quán sát, chứng đạt, chứng đắc trí tuệ đó thì ngài thấy sự nguy hiểm và tác hại của sắc này, của đời sống này, của hình hài này, của thân xác này, của tâm thức này nên ngài nhiếp phục, chế ngự và đoạn tận, hướng đến sự từ bỏ, thoát ra, như vậy ngài thành tựu hoàn toàn.

Khi Thế Tôn hỏi ngài muốn đi đâu thì ngài nói muốn đến Du-na quốc, Thế Tôn nói người dân nước này rất hung bạo, dữ dằn, đi đến đó lỡ bị hủy nhục, mắng chửi thì sao, ngài trả lời họ làm vậy là còn hiền vì họ chưa đánh ông, Thế Tôn nói nếu người ta lấy tay đánh thì sao, ông trả lời vậy cũng còn hiền vì ném đá, ném đất vào ông, nếu bị người ta ném đá thì họ vẫn còn hiền vì chưa lấy gậy gộc đánh, giả sử người ta lấy gậy đánh thì người ta vẫn còn hiền vì họ chưa lấy dao đâm, nếu họ lấy dao đoạt mạng thì sao, ngài trả lời có những vị Tỳ-kheo quán chiếu thấy tấm thân bất tịnh, vô thường, nhơ nhớp này, đáng nhàm chán nên họ từ bỏ thân này, ngài không cần làm mà có người giúp ngài để xả ly đời sống đầy phiền não, tật bệnh, lo lắng, bất an này. Thế Tôn sau khi nghe thì khen ngợi ngài đã trang bị đầy đủ sự an tịnh và nhiếp phục như vậy.

Nhìn lại chúng ta thấy sự tấn công của những người hung bạo ở xứ Du-na quốc càng ngày càng mạnh bạo hơn, thông thường đối với kẻ vô văn phảm phu sẽ không nhịn được mà phải là bậc thành tựu chánh kiến phá được thân kiến, tức là phải xóa sạch ý niệm về tôi và của tôi, không suy nghĩ rằng đống thịt mấy chục kí lô này là mình, là của mình, không suy nghĩ rằng những cảm giác vui, buồn, không vui không buồn này là mình, là của mình, không cho những hình bóng trong tâm, những suy nghĩ lầm thầm trong tâm là tôi, là của tôi, không cho nhận thức, rõ biết sáu thức là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi, thành tựu chánh tri kiến thấy năm uẩn là năm tổ hợp và năm tổ hợp này là sự lắp ráp, là móc xích, là sự biến động, dịch chuyển, tan nát, đổ vỡ, nó là sự tích tập của những ham muốn, sân hận, hơn thua, đấu tranh, mê lầm, vô minh, bản ngã vì thế không ưa thích, không nắm giữ, không khoan khoái, không cho rằng nó là tôi, là của tôi, là của tôi.

Xác quyết một cách trọn vẹn như vậy thì đó là cái thấy biết chân xác của trí tuệ, còn gọi là chánh tri kiến hay Thánh tri kiến, là cái thấy biết chân xác về sự thật của bậc Thánh, cái thấy biết đó chính là mục đích mà tất cả chúng ta ngồi dưới mái trường từ sơ cấp Phật học, trung cấp, cao đẳng, học viện cho đến thạc sĩ, tiến sĩ Phật học đều nhằm đạt được cái thấy đó, còn không đạt được cái thấy biết đó thì uổng công học cả đời. Cái thấy đó là cái thấy của bậc Thánh, là cái thấy siêu phàm, là cái thấy thoát khổ, là cái thấy đưa đến sự xuất ly, rời xa, thoát ra, giải thoát.

Hằng ngày chúng ta tu tập thiền quán, tư duy thiền tập hay nghe pháp là nhằm tưới tẩm, nuôi dưỡng, phát triển làm cho chánh tri kiến được tỏa sáng, chiếu sáng, bừng sáng, rực sáng. Trong mọi lúc mọi nơi phải nhìn bằng cái nhìn của trí tuệ bậc Thánh trong năm thủ uẩn này thì cái nhìn đó mới giúp mình diệt tận được khổ đau, mới giúp mình rời xa, thoát ra, không tham muốn, không nắm giữ. Nếu không có cái nhìn này thì không thể nào thoát ra khỏi sự chấp thủ, không cách nào rời xa, không thể nào hướng đến sự từ bỏ cho nên chỉ cần thể nhập chánh kiến đã là Nhập Lưu Thánh quả thứ nhất và tất cả sự tu của chúng ta là nhằm thể nhập cái thấy biết này.

