Nhận Diện Thân Tâm 9
Tinh Hoa Nikāya
Nhận Diện Thân Tâm 9
Thích Minh Thành
I. Cảm thọ
Vì chúng ta mới tiếp xúc với tinh thần của kinh tạng Nikāya cho nên chúng ta sẽ không quá đào sâu vào những vấn đề mà mình tìm hiểu với tính cách căn bản trí tuệ, những định lý nền tảng vì đào sâu thì sẽ rối. Chúng ta sẽ đi chậm và chắc từng bước để chúng ta có thể nắm bắt và hiểu rõ trong thời gian này, chúng ta cần phân biệt cảm thọ thân và cảm thọ tâm.
Cảm thọ thân là giống như bây giờ mình ngồi xe ra Trúc Lâm Yên Tử, muốn lên đến chùa phải trải qua cả ngày ngồi xe mệt mỏi, có khi không ngủ được, đó là thọ thân là khổ thọ vì mệt mỏi, vất vả vì đường xa nhưng khi đến Trúc Lâm Yên Tử thì thọ tâm là lạc thọ, vui mừng, thích thú, mình đã đến nơi rồi. Như vậy cái thân là mệt mỏi nhưng tâm thì hoan hỉ, vui sướng, đó là sự khác nhau giữa thọ thân và thọ tâm.
Chúng ta chuẩn bị đại giới đàn thuyền hoa, quý thầy, quý huynh đệ qua thiền viện công quả, làm đổ mồ hôi ướt áo mệt mỏi nhưng khi nhìn vào giới đàn trang nghiêm, thanh tịnh thì hoan hỉ, dù mệt nhưng nhìn thấy vui, cái thân làm mệt nhưng tâm nhìn giới đàn thì hạnh phúc, như vậy thọ thân là khổ, còn thọ tâm là lạc. Ví dụ ngược lại là khi mình đang ăn món ăn rất ngon nhưng trong lòng đang có chuyện buồn như người nhà nhiễm bệnh hoặc người nhà bị tai nạn thì ăn không còn ngon nữa, như vậy thân là lạc thọ nhưng tâm lại khổ thọ.
Sau đây là ví dụ từ thọ tâm ảnh hưởng qua thọ thân, ví dụ mình đang có cảm giác hoan hỉ, nhẹ nhàng nhưng do có công việc phải ra đường giữa trưa nắng, lúc đầu ra đường thì không sao nhưng nửa tiếng sau thì mồ hôi chảy ra, trời nắng gắt nên thân khó chịu, tâm bị ảnh hưởng theo nên bức xúc, không còn hoan hỉ, nhẹ nhàng như khi còn trong phòng mát nữa, trời nắng ảnh hưởng đến thân.
Nếu không tu tập, không nhiếp phục, chế ngự cảm thọ thân thì từ cảm thọ thân đó sẽ xâm chiếm qua cảm thọ tâm, làm cho tâm khó chịu, bức xúc, ngoài thân thì bực, trong tâm thì nực, trở thành bực bội, bứt rứt, đó là từ cảm thọ thân ảnh hưởng qua cảm thọ tâm. Lúc làm mệt thì quạu, lúc buồn ngủ mà bị kêu đi làm việc thì dễ nổi sân, cho nên không có sự chánh niệm và tỉnh thức, nhiếp phục và chế ngự các cảm thọ thì dễ dàng từ thọ thân chuyển qua thọ tâm mà mình không hề hay biết.
Ngược lại mình đang bực bội, khó chịu mà có người mời đi du lịch miễn phí, mời ăn món ngon thì tự động thấy thoải mái, như vậy là từ thọ thân chuyển biến thọ tâm, vì thế trong cảm thọ này có rất nhiều góc độ, khía cạnh, phải có chánh niệm tỉnh giác quán chiếu nhận diện các cảm thọ thì từ từ chúng ta mới nhận ra được cảm thọ. Nó rất đa dạng, nhiều khía cạnh, góc độ, trường hợp, nếu chúng ta không có trí tuệ nhìn ra nó thì bên trong nó sẽ biến hóa, sanh diệt liên tục, nó luôn ở trong trạng thái đổi dời, dịch chuyển, thiên lưu. Như vậy là chúng ta phân biệt được cảm thọ thân, cảm thọ tâm, cảm thọ tâm ảnh hưởng qua cảm thọ thân và cảm thọ thân làm thay đổi cảm thọ tâm.
II. Nhận diện ngũ uẩn
Dạ, Mô Phật. Bạch thầy nhận diện ngũ uẩn để làm gì ạ?
Dạ, Mô Phật. Bạch thầy giáo thọ, kính chúc thầy thân tâm an lạc, trí tuệ thường chiếu, Phật sự viên thành. Con xin được phép hỏi thầy giáo thọ một câu mà con còn hoài nghi, câu hỏi đó là: Là thiền sinh đang tu tập theo thiền phái Trúc Lâm, chúng con nên hay không nên tu tập theo vô ngã. Ý con là có nên tu vô ngã trước rồi hướng chân tâm sau hay sao ạ? Kính xin thầy giải đáp cho con được thông suốt, con thành tâm cảm niệm ân đức của thầy nhiều ạ.
Câu hỏi nhận diện ngũ uẩn để làm gì là rất quan trọng, Minh Thành có chia sẻ nhiều bài giải thích vấn đề này, trước giờ khi chúng ta chia sẻ với nhau Minh Thành cũng đã nói nhiều lần. Ngũ uẩn chính là thân và tâm chính mình, như vậy nhận diện ngũ uẩn để rõ biết thân tâm của mình một cách chính xác, chân thật. Chúng ta quen hướng ngoại, mắt luôn hướng ra sắc, lỗ tai hướng ra âm thanh, mũi thì theo mùi, lưỡi hướng theo vị, thân xúc chạm, thân thì hướng ngoại theo pháp trần, những hình bóng, cảm giác, suy nghĩ, còn bây giờ sự nhận diện ngũ uẩn là quay lại nhìn chính mình, hướng nội chứ không còn hướng ngoại nữa.
Quay lại nhìn mình, tìm hiểu mình, rõ biết chính mình, nếu không nhận diện ngũ uẩn mà mình nói là mình tu tâm thì thật sự là chưa chính xác. Mình có biết mình là gì đâu, mình không biết tâm là gì thì làm sao tu tâm? Có nhiều Phật tử khóc, họ tụng Bát Nhã Tâm Kinh bốn mươi năm mà không biết ngũ uẩn là gì, không biết thọ; tưởng; hành; thức là gì, đến khi nghe pháp này mới biết ngũ uẩn là gì nên họ xúc động, tràn dâng nước mắt. Từ khi học được lời dạy của Đức Phật trong kinh Nikāya thì họ vỡ òa, từ đó mới thật sự thấy được nội tâm của mình, thấy được những suy nghĩ, cảm giác, hình bóng, nhận thức trong tâm, từ đó mới phát hiện ra những rác bẩn, uế nhiễm trong tâm.
Nếu mình không đọc được những suy nghĩ, cảm giác, hình bóng đó thì mình sẽ không thấy được tâm mình một cách chính xác, rõ ràng, mình càng không thấy được tâm cấu nhiễm dơ bẩn như thế nào, càng không thấy hang ổ, sào huyệt của tham, sân, si. Nếu không nhận diện ngũ uẩn mình chỉ thấy tham, sân, si ngoài da thôi, mình chỉ thấy nó sau khi nó đã hoành hành bá đạo, sau khi nó đã làm khổ mình, sau khi nó đã đem đến hậu quả khốc liệt thì mình mới biết thì đã muộn lắm rồi.
Còn khi đã nhận diện ngũ uẩn mình sẽ thấy được hang ổ, sào huyệt của nó nằm trong thọ uẩn, nằm trong những cảm xúc, cảm giác thiêu đốt, thúc giục, thèm khát, khát ái. Mình nhìn ra được căn nguyên, cội rễ, nguồn gốc của tham, sân, si từ trong những cảm giác, nghĩ tưởng, từ đó mình mới ra tay, dụng công, hạ thủ bằng những phương pháp thiện xảo, khéo léo được Đức Phật dạy trong ba mươi bảy phẩm trợ đạo, nhất là như lý tác ý, thiền định, thiền tuệ, thiền chỉ, thiền quán.
Không nhận diện ngũ uẩn thì tâm mình là một đống xà bần, Đức Phật gọi là tổ kén, đống chỉ rối bời, còn khi nhận diện thì thấy ra được đâu là thọ, đâu là tưởng, đâu là hành. Cho nên nhận diện ngũ uẩn để thấy được thân tâm cấu nhiễm, rác bẩn, ô uế, từ đó mới ra công dụng hạnh để làm vệ sinh, tẩy sạch những cấu nhiễm đó làm cho thân tâm được trong sạch, thành tựu cứu cánh phạm hạnh.
III. Vô ngã
Câu tiếp theo hỏi về vô ngã thì xin thưa quý thầy vô ngã là trái tim của đạo Phật, bất cứ tông phái nào cũng đều phải tu vô ngã. Chúng ta nhớ câu chuyện về ngài Lục tổ, có một vị Tăng tên Pháp Đạt đến lễ lạy ngài nhưng đầu không chạm đất.
Tổ lại hỏi: Ông tên gì ?
Pháp Đạt thưa: Tên Pháp Đạt.
Tổ bảo: Ông tên Pháp Đạt mà đâu từng đạt pháp.
Vị Tăng này đã tụng ba ngàn bộ Pháp Hoa rồi nên trong tâm sinh hoài nghi không biết người mình lễ lạy có tu hành bằng mình không nên lạy đầu không chạm sát đất. Tổ bảo nếu ông tụng kinh mà hiểu được ý kinh, diệt trừ được bản ngã thì cùng ta sánh vai, còn tụng kinh mà tăng trưởng thêm cái tôi, ta, cái cao ngạo, bản ngã thì trở thành kẻ thù đối với kinh. Có ngã thì tội liền sanh, quên công thì phước vô tỉ.
