Thiền Quán - Sỉ Nhục Thay! Sự Sanh Già Bệnh Chết 10! Trình Tự Thuyết Pháp Của Chư Phật 2
Nikāya Thiền Quán
Sỉ Nhục Thay! Sự Sanh Già Bệnh Chết 10!
Trình Tự Thuyết Pháp Của Chư Phật 2
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Các hành tịch tịnh PAGEREF _Toc192791739 \h 1
II. Hỷ và ưu PAGEREF _Toc192791740 \h 1
III. Tư duy tu tập đúng đắn PAGEREF _Toc192791741 \h 6
IV. Nhu thuận PAGEREF _Toc192791742 \h 12
V. Thánh Pháp tối thượng PAGEREF _Toc192791743 \h 16
VI. Trình pháp PAGEREF _Toc192791744 \h 22
I. Các hành tịch tịnh
Kính bạch Đức Thế Tôn Tỳ-bà-thi, kính thưa chư tôn đức và chư hiền, chúng ta tiếp tục tìm hiểu về cuộc đời, trí tuệ và đức hạnh của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác. Trong bản kinh này rất nhiều từ ngữ có nghĩa lý rất là thâm sâu cùng cực trong pháp, hôm qua chúng ta có một cái cụm từ, là cái định lý các hành tịch tịnh, cái câu đó nghĩa lý nó rất là tột cùng của pháp, các bậc thánh là sắc sẽ tịch tịnh, thọ các ngài sẽ tịch tịnh, tưởng tịch tịnh, hành tịch tịnh và thức cho tịch tịnh. Cảnh giới đó nó là di chứng tương ưng, chỉ người chứng ngộ mới biết được, cái đó là khó thấy được định lý các hành tịch tịnh, giống như phần cuối của bài giải thoát trí.
Trú tâm định tĩnh, vững vàng,
Trú tâm trong sáng, lặng yên, nhẹ nhàng
Trú tâm không nhiễm thế gian,
Trú tâm không động chuyển, không lụy phiền
Trú tâm thoát khỏi đảo điên
Thoát dòng sanh tử, thoát liền, thoát mau
Hoặc là cuối của bài cửa vào bất tử, ngài diễn tả cảnh tịch tịnh của các hành, đó là cái pháp cứu cánh các bậc thánh.
II. Hỷ và ưu
Ngày hôm qua chúng ta đi tới chỗ phương thức thuyết pháp của tất cả ba đời Chư Phật, những vị Tăng Ni có trách nhiệm hướng dẫn pháp là hết sức quan trọng, quý thầy cho đóng cái khung thật là lớn treo lên "Phương Pháp Giáo Hóa Của Ba Đời Chư Phật". Đầu tiên ngài nói về bố thí, sau đó ngài nói về trì giới, sau đó ngài thuyết về các cõi trời, ngài trình bày sự nguy hiểm, hạ liệt, sự nhiễm ô của các dục vọng, hôm qua chúng ta nói tới đó. Kế đó Chư Phật sẽ nói về lợi ích của xuất ly, lợi ích của xuất ly là trong vòng mấy trăm bài kệ mà con làm, đó là nói về sự lợi ích của xuất ly, bài hôm qua chúng ta nghe "Về Rừng Yên Tu" là lợi ích của xuất ly.
Chúng ta ca ngợi, xưng tán, xưng tụng, làm cho phấn khởi, làm cho hân hoan, làm cho ưa thích, làm cho vui thích, làm cho hạnh phúc khi mình được về núi, về rừng, khi mình được viễn ly khỏi cái dục, cái tham ái, các thú vui thấp kém, tầm thường của thế gian. Chúng ta để ý khi mà mình tu nếu cảm giác nó trơ trơ, nó đều đều là người ta tu không có tiến, người tu tiến là thường trú trong hai cái cảm giác, trong giai đoạn này thì một là ưu và hai là hỷ thì người đó mới tu tiến. Trong giai đoạn bây giờ của chúng ta thường có hai cảm giác ưu tư, trăn trở, thao thức, day dứt, giày vò, nó ray rứt thì người đó tu tiến. Cái thứ hai là người này hân hoan, phấn khởi, vui sướng, hạnh phúc, hoan hỉ thì đó là biểu hiện của người tu tiến thì người này có hỷ, có ưu ở trong thiện pháp, trong thánh pháp. Còn một con người cứ lơ đơ, không có ưu tư cũng không thấy hỷ thì cảm thọ người này chưa được khai mở.
Qua cái hỷ và cái ưu đó một thời gian nhiều để gội sửa, sau đó người này mới đi đến cái chỗ trầm mặc thâm sâu, trầm mặc trong cái sự tẩy rửa các lậu hoặc ở bên trong. Thành ra tại sao chúng ta thấy là khóc thì cũng khóc dữ, tới chừng cười thì cũng nhiều, khóc mà cứ nói "con hạnh phúc", nhất là Ấn Đức nè, bữa nào cũng nước mắt đầy mặt mà nói hạnh phúc quá, hay là Ấn Hạnh cũng vậy, rồi sau này tới sư cô nhỏ này cũng vậy, sư cô Nhân cũng bắt đầu, sư cô Khánh An bắt đầu khởi sắc cho nên những buổi trình pháp mà mình đau đớn, đau khổ tột cùng của sanh, già, bệnh, chết như vậy mà mình đầm đìa đầy mặt nước mắt hết là cảm thọ mình bắt đầu khởi sắc.
Mình nghe trình như vậy mà mình cũng trơ trơ, chưa có động đậy gì hết, cảm thọ còn y nguyên, không nhất thiết phải khóc hụ hụ hoặc là ráng, mà tự nhiên nó như vậy, nó vận hành sẽ thấm vào, ngấm vô, nó thẩm thấu vô. Hiền Hằng cũng vậy, giai đoạn này là trong giai đoạn lau chùi, rửa cho sạch để xuất gia, súc cái bình cho sạch mới có thể đựng được đề hồ thượng vị, nhiều khi cái bình dơ, mình đổ phô mai vào là dơ hết, không dùng được cho nên phải súc bình, rửa bình cho nên trong lúc chúng ta khóc lóc cảm xúc, chúng ta hối hận, đau đớn, nhục nhã là chúng ta đang súc cái bình để đựng tối thượng đề hồ, thánh vị cam lộ. Khi mình súc mà nó tương đối sạch thì lúc đó cái pháp rót vào sẽ đựng được, nó không phải là cái đồ rỉ chảy, nó không phải là cái đồ dơ, cái đồ dơ để vô thì nó sẽ lẫn lộn.
Ví dụ như bây giờ mình lấy một cái ly dơ mà đổ sữa tươi vô là không uống được, sữa đó là đem đổ hết, nếu uống vô sẽ ảnh hưởng tới sức khỏe, hoặc là cái chung rỉ chảy thì đổ vô sẽ chảy ra hết, không đựng được pháp cho nên những người đó không phải là bậc pháp khí tại vì mình có nói pháp bao nhiều cũng chảy ra hết, bậc pháp khí là người có thể chứa đựng được pháp, truyền cho họ bao nhiêu là họ sẽ giữ gìn, họ tiếp nhận, họ giữ gìn, họ tu tập và còn phát huy làm cho cái pháp tăng trưởng lớn mạnh trong thân tâm của họ. Đó mới là bậc pháp khí tức là cái đồ có thể đựng được thánh pháp.
Cho nên đừng có làm cái đồ bể, đừng làm phế vật mà hãy làm pháp khí, mình phải lưu giữ được pháp, chứa đựng được pháp và làm tăng trưởng, phát triển lớn mạnh cái pháp ở trong mình, cái trí ở trong mình và những cái cảm thọ đó. Đó là lý do tại sao thời pháp chúng ta càng ngày càng kéo dài mà chúng ta vẫn hỷ lạc, là tại vì chúng ta có hỷ thọ, lạc thọ, cái thọ không có liên hệ đến vật chất. Những người ngồi một tiếng đồng hồ không được vì người ta không có lạc thọ trong pháp, không có hỷ thọ trong sự không liên hệ đến vật chất, thành ra là con muốn duy trì và kéo dài cái cảm thọ chúng ta. Đức Thế Tôn và các bậc thánh có thể ngồi bất động bảy ngày bảy đêm trú ở trong sơ thiền, chúng ta sẽ học những bài kinh Đức Phật hỏi có thể ngồi một ngày một đêm không động mà được an lạc không, thì vị thầy đó nói không được, Thế Tôn nói ngài có thể bất động bất động bảy ngày bảy đêm hưởng hỷ lạc tối thượng.
"--Chư Hiền Nigantha, nay Ta sẽ hỏi các Ngươi một câu, cũng vấn đề này. Nếu các Ngươi vui lòng, hãy trả lời câu hỏi ấy. Chư Hiền Nigantha, các Ngươi nghĩ thế nào? Vua Magadha Seniya Bimbisara có thể không di động thân thể, không nói lên một tiếng, sống cảm giác thuần túy lạc thọ luôn bảy ngày bảy đêm có được không?
--Này Hiền giả, không thể được.
--Chư Hiền Nigantha, các Ngươi nghĩ thế nào? Vua Magadha Seniya Bimbisara có thể không di động thân thể, không nói lên một tiếng, sống cảm giác thuần túy lạc thọ luôn sáu ngày sáu đêm, luôn năm ngày năm đêm, luôn bốn ngày bốn đêm, luôn ba ngày ba đêm, luôn hai ngày hai đêm, luôn một ngày một đêm không?
--Này Hiền giả, không thể được.
--Chư Hiền Nigantha, Ta có thể không di động thân thể, không nói lên một lời, sống cảm giác thuần túy lạc thọ luôn trong một ngày một đêm. Chư Hiền Nigantha, Ta có thể không di động thân thể, không nói lên một lời, sống cảm giác thuần túy lạc thọ luôn trong hai ngày hai đêm, luôn trong ba ngày ba đêm, luôn trong bốn ngày bốn đêm, luôn trong năm ngày năm đêm, luôn trong sáu ngày sáu đêm, luôn trong bảy ngày bảy đêm. Chư Hiền Nigantha, các Ngươi nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy, ai sống hạnh phúc hơn, vua Magadha Seniya Bimbisara hay Ta?
--'Sự kiện là như vậy, Tôn giả Gotama sống hạnh phúc hơn vua Magadha Seniya Bimbisara.'
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Mahànàma thuộc giòng họ Sakka hoan hỉ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn" (Trung Bộ Kinh, 14. Tiểu kinh Khổ uẩn)
Mình tu lần lần là mai mốt mình ngồi một lần bảy-tám tiếng luôn mà mình vẫn hỷ lạc, an lạc. Chúng ta đang tập để nâng lên, còn người nào không được thì thôi, ở lại cái lớp đó chứ đừng kêu mấy người theo mình "đừng tu, tu gì nhiều quá vậy", mình tu không được thì mình đi ra, mình về nghỉ, không sao hết. Ví dụ như học đại học, học trung học, học tiểu học, mình học đại học không nổi thì mình học trung học, mình đừng có phá những người học đại học, mình phải có sự tùy hỷ đối với thiện pháp. Khi mình không làm được mà người ta làm được thì mình phải hoan hỉ, cái đó là cái phước của mình, cái đức của mình, cái này rất quan trọng. Có nhiều người lạ lắm, mình nấu không được mà thấy người ta nấu ngon, ai cũng khen hết là ghét, cái tâm ganh tỵ, đây là cái tâm hèn hạ cho nên trong tất cả mọi việc là mình nhớ mình tập cái tâm tùy hỷ công đức, bất cứ cái gì mà người ta thành, người ta đạt, người ta được mà mình không được thì mình phải vui theo, mình vui giùm, mình thấy giống như mình được vậy đó, thậm chí mình vui vì mình phụng sự được cho những người được nếu mình chưa có tu được.
Cho nên tại sao con rất thích cho các vị nhập thất và con hộ thất, từ xưa giờ là vậy, ngay cả các vị không có tu trong dòng pháp này, miễn là người ta tu được thiện pháp, đó là phước lành, đâu phải dễ chùa có người nhập thất năm năm, bảy năm, mười năm, những vị đó ít nhất cũng là những người nhiếp phục, chế ngự được dục vọng nên mình hộ trì, có điều là đường lối người ta khác mình, đừng có nghe rồi tâm mình động bị kéo đi theo. Thành ra phải tập cái tâm tùy hỷ, cái tâm tùy thuận, cái này rất là tốt, cái tâm này được sẽ vui lắm, hay lắm cho nên làm sao mà chúng ta càng ngày, sau này có khi chúng ta tu một lần tám tiếng đồng hồ, thậm chí là chúng ta sẽ không cần ăn uống trong tám tiếng, thậm chí mình khéo điều tiết cơ thể là không có đại tiểu tiện trong lúc đó luôn, chưa được thì mình cần cứ đi, chứ ai có ép đâu, ai cũng không cho ra đâu.
Khi một người trú được trong pháp, có hỷ lạc trong pháp, trong tiền phương tiện của sơ thiền và sơ thiền thì người này vượt qua hết vật chất, tất cả vật chất đối với người ta không là gì cả, người nào trú lâu được trong cảm thọ nhiều chừng đó thì người đó tu khá, không bị mất cảm thọ, còn một người không có thiện xảo, không trú được trong cảm thọ thì chỉ một chút là thay đổi liền, thay đổi liên tục, người tu khá có sự thiện xảo, khéo léo duy trì và kéo dài cảm thọ, trú trong đó. Khi trú được trong cảm thọ đó rồi thì cái ăn, cái uống, cái dao động này nọ kia, hướng ngoại đối với người ta không có là gì, người ta còn thích trú được ở trong cảm thọ đó. Con cũng xin thưa với đại chúng là các vị nào mà đau quá thì mình cứ xá xá mình lui, không sao hết, đừng có ngồi đó chịu trận, mình đau thì mình về phục vụ cho đại chúng. Như vậy thì chúng hội mới tăng thượng, sự tu của mình nó mới có phát triển, còn mình cứ đều đều vậy hoài mình không có cơ hội phát triển.
Lợi ích của xuất ly là hay lắm, hai cái này là hai thái cực, một cái là Đức Thế Tôn trình bày sự nguy hiểm, sự hạ liệt, sự nhiễm ô của các dục vọng, ngài trách dục, ngài mắng dục, ngài chửi dục, ngài phỉ nhổ cái dục. Đức Phật có hàng chục cái ví dụ về dục, nào là đầu rắn, hố than hừng, là cái lưỡi câu, móc câu, là miếng mồi, là kẻ sát nhân, kẻ giết người, giấc mộng và miếng thịt mà các con thú tranh giành, bó đuốc bằng rơm cháy cái tay, đó là Đức Phật phỉ nhổ, xỉ vả, sỉ nhục, chê trách các sự thấp hèn của dục vọng hạ liệt, sự nguy hiểm, sự tai hại, sự bẩn thỉu của các dục. Chúng ta nắm được cái này là nắm tất cả hệ thống giáo lý của ba đời Chư Phật cho nên cái này phải viết ra cái bảng "phương thức giáo hóa của ba đời Chư Phật" và tất cả người hoằng pháp phải hướng đi theo chiều này, đi theo cái đạo lộ này. Đây là tổng cương lĩnh giáo dục Phật giáo của các bậc Chánh Đẳng Chánh Giác trong nhiều ngàn tỷ kiếp.
Phải làm một luận án tiến sĩ về cái này thưa Ni sư, các cử nhân, các thạc sĩ ở đây lấy cái này ra nghiên cứu, Ni sư làm luôn, những người có khả năng sẽ làm rất là tốt, cái này cống hiến cho Phật giáo luôn, vĩ đại lắm, cống hiến cho Phật giáo thế giới, sau này mình dịch ra tiếng Anh, tiếng Hoa luôn. Làm thành một luận văn đây là quy trình thuyết pháp của tam thế Chư Phật, phương thức giáo hóa của tất cả các bậc Chánh Đẳng Chánh Giác trong ba đời. Mình chọn những bài kinh mình thích ứng là mình đưa vào, sau này nó trở thành một cái hệ thống giáo dục của Phật giáo thế giới, các trường Phật học hay là ở tại đây học theo vậy, ai có khả năng làm đi, không nhất thiết phải có bằng cấp mới làm được, chỉ cần có tâm thôi, tâm huyết tu học và có khả năng ghi chép, viết lách là được, nhiều khi ba-bốn người tập hợp lại làm.
III. Tư duy tu tập đúng đắn
Mình làm như vậy là mình an trú ở trong pháp, tư duy trong pháp, mình đặt tâm mình vào trong pháp. Chúng ta mới làm một cái bảng sơ đồ, hiện tại là ban văn hóa đang làm sơ đồ về thánh trí ngũ uẩn, mới phát thảo đưa cho con hôm qua, ở đây là mình làm sơ đồ đối chiếu, bên đây là xỉ vả cái dục, bên đây là xưng tán sự xuất ly, viễn ly của Niết-bàn, hai cái này đối chiếu với nhau, một bên chê và một bên khen. Chúng ta dùng cái khen chê này để tu, mình đừng nghĩ tu là im ru hết "bây giờ tôi tu rồi nên không có ý kiến gì hết", thật ra không phải như vậy, một bên là mạt sát, một bên là xưng tán tột cùng, đó là hỷ và ưu, đó là khen và chê, một cái hạ xuống và một cái đưa lên.
Ngày xưa chưa có dòng pháp này mình nghĩ đơn giản tu là im ru, ngồi cũng im ru luôn, ai nói gì mình cũng đừng nói hết, ai làm gì mình cũng khỏi làm luôn, đâu phải như vậy, ngược lại làm nhiều lắm, suy nghĩ nhiều lắm, suy nghĩ nhức đầu nhức óc, vỡ sọ, suy nghĩ để cho nó nổ cái ngu ra, đó là như lý tác ý thiền quán, dùng suy nghĩ diệt suy nghĩ. Mình xỉ vả, mình làm cho nó nhục nhã rồi mình ngồi cười sung sướng, hả dạ ghê vì xưa giờ nó làm nhục mình, bây giờ mình lật ngược lại xỉ vả nó, sướng ghê, thỏa chí bình sanh ghê. Đó là hỷ lạc của sơ thiền, là niềm vui chiến thắng, là hạnh phúc của dũng sĩ, bây giờ tu là chiến sĩ Phật giáo mà vô thấy chả có tranh đấu gì hết, khỏi trình gì hết, biết vậy thôi, ai sao mình vậy, kêu thì lên, không kêu thì thôi, nhiều khi kêu cũng không làm luôn, vậy thì tu tới chết cũng không được, không đi tới đâu, thích thì làm, không thích thì thôi, đó là tu theo cái vô minh của mình, tu theo bản ngã của mình, tu theo cái dục của mình, tu ở trong cái nghiệp của mình chứ không có tu theo thánh trí huệ.