Cần phải tác ý thường xuyên và liên tục để nhắc nhở mình, thiền quán, tư duy, nếu không thì cả đời tu rất uổng phí, cứ chạy theo những cái đáng yêu, đáng thích, vừa lòng, cứ chạy theo những cái liên hệ đến sự ham muốn, thu hút, hấp dẫn rồi tán thưởng trong đó, nắm chặt trong đó, đặt để thân tâm trong đó thì chúng ta sẽ đau khổ trong đó.

Sự tập khởi của ham muốn là sự tập khởi của khổ đau, sự tập khởi của dục hỷ là sự tập khởi của khổ đau. Sự diệt tận ham muốn là sự diệt tận khổ đau, sự diệt tận dục hỷ là sự diệt tận khổ đau. Ngoài ra cần phải nhớ thường xuyên quán chiếu sự nguy hiểm và tác hại của sắc này, sự nguy hiểm và tác hại của dục này, của tham ái này. Những bài báo, những tin tức hằng ngày đưa tin chém nhau, giết nhau, tạt A-xít, đánh nhau.. là những sự thật nhan nhản trước mắt cho nên phải nhìn sâu sắc sự nguy hiểm và tác hại của ham muốn, của những dục vọng.

Chúng ta an trú một đời sống ít muốn biết đủ, rời xa các dục, rời xa những sự ham muốn, đặt tâm đúng hướng để hướng đến sự rời bỏ, thoát ra, hướng đến sự rời xa, xuất ly. Đó là hướng của Niết-bàn, là hướng của giải thoát, hướng của giác ngộ, còn tâm chúng ta chưa đặt đúng hướng, chưa xác quyết trọn vẹn thì chúng ta sẽ luẩn quẩn, loanh quanh, như con kiến bò miệng chén lòng vòng rồi cũng trở về chỗ cũ.

"Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỳ-kheo, khởi điểm không thể nêu rõ đối với lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương IV. Tương Ưng Vô Thỉ (Anamatagga), I. Phẩm Thứ Nhất, I. Cỏ Và Củi)

Không thể nêu rõ được khởi điểm đầu tiên chúng sanh bị vô minh không thấy không biết về năm uẩn che đậy, chúng sanh bị sự tham ái, yêu thích trong năm uẩn trói cột. Dù cho trái đất có tan hoại, đổ vỡ, nước biển có cạn kiệt, bảy mặt trời xuất hiện nhưng sự đau khổ của chúng sanh vẫn không chấm dứt vì không thấy không biết nguyên nhân của khổ, con đường diệt khổ rồi mình tiếp tay cho những thứ khổ mà mình không hay biết, chính là những cảm giác thúc giục, những suy nghĩ, hình bóng trong tâm. Phải nhìn thấy nó, nhiếp phục, chế ngự và đoạn tận nó, thoát ra khỏi nó.

Khi thấy được như vậy, tu được như vậy, thực hành được như vậy thì mình mới có thể dấn thân để độ chúng sanh, để giúp mọi người một cách hồn nhiên, tùy duyên, nhẹ nhàng, không dính mắc, không mong cầu, không chấp thủ, thậm chí mất mạng cũng cảm ơn vì được giải thoát khỏi thân đau khổ, nhơ nhớp và đầy sợ hãi này, như vậy là đại viên mãn. Chính vì có cái nhìn như vậy, cái thấy như vậy, thực hành như vậy nên ngài mới độ được hàng ngàn đệ tử chỉ trong vòng ba tháng, các ngài là bậc Thánh Tăng nên độ là chắc chắn, còn mình độ nhưng không đủ trí tuệ, không đủ từ bi, không thấy biết rõ tâm thức chúng sanh. Các ngài làm nhẹ nhưng kết quả rất sâu sắc dài lâu, còn mình không thành tựu chánh tri kiến nên làm nhiều mồ hôi nước mắt, bỏ tâm huyết suy tư nhưng kết quả cuối cùng là nước mắt, buồn giận, sầu đau. Cho nên việc làm trong chánh kiến và việc làm trong sự không thấy không biết vô minh khác nhau rất xa.

Ngài Phú-lâu-na nhập Niết-bàn chứ không sanh về đâu cả, không đi trong sáu nẻo luân hồi địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, A-tu-la, trời, người. Ngài thể nhập vào thế giới của bất tử, của đại bình an tuyệt đối, cứu cánh cùng cực, xả ly ngũ uẩn, thoát khỏi khổ đau, diệt tận tất cả sanh tử luân hồi. Ngài thoát ra khỏi vòng quay của sống chết, vòng quay của tham, sân, si, vòng quay của bản ngã, vô minh, khát ái, thèm thuồng. Ngài hoàn toàn tịch tịnh, không còn mong muốn bất cứ một cái gì trên cõi đời này nữa, tâm ngài hoàn toàn lắng dịu, tịch tịnh tối thượng.

./.