MẬT MÃ THẾ GIỚI 2 - Nguyên Lý Sanh Ngũ Uẩn I
Tinh Hoa Nikāya
MẬT MÃ THẾ GIỚI II
NGUYÊN LÝ SANH NGŨ UẨN I
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Ngũ uẩn bao trùm thế gian PAGEREF _Toc87168144 \h 1
II. Ý PAGEREF _Toc87168145 \h 3
III. Duyên sanh pháp PAGEREF _Toc87168146 \h 5
IV. Cảm thọ PAGEREF _Toc87168147 \h 11
I. Ngũ uẩn bao trùm thế gian
Minh Thành sẽ trình bày với đại chúng về nguyên lý sanh ngũ uẩn, có tựa đề Mật mã thế giới – nguyên lý sanh ngũ uẩn hay Tâm lý học tối thượng của Phật giáo. Vì thời gian ngắn nên Minh Thành cố gắng “trói voi bỏ rọ”, nghĩa là trói nguyên con voi mà bỏ vào cái rọ nhỏ xíu nên mong rằng quý thầy cô chú tâm, cẩn thận vì đây vừa kết hợp Pháp học và Pháp hành để nhận diện nguyên lý sanh khởi của thân tâm ngũ uẩn, cũng như các pháp bên ngoài và bên trong.
Chúng ta đã nói tầm quan trọng của ngũ uẩn trong pháp hành, hôm nay chúng ta nói về nguyên lý sanh khởi của ngũ uẩn và cũng là mật mã của thế giới. Khi nắm vững được mật mã này rồi sẽ giải mã được vũ trụ này, thân tâm này, thế giới này, và giải mã được tất cả những cảnh giới từ hữu hình đến vô hình, từ hữu sắc đến vô sắc. Và sự vận hành này cũng gọi là tâm lý học tối thượng của Phật giáo. Chúng ta có một khái niệm rõ ràng rằng tất cả sự hiện hữu mà chúng ta thấy được, nghe được, cảm xúc, nhận thức được trên thế giới này đều không ra ngoài năm uẩn.
Bây giờ quý thầy, quý cô chỉ thứ nào ở ngoài năm uẩn được không? Chúng ta có học thuộc định nghĩa ngũ uẩn chưa ạ? Thân người, cảnh vật, đồ vật, tứ đại là sắc. Một chữ sắc đã bao trùm thân này, cảnh vật, núi non, quả đất, thế giới, tất cả mọi hình tướng, từ hạt bụi đến thiên hà đều nằm trong sắc uẩn, tức tổ hợp của sắc chất. Đó là nhóm thứ nhất về vật chất, còn bốn tổ hợp ở phía sau là tổ hợp tinh thần. Những cảm giác dễ chịu, khó chịu hoặc những cảm giác thường thường, không dễ chịu, không khó chịu, những cảm giác đều đều đó thuộc về tổ hợp cảm giác, cảm thọ, cảm xúc, là uẩn thứ hai – thọ uẩn.
Tất cả những hình bóng trong tâm mình: người, vật, màu mè lòe loẹt… Tất cả những hình bóng trong tâm là tổ hợp của tưởng, tất cả những suy nghĩ, những lời nói lòng thòng, những suy tư, tư duy, nghĩ ngợi, tất cả những điều đó nằm trong tổ hợp những suy nghĩ đó thuộc về hành uẩn. Đó là nhóm thứ tư. Nhóm thứ năm là tổ hợp của nhận thức, sự rõ biết. Có sáu cái biết, được gọi là sáu thức. Rõ biết các hình sắc gọi là nhãn thức, chúng ta nhớ không định nghĩa giống như mình học thông thường trước nay, kinh Nikāya khác.
Mình định nghĩa nhãn thức là sự rõ biết của mắt là không đúng. Sự rõ biết các sắc là nhãn thức, sự rõ biết các âm thanh là nhĩ thức, chứ không phải sự rõ biết của lỗ tai. Vì nếu sự rõ biết của tai thì người chết không rõ biết, sự rõ biết các âm thanh là nhĩ thức. Sự rõ biết các mùi là tỷ thức, sự rõ biết vị ngọt mặn chua cay là thiệt thức, rõ biết sự đụng chạm, tiếp xúc nơi thân mình, mình rõ biết, đó là thân thức. Chỗ khó ở đây là sự rõ biết được thọ, tưởng, hành là ý thức. Điều này rất sâu sắc, chúng ta từ từ chia sẻ, cứ ghi vào: sự rõ biết thọ, tưởng, hành là ý thức.
Như hôm trước chúng ta nhận diện ngũ uẩn, nhìn vào bên trong thân tâm, mình thấy có hình người đó, người mà mình giận hiện ra trong tâm nên có cảm giác bực bội, khó chịu. Mình suy nghĩ người đó đã làm hại mình như thế nào, khi đó mình rõ biết được hình bóng của người mình giận, cảm giác khó chịu, những suy nghĩ đã từng làm hại mình như thế nào. Sự rõ biết đó là ý thức.
Thành ra, ngay bản thân Minh Thành học trong trường Phật học ra, nhiều năm cho đến đi đứng lớp cũng không biết ý thức là gì. Khi đi vào dòng pháp Nikāya này rồi, có sự thực tập, nhận diện trong thiền tập đúng theo tinh thần của kinh, không sai một chữ, lúc đó mình mới biết ý thức là gì. Chúng ta nhớ ý thức là sự rõ biết thọ, tưởng, hành. Cho nên, mong rằng các thầy các cô lấy quyển “Nghi thức tu học Nikāya” để ghi chép bài và học thuộc những định nghĩa này. Cái này thuộc về khẩu quyết, định lý, định luật cho nên không thể muốn nói sao thì nói được.
Học thuộc những định lý này, khi thiền tập, khi nhận diện trong sinh hoạt, khi nhận diện trong lúc mình tức giận, tham muốn, hơn thua, mình sẽ thấy rõ các pháp sanh khởi, vận hành trong tâm, từ đó chúng ta mới thấy được nguyên lý sanh khởi ngũ uẩn. Chúng ta chỉ gói gọn bữa hôm nay và hôm sau thôi, nhưng những điều này hết sức quan trọng, để cho chúng ta nhìn nhận lại thân tâm của mình.
II. Ý
Đầu tiên, chúng ta nói sợ lược về sáu pháp, mời bộ phận máy mở giùm sáu pháp. Sáu căn chúng ta dễ biết rồi: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, nhưng qua tới chữ ý không còn dễ hiểu nữa. Chúng ta mới vừa giải thích, ý là biết được thọ, tưởng, hành ở bên trong. Bây giờ để đi vào sáu pháp này, chúng ta phải tìm hiểu chữ “ý” này, nếu không hiểu”ý” thì đi vô pháp không được. Bây giờ tới sáu trần, chữ sắc chúng ta dễ hiểu rồi, thanh là âm thanh, mùi vị là hương vị, xúc là sự tiếp xúc, đụng chạm của thân. Bây giờ chữ pháp trong sáu trần này là gì? Chữ pháp trong sáu trần này là pháp trần. Chữ pháp này là thọ, tưởng, hành trong tâm. Chúng ta chú thích vào.
Thật sự học bài này đúng ra phải chạm mặt nhau, ghi bài, trả bài, bắt làm bài tập ngay trên lớp mới sáng tỏ vấn đề, mà hoàn cảnh hiện tại như vậy, thôi chúng ta cố gắng một chút. Bây giờ Minh Thành giải thích ý căn, pháp trần và ý thức, phải nắm được điều này chúng ta mới đi vào pháp được. Chúng ta ngưng chép bài một chút để mình nhận diện. Chúng ta ngồi theo tư thế thiền tập, để ý ngoài sau xương sống, để tâm vào xương sống phía sau lưng mình. Mắt chúng ta nhìn xuống theo tư thế thiền tập, chúng ta để ý lưng.
Chúng ta thấy có hình bóng của lưng hiện ra trong tâm mình không ạ? Hình bóng đó là tưởng, một cảm giác hoặc dễ chịu, hoặc thường thường, đều đều, không thôi nó hơi mỏi, đó là thọ. Mình có suy nghĩ về lưng, đó là hành, hình bóng của lưng là tưởng, cảm giác về lưng là thọ, suy nghĩ về lưng là hành. Chúng ta để ý, hình bóng hiện ra, cảm giác rõ ràng ra, suy nghĩ đó mình thấy rõ, sự để ý đó là ý căn. Hình bóng, cảm giác của lưng và suy nghĩ về lưng là pháp trần, thọ, tưởng, hành. Và mình có sự rõ biết, đang có hình bóng, cảm giác, suy nghĩ đó, sự rõ biết đó là ý thức.
Bây giờ chúng ta cho một ví dụ khác. Mình đang ngồi thiền, một người đặt câu hỏi nên lấy câu hỏi này làm ví dụ: người này nhớ quê vì thực hiện phong tỏa theo chỉ thị mười sáu nên mắc kẹt lại ở thành phố. Khi ngồi yên như vậy, hình ảnh của quê mình, căn nhà hay ngôi chùa ở quê, sư phụ mình. Để ý lại trong tâm mình thấy có hình bóng của ngôi chùa, căn nhà ở dưới quê. Hình bóng đó là tưởng, cảm giác êm ái, dễ chịu, thân thương là thọ. Những suy nghĩ xung quanh hình bóng đó là hành.
Như vậy, sự để ý vào trong tâm, những hình bóng, suy nghĩ, cảm giác đó hiện ra và mình có sự rõ biết về hình bóng, cảm giác, suy nghĩ đó. Đó là ba pháp, để ý là ý căn, hình ảnh, cảm giác, suy nghĩ là pháp trần, thọ, tưởng, hành. Và sự rõ biết điều đó đang có mặt, đó là ý thức. Chúng ta nắm được chỗ này chưa ạ? Nãy giờ mình giải thích ý căn, pháp trần và ý thức, quý thầy quý cô thấy rõ chưa? Muốn thêm ví dụ nữa không? Có ai muốn hỏi gì không? Cái này là pháp thật, pháp sống, là tâm lý học của Phật giáo, không phải trên lý thuyết.
Bây giờ chúng ta sẽ đi chậm chậm, từ từ, vì đây là pháp trong tâm mình nên cần sự trầm tĩnh và thực tập ngay tại chỗ. Ví dụ, mình để ý bữa tối cúp điện, mình cầm đèn pin trong tay, mình muốn nhìn cái gì liền lia đèn pin vô chỗ đó. Do ánh đèn của đèn pin mà mình soi vô chỗ muốn nhìn mà chỗ đó được tỏa sáng ra. Vật ở chỗ hướng mình soi sẽ được soi thấy do mình cầm đèn pin lia vô trong đó, đối tượng đó sẽ hiện ra, đó là cái bàn, tủ, hay cuốn kinh gì đó mình thấy được. Còn mình không cầm đèn pin soi vô thì hồi nãy chỗ đó là bóng đêm.
Cũng vậy, sự để ý của mình vào trong tâm, ví dụ giờ ở trong tâm đang có hình bóng gì không? Mình để ý trong tâm, nếu nó có, nó hiện hình bóng đó ra, hình bóng của mẹ mình, thầy mình. Chúng ta thấy không, sự để ý vào bên trong giống như mình lấy đèn pin lia vô vậy, bên trong có gì nó sẽ hiện ra cái đó. Sự để ý đó là ý căn, và thứ được sự để ý đó hiện rõ ra là pháp trần. Và chúng ta thấy được trong đó là cuốn kinh, hay cái bàn, hay món đồ gì, chúng ta thấy được, rõ biết được đó là gì, nó là ý thức.
III. Duyên sanh pháp
Bây giờ chúng ta đi vào duyên sanh pháp này để dễ thấy. Đầu tiên, đây là duyên sanh pháp, nguyên lý sanh khởi của ngũ uẩn trong Nikāya. Trước hết, do duyên chúng ta có con mắt, mình ví dụ trực tiếp ngay tại chỗ mình đang ngồi. Chúng ta nhìn thấy hình bóng của Minh Thành qua màn ảnh, hình bóng Minh Thành là sắc. Do duyên chúng ta có con mắt, nhìn thấy sắc, tức hình bóng của Minh Thành trên màn hình là sắc. Nó có ra sự rõ biết sắc pháp đó, rõ biết là đang có hình bóng Minh Thành, thì sự rõ biết đó là nhãn thức. Chúng ta thấy rõ không ạ? Thực tế, cụ thể ngay tại chỗ đó.
Con mắt, sắc là hình bóng Minh Thành ngay trên màn hình, chúng ta có một sự rõ biết về hình sắc đó, đó là nhãn thức. Ba điều này hội tụ, tụ tập, tập hợp, giao thoa lại, tiếp xúc với nhau. Con mắt, hình sắc và sự rõ biết đó, ba thứ này giao thoa, tiếp xúc với nhau gọi là nhãn xúc, là sự tiếp xúc của mắt, của sắc, của sự rõ biết. Ba thứ này giao thoa, tập hợp lại, hội tụ lại, gặp gỡ với nhau, gọi là nhãn xúc – sự tiếp xúc của mắt, là mình nói tắt, chứ thật ra là sự tiếp xúc mắt, sắc và sự rõ biết. Khi ba thứ này giao thoa lại với nhau, tiếp xúc, tập hợp, hội tụ lại với nhau, sanh ra cảm giác thọ do nhãn xúc sanh.
Có thể mình có cảm giác dễ chịu khi mình học, mình thích thú, hoặc có cảm giác khó chịu, khó hiểu. Như vậy, do sự tiếp xúc của mắt mà sanh ra cảm thọ, cảm giác, thì cảm giác, cảm thọ đó gọi là thọ do nhãn xúc sanh. Chúng ta thấy rõ phải không? Nó sanh ra một cảm giác, cảm xúc, cảm thọ từ nơi sự tiếp xúc của con mắt. Chúng ta ví dụ liền ngay tại chỗ để thấy: sanh ra một cảm thọ, cảm xúc ngay con mắt tiếp xúc, như vậy, một lát tan giờ học, hình bóng của Minh Thành hiện về trong tâm chúng ta khi chúng ta nghĩ về, đó gọi là sắc tưởng. Khi hình bóng hiện ra, những suy nghĩ về buổi học đó hiện ra, đó là sắc tư. Chúng ta có hình bóng của buổi học, có suy nghĩ về buổi học lúc nãy là sắc tưởng, sắc tư. Đó là sự vận hành của tâm thức chúng ta.
Bây giờ do có lỗ tai, bài nhạc du dương trầm bổng, chúng ta có sự rõ biết bài nhạc cũng như âm thanh của bài nhạc đó. Như vậy lỗ tai, tiếng nhạc, sự rõ biết, ba cái này hội họp, tiếp xúc lại với nhau gọi là nhĩ xúc, sanh khởi ra một cảm giác thích bài nhạc đó. Dễ chịu, thoải mái, lâng lâng, lạc thọ, cảm xúc sanh khởi đó là từ nơi sự tiếp xúc của lỗ tai. Một hồi bài nhạc đó tắt, âm thanh không còn nữa, nhưng chúng ta suy nghĩ lại, có một âm thanh vang vọng trong tâm mình, mình suy nghĩ lại bài nhạc đó. Đó gọi là thanh tưởng, thanh tư, là tiếng của nó, âm hưởng sau khi mình đã nghe rồi, dư âm còn lại trong tâm mình. Tuy rằng tiếng đó tắt rồi, nhưng âm thanh còn vang vọng, đọng lại lời nhạc, đó là thanh tưởng. Còn mình suy nghĩ về lời của bài nhạc đó, là thanh tư.
Chúng ta thấy không, điều này mình làm hằng ngày, hằng giờ, hằng phút, hằng giây nhưng chúng ta không biết điều đó. Đức Phật gọi đó là vô minh. Khi biết điều đó, chúng ta sẽ đi từ pháp học đến pháp hành, sẽ thực tập, điều này hết sức rõ ràng, cụ thể, thực tế mà chúng ta đang sử dụng hằng ngày, hằng giờ, hằng phút, hằng giây mà chúng ta không biết. Mà nguyên cái này chúng ta làm dính chùm hết, là tôi, của tôi, con mắt mình cũng nói là tôi, của tôi. Xách món đồ đó cũng là tôi, tôi thấy, tôi biết, thấy đẹp đẽ, đã quá, sướng quá, rồi về tôi mộng mơ, dính chùm hết. Đó là vô minh, tham ái, chấp thủ. Vì sao?
Vì chúng ta không thấy, không biết, còn bây giờ Đức Phật dạy mình nhận diện các pháp, mà các pháp này chính là ngũ uẩn. Nhận diện con mắt thuộc về tứ đại, sắc thuộc về tứ đại (sắc uẩn), nhãn thức này thuộc về thức uẩn, thọ này là thọ uẩn, tưởng này thuộc về tưởng uẩn, tư này thuộc về hành uẩn. Hành với tư là một, tức sự suy tư, suy nghĩ.
Bây giờ chúng ta tiếp tục, mùi có lỗ mũi. Mới vừa học xong, bước xuống ngay cửa nhà bếp, bốc mùi lên, bún mắm, bốc mùi mắm lên, nghe biết có mùi, hít hít mũi, mùi này hơi đặc biệt, bún mắm. Mũi, mùi bún mắm, sự rõ biết có mùi, ba thứ này tập hợp, tiếp xúc với nhau sanh ra cảm giác dễ chịu, khoái khoái, thích thích, lạc thọ, bưng tô lên húp rột rột, múc, gắp, có khi ăn hai tô. Lúc đó mũi cũng thích, mùi ngào ngạt, cảm giác khoái, đã, sướng, lạc thọ. Vận hành trong đó là sự yêu thích, khoái, ngon, sướng, đã.
Nhưng ăn xong rồi cũng chưa xong, rửa tô chén hết rồi, chiều ngồi lại nhớ món đó ngon, hình bóng tô bún mắm hiện ra, mùi hương bún mắm thoang thoảng trên mũi. Lưỡi cũng hiện ra mùi hương, hương tưởng, hương tư. Mùi đó thực sự không còn nữa, nó hết rồi, nhưng dư âm của mùi đó còn phảng phất đâu đây, đó gọi là hương tưởng, dư âm, chứ không phải mùi đó còn, nó hết rồi, thậm chí nó biến ra mùi khác rồi. Ở trên này là mùi khác, nhưng đi vô bên trong rồi lại ra đường khác, có mùi khác. Nhưng dư âm của mùi bún mắm, suy nghĩ về mùi đó, là hương tưởng. Mà mùi đó phải kết hợp với vị, vì mũi và lưỡi kết hợp với nhau. Lưỡi, bún mắm, sự rõ biết, vị của bún mắm chạm vô lưỡi, ba thứ này tiếp xúc với nhau gọi là thiệt xúc. Lưỡi, món ăn, sự rõ biết, ba thứ này tiếp xúc sanh ra cảm thọ. Đủ thứ món như bún riêu, bánh canh, phở…
Cảm thọ do thiệt xúc sanh, cảm thọ, cảm xúc, cảm giác này từ chỗ miếng ăn chạm vô lưỡi có sự rõ biết đó, sanh khởi ra cảm giác đó. Hoặc món ăn đó không ngon, không vừa ý, mặn quá hay lạc quá, cay quá, hoặc món ăn đó mình ưa thích, hay không ưa thích, tham hoặc sân. Nếu món ăn vừa khẩu vị mình, mình ái, thích, khoái. Còn món ăn không vừa khẩu vị, không thích, ngán, khó chịu, sanh ra tham, sân. Còn món ăn không ngon không dở, sanh ra si. Như vậy mình dính hết ba thọ.
Ăn xong, vẫn còn hình bóng đó, mình suy nghĩ về vị đó, nó vừa ăn, ngon, hay hơi lạc nhưng hôm nay nấu mặn quá, để cay hơi nhiều, ví dụ vậy. Những suy nghĩ đó là vị tư, chúng ta thấy điều này rõ không? Mình sử dụng hằng ngày hằng giờ, hằng phút, hằng giây. Các pháp vận hành hằng ngày, hằng giờ như vậy đó mà mình không thấy không biết, hễ ăn vô rồi mình thấy ngon, dở. Khoái không khoái, thích không thích, ngon không ngon, vừa miệng hay không vừa miệng. Hôm nay tôi ăn ngon quá, dính một chùm bên trong hết. Rồi vô hết, tôi, của tôi, không thấy pháp, chỉ thấy ăn thôi, thấy món đó thôi, ngon với dở, thích với không thích, tham với sân. Thúc giục bên trong, khoan khoái bên trong, muốn nữa, chỉ thấy tham ái chứ không thấy pháp.
Đó là sự vô minh, tham ái và chấp thủ. Nguyên nhân do không thành tựu Chánh Tri Kiến, Chánh Kiến, không thấy đúng được các pháp, nhưng không đúng làm sao thấy? Vì mình không học, không nhận diện, không quán chiếu, soi rọi, đâu có lấy đèn pin lia vô coi kỹ có con rắn hay sợi dây thừng. Như vậy là tâm vô minh, Đức Phật gọi là mù “Này, các Tỳ-kheo, con mắt là mù lòa, các sắc là mù lòa. Này, các Tỳ-kheo, nhãn thức là mù lòa. Này, các Tỳ-kheo, nhãn xúc là mù lòa. Này, các Tỳ-kheo, thọ do nhãn xúc sanh là mù lòa. Này, các Tỳ-kheo, sắc tưởng, sắc tư đối với kẻ vô văn phàm phu là mù lòa”.
Mù lòa là không thấy không biết, không tri không kiến, không nhận không thức, không chiếu không soi, không nhận diện, không thông đạt, không thấu suốt, không minh, không giác, không tuệ. Cũng giống như bóng đêm vậy, có con rắn nằm bên trong mà mình không biết, cứ lại đó, vậy là chết người. Cho nên, sự tu học của chúng ta là để thấy, để biết, rõ biết ngũ uẩn này, thân này, nội tâm này có gì, đang như thế nào, vận hành ra làm sao, dẫn dắt, sai khiến, áp đảo, dụ dỗ, trói trăn, ràng buộc chúng ta ra sao. Chúng ta bị chìm đắm, quay cuồng trong này thế nào, chúng ta nhìn thấy và biết. Đó gọi là minh, trí, Chánh Kiến – minh trí.
Bây giờ chúng ta nhận diện tiếp, khi có thân, sự xúc chạm, đụng chạm. Ví dụ từ thứ dễ dễ tới sâu sắc để thấy. Lúc trước dịch mình được người ta mời đến nhà tụng kinh cầu an, cầu siêu, tới nhà mình ngồi vô bộ ghế salong xịn, hàng nhập. Thân mình tiếp xúc với bộ ghế mắc tiền, chúng ta có sự rõ biết đây là êm ái, sự tiếp xúc, đụng chạm êm ái, dễ chịu. Như vậy, thân mình, bộ ghế salong, sự đụng chạm, có sự rõ biết, thân này có sự đụng chạm, tiếp xúc với bộ ghế salong, có sự rõ biết điều đó, ba cái này gọi là thân xúc –sự tiếp xúc của thân đối với ghế salong, đồ đắt tiền, đồ xịn, đồ quý, sanh ra cảm giác dễ chịu, thích thú, khoan khoái.
Như vậy, cảm giác dễ chịu, thích thú, khoan khoái này là do sự đụng chạm của thân sanh ra. Nếu không có sự đụng chạm, tiếp xúc với ghế salong đâu có sanh ra dễ chịu, khoan khoái, thích thú này. Cho nên, thọ là do súc sanh. Đúng ra chúng ta phải học bảy trí về thọ, bảy trí về sắc, bảy trí về tưởng, bảy trí về hành, bảy trí về thức. Nhưng thời gian của chúng ta quá ngắn nên mình đang học tắt. Chúng ta biết nhân duyên sanh khởi và đoạn diệt của trí sanh diệt của nó. Sở dĩ nó sanh ra cảm xúc, cảm giác, cảm thọ là từ sự tiếp xúc, đụng chạm mới có. Nếu không có sự đụng chạm sẽ không có cảm giác khoái này. Mà cảm giác khoái, thích này từ thân đụng chạm, tiếp xúc.
Cúng kiếng đồ xong hết rồi trở về, mai mốt ngồi nhớ lại cảm giác khi đụng chạm với ghế salong. Bây giờ đang ngồi trên ghế tre, cũ mèm, cứng, nghĩ rằng phải chi mình có bộ ghế salong để ngồi thì rất sướng. Cũng xúc tưởng, xúc tư, hình ảnh ghế salong, những tiếp xúc, đụng chạm, suy nghĩ về sự tiếp xúc, đụng chạm đó là xúc tưởng, xúc tư. Đó mới nói về ghế, còn con người nguy hiểm vô cùng. Chúng ta thấy chưa, tất cả chúng sanh có thân xúc này đều chết hết, thoát không ra nổi, từ người phàm tới thần tiên, từ người đời tới người tu. Để chiến thắng được thân xúc này là cả một công trình công phu thâm hậu.
Ví dụ như đưa đồ, lỡ cầm món đồ đó mà trúng tay, chạm vào tay, đối tượng đó mình có thể phát sanh ra tham ái, tham dục. Khi tay này chạm qua tay kia, hay đi ngồi xe, chạm đụng vào người kế bên, thân này rõ biết sự đụng chạm đó. Do có thân và sự đụng chạm sanh khởi ra sự rõ biết đụng chạm đó. Ba thứ này giao thoa, hội tụ, hội họp với nhau tạo thành sự tiếp xúc của thân. Mà khi tiếp xúc thì sanh thọ liền, xúc sanh thọ, tưởng, hành. Chúng ta để ý, bất cứ khi nào tiếp xúc, nó sanh ra cảm giác, hình bóng, và suy nghĩ liền.
Đây là định lý chúng ta phải học kỹ, học thuộc lòng. Xúc sanh thọ, tưởng, hành. Xúc gồm sáu xúc: nhãn xúc, tỷ xúc, thiệt xúc, thân xúc, ý xúc. Hễ tiếp xúc liền sanh ra cảm thọ, hình bóng, suy nghĩ. Đây là định luật của tâm lý Phật giáo, xúc sanh ra cảm giác, khi tiếp xúc sanh ra hình bóng, tiếp xúc sanh ra suy nghĩ, hoặc thiện, hoặc bất thiện, hoặc tham dục hay sân hận.
Giờ có một ví dụ, mình đang đi thì có một người chạy trúng khiến mình chúi nhủi, mình rất bực bội, sân hận, quay lại nhìn thấy hoa hậu Hoàn Vũ. Lúc đó cảm giác khó chịu mất tiêu, cảm giác dễ chịu sanh. Xúc sanh, thọ này ra ba thọ, chúng ta học rồi: dễ chịu, khó chịu, không dễ chịu không khó chịu. Nếu xúc của nó gặp ngay thằng ăn mày ghẻ lở, đầu bù tóc rối, mình mẩy hôi hám, dơ bẩn liền sanh cảm giác khó chịu. Nếu xúc đó là người bình thường, không đẹp không xấu, ngay chỗ xúc đó sẽ sân chứ không bình thường, mạnh như vậy sẽ dễ gây sân.
Đó là mình nói vô tình, bây giờ tới thọ thọ “Nam nữ thọ thọ bất thân” mà nhà Nho hồi xưa hay nói. Đưa đồ không trực tiếp tay cầm tay mà để chỗ đó rồi người ta lấy, không tay đưa qua tay. Vì người ta sợ xúc như thế này, ông xúc ghê gớm vô cùng, phải cẩn thận, không được xúc, cắt xúc thì thọ, tưởng, hành mới chấm dứt. Xúc đoạn diệt thọ, tưởng, hành đoạn diệt, chấm dứt. Nhưng đây mình mới nói xúc hiện tại, còn muốn đoạn diệt thật sự phải Bát Chánh Đạo mới đoạn diệt nổi vì hiện tại không xúc nhưng cái xúc của quá khứ còn chất chứa ở thọ, tưởng, hành bên trong.
IV. Cảm thọ
Nhưng thứ quan trọng nhất trong vấn đề tu là tại sao chúng ta học, đọc Nikāya rồi mới thấy, là tại sao ngày xưa các thầy Tỳ-kheo độc cư thiền định một mình vì để cắt xúc này, do ông xúc này mới sanh ra đủ thứ chuyện. Mình thấy không, tự nhiên gặp nhau trúng tiếng sét ái tình, gặp xong về ăn không được, ngủ không được, là do xúc này. Cho nên tại sao chúng ta tu là hộ trì căn, phòng hộ, bảo vệ, giữ gìn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, tránh xúc. Vì xúc sanh ra cảm thọ nên chúng ta gọi là cảm xúc.
Cảm xúc là sao? Là cảm giác từ khi tiếp xúc sanh khởi ra gọi là cảm xúc. Xúc cảm cũn vậy, đảo qua đảo lại, xúc cảm cảm xúc, tiếp xúc sanh ra cảm giác gọi là xúc cảm, thành ra xúc này rất ghê. Bây giờ mình coi, nam nữ, người thương yêu, vợ chồng mà dính vô xúc này là suốt cuộc đời đi ra không nổi. Vì sao? Xúc vô chỗ đó rồi có dục, ái, tham. Nhưng đâu phải xúc chỗ đó xong rồi thôi, xong rồi về suy nghĩ, hình bóng của sự đụng chạm, tiếp xúc đó lưu vô trong tâm. Hình bóng của sự đụng chạm đó không mất, đó gọi là xúc tưởng, là hình bóng của sự đụng chạm đó còn lại, tồn đọng, tồn chỉ, tồn tại, tồn hàng, tồn kho, tồn trữ, tồn đọng, rồi lâu lâu khởi lên, sanh khởi hình bóng đó ra.
Xúc tư là suy nghĩ về sự đụng chạm, sự tiếp xúc, sự mà đưa món đồ rồi chạm trúng vào ngón tay, có ghê không? Hay ngồi trên xe mà gặp ổ gà, ổ voi rồi đụng chạm một cái mà về, sự đụng chạm đó, hình bóng của sự đụng chạm đó hiện ra, suy nghĩ về sự đụng chạm đó. Cho nên chúng ta mới thấy tại sao Đức Phật nói giữ giới là quan trọng. Vì khi mình phạm những giới lớn, những điều này chất chứa trong tâm làm mình không thiền định được. Những hình ảnh đó, suy nghĩ đó, cảm thọ đó xâm chiếm, áp đảo, chế ngự trong tâm, mình không xóa nổi.
Nó hành hạ mình, đay nghiến mình, giày xéo mình, xâm chiếm mình, áp đảo mình, nó đòi hỏi, thúc giục bên trong. Chúng ta nhớ ba chữ: dục – cảm giác thúc giục, kích thích, khoái là ái, muốn thêm nữa, muốn lặp lại nữa cảm giác đó nhiều hơn nữa - tham. Đó là sự vận hành trong thọ, tưởng, hành của mình. Đây là những cảm giác thúc giục, muốn sự đụng chạm đó, muốn tiếp xúc nữa.
Mà sự tiếp xúc này có tới sáu xúc chứ không phải chỉ có thân xúc: muốn gặp để nhìn thấy người đó – nhãn xúc, muốn nhìn thấy thôi cũng được; muốn nghe tiếng người đó nói ra âm thanh; mùi – mà nhiều khi có mùi đặc biệt. Có nhiều người leo lên xe máy lạnh rồi, tất cả mọi người xem như thảm họa, nhưng thiếu mùi đó không được. Người ta nói: “Lia thia quen chậu, vợ chồng quen hơi”, từ chỗ đó mình mới phanh phui ra, người ta ái mùi đó rồi, bị trói cột trong mùi đó rồi, gọi là kiết sử, kiết là trói cột, sử là sai khiến.
Mình có thấy lạ không, hai vợ chồng gặp là cãi, cự lộn nhưng thiếu nhau không được. Cự là cự, cãi là cãi, nhưng vắng lại nhớ, thiếu sự cãi đó, đó là kiết sử. Bởi vậy chúng ta nói đây là mật mã thế giới, trí ngũ uẩn này giải quyết hết tất cả mọi thứ trên cuộc đời, thế gian này. Mình phải học cái này mới giải mã được tất cả những bí mật, những thứ bị che giấu, khỏa lấp, che đậy. Trí ngũ uẩn này phơi bày hết những gì bị che kín, đem đèn sáng vào trong bóng tối cho những người có mắt có thể thấy sắc, chỉ đường cho người lạc hướng, dựng đứng lên những gì bị quăng ngã.
Đó là công năng, tác dụng của pháp pháp là do Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, đến để mà thấy, không có thời gian, có hiệu quả tức thời, được người trí tự mình giác hiểu. Chúng ta thấy có ghê gớm không? Vì có thân này, sự đụng chạm, rờ mó, tiếp xúc, có sự rõ biết. Ba thứ này, sự đụng chạm, sự rõ biết tạo thành sự tiếp xúc của thân. Khi tiếp xúc lập tức sanh ra cảm giác, cảm giác này do sự đụng chạm của thân mà có, gọi là thọ do thân xúc sanh. Khi có cảm thọ do thân xúc sanh này rồi, sau đó hình bóng của sự đụng chạm, sự tiếp xúc hiện ra trong tâm, tồn tại trong này.
Tại sao nó tồn tại? Vì yêu thích nên nó còn. Chúng ta thấy không? Tại sao hình bóng này còn được lưu giữ? Vì mình thích hình bóng đó, không bỏ. Trong phòng mình tại sao có món đồ đó? Tôi thích nó nên nó có mặt, không thích tôi đã cho người ta, quăng đi, hay bỏ thùng rác? Tại sao có nó? Vì thích, mà thích là ái, còn gọi là hữu ái, mình mới giải mã được thế giới này.
Hữu ái là sao? Mình yêu thích sự hiện hữu của món đồ đó nên món đồ đó nó có. Mình yêu thích hình bóng đó cho nên hình bóng của con người đó tồn tại trong tâm, gọi là ý trung nhân – người trong tâm. Tại sao hình bóng người đó còn hoài trong tâm? Do mình thích, nên đây gọi là hữu ái. Đây chỉ mới giải thích cạn thôi chứ chữ hữu ái rất sâu. Ưa thích sự hiện hữu trong năm uẩn gọi là hữu ái. Tại sao trước phòng mình có cây kiểng đó? Do mình thích. Tại sao trong tủ mình có món đồ đó? Mình yêu thích món đồ đó. Tại sao trong lòng mình có hình bóng đó? Vì mình thích, mình yêu hình bóng đó, muốn, thích, trói cột trong này.
Như vậy chúng ta mới thấy tại sao mà mình không giải quyết được những vấn đề bên trong tâm, những cảm giác đó, hình bóng đó, suy nghĩ đó. Các pháp sở dĩ tồn đọng, tồn tại, tồn kho, tồn chỉ, tồn hàng, tồn trữ trong tâm mình là vì sao? Vì tham ái, cho nên mới nói: “Làm sao giết được người trong mộng”. Vì bên trong mình còn thích, còn khoái, còn muốn giữ hình bóng đó, nó không thể tiêu tan được. Sở dĩ những hình bóng này có, những suy nghĩ về hình bóng này có vì có cảm thọ. Đây là ông tổ của tất cả các ông tổ, chỗ hội tụ của tất cả các pháp ở trong cảm xúc, cảm giác, cảm thọ của mình là mình thích, muốn, khoái, ưa.
Chính vì cảm thọ chất chứa như vậy, nó khoái, muốn, ưa, thương, yêu, ràng buộc nên những hình bóng hiện ra, rồi những suy nghĩ đi theo, xuất hiện, chạy lòng vòng chung quanh cảm thọ này. Thọ chính là tổng hành dinh, là hang ổ, sào huyệt, là kho chứa đựng, trong năm uẩn thọ là chúa tể. Thọ là tổng hành dinh, trung khu thần kinh, là trung ương.
Cho nên, tất cả sự tu của mình mà không có cảm xúc, cảm thọ, cảm giác gì thì đó mới chỉ là tu ngoài miệng, tu hình thức, tu trên nghĩ tưởng, tưởng tượng, suy nghĩ. Mình tu mà chạm tới cảm thọ này thì sự tu đó mới có khả năng xuyên thủng khối vô minh, tham ái, chấp thủ to lớn phải phá trong cảm thọ này thì những tiết sau chúng ta sẽ nói thêm. Như vậy chúng ta thấy không, giờ mới tới thân mà chúng ta đã ngán rồi.
Bởi vậy Đức Thế Tôn nói: “Này các Tỳ-kheo, lưỡi là mù lòa, vị là mù lòa, thiệt thức là mù lòa, thiệt xúc là mù lòa”. Mình nói tiếng Việt cho dễ hiểu, lưỡi này mù lòa, vô minh, mình cũng vô minh đối với vị này. Sự rõ biết đối với lưỡi, với vị này mình cũng mù lòa. Khi ba thứ này tiếp xúc với nhau lúc đó mình cũng không biết gì, cũng ngơ ngơ ngáo ngáo, không thấy không biết, mờ mờ mịt mịt, mù mù, tối thui, toàn bóng đêm. Như vậy, thiệt xúc là mù lòa.
Cảm giác sanh ra khi lưỡi tiếp xúc mà mình cũng không thấy, không biết gì là mù lòa. Những hình bóng của hương, vị đó, những suy nghĩ về hương, vị đó cũng mù lòa, không biết gì. Mình ưa hoặc ghét, muốn hoặc không muốn, tham, sân, cái nào cũng tôi, của tôi. Tất cả những thứ này Đức Thế Tôn gọi là mù lòa, xin mời các thầy cô nghe bài: “Tất cả là mù lòa”, bài kinh đó Minh Thành mới chia sẻ.
Chúng ta thấy trí huệ của Đức Thế Tôn là không thể tưởng tượng nổi. Hồi xưa mình học chung chung, ý thức mình cũng không biết là gì, pháp trần cũng chung chung. Còn đây là cái nào rạch ròi ra cái đó, và mình nhận diện thân tâm mình một cách chính xác, chuẩn xác, xác quyết, không lẫn lộn. Sắc là sắc, thọ là thọ, tưởng là hình bóng là hình bóng, suy nghĩ là hành là suy nghĩ là hành, thức rõ biết là thức chứ không lộn xộn mà cho rằng thức là sự phân biệt rõ biết. Không phải, thức chỉ là rõ biết. Còn nói lầm thầm, đúng sai, hay dở thuộc về hành.
Thành ra, chúng ta phải học định nghĩa năm uẩn thuộc lòng, học nhận diện năm uẩn thật chân xác thì sau đó mới có chìa khóa để mở cánh cửa ngôi nhà thân tâm của chúng ta. Nếu không chỉ là cưỡi ngựa xem hoa, đứng ngoài cổng chùa nhìn vô thôi, tu tới chết không biết vô minh là gì, tham sân si ở đâu, dục ái làm sao vận hành mình không hay. Cho nên chúng ta có cơ hội để đào sâu vào trong pháp học, pháp hành Nikāya là rất trân quý.
Bây giờ tới chỗ lúc nãy chúng ta nói: ý là sự để ý. Mình ví dụ từ ngoài thô cho tới tế để mình nắm thật vững vì chỗ này rất sâu sắc, có khi ngồi thiền tới chết cũng không biết, thành ra mình phải học chậm và kỹ, để ý. Ví dụ một con người có ý có tứ, để ý là như thế nào? Một người nấu cơm bằng bình ga, nếu là người có ý có tứ, nấu xong rồi sẽ kiểm tra bình ga đó xem có khóa, có tắt chưa. Mà mình không để ý, cứ việc nấu xong rồi đi về nằm ngủ, có khi xảy ra hỏa hoạn, cháy nhà chết người, vì mình không để ý cái cần để ý nên xảy ra tai nạn hỏa hoạn, thậm chí mất mạng.
Ví dụ chuyện đánh chuông, mõ mình không để ý, để tâm, cứ vô là gõ bong bong. Nhiều khi ở trong chùa ba bốn mươi năm mà đánh tiếng chuông nghe muốn rớt tim ra ngoài. Do không thiền vị, không để ý công chuyện mình đang làm, thành ra nó không thấm tàu hủ, tương chao. Người không để ý như vậy suốt đời tu học cái gì cũng không đi tới đâu, chỉ làm được vậy thôi.
Bây giờ sâu sắc hơn một chút: để ý vào trong tâm. Ví dụ có người tới hỏi sư cô hay sư huynh hổm rày tu học ra sao. Trả lời tôi tu học rất êm, hết tham, sân, si, dường như rất an ổn. Như vậy người này không để ý, họ sẽ rất cạn cợt, thiển cận, bồng bột và nông nổi. Mà người bồng bột, nông nổi, cạn cợt, thiển cận Đức Phật gọi là ác pháp, không sâu sắc.
Mình sẽ có một ví dụ hết sức dễ hiểu: bây giờ đi lên tụng kinh, đương nhiên có người đứng trước đứng sau, tuổi đạo cũng lớn mà có sư cô nào ở dưới quê mới lên, nhỏ tuổi đạo hơn mình mà lên đứng trên mình, trước mặt mình. Lúc đó mình phải để ý coi xem bản thân đứng phía sau suy nghĩ gì, cảm giác ra sao, có khó chịu không? Có suy nghĩ vì sao nhỏ mà dám đứng chỗ cao, coi tôi không ra gì, mới tới mà muốn là sếp sòng tôi rồi phải không? Rồi tưởng của mình, của người đó, hình bóng của sự khó chịu đó sanh khởi, mình thấy như vậy chính là cảm thọ sân, khó chịu, khổ thọ, là cảm thọ suy nghĩ bản ngã, cái tôi lớn vì tôi ở đây lâu hơn, kia là người mới, tôi là người cũ, kia là người nhỏ, tôi là người lớn.
Suy nghĩ đó là bản ngã, cảm thọ đó là sân, những cái tưởng, hình bóng đó là hơn thua, cao thấp nhân ngã. Mình tu làm sao mà toàn những thứ này? Mình nói tu lâu, đúng ra ở chùa càng lâu, tuổi đạo càng lớn làm sao chấp vô những cái ngã này? Kỳ vậy ta? Mình nhìn, để ý vô mới thấy thọ, tưởng, hành này hiện ra. Phải để ý các pháp thọ, tưởng, hành, phải để ý vô bên trong, còn nếu hướng ra ngoài mình chỉ thấy người kia sai. Đúng, rõ ràng người đó sai, người đó trật. Nhưng nếu mình hướng ngoại thì không tu được, tu là nhận diện lại, tức để ý cảm giác, suy nghĩ, hình bóng trong tâm, thọ, tưởng, hành của mình lúc đó ra sao.
Mình để ý trở lại, lúc đó trong tâm mình có một sự rõ biết cảm giác khó chịu, có hình bóng, suy nghĩ bực bội lớn nhỏ, đúng sai, hơn thua. Như vậy, ba pháp này hội tu, lúc đó mình có cảm thọ sân, bức xúc, khó chịu, giận. Tụng kinh xong rồi về phòng pháp tưởng, pháp tư. Tức những hình bóng của cảm giác, suy nghĩ lúc nãy vẫn hiện lại trong tâm, mình gặp người kia liền không muốn nhìn, hoặc mình nhìn nửa con mắt.
Hình bóng của những cảm giác nghĩ tưởng lúc nãy còn đọng lại trong tâm, không mất. Suy nghĩ, hình bóng đó vẫn tiếp tục sanh khởi và cảm thọ sân, khó chịu này được đồ lên thêm, giống như lúc mình vẽ, mới có một nét, lại thêm nét thứ hai, thứ ba, thứ tư… Cứ đồ lên hoài nên lần nào nhìn cũng thấy khó chịu, bực bội do người này giành chỗ của tôi lên đứng phía trước, càng ngày càng đậm. Nó chất chồng vô cảm thọ, tưởng, hành này, nhất là thọ. Lâu ngày chất chồng liền bung ra lời nói, phát ra hành động, tạo ra nghiệp, có quả báo khổ.
Như vậy, ở đây chúng ta nói chỗ quan trọng là sự để ý lại bên trong, giống như cầm đèn pin lia vô bóng đêm để nhìn thấy chỗ đó có con rắn hay món đồ bên trong, đống rác hay gì đó. Nhờ sự để ý vào bên trong, các pháp thọ, tưởng, hành mới được hiện ra, lúc đó mình có sự rõ biết. Rõ biết được những hình bóng, cảm giác, suy nghĩ đó, sự rõ biết đó là ý thức. Nó nhờ sự để tâm vào bên trong mà có sự rõ biết. Nếu như nó không để ý vào bên trong mà chỉ nhìn hướng ngoại ra bên ngoài thôi, thì chỉ thấy người này sai, trật, người nọ không tốt, người kia xấu… Hướng ngoại là không tu được, cho nên trong sự tu này điều quan trọng nhất là nhìn vào bên trong.
Nhìn vào bên trong là nhìn ở đâu? Cảm giác nghĩ tưởng, nhìn vào cảm thọ, cảm xúc của mình. Những hình bóng, suy nghĩ, cảm giác trong tâm phải được thấy, được biết, được kiểm soát, được quản lý, xử lý, quét dọn sạch sẽ, tẩy sạch. Còn nếu không, mình nói tu chỉ là ở ngoài hình thức, còn bên trong tùm lum, đụng vô là sân, gặp là dục ái, hở một chút là bản ngã. Như vậy mình tu được gì? Chỉ là ngoài hình thức thôi.
Cho nên, đào sâu trong sự tu chúng ta thấy toàn thể, giải mã của thân tâm này, tâm lý học tối thượng của Phật giáo, tất cả những điều nãy giờ chúng ta nói. Rõ ràng ai cũng có thể thấy, vì “đến để mà thấy” chứ không phải như duy thức học, nói cái gì đó mà mình không biết nó là cái gì. Còn cái này chỉ đâu sáng đó, điểm đâu tỏ rạng ở đó hết. Mình có là người trí tự mình giác hiểu, nhận thức, thấy biết được. Đây là chỗ tuyệt vời của chúng ta, tu học về các nguyên lý sanh ngũ uