Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Phản Tỉnh Ba Nghiệp 2 - Kinh Giáo Giới La Hầu La 1

2026-03-03 00:53:21
Kinh Nikāya Giảng Giải

Phản Tỉnh Ba Nghiệp 2

Kinh Giáo Giới La Hầu La 1

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Bài học về chậu nước PAGEREF _Toc201584864 \h 1

II. Ví dụ cái vòi con voi PAGEREF _Toc201584865 \h 6

III. Soi gương phản tỉnh PAGEREF _Toc201584866 \h 7

I. Bài học về chậu nước

"Thế Tôn ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn, và sau khi ngồi, Ngài rửa chân. Tôn giả Rahula đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên.

Rồi Thế Tôn, sau khi để một ít nước còn lại trong chậu nước, bảo Tôn giả Rahula:

-- Này Rahula, Ông có thấy một ít nước còn lại này trong chậu nước không?

-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

-- Cũng ít vậy, này Rahula, là Sa-môn hạnh của những người nào biết mà nói láo, không có tàm quý.

Rồi Thế Tôn, sau khi đổ đi chút ít nước còn lại ấy rồi bảo Rahula:

-- Này Rahula, Ông có thấy chút ít nước còn lại ấy bị đổ đi không?

-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

-- Cũng đổ đi vậy, này Rahula, là Sa-môn hạnh của những người nào biết mà nói láo, không có tàm quý.

Rồi Thế Tôn lật úp chậu nước ấy và bảo Tôn giả Rahula.

-- Này Rahula, Ông có thấy chậu nước bị lật úp ấy không?

-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

-- Cũng lật úp vậy, này Rahula, là Sa-môn hạnh của những người nào biết mà nói láo, không có tàm quý.

Rồi Thế Tôn lật ngửa trở lại chậu nước ấy và bảo Tôn giả Rahula:

-- Này Rahula, Ông có thấy chậu nước này trống không không?

-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

-- Cũng trống không vậy, này Rahula, là Sa-môn hạnh của những người nào biết mà nói láo, không có tàm quý." (Trung Bộ Kinh, 61. Kinh Giáo giới La-hầu-la ở rừng Ambala)

Chỉ có một cái chậu nước nhưng Thế Tôn dùng nhiều hình thức, nhiều hình ảnh để làm ấn tượng hết sức sâu sắc, lúc đó ngài La-hầu-la tuổi còn trẻ, trong những quyển sách giải thích sau này là ngài chọc mấy người Phật tử đi thăm Đức Thế Tôn, Đức Thế Tôn ở chỗ này thì ngài nói dối là ở chỗ kia để người ta đi lòng vòng cho vui cho nên Thế Tôn lấy hình ảnh chậu nước để dạy bài học cho La-hầu-la. Thứ nhất là chậu nước đổ xuống còn chút xíu nước thì Thế Tôn nói người tu biết mà nói dối thì những cái hạnh lành bị đổ hết, còn lại chút thôi. Sau đó Đức Thế Tôn tiếp tục đổ hết nước trong chậu ra rồi ngài nói người tu mà không biết xấu hổ, không biết lo sợ giống như nước bị đổ ra hết, không còn gì. Tiếp theo là hình ảnh Đức Phật úp ngược cái chậu đó xuống thì đó là cái hạnh Sa-môn của người nào biết mà nói dối, nói láo, không biết xấu hổ, không biết sợ hãi. Cuối cùng ngài lật ngửa trở lại chậu nước trống không và nói đó là Sa-môn hạnh của những người nào biết mà nói láo, không có tàm quý.

Chúng ta thấy Đức Phật rất là kỹ, ngài lặp tới lặp lui và đưa ra những hình ảnh đi sâu vào nhận thức, trong cái tâm khảm, trong cảm thọ, cảm xúc. Như vậy mình coi lại mình có nói dối không? Có nói láo, dối trá không? Nếu mình có thì cũng giống như đức hạnh mình bị đổ đi hết, trống rỗng, trống không, không có gì hết. Những hình ảnh này chúng ta phải liên hệ đến cái giới thứ tư, chúng ta phải từ bỏ nói dối dù cho là nói chơi, nói giỡn, chúng ta quán chiếu bốn hình ảnh chậu nước đổ đi với đức hạnh, Sa-môn hạnh, đạo hạnh của một người tu khi nói láo, nói dối sẽ giống như nước bị đổ đi hết, đạo đức, đức hạnh, phẩm hạnh không còn gì hết đối với một người dối trá. Thế Tôn úp cái chậu xuống, cũng lật úp như vậy là hạnh Sa-môn của những người biết mà nói láo, không biết xấu hổ, sợ hãi đối với những nghiệp ác, nghiệp bất thiện cho nên mình kiểm tra lại con người của mình.

Chỉ một cái giới thứ tư này thôi mà mình không từ bỏ nói dối, nói láo, hư ngụy, xảo trá, gian trá thì đức hạnh của một người tu không còn gì cả, bị đổ đi hết, trống rỗng, trống trơn cho nên đức tánh đầu tiên là trực hạnh là đệ tử của Thế Tôn, tức là cái tâm chánh trực, ngay thẳng, chân thật, chân thành, chân chánh, nhất là đối với bậc thầy của mình. Khi con học với thầy của con là có gì con trình bày hết tất cả, không giấu giếm cái gì, tất cả những cái lỗi lần, sai quấy của mình phải trình bày ra hết, như vậy thì bậc thiện tri thức, những bậc sư trưởng mới giúp cho mình có những cái phương pháp thích ứng, phù hợp để đánh thẳng, đánh trúng, đánh mạnh để giúp cho mình cùng nắm tay mà đi, cùng với mình, hỗ trợ với mình dọn dẹp, lau chùi, tẩy rửa rác bẩn, cấu uế nơi nội tâm. Đó là lý do con hay gọi trình pháp, có những cái mình trình trong đại chúng và có những cái mình có thể gặp riêng, "con bị như vậy…, tâm con giờ như vậy…" nhờ thầy hay Ni sư, quý sư hướng dẫn cho con cái cách nào để con thoát ra nội tâm như vậy, những hình bóng, cảm giác, suy nghĩ như vậy.

Đức tính chân thật rất quan trọng, nó quyết định sự tu học của mình, ở trong nếp nhà Nikāya chúng ta sắp bước qua cái chân thành, chân chánh, không có cài này thì đức hạnh trống không, không có gì hết, một người dối trá thì làm sao đạt được chánh pháp, làm sao thành được chân nhân, làm sao tu được chánh pháp, làm sao đi trên chánh đạo, làm sao tròn được chánh quả cho nên qua bài kinh này thì tất cả nhìn nhận về con người của mình, nhìn nhận lại những cái lời nói của mình, cử chỉ, hành động hay là nhìn nhận lại những suy nghĩ bên trong tình cảm thọ, những hình bóng trong tâm. Ví dụ như mình có thầy, có người thì lúc đó mình mới giữ oai nghi, không có thầy, không có Ni sư là mình không giữ, như vậy mình cũng là người giả dối, trong kinh Đức Phật dạy trước mặt cũng như sau lưng các bậc đồng phạm hạnh phải nhất trí, nhất quán chứ không phải có thầy, có cô thì mình mới giữ, không có ai thì không giữ, buông lung phóng dật, đó là mình chưa ý thức được sự tu đó là tu cho chính mình chứ không phải tu cho thầy, tu cho Ni sư.

"Này các Tỳ-kheo, có năm an ổn trú này, Thế nào là năm?

Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo an trú từ thân nghiệp đối với các đồng Phạm hạnh, cả trước mặt và sau lưng.

An trú từ khẩu nghiệp đối với các đồng Phạm hạnh, trước mặt và sau lưng;

An trú từ ý nghiệp đối với các đồng Phạm hạnh, trước mặt và sau lưng.

Đối với các giới không bị bể vụn, không bị sứt mẻ, không bị nhiễm ô, không bị uế nhiễm, đem lại giải thoát, được người trí tán thán, không bị chấp thủ, đưa đến Thiền định, vị ấy sống thành tựu các giới như vậy đối với các đồng Phạm hạnh, trước mặt và sau lưng.

Đối với tri kiến này, thuộc bậc Thánh đưa đến xuất ly, được người thực hành chân chánh đoạn diệt khổ đau, vị ấy sống thành tựu tri kiến như vậy đối với các đồng Phạm hạnh, trước mặt và sau lưng." (Tăng Chi Bộ, Chương V - Năm Pháp, XI. Phẩm An Ổn Trú, (V). An Ổn Trú)

Thành ra đó cái chân thật này chúng ta chiêm nghiệp sẽ thấy nhiều cái hay lắm, rộng sâu lắm. Lời nói trong khi trình pháp hay trong lúc nói chuyện bình thường thì phải để ý lời nói đó có chân thật, chân chánh, chân thành không hay là mình thêu diệt thêm, ví dụ người đó mình thương mà họ có lỗi bảy phần nhưng mình chỉ nhìn thấy ba phần, còn người mình không ưa mà họ có lỗi bảy mình nhìn lên tới mười, đó cũng là lời nói thêu diệt, thêm thắt, gian dối. Ở ngoài đời có câu "thương nhau trái ấu cũng tròn, ghét nhau trái bồ hòn cũng méo", "thương nhau thương cả lối đi, ghét nhau ghét cả tông chi họ hàng", như vậy cái thương ghét đó làm cho tâm không còn trung thực, không còn chánh trực, không nhìn đúng vấn đề, không nhìn được chính xác, đó cũng là gian dối, là dối trá, là nói dối.

Khi được chỉ lỗi là lập tức phản bác "đâu có đâu, tại người kia kìa" thì đó cũng là che đậy, ngụy biện, quanh co giấu lỗi lầm, đó cũng là không chân thật, không thành thực, đó cũng là nói dối. Sâu hơn nữa là chẳng những nói dối ngoài lời nói mà còn nói dối trong suy nghĩ, suy nghĩ những thứ gian dối, chẳng những trong suy nghĩ gian dối mà trong cảm giác cũng dối trá, chẳng những trong cảm thọ dối trá mà trong cái tưởng cũng không thành thật, phải nhận diện ngũ uẩn sâu sắc mới nhận ra được những điều này. Ngũ uẩn là một kẻ đại dối trá, đại xảo trá, vô cùng xảo quyệt và đầy rẫy sự gian trá, nhiều khi nói vậy nhưng mà lời nói đó không phải vậy mà hướng tới một cái khác vì một cái mục đích gì đó, chẳng hạn như nói để được người ta cho, nói để người ta thương. Bây giờ cái này rất nhiều, những video câu like, câu view, những sự dối trá này hết sức nguy hiểm, thậm chí đem những nhân vật lớn, có đức hạnh ra để nói này nói kia, những điều này hết sức tội lỗi, mục đích cuối cùng vẫn là tiền, vì cái tham mà họ không ngại để dối trá, xảo quyệt, gian trá. Vì cái tham mà họ sân giận, tức giận, thù hằng, oán hận, vì cái tham mà họ cạnh tranh, đấu tranh, chiến tranh, tranh giành, xâu xé cho nên giáo pháp chúng ta đang học là giáo pháp ly pháp tối thượng giải thoát.

Đó là ý nghĩa của chữ ly tham tối thượng giải thoát vì trên đời này không có gì khác ngoài cái vô minh, khát ái. Khát ái là mẹ đẻ ra tham, là nguồn gốc của tham, là căn nguyên của tham, cái căn bản, gốc rễ của tham là khát ái thành ra trong bài kinh này Đức Thế Tôn dùng bốn hình ảnh chậu nước làm đề tài cho chúng ta thiền quán, đổ hết nước còn lại một chút, đổ nước một chút đó còn lại cái chậu không, lật úp cái chậu xuống, lật ngửa cái chậu lên, bốn cái hình ảnh này là sự giáo dục thiết thực, thực tế, rõ ràng mà ngài dạy cho con cưng của ngài. Đây là bài học mà con mong các Ni sư, các thầy, các sư cô để ý những cái này để hướng dẫn cho các vị nhỏ khi về núi tu, đừng nói bằng miệng không mà hãy lấy hình ảnh này đưa vào tâm để khắc ghi mãi mãi.

Đức Phật dạy rất hay, ngài dạy trong ngoài, sâu cạn, đánh động vào tâm thức chúng ta, đó là phương pháp giáo dục tuyệt vời cho những người trẻ tuổi hay lớn tuổi. Cái thâm sâu nhất trong nói dối là không có tôi mà mình nói mình là tôi, lúc nào cũng là tôi, tôi, tôi, khổ vô cùng khổ nhưng cái mặt lúc nào cũng cười, bảo tôi vui lắm. Con hay kể câu chuyện hai vợ chồng đang đánh lộn ầm ầm nhưng khi có khách tới thì dọn dẹp đồ đạc, sửa soạn quần áo, vuốt tóc lại, khách đến nhà hỏi:

Hai đứa em dạo này sống thế nào?

Dạ, hạnh phúc lắm.

Thế gian mình là vậy, đa số là sống trong dối trá.

Cuộc đời thật khéo vẽ vời,

Vẽ trăng dưới nước để lừa nhau chơi.

Cuộc đời thật khéo đổi trao,

Trao tâm luyến ái, nhận vào sầu đau.

Cuộc đời thật khéo rộn ràng,

Để người quên cảnh vô thường nhân gian.

Cuộc đời thật khéo điểm trang,

Để che đậy cái khổ đang ràng ràng...

(Cửa Vào Bất Tử - Chơn Tín Toàn)

Đầy ngập một sự dối trá từ trong cho đến bên ngoài, nó dơ, nó hôi chịu không nổi thì đi xịt dầu thơm vô cho nhiều nhiều cho nên trong các sư cô thiền quán là rất hay, người ta đem hương, đem trà đến là nhằm giảm bớt mùi hôi. Sỉ nhục thay là sự sanh, già, bệnh, chết này, là cái tấm thân này cho nên Đức Thế Tôn mới phơi bày những gì bị che kín, mình tu cái dòng pháp Nikāya này tuyệt vời lắm, có gì mình nói thật với nhau hết. Con còn dục, tham, ái, vô minh, bản ngã, con thưa với các ngài hoài, đừng có thần tượng con quá, con vẫn đang tu, còn nhiều cái dở xấu lắm, con thưa với cái ngài như vậy. Mình nói thật với nhau hết bằng tất cả tấm lòng, mình còn vô minh, mình còn bản ngã, mình còn sân, mình còn dục ái nhưng mình được cái may mắn hơn là mình thấy biết những cái đó và mình đang nhiếp phục những cái đó, đó là cái khác của mình với mọi người, còn sự nhiếp phục sâu cạn là do sự nỗ lực của mỗi người chúng ta.

Mới gần đây máy bay Trung Quốc thì cháy, máy bay bên Nga cũng có vấn đề, phải đáp khẩn cấp, tất cả đều vô thường nhưng mình nói nó sẽ như vậy hoài là mình nói dối. Thành ra nhìn sâu vô sẽ thấy mình là con người dối trá đối với sự thật, chỉ có Đức Thế Tôn và các bậc A-la-hán mới thật sự là bậc chân nhân, mình mới thực tập từ từ chứ mình chưa phải là bậc chân nhân. Chân nhân là bậc chân thật hoàn toàn, toàn diện đối với pháp, đối với sự thật, đối với thân tâm và thế giới, đó là bậc chân nhân tối thượng.

II. Ví dụ cái vòi con voi

"Này Rahula, ví như một con voi của vua, có ngà dài như một cán cày, to lớn, khéo luyện, thường có mặt ở chiến trường. Khi lâm trận, con voi này dùng hai chân trước, dùng hai chân sau, dùng phần thân trước, dùng phần thân sau, dùng đầu, dùng tai, dùng ngà, dùng đuôi, nhưng bảo vệ cái vòi. Ở đây, người nài nghĩ rằng: 'Con voi của vua này có ngà dài như một cán cày, to lớn, khéo luyện, thường hay có mặt ở chiến trường. Khi lâm trận con voi này thường dùng hai chân trước, dùng hai chân sau, dùng phần thân trước, dùng phần thân sau, dùng đầu, dùng tai, dùng ngà, dùng đuôi, nhưng bảo vệ cái vòi. Con voi của vua (như vậy) không quăng bỏ mạng sống (của mình)'. Này Rahula, nhưng khi con voi của vua, có ngà dài như một cán cày, to lớn, khéo luyện, thường hay có mặt ở chiến trường, khi lâm trận, con voi này dùng hai chân trước, dùng hai chân sau, dùng phần thân trước, dùng phần thân sau, dùng đầu, dùng tai, dùng ngà, dùng đuôi, dùng vòi. Ở đây, người nài nghĩ rằng: 'Con voi của vua này, có ngà dài như một cán cày, to lớn, khéo luyện, thường hay có mặt ở chiến trường... (như trên)... dùng đuôi, dùng vòi. Con voi của vua (như vậy) đã quăng bỏ mạng sống (của mình), và nay con voi của vua không có việc gì mà không làm'. Cũng vậy, này Rahula, đối với ai biết mà nói láo, không có tàm quý, thời Ta nói rằng người ấy không có việc ác gì mà không làm. Do vậy, này Rahula, 'Ta quyết không nói láo, dầu nói để mà chơi', này Rahula, Ông phải học tập như vậy." (Trung Bộ Kinh, 61. Kinh Giáo giới La-hầu-la ở rừng Ambala)

Dù nói chơi cũng không được nói láo vì đối với người thường hay nói dối thì không có việc ác gì mà không làm, đây là đề tài cho chúng ta pháp đàm, thiền quán, viết bài trình pháp nhìn nhận lại quá trình sống từ trước đến nay, nhìn nhận lại cái tâm của mình, cái miệng, cái cuộc sống của mình, nhìn nhận lại đối với sự nói dối này như thế nào, kiểm tra lại những đức hạnh này. Chúng ta xem trong bốn phương diện nói dối thì mình rơi vào phương diện nào nặng nhất, khi mình thấy, mình phát hiện được sự dối trá thì bắt đầu cái chân thật nó sẽ hiển lộ trong con người mình. Chúng ta đừng có sợ khai tội, khai lỗi của mình, tu dòng pháp Nikāya này là suốt cuộc đời đi tìm cái lỗi của mình, tu chánh pháp mà giấu lỗi là không tu được, phải tìm lỗi, nhận ra cái lỗi, chỉnh lỗi, sửa lỗi để đi đến chỗ hết lỗi.

III. Soi gương phản tỉnh

"Này Rahula, Ông nghĩ thế nào? Mục đích của cái gương là gì?

-- Bạch Thế Tôn, mục đích là để phản tỉnh.

-- Cũng vậy, này Rahula, sau khi phản tỉnh nhiều lần, hãy hành thân nghiệp. Sau khi phản tỉnh nhiều lần, hãy hành khẩu nghiệp. Sau khi phản tỉnh nhiều lần, hãy hành ý nghiệp." (Trung Bộ Kinh, 61. Kinh Giáo giới La-hầu-la ở rừng Ambala)

Sau khi soi rọi lại nhiều lần, soi xét, soi chiếu hãy làm hành động của thân. Sau khi phản tỉnh, soi xét, soi chiếu nhiều lần thì hãy nói ra lời nói từ miệng. Sau khi soi xét nhiều lần thì hãy suy nghĩ về điều gì đó, trước khi quyết định điều gì đó là phải soi xét, soi rọi, soi chiếu.

"Này Rahula, khi Ông muốn làm một thân nghiệp gì, hãy phản tỉnh thân nghiệp ấy như sau: 'Thân nghiệp này của ta có thể đưa đến tự hại, có thể đưa đến hại người, có thể đưa đến hại cả hai; thời thân nghiệp này là bất thiện, đưa đến đau khổ, đem đến quả báo đau khổ'. Này Rahula, nếu trong khi phản tỉnh, Ông biết: 'Thân nghiệp này, ta muốn làm. Thân nghiệp này của ta có thể đưa đến tự hại, có thể đưa đến hại người, có thể đưa đến hại cả hai; thời thân nghiệp này là bất thiện, đưa đến đau khổ, đem đến quả báo đau khổ'. Một thân nghiệp như vậy, này Rahula, Ông nhất định chớ có làm. Này Rahula, nếu sau khi phản tỉnh, ông biết: 'Thân nghiệp này ta muốn làm. Thân nghiệp này của ta không có thể đưa đến tự hại, không có thể đưa đến hại người, không có thể đưa đến hại cả hai; thời thân nghiệp này là thiện, đưa đến an lạc, đem đến quả báo an lạc'. Một thân nghiệp như vậy, này Rahula, Ông nên làm." (Trung Bộ Kinh, 61. Kinh Giáo giới La-hầu-la ở rừng Ambala)

Khi muốn làm một hành động gì nơi thân thì phải phản tỉnh, soi rọi, soi xét, soi chiếu, Đức Phật nhắc từng câu từng chữ, lặp tới lặp lui. Nếu hành động này có thể đưa đến hại mình, có thể đưa đến hại người, có thể đưa đến hại cả hai thì cái hành động này đưa đến đau khổ, đem đến quả báo đau khổ, hành động như vậy nhất định không được làm. Nhiều khi những cái này người ta không thích học, chỉ muốn học những gì ở trên trời, còn cái rõ ràng, thiết thực, cụ thể, chân thật, chân chánh lại không chịu học, không chịu làm, đó là cái tâm vô minh, những lời dạy trong trong, sáng sáng, tỏ tỏ, tường tường, minh minh, bạch bạch như vậy mà không chịu tu, không chịu thực hành mà cứ đi tìm pháp hành ở đâu đâu, thích đi khai quang điểm nhãn, đi mở luân xa… mê những cái đó. Cái tâm vô minh khổ như vậy, Đức Phật dạy rất rõ ràng, trước khi muốn làm cái gì phải xét tới xét lui, xét đi xét lại, xem cái hành động đó có hại mình hại người không, có đem tới đau khổ không, nếu có thì nhất định không làm, cái đó là bất thiện, là ác.

"Này Rahula, khi Ông đang làm một thân nghiệp, Ông cần phải phản tỉnh thân nghiệp ấy như sau: 'Thân nghiệp này ta đang làm. Thân nghiệp này của ta đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai; thời thân nghiệp này là bất thiện, đưa đến đau khổ; đem đến quả báo đau khổ. Này Rahula, nếu trong khi phản tỉnh, Ông biết: 'Thân nghiệp này ta đang làm. Thân nghiệp này của ta đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai; thời thân nghiệp này là bất thiện, đưa đến đau khổ, đưa đến quả báo đau khổ'. Này Rahula, ông hãy từ bỏ một thân nghiệp như vậy. Nhưng nếu, này Rahula, trong khi phản tỉnh ông biết như sau: 'Thân nghiệp này ta đang làm. Thân nghiệp này của ta không đưa đến tự hại, không đưa đến hại người, không đưa đến hại cả hai; thời thân nghiệp này là thiện, đưa đến an lạc, đem đến quả báo an lạc'. Thân nghiệp như vậy, này Rahula, Ông cần phải tiếp tục làm." (Trung Bộ Kinh, 61. Kinh Giáo giới La-hầu-la ở rừng Ambala)

Khi nãy là trước khi làm, bây giờ là trong khi làm cũng phải phản tỉnh hành động đó, hành động này có thể đưa đến hại mình và đưa đến hại người, hại cả hai, hành động đó là hành động bất thiện nên cần phải từ bỏ hành động đó. Điều này thể hiện lòng từ của Đức Phật, bây giờ mình làm biếng đọc vì thấy sao giống nhau quá, lúc đầu là trước khi làm cần soi xét, suy xét, trong khi làm cũng phải soi xét, quán xét, xét nét coi cái này có hại mình hại người không, nếu có hại thì nhất định phải từ bỏ, đang làm cũng phải từ bỏ không làm, khi đã làm xong cũng phải xét lại lần nữa.

"Sau khi Ông làm xong một thân nghiệp, này Rahula, Ông cần phải phản tỉnh thân nghiệp ấy như sau: 'Thân nghiệp này ta đã làm. Thân nghiệp này của ta đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai; thời thân nghiệp này là bất thiện, đưa đến đau khổ, đem đến quả báo đau khổ'. Nếu trong khi phản tỉnh, này Rahula, Ông biết như sau: 'Thân nghiệp này ta đã làm. Thân nghiệp này đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai; thời thân nghiệp này là bất thiện đưa đến đau khổ, đem đến quả báo đau khổ'. Một thân nghiệp như vậy, này Rahula, Ông cần phải thưa lên, cần phải tỏ lộ, cần phải trình bày trước các vị Ðạo sư, hay trước các vị đồng Phạm hạnh có trí. Sau khi đã thưa lên, tỏ lộ, trình bày, cần phải phòng hộ trong tương lai. Nếu trong khi phản tỉnh, này Rahula, Ông biết như sau: 'Thân nghiệp này ta đã làm. Thân nghiệp này không đưa đến tự hại, không đưa đến hại người, không đưa đến hại cả hai; thời thân nghiệp này thiện, đưa đến an lạc, đem đến quả báo an lạc'. Do vậy, này Rahula, Ông phải an trú trong niềm hoan hỉ tự mình tiếp tục tu học ngày đêm trong các thiện pháp." (Trung Bộ Kinh, 61. Kinh Giáo giới La-hầu-la ở rừng Ambala)

Đó là cách phát lộ tâm bất chánh mà chúng ta đang học của bậc đạo sư, chính là lấy từ trong đây ra, "cần phải thưa lên, cần phải tỏ lộ, cần phải trình bày trước các vị đạo sư, hay trước các vị đồng Phạm hạnh có trí". Mình phải thưa trình lên "bạch thầy, bạch Ni sư, bạch chư tôn đức, sáng nay khi con làm trong bếp con có một thân nghiệp bất thiện không chánh niệm nên làm bể chén, giờ này ở trước chư tôn đức và chư vị hiền trí con xin chân thành sám hối, con xin tha thiết cầu mong chư tôn thiền đức chứng minh cho lỗi lầm này của con, từ nay về sau con sẽ phòng hộ trong tương lai, con sẽ không vi phạm nữa. Đây là một điều ác, không chánh niệm con làm bể cái chén, con làm phí phạm của Đàn-na tín thí, đó là mồ hôi, là nước mắt, người ta không dám ăn không dám xài để cúng dường mà con lại bất cẩn, không cẩn trọng, thất niệm. Con thật xấu hổ, thật lo lắng, sợ hãi, con xin phát lồ sám hối", sau đó mình cúi lạy và mình thưa ba lần như vậy thì mình sẽ nhớ hoài và những người trong chúng cũng sẽ nhớ bài học đó, thậm chí chưa cần bể mà chỉ cần làm rớt gây tiếng động làm động niệm đại chúng là tự động ra sám hối chứ không cần đợi ai nói.

Vào buổi tối hay buổi trưa công phu xong hết là mình ra quỳ lạy thưa thỉnh "con bạch chư tôn đức, con bạch chư hiền trí, ngày hôm nay con có một hành động bất thiện, mất chánh niệm nên làm rớt mâm tạo ra tiếng động lớn làm chư tôn đức động niệm. Con thật xấu hổ, con thật nhục nhã vì không phòng hộ, không chánh niệm, con buông lung phóng dật", mình thưa ba lần và cúi lạy ba lần. Hoặc là "con lỡ nói một câu làm chư hiền ở chung phòng với con khó chịu, bị phiền não. Con thấy đây là do con thiếu tâm từ, con xin sám hối", làm được như vậy rất đẹp. Sau khi thưa trình lên cần phải phòng hộ trong tương lai chứ không phải sám hối rồi là xong, trở ra lại buông lung phóng dật, mai mốt cũng y như vậy nữa, cần phải phòng hộ trong tương lai. Đức Thế Tôn đưa ra rất nhiều trận tuyến, đánh nhiều mặt trong vô minh, trong buông lung phóng dật, từ thân, từ miệng, từ ý, phòng hộ, bảo vệ, phản tỉnh, suy xét, quán xét, soi xét, xét nét, quán chiếu như vậy thì làm sao tu không tiến được.

Khi mình kiểm tra, mình xét nét nhiều lần rồi mình thấy cái này là thiện, không có hại mình, không có hại người mà đem đến an lạc, đem đến an vui thì như vậy phải an trú trong niền hoan hỉ đó. Phải an trú trong niềm hoan hỉ khi thấy cái đó là thiện pháp, là thánh pháp, là thanh cao, cao thượng, thánh thiện, điều tuyệt vời là mình an trú trong niềm hoan hỉ vì nhiều khi tu một thời gian là thấy vô vị, nhạt nhẽo, không có mùi vị gì hết là người đó tu chỉ có cái vỏ chứ không có ruột, có cái xác chứ không có hồn, hoặc là trở ra ngoài đời hoặc ở trong đạo chỉ là tử thi thôi, không có hồn, không có thần, không có trí, không có hỷ lạc trong sự tu học. Mình hoan hỉ để mình tiếp tục tu học chứ không phải hoan hỉ rồi tự mãn, dừng lại, đứng một chỗ trong các thiện pháp là Đức Phật không tán thán.

"Này các Tỳ-kheo, Ta không tán thán đứng một chỗ trong các thiện pháp, còn nói gì tổn giảm. Này các Tỳ-kheo, Ta tán thán tăng trưởng trong các thiện pháp, không đứng một chỗ, không tổn giảm." (Tăng Chi Bộ, Chương X - Mười Pháp, VI. Phẩm Tâm Của Mình, (III). Ðứng Một Chỗ)

Cái pháp của Như Lai là luôn luôn hướng thượng, tăng thượng, cao thượng để đạt đến chỗ vô thượng. Chúng ta phải hướng đến việc hướng thượng, tăng thượng, cao thượng, tối thượng và cuối cùng là vô thượng, hướng thượng là cái tâm mình hướng tới chỗ cao thượng, ngày xưa hướng theo những cái thấp kém, thấp hèn của thế gian, ăn chơi, ngủ, nghỉ, nói chuyện nhảm nhí, bây giờ hướng tới chỗ nghe pháp, thảo luận pháp, thiền định, quán chiếu, triển khai thiền quán, tu tập các pháp lành, các thánh pháp, thiện pháp, vậy là hướng thượng. Sau khi hướng thượng rồi làm cho nó thêm lên, tăng thêm lên là tăng thượng, tiếp đến là cao thượng, trú trong những cái pháp thanh cao, cao thượng của các bậc thánh hiền, an trú trong cái pháp cao thượng gọi là thượng nhân pháp để đi đến chỗ tối thượng, cao thượng. Tối thượng là cao nhất, cao tột, vô thượng là không còn gì cao hơn nữa là những bậc chí thánh, những bậc A-la-hán, cái tâm phải đặt trong sự hướng thượng, tăng thượng, cao thượng, tối thượng, vô thượng.

"Này các Tỳ-kheo, có bốn lòng tin tối thượng này. Thế nào là bốn?

Dầu cho các loại hữu tình nào, này các Tỳ-kheo, không chân hay hai chân, bốn chân hay nhiều chân, có sắc hay không sắc, có tưởng hay không tưởng, hay phi tưởng phi phi tưởng, Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác được xem là tối thượng. Những ai đặt lòng tin vào đức Phật, họ đặt lòng tin vào tối thượng. Với những ai đặt lòng tin vào tối thượng, họ được quả dị thục tối thượng.

Dầu cho loại pháp nào, này các Tỳ-kheo, hữu vi hay vô vi, ly tham được xem là tối thượng trong tất cả pháp, tức là sự nhiếp phục kiêu mạn, sự nhiếp phục khát ái, sự nhổ lên tham ái, sự chặt đứt tái sanh, sự đoạn diệt tham ái, sự ly tham đoạn diệt, Niết-bàn.

Dầu cho loại chúng Tăng hay hội chúng nào, này các Tỳ-kheo, chúng Tăng đệ tử của Như Lai được xem là tối thượng trong tất cả hội chúng ấy. Tức là bốn đôi tám vị, chúng Tăng đệ tử của Thế Tôn đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là vô thượng phước điền ở đời. Những ai đặt lòng tin vào chúng Tăng, này các Tỳ-kheo, họ đặt lòng tin vào tối thượng. Với những ai đặt lòng tin vào tối thượng, họ được quả dị thục tối thượng. Này các Tỳ-kheo, đây là bốn lòng tin tối thượng." (Tăng Chi Bộ, Chương IV - Bốn Pháp, IV. Phẩm Bánh Xe, (IV). Các Lòng Tin)

Nếu mình tác ý như vậy là mình thấy vui, mình hân hoan, hoan hỉ vì vậy cần an trú ngày đêm trong các thiện pháp

Tâm thương này tỏa rộng

Cùng khắp thế giới này

Tâm thương này tỏa rộng

Khắp trời đất bao la./.