Xin thưa các thầy, về thiền thì con nằm lòng bao nhiêu ngàn công án, biết bao bài kệ, công án con đều nằm lòng. Con đã dịch biết bao tác phẩm của thiền tông, từ Lâm Tế Ngữ Lâm cho đến Tông Môn Thập Quy Luận của ngài Pháp Nhãn, con đọc vào cả Hán Tạng chứ không phải đọc chữ Việt. Bây giờ con không chia sẻ những vấn đề ngoài kinh Nikāya cho nên có duyên thì gợi lên một chút còn cái này nên hỏi các bậc tôn đức thượng thủ, nhưng phải thấy rằng tinh thần vô ngã là xuyên suốt trong Phật giáo.
Trong quyển Nghi thức tu học Nikāya có phần sám hối diệt ngã nên cần đọc thật kĩ và nghiền ngẫm trong đó, tu cái gì không biết nhưng tu mà cái tôi càng lớn, cái ta càng bự, bản ngã càng to thì người đó đã đi lạc đường, đi sai đường, tu rồi thấy bản thân cao cao tại thượng không ai bằng thì đó là sự thất bại.
Theo tinh thần của Đức Phật trong tạng kinh Nikāya thì con xin thưa quý thầy là trong Tăng Chi Bộ đã ghi lại sau mùa an cư thì ngài Xá-lợi-phất đi đến một nơi khác. Khi ngài vừa đi thì có một vị Tỳ-kheo khác đến nói với Đức Thế Tôn rằng ngài Xá-lợi-phất xúc phạm vị Tỳ-kheo đó mà không hề xin lỗi. Đức Thế Tôn cho mời ngài Xá-lợi-phất đến, ngài Ananda nghe tin như vậy đã đi gõ cửa từng phòng để thông báo cho các vị Tỳ-kheo khác biết rằng hôm nay họ sẽ được nghe tiếng gầm của con sư tử trước mặt Đức Như Lai.
Sau khi Tăng chúng đã tập hợp thì Đức Phật hỏi ngài Xá-lợi-phất có một vị Tỳ-kheo nói rằng ngài xúc phạm ông ấy mà bỏ đi không xin lỗi, chuyện này có hay không. Ngài Xá-lợi-phất nói rằng đối với những ai không tu tập Thân Hành Niệm, không có niệm thân thì mới có chuyện xúc phạm người khác rồi bỏ đi mà không xin lỗi, còn tâm của ngài đã từ rất lâu an trú như đất rộng lớn, quảng đại, bao dung, vô lượng vô biên thì làm sao ngài có thể xúc phạm người khác mà bỏ đi không xin lỗi.
Đã từ lâu ngài an trú tâm như gió rộng lớn, bao dung, không hận không sân thì làm sao có thể xúc phạm người khác rồi bỏ đi không xin lỗi. Với những ai không tu tập Thân Hành Niệm, không quán chiếu thân tâm thì người đó mới xúc phạm người khác rồi bỏ đi, còn tâm ngài từ lâu an trú như nước mát mẻ, thanh lương, vô lượng, không hận không sân với bất kì ai thì làm sao lại xúc phạm người khác rồi bỏ đi.
"Rồi Tôn giả Sàriputta đi đến Thế Tôn, sau khi đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên Thế Tôn, nói với Tôn giả Sàriputta đang ngồi xuống một bên:
- Ở đây, này Sàriputta, một đồng Phạm hạnh có điều bất mãn với Thầy: 'Bạch Thế Tôn, Tôn giả Sàriputta xâm phạm con đã bỏ đi du hành, không có xin lỗi con'.
- Thật vậy, bạch Thế Tôn, với ai không an trú thân niệm trên thân, người ấy, ở đây, sau khi xâm phạm một vị đồng Phạm hạnh, có thể bỏ đi du hành, không có xin lỗi". (Tăng Chi Bộ, 9. Chương Chín Pháp, II. Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử, bài Sau Khi An Cư)
Đã từ lâu ngài an trú tâm như lửa, đốt sạch những phiền não, cấu nhiễm tham, sân, si, không sân hận với bất cứ một ai, ngọn lửa trí tuệ Thánh trí vô ngã lúc nào cũng bừng sáng trong tâm thì làm sao có thể xúc phạm người khác rồi bỏ đi không xin lỗi. Cũng đã từ lâu ngài an trú tâm như nùi giẻ rách, như miếng vải lau chùi các đồ dơ bẩn, ngài từ lâu đã an trú tâm như người ăn xin không gia cấp trong đời này thì làm sao có thể xúc phạm người khác mà không xin lỗi.
Từ lâu ngài an trú tâm trong cái thân lủng lỗ, rỉ chảy ra những thứ bất tịnh, ngài nhàm chán cái thân bẩn thỉu này, tâm ngài rộng lớn, bao dung, vô lượng vô biên trong tâm từ thì làm sao có thể xúc phạm người khác mà bỏ đi không xin lỗi.
Như vậy ngài chí thượng thanh văn đã ở trước mặt Đức Thế Tôn gầm lên tiếng gầm của sư tử làm rúng động Thánh chúng. Ngài đã tuyên thuyết chín pháp an trú tâm, cái này được con giảng thành chín buổi, một buổi gần hai tiếng, đó là pháp hành của Linh Quy Pháp Ấn. Đó là chín pháp an trú tâm của bậc hiền trí, Thánh Tăng. Mỗi một câu như vậy là một pháp hành, ngài an trú tâm như đất, nước, gió, lửa, như nùi giẻ rách, như hẻ hạ tiện thấp hèn, như cục ghẻ lở rỉ chảy, an trú tâm như con bò bị cưa sừng, như gió.
Trước giờ người ta chỉ biết ngài Xá-lợi-phất là bậc trí tuệ đệ nhất nhưng lại không biết tại sao ngài Xá-lợi-phất lại trở thành bậc trí tuệ đệ nhất, bài kinh này nói lên nguyên nhân, pháp hành mà ngài trở thành bậc chí thượng thanh văn, tướng quân chánh pháp, tối thượng Thánh chúng có thể thay thế Đức Phật lãnh đạo Tăng đoàn, điều này được chính Đức Phật xác nhận.
"Rồi Thế Tôn nói với Tôn giả Mahamoggallana:
-- Này Moggallana, Ông đã nghĩ gì khi chúng Tỳ-kheo bị Ta đuổi?
-- Bạch Thế Tôn, khi chúng Tỳ-kheo bị Thế Tôn đuổi, con nghĩ như sau: Nay Thế Tôn sẽ được ít bận rộn, sẽ được an trú trong hiện tại lạc. Và từ nay con và Tôn giả Sariputta sẽ lãnh đạo chúng Tỳ-kheo.
-- Lành thay, lành thay, Moggallana. Này Moggallana, chỉ có Ta hay Sariputta và Moggallana mới có thể lãnh đạo chúng Tỳ-kheo được". (Trung Bộ Kinh, 67. Kinh Càtumà)
Chín pháp an trú tâm này được con khai triển hơn mười buổi pháp thoại và nó trở thành pháp hành thường xuyên của Linh Quy Pháp Ấn, chúng ta cần xem kĩ bài Đảnh lễ đức hạnh ngài Xá-lợi-phất trong quyển Nghi thức tu học Nikāya, trong đó là chín pháp quán của ngài để trở thành bậc hiền trí, Thánh đức.
IV. Cảm thọ không khổ không lạc
Dạ thưa thầy, con muốn hiểu thêm về cảm thọ không khổ không lạc và xin thầy cho ví dụ thực tiễn giúp ạ.
Trong Tiểu Bộ có bài Bahiya, Phật có nói "trong cái thấy chỉ là cái thấy", xin thầy giải thích thêm câu này. Con chân thành cảm ơn.
Minh Thành chỉ giải thích câu hỏi số 1, còn câu hỏi "trong cái thấy chỉ là cái thấy" thì khi nào học hết tạng Nikāya mới nói được, cái này là tiến sĩ trong khi mình đang học tiểu học. Chúng ta học không thành tựu vì chúng ta đòi cái đỉnh của chóp trong khi cái nền chưa có, đó là tham nên thất bại hoàn toàn. Cái tôi của mình làm mình không học được Thánh pháp, mình chỉ có thể học được nhân thiên pháp và thiện pháp thôi, để thể nhập được Thánh pháp trừ khi nào đạp đổ được cái tôi của mình, đánh gục được bản ngã thì mới học được Thánh pháp vô ngã.
Chúng ta học không thành công vì chúng ta đốt cháy giai đoạn, chúng ta đòi bay cao vươn xa, chưa học bò đã học chạy, đó là kinh nghiệm ba mươi năm trong chùa của con và con cũng đã từng như vậy. Cho nên ở đây chỉ trả lời câu số một về cảm thọ không khổ không lạc.
Hiện tại chúng ta đang ngồi đây vẫn có những vị có cảm thọ không khổ không lạc, tức là không thấy thích thú cũng không thấy chán ghét, thấy được được vậy thôi. Khi gặp một món đồ hoặc món ăn nào đó mà mình không thích cũng không ghét, chỉ thấy thường thường thì đó là bất khổ bất lạc thọ. Cảm thọ vui sướng và khổ sẽ ít hơn bất khổ bất lạc thọ và chúng ta thường bị nhấn chìm trong cảm thọ này vì nó làm cho chúng ta không nỗ lực, không tinh tấn, không thấy được sự nguy hại trong các hành.
Mình nghĩ rằng hôm nay như vậy thì ngày mai cũng vậy, ngài kia cũng sẽ như vậy, nửa tháng sau cũng vậy, hoàn toàn không phải vậy mà tất cả các hành đều đang dịch chuyển, biến hoại. Mình phải quán sự nguy hiểm và tác hại của vô thường, con thường giải thích chữ vô thường nghĩa là đột ngột, đột quỵ, đột tử, đột biến là để phá cảm thọ trơ trơ. Tất cả mọi thứ đều có thể đột ngột biến đổi, đang ngồi đây vui cười nhưng trở ra có thể bị té bong gân hoặc bị tai biến mạch máu não, liệt nửa thân người.
Chỉ có quán như vậy mới phá được cảm giác trơ trơ, thường thường, phá vỡ suy nghĩ đó, cảm giác đó, Đức Phật nói cảm thọ bất khổ bất lạc là vô minh tùy miên, si tùy miên trong đó, tùy miên nghĩa là nó đi theo miên man trong đó, nó ngủ ngầm trong đó, tiến cũng không tiến, mà lùi cũng không phải lùi, ngày nào cũng đều đều như vậy. Nghe pháp không có cảm xúc, cảm thọ gì cả, không chịu tiến bộ lên, nghe thì nghe vậy thôi chứ không có sự khát ngưỡng, mong chờ, cần cầu.
Hôm nào có cúng Trai Tăng mười món thì lên ngồi hoan hỉ, hôm nào lên thấy một món là không hoan hỉ, hôm nào có ba bốn món thì thấy bình thường, không phấn khởi cũng không chán ghét, cứ đều đều, lên ăn thì ăn thì đó là bất khổ bất lạc thọ. Mình tu là phải phá cảm giác này, nếu cứ trú trong cảm giác này là tu không có tiến bộ, phải quán chiếu sự nguy hiểm và tác hại của tất cả các hành.
"Tất cả hành vô thường
Với Tuệ, quán thấy vậy
Ðau khổ được nhàm chán;
Chính con đường thanh tịnh"
(Kinh Pháp Cú 20 – Phẩm Đạo, kệ 277)
"Tất cả pháp vô ngã,
Với Tuệ quán thấy vậy,
Ðau khổ được nhàm chán
Chính con đường thanh tịnh"
(Kinh Pháp Cú 20 – Phẩm Đạo, kệ 279)
Chỉ có nhàm chán thì mới có ra con đường thanh tịnh, còn nếu chỉ muốn như vầy hoài, cảnh vật xung quanh cũng vậy hoài thì làm sao có ra con đường thanh tịnh. Mình phải quán chiếu nơi này bất thình lình sẽ bị động đất chôn vùi mọi thứ, quán chiếu bị tai nạn giao thông để phá si mê, phá cảm giác đơ đơ để làm mình khiếp sợ, chấn động trước cái vô thường, phải đưa mình vào những tình huống nguy hiểm thì mới phá được cảm thọ trơ trơ đó, nếu không thì cứ đều đều, thường thường như vậy hoài, cứ lê lếch tấm thân lên ngồi thiền, rề rề như thây ma, không có chút sinh khí sinh lực gì cả, Đức Phật nói trong người lúc nào cũng phải nhiệt tâm tinh cần, chánh niệm tỉnh giác. Nhiệt tâm là có một trái tim nóng bỏng trong cả pháp học lẫn pháp hành, nhiệt là nóng, tâm là tim, đó là trái tim nóng bỏng, một cái tâm lúc nào cũng nhiệt thành, tha thiết, quyết tâm quyết tử.
V. Câu hỏi về ngũ uẩn
Nhận diện ngũ uẩn thuộc về uẩn nào trong năm uẩn? Từ đâu mà sanh ra thọ khổ và thọ lạc?
Con xin thưa cái nhận diện ngũ uẩn không thuộc về ngũ uẩn. Cái thấy biết được cái đó là sắc; thọ; tưởng; hành; thức thì nó không phải là sắc; thọ; tưởng; hành; thức, đó là Thánh trí của Đức Phật. Cái trí thấy ra được đó là thọ thì nó không phải là thọ, vì không phải là thọ nên mới biết ra được đó không phải là thọ cho nên trong kinh Đức Phật nói rõ biết là thức, trí là phải do tu tập, cái trí này được thành tựu là nhờ Đa văn Thánh đệ tử, những người đệ tử của Đức Phật là người nghe nhiều về sự thật của Thánh pháp. Khi đã nghe nhiều, tư duy, quán sát thì mình sẽ thành tựu một loại trí tuệ, trí tuệ đó của bậc Thánh gọi là Thánh trí ngũ uẩn, khi đã nhìn được cái đó là thọ; tưởng; hành; thức thì cái thấy biết đó không phải là ngũ uẩn.
Từ đâu sanh ra thọ khổ và thọ lạc? Đức Phật đã nói do có thân này, tất cả cảm thọ xuất phát từ nơi thân, Đức Thế Tôn đã nói do có chân nên mới có đi lại, do có mắt nên mới nhìn ngó, do có tay nên mới cầm nắm, do có bụng nên có đói khát, nếu không có chân thì không có đi lại, không có mắt thì không có nhìn ngó, không có bụng thì không có đói khát, cho nên có thân mới sanh ra những cảm thọ ở nơi thân.
"Nếu có các tay, này các Tỳ-kheo, thời có thấy lượm lên và đặt xuống. Nếu có chân, thời có thấy đi tới và đi lui. Nếu có tay chân, thời có thấy co lại và duỗi ra. Nếu có bụng, thời có thấy đói và khát.
Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, nếu có mắt và do duyên nhãn xúc, thời khởi lên nội lạc, nội khổ... Nếu có ý, do duyên ý xúc thời khởi lên nội lạc, nội khổ.
Nếu không có các tay, này các Tỳ-kheo, thời không có thấy lượm lên và đặt xuống. Nếu không có chân, thời không có thấy đi tới và đi lui. Nếu không có tay chân, thời không có thấy co lại và duỗi ra. Nếu không có bụng, thời không có thấy đói và khát.
Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, nếu không có mắt, không có duyên nhãn xúc, thời không khởi lên nội lạc, nội khổ... Nếu không có lưỡi, không có duyên thiệt xúc, thời không khởi lên nội lạc, nội khổ... Nếu không có ý, không có duyên ý xúc, thời không khởi lên nội lạc, nội khổ". (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (f), Phần Bốn - Năm Mươi Kinh Thứ Tư, III. Phẩm Biển, bài Ví Dụ Tay Và Chân)
Nếu mình không ăn gì cả thì làm sao có cảm thọ do thiệt xúc sanh, làm sao có cảm thọ vui sướng khi ăn ngon như vậy cảm thọ đặt nền tảng trên tấm thân này.
Mô Phật. Kính bạch thầy lâu nay con nghe nói thức phân biệt mà chưa nghe nói thức rõ biết. Xin thầy giải thích rõ về hai thức này.
Xin thầy nói rộng về bản ngã và phương pháp diệt trừ. Con cảm ơn ạ.
Những gì con nói đều nằm trong kinh Nikāya, không bàn luận những gì ngoài kinh Nikāya. Trong kinh Nikāya định nghĩa thức là sự rõ biết, mình y cứ theo đó thôi, còn khi nhận diện ngũ uẩn những sự suy tính này nọ là thuộc về hành. Ví dụ khi nghe tiếng chuông thì mình nghĩ rằng "cái chuông ở đâu mà tiếng nghe hay vậy", "tiếng chuông này nghe ngân hơn, đặc biệt hơn" thì đó là hành uẩn, nó phân biệt cái này với cái kia, cho nên suy nghĩ phân biệt, hơn thua, đúng sai là hành, còn rõ biết tiếng chuông của nhĩ thức là thức, đó là theo tinh thần của kinh Nikāya.
Còn nói rộng về bản ngã và cách diệt trừ thì chúng ta phải học thêm rất nhiều, bây giờ chưa đi chuyên đề được nhưng con muốn chúng ta phải thành tựu trí tuệ căn bản rồi mới đi vào kinh được. Khi đã nắm vững được căn bản trí này rồi chúng ta sẽ đi vào kinh, khi học đến bài kinh này thuộc về phá ngã thì chúng ta sẽ khai triển rộng hơn, hiện tại chúng ta có thể đọc bài Sám hối diệt ngã, đó là tinh túy quan trọng nhất trong phá ngã. Bài sám hối diệt ngã này con có chia sẻ thành mười hai buổi, mỗi buổi gần hai tiếng, có cả pháp học lẫn pháp hành.
Dạ thưa thầy, pháp tưởng – pháp tư khác nhau thế nào với sắc; thanh; hương; vị; xúc, sắc tưởng; thanh tưởng; hương tưởng; vị tưởng, sắc tư; thanh tư; hương tư; vị tư; xúc tư?
Những cái này đi rất sâu, con sợ quý thầy sẽ bị rối cho nên chúng ta chỉ phân biệt những cái căn bản thôi. Bây giờ quý thầy nhìn lên bàn tay đang cầm viên phấn thì cánh tay cầm viên phấn và sắc, âm thanh con đang nói ra là thanh, có mùi của viên phấn là hương, có vị của viên phấn, tay chạm phấn là xúc. Bây giờ pháp là gì? Cảm thọ của quý thầy từ nãy giờ là lạc, trong tâm có hình bóng của viên phấn là tưởng, hành có suy nghĩ xung quanh việc này, đó là sắc; thanh; hương; vị; xúc; pháp.
Chút nữa về phòng nhớ lại hình bóng bàn tay cầm viên phấn, có cảm thọ vui và có suy nghĩ "sao giống niêm hoa vi tiếu vậy", đó chính là pháp. Sắc; thanh; hương; vị; xúc là những thứ bên ngoài, những cái thấy, nghe, ngửi, nếm, đụng chạm là năm thứ ngoại trần, còn pháp trần mới là thứ làm mình mệt mỏi. Mình nghe tiếng chửi chừng ba mươi giây thôi nhưng khi về nhà thì hình bóng, cảm giác, suy nghĩ về những câu nói đó có khi kéo dài ba chục ngày, đó là pháp trần bên trong nội tâm, những hình bóng, suy nghĩ, cảm giác cứ âm ỉ, tiếp diễn trong tâm hoài.
Đến đây vẫn chưa xong, khi về nhà mới suy nghĩ lại những suy nghĩ lúc đó rồi tưởng thêm ra những cái khác, khi tưởng ra như vậy thì có thêm cái thọ mới, như vậy là hết thọ; tưởng; hành này lại đến thọ; tưởng; hành khác nối đuôi nhau sanh khởi. Nghĩa là sau khi đã thấy, đã nghe, đã ngửi, đã nếm, đã đụng chạm rồi mình trở về hồi tưởng lại, suy nghĩ lại những cái đó, tiếp tục có ra những cảm giác mới, những suy nghĩ mới, những hình bóng mới, chúng nó liên tục sanh khởi như vậy nên gọi là chúng sanh, chúng nó chính là thọ; tưởng; hành. Vậy là mình thấy rõ được ngũ trần ở bên ngoài và pháp trần ở bên trong.
Bất ngờ được mời đi uống café Starbucks, mình thấy màu sắc của café, nghe âm thanh pha café, mùi café thơm lừng, nếm vị café vô cùng độc đáo. Đến khi trở về ngồi thiền thì hình bóng ly café thương hiệu quốc tế hiện ra, mùi vị thơm ngon hiện ra, có suy nghĩ muốn uống nữa, vậy là tiếp tục sanh ra thọ; tưởng; hành thứ hai, thứ ba, thứ tư… Mình uống ly café có khi chỉ mười lăm phút thôi nhưng có khi ba tháng sau vẫn còn nhớ là do pháp tưởng, pháp tư làm việc liên tục. Trong đây có căn – trần – thức – xúc – thọ – ái và thậm chí là thủ, sanh tử là có cái pháp đó sanh khởi trở lại nữa, nó tái diễn, tái sanh để lặp lại như vậy nữa, đối với thân xác này cũng giống như vậy.
Nếu nghĩ về hình ảnh thiện hay ác là sắc tưởng là pháp tưởng?
Sắc tưởng là mình hồi tưởng lại hình bóng của một cái gì đó, còn pháp tưởng là hồi tưởng cả năm thứ sắc; thanh; hương; vị; xúc. Ví dụ mình ra giới đàn thấy nguy nga, trang nghiêm, huy hoàng, khi trở về tối ngồi thiền thì hình bóng giới đàn hiện ra lại trong tâm thì đó là sắc tưởng, mặc dù phân biệt thì như vậy nhưng các pháp khác sẽ cùng chung xuất hiện. Khi xuất hiện như vậy thì mình có thấy được những âm thanh, mùi vị, sự tiếp xúc của mình ở giới đàn không? Có sự tiếp xúc của nhãn xúc, nhĩ xúc, thân xúc, như vậy sắc tưởng là hồi tưởng lại hình bóng của sắc pháp đó, còn pháp tưởng là hồi tưởng lại cả sắc; thanh; hương; vị; xúc. Pháp tưởng có phạm vi rất rộng, còn sắc tưởng bị hạn chế trong sự hồi tưởng lại hình sắc thôi.
Chúng ta cần nắm vững những nền tảng căn bản, trong sự tu học này cần đi thật chậm và chắc, chúng ta đừng ham vươn cao với xa. Thứ nhất chúng ta phải nhận diện được năm uẩn chính xác, rõ ràng, minh bạch thì đó đã là một trí tuệ tuyệt vời ở bước đầu trong giai đoạn này. Thứ hai chúng ta tập an trú cảm giác toàn thân là cái con đã giới thiệu với mọi người trong buổi đầu vào lớp, phải thường xuyên để ý cảm giác của toàn bộ cơ thể, an trú cảm giác toàn thân gọi là định tâm trên thân để phát giác ra tham, sân, si trú ẩn trong cảm thọ.
Thứ ba là cần như lý tác ý, sau khi thấy những cấu nhiễm, những tham, sân, si, bản ngã đó thì cần tác động tâm ý một cách mạnh mẽ để đánh đuổi nó ra khỏi thân tâm, không cho rắn mổ mang ở trong Tăng xá của mình, không cho rắn độc ở trong phòng của mình, không cho những cấu nhiễm làm ô uế nội tâm của mình.
Thứ tư là cần nhìn ra được duyên sanh pháp để thấy tất cả mọi thứ là đồ lắp ráp, là những mắc xích, không có một cái gì nguyên khối, không có tự thể, tự ngã, những gì ngoài tầm thấy, tầm nghe là không biết gì cả, cái thức này là duyên sanh, vô thường, có giới hạn nhỏ hẹp. Hãy nhìn cho thấu đáo bản chất của nó, đừng tin vào nó, nếu tin vào cái thấy, nghe, cảm xúc, suy nghĩ này là mình chết với nó.
"Sắc là kẻ giết người", người ấy không như thật biết rõ: "Sắc là kẻ giết người"; "Thọ là kẻ giết người"... "Tưởng là kẻ giết người"... "Các hành là kẻ giết người"... "Thức là kẻ giết người", người ấy không như thật biết rõ: "Thức là kẻ giết người". (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (e), IV. Phẩm Trưởng Lão, bài Ananda)
Chúng ta phải tập nhìn ra sự nguy hiểm của nó, sự gian trá và xảo ngụy của thọ; tưởng; hành; thức để từ từ mình có hướng rời xa, viễn ly, xuất ly. Chỉ có nắm thật vững những pháp này thì mới bắt đầu đi vào kinh tạng, từ ngày đầu học cho đến nay là chúng ta đang sửa soạn, chuẩn bị, không phải nói làm đường là đổ nhựa lên liền, phải trải qua nhiều công đoạn chuẩn bị mới làm được.
Bây giờ nói học kinh là mở kinh ra học thì có biết gì mà học, dù có biết cũng chỉ biết trên chữ nghĩa thôi, nếu không thành tựu ngũ uẩn, không thành tựu duyên sanh pháp, những sự quán chiếu về cảm thọ thì đọc vào kinh không thể hiểu hết được. Đối với thiền cũng như vậy, vào là ngồi thiền trong khi không biết tâm là gì, không thấy được sự sanh khởi, vận hành, hoạt động, xâm chiếm, áp đảo, mình không biết được guồng máy hoạt động của nó cho nên sự nhận diện ngũ uẩn là tuyệt đối quan trọng.
Mô Phật. Con bạch thầy con không biết sắc trong ngũ uẩn, sắc; thọ; tưởng; hành; thức và sắc trong lục trần, sắc; thanh; hương; vị; xúc; pháp là giống hay khác nhau gì không ạ. Con kính mong thầy giải thích giúp con. Cám ơn thầy.
Trong Nghi thức tu học Nikāya có định nghĩa về sắc là:
Thân người là Sắc (định nghĩa 1)
-Thân người, cảnh vật, đồ vật tứ đại là Sắc (định nghĩa 2)
Như vậy là sắc của ngũ uẩn và sắc; thanh; hương; vị; xúc; pháp là giống nhau. Những định nghĩa này là tinh túy của Đức Phật, tứ đại là cả địa cầu này đều là sắc cho nên ngũ uẩn là cả vũ trụ, vật chất và tinh thần không có gì nằm ngoài ngũ uẩn, bao nhiêu thái dương hệ, tam thiên, đại thiên thế giới cũng đều là sắc uẩn, sắc pháp, còn phần tâm là thọ; tưởng; hành; thức. Chỉ có bậc Đa văn Thánh đệ tử mới thành tựu Thánh trí tuệ nhìn thấu được ngũ uẩn.
Kính bạch thầy giáo thọ, chúng con là thiền sinh tu học tại thiền viện. Hằng ngày thiền sinh chúng con phải tụng kinh Bát Nhã Tâm Kinh, trong kinh có đoạn "chiếu kiến ngũ uẩn giai không" và "Thị chư pháp không tướng" nghĩa là tướng không của các pháp. Như vậy biết được các pháp nguyên là giả hợp, không thật, vậy cái biết được cái không thật đó có phải là tâm chân thật của mình không? Cái thấy được các pháp không thật đó có phải là tâm mình không? Gần đây thiền sinh chúng con đang ứng dụng pháp tu thiền tông, chỉ dụng, sân căn về một mối, có lúc được yên tĩnh thanh tịnh không diễn tả được và thường xuyên như vậy. Như vậy chúng con ứng dụng có đúng không, xin thầy chỉ dạy thêm. Nam mô bổn sư thích-ca Mâu-ni Phật.
Bát Nhã Tâm Kinh có đoạn "chiếu kiến ngũ uẩn giai không" và "Thị chư pháp không tướng" nghĩa là tướng không của các pháp. Cái biết này còn thường trực trong người mình không mất hay là lúc có lúc không? Nếu lúc có lúc không là không được, nếu cái biết đó thường trực không mất thì lúc đó mới gọi là chứng. Cho nên chứng đắc, chứng ngộ hay chứng đạo là trí tuệ đó thường trú trong tâm không mất đi, còn lúc có lúc không thì chỉ là sự thấy biết tạm thời, nhưng cái thấy biết giả hợp, không thật thì cái thấy đó là đúng hay không, hay là cái thấy do mình suy tưởng thì còn thâm sâu hơn nữa. Có khi mình tưởng là mình biết nhưng không phải vậy, mình biết bằng cái tưởng cho nên trong kinh Nikāya phân ra đến mấy loại biết, tạm phân ra ba loại là tưởng tri, thức tri và tuệ tri.
Biết bằng tưởng tượng, biết bằng suy tưởng là tưởng rằng mình biết nhưng thật ra không phải cho nên mình hay nghe "tôi tưởng nó như vậy mà không phải vậy", đó chính là tưởng tri. Thức tri là biết bằng nhận thức, bằng kiến thức, tri thức, trí thức, có học hành, có kinh nghiệm, có sự từng trải nhưng cái biết bằng kinh nghiệm này không phải lúc nào cũng đúng, có khi nó thay đổi chứ không phải lúc nào cũng giống vậy cho nên biết bằng kiến thức, tri thức bị giới hạn nhỏ hẹp trong một phạm trù nhỏ nhưng cái biết bằng trí tuệ mới là cái biết tối thắng, cái biết bằng trí tuệ là cái mà chúng ta đang học là Thánh trí năm uẩn, đó là cái biết thấu suốt, tận cùng căn nguyên sanh diệt của thân tâm và thế giới, cái biết để đưa đến ly tham, sân, si, vô minh và bản ngã, đó là cái biết của trí tuệ.
Cái biết có khả năng chế ngự, nhiếp phục, đoạn tận và tẩy sạch tất cả những dục, tham, ái, sân si, vô minh và bản ngã thì đó là cái biết của bậc Thánh, tri kiến của bậc Thánh, đó là Thánh trí tuệ, là cái biết chúng ta đang học cho nên cần để ý kĩ chỗ này, chúng ta cứ nghĩ là mình biết nhưng thật ra là chưa biết, cần học thêm, tu thêm, quán chiếu thêm nữa.
./.
Nhận Diện Thân Tâm 9
Thích Minh Thành
I. Cảm thọ
Vì chúng ta mới tiếp xúc với tinh thần của kinh tạng Nikāya cho nên chúng ta sẽ không quá đào sâu vào những vấn đề mà mình tìm hiểu với tính cách căn bản trí tuệ, những định lý nền tảng vì đào sâu thì sẽ rối. Chúng ta sẽ đi chậm và chắc từng bước để chúng ta có thể nắm bắt và hiểu rõ trong thời gian này, chúng ta cần phân biệt cảm thọ thân và cảm thọ tâm.
Cảm thọ thân là giống như bây giờ mình ngồi xe ra Trúc Lâm Yên Tử, muốn lên đến chùa phải trải qua cả ngày ngồi xe mệt mỏi, có khi không ngủ được, đó là thọ thân là khổ thọ vì mệt mỏi, vất vả vì đường xa nhưng khi đến Trúc Lâm Yên Tử thì thọ tâm là lạc thọ, vui mừng, thích thú, mình đã đến nơi rồi. Như vậy cái thân là mệt mỏi nhưng tâm thì hoan hỉ, vui sướng, đó là sự khác nhau giữa thọ thân và thọ tâm.
Chúng ta chuẩn bị đại giới đàn thuyền hoa, quý thầy, quý huynh đệ qua thiền viện công quả, làm đổ mồ hôi ướt áo mệt mỏi nhưng khi nhìn vào giới đàn trang nghiêm, thanh tịnh thì hoan hỉ, dù mệt nhưng nhìn thấy vui, cái thân làm mệt nhưng tâm nhìn giới đàn thì hạnh phúc, như vậy thọ thân là khổ, còn thọ tâm là lạc. Ví dụ ngược lại là khi mình đang ăn món ăn rất ngon nhưng trong lòng đang có chuyện buồn như người nhà nhiễm bệnh hoặc người nhà bị tai nạn thì ăn không còn ngon nữa, như vậy thân là lạc thọ nhưng tâm lại khổ thọ.
Sau đây là ví dụ từ thọ tâm ảnh hưởng qua thọ thân, ví dụ mình đang có cảm giác hoan hỉ, nhẹ nhàng nhưng do có công việc phải ra đường giữa trưa nắng, lúc đầu ra đường thì không sao nhưng nửa tiếng sau thì mồ hôi chảy ra, trời nắng gắt nên thân khó chịu, tâm bị ảnh hưởng theo nên bức xúc, không còn hoan hỉ, nhẹ nhàng như khi còn trong phòng mát nữa, trời nắng ảnh hưởng đến thân.
Nếu không tu tập, không nhiếp phục, chế ngự cảm thọ thân thì từ cảm thọ thân đó sẽ xâm chiếm qua cảm thọ tâm, làm cho tâm khó chịu, bức xúc, ngoài thân thì bực, trong tâm thì nực, trở thành bực bội, bứt rứt, đó là từ cảm thọ thân ảnh hưởng qua cảm thọ tâm. Lúc làm mệt thì quạu, lúc buồn ngủ mà bị kêu đi làm việc thì dễ nổi sân, cho nên không có sự chánh niệm và tỉnh thức, nhiếp phục và chế ngự các cảm thọ thì dễ dàng từ thọ thân chuyển qua thọ tâm mà mình không hề hay biết.
Ngược lại mình đang bực bội, khó chịu mà có người mời đi du lịch miễn phí, mời ăn món ngon thì tự động thấy thoải mái, như vậy là từ thọ thân chuyển biến thọ tâm, vì thế trong cảm thọ này có rất nhiều góc độ, khía cạnh, phải có chánh niệm tỉnh giác quán chiếu nhận diện các cảm thọ thì từ từ chúng ta mới nhận ra được cảm thọ. Nó rất đa dạng, nhiều khía cạnh, góc độ, trường hợp, nếu chúng ta không có trí tuệ nhìn ra nó thì bên trong nó sẽ biến hóa, sanh diệt liên tục, nó luôn ở trong trạng thái đổi dời, dịch chuyển, thiên lưu. Như vậy là chúng ta phân biệt được cảm thọ thân, cảm thọ tâm, cảm thọ tâm ảnh hưởng qua cảm thọ thân và cảm thọ thân làm thay đổi cảm thọ tâm.
II. Nhận diện ngũ uẩn
Dạ, Mô Phật. Bạch thầy nhận diện ngũ uẩn để làm gì ạ?
Dạ, Mô Phật. Bạch thầy giáo thọ, kính chúc thầy thân tâm an lạc, trí tuệ thường chiếu, Phật sự viên thành. Con xin được phép hỏi thầy giáo thọ một câu mà con còn hoài nghi, câu hỏi đó là: Là thiền sinh đang tu tập theo thiền phái Trúc Lâm, chúng con nên hay không nên tu tập theo vô ngã. Ý con là có nên tu vô ngã trước rồi hướng chân tâm sau hay sao ạ? Kính xin thầy giải đáp cho con được thông suốt, con thành tâm cảm niệm ân đức của thầy nhiều ạ.
Câu hỏi nhận diện ngũ uẩn để làm gì là rất quan trọng, Minh Thành có chia sẻ nhiều bài giải thích vấn đề này, trước giờ khi chúng ta chia sẻ với nhau Minh Thành cũng đã nói nhiều lần. Ngũ uẩn chính là thân và tâm chính mình, như vậy nhận diện ngũ uẩn để rõ biết thân tâm của mình một cách chính xác, chân thật. Chúng ta quen hướng ngoại, mắt luôn hướng ra sắc, lỗ tai hướng ra âm thanh, mũi thì theo mùi, lưỡi hướng theo vị, thân xúc chạm, thân thì hướng ngoại theo pháp trần, những hình bóng, cảm giác, suy nghĩ, còn bây giờ sự nhận diện ngũ uẩn là quay lại nhìn chính mình, hướng nội chứ không còn hướng ngoại nữa.
Quay lại nhìn mình, tìm hiểu mình, rõ biết chính mình, nếu không nhận diện ngũ uẩn mà mình nói là mình tu tâm thì thật sự là chưa chính xác. Mình có biết mình là gì đâu, mình không biết tâm là gì thì làm sao tu tâm? Có nhiều Phật tử khóc, họ tụng Bát Nhã Tâm Kinh bốn mươi năm mà không biết ngũ uẩn là gì, không biết thọ; tưởng; hành; thức là gì, đến khi nghe pháp này mới biết ngũ uẩn là gì nên họ xúc động, tràn dâng nước mắt. Từ khi học được lời dạy của Đức Phật trong kinh Nikāya thì họ vỡ òa, từ đó mới thật sự thấy được nội tâm của mình, thấy được những suy nghĩ, cảm giác, hình bóng, nhận thức trong tâm, từ đó mới phát hiện ra những rác bẩn, uế nhiễm trong tâm.
Nếu mình không đọc được những suy nghĩ, cảm giác, hình bóng đó thì mình sẽ không thấy được tâm mình một cách chính xác, rõ ràng, mình càng không thấy được tâm cấu nhiễm dơ bẩn như thế nào, càng không thấy hang ổ, sào huyệt của tham, sân, si. Nếu không nhận diện ngũ uẩn mình chỉ thấy tham, sân, si ngoài da thôi, mình chỉ thấy nó sau khi nó đã hoành hành bá đạo, sau khi nó đã làm khổ mình, sau khi nó đã đem đến hậu quả khốc liệt thì mình mới biết thì đã muộn lắm rồi.
Còn khi đã nhận diện ngũ uẩn mình sẽ thấy được hang ổ, sào huyệt của nó nằm trong thọ uẩn, nằm trong những cảm xúc, cảm giác thiêu đốt, thúc giục, thèm khát, khát ái. Mình nhìn ra được căn nguyên, cội rễ, nguồn gốc của tham, sân, si từ trong những cảm giác, nghĩ tưởng, từ đó mình mới ra tay, dụng công, hạ thủ bằng những phương pháp thiện xảo, khéo léo được Đức Phật dạy trong ba mươi bảy phẩm trợ đạo, nhất là như lý tác ý, thiền định, thiền tuệ, thiền chỉ, thiền quán.
Không nhận diện ngũ uẩn thì tâm mình là một đống xà bần, Đức Phật gọi là tổ kén, đống chỉ rối bời, còn khi nhận diện thì thấy ra được đâu là thọ, đâu là tưởng, đâu là hành. Cho nên nhận diện ngũ uẩn để thấy được thân tâm cấu nhiễm, rác bẩn, ô uế, từ đó mới ra công dụng hạnh để làm vệ sinh, tẩy sạch những cấu nhiễm đó làm cho thân tâm được trong sạch, thành tựu cứu cánh phạm hạnh.
III. Vô ngã
Câu tiếp theo hỏi về vô ngã thì xin thưa quý thầy vô ngã là trái tim của đạo Phật, bất cứ tông phái nào cũng đều phải tu vô ngã. Chúng ta nhớ câu chuyện về ngài Lục tổ, có một vị Tăng tên Pháp Đạt đến lễ lạy ngài nhưng đầu không chạm đất.
Tổ lại hỏi: Ông tên gì ?
Pháp Đạt thưa: Tên Pháp Đạt.
Tổ bảo: Ông tên Pháp Đạt mà đâu từng đạt pháp.
Vị Tăng này đã tụng ba ngàn bộ Pháp Hoa rồi nên trong tâm sinh hoài nghi không biết người mình lễ lạy có tu hành bằng mình không nên lạy đầu không chạm sát đất. Tổ bảo nếu ông tụng kinh mà hiểu được ý kinh, diệt trừ được bản ngã thì cùng ta sánh vai, còn tụng kinh mà tăng trưởng thêm cái tôi, ta, cái cao ngạo, bản ngã thì trở thành kẻ thù đối với kinh. Có ngã thì tội liền sanh, quên công thì phước vô tỉ.
Xin thưa các thầy, về thiền thì con nằm lòng bao nhiêu ngàn công án, biết bao bài kệ, công án con đều nằm lòng. Con đã dịch biết bao tác phẩm của thiền tông, từ Lâm Tế Ngữ Lâm cho đến Tông Môn Thập Quy Luận của ngài Pháp Nhãn, con đọc vào cả Hán Tạng chứ không phải đọc chữ Việt. Bây giờ con không chia sẻ những vấn đề ngoài kinh Nikāya cho nên có duyên thì gợi lên một chút còn cái này nên hỏi các bậc tôn đức thượng thủ, nhưng phải thấy rằng tinh thần vô ngã là xuyên suốt trong Phật giáo.
Trong quyển Nghi thức tu học Nikāya có phần sám hối diệt ngã nên cần đọc thật kĩ và nghiền ngẫm trong đó, tu cái gì không biết nhưng tu mà cái tôi càng lớn, cái ta càng bự, bản ngã càng to thì người đó đã đi lạc đường, đi sai đường, tu rồi thấy bản thân cao cao tại thượng không ai bằng thì đó là sự thất bại.
Theo tinh thần của Đức Phật trong tạng kinh Nikāya thì con xin thưa quý thầy là trong Tăng Chi Bộ đã ghi lại sau mùa an cư thì ngài Xá-lợi-phất đi đến một nơi khác. Khi ngài vừa đi thì có một vị Tỳ-kheo khác đến nói với Đức Thế Tôn rằng ngài Xá-lợi-phất xúc phạm vị Tỳ-kheo đó mà không hề xin lỗi. Đức Thế Tôn cho mời ngài Xá-lợi-phất đến, ngài Ananda nghe tin như vậy đã đi gõ cửa từng phòng để thông báo cho các vị Tỳ-kheo khác biết rằng hôm nay họ sẽ được nghe tiếng gầm của con sư tử trước mặt Đức Như Lai.
Sau khi Tăng chúng đã tập hợp thì Đức Phật hỏi ngài Xá-lợi-phất có một vị Tỳ-kheo nói rằng ngài xúc phạm ông ấy mà bỏ đi không xin lỗi, chuyện này có hay không. Ngài Xá-lợi-phất nói rằng đối với những ai không tu tập Thân Hành Niệm, không có niệm thân thì mới có chuyện xúc phạm người khác rồi bỏ đi mà không xin lỗi, còn tâm của ngài đã từ rất lâu an trú như đất rộng lớn, quảng đại, bao dung, vô lượng vô biên thì làm sao ngài có thể xúc phạm người khác mà bỏ đi không xin lỗi.
Đã từ lâu ngài an trú tâm như gió rộng lớn, bao dung, không hận không sân thì làm sao có thể xúc phạm người khác rồi bỏ đi không xin lỗi. Với những ai không tu tập Thân Hành Niệm, không quán chiếu thân tâm thì người đó mới xúc phạm người khác rồi bỏ đi, còn tâm ngài từ lâu an trú như nước mát mẻ, thanh lương, vô lượng, không hận không sân với bất kì ai thì làm sao lại xúc phạm người khác rồi bỏ đi.
"Rồi Tôn giả Sàriputta đi đến Thế Tôn, sau khi đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên Thế Tôn, nói với Tôn giả Sàriputta đang ngồi xuống một bên:
- Ở đây, này Sàriputta, một đồng Phạm hạnh có điều bất mãn với Thầy: 'Bạch Thế Tôn, Tôn giả Sàriputta xâm phạm con đã bỏ đi du hành, không có xin lỗi con'.
- Thật vậy, bạch Thế Tôn, với ai không an trú thân niệm trên thân, người ấy, ở đây, sau khi xâm phạm một vị đồng Phạm hạnh, có thể bỏ đi du hành, không có xin lỗi". (Tăng Chi Bộ, 9. Chương Chín Pháp, II. Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử, bài Sau Khi An Cư)
Đã từ lâu ngài an trú tâm như lửa, đốt sạch những phiền não, cấu nhiễm tham, sân, si, không sân hận với bất cứ một ai, ngọn lửa trí tuệ Thánh trí vô ngã lúc nào cũng bừng sáng trong tâm thì làm sao có thể xúc phạm người khác rồi bỏ đi không xin lỗi. Cũng đã từ lâu ngài an trú tâm như nùi giẻ rách, như miếng vải lau chùi các đồ dơ bẩn, ngài từ lâu đã an trú tâm như người ăn xin không gia cấp trong đời này thì làm sao có thể xúc phạm người khác mà không xin lỗi.
Từ lâu ngài an trú tâm trong cái thân lủng lỗ, rỉ chảy ra những thứ bất tịnh, ngài nhàm chán cái thân bẩn thỉu này, tâm ngài rộng lớn, bao dung, vô lượng vô biên trong tâm từ thì làm sao có thể xúc phạm người khác mà bỏ đi không xin lỗi.
Như vậy ngài chí thượng thanh văn đã ở trước mặt Đức Thế Tôn gầm lên tiếng gầm của sư tử làm rúng động Thánh chúng. Ngài đã tuyên thuyết chín pháp an trú tâm, cái này được con giảng thành chín buổi, một buổi gần hai tiếng, đó là pháp hành của Linh Quy Pháp Ấn. Đó là chín pháp an trú tâm của bậc hiền trí, Thánh Tăng. Mỗi một câu như vậy là một pháp hành, ngài an trú tâm như đất, nước, gió, lửa, như nùi giẻ rách, như hẻ hạ tiện thấp hèn, như cục ghẻ lở rỉ chảy, an trú tâm như con bò bị cưa sừng, như gió.
Trước giờ người ta chỉ biết ngài Xá-lợi-phất là bậc trí tuệ đệ nhất nhưng lại không biết tại sao ngài Xá-lợi-phất lại trở thành bậc trí tuệ đệ nhất, bài kinh này nói lên nguyên nhân, pháp hành mà ngài trở thành bậc chí thượng thanh văn, tướng quân chánh pháp, tối thượng Thánh chúng có thể thay thế Đức Phật lãnh đạo Tăng đoàn, điều này được chính Đức Phật xác nhận.
"Rồi Thế Tôn nói với Tôn giả Mahamoggallana:
-- Này Moggallana, Ông đã nghĩ gì khi chúng Tỳ-kheo bị Ta đuổi?
-- Bạch Thế Tôn, khi chúng Tỳ-kheo bị Thế Tôn đuổi, con nghĩ như sau: Nay Thế Tôn sẽ được ít bận rộn, sẽ được an trú trong hiện tại lạc. Và từ nay con và Tôn giả Sariputta sẽ lãnh đạo chúng Tỳ-kheo.
-- Lành thay, lành thay, Moggallana. Này Moggallana, chỉ có Ta hay Sariputta và Moggallana mới có thể lãnh đạo chúng Tỳ-kheo được". (Trung Bộ Kinh, 67. Kinh Càtumà)
Chín pháp an trú tâm này được con khai triển hơn mười buổi pháp thoại và nó trở thành pháp hành thường xuyên của Linh Quy Pháp Ấn, chúng ta cần xem kĩ bài Đảnh lễ đức hạnh ngài Xá-lợi-phất trong quyển Nghi thức tu học Nikāya, trong đó là chín pháp quán của ngài để trở thành bậc hiền trí, Thánh đức.
IV. Cảm thọ không khổ không lạc
Dạ thưa thầy, con muốn hiểu thêm về cảm thọ không khổ không lạc và xin thầy cho ví dụ thực tiễn giúp ạ.
Trong Tiểu Bộ có bài Bahiya, Phật có nói "trong cái thấy chỉ là cái thấy", xin thầy giải thích thêm câu này. Con chân thành cảm ơn.
Minh Thành chỉ giải thích câu hỏi số 1, còn câu hỏi "trong cái thấy chỉ là cái thấy" thì khi nào học hết tạng Nikāya mới nói được, cái này là tiến sĩ trong khi mình đang học tiểu học. Chúng ta học không thành tựu vì chúng ta đòi cái đỉnh của chóp trong khi cái nền chưa có, đó là tham nên thất bại hoàn toàn. Cái tôi của mình làm mình không học được Thánh pháp, mình chỉ có thể học được nhân thiên pháp và thiện pháp thôi, để thể nhập được Thánh pháp trừ khi nào đạp đổ được cái tôi của mình, đánh gục được bản ngã thì mới học được Thánh pháp vô ngã.
Chúng ta học không thành công vì chúng ta đốt cháy giai đoạn, chúng ta đòi bay cao vươn xa, chưa học bò đã học chạy, đó là kinh nghiệm ba mươi năm trong chùa của con và con cũng đã từng như vậy. Cho nên ở đây chỉ trả lời câu số một về cảm thọ không khổ không lạc.
Hiện tại chúng ta đang ngồi đây vẫn có những vị có cảm thọ không khổ không lạc, tức là không thấy thích thú cũng không thấy chán ghét, thấy được được vậy thôi. Khi gặp một món đồ hoặc món ăn nào đó mà mình không thích cũng không ghét, chỉ thấy thường thường thì đó là bất khổ bất lạc thọ. Cảm thọ vui sướng và khổ sẽ ít hơn bất khổ bất lạc thọ và chúng ta thường bị nhấn chìm trong cảm thọ này vì nó làm cho chúng ta không nỗ lực, không tinh tấn, không thấy được sự nguy hại trong các hành.
Mình nghĩ rằng hôm nay như vậy thì ngày mai cũng vậy, ngài kia cũng sẽ như vậy, nửa tháng sau cũng vậy, hoàn toàn không phải vậy mà tất cả các hành đều đang dịch chuyển, biến hoại. Mình phải quán sự nguy hiểm và tác hại của vô thường, con thường giải thích chữ vô thường nghĩa là đột ngột, đột quỵ, đột tử, đột biến là để phá cảm thọ trơ trơ. Tất cả mọi thứ đều có thể đột ngột biến đổi, đang ngồi đây vui cười nhưng trở ra có thể bị té bong gân hoặc bị tai biến mạch máu não, liệt nửa thân người.
Chỉ có quán như vậy mới phá được cảm giác trơ trơ, thường thường, phá vỡ suy nghĩ đó, cảm giác đó, Đức Phật nói cảm thọ bất khổ bất lạc là vô minh tùy miên, si tùy miên trong đó, tùy miên nghĩa là nó đi theo miên man trong đó, nó ngủ ngầm trong đó, tiến cũng không tiến, mà lùi cũng không phải lùi, ngày nào cũng đều đều như vậy. Nghe pháp không có cảm xúc, cảm thọ gì cả, không chịu tiến bộ lên, nghe thì nghe vậy thôi chứ không có sự khát ngưỡng, mong chờ, cần cầu.
Hôm nào có cúng Trai Tăng mười món thì lên ngồi hoan hỉ, hôm nào lên thấy một món là không hoan hỉ, hôm nào có ba bốn món thì thấy bình thường, không phấn khởi cũng không chán ghét, cứ đều đều, lên ăn thì ăn thì đó là bất khổ bất lạc thọ. Mình tu là phải phá cảm giác này, nếu cứ trú trong cảm giác này là tu không có tiến bộ, phải quán chiếu sự nguy hiểm và tác hại của tất cả các hành.
"Tất cả hành vô thường
Với Tuệ, quán thấy vậy
Ðau khổ được nhàm chán;
Chính con đường thanh tịnh"
(Kinh Pháp Cú 20 – Phẩm Đạo, kệ 277)
"Tất cả pháp vô ngã,
Với Tuệ quán thấy vậy,
Ðau khổ được nhàm chán
Chính con đường thanh tịnh"
(Kinh Pháp Cú 20 – Phẩm Đạo, kệ 279)
Chỉ có nhàm chán thì mới có ra con đường thanh tịnh, còn nếu chỉ muốn như vầy hoài, cảnh vật xung quanh cũng vậy hoài thì làm sao có ra con đường thanh tịnh. Mình phải quán chiếu nơi này bất thình lình sẽ bị động đất chôn vùi mọi thứ, quán chiếu bị tai nạn giao thông để phá si mê, phá cảm giác đơ đơ để làm mình khiếp sợ, chấn động trước cái vô thường, phải đưa mình vào những tình huống nguy hiểm thì mới phá được cảm thọ trơ trơ đó, nếu không thì cứ đều đều, thường thường như vậy hoài, cứ lê lếch tấm thân lên ngồi thiền, rề rề như thây ma, không có chút sinh khí sinh lực gì cả, Đức Phật nói trong người lúc nào cũng phải nhiệt tâm tinh cần, chánh niệm tỉnh giác. Nhiệt tâm là có một trái tim nóng bỏng trong cả pháp học lẫn pháp hành, nhiệt là nóng, tâm là tim, đó là trái tim nóng bỏng, một cái tâm lúc nào cũng nhiệt thành, tha thiết, quyết tâm quyết tử.
V. Câu hỏi về ngũ uẩn
Nhận diện ngũ uẩn thuộc về uẩn nào trong năm uẩn? Từ đâu mà sanh ra thọ khổ và thọ lạc?
Con xin thưa cái nhận diện ngũ uẩn không thuộc về ngũ uẩn. Cái thấy biết được cái đó là sắc; thọ; tưởng; hành; thức thì nó không phải là sắc; thọ; tưởng; hành; thức, đó là Thánh trí của Đức Phật. Cái trí thấy ra được đó là thọ thì nó không phải là thọ, vì không phải là thọ nên mới biết ra được đó không phải là thọ cho nên trong kinh Đức Phật nói rõ biết là thức, trí là phải do tu tập, cái trí này được thành tựu là nhờ Đa văn Thánh đệ tử, những người đệ tử của Đức Phật là người nghe nhiều về sự thật của Thánh pháp. Khi đã nghe nhiều, tư duy, quán sát thì mình sẽ thành tựu một loại trí tuệ, trí tuệ đó của bậc Thánh gọi là Thánh trí ngũ uẩn, khi đã nhìn được cái đó là thọ; tưởng; hành; thức thì cái thấy biết đó không phải là ngũ uẩn.
Từ đâu sanh ra thọ khổ và thọ lạc? Đức Phật đã nói do có thân này, tất cả cảm thọ xuất phát từ nơi thân, Đức Thế Tôn đã nói do có chân nên mới có đi lại, do có mắt nên mới nhìn ngó, do có tay nên mới cầm nắm, do có bụng nên có đói khát, nếu không có chân thì không có đi lại, không có mắt thì không có nhìn ngó, không có bụng thì không có đói khát, cho nên có thân mới sanh ra những cảm thọ ở nơi thân.
"Nếu có các tay, này các Tỳ-kheo, thời có thấy lượm lên và đặt xuống. Nếu có chân, thời có thấy đi tới và đi lui. Nếu có tay chân, thời có thấy co lại và duỗi ra. Nếu có bụng, thời có thấy đói và khát.
Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, nếu có mắt và do duyên nhãn xúc, thời khởi lên nội lạc, nội khổ... Nếu có ý, do duyên ý xúc thời khởi lên nội lạc, nội khổ.
Nếu không có các tay, này các Tỳ-kheo, thời không có thấy lượm lên và đặt xuống. Nếu không có chân, thời không có thấy đi tới và đi lui. Nếu không có tay chân, thời không có thấy co lại và duỗi ra. Nếu không có bụng, thời không có thấy đói và khát.
Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, nếu không có mắt, không có duyên nhãn xúc, thời không khởi lên nội lạc, nội khổ... Nếu không có lưỡi, không có duyên thiệt xúc, thời không khởi lên nội lạc, nội khổ... Nếu không có ý, không có duyên ý xúc, thời không khởi lên nội lạc, nội khổ". (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (f), Phần Bốn - Năm Mươi Kinh Thứ Tư, III. Phẩm Biển, bài Ví Dụ Tay Và Chân)
Nếu mình không ăn gì cả thì làm sao có cảm thọ do thiệt xúc sanh, làm sao có cảm thọ vui sướng khi ăn ngon như vậy cảm thọ đặt nền tảng trên tấm thân này.
Mô Phật. Kính bạch thầy lâu nay con nghe nói thức phân biệt mà chưa nghe nói thức rõ biết. Xin thầy giải thích rõ về hai thức này.
Xin thầy nói rộng về bản ngã và phương pháp diệt trừ. Con cảm ơn ạ.
Những gì con nói đều nằm trong kinh Nikāya, không bàn luận những gì ngoài kinh Nikāya. Trong kinh Nikāya định nghĩa thức là sự rõ biết, mình y cứ theo đó thôi, còn khi nhận diện ngũ uẩn những sự suy tính này nọ là thuộc về hành. Ví dụ khi nghe tiếng chuông thì mình nghĩ rằng "cái chuông ở đâu mà tiếng nghe hay vậy", "tiếng chuông này nghe ngân hơn, đặc biệt hơn" thì đó là hành uẩn, nó phân biệt cái này với cái kia, cho nên suy nghĩ phân biệt, hơn thua, đúng sai là hành, còn rõ biết tiếng chuông của nhĩ thức là thức, đó là theo tinh thần của kinh Nikāya.
Còn nói rộng về bản ngã và cách diệt trừ thì chúng ta phải học thêm rất nhiều, bây giờ chưa đi chuyên đề được nhưng con muốn chúng ta phải thành tựu trí tuệ căn bản rồi mới đi vào kinh được. Khi đã nắm vững được căn bản trí này rồi chúng ta sẽ đi vào kinh, khi học đến bài kinh này thuộc về phá ngã thì chúng ta sẽ khai triển rộng hơn, hiện tại chúng ta có thể đọc bài Sám hối diệt ngã, đó là tinh túy quan trọng nhất trong phá ngã. Bài sám hối diệt ngã này con có chia sẻ thành mười hai buổi, mỗi buổi gần hai tiếng, có cả pháp học lẫn pháp hành.
Dạ thưa thầy, pháp tưởng – pháp tư khác nhau thế nào với sắc; thanh; hương; vị; xúc, sắc tưởng; thanh tưởng; hương tưởng; vị tưởng, sắc tư; thanh tư; hương tư; vị tư; xúc tư?
Những cái này đi rất sâu, con sợ quý thầy sẽ bị rối cho nên chúng ta chỉ phân biệt những cái căn bản thôi. Bây giờ quý thầy nhìn lên bàn tay đang cầm viên phấn thì cánh tay cầm viên phấn và sắc, âm thanh con đang nói ra là thanh, có mùi của viên phấn là hương, có vị của viên phấn, tay chạm phấn là xúc. Bây giờ pháp là gì? Cảm thọ của quý thầy từ nãy giờ là lạc, trong tâm có hình bóng của viên phấn là tưởng, hành có suy nghĩ xung quanh việc này, đó là sắc; thanh; hương; vị; xúc; pháp.
Chút nữa về phòng nhớ lại hình bóng bàn tay cầm viên phấn, có cảm thọ vui và có suy nghĩ "sao giống niêm hoa vi tiếu vậy", đó chính là pháp. Sắc; thanh; hương; vị; xúc là những thứ bên ngoài, những cái thấy, nghe, ngửi, nếm, đụng chạm là năm thứ ngoại trần, còn pháp trần mới là thứ làm mình mệt mỏi. Mình nghe tiếng chửi chừng ba mươi giây thôi nhưng khi về nhà thì hình bóng, cảm giác, suy nghĩ về những câu nói đó có khi kéo dài ba chục ngày, đó là pháp trần bên trong nội tâm, những hình bóng, suy nghĩ, cảm giác cứ âm ỉ, tiếp diễn trong tâm hoài.
Đến đây vẫn chưa xong, khi về nhà mới suy nghĩ lại những suy nghĩ lúc đó rồi tưởng thêm ra những cái khác, khi tưởng ra như vậy thì có thêm cái thọ mới, như vậy là hết thọ; tưởng; hành này lại đến thọ; tưởng; hành khác nối đuôi nhau sanh khởi. Nghĩa là sau khi đã thấy, đã nghe, đã ngửi, đã nếm, đã đụng chạm rồi mình trở về hồi tưởng lại, suy nghĩ lại những cái đó, tiếp tục có ra những cảm giác mới, những suy nghĩ mới, những hình bóng mới, chúng nó liên tục sanh khởi như vậy nên gọi là chúng sanh, chúng nó chính là thọ; tưởng; hành. Vậy là mình thấy rõ được ngũ trần ở bên ngoài và pháp trần ở bên trong.
Bất ngờ được mời đi uống café Starbucks, mình thấy màu sắc của café, nghe âm thanh pha café, mùi café thơm lừng, nếm vị café vô cùng độc đáo. Đến khi trở về ngồi thiền thì hình bóng ly café thương hiệu quốc tế hiện ra, mùi vị thơm ngon hiện ra, có suy nghĩ muốn uống nữa, vậy là tiếp tục sanh ra thọ; tưởng; hành thứ hai, thứ ba, thứ tư… Mình uống ly café có khi chỉ mười lăm phút thôi nhưng có khi ba tháng sau vẫn còn nhớ là do pháp tưởng, pháp tư làm việc liên tục. Trong đây có căn – trần – thức – xúc – thọ – ái và thậm chí là thủ, sanh tử là có cái pháp đó sanh khởi trở lại nữa, nó tái diễn, tái sanh để lặp lại như vậy nữa, đối với thân xác này cũng giống như vậy.
Nếu nghĩ về hình ảnh thiện hay ác là sắc tưởng là pháp tưởng?
Sắc tưởng là mình hồi tưởng lại hình bóng của một cái gì đó, còn pháp tưởng là hồi tưởng cả năm thứ sắc; thanh; hương; vị; xúc. Ví dụ mình ra giới đàn thấy nguy nga, trang nghiêm, huy hoàng, khi trở về tối ngồi thiền thì hình bóng giới đàn hiện ra lại trong tâm thì đó là sắc tưởng, mặc dù phân biệt thì như vậy nhưng các pháp khác sẽ cùng chung xuất hiện. Khi xuất hiện như vậy thì mình có thấy được những âm thanh, mùi vị, sự tiếp xúc của mình ở giới đàn không? Có sự tiếp xúc của nhãn xúc, nhĩ xúc, thân xúc, như vậy sắc tưởng là hồi tưởng lại hình bóng của sắc pháp đó, còn pháp tưởng là hồi tưởng lại cả sắc; thanh; hương; vị; xúc. Pháp tưởng có phạm vi rất rộng, còn sắc tưởng bị hạn chế trong sự hồi tưởng lại hình sắc thôi.
Chúng ta cần nắm vững những nền tảng căn bản, trong sự tu học này cần đi thật chậm và chắc, chúng ta đừng ham vươn cao với xa. Thứ nhất chúng ta phải nhận diện được năm uẩn chính xác, rõ ràng, minh bạch thì đó đã là một trí tuệ tuyệt vời ở bước đầu trong giai đoạn này. Thứ hai chúng ta tập an trú cảm giác toàn thân là cái con đã giới thiệu với mọi người trong buổi đầu vào lớp, phải thường xuyên để ý cảm giác của toàn bộ cơ thể, an trú cảm giác toàn thân gọi là định tâm trên thân để phát giác ra tham, sân, si trú ẩn trong cảm thọ.
Thứ ba là cần như lý tác ý, sau khi thấy những cấu nhiễm, những tham, sân, si, bản ngã đó thì cần tác động tâm ý một cách mạnh mẽ để đánh đuổi nó ra khỏi thân tâm, không cho rắn mổ mang ở trong Tăng xá của mình, không cho rắn độc ở trong phòng của mình, không cho những cấu nhiễm làm ô uế nội tâm của mình.
Thứ tư là cần nhìn ra được duyên sanh pháp để thấy tất cả mọi thứ là đồ lắp ráp, là những mắc xích, không có một cái gì nguyên khối, không có tự thể, tự ngã, những gì ngoài tầm thấy, tầm nghe là không biết gì cả, cái thức này là duyên sanh, vô thường, có giới hạn nhỏ hẹp. Hãy nhìn cho thấu đáo bản chất của nó, đừng tin vào nó, nếu tin vào cái thấy, nghe, cảm xúc, suy nghĩ này là mình chết với nó.
"Sắc là kẻ giết người", người ấy không như thật biết rõ: "Sắc là kẻ giết người"; "Thọ là kẻ giết người"... "Tưởng là kẻ giết người"... "Các hành là kẻ giết người"... "Thức là kẻ giết người", người ấy không như thật biết rõ: "Thức là kẻ giết người". (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (e), IV. Phẩm Trưởng Lão, bài Ananda)
Chúng ta phải tập nhìn ra sự nguy hiểm của nó, sự gian trá và xảo ngụy của thọ; tưởng; hành; thức để từ từ mình có hướng rời xa, viễn ly, xuất ly. Chỉ có nắm thật vững những pháp này thì mới bắt đầu đi vào kinh tạng, từ ngày đầu học cho đến nay là chúng ta đang sửa soạn, chuẩn bị, không phải nói làm đường là đổ nhựa lên liền, phải trải qua nhiều công đoạn chuẩn bị mới làm được.
Bây giờ nói học kinh là mở kinh ra học thì có biết gì mà học, dù có biết cũng chỉ biết trên chữ nghĩa thôi, nếu không thành tựu ngũ uẩn, không thành tựu duyên sanh pháp, những sự quán chiếu về cảm thọ thì đọc vào kinh không thể hiểu hết được. Đối với thiền cũng như vậy, vào là ngồi thiền trong khi không biết tâm là gì, không thấy được sự sanh khởi, vận hành, hoạt động, xâm chiếm, áp đảo, mình không biết được guồng máy hoạt động của nó cho nên sự nhận diện ngũ uẩn là tuyệt đối quan trọng.
Mô Phật. Con bạch thầy con không biết sắc trong ngũ uẩn, sắc; thọ; tưởng; hành; thức và sắc trong lục trần, sắc; thanh; hương; vị; xúc; pháp là giống hay khác nhau gì không ạ. Con kính mong thầy giải thích giúp con. Cám ơn thầy.
Trong Nghi thức tu học Nikāya có định nghĩa về sắc là:
Thân người là Sắc (định nghĩa 1)
-Thân người, cảnh vật, đồ vật tứ đại là Sắc (định nghĩa 2)
Như vậy là sắc của ngũ uẩn và sắc; thanh; hương; vị; xúc; pháp là giống nhau. Những định nghĩa này là tinh túy của Đức Phật, tứ đại là cả địa cầu này đều là sắc cho nên ngũ uẩn là cả vũ trụ, vật chất và tinh thần không có gì nằm ngoài ngũ uẩn, bao nhiêu thái dương hệ, tam thiên, đại thiên thế giới cũng đều là sắc uẩn, sắc pháp, còn phần tâm là thọ; tưởng; hành; thức. Chỉ có bậc Đa văn Thánh đệ tử mới thành tựu Thánh trí tuệ nhìn thấu được ngũ uẩn.
Kính bạch thầy giáo thọ, chúng con là thiền sinh tu học tại thiền viện. Hằng ngày thiền sinh chúng con phải tụng kinh Bát Nhã Tâm Kinh, trong kinh có đoạn "chiếu kiến ngũ uẩn giai không" và "Thị chư pháp không tướng" nghĩa là tướng không của các pháp. Như vậy biết được các pháp nguyên là giả hợp, không thật, vậy cái biết được cái không thật đó có phải là tâm chân thật của mình không? Cái thấy được các pháp không thật đó có phải là tâm mình không? Gần đây thiền sinh chúng con đang ứng dụng pháp tu thiền tông, chỉ dụng, sân căn về một mối, có lúc được yên tĩnh thanh tịnh không diễn tả được và thường xuyên như vậy. Như vậy chúng con ứng dụng có đúng không, xin thầy chỉ dạy thêm. Nam mô bổn sư thích-ca Mâu-ni Phật.
Bát Nhã Tâm Kinh có đoạn "chiếu kiến ngũ uẩn giai không" và "Thị chư pháp không tướng" nghĩa là tướng không của các pháp. Cái biết này còn thường trực trong người mình không mất hay là lúc có lúc không? Nếu lúc có lúc không là không được, nếu cái biết đó thường trực không mất thì lúc đó mới gọi là chứng. Cho nên chứng đắc, chứng ngộ hay chứng đạo là trí tuệ đó thường trú trong tâm không mất đi, còn lúc có lúc không thì chỉ là sự thấy biết tạm thời, nhưng cái thấy biết giả hợp, không thật thì cái thấy đó là đúng hay không, hay là cái thấy do mình suy tưởng thì còn thâm sâu hơn nữa. Có khi mình tưởng là mình biết nhưng không phải vậy, mình biết bằng cái tưởng cho nên trong kinh Nikāya phân ra đến mấy loại biết, tạm phân ra ba loại là tưởng tri, thức tri và tuệ tri.
Biết bằng tưởng tượng, biết bằng suy tưởng là tưởng rằng mình biết nhưng thật ra không phải cho nên mình hay nghe "tôi tưởng nó như vậy mà không phải vậy", đó chính là tưởng tri. Thức tri là biết bằng nhận thức, bằng kiến thức, tri thức, trí thức, có học hành, có kinh nghiệm, có sự từng trải nhưng cái biết bằng kinh nghiệm này không phải lúc nào cũng đúng, có khi nó thay đổi chứ không phải lúc nào cũng giống vậy cho nên biết bằng kiến thức, tri thức bị giới hạn nhỏ hẹp trong một phạm trù nhỏ nhưng cái biết bằng trí tuệ mới là cái biết tối thắng, cái biết bằng trí tuệ là cái mà chúng ta đang học là Thánh trí năm uẩn, đó là cái biết thấu suốt, tận cùng căn nguyên sanh diệt của thân tâm và thế giới, cái biết để đưa đến ly tham, sân, si, vô minh và bản ngã, đó là cái biết của trí tuệ.
Cái biết có khả năng chế ngự, nhiếp phục, đoạn tận và tẩy sạch tất cả những dục, tham, ái, sân si, vô minh và bản ngã thì đó là cái biết của bậc Thánh, tri kiến của bậc Thánh, đó là Thánh trí tuệ, là cái biết chúng ta đang học cho nên cần để ý kĩ chỗ này, chúng ta cứ nghĩ là mình biết nhưng thật ra là chưa biết, cần học thêm, tu thêm, quán chiếu thêm nữa.
./.