"Tôi muốn thì tôi làm, tôi thích thì tôi làm", đó là tu trong dục, trong khoái, trong tham, làm cái này phải là phải thấy là tôi ngon thì mới làm thì đó là làm trong cái ngã, làm những cái nào tôi quen, tôi biết mới làm, còn không biết là không làm thì đó là làm trong cái nghiệp. Bây giờ con hỏi quý vị chúng ta học cái thánh trí này toàn là những cái đó giờ mình không biết, toàn là những cái ngược đời của mình, những cái mình quen giờ phải bỏ, ăn cũng ngược, nói cũng ngược, ở cũng ngược, suy nghĩ cũng ngược, cảm giác ngược vì cảm giác vui nhưng phải quán khổ. Nếu mình muốn làm theo cái quen của mình thì làm sao tu được?
Thói quen tức là nghiệp, sống với thói quen là sống với nghiệp, mình muốn phá cái nghiệp, chuyển cái nghiệp, diệt cái nghiệp thì mình phải từ bỏ những thói quen. Vào tu kêu chỉnh sửa lại thì bảo nào giờ quen vậy rồi là xong, tức là người này thúc thủ, là bó tay, vậy rồi làm sao thoát được nghiệp? Nghiệp là thói quen ở trong suy nghĩ, lời nói, hành động, bây giờ tu chỉ muốn sống trong thói quen thôi, "cái này lạ tôi không biết, tôi không muốn, tôi không thích", vậy là sống với nghiệp thức, sống với nghiệp lực, sống với cái nghiệp mê. Cho nên mình tu rồi mình mới thấy nhiều cái bất ngờ này đến bất ngờ khác, mình thấy những cái mình chưa từng thấy, mình nghe những điều mình chưa từng nghe, mình hiểu những điều mình chưa từng hiểu, mình cảm thọ những điều mà chưa bao giờ cảm thọ, mình nhận thức, thức tri, mình biết những điều mà đó giờ mình chưa bao giờ biết. Đó là tu Nikāya, đó cũng là tu chung của Phật giáo, tu đúng là như vậy.
IV. Căn cơ của mỗi người
Nhiều khi mình muốn là làm chứ không hỏi, có khi con thấy con muốn giúp nhưng mà thôi, để cho tự nhiên, mình phải hỏi những cái quan trọng. Khi mình thấy làm người kia làm vậy thì mình muốn cũng làm vậy nhưng mà không phải, người kia làm vậy là trúng mà mình làm vậy lại không trúng, mỗi người có nghiệp lực khác nhau, cái cấu nhiễm khác nhau, tập khí khác nhau, không phải mình thấy người kia như vậy là mình phải như vậy, người kia làm vậy là trúng nhưng mình lại không thích hợp.
Con thí dụ mình ngồi thiền thì tất cả mọi người đều ngồi hết, mình ngồi mà con mắt sụp xuống buồn ngủ mà mình không chống cự được cơn buồn ngủ, nếu mình ngồi giống người kia là không được, người kia đang tỉnh giác thì mình phải bước ra ngoài sau tận cùng dập đầu lạy sám hối để đánh đuổi cơn buồn ngủ, mình khác với người ta tức là mình giống như người ta tại vì người ta đang tỉnh, mình đang mê, mình giống như người ta tức là mình khác với người ta.
Nếu mình không biết mình thì mình khó tu lắm, khó tiến lắm, mình giống với người ta là mình khác người ta, còn mình khác với người ta là mình giống người ta. Có khi mình giống với người ta là mình giống người ta, có khi mình giống người ta là mình khác người ta. Có khi mình khác người ta thì là mình giống với người ta, có khi mình khác người ta là mình khác người ta. Cái quan trọng nhất là phải nghe lời thì mới tiến vì những bậc đi trước người ta có nhiều trí tuệ, nhiều kinh nghiệm, người ta chỉ mà mình không nghe, khi mình nghe lời có thể mình đốt giai đoạn một trăm năm, một ngàn năm, hoặc là mười ngàn năm của mình tu không bằng sự chỉ dạy của các vị có trí tuệ, chỉ cần mình tu một năm bằng mình tu một trăm ngàn năm.
Sư phụ của con nói với con "thầy cố gắng nắm giữ cái pháp thầy học, bây giờ con chỉ cho thầy, nếu tự thầy đi tìm ra thì mười năm sau thầy cũng chưa có thấy, thậm chí là tới chết luôn". Thành ra những cái đó con học con thấy hay lắm, nếu những bậc thiện trí, những bậc chánh kiến, bậc chân nhân, bậc có trí tuệ chỉ cho mình thì đúng là chỉ chỗ chôn vàng, chỉ mỏ kim cương. Chỉ cần nghe thôi, mình tiếp nhận, một là mình chưa làm được mình để đó, hai là mình làm được ít ít, ba là mình làm được hết là tuyệt diệu rồi nhưng mà những đó là cái đốt giai đoạn trong vòng luân hồi sinh tử này của mình, có thể tự mình tu một trăm năm nhưng có người ta chỉ dạy thì chỉ cần tu một tháng thôi, mình vượt qua một trăm năm đó. Sự học pháp của con đốt giai đoạn hơn hai ngàn năm, giống như chính thống ngồi ở trong linh sơn pháp hội.
IV. Thiện bạn hữu
Nếu mình không gặp bậc thiện tri thức hai ngàn năm nữa mình cũng không được học cái này nữa, một trăm ngàn năm nữa cũng không được. Chính vì vậy mà chúng ta nhớ ngài A-nan một hôm phát biểu bạch Thế Tôn có bậc thiện hữu, bậc thiện tri thức là hoàn thành phân nửa cuộc đời tu cho mình, Thế Tôn bảo chớ có nói như vậy, bậc thiện hữu, bậc thiện tri thức là hoàn thành cả cuộc đời tu của mình, không phải là phân nửa. Câu này nghe mà giật mình, nhưng mà có chỗ thì Đức Phật nói đừng nương tựa với bất cứ cái gì khác hết, có chỗ Đức Phật nói như vậy thì mình phải hiểu hai cái này không có mâu thuẫn, cái sự nương tựa chính mình là sau khi mình được dạy rồi, được chỉ rồi thì mình về nỗ lực thì cái đó phải là mình, nhưng nếu không có sự chỉ dạy của các bậc đó thì mình nổ banh xác một trăm năm luôn cũng không có tới thánh đạo, thánh quả, mình nổ trong vô minh không thôi, lựu đạn nổ không chứ mình không nổ được tham, sân, si, bản ngã.
"Ngồi một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
-- Một nửa Phạm hạnh này, bạch Thế Tôn, là thiện bạn hữu, thiện bạn đãng, thiện thân tình.
-- Chớ có nói vậy, này Ananda! Chớ có nói vậy, này Ananda! Toàn bộ Phạm hạnh này, này Ananda, là thiện bạn hữu, thiện bạn đãng, thiện thân tình. Với Tỳ-kheo thiện bạn hữu, thiện bạn đãng, thiện thân tình, này Ananda, thời được chờ đợi Thánh đạo Tám ngành được tu tập, Thánh đạo Tám ngành được làm cho viên mãn.
Và này Ananda, thế nào là Tỳ-kheo thiện bạn hữu, thiện bạn đãng, thiện thân tình, tu tập và làm cho viên mãn Thánh đạo Tám ngành? Ở đây, này Ananda, Tỳ-kheo tu tập chánh tri kiến liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Tỳ-kheo tu tập chánh tư duy... tu tập chánh ngữ... tu tập chánh nghiệp... tu tập chánh mạng... tu tập chánh tinh tấn... tu tập chánh niệm... tu tập chánh định liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Như vậy, này Ananda, là Tỳ-kheo thiện bạn hữu, thiện bạn đãng, thiện thân tình, tu tập Thánh đạo Tám ngành, làm cho sung mãn Thánh đạo Tám ngành" (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương I. Tương Ưng Ðạo (a), I. Phẩm Vô Minh, II. Một Nửa)
Mình đánh bom nguyên tử vào bản ngã mà nó vẫn còn vênh váo, hống hách cho nên một phần nữa Đức Thế Tôn nói cái nhân sanh chánh kiến, làm sao để thành tựu chánh kiến là nghe lời dạy của người khác và như lý tác ý. Nghe lời dạy của ai? Nghe lời dạy của bậc chân nhân, chánh kiến, bậc thiện tri thức, bậc trí tuệ, bậc đã thấy pháp, như vậy có phải bậc thiện tri thức quyết định hết, chánh kiến cũng quyết định mà thành tựu phạm hạnh toàn phần cũng quyết định. Bây giờ mình không nghe thì mình thành cái gì? Chính vì vậy thật sự rất thâm ý trong bài đảnh lễ ngài Xá-lợi-phất.
Nay con xin tập hạnh tâm hiền,
Hiền lành, lắng dịu, chẳng phiền ai,
Dễ chịu, dễ thương và dễ mến,
Dễ bảo, dễ nghe pháp Thánh hiền.
Chính mà vậy mà ngày hôm qua con liên hệ Phật tử mới trình pháp với tâm chống thì con nói khi tâm chống đối này hết đối với thánh Pháp là Nhập Lưu, tức là nghe lời một cách hoàn toàn. Khi nào mình không còn chống đối nữa là lúc đó mình đã xuôi dòng với thánh tuệ, còn chống đối nhiều là mình còn xa, điều này nó không phải dễ với một cái người có bản ngã nhỏ, cái tâm nhu thuận, tùy thuận và có cái trí bên trong thì nó dễ, người có bản ngã lớn mà chống đối là cái đó mình dễ thấy rồi nhưng ở ngoài nó vẫn mềm mại, nhu thuận, nó vâng vâng, dạ dạ, cúi cúi, lễ lên nhưng bên trong không chịu, nó vẫn bị loại ra khỏi vòng pháp. Chúng ta nhớ đây không phải là cá nhân, ở đây là cái pháp chứ không phải cá nhân.
Thí dụ như có những người học bốn mươi năm trong giáo lý nguyên thủy rất quý mến, kính thương con lên đây học, đâu phải dễ, người ta học chánh thống nhưng đến khi đụng vào bản ngã " Thưa thầy cái bản ngã có đâu mà diệt hả thầy? Tại sao sám hối diệt ngã?", cái này sâu sắc lắm, bản ngã không có nhưng cái gì đang nói vậy cho nên Đức Thế Tôn nói khó thấy, khó chứng, thâm sâu vi diệu, tịch tịnh siêu lý luận, người ta học cứ đòi lý luận trong khi cái pháp này không phải là lý luận, đây là cái pháp chỉ thẳng, đến để mà thấy. Con trình bày là "dạ thưa, cái bản ngã không có trong bản chất của các pháp" nhưng trong mình có chấp ngã không? Cho nên sám hối diệt ngã là nói vắn tắt, nói đầy đủ là sám hối diệt trừ chấp ngã. Nếu bản ngã không có thật thì làm sao diệt? Như vậy là khỏi diệt, xuống núi luôn thành ra người muốn vào dòng pháp này thì điều kiện tiên quyết là tâm hiền và sự khiêm hạ, sau đó là sự nghe lời pháp thánh hiền.
Thế Tôn nói về bố thí, trì giới, trình bày các cõi trời, sự nguy hiểm, hạ liệt, nhiễm ô của dục vọng và sự lợi ích của xuất ly, cái này con chú trọng và con nói thật chậm là để cho chúng ta thấy phương thức giáo hóa của Chư Phật. "Thế Tôn biết được tâm trí của hai vị này đã thuần thục, nhu thuận, thoát ly triền cái, cao thượng và an tịnh", đây là một cấp độ nữa, cái tâm trí của mình là nhu thuận, thuần thục. Nhu là mềm mại, thuận là thuận theo nó, không có nghịch, không có chống, cái tâm đã mềm mại rồi, đã thuần thục rồi. Chữ thuần thục với nhu thuận này là không phải dễ bởi vì mỗi chữ trong kinh là pháp hành, mỗi chữ trong đó có khi mình tu hành cả chục năm.
IV. Nhu thuận
Thế nào là thuần thục nhu thuận? Như thuận là không có chống, không có nghịch, nhu là nhu nhuyến, mềm mại, không có cứng cỏi nó. Ví dụ một chuyện đơn giản nhất là chỗ ngồi của mình, đây là chỗ ăn cơm, đi khất thực hay là chỗ nghỉ, tâm mình mềm khi xúc duyên đối cảnh, thí dụ tự nhiên cô kia lại nói "chị làm cái gì mà kỳ cục vậy nè? Sao chị làm vậy?", mình quay trở về coi cái cảm thọ trong đây, mình có một cái sự lắng dịu, thậm chí là mình tác ý vẫn được, mình vẫn trầm tĩnh, trầm mặc, trầm lặng, trầm tư. Lúc đó cảm thọ mình trầm lặng xuống, không có phản kháng, đó là tâm nhu thuận, chẳng hạn Ấn Liên nấu bếp bằng cả tấm lòng nhưng mà tự nhiên có người vô nói "nấu gì mà dở quá vậy?", lúc đó các pháp có cái gì bên trong sẽ hiện ra hết.
Có người nói Ấn Hạnh "bản ngã cao quá vậy, coi ai không ra gì hết" thì lúc đó các pháp hiện ra thế nào? Còn nhu thuận không? Đức Phật có bài kinh nói về bà chủ hiền thục lấy gỗ đập bể đầu người tì nữ, tức là người chủ này có danh tiếng là một người hiền thục, người làm mới đến nhà muốn thử xem người chủ của mình hiền đến cỡ nào, người làm ngủ đến sáng không dậy.
"Chư Tỳ-kheo, thuở xưa, tại thành Savatthi này có nữ gia chủ tên là Vedehika. Chư Tỳ-kheo, tiếng đồn tốt đẹp sau đây được khởi lên về nữ gia chủ Vedehika: 'Nữ gia chủ Vedehika là hiền thục, nữ gia chủ Vedehika là nhu thuận; nữ gia chủ Vedehika là ôn hòa'. Chư Tỳ-kheo, nữ gia chủ Vedehika có người nữ tỳ tên là Kali, người này khéo tay, siêng năng, và làm việc cẩn thận chu toàn. Chư Tỳ-kheo, nữ tỳ Kali khởi lên ý nghĩ: 'Chủ của ta được tiếng đồn tốt đẹp khởi lên như sau: 'Nữ gia chủ Vedehika là hiền thục; nữ gia chủ Vedehika là nhu thuận; nữ gia chủ Vedehika là ôn hòa'. Không biết nữ chủ của ta có nội sân mà không tỏ lộ hay không có nội sân, hay vì công việc ta làm cẩn thận chu toàn nên nữ chủ ta có nội sân nhưng không tỏ lộ, không phải không có. Vậy ta hãy thử nữ chủ của ta!'
Chư Tỳ-kheo, rồi nữ tỳ Kali sáng ngày sau dậy thật trễ. Chư Tỳ-kheo, nữ gia chủ Vedehika nói với nữ tỳ Kali:
-- Này Kali!
-- Thưa Nữ chủ, có việc gì?
-- Sao hôm nay Ngươi dậy trễ vậy?
-- Thưa nữ chủ, có việc gì đâu?
-- Thật sự không có việc gì à? Ác nữ tỳ kia, hôm nay Ngươi dậy trễ!'
Và nữ chủ phẫn nộ, bất mãn, trừng mắt.
Chư Tỳ-kheo, nữ tỳ Kali suy nghĩ: 'Nữ chủ của ta thật sự có nội sân nhưng không tỏ lộ, không phải không có. Vì những công việc ta làm cẩn thận chu toàn, nên nữ chủ của ta tuy có nội sân nhưng không tỏ lộ, không phải không có. Vậy Ta hãy thử thêm nữa nữ chủ của ta!
Chư Tỳ-kheo, rồi nữ tỳ Kali ngày sau lại dậy trễ hơn nữa. Chư Tỳ-kheo, nữ chủ Vedehika nói với nữ tỳ Kali:
-- Này Kali!
-- Thưa Nữ chủ, có việc gì?
-- Sao hôm nay Ngươi dậy trễ vậy?
-- Thưa Nữ chủ, có việc gì đâu?
-- Thật sự không có việc gì à? Ác nữ tỳ kia, hôm nay Ngươi dậy trễ!
Và nữ chủ phẫn nộ, bất mãn, thốt lên những lời bất mãn.
Chư Tỳ-kheo, nữ tỳ Kali suy nghĩ: 'Nữ chủ của ta thật sự có nội sân nhưng không tỏ lộ, không phải không có. Vì những công việc ta làm cẩn thận chu toàn nên nữ chủ của ta tuy có nội sân nhưng không tỏ lộ, không phải không có. Vậy ta hãy thử thêm nữa nữ chủ của ta!'
Chư Tỳ-kheo, rồi nữ tỳ Kali sáng hôm sau lại dậy trễ hơn nữa. Chư Tỳ-kheo, nữ chủ Vedehika nói với nữ tỳ Kali:
-- Này Kali!
-- Thưa Nữ chủ, có việc gì?
-- Sao hôm nay Ngươi dậy trễ vậy?
-- Thưa Nữ chủ, có việc gì đâu?
-- Thật sự không có việc gì à? Ác nữ tỳ kia, hôm nay Ngươi dậy trễ!
Rồi phẫn nộ, không hoan hỉ, nàng cầm cái then gài cửa, đánh một cú trên đầu nữ tỳ khiến bể đầu.
Chư Tỳ-kheo, nữ tỳ Kali, với đầu bể máu chảy, liền đi kể lể với các nhà láng giềng:
-- Hãy xem việc làm của nữ chủ hiền thục! Hãy xem việc làm của nữ chủ nhu thuận! Hãy xem việc làm của nữ chủ ôn hòa! Sao nữ chủ nói với nữ tỳ độc nhất: 'Hôm nay Ngươi dậy trễ', rồi phẫn nộ, bất mãn, nàng cầm then gài cửa, đánh tôi một cú trên đầu khiến bể đầu".
Chư Tỳ-kheo, sau một thời gian, tiếng đồn xấu sau đây được khởi lên về nữ chủ Vedehika: 'Nữ chủ Vedehika là độc ác! Nữ chủ Vedehika là không nhu thuận! Nữ chủ Vedehika là không ôn hòa!'" (Trung Bộ Kinh, 21. Kinh Ví dụ cái cưa)
Hôm sau người làm cũng ngủ dậy trễ thì bị la mắng, hôm sau cũng nằm luôn thì người chủ lấy then gài cửa đánh người làm chảy máu đầu. Người làm ôm cái đầu máy chạy ra ngoài la lên cho mọi người thấy bà chủ hiền thục đánh mình thế nào, Đức Phật ví dụ câu chuyện đó để dạy cho chư Tỳ-kheo lúc bình thường thấy hiền nhưng mà nhưng mà chưa chắc là mình hiền. Khi mình bị mắng chửi, hủy nhục, thậm chí là tổn hại, tác động vật lý lúc đó cái tâm mình có hiền không, nếu giữ được tâm hiền thì Đức Thế Tôn nói đó mới là bậc hiền trí của Phật giáo. Trong kinh Đức Phật dùng những hình ảnh rất là thiết thực, gần gũi, dễ hiểu, ấn tượng, chẳng hạn Đức Phật ví dụ cô dâu mới về nhà chồng vậy người ta rất dễ nhớ, hết sức là tuyệt diệu.
"Ví như, này các Tỳ-kheo, người vợ trẻ, trong đêm hay ngày, được đưa về nhà chồng, nàng cảm thấy hết sức xấu hổ, sợ hãi trước mặt mẹ chồng, cha chồng, trước mặt chồng, cho đến trước mặt các người phục vụ, làm công. Sau một thời gian, do chung sống, do thân mật, nàng có thể nói với mẹ chồng, với cha chồng, với chồng: 'Hãy đi đi, các người có biết được gì!'.
Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, ở đây có Tỳ-kheo, trong đêm hay ngày được xuất gia, từ bỏ gia đình sống không gia đình, cảm thấy hết sức xấu hổ, sợ hãi trước mặt các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ, cho đến trước những người làm vườn và những Sa-di. Sau một thời gian, do chung sống, do thân mật, vị ấy có thể nói với sư A-xà-lê, với sư Giáo thọ: Hãy đi đi, các người có thể biết được gì!". (Tăng Chi Bộ, Chương IV - Bốn Pháp, VIII. Phẩm Không Hý Luận, (IV). Người Vợ Trẻ)
Mình phải tán thưởng Đức Phật, hôm nào đang sân thì phải nhớ đến câu chuyện bà chủ hiền thục của tôi, mình phải nhắc nhở như vậy, Đức Phật ví dụ dễ nhớ, rất hay và ấn tượng không bao giờ quên, đó là cái tâm nhu thuận. Cái tâm thuần thục là mình ra lệnh nó nghe liền, bây giờ mình kêu an tịnh đi thì lập tức cái tâm lắng dịu xuống, đó là tâm thuần thục. Mình kêu khởi tâm thương xót đi, có gì đâu mà giận thì lập tức khởi lên tâm thương liền, mà tâm thương này là cùng khắp cảm giác toàn thân, rộng ra không gian phía trước mặt, thậm chí trải khắp mười phương, đó là tâm thuần thục. Cái tâm thuần thục như vậy mới thoát ly được năm triền cái, tâm mà huấn luyện để cho nó thuần thục như vậy là cả một cái công trình, công phu, công đức, công quả, công lao, công hạnh, biết bao nhiêu chữ công, khổ công, dụng công.
Năm triền cái là dục tham, sân, hôn trầm, trạo hối, hoài nghi, năm cái này phải được thoát ly thì cái tâm mới cao thượng và an tịnh, nếu còn năm triền cái là không vào sơ thiền được. Mình phải coi năm cái này cái nào nặng nhất thì mình diệt cái đó trước, kế đó mình mới nhiếp phục được cái tương đối rồi mình tiếp tục mình diệt cái thứ hai và cứ như vậy diệt hết năm cái này để thoát ly ra khỏi nó. Lâu lâu con nhìn xuống thấy có những vị ngồi nghe pháp còn ngủ gục thì cái này chưa có thoát năm triền cái, tức là cái thọ về pháp nó không có đủ cho nên cái thọ của vô minh mới áp đảo cái thọ của cái pháp, một người có pháp lạc không bao giờ đang nghe pháp mà bị hôn trầm, nhưng những vị tu lâu ở đây còn bị là uổng lắm.
Chúng ta phải cố gắng diệt những cái thô nhất có thể, không có bất cứ lý do gì mà nói "hôm rồi con thức khuya", hay là con mệt, hay là ngồi lâu, không có lý do gì hết, hôn trầm là hôn trầm, nói đủ thứ lý do để bao biện, ngụy biện, xảo biện, ngụy biện quanh co giấu lỗi lầm, nói cái gì ra cũng bao biện đủ thứ hết là không có tu được. Khi nói là lập tức quay trở lại "mình tệ quá, mình dở quá vậy, mình kém quá. Mình phải cố gắng phấn đấu lên, cứ để cho Ni sư nhắc, để cho sư cô nhắc, để sư phụ nhắc, để cho sư huynh nhắc, để sư đệ góp ý xấu hổ quá, mình phải cố gắng lên", cái đó mới là người tu, còn nói một mình ngụy biện năm là không bao giờ mình tiến bộ, hễ còn ngụy biện là còn bao che, còn bản ngã, đó là không có trực hạnh. Cái quan trọng nhất của người tu là tâm trung trực, ngay thẳng, cái này đẹp lắm. Cho nên làm sao tu tới cái mức mà mình nghe chỉ lỗi mà mình cúi đầu chấp tay là đẹp làm sao.
Người ta chỉ lỗi mà mình cúi đầu chắp tay lắng nghe cho nên hôm trước có vị trình pháp rằng thấy cô đáng thương quá thì "dạ, đúng rồi, con là người đáng thương nhất hành tinh, Mô Phật". Tu là phải vậy đó, đó là đức hạnh của người tu, trong kinh thường nói "như vậy là phải bạch Thế Tôn, như vậy là phải bạch thiện thệ", phải thuộc những câu đó, sau này mình nói chuyện cũng dùng những câu như vậy, câu này hai ngàn sáu trăm năm trước bây giờ mình nói cho người ta thấm thía, lời của Phật lại không chịu dùng, đi dùng từ ngoài đời cho thời thượng, đem vô xài riết rồi nhiễu loạn chánh pháp, không nghe lời Đức Phật nữa.
V. Thánh Pháp tối thượng
Ban hoằng pháp trung ương đang có nhiều vấn đề phải giải quyết, lên giảng pháp toàn nói chuyện yêu đương, chuyện nam nữ, dùng những từ ngữ như "đu trend", còn mình chắp tay cúi đầu nói "như vậy là phải thưa chị, như vậy là đúng rồi. Lành thay! Lành thay! Con cảm ơn", như vậy rất đẹp, mình nói như vậy giống như trở về hai ngàn sáu trăm năm trước, đây là Trúc Lâm Tinh Xá, Linh Thứu Sơn. Linh Sơn Như Tại nghĩa là Linh Sơn như đang ở tại đây, hoặc là Trúc Lâm Như Tại, như tại là giống như trong hiện tại.
Hồi xưa lúc còn chưa vào dòng pháp này con có đi chùa của hòa thượng thượng thủ giáo hội Phật giáo Việt Nam ở bên Mỹ. Mới ngày hôm qua chùa Vĩnh Nghiêm mới vừa tưởng niệm ngài, qua chùa Linh Sơn nữa, con bước vô ở trong chánh điện để bốn chữ nho "Linh Sơn Như Tại", con sửng sốt. Chùa Linh Sơn đề bảng như vậy, tức là Linh Thứu sơn, thắng hội của Đức Phật và các thánh chúng giống như trong hiện tại, như đang ở đây. Chắc mình ngày xưa cũng có ngồi trong đó nhưng do ngu quá nên đến giờ này còn ở đây, làm biếng tu nên quanh quẩn trong tù cho nên tới này vẫn còn ngu. Do mình biết chữ Nho nên đọc lên là sửng sốt, đứng bàng hoàng không biết đang ở đâu, do vậy nên sau này con tha thiết tái hiện lại Trúc Lâm, Linh Sơn Kỳ Viên để chúng ta tu học.
Con nói mà bây giờ cảm xúc trào dâng lên, đang tràn ngập hết người, thành ra là mình phải dùng những từ trong kinh, càng dùng nhiều từ trong kinh vậy chừng nào càng hay chừng đó. Ni sư để ý người nào dùng nhiều từ trong kinh là tới khóa tu cuối năm hay ba mươi tết sẽ có thưởng, học thuộc kinh nhiều cũng thưởng. Trong ba tháng hạ cũng có giải thưởng, ngày xưa con đoạt giải hoài, năm nào đứng nhất ở bên trường hạ chùa Xá Lợi, hòa thượng thầy trụ trì thương lắm, được kêu vô dạy học luôn, đó là tu học hạnh, trong ba tháng hạ này cho thưởng luôn, Ni sư xem bên đó rồi chấm để cuối hạ có thưởng, cuối năm ba mươi tết là cái đêm trừ tịch đốt lửa nấu bánh chưng bánh tét là lúc đó thưởng luôn. Người thuộc kinh nhiều là thưởng, tu học hạnh là thưởng, người mà trong sinh hoạt thường ngày sử dụng được những từ trong kinh tức là người đó có học pháp, an chú pháp, có thực hành pháp thì mới sử dụng được pháp là có thưởng khích lệ tinh thần, nếu không tu hoài không thấy gì hết, ai cũng đều đều như nhau hết, phải có khích lệ, khuyến khích, làm cho hoan hỉ, hân hoan để tu học.
Chúng ta thấy vừa rồi buổi lễ trùng tuyên thánh điển của mình không chuẩn bị cái gì, tổ chức gì đơn sơ vậy mà có ý nghĩa, có lợi ích, có giá trị. Bất thình lình con nói đem đèn ra cúng hoa đăng Đức Phật Tỳ-bà-thi, người ta muốn tạo một cái lễ như vậy trong chúng chắc phải chuẩn bị cũng mệt. Mình không có tốn thời gian, công sức, tiền bạc, mình rất đơn sơ nhưng mà mình được trở về cội nguồn thấm đẫm cảm thọ, trước đó con không nghĩ là làm lễ hoa đăng Đức Phật Tỳ-bà-thi, con ngồi trên hồ thấy hoa đăng có sẵn nên làm luôn. Con không muốn dao động trong lúc chia sẻ pháp nhưng con nghĩ vì lợi ích cho mọi người hoan hỉ ngồi lâu, được cái này thì cảm thọ sẽ thay đổi tốt lên.
Hôm qua mình làm đại cổ, là đám giỗ cho Đức Phật đầu tiên ở trong hiền kiếp, cúng đèn hoa. Con nhìn thấy đất trời lúc đó rung chuyển hết tại vì lúc mình trùng tuyên là những cái lời của bậc trí chơn Chánh Đẳng Chánh Giác Thiên Nhân Sư giữa non thiêng là chư thiên hoan hỉ, hân hoan. Ở đâu mà nghe được mấy cái này? Trên hành tinh này, bây giờ mấy chỗ được trùng tuyên? Mấy chỗ được cảm xúc, cảm thọ? Mấy chỗ được thực hành, tu tập, tuyên thuyết, tuyên dương, tuyên giảng? Cho nên mỗi buổi tu học của chúng ta là thiên thánh lắm, thần thánh, thiêng liêng lắm, chỉ cần ngồi lại đọc thôi, đọc những câu trong này thôi là tối tôn tối thượng giữa ba ngàn thế giới, mười ngàn cõi.
Con mong đại chúng sẽ có những buổi trùng tuyên thánh điển là cho đại chúng tụng Tương Ưng Bộ kinh, nói nhiều lần mà chưa có làm, đừng lúc nào cũng đợi con, những lúc đi vắng mà lâu, sắp tới con sẽ có một chuyến đi hoằng pháp ở Úc Châu trong ba tuần. Các vị ở bên Úc trong đạo tràng Nikāya có bên đó thì liên hệ để sắp chương trình, trong ba tuần đó chúng ta ở nhà nên tự mình phải biết thiết lập sự tu học chứ không phải lúc nào cũng đợi con. Có thể mình lấy cả tuần hoặc mười ngày tụng Tương Ưng Bộ, ví dụ mình tụng một tiếng thì mình sẽ cảm thọ pháp trong đó, tụng rồi ngồi thiền trầm lắng để chiêm nghiệm, sau đó là pháp đàm, cứ tụng, thiền rồi pháp đàm suốt mười ngày.
Mình phải trú trong pháp hoài, càng lâu, càng nhiều, càng dài chừng nào thì tốt chừng đấy vì mình buông ra là trở lại với tập khí, thói quen cũ. Mình tụng xong là ngồi thiền nửa tiếng hoặc bốn mươi phút trong yên lặng để nghiền ngẫm những câu kinh trong đó. Thí dụ nguyên cái đoạn mình tụng có một câu mình tâm đắc thì lấy câu đó ngồi làm đề tài thiền quán ngay tại chỗ. Mình ngồi thiền rồi đi thiền hành xong là pháp đàm ở gốc cây, trong rừng trúc, pháp đàm ở Thánh Pháp Viện, tụng kinh trong nhà, ngoài trời hoặc trên đỉnh núi, dưới vực thẳm, chuẩn bị có những tảng đá để mình ngồi lên giống như Thập Bát La Hán. Nếu mình biết tiếng Anh ở bên đây sơ sài thôi, mình vô trường đại học bên đó người ta giảng tiếng Anh thì mình nghe được bao nhiêu phần trăm? Lúc đầu chưa chắc gì được ba mươi-bốn mươi phần trăm cho nên mình tụng vậy là không có lợi ích bao nhiêu hết, còn mình đọc mà mình hiểu được, nhất là những bài kinh mình đã học, thí dụ như tụng Tương Ưng Uẩn, tụng tới đâu là ngấm tới đó, từng thớ thịt rung giật, nước mắt trào ra.
"Sắc là than đỏ, này các Tỳ-kheo! Thọ là than đỏ! Tưởng là than đỏ! Các hành là than đỏ! Thức là than đỏ!" (Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (g), C. Năm Mươi Kinh Sau, IV. Phẩm Than Ðỏ, I. Than Ðỏ Hực)
Đọc tới đâu là ngấm tới đó, khi đọc mà nghe tiếng chuông là dừng lại một chút vì mình tụng với tính chất thiền quán, không phải tụng cho hết bài, hết câu, hết quyển, hết kinh mà tụng cho hết cái tâm mê. Câu này là Linh Quy Pháp Ngữ, không phải tụng cho hết bài, hết trang, hết chữ mà tụng cho hết tâm mê, chừng nào hết tâm mê lúc đó tụng mới xong, lúc đó khỏi cần tụng nữa vì cái gì nói ra cũng thành thánh điển Nikāya, lúc đó lời nói của mình sẽ là thánh pháp nhưng vẫn trùng tuyên lại cho hậu thế, vẫn phải đọc tụng tiếp tục để duy trì thánh mạch diệu pháp cho thế giới đầy hắc ám vô minh, đau khổ này.
Vì tình thương, vì từ tâm, vì hạnh phúc cho đời, vì lợi ích cho thế gian này, vì thương tổn cho cuộc đời này mình phải đọc, phải tụng, phải truyền bá, phải truyền thuyết, phải giảng thuyết, phải in ấn, phải phát hình ảnh, lưu giữ những lời pháp bảo. Thế gian đau khổ này, đầy bóng đêm, đầy vô minh, tham ái này phải cần có những cái thánh âm, thánh pháp, thánh điển, thánh trí này được vang lên, được hô to lên, được tụng cho âm ba chấn động ba ngàn cõi. Mỗi một giờ, một giây phút mà con lên trùng tuyên thánh điển như vậy là con quý còn hơn cả sinh mạng của con, con có thể gục ngã ngay tại các pháp tòa này, chết trên đây là một niềm vinh hạnh, tối thượng trong vòng luân hồi này.
Mình phải tập cảm thọ được thánh pháp, cảm thọ một cách sâu sắc cả tấm lòng, cả trái tim, cả cái bầu nhiệt huyết của mình, nhiệt tâm của mình. Phải làm sao để càng ngày mình càng an trú vào pháp càng nhiều, cho đến một lúc nào đó ở trên đây chúng ta chỉ có thiền định và tuyên thuyết thánh pháp, ngoài giờ nghỉ ngơi chút đỉnh cho có sức khỏe và tất cả thời gian không cần làm bất cứ cái gì thế sự này, tất cả chỉ là hư ảo, là phiền não, nhọc nhằn là vô tích sự, vô nghĩa, vô giá trị, không cần phải làm bất cứ cái thế sự nào trên cuộc đời này. Tất cả chỉ đưa đến phiền não, khổ đau, đưa đến tai họa, tất cả chúng ta đây chỉ cần thực tập sự im lặng của bậc thánh trong thiền định, và sự trùng tuyên thánh điển, thánh pháp, pháp đàm trong thánh trí là niềm hạnh phúc tối thượng của con ở trong cái vòng luân hồi sinh tử này.
Chúng ta trú trong pháp này mà chúng ta chết thì đó là hạnh phúc, đó là công đức, đó là điềm lành tối thượng. Chúng ta có chết một tỷ cái mạng này để giữ được cái pháp này, duy trì cái pháp này, chứng ngộ được pháp này thì cái chết đó là vinh hạnh, vinh quang, quang vinh, là cái chết rực sáng, chói sáng, bừng sáng, tỏa sáng, chiếu sáng núi rừng này. Còn ngoài ra tất cả những cái gì ngoài cái giáo pháp này là vô nghĩa, vô ích, vô giá trị, vô tích sự, không có gì trên cuộc đời này.
Bản chất cuộc đời là trống rỗng,
Bản chất cuộc đời là trống không,
Bản chất cuộc đời là cảnh mộng,
Dễ dàng tan biến vào hư không.
Đừng có nghĩ về mình, hãy đem cả trái tim của mình đặt vào pháp, lấy pháp làm chỗ nương tựa, lấy pháp làm ngọn đèn, lấy pháp làm hơi thở, lấy pháp làm sự sống, lấy pháp làm sinh mạng, lấy pháp làm linh hồn. Phải lấy pháp làm ngôi nhà an ổn, lấy pháp làm mẹ cha, lấy pháp làm thầy tổ, lấy pháp làm huyết quản, lấy pháp làm tâm can, tim gan của mình, phải lấy pháp làm sự sống. Đừng có nhìn thấy cái gì hết, hãy nhìn pháp, luôn luôn bất cứ lúc nào con mắt này có ra đây là để nhìn pháp, để thấy pháp, để thấy sự thật.
"Sự đời thà khuất đôi tròng thịt,
Lòng đạo xin tròn một tấm gương"
(Nguyễn Đình Chiểu)
Mình hãy tập mù lòa trước tất cả những sắc lòe loẹt, vô thường, hư ảo của cuộc đời này. Mình hãy tập khiếm thị đối với tất cả những thú vui phù du, phù vân, huyễn hoặc của thế gian này. Mình hãy tập làm một kẻ khuất đôi tròng mắt đối với tất cả thế sự, thế vật, thế tình, hơn thua, đúng sai, cao thấp, thị phi của cuộc đời này. Mù đi, lòa đi, đui điếc, câm ngọng đi, vô tri, vô giác, vô cảm đối tất cả những thứ vô thường, vô tình, vô nghĩa, vô ngã, vô ích, vô giá, trị vô tích sự trong cuộc đời này, không có gì đáng để cho mình nhìn hết, không có gì đáng để cho mình nghe hết, tất cả chỉ là phiền não, khổ đau, tham, sân, si, hơn thua, ngu xuẩn. Hãy để con mắt quý báu này nhìn vào bên trong năm uẩn để thấy được pháp, thấy được sự thật, thấy được khổ đau, thấy được những nguyên nhân đưa đến đau khổ tận cùng trong cuộc đời này.
"Này Vakkali, ai thấy Pháp, người ấy thấy Ta. Ai thấy Ta, người ấy thấy Pháp. Này Vakkali, đang thấy Pháp, là thấy Ta. Ðang thấy Ta, là thấy Pháp" (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (e), IV. Phẩm Trưởng Lão, V. Vakkàli)
Có cái gì để đáng nhìn, có cái gì để mà đáng dòm, có cái gì để mà đáng ngó, đáng xem, chỉ làm cho mình sanh khởi lên những lòng tham dục, thèm khát, đói khát, khao khát, khát ái, như vậy thì nhìn để làm cái gì cho thêm khổ. Có cái gì cho mình đáng nghe, nghe rồi hơn thua, sân si, thị phi, nhân ngã, nghe để rồi đắm đuối, mình chết đuối, chìm đắm, trôi nổi, trôi dạt, nghe để làm gì, cảm thọ những thứ dục ái, sân si đó để cho nó đốt cháy, nó nhận chìm mình xuống vũng lầy, vũng sình, xuống cái hố than hừng thì mình cảm thọ những thứ đó để làm gì. Hãy cho tất cả sắc; thọ; tưởng; hành; thức này tịch tịnh, an tịnh, lắng dịu, trầm lặng hoàn toàn đối với tất cả ngủ vẫn này. Hãy chứng pháp, hãy ngộ pháp, phải thể nhập vào pháp, phải tiêu trừ tất cả nghi ngờ, diệt tận tất cả những cái hoài nghi, do dự, hãy tịnh tín bất động đối với thánh trí ngũ uẩn này, đối với sự đau khổ tột cùng về bản chất của các pháp này, sự khổ nhục này, tột độ này.
Hãy tập cảm thọ cái này đi, hãy từ bỏ những cảm thọ dục, ái, sân si, bản ngã, ngu muội đó. Phải tập cảm thọ thật nhiều với những cái khổ tột cùng này, với cái nhục nhã, tồi bại của những cái tâm mê, tâm dục ái, tâm ngu si này. Hãy thấy pháp, hãy chứng nghiệm pháp, hãy thể ngộ, ngộ nhập pháp, thể nhập vào pháp. Sự đau khổ này bủa vây, đoanh vây, bao vây chúng ta mà chúng ta không nhìn thấy nó, đi thấy những cái hơn thua để làm cái gì? Tại sao không thấy pháp? Tại sao không thấy khổ? Tại sao không thấy nguyên nhân của khổ? Tại sao không nỗ lực, cố gắng để thấy được con đường diệt khổ? Câu này thật là thấm thía, ứng dụng vào Nikāya "Sự đời thà khuất đôi tròng thịt. Lòng đạo xin tròn một tấm gương".
Hãy vì một mục đích duy nhất là thể nhập được thánh pháp mà sống, sự sống này sở dĩ được sống là chỉ vì một mục đích duy nhất là để thể nhập được pháp, để nhìn thấu được sự đau khổ trong ngũ uẩn. Sự nỗ lực, sự dốc sức toàn tâm toàn ý để đi trên con đường diệt khổ này, chứng nhập, thể nhập, chấm chấm dứt hoàn toàn cả đống khổ to lớn này, ngoài ra không còn có lý do gì khác để sống nữa hết.
VI. Trình pháp
Sư cô Khánh An: Con chân chành đảnh lễ Đức Thế Tôn Tỳ-bà-thi, bậc vô thượng Chánh Đẳng Giác, con con xin thân thành đảnh lễ trên sư phụ - vị thầy kính quý của chúng con, con xin chân thành đảnh lễ trên chư tôn thiền đức Tăng, con xin thân thành đảnh lễ trên quý Ni sư cùng quý sư cô và các bậc hiền trí. Bạch sư phụ sáng hôm nay trong cảm thọ của con rất là xúc động và hạnh phúc khi con nghe sư phụ nói đến sữa thì trong cái tưởng của con nghĩ chỉ có người mẹ là có sữaa tự thân thôi nhưng ở nơi đây con cũng được uống sữa từ sư phụ, sư phụ đi xin, sư phụ đi mua hay sư phụ làm gì đó, nhưng sư phụ cũng cho chúng con và bản thân con những dòng sữa pháp.
Tới bây giờ dòng sữa pháp đó vẫn còn đang tràn đầy trong con, vẫn còn no trong con. Có những cảm xúc mà con không thể kìm nén được, nó vô cùng hạnh phúc với những lời sách tấn của sư phụ, những lời khuyên dạy. Sư phụ luôn luôn hung đúc, luôn luôn làm cho chúng con phấn khởi trong sự tu tập để nhìn lại bản thân và tự thân của mỗi người, trong đó có bản thân con. Con cũng xin chân thành đảnh lễ cảm ơn thầy Pháp An, một vị thầy luôn luôn ở phía sau chúng con để khích lệ, an trú và luôn nhắc nhở đại chúng, trong đó có bản thân con. Thầy luôn khuyên "sư cô ơi nhớ nha cái dòng thánh pháp này mới học thì nó khó lắm, nhưng mà sư cô phải cố gắng nghiền ngẫm, suy tư rồi sư cô tác ý vô thì cái dòng thánh pháp này nó sẽ vào". Con cũng vẫn nghe lời thầy Pháp An dù thầy Pháp An không thấy nhưng đôi tai thầy rất là thính, thầy nghe được trong mọi chất giọng của những người trình pháp. Thầy có nói với con là thầy biết được tâm tư của mỗi người như thế nào thế nào thì con cũng quả là kính phục thầy vô cùng.
Đối với bản thân, con nhớ lại khi mình ở Singapore thì con thấy những người Việt Nam mua ba trăm, bốn trăm đô la một vé xem chương trình đại nhạc hội rất tốn tiền, trong khi đó chúng con được nghe sư phụ nói pháp, giảng pháp không tốn một đồng một cắc, đó là một niềm hân hoan, một niềm cao quý, cao thượng đối với chúng con, không vì lý do gì mà chúng con không lên đây để nghe sư phụ giảng, để nghe sư phụ sách tấn. Đó là những cảm thọ sáng nay con hiểu và biết được. Nam mô Đức Phật Tỳ-bà-thi, con xin cảm ơn sư phụ đã cho chúng con những dòng sữa pháp vô cùng lợi ích.
Phật tử 1: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con chân thành đảnh lễ đức bổn sư Tỳ-bà-thi, con chân thành đảnh lễ trên sư phụ, con chân thành đảnh lễ quý sư thầy cùng quý sư cô và tất cả các quý bạn hiền trí. Cảm thọ con lúc này rất là dâng trào từ đêm hôm qua cho đến hôm nay nên con rất là run, bởi vì lòng biết ơn dâng trào lên không thể diễn tả được. Không biết do nhân duyên gì mà con được sư phụ đưa chúng con ngược dòng thời gian trở về thời Đức Phật Tỳ-bà-thi để dâng đèn hoa đăng cúng dường lên, con xúc động nhiều lắm nên cảm thọ con rất là dâng trào.
Ý hành con nói không biết do nhân duyên gì mà sao mình được cái nhân duyên này, con nghĩ chắc khi xưa mình cũng là con nhện kia thả tơ văng lưới để bắt mồi nuôi cái thân này rồi cũng chết, hay là một con ong đắm mình trong vị mật ngọt trong cái hương hoa đó rồi cũng chết, bao nhiêu kiếp chết như vậy và con lại thấy tưởng ra hình bóng sư phụ khi xưa chắc sư phụ cũng làm một Phật tử như chúng con ngồi đó đã thấm pháp, đã nghe được pháp và hiểu được pháp nên sư phụ có một cái phát nguyện mãnh liệt nhảy vào biển lửa trở về đây rước chúng con từ những linh hồn bé nhỏ để đưa chúng con trở về đây, từ mê đến bờ giác.
Con thấy lòng tôn kính Đức Phật, tôn kính sư phụ dâng cao và nước mắt con chảy rất là nhiều. Con nghĩ bây giờ cuộc sống này quá là ê chề, chán nản, ai dám hy sinh, ai dám nhảy vào biển lửa giống như sư phụ để một lần nữa đưa những cái sinh linh đó từ mê đến giác như chúng con bây giờ. Con nở một nụ cười, con nói "mày ngu quá, mày còn u mê quá", sư phụ ơi hãy cho con nương tựa nơi này và hãy cho con thấm đẫm những dòng sữa pháp này, con rất trân quý giây phút ở đây, con rất là kính hơn sư phụ, kính ơn quý thầy, kính ơn quý Ni sư, quý sư cô và tất cả các bậc hiền trí. Con không biết nó lời gì hơn bằng cả một tấm lòng chân thật của con. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Phật tử 2: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con xin thêm hết lòng thành kính đảnh lễ Đức Thế Tôn Tỳ-bà-thi, con xin đem hết lòng thành kính đảnh lễ đức bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con xin đem biết lòng thành kính ơn trên sư phụ, con xin đem hết lòng thành kính đảnh lễ chư tôn thiền đức tăng ni cùng các bậc hiền trí, Phật tử con sắc thân là Hoa Hương xin trình pháp. Bạch trên sư phụ cảm thọ trong con ngay lúc này là một lòng biết ơn vô tận trên Đức Thế Tôn Tỳ-bà-thi, trên Thế Tôn bổn sư Thích-ca Mâu-ni, trên bậc đạo sư, trên sư phụ. Nhờ có các ngài mà con đã biết tới con đường để đi tới đoạn diệt và giải thoát. Con biết ơn rất là nhiều mặc dù sự tu học của con cũng còn non nớt nên con chưa có hiểu nhiều, chưa có đọc thuộc được.
Con thấy một cảm thọ làm cho con rất là xấu hổ, nhục nhã, cảm thấy bản thân mình hạ liệt, vô tri, vô minh, thật là ngu si khi tưởng con nhớ lại cách đây khoảng chừng năm năm con có được một quý thầy hướng dẫn "con à, con đừng đọc bất cứ một sách, một ấn phẩm nào ngoài Tứ Diệu Đế và Bát Chánh Đạo". Lúc đó con cũng rất tin tưởng đã đọc đã nghe rất nhiều nhưng vì sự ngu si, vì sự vô minh trong con nên con không hiểu, con không hiểu một chút nào như ngoài đời hay dùng câu "như nước đổ lá khoai". Con đã bỏ những cuốn sách đó chạy theo những dòng pháp khác, các pháp môn khác, con chạy hoài, tìm kiếm hoài nhưng con không thấy ở đâu là yên bình, ở đâu là an lạc cho đến đủ nhân duyên được về Linh Quy. Con thấy rất là biết ơn sư phụ, biết ơn quý thầy, quý Ni sư ở đây rất là nhiều.
Khi nghe sư phụ giảng trong tưởng con hiện về những hình ảnh trong quá khứ, những đau khổ, đau đớn tột cùng con đã trải qua lâu lắm rồi, bây giờ nó lại hiện về. Con tưởng chừng con vượt qua được rồi nhưng không phải, nó vẫn nằm ở đó, vẫn hiện hữu nơi đó, ở trong sâu thẩm đó, chỉ là con cố gắng đè nó xuống, không nhớ tới nó chứ không có diệt trừ nó. Sư phụ ơi! Con đã biết được con phải làm thế nào rồi, con phải cố gắng rất là nhiều, phải đọc, phải nghe nhiều và phải thấu hiểu từng lời của sư phụ, của quý thầy, quý Ni sư chỉ dạy, phải cố gắng hành theo những gì con được học, được nghe. Con xin cảm ơn, xin tri ân sư phụ, quý thầy, quý Ni sư rất là nhiều. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Phật tử 3: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con xin đem hết lòng thành kính đảnh lễ Đức Phật Tỳ-bà-thi, con xin đem hết lòng thành kính đảnh lễ Đức Phật bổn sư Thích-ca Mâu-ni, con xin đem hết lòng thành kính đảnh lễ sư phụ, con xin đem hết lòng thành kính đảnh lễ chư tôn đức Tăng Ni cùng các bậc hiền trí. Dạ thưa sư phụ cảm thọ của con trong những ngày qua khi sư phụ trở về núi là vô cùng hoan hỉ, có thể nói những ngày mà con được trở về sống trong nếp nhà đạo tràng Nikāya là những ngày hạnh phúc nhất của cuộc đời con.
Con đã được đầy đủ nhân duyên nghe sư phụ trùng tuyên lại những lời dạy của Đức Phật, được sư phụ phơi bày ra những sự thật của đời sống này, con thấy rất là hạnh phúc, hỷ lạc khi nghe được những lời dạy ấy. Trong con bây giờ là một lòng cung kính, biết ơn tối thượng đối với các Đức Phật, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác đã hy sinh rất nhiều kiếp để tìm ra con đường giúp chúng sanh đưa đến giải thoát khỏi vòng sanh tử luân hồi, tiến đến an lạc tối thượng. Cười gì, hân hoan gì khi chào đời bằng tiếng khóc, khi phải mang cái thân bị dẫn dắt bởi nghiệp lực, tự hào gì, hãnh diện gì khi phải mang một cái thân chứa đầy những chất bất tịnh.
Những ngày qua con cảm thấy thật là ngao ngán khi phải mang cái xác thân phải chết hoài. Thọ; tưởng; hành trong con nó được vận hành liên tục theo những bài thiền quán của sư phụ cũng như trong lúc trình pháp của quý sư thầy, sư cô và các bậc hiền trí. Con nhớ lại lời nói của cô Dương nói rằng Đức Phật nói thân này thật quý khi mà được trở về thân người, bây giờ con suy nghĩ, con quán lại con mới hiểu được là Đức Phật nói quý của cái thân người không phải là quý nuôi dưỡng, cung phụng cái thân xác thịt, da thịt đầy chứa đầy chất bất tịnh này, mà quý ở đây chính là khi trở về được làm người là được nghe hiểu chánh pháp, được biết chánh pháp, chỉ có một việc duy nhất cần làm khi được trở về làm người chính là tu học phải rốt ráo. Đó là việc làm duy nhất và việc làm cần thiết khi được trở về làm thân người, phải biết nhận diện ngũ uẩn, thể nhập thánh trí, diệt tham, sân, si để thoát ly sanh tử.
Con biết là con đường, đạo lộ mà Đức Phật chỉ ra cho chúng con đã quá rõ ràng, có thể là khó khăn, có thể là xa nhưng có đi thì mới có tới. Con luôn nhớ một cái bài học mà quý sư cô để chỉ con, đó chính là dù con đường có xa cách mấy thì chỉ cần chánh niệm, chỉ cần đi an toàn hai-ba mét trước mặt nhưng mà mình đi từ từ, an toàn từ từ thì nó cũng sẽ tới đích, hãy giữ giới, định, tuệ. Hãy giữ giới thật kỹ, từ việc giữ giới mình sẽ sanh ra định, khi có định mình sẽ có trí tuệ phát sinh, từ đó mình sẽ đi an toàn đến cuối con đường. Trong những ngày qua con luôn nhớ những bài học mà sư phụ đã chỉ dạy con rất sâu sắc về các bài học duyên sanh pháp, hay là các hành là vô thường, hoặc là cái thân và việc phải từ bỏ cái thân kiến đầy vô thường, hủy hoại, hoại diệt này. Con vô cùng biết ơn và xin tri ân đối với công đức của Đức Phật, các bậc đạo sư và sư phụ, con hứa sẽ cố gắng hành pháp, sống trong pháp và hành trì pháp đúng chánh pháp để có thể đạt thành tụ. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư Phụ: Rất là tốt, cô mới lên đây ra được chừng một tháng nay và có được cái hiểu như vậy là rất tốt, có căn lành, duyên lành cố gắng nắm bắt miên mật, lấy cái cơ hội vô lượng kiếp mới có được một lần này để nỗ lực, tinh cần, tinh Tấn, dũng mãnh lên. Lành thay! Lành thay!
Chúng ta thấy bạn trẻ mới có một tháng lên núi mà tu học và có sự nhận diện như vậy là rất hoan hỉ, thầy cô ráng chăm sóc cho những mầm non của Phật pháp. Những người trẻ như vậy có một trí tuệ sắc bén, có học thức, có tri thức, có sự bén nhạy và có duyên lành nữa, nếu mà tu được sau này sẽ giúp ích được rất là nhiều người nên Ni sư cố gắng giúp đỡ cho các vị mới đến.
Cô Hiền Trân: Con chân thành đảnh lễ Đức Phật Tỳ-bà-thi, con chân thành đảnh lễ Đức Phật Thích-ca Mâu-ni – bậc thầy của chư thiên và loài người, con chân thành đảnh lễ trên sư phụ bậc ân sư tôn kính, con chân thành đảnh lễ trên quý chư tôn hiền đức Tăng ni, quý sư cô và quý chư hiền. Dạ kính thưa sư phụ sáng nay khi nghe sư phụ giảng một thời pháp thì con có ba dòng ý tưởng, thọ, tưởng, hành vận hành, cảm thọ rất là hỷ lạc. Khi nghe sư phụ giảng thì cái tưởng và cái hành nói ở ngoài đời một vị giảng sư đi giảng ở trường Phật học, hay là giảng ở trường đại học, hoặc là một vị ca sĩ lên n hát thì phải có tiền catse còn sư phụ thì hàng ngày lên giảng cho chúng con mấy tiếng đồng hồ sư phụ đâu cần gì đâu, chỉ cần chúng con lắng tâm nghe pháp, hành pháp là sư phụ rất vui, hoan hỉ.
Cái thứ hai con rất hỷ lạc khi nghe sư phụ nói về vấn đề trùng tuyên thánh điển của Đức Phật để lại thì con rất là hỷ lạc. Ý hành con nói đúng rồi khi mình trùng tuyên lại thánh điển của Phật một bài kinh nào rồi mình sẽ tâm đắc những lời trong bài kinh đó, mình ghi âm lại hay quay youtube thì sẽ có một ngày nào đó đủ duyên thì các vị đó mở Youtube lên sẽ thấy, sẽ nghe những lời đó thì họ sẽ cảm nhận được và họ hiểu ra vấn đề tại sao khổ, lý do mình khổ, những vị đó sẽ thấm được lời của Đức Phật dạy và họ sẽ tìm hiểu đến lời giải pháp đó, như vậy giáo pháp của Đức Phật không bị mai một.
Cái thứ ba nữa là một cảm thọ khi nghe sư phụ nói đời này mình thà khuất đôi tròng mắt thì khi con thấm được thánh pháp thì con thấy đúng là mình không cần ngoài đời nhìn chi cho nhiều để thêm phiền não. Nhìn nhiều, nghe nhiều đem cái phiền não vào cho mình, mình chỉ cần ở nhà mình, hoặc là đi đâu chỉ cần an trú trong pháp thì cái pháp đó hỷ lạc suốt cả ngày. Nếu mà mình có thể ra đi bất cứ lúc nào thì mình cũng có được vốn liếng trong pháp, còn mình nhìn nhiều, nghe nhiều những cái ngoài đời thì đem đến phiền não ngày một tăng cao, chẳng có lợi lạc gì và đó là sáng nay con thọ nhận được ba vấn đề đó. Con xin kính trình trên sư phụ.
Sư Phụ:
Tâm thương này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới này
Tâm thương này tỏa rộng
Khắp trời đất bao la.
./.
Sỉ Nhục Thay! Sự Sanh Già Bệnh Chết 10!
Trình Tự Thuyết Pháp Của Chư Phật 2
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Các hành tịch tịnh PAGEREF _Toc192791739 \h 1
II. Hỷ và ưu PAGEREF _Toc192791740 \h 1
III. Tư duy tu tập đúng đắn PAGEREF _Toc192791741 \h 6
IV. Nhu thuận PAGEREF _Toc192791742 \h 12
V. Thánh Pháp tối thượng PAGEREF _Toc192791743 \h 16
VI. Trình pháp PAGEREF _Toc192791744 \h 22
I. Các hành tịch tịnh
Kính bạch Đức Thế Tôn Tỳ-bà-thi, kính thưa chư tôn đức và chư hiền, chúng ta tiếp tục tìm hiểu về cuộc đời, trí tuệ và đức hạnh của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác. Trong bản kinh này rất nhiều từ ngữ có nghĩa lý rất là thâm sâu cùng cực trong pháp, hôm qua chúng ta có một cái cụm từ, là cái định lý các hành tịch tịnh, cái câu đó nghĩa lý nó rất là tột cùng của pháp, các bậc thánh là sắc sẽ tịch tịnh, thọ các ngài sẽ tịch tịnh, tưởng tịch tịnh, hành tịch tịnh và thức cho tịch tịnh. Cảnh giới đó nó là di chứng tương ưng, chỉ người chứng ngộ mới biết được, cái đó là khó thấy được định lý các hành tịch tịnh, giống như phần cuối của bài giải thoát trí.
Trú tâm định tĩnh, vững vàng,
Trú tâm trong sáng, lặng yên, nhẹ nhàng
Trú tâm không nhiễm thế gian,
Trú tâm không động chuyển, không lụy phiền
Trú tâm thoát khỏi đảo điên
Thoát dòng sanh tử, thoát liền, thoát mau
Hoặc là cuối của bài cửa vào bất tử, ngài diễn tả cảnh tịch tịnh của các hành, đó là cái pháp cứu cánh các bậc thánh.
II. Hỷ và ưu
Ngày hôm qua chúng ta đi tới chỗ phương thức thuyết pháp của tất cả ba đời Chư Phật, những vị Tăng Ni có trách nhiệm hướng dẫn pháp là hết sức quan trọng, quý thầy cho đóng cái khung thật là lớn treo lên "Phương Pháp Giáo Hóa Của Ba Đời Chư Phật". Đầu tiên ngài nói về bố thí, sau đó ngài nói về trì giới, sau đó ngài thuyết về các cõi trời, ngài trình bày sự nguy hiểm, hạ liệt, sự nhiễm ô của các dục vọng, hôm qua chúng ta nói tới đó. Kế đó Chư Phật sẽ nói về lợi ích của xuất ly, lợi ích của xuất ly là trong vòng mấy trăm bài kệ mà con làm, đó là nói về sự lợi ích của xuất ly, bài hôm qua chúng ta nghe "Về Rừng Yên Tu" là lợi ích của xuất ly.
Chúng ta ca ngợi, xưng tán, xưng tụng, làm cho phấn khởi, làm cho hân hoan, làm cho ưa thích, làm cho vui thích, làm cho hạnh phúc khi mình được về núi, về rừng, khi mình được viễn ly khỏi cái dục, cái tham ái, các thú vui thấp kém, tầm thường của thế gian. Chúng ta để ý khi mà mình tu nếu cảm giác nó trơ trơ, nó đều đều là người ta tu không có tiến, người tu tiến là thường trú trong hai cái cảm giác, trong giai đoạn này thì một là ưu và hai là hỷ thì người đó mới tu tiến. Trong giai đoạn bây giờ của chúng ta thường có hai cảm giác ưu tư, trăn trở, thao thức, day dứt, giày vò, nó ray rứt thì người đó tu tiến. Cái thứ hai là người này hân hoan, phấn khởi, vui sướng, hạnh phúc, hoan hỉ thì đó là biểu hiện của người tu tiến thì người này có hỷ, có ưu ở trong thiện pháp, trong thánh pháp. Còn một con người cứ lơ đơ, không có ưu tư cũng không thấy hỷ thì cảm thọ người này chưa được khai mở.
Qua cái hỷ và cái ưu đó một thời gian nhiều để gội sửa, sau đó người này mới đi đến cái chỗ trầm mặc thâm sâu, trầm mặc trong cái sự tẩy rửa các lậu hoặc ở bên trong. Thành ra tại sao chúng ta thấy là khóc thì cũng khóc dữ, tới chừng cười thì cũng nhiều, khóc mà cứ nói "con hạnh phúc", nhất là Ấn Đức nè, bữa nào cũng nước mắt đầy mặt mà nói hạnh phúc quá, hay là Ấn Hạnh cũng vậy, rồi sau này tới sư cô nhỏ này cũng vậy, sư cô Nhân cũng bắt đầu, sư cô Khánh An bắt đầu khởi sắc cho nên những buổi trình pháp mà mình đau đớn, đau khổ tột cùng của sanh, già, bệnh, chết như vậy mà mình đầm đìa đầy mặt nước mắt hết là cảm thọ mình bắt đầu khởi sắc.
Mình nghe trình như vậy mà mình cũng trơ trơ, chưa có động đậy gì hết, cảm thọ còn y nguyên, không nhất thiết phải khóc hụ hụ hoặc là ráng, mà tự nhiên nó như vậy, nó vận hành sẽ thấm vào, ngấm vô, nó thẩm thấu vô. Hiền Hằng cũng vậy, giai đoạn này là trong giai đoạn lau chùi, rửa cho sạch để xuất gia, súc cái bình cho sạch mới có thể đựng được đề hồ thượng vị, nhiều khi cái bình dơ, mình đổ phô mai vào là dơ hết, không dùng được cho nên phải súc bình, rửa bình cho nên trong lúc chúng ta khóc lóc cảm xúc, chúng ta hối hận, đau đớn, nhục nhã là chúng ta đang súc cái bình để đựng tối thượng đề hồ, thánh vị cam lộ. Khi mình súc mà nó tương đối sạch thì lúc đó cái pháp rót vào sẽ đựng được, nó không phải là cái đồ rỉ chảy, nó không phải là cái đồ dơ, cái đồ dơ để vô thì nó sẽ lẫn lộn.
Ví dụ như bây giờ mình lấy một cái ly dơ mà đổ sữa tươi vô là không uống được, sữa đó là đem đổ hết, nếu uống vô sẽ ảnh hưởng tới sức khỏe, hoặc là cái chung rỉ chảy thì đổ vô sẽ chảy ra hết, không đựng được pháp cho nên những người đó không phải là bậc pháp khí tại vì mình có nói pháp bao nhiều cũng chảy ra hết, bậc pháp khí là người có thể chứa đựng được pháp, truyền cho họ bao nhiêu là họ sẽ giữ gìn, họ tiếp nhận, họ giữ gìn, họ tu tập và còn phát huy làm cho cái pháp tăng trưởng lớn mạnh trong thân tâm của họ. Đó mới là bậc pháp khí tức là cái đồ có thể đựng được thánh pháp.
Cho nên đừng có làm cái đồ bể, đừng làm phế vật mà hãy làm pháp khí, mình phải lưu giữ được pháp, chứa đựng được pháp và làm tăng trưởng, phát triển lớn mạnh cái pháp ở trong mình, cái trí ở trong mình và những cái cảm thọ đó. Đó là lý do tại sao thời pháp chúng ta càng ngày càng kéo dài mà chúng ta vẫn hỷ lạc, là tại vì chúng ta có hỷ thọ, lạc thọ, cái thọ không có liên hệ đến vật chất. Những người ngồi một tiếng đồng hồ không được vì người ta không có lạc thọ trong pháp, không có hỷ thọ trong sự không liên hệ đến vật chất, thành ra là con muốn duy trì và kéo dài cái cảm thọ chúng ta. Đức Thế Tôn và các bậc thánh có thể ngồi bất động bảy ngày bảy đêm trú ở trong sơ thiền, chúng ta sẽ học những bài kinh Đức Phật hỏi có thể ngồi một ngày một đêm không động mà được an lạc không, thì vị thầy đó nói không được, Thế Tôn nói ngài có thể bất động bất động bảy ngày bảy đêm hưởng hỷ lạc tối thượng.
"--Chư Hiền Nigantha, nay Ta sẽ hỏi các Ngươi một câu, cũng vấn đề này. Nếu các Ngươi vui lòng, hãy trả lời câu hỏi ấy. Chư Hiền Nigantha, các Ngươi nghĩ thế nào? Vua Magadha Seniya Bimbisara có thể không di động thân thể, không nói lên một tiếng, sống cảm giác thuần túy lạc thọ luôn bảy ngày bảy đêm có được không?
--Này Hiền giả, không thể được.
--Chư Hiền Nigantha, các Ngươi nghĩ thế nào? Vua Magadha Seniya Bimbisara có thể không di động thân thể, không nói lên một tiếng, sống cảm giác thuần túy lạc thọ luôn sáu ngày sáu đêm, luôn năm ngày năm đêm, luôn bốn ngày bốn đêm, luôn ba ngày ba đêm, luôn hai ngày hai đêm, luôn một ngày một đêm không?
--Này Hiền giả, không thể được.
--Chư Hiền Nigantha, Ta có thể không di động thân thể, không nói lên một lời, sống cảm giác thuần túy lạc thọ luôn trong một ngày một đêm. Chư Hiền Nigantha, Ta có thể không di động thân thể, không nói lên một lời, sống cảm giác thuần túy lạc thọ luôn trong hai ngày hai đêm, luôn trong ba ngày ba đêm, luôn trong bốn ngày bốn đêm, luôn trong năm ngày năm đêm, luôn trong sáu ngày sáu đêm, luôn trong bảy ngày bảy đêm. Chư Hiền Nigantha, các Ngươi nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy, ai sống hạnh phúc hơn, vua Magadha Seniya Bimbisara hay Ta?
--'Sự kiện là như vậy, Tôn giả Gotama sống hạnh phúc hơn vua Magadha Seniya Bimbisara.'
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Mahànàma thuộc giòng họ Sakka hoan hỉ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn" (Trung Bộ Kinh, 14. Tiểu kinh Khổ uẩn)
Mình tu lần lần là mai mốt mình ngồi một lần bảy-tám tiếng luôn mà mình vẫn hỷ lạc, an lạc. Chúng ta đang tập để nâng lên, còn người nào không được thì thôi, ở lại cái lớp đó chứ đừng kêu mấy người theo mình "đừng tu, tu gì nhiều quá vậy", mình tu không được thì mình đi ra, mình về nghỉ, không sao hết. Ví dụ như học đại học, học trung học, học tiểu học, mình học đại học không nổi thì mình học trung học, mình đừng có phá những người học đại học, mình phải có sự tùy hỷ đối với thiện pháp. Khi mình không làm được mà người ta làm được thì mình phải hoan hỉ, cái đó là cái phước của mình, cái đức của mình, cái này rất quan trọng. Có nhiều người lạ lắm, mình nấu không được mà thấy người ta nấu ngon, ai cũng khen hết là ghét, cái tâm ganh tỵ, đây là cái tâm hèn hạ cho nên trong tất cả mọi việc là mình nhớ mình tập cái tâm tùy hỷ công đức, bất cứ cái gì mà người ta thành, người ta đạt, người ta được mà mình không được thì mình phải vui theo, mình vui giùm, mình thấy giống như mình được vậy đó, thậm chí mình vui vì mình phụng sự được cho những người được nếu mình chưa có tu được.
Cho nên tại sao con rất thích cho các vị nhập thất và con hộ thất, từ xưa giờ là vậy, ngay cả các vị không có tu trong dòng pháp này, miễn là người ta tu được thiện pháp, đó là phước lành, đâu phải dễ chùa có người nhập thất năm năm, bảy năm, mười năm, những vị đó ít nhất cũng là những người nhiếp phục, chế ngự được dục vọng nên mình hộ trì, có điều là đường lối người ta khác mình, đừng có nghe rồi tâm mình động bị kéo đi theo. Thành ra phải tập cái tâm tùy hỷ, cái tâm tùy thuận, cái này rất là tốt, cái tâm này được sẽ vui lắm, hay lắm cho nên làm sao mà chúng ta càng ngày, sau này có khi chúng ta tu một lần tám tiếng đồng hồ, thậm chí là chúng ta sẽ không cần ăn uống trong tám tiếng, thậm chí mình khéo điều tiết cơ thể là không có đại tiểu tiện trong lúc đó luôn, chưa được thì mình cần cứ đi, chứ ai có ép đâu, ai cũng không cho ra đâu.
Khi một người trú được trong pháp, có hỷ lạc trong pháp, trong tiền phương tiện của sơ thiền và sơ thiền thì người này vượt qua hết vật chất, tất cả vật chất đối với người ta không là gì cả, người nào trú lâu được trong cảm thọ nhiều chừng đó thì người đó tu khá, không bị mất cảm thọ, còn một người không có thiện xảo, không trú được trong cảm thọ thì chỉ một chút là thay đổi liền, thay đổi liên tục, người tu khá có sự thiện xảo, khéo léo duy trì và kéo dài cảm thọ, trú trong đó. Khi trú được trong cảm thọ đó rồi thì cái ăn, cái uống, cái dao động này nọ kia, hướng ngoại đối với người ta không có là gì, người ta còn thích trú được ở trong cảm thọ đó. Con cũng xin thưa với đại chúng là các vị nào mà đau quá thì mình cứ xá xá mình lui, không sao hết, đừng có ngồi đó chịu trận, mình đau thì mình về phục vụ cho đại chúng. Như vậy thì chúng hội mới tăng thượng, sự tu của mình nó mới có phát triển, còn mình cứ đều đều vậy hoài mình không có cơ hội phát triển.
Lợi ích của xuất ly là hay lắm, hai cái này là hai thái cực, một cái là Đức Thế Tôn trình bày sự nguy hiểm, sự hạ liệt, sự nhiễm ô của các dục vọng, ngài trách dục, ngài mắng dục, ngài chửi dục, ngài phỉ nhổ cái dục. Đức Phật có hàng chục cái ví dụ về dục, nào là đầu rắn, hố than hừng, là cái lưỡi câu, móc câu, là miếng mồi, là kẻ sát nhân, kẻ giết người, giấc mộng và miếng thịt mà các con thú tranh giành, bó đuốc bằng rơm cháy cái tay, đó là Đức Phật phỉ nhổ, xỉ vả, sỉ nhục, chê trách các sự thấp hèn của dục vọng hạ liệt, sự nguy hiểm, sự tai hại, sự bẩn thỉu của các dục. Chúng ta nắm được cái này là nắm tất cả hệ thống giáo lý của ba đời Chư Phật cho nên cái này phải viết ra cái bảng "phương thức giáo hóa của ba đời Chư Phật" và tất cả người hoằng pháp phải hướng đi theo chiều này, đi theo cái đạo lộ này. Đây là tổng cương lĩnh giáo dục Phật giáo của các bậc Chánh Đẳng Chánh Giác trong nhiều ngàn tỷ kiếp.
Phải làm một luận án tiến sĩ về cái này thưa Ni sư, các cử nhân, các thạc sĩ ở đây lấy cái này ra nghiên cứu, Ni sư làm luôn, những người có khả năng sẽ làm rất là tốt, cái này cống hiến cho Phật giáo luôn, vĩ đại lắm, cống hiến cho Phật giáo thế giới, sau này mình dịch ra tiếng Anh, tiếng Hoa luôn. Làm thành một luận văn đây là quy trình thuyết pháp của tam thế Chư Phật, phương thức giáo hóa của tất cả các bậc Chánh Đẳng Chánh Giác trong ba đời. Mình chọn những bài kinh mình thích ứng là mình đưa vào, sau này nó trở thành một cái hệ thống giáo dục của Phật giáo thế giới, các trường Phật học hay là ở tại đây học theo vậy, ai có khả năng làm đi, không nhất thiết phải có bằng cấp mới làm được, chỉ cần có tâm thôi, tâm huyết tu học và có khả năng ghi chép, viết lách là được, nhiều khi ba-bốn người tập hợp lại làm.
III. Tư duy tu tập đúng đắn
Mình làm như vậy là mình an trú ở trong pháp, tư duy trong pháp, mình đặt tâm mình vào trong pháp. Chúng ta mới làm một cái bảng sơ đồ, hiện tại là ban văn hóa đang làm sơ đồ về thánh trí ngũ uẩn, mới phát thảo đưa cho con hôm qua, ở đây là mình làm sơ đồ đối chiếu, bên đây là xỉ vả cái dục, bên đây là xưng tán sự xuất ly, viễn ly của Niết-bàn, hai cái này đối chiếu với nhau, một bên chê và một bên khen. Chúng ta dùng cái khen chê này để tu, mình đừng nghĩ tu là im ru hết "bây giờ tôi tu rồi nên không có ý kiến gì hết", thật ra không phải như vậy, một bên là mạt sát, một bên là xưng tán tột cùng, đó là hỷ và ưu, đó là khen và chê, một cái hạ xuống và một cái đưa lên.
Ngày xưa chưa có dòng pháp này mình nghĩ đơn giản tu là im ru, ngồi cũng im ru luôn, ai nói gì mình cũng đừng nói hết, ai làm gì mình cũng khỏi làm luôn, đâu phải như vậy, ngược lại làm nhiều lắm, suy nghĩ nhiều lắm, suy nghĩ nhức đầu nhức óc, vỡ sọ, suy nghĩ để cho nó nổ cái ngu ra, đó là như lý tác ý thiền quán, dùng suy nghĩ diệt suy nghĩ. Mình xỉ vả, mình làm cho nó nhục nhã rồi mình ngồi cười sung sướng, hả dạ ghê vì xưa giờ nó làm nhục mình, bây giờ mình lật ngược lại xỉ vả nó, sướng ghê, thỏa chí bình sanh ghê. Đó là hỷ lạc của sơ thiền, là niềm vui chiến thắng, là hạnh phúc của dũng sĩ, bây giờ tu là chiến sĩ Phật giáo mà vô thấy chả có tranh đấu gì hết, khỏi trình gì hết, biết vậy thôi, ai sao mình vậy, kêu thì lên, không kêu thì thôi, nhiều khi kêu cũng không làm luôn, vậy thì tu tới chết cũng không được, không đi tới đâu, thích thì làm, không thích thì thôi, đó là tu theo cái vô minh của mình, tu theo bản ngã của mình, tu theo cái dục của mình, tu ở trong cái nghiệp của mình chứ không có tu theo thánh trí huệ.
"Tôi muốn thì tôi làm, tôi thích thì tôi làm", đó là tu trong dục, trong khoái, trong tham, làm cái này phải là phải thấy là tôi ngon thì mới làm thì đó là làm trong cái ngã, làm những cái nào tôi quen, tôi biết mới làm, còn không biết là không làm thì đó là làm trong cái nghiệp. Bây giờ con hỏi quý vị chúng ta học cái thánh trí này toàn là những cái đó giờ mình không biết, toàn là những cái ngược đời của mình, những cái mình quen giờ phải bỏ, ăn cũng ngược, nói cũng ngược, ở cũng ngược, suy nghĩ cũng ngược, cảm giác ngược vì cảm giác vui nhưng phải quán khổ. Nếu mình muốn làm theo cái quen của mình thì làm sao tu được?
Thói quen tức là nghiệp, sống với thói quen là sống với nghiệp, mình muốn phá cái nghiệp, chuyển cái nghiệp, diệt cái nghiệp thì mình phải từ bỏ những thói quen. Vào tu kêu chỉnh sửa lại thì bảo nào giờ quen vậy rồi là xong, tức là người này thúc thủ, là bó tay, vậy rồi làm sao thoát được nghiệp? Nghiệp là thói quen ở trong suy nghĩ, lời nói, hành động, bây giờ tu chỉ muốn sống trong thói quen thôi, "cái này lạ tôi không biết, tôi không muốn, tôi không thích", vậy là sống với nghiệp thức, sống với nghiệp lực, sống với cái nghiệp mê. Cho nên mình tu rồi mình mới thấy nhiều cái bất ngờ này đến bất ngờ khác, mình thấy những cái mình chưa từng thấy, mình nghe những điều mình chưa từng nghe, mình hiểu những điều mình chưa từng hiểu, mình cảm thọ những điều mà chưa bao giờ cảm thọ, mình nhận thức, thức tri, mình biết những điều mà đó giờ mình chưa bao giờ biết. Đó là tu Nikāya, đó cũng là tu chung của Phật giáo, tu đúng là như vậy.
IV. Căn cơ của mỗi người
Nhiều khi mình muốn là làm chứ không hỏi, có khi con thấy con muốn giúp nhưng mà thôi, để cho tự nhiên, mình phải hỏi những cái quan trọng. Khi mình thấy làm người kia làm vậy thì mình muốn cũng làm vậy nhưng mà không phải, người kia làm vậy là trúng mà mình làm vậy lại không trúng, mỗi người có nghiệp lực khác nhau, cái cấu nhiễm khác nhau, tập khí khác nhau, không phải mình thấy người kia như vậy là mình phải như vậy, người kia làm vậy là trúng nhưng mình lại không thích hợp.
Con thí dụ mình ngồi thiền thì tất cả mọi người đều ngồi hết, mình ngồi mà con mắt sụp xuống buồn ngủ mà mình không chống cự được cơn buồn ngủ, nếu mình ngồi giống người kia là không được, người kia đang tỉnh giác thì mình phải bước ra ngoài sau tận cùng dập đầu lạy sám hối để đánh đuổi cơn buồn ngủ, mình khác với người ta tức là mình giống như người ta tại vì người ta đang tỉnh, mình đang mê, mình giống như người ta tức là mình khác với người ta.
Nếu mình không biết mình thì mình khó tu lắm, khó tiến lắm, mình giống với người ta là mình khác người ta, còn mình khác với người ta là mình giống người ta. Có khi mình giống với người ta là mình giống người ta, có khi mình giống người ta là mình khác người ta. Có khi mình khác người ta thì là mình giống với người ta, có khi mình khác người ta là mình khác người ta. Cái quan trọng nhất là phải nghe lời thì mới tiến vì những bậc đi trước người ta có nhiều trí tuệ, nhiều kinh nghiệm, người ta chỉ mà mình không nghe, khi mình nghe lời có thể mình đốt giai đoạn một trăm năm, một ngàn năm, hoặc là mười ngàn năm của mình tu không bằng sự chỉ dạy của các vị có trí tuệ, chỉ cần mình tu một năm bằng mình tu một trăm ngàn năm.
Sư phụ của con nói với con "thầy cố gắng nắm giữ cái pháp thầy học, bây giờ con chỉ cho thầy, nếu tự thầy đi tìm ra thì mười năm sau thầy cũng chưa có thấy, thậm chí là tới chết luôn". Thành ra những cái đó con học con thấy hay lắm, nếu những bậc thiện trí, những bậc chánh kiến, bậc chân nhân, bậc có trí tuệ chỉ cho mình thì đúng là chỉ chỗ chôn vàng, chỉ mỏ kim cương. Chỉ cần nghe thôi, mình tiếp nhận, một là mình chưa làm được mình để đó, hai là mình làm được ít ít, ba là mình làm được hết là tuyệt diệu rồi nhưng mà những đó là cái đốt giai đoạn trong vòng luân hồi sinh tử này của mình, có thể tự mình tu một trăm năm nhưng có người ta chỉ dạy thì chỉ cần tu một tháng thôi, mình vượt qua một trăm năm đó. Sự học pháp của con đốt giai đoạn hơn hai ngàn năm, giống như chính thống ngồi ở trong linh sơn pháp hội.
IV. Thiện bạn hữu
Nếu mình không gặp bậc thiện tri thức hai ngàn năm nữa mình cũng không được học cái này nữa, một trăm ngàn năm nữa cũng không được. Chính vì vậy mà chúng ta nhớ ngài A-nan một hôm phát biểu bạch Thế Tôn có bậc thiện hữu, bậc thiện tri thức là hoàn thành phân nửa cuộc đời tu cho mình, Thế Tôn bảo chớ có nói như vậy, bậc thiện hữu, bậc thiện tri thức là hoàn thành cả cuộc đời tu của mình, không phải là phân nửa. Câu này nghe mà giật mình, nhưng mà có chỗ thì Đức Phật nói đừng nương tựa với bất cứ cái gì khác hết, có chỗ Đức Phật nói như vậy thì mình phải hiểu hai cái này không có mâu thuẫn, cái sự nương tựa chính mình là sau khi mình được dạy rồi, được chỉ rồi thì mình về nỗ lực thì cái đó phải là mình, nhưng nếu không có sự chỉ dạy của các bậc đó thì mình nổ banh xác một trăm năm luôn cũng không có tới thánh đạo, thánh quả, mình nổ trong vô minh không thôi, lựu đạn nổ không chứ mình không nổ được tham, sân, si, bản ngã.
"Ngồi một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
-- Một nửa Phạm hạnh này, bạch Thế Tôn, là thiện bạn hữu, thiện bạn đãng, thiện thân tình.
-- Chớ có nói vậy, này Ananda! Chớ có nói vậy, này Ananda! Toàn bộ Phạm hạnh này, này Ananda, là thiện bạn hữu, thiện bạn đãng, thiện thân tình. Với Tỳ-kheo thiện bạn hữu, thiện bạn đãng, thiện thân tình, này Ananda, thời được chờ đợi Thánh đạo Tám ngành được tu tập, Thánh đạo Tám ngành được làm cho viên mãn.
Và này Ananda, thế nào là Tỳ-kheo thiện bạn hữu, thiện bạn đãng, thiện thân tình, tu tập và làm cho viên mãn Thánh đạo Tám ngành? Ở đây, này Ananda, Tỳ-kheo tu tập chánh tri kiến liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Tỳ-kheo tu tập chánh tư duy... tu tập chánh ngữ... tu tập chánh nghiệp... tu tập chánh mạng... tu tập chánh tinh tấn... tu tập chánh niệm... tu tập chánh định liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Như vậy, này Ananda, là Tỳ-kheo thiện bạn hữu, thiện bạn đãng, thiện thân tình, tu tập Thánh đạo Tám ngành, làm cho sung mãn Thánh đạo Tám ngành" (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương I. Tương Ưng Ðạo (a), I. Phẩm Vô Minh, II. Một Nửa)
Mình đánh bom nguyên tử vào bản ngã mà nó vẫn còn vênh váo, hống hách cho nên một phần nữa Đức Thế Tôn nói cái nhân sanh chánh kiến, làm sao để thành tựu chánh kiến là nghe lời dạy của người khác và như lý tác ý. Nghe lời dạy của ai? Nghe lời dạy của bậc chân nhân, chánh kiến, bậc thiện tri thức, bậc trí tuệ, bậc đã thấy pháp, như vậy có phải bậc thiện tri thức quyết định hết, chánh kiến cũng quyết định mà thành tựu phạm hạnh toàn phần cũng quyết định. Bây giờ mình không nghe thì mình thành cái gì? Chính vì vậy thật sự rất thâm ý trong bài đảnh lễ ngài Xá-lợi-phất.
Nay con xin tập hạnh tâm hiền,
Hiền lành, lắng dịu, chẳng phiền ai,
Dễ chịu, dễ thương và dễ mến,
Dễ bảo, dễ nghe pháp Thánh hiền.
Chính mà vậy mà ngày hôm qua con liên hệ Phật tử mới trình pháp với tâm chống thì con nói khi tâm chống đối này hết đối với thánh Pháp là Nhập Lưu, tức là nghe lời một cách hoàn toàn. Khi nào mình không còn chống đối nữa là lúc đó mình đã xuôi dòng với thánh tuệ, còn chống đối nhiều là mình còn xa, điều này nó không phải dễ với một cái người có bản ngã nhỏ, cái tâm nhu thuận, tùy thuận và có cái trí bên trong thì nó dễ, người có bản ngã lớn mà chống đối là cái đó mình dễ thấy rồi nhưng ở ngoài nó vẫn mềm mại, nhu thuận, nó vâng vâng, dạ dạ, cúi cúi, lễ lên nhưng bên trong không chịu, nó vẫn bị loại ra khỏi vòng pháp. Chúng ta nhớ đây không phải là cá nhân, ở đây là cái pháp chứ không phải cá nhân.
Thí dụ như có những người học bốn mươi năm trong giáo lý nguyên thủy rất quý mến, kính thương con lên đây học, đâu phải dễ, người ta học chánh thống nhưng đến khi đụng vào bản ngã " Thưa thầy cái bản ngã có đâu mà diệt hả thầy? Tại sao sám hối diệt ngã?", cái này sâu sắc lắm, bản ngã không có nhưng cái gì đang nói vậy cho nên Đức Thế Tôn nói khó thấy, khó chứng, thâm sâu vi diệu, tịch tịnh siêu lý luận, người ta học cứ đòi lý luận trong khi cái pháp này không phải là lý luận, đây là cái pháp chỉ thẳng, đến để mà thấy. Con trình bày là "dạ thưa, cái bản ngã không có trong bản chất của các pháp" nhưng trong mình có chấp ngã không? Cho nên sám hối diệt ngã là nói vắn tắt, nói đầy đủ là sám hối diệt trừ chấp ngã. Nếu bản ngã không có thật thì làm sao diệt? Như vậy là khỏi diệt, xuống núi luôn thành ra người muốn vào dòng pháp này thì điều kiện tiên quyết là tâm hiền và sự khiêm hạ, sau đó là sự nghe lời pháp thánh hiền.
Thế Tôn nói về bố thí, trì giới, trình bày các cõi trời, sự nguy hiểm, hạ liệt, nhiễm ô của dục vọng và sự lợi ích của xuất ly, cái này con chú trọng và con nói thật chậm là để cho chúng ta thấy phương thức giáo hóa của Chư Phật. "Thế Tôn biết được tâm trí của hai vị này đã thuần thục, nhu thuận, thoát ly triền cái, cao thượng và an tịnh", đây là một cấp độ nữa, cái tâm trí của mình là nhu thuận, thuần thục. Nhu là mềm mại, thuận là thuận theo nó, không có nghịch, không có chống, cái tâm đã mềm mại rồi, đã thuần thục rồi. Chữ thuần thục với nhu thuận này là không phải dễ bởi vì mỗi chữ trong kinh là pháp hành, mỗi chữ trong đó có khi mình tu hành cả chục năm.
IV. Nhu thuận
Thế nào là thuần thục nhu thuận? Như thuận là không có chống, không có nghịch, nhu là nhu nhuyến, mềm mại, không có cứng cỏi nó. Ví dụ một chuyện đơn giản nhất là chỗ ngồi của mình, đây là chỗ ăn cơm, đi khất thực hay là chỗ nghỉ, tâm mình mềm khi xúc duyên đối cảnh, thí dụ tự nhiên cô kia lại nói "chị làm cái gì mà kỳ cục vậy nè? Sao chị làm vậy?", mình quay trở về coi cái cảm thọ trong đây, mình có một cái sự lắng dịu, thậm chí là mình tác ý vẫn được, mình vẫn trầm tĩnh, trầm mặc, trầm lặng, trầm tư. Lúc đó cảm thọ mình trầm lặng xuống, không có phản kháng, đó là tâm nhu thuận, chẳng hạn Ấn Liên nấu bếp bằng cả tấm lòng nhưng mà tự nhiên có người vô nói "nấu gì mà dở quá vậy?", lúc đó các pháp có cái gì bên trong sẽ hiện ra hết.
Có người nói Ấn Hạnh "bản ngã cao quá vậy, coi ai không ra gì hết" thì lúc đó các pháp hiện ra thế nào? Còn nhu thuận không? Đức Phật có bài kinh nói về bà chủ hiền thục lấy gỗ đập bể đầu người tì nữ, tức là người chủ này có danh tiếng là một người hiền thục, người làm mới đến nhà muốn thử xem người chủ của mình hiền đến cỡ nào, người làm ngủ đến sáng không dậy.
"Chư Tỳ-kheo, thuở xưa, tại thành Savatthi này có nữ gia chủ tên là Vedehika. Chư Tỳ-kheo, tiếng đồn tốt đẹp sau đây được khởi lên về nữ gia chủ Vedehika: 'Nữ gia chủ Vedehika là hiền thục, nữ gia chủ Vedehika là nhu thuận; nữ gia chủ Vedehika là ôn hòa'. Chư Tỳ-kheo, nữ gia chủ Vedehika có người nữ tỳ tên là Kali, người này khéo tay, siêng năng, và làm việc cẩn thận chu toàn. Chư Tỳ-kheo, nữ tỳ Kali khởi lên ý nghĩ: 'Chủ của ta được tiếng đồn tốt đẹp khởi lên như sau: 'Nữ gia chủ Vedehika là hiền thục; nữ gia chủ Vedehika là nhu thuận; nữ gia chủ Vedehika là ôn hòa'. Không biết nữ chủ của ta có nội sân mà không tỏ lộ hay không có nội sân, hay vì công việc ta làm cẩn thận chu toàn nên nữ chủ ta có nội sân nhưng không tỏ lộ, không phải không có. Vậy ta hãy thử nữ chủ của ta!'
Chư Tỳ-kheo, rồi nữ tỳ Kali sáng ngày sau dậy thật trễ. Chư Tỳ-kheo, nữ gia chủ Vedehika nói với nữ tỳ Kali:
-- Này Kali!
-- Thưa Nữ chủ, có việc gì?
-- Sao hôm nay Ngươi dậy trễ vậy?
-- Thưa nữ chủ, có việc gì đâu?
-- Thật sự không có việc gì à? Ác nữ tỳ kia, hôm nay Ngươi dậy trễ!'
Và nữ chủ phẫn nộ, bất mãn, trừng mắt.
Chư Tỳ-kheo, nữ tỳ Kali suy nghĩ: 'Nữ chủ của ta thật sự có nội sân nhưng không tỏ lộ, không phải không có. Vì những công việc ta làm cẩn thận chu toàn, nên nữ chủ của ta tuy có nội sân nhưng không tỏ lộ, không phải không có. Vậy Ta hãy thử thêm nữa nữ chủ của ta!
Chư Tỳ-kheo, rồi nữ tỳ Kali ngày sau lại dậy trễ hơn nữa. Chư Tỳ-kheo, nữ chủ Vedehika nói với nữ tỳ Kali:
-- Này Kali!
-- Thưa Nữ chủ, có việc gì?
-- Sao hôm nay Ngươi dậy trễ vậy?
-- Thưa Nữ chủ, có việc gì đâu?
-- Thật sự không có việc gì à? Ác nữ tỳ kia, hôm nay Ngươi dậy trễ!
Và nữ chủ phẫn nộ, bất mãn, thốt lên những lời bất mãn.
Chư Tỳ-kheo, nữ tỳ Kali suy nghĩ: 'Nữ chủ của ta thật sự có nội sân nhưng không tỏ lộ, không phải không có. Vì những công việc ta làm cẩn thận chu toàn nên nữ chủ của ta tuy có nội sân nhưng không tỏ lộ, không phải không có. Vậy ta hãy thử thêm nữa nữ chủ của ta!'
Chư Tỳ-kheo, rồi nữ tỳ Kali sáng hôm sau lại dậy trễ hơn nữa. Chư Tỳ-kheo, nữ chủ Vedehika nói với nữ tỳ Kali:
-- Này Kali!
-- Thưa Nữ chủ, có việc gì?
-- Sao hôm nay Ngươi dậy trễ vậy?
-- Thưa Nữ chủ, có việc gì đâu?
-- Thật sự không có việc gì à? Ác nữ tỳ kia, hôm nay Ngươi dậy trễ!
Rồi phẫn nộ, không hoan hỉ, nàng cầm cái then gài cửa, đánh một cú trên đầu nữ tỳ khiến bể đầu.
Chư Tỳ-kheo, nữ tỳ Kali, với đầu bể máu chảy, liền đi kể lể với các nhà láng giềng:
-- Hãy xem việc làm của nữ chủ hiền thục! Hãy xem việc làm của nữ chủ nhu thuận! Hãy xem việc làm của nữ chủ ôn hòa! Sao nữ chủ nói với nữ tỳ độc nhất: 'Hôm nay Ngươi dậy trễ', rồi phẫn nộ, bất mãn, nàng cầm then gài cửa, đánh tôi một cú trên đầu khiến bể đầu".
Chư Tỳ-kheo, sau một thời gian, tiếng đồn xấu sau đây được khởi lên về nữ chủ Vedehika: 'Nữ chủ Vedehika là độc ác! Nữ chủ Vedehika là không nhu thuận! Nữ chủ Vedehika là không ôn hòa!'" (Trung Bộ Kinh, 21. Kinh Ví dụ cái cưa)
Hôm sau người làm cũng ngủ dậy trễ thì bị la mắng, hôm sau cũng nằm luôn thì người chủ lấy then gài cửa đánh người làm chảy máu đầu. Người làm ôm cái đầu máy chạy ra ngoài la lên cho mọi người thấy bà chủ hiền thục đánh mình thế nào, Đức Phật ví dụ câu chuyện đó để dạy cho chư Tỳ-kheo lúc bình thường thấy hiền nhưng mà nhưng mà chưa chắc là mình hiền. Khi mình bị mắng chửi, hủy nhục, thậm chí là tổn hại, tác động vật lý lúc đó cái tâm mình có hiền không, nếu giữ được tâm hiền thì Đức Thế Tôn nói đó mới là bậc hiền trí của Phật giáo. Trong kinh Đức Phật dùng những hình ảnh rất là thiết thực, gần gũi, dễ hiểu, ấn tượng, chẳng hạn Đức Phật ví dụ cô dâu mới về nhà chồng vậy người ta rất dễ nhớ, hết sức là tuyệt diệu.
"Ví như, này các Tỳ-kheo, người vợ trẻ, trong đêm hay ngày, được đưa về nhà chồng, nàng cảm thấy hết sức xấu hổ, sợ hãi trước mặt mẹ chồng, cha chồng, trước mặt chồng, cho đến trước mặt các người phục vụ, làm công. Sau một thời gian, do chung sống, do thân mật, nàng có thể nói với mẹ chồng, với cha chồng, với chồng: 'Hãy đi đi, các người có biết được gì!'.
Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, ở đây có Tỳ-kheo, trong đêm hay ngày được xuất gia, từ bỏ gia đình sống không gia đình, cảm thấy hết sức xấu hổ, sợ hãi trước mặt các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ, cho đến trước những người làm vườn và những Sa-di. Sau một thời gian, do chung sống, do thân mật, vị ấy có thể nói với sư A-xà-lê, với sư Giáo thọ: Hãy đi đi, các người có thể biết được gì!". (Tăng Chi Bộ, Chương IV - Bốn Pháp, VIII. Phẩm Không Hý Luận, (IV). Người Vợ Trẻ)
Mình phải tán thưởng Đức Phật, hôm nào đang sân thì phải nhớ đến câu chuyện bà chủ hiền thục của tôi, mình phải nhắc nhở như vậy, Đức Phật ví dụ dễ nhớ, rất hay và ấn tượng không bao giờ quên, đó là cái tâm nhu thuận. Cái tâm thuần thục là mình ra lệnh nó nghe liền, bây giờ mình kêu an tịnh đi thì lập tức cái tâm lắng dịu xuống, đó là tâm thuần thục. Mình kêu khởi tâm thương xót đi, có gì đâu mà giận thì lập tức khởi lên tâm thương liền, mà tâm thương này là cùng khắp cảm giác toàn thân, rộng ra không gian phía trước mặt, thậm chí trải khắp mười phương, đó là tâm thuần thục. Cái tâm thuần thục như vậy mới thoát ly được năm triền cái, tâm mà huấn luyện để cho nó thuần thục như vậy là cả một cái công trình, công phu, công đức, công quả, công lao, công hạnh, biết bao nhiêu chữ công, khổ công, dụng công.
Năm triền cái là dục tham, sân, hôn trầm, trạo hối, hoài nghi, năm cái này phải được thoát ly thì cái tâm mới cao thượng và an tịnh, nếu còn năm triền cái là không vào sơ thiền được. Mình phải coi năm cái này cái nào nặng nhất thì mình diệt cái đó trước, kế đó mình mới nhiếp phục được cái tương đối rồi mình tiếp tục mình diệt cái thứ hai và cứ như vậy diệt hết năm cái này để thoát ly ra khỏi nó. Lâu lâu con nhìn xuống thấy có những vị ngồi nghe pháp còn ngủ gục thì cái này chưa có thoát năm triền cái, tức là cái thọ về pháp nó không có đủ cho nên cái thọ của vô minh mới áp đảo cái thọ của cái pháp, một người có pháp lạc không bao giờ đang nghe pháp mà bị hôn trầm, nhưng những vị tu lâu ở đây còn bị là uổng lắm.
Chúng ta phải cố gắng diệt những cái thô nhất có thể, không có bất cứ lý do gì mà nói "hôm rồi con thức khuya", hay là con mệt, hay là ngồi lâu, không có lý do gì hết, hôn trầm là hôn trầm, nói đủ thứ lý do để bao biện, ngụy biện, xảo biện, ngụy biện quanh co giấu lỗi lầm, nói cái gì ra cũng bao biện đủ thứ hết là không có tu được. Khi nói là lập tức quay trở lại "mình tệ quá, mình dở quá vậy, mình kém quá. Mình phải cố gắng phấn đấu lên, cứ để cho Ni sư nhắc, để cho sư cô nhắc, để sư phụ nhắc, để cho sư huynh nhắc, để sư đệ góp ý xấu hổ quá, mình phải cố gắng lên", cái đó mới là người tu, còn nói một mình ngụy biện năm là không bao giờ mình tiến bộ, hễ còn ngụy biện là còn bao che, còn bản ngã, đó là không có trực hạnh. Cái quan trọng nhất của người tu là tâm trung trực, ngay thẳng, cái này đẹp lắm. Cho nên làm sao tu tới cái mức mà mình nghe chỉ lỗi mà mình cúi đầu chấp tay là đẹp làm sao.
Người ta chỉ lỗi mà mình cúi đầu chắp tay lắng nghe cho nên hôm trước có vị trình pháp rằng thấy cô đáng thương quá thì "dạ, đúng rồi, con là người đáng thương nhất hành tinh, Mô Phật". Tu là phải vậy đó, đó là đức hạnh của người tu, trong kinh thường nói "như vậy là phải bạch Thế Tôn, như vậy là phải bạch thiện thệ", phải thuộc những câu đó, sau này mình nói chuyện cũng dùng những câu như vậy, câu này hai ngàn sáu trăm năm trước bây giờ mình nói cho người ta thấm thía, lời của Phật lại không chịu dùng, đi dùng từ ngoài đời cho thời thượng, đem vô xài riết rồi nhiễu loạn chánh pháp, không nghe lời Đức Phật nữa.
V. Thánh Pháp tối thượng
Ban hoằng pháp trung ương đang có nhiều vấn đề phải giải quyết, lên giảng pháp toàn nói chuyện yêu đương, chuyện nam nữ, dùng những từ ngữ như "đu trend", còn mình chắp tay cúi đầu nói "như vậy là phải thưa chị, như vậy là đúng rồi. Lành thay! Lành thay! Con cảm ơn", như vậy rất đẹp, mình nói như vậy giống như trở về hai ngàn sáu trăm năm trước, đây là Trúc Lâm Tinh Xá, Linh Thứu Sơn. Linh Sơn Như Tại nghĩa là Linh Sơn như đang ở tại đây, hoặc là Trúc Lâm Như Tại, như tại là giống như trong hiện tại.
Hồi xưa lúc còn chưa vào dòng pháp này con có đi chùa của hòa thượng thượng thủ giáo hội Phật giáo Việt Nam ở bên Mỹ. Mới ngày hôm qua chùa Vĩnh Nghiêm mới vừa tưởng niệm ngài, qua chùa Linh Sơn nữa, con bước vô ở trong chánh điện để bốn chữ nho "Linh Sơn Như Tại", con sửng sốt. Chùa Linh Sơn đề bảng như vậy, tức là Linh Thứu sơn, thắng hội của Đức Phật và các thánh chúng giống như trong hiện tại, như đang ở đây. Chắc mình ngày xưa cũng có ngồi trong đó nhưng do ngu quá nên đến giờ này còn ở đây, làm biếng tu nên quanh quẩn trong tù cho nên tới này vẫn còn ngu. Do mình biết chữ Nho nên đọc lên là sửng sốt, đứng bàng hoàng không biết đang ở đâu, do vậy nên sau này con tha thiết tái hiện lại Trúc Lâm, Linh Sơn Kỳ Viên để chúng ta tu học.
Con nói mà bây giờ cảm xúc trào dâng lên, đang tràn ngập hết người, thành ra là mình phải dùng những từ trong kinh, càng dùng nhiều từ trong kinh vậy chừng nào càng hay chừng đó. Ni sư để ý người nào dùng nhiều từ trong kinh là tới khóa tu cuối năm hay ba mươi tết sẽ có thưởng, học thuộc kinh nhiều cũng thưởng. Trong ba tháng hạ cũng có giải thưởng, ngày xưa con đoạt giải hoài, năm nào đứng nhất ở bên trường hạ chùa Xá Lợi, hòa thượng thầy trụ trì thương lắm, được kêu vô dạy học luôn, đó là tu học hạnh, trong ba tháng hạ này cho thưởng luôn, Ni sư xem bên đó rồi chấm để cuối hạ có thưởng, cuối năm ba mươi tết là cái đêm trừ tịch đốt lửa nấu bánh chưng bánh tét là lúc đó thưởng luôn. Người thuộc kinh nhiều là thưởng, tu học hạnh là thưởng, người mà trong sinh hoạt thường ngày sử dụng được những từ trong kinh tức là người đó có học pháp, an chú pháp, có thực hành pháp thì mới sử dụng được pháp là có thưởng khích lệ tinh thần, nếu không tu hoài không thấy gì hết, ai cũng đều đều như nhau hết, phải có khích lệ, khuyến khích, làm cho hoan hỉ, hân hoan để tu học.
Chúng ta thấy vừa rồi buổi lễ trùng tuyên thánh điển của mình không chuẩn bị cái gì, tổ chức gì đơn sơ vậy mà có ý nghĩa, có lợi ích, có giá trị. Bất thình lình con nói đem đèn ra cúng hoa đăng Đức Phật Tỳ-bà-thi, người ta muốn tạo một cái lễ như vậy trong chúng chắc phải chuẩn bị cũng mệt. Mình không có tốn thời gian, công sức, tiền bạc, mình rất đơn sơ nhưng mà mình được trở về cội nguồn thấm đẫm cảm thọ, trước đó con không nghĩ là làm lễ hoa đăng Đức Phật Tỳ-bà-thi, con ngồi trên hồ thấy hoa đăng có sẵn nên làm luôn. Con không muốn dao động trong lúc chia sẻ pháp nhưng con nghĩ vì lợi ích cho mọi người hoan hỉ ngồi lâu, được cái này thì cảm thọ sẽ thay đổi tốt lên.
Hôm qua mình làm đại cổ, là đám giỗ cho Đức Phật đầu tiên ở trong hiền kiếp, cúng đèn hoa. Con nhìn thấy đất trời lúc đó rung chuyển hết tại vì lúc mình trùng tuyên là những cái lời của bậc trí chơn Chánh Đẳng Chánh Giác Thiên Nhân Sư giữa non thiêng là chư thiên hoan hỉ, hân hoan. Ở đâu mà nghe được mấy cái này? Trên hành tinh này, bây giờ mấy chỗ được trùng tuyên? Mấy chỗ được cảm xúc, cảm thọ? Mấy chỗ được thực hành, tu tập, tuyên thuyết, tuyên dương, tuyên giảng? Cho nên mỗi buổi tu học của chúng ta là thiên thánh lắm, thần thánh, thiêng liêng lắm, chỉ cần ngồi lại đọc thôi, đọc những câu trong này thôi là tối tôn tối thượng giữa ba ngàn thế giới, mười ngàn cõi.
Con mong đại chúng sẽ có những buổi trùng tuyên thánh điển là cho đại chúng tụng Tương Ưng Bộ kinh, nói nhiều lần mà chưa có làm, đừng lúc nào cũng đợi con, những lúc đi vắng mà lâu, sắp tới con sẽ có một chuyến đi hoằng pháp ở Úc Châu trong ba tuần. Các vị ở bên Úc trong đạo tràng Nikāya có bên đó thì liên hệ để sắp chương trình, trong ba tuần đó chúng ta ở nhà nên tự mình phải biết thiết lập sự tu học chứ không phải lúc nào cũng đợi con. Có thể mình lấy cả tuần hoặc mười ngày tụng Tương Ưng Bộ, ví dụ mình tụng một tiếng thì mình sẽ cảm thọ pháp trong đó, tụng rồi ngồi thiền trầm lắng để chiêm nghiệm, sau đó là pháp đàm, cứ tụng, thiền rồi pháp đàm suốt mười ngày.
Mình phải trú trong pháp hoài, càng lâu, càng nhiều, càng dài chừng nào thì tốt chừng đấy vì mình buông ra là trở lại với tập khí, thói quen cũ. Mình tụng xong là ngồi thiền nửa tiếng hoặc bốn mươi phút trong yên lặng để nghiền ngẫm những câu kinh trong đó. Thí dụ nguyên cái đoạn mình tụng có một câu mình tâm đắc thì lấy câu đó ngồi làm đề tài thiền quán ngay tại chỗ. Mình ngồi thiền rồi đi thiền hành xong là pháp đàm ở gốc cây, trong rừng trúc, pháp đàm ở Thánh Pháp Viện, tụng kinh trong nhà, ngoài trời hoặc trên đỉnh núi, dưới vực thẳm, chuẩn bị có những tảng đá để mình ngồi lên giống như Thập Bát La Hán. Nếu mình biết tiếng Anh ở bên đây sơ sài thôi, mình vô trường đại học bên đó người ta giảng tiếng Anh thì mình nghe được bao nhiêu phần trăm? Lúc đầu chưa chắc gì được ba mươi-bốn mươi phần trăm cho nên mình tụng vậy là không có lợi ích bao nhiêu hết, còn mình đọc mà mình hiểu được, nhất là những bài kinh mình đã học, thí dụ như tụng Tương Ưng Uẩn, tụng tới đâu là ngấm tới đó, từng thớ thịt rung giật, nước mắt trào ra.
"Sắc là than đỏ, này các Tỳ-kheo! Thọ là than đỏ! Tưởng là than đỏ! Các hành là than đỏ! Thức là than đỏ!" (Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (g), C. Năm Mươi Kinh Sau, IV. Phẩm Than Ðỏ, I. Than Ðỏ Hực)
Đọc tới đâu là ngấm tới đó, khi đọc mà nghe tiếng chuông là dừng lại một chút vì mình tụng với tính chất thiền quán, không phải tụng cho hết bài, hết câu, hết quyển, hết kinh mà tụng cho hết cái tâm mê. Câu này là Linh Quy Pháp Ngữ, không phải tụng cho hết bài, hết trang, hết chữ mà tụng cho hết tâm mê, chừng nào hết tâm mê lúc đó tụng mới xong, lúc đó khỏi cần tụng nữa vì cái gì nói ra cũng thành thánh điển Nikāya, lúc đó lời nói của mình sẽ là thánh pháp nhưng vẫn trùng tuyên lại cho hậu thế, vẫn phải đọc tụng tiếp tục để duy trì thánh mạch diệu pháp cho thế giới đầy hắc ám vô minh, đau khổ này.
Vì tình thương, vì từ tâm, vì hạnh phúc cho đời, vì lợi ích cho thế gian này, vì thương tổn cho cuộc đời này mình phải đọc, phải tụng, phải truyền bá, phải truyền thuyết, phải giảng thuyết, phải in ấn, phải phát hình ảnh, lưu giữ những lời pháp bảo. Thế gian đau khổ này, đầy bóng đêm, đầy vô minh, tham ái này phải cần có những cái thánh âm, thánh pháp, thánh điển, thánh trí này được vang lên, được hô to lên, được tụng cho âm ba chấn động ba ngàn cõi. Mỗi một giờ, một giây phút mà con lên trùng tuyên thánh điển như vậy là con quý còn hơn cả sinh mạng của con, con có thể gục ngã ngay tại các pháp tòa này, chết trên đây là một niềm vinh hạnh, tối thượng trong vòng luân hồi này.
Mình phải tập cảm thọ được thánh pháp, cảm thọ một cách sâu sắc cả tấm lòng, cả trái tim, cả cái bầu nhiệt huyết của mình, nhiệt tâm của mình. Phải làm sao để càng ngày mình càng an trú vào pháp càng nhiều, cho đến một lúc nào đó ở trên đây chúng ta chỉ có thiền định và tuyên thuyết thánh pháp, ngoài giờ nghỉ ngơi chút đỉnh cho có sức khỏe và tất cả thời gian không cần làm bất cứ cái gì thế sự này, tất cả chỉ là hư ảo, là phiền não, nhọc nhằn là vô tích sự, vô nghĩa, vô giá trị, không cần phải làm bất cứ cái thế sự nào trên cuộc đời này. Tất cả chỉ đưa đến phiền não, khổ đau, đưa đến tai họa, tất cả chúng ta đây chỉ cần thực tập sự im lặng của bậc thánh trong thiền định, và sự trùng tuyên thánh điển, thánh pháp, pháp đàm trong thánh trí là niềm hạnh phúc tối thượng của con ở trong cái vòng luân hồi sinh tử này.
Chúng ta trú trong pháp này mà chúng ta chết thì đó là hạnh phúc, đó là công đức, đó là điềm lành tối thượng. Chúng ta có chết một tỷ cái mạng này để giữ được cái pháp này, duy trì cái pháp này, chứng ngộ được pháp này thì cái chết đó là vinh hạnh, vinh quang, quang vinh, là cái chết rực sáng, chói sáng, bừng sáng, tỏa sáng, chiếu sáng núi rừng này. Còn ngoài ra tất cả những cái gì ngoài cái giáo pháp này là vô nghĩa, vô ích, vô giá trị, vô tích sự, không có gì trên cuộc đời này.
Bản chất cuộc đời là trống rỗng,
Bản chất cuộc đời là trống không,
Bản chất cuộc đời là cảnh mộng,
Dễ dàng tan biến vào hư không.
Đừng có nghĩ về mình, hãy đem cả trái tim của mình đặt vào pháp, lấy pháp làm chỗ nương tựa, lấy pháp làm ngọn đèn, lấy pháp làm hơi thở, lấy pháp làm sự sống, lấy pháp làm sinh mạng, lấy pháp làm linh hồn. Phải lấy pháp làm ngôi nhà an ổn, lấy pháp làm mẹ cha, lấy pháp làm thầy tổ, lấy pháp làm huyết quản, lấy pháp làm tâm can, tim gan của mình, phải lấy pháp làm sự sống. Đừng có nhìn thấy cái gì hết, hãy nhìn pháp, luôn luôn bất cứ lúc nào con mắt này có ra đây là để nhìn pháp, để thấy pháp, để thấy sự thật.
"Sự đời thà khuất đôi tròng thịt,
Lòng đạo xin tròn một tấm gương"
(Nguyễn Đình Chiểu)
Mình hãy tập mù lòa trước tất cả những sắc lòe loẹt, vô thường, hư ảo của cuộc đời này. Mình hãy tập khiếm thị đối với tất cả những thú vui phù du, phù vân, huyễn hoặc của thế gian này. Mình hãy tập làm một kẻ khuất đôi tròng mắt đối với tất cả thế sự, thế vật, thế tình, hơn thua, đúng sai, cao thấp, thị phi của cuộc đời này. Mù đi, lòa đi, đui điếc, câm ngọng đi, vô tri, vô giác, vô cảm đối tất cả những thứ vô thường, vô tình, vô nghĩa, vô ngã, vô ích, vô giá, trị vô tích sự trong cuộc đời này, không có gì đáng để cho mình nhìn hết, không có gì đáng để cho mình nghe hết, tất cả chỉ là phiền não, khổ đau, tham, sân, si, hơn thua, ngu xuẩn. Hãy để con mắt quý báu này nhìn vào bên trong năm uẩn để thấy được pháp, thấy được sự thật, thấy được khổ đau, thấy được những nguyên nhân đưa đến đau khổ tận cùng trong cuộc đời này.
"Này Vakkali, ai thấy Pháp, người ấy thấy Ta. Ai thấy Ta, người ấy thấy Pháp. Này Vakkali, đang thấy Pháp, là thấy Ta. Ðang thấy Ta, là thấy Pháp" (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (e), IV. Phẩm Trưởng Lão, V. Vakkàli)
Có cái gì để đáng nhìn, có cái gì để mà đáng dòm, có cái gì để mà đáng ngó, đáng xem, chỉ làm cho mình sanh khởi lên những lòng tham dục, thèm khát, đói khát, khao khát, khát ái, như vậy thì nhìn để làm cái gì cho thêm khổ. Có cái gì cho mình đáng nghe, nghe rồi hơn thua, sân si, thị phi, nhân ngã, nghe để rồi đắm đuối, mình chết đuối, chìm đắm, trôi nổi, trôi dạt, nghe để làm gì, cảm thọ những thứ dục ái, sân si đó để cho nó đốt cháy, nó nhận chìm mình xuống vũng lầy, vũng sình, xuống cái hố than hừng thì mình cảm thọ những thứ đó để làm gì. Hãy cho tất cả sắc; thọ; tưởng; hành; thức này tịch tịnh, an tịnh, lắng dịu, trầm lặng hoàn toàn đối với tất cả ngủ vẫn này. Hãy chứng pháp, hãy ngộ pháp, phải thể nhập vào pháp, phải tiêu trừ tất cả nghi ngờ, diệt tận tất cả những cái hoài nghi, do dự, hãy tịnh tín bất động đối với thánh trí ngũ uẩn này, đối với sự đau khổ tột cùng về bản chất của các pháp này, sự khổ nhục này, tột độ này.
Hãy tập cảm thọ cái này đi, hãy từ bỏ những cảm thọ dục, ái, sân si, bản ngã, ngu muội đó. Phải tập cảm thọ thật nhiều với những cái khổ tột cùng này, với cái nhục nhã, tồi bại của những cái tâm mê, tâm dục ái, tâm ngu si này. Hãy thấy pháp, hãy chứng nghiệm pháp, hãy thể ngộ, ngộ nhập pháp, thể nhập vào pháp. Sự đau khổ này bủa vây, đoanh vây, bao vây chúng ta mà chúng ta không nhìn thấy nó, đi thấy những cái hơn thua để làm cái gì? Tại sao không thấy pháp? Tại sao không thấy khổ? Tại sao không thấy nguyên nhân của khổ? Tại sao không nỗ lực, cố gắng để thấy được con đường diệt khổ? Câu này thật là thấm thía, ứng dụng vào Nikāya "Sự đời thà khuất đôi tròng thịt. Lòng đạo xin tròn một tấm gương".
Hãy vì một mục đích duy nhất là thể nhập được thánh pháp mà sống, sự sống này sở dĩ được sống là chỉ vì một mục đích duy nhất là để thể nhập được pháp, để nhìn thấu được sự đau khổ trong ngũ uẩn. Sự nỗ lực, sự dốc sức toàn tâm toàn ý để đi trên con đường diệt khổ này, chứng nhập, thể nhập, chấm chấm dứt hoàn toàn cả đống khổ to lớn này, ngoài ra không còn có lý do gì khác để sống nữa hết.
VI. Trình pháp
Sư cô Khánh An: Con chân chành đảnh lễ Đức Thế Tôn Tỳ-bà-thi, bậc vô thượng Chánh Đẳng Giác, con con xin thân thành đảnh lễ trên sư phụ - vị thầy kính quý của chúng con, con xin chân thành đảnh lễ trên chư tôn thiền đức Tăng, con xin thân thành đảnh lễ trên quý Ni sư cùng quý sư cô và các bậc hiền trí. Bạch sư phụ sáng hôm nay trong cảm thọ của con rất là xúc động và hạnh phúc khi con nghe sư phụ nói đến sữa thì trong cái tưởng của con nghĩ chỉ có người mẹ là có sữaa tự thân thôi nhưng ở nơi đây con cũng được uống sữa từ sư phụ, sư phụ đi xin, sư phụ đi mua hay sư phụ làm gì đó, nhưng sư phụ cũng cho chúng con và bản thân con những dòng sữa pháp.
Tới bây giờ dòng sữa pháp đó vẫn còn đang tràn đầy trong con, vẫn còn no trong con. Có những cảm xúc mà con không thể kìm nén được, nó vô cùng hạnh phúc với những lời sách tấn của sư phụ, những lời khuyên dạy. Sư phụ luôn luôn hung đúc, luôn luôn làm cho chúng con phấn khởi trong sự tu tập để nhìn lại bản thân và tự thân của mỗi người, trong đó có bản thân con. Con cũng xin chân thành đảnh lễ cảm ơn thầy Pháp An, một vị thầy luôn luôn ở phía sau chúng con để khích lệ, an trú và luôn nhắc nhở đại chúng, trong đó có bản thân con. Thầy luôn khuyên "sư cô ơi nhớ nha cái dòng thánh pháp này mới học thì nó khó lắm, nhưng mà sư cô phải cố gắng nghiền ngẫm, suy tư rồi sư cô tác ý vô thì cái dòng thánh pháp này nó sẽ vào". Con cũng vẫn nghe lời thầy Pháp An dù thầy Pháp An không thấy nhưng đôi tai thầy rất là thính, thầy nghe được trong mọi chất giọng của những người trình pháp. Thầy có nói với con là thầy biết được tâm tư của mỗi người như thế nào thế nào thì con cũng quả là kính phục thầy vô cùng.
Đối với bản thân, con nhớ lại khi mình ở Singapore thì con thấy những người Việt Nam mua ba trăm, bốn trăm đô la một vé xem chương trình đại nhạc hội rất tốn tiền, trong khi đó chúng con được nghe sư phụ nói pháp, giảng pháp không tốn một đồng một cắc, đó là một niềm hân hoan, một niềm cao quý, cao thượng đối với chúng con, không vì lý do gì mà chúng con không lên đây để nghe sư phụ giảng, để nghe sư phụ sách tấn. Đó là những cảm thọ sáng nay con hiểu và biết được. Nam mô Đức Phật Tỳ-bà-thi, con xin cảm ơn sư phụ đã cho chúng con những dòng sữa pháp vô cùng lợi ích.
Phật tử 1: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con chân thành đảnh lễ đức bổn sư Tỳ-bà-thi, con chân thành đảnh lễ trên sư phụ, con chân thành đảnh lễ quý sư thầy cùng quý sư cô và tất cả các quý bạn hiền trí. Cảm thọ con lúc này rất là dâng trào từ đêm hôm qua cho đến hôm nay nên con rất là run, bởi vì lòng biết ơn dâng trào lên không thể diễn tả được. Không biết do nhân duyên gì mà con được sư phụ đưa chúng con ngược dòng thời gian trở về thời Đức Phật Tỳ-bà-thi để dâng đèn hoa đăng cúng dường lên, con xúc động nhiều lắm nên cảm thọ con rất là dâng trào.
Ý hành con nói không biết do nhân duyên gì mà sao mình được cái nhân duyên này, con nghĩ chắc khi xưa mình cũng là con nhện kia thả tơ văng lưới để bắt mồi nuôi cái thân này rồi cũng chết, hay là một con ong đắm mình trong vị mật ngọt trong cái hương hoa đó rồi cũng chết, bao nhiêu kiếp chết như vậy và con lại thấy tưởng ra hình bóng sư phụ khi xưa chắc sư phụ cũng làm một Phật tử như chúng con ngồi đó đã thấm pháp, đã nghe được pháp và hiểu được pháp nên sư phụ có một cái phát nguyện mãnh liệt nhảy vào biển lửa trở về đây rước chúng con từ những linh hồn bé nhỏ để đưa chúng con trở về đây, từ mê đến bờ giác.
Con thấy lòng tôn kính Đức Phật, tôn kính sư phụ dâng cao và nước mắt con chảy rất là nhiều. Con nghĩ bây giờ cuộc sống này quá là ê chề, chán nản, ai dám hy sinh, ai dám nhảy vào biển lửa giống như sư phụ để một lần nữa đưa những cái sinh linh đó từ mê đến giác như chúng con bây giờ. Con nở một nụ cười, con nói "mày ngu quá, mày còn u mê quá", sư phụ ơi hãy cho con nương tựa nơi này và hãy cho con thấm đẫm những dòng sữa pháp này, con rất trân quý giây phút ở đây, con rất là kính hơn sư phụ, kính ơn quý thầy, kính ơn quý Ni sư, quý sư cô và tất cả các bậc hiền trí. Con không biết nó lời gì hơn bằng cả một tấm lòng chân thật của con. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Phật tử 2: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con xin thêm hết lòng thành kính đảnh lễ Đức Thế Tôn Tỳ-bà-thi, con xin đem hết lòng thành kính đảnh lễ đức bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con xin đem biết lòng thành kính ơn trên sư phụ, con xin đem hết lòng thành kính đảnh lễ chư tôn thiền đức tăng ni cùng các bậc hiền trí, Phật tử con sắc thân là Hoa Hương xin trình pháp. Bạch trên sư phụ cảm thọ trong con ngay lúc này là một lòng biết ơn vô tận trên Đức Thế Tôn Tỳ-bà-thi, trên Thế Tôn bổn sư Thích-ca Mâu-ni, trên bậc đạo sư, trên sư phụ. Nhờ có các ngài mà con đã biết tới con đường để đi tới đoạn diệt và giải thoát. Con biết ơn rất là nhiều mặc dù sự tu học của con cũng còn non nớt nên con chưa có hiểu nhiều, chưa có đọc thuộc được.
Con thấy một cảm thọ làm cho con rất là xấu hổ, nhục nhã, cảm thấy bản thân mình hạ liệt, vô tri, vô minh, thật là ngu si khi tưởng con nhớ lại cách đây khoảng chừng năm năm con có được một quý thầy hướng dẫn "con à, con đừng đọc bất cứ một sách, một ấn phẩm nào ngoài Tứ Diệu Đế và Bát Chánh Đạo". Lúc đó con cũng rất tin tưởng đã đọc đã nghe rất nhiều nhưng vì sự ngu si, vì sự vô minh trong con nên con không hiểu, con không hiểu một chút nào như ngoài đời hay dùng câu "như nước đổ lá khoai". Con đã bỏ những cuốn sách đó chạy theo những dòng pháp khác, các pháp môn khác, con chạy hoài, tìm kiếm hoài nhưng con không thấy ở đâu là yên bình, ở đâu là an lạc cho đến đủ nhân duyên được về Linh Quy. Con thấy rất là biết ơn sư phụ, biết ơn quý thầy, quý Ni sư ở đây rất là nhiều.
Khi nghe sư phụ giảng trong tưởng con hiện về những hình ảnh trong quá khứ, những đau khổ, đau đớn tột cùng con đã trải qua lâu lắm rồi, bây giờ nó lại hiện về. Con tưởng chừng con vượt qua được rồi nhưng không phải, nó vẫn nằm ở đó, vẫn hiện hữu nơi đó, ở trong sâu thẩm đó, chỉ là con cố gắng đè nó xuống, không nhớ tới nó chứ không có diệt trừ nó. Sư phụ ơi! Con đã biết được con phải làm thế nào rồi, con phải cố gắng rất là nhiều, phải đọc, phải nghe nhiều và phải thấu hiểu từng lời của sư phụ, của quý thầy, quý Ni sư chỉ dạy, phải cố gắng hành theo những gì con được học, được nghe. Con xin cảm ơn, xin tri ân sư phụ, quý thầy, quý Ni sư rất là nhiều. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Phật tử 3: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con xin đem hết lòng thành kính đảnh lễ Đức Phật Tỳ-bà-thi, con xin đem hết lòng thành kính đảnh lễ Đức Phật bổn sư Thích-ca Mâu-ni, con xin đem hết lòng thành kính đảnh lễ sư phụ, con xin đem hết lòng thành kính đảnh lễ chư tôn đức Tăng Ni cùng các bậc hiền trí. Dạ thưa sư phụ cảm thọ của con trong những ngày qua khi sư phụ trở về núi là vô cùng hoan hỉ, có thể nói những ngày mà con được trở về sống trong nếp nhà đạo tràng Nikāya là những ngày hạnh phúc nhất của cuộc đời con.
Con đã được đầy đủ nhân duyên nghe sư phụ trùng tuyên lại những lời dạy của Đức Phật, được sư phụ phơi bày ra những sự thật của đời sống này, con thấy rất là hạnh phúc, hỷ lạc khi nghe được những lời dạy ấy. Trong con bây giờ là một lòng cung kính, biết ơn tối thượng đối với các Đức Phật, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác đã hy sinh rất nhiều kiếp để tìm ra con đường giúp chúng sanh đưa đến giải thoát khỏi vòng sanh tử luân hồi, tiến đến an lạc tối thượng. Cười gì, hân hoan gì khi chào đời bằng tiếng khóc, khi phải mang cái thân bị dẫn dắt bởi nghiệp lực, tự hào gì, hãnh diện gì khi phải mang một cái thân chứa đầy những chất bất tịnh.
Những ngày qua con cảm thấy thật là ngao ngán khi phải mang cái xác thân phải chết hoài. Thọ; tưởng; hành trong con nó được vận hành liên tục theo những bài thiền quán của sư phụ cũng như trong lúc trình pháp của quý sư thầy, sư cô và các bậc hiền trí. Con nhớ lại lời nói của cô Dương nói rằng Đức Phật nói thân này thật quý khi mà được trở về thân người, bây giờ con suy nghĩ, con quán lại con mới hiểu được là Đức Phật nói quý của cái thân người không phải là quý nuôi dưỡng, cung phụng cái thân xác thịt, da thịt đầy chứa đầy chất bất tịnh này, mà quý ở đây chính là khi trở về được làm người là được nghe hiểu chánh pháp, được biết chánh pháp, chỉ có một việc duy nhất cần làm khi được trở về làm người chính là tu học phải rốt ráo. Đó là việc làm duy nhất và việc làm cần thiết khi được trở về làm thân người, phải biết nhận diện ngũ uẩn, thể nhập thánh trí, diệt tham, sân, si để thoát ly sanh tử.
Con biết là con đường, đạo lộ mà Đức Phật chỉ ra cho chúng con đã quá rõ ràng, có thể là khó khăn, có thể là xa nhưng có đi thì mới có tới. Con luôn nhớ một cái bài học mà quý sư cô để chỉ con, đó chính là dù con đường có xa cách mấy thì chỉ cần chánh niệm, chỉ cần đi an toàn hai-ba mét trước mặt nhưng mà mình đi từ từ, an toàn từ từ thì nó cũng sẽ tới đích, hãy giữ giới, định, tuệ. Hãy giữ giới thật kỹ, từ việc giữ giới mình sẽ sanh ra định, khi có định mình sẽ có trí tuệ phát sinh, từ đó mình sẽ đi an toàn đến cuối con đường. Trong những ngày qua con luôn nhớ những bài học mà sư phụ đã chỉ dạy con rất sâu sắc về các bài học duyên sanh pháp, hay là các hành là vô thường, hoặc là cái thân và việc phải từ bỏ cái thân kiến đầy vô thường, hủy hoại, hoại diệt này. Con vô cùng biết ơn và xin tri ân đối với công đức của Đức Phật, các bậc đạo sư và sư phụ, con hứa sẽ cố gắng hành pháp, sống trong pháp và hành trì pháp đúng chánh pháp để có thể đạt thành tụ. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư Phụ: Rất là tốt, cô mới lên đây ra được chừng một tháng nay và có được cái hiểu như vậy là rất tốt, có căn lành, duyên lành cố gắng nắm bắt miên mật, lấy cái cơ hội vô lượng kiếp mới có được một lần này để nỗ lực, tinh cần, tinh Tấn, dũng mãnh lên. Lành thay! Lành thay!
Chúng ta thấy bạn trẻ mới có một tháng lên núi mà tu học và có sự nhận diện như vậy là rất hoan hỉ, thầy cô ráng chăm sóc cho những mầm non của Phật pháp. Những người trẻ như vậy có một trí tuệ sắc bén, có học thức, có tri thức, có sự bén nhạy và có duyên lành nữa, nếu mà tu được sau này sẽ giúp ích được rất là nhiều người nên Ni sư cố gắng giúp đỡ cho các vị mới đến.
Cô Hiền Trân: Con chân thành đảnh lễ Đức Phật Tỳ-bà-thi, con chân thành đảnh lễ Đức Phật Thích-ca Mâu-ni – bậc thầy của chư thiên và loài người, con chân thành đảnh lễ trên sư phụ bậc ân sư tôn kính, con chân thành đảnh lễ trên quý chư tôn hiền đức Tăng ni, quý sư cô và quý chư hiền. Dạ kính thưa sư phụ sáng nay khi nghe sư phụ giảng một thời pháp thì con có ba dòng ý tưởng, thọ, tưởng, hành vận hành, cảm thọ rất là hỷ lạc. Khi nghe sư phụ giảng thì cái tưởng và cái hành nói ở ngoài đời một vị giảng sư đi giảng ở trường Phật học, hay là giảng ở trường đại học, hoặc là một vị ca sĩ lên n hát thì phải có tiền catse còn sư phụ thì hàng ngày lên giảng cho chúng con mấy tiếng đồng hồ sư phụ đâu cần gì đâu, chỉ cần chúng con lắng tâm nghe pháp, hành pháp là sư phụ rất vui, hoan hỉ.
Cái thứ hai con rất hỷ lạc khi nghe sư phụ nói về vấn đề trùng tuyên thánh điển của Đức Phật để lại thì con rất là hỷ lạc. Ý hành con nói đúng rồi khi mình trùng tuyên lại thánh điển của Phật một bài kinh nào rồi mình sẽ tâm đắc những lời trong bài kinh đó, mình ghi âm lại hay quay youtube thì sẽ có một ngày nào đó đủ duyên thì các vị đó mở Youtube lên sẽ thấy, sẽ nghe những lời đó thì họ sẽ cảm nhận được và họ hiểu ra vấn đề tại sao khổ, lý do mình khổ, những vị đó sẽ thấm được lời của Đức Phật dạy và họ sẽ tìm hiểu đến lời giải pháp đó, như vậy giáo pháp của Đức Phật không bị mai một.
Cái thứ ba nữa là một cảm thọ khi nghe sư phụ nói đời này mình thà khuất đôi tròng mắt thì khi con thấm được thánh pháp thì con thấy đúng là mình không cần ngoài đời nhìn chi cho nhiều để thêm phiền não. Nhìn nhiều, nghe nhiều đem cái phiền não vào cho mình, mình chỉ cần ở nhà mình, hoặc là đi đâu chỉ cần an trú trong pháp thì cái pháp đó hỷ lạc suốt cả ngày. Nếu mà mình có thể ra đi bất cứ lúc nào thì mình cũng có được vốn liếng trong pháp, còn mình nhìn nhiều, nghe nhiều những cái ngoài đời thì đem đến phiền não ngày một tăng cao, chẳng có lợi lạc gì và đó là sáng nay con thọ nhận được ba vấn đề đó. Con xin kính trình trên sư phụ.
Sư Phụ:
Tâm thương này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới này
Tâm thương này tỏa rộng
Khắp trời đất bao la.
./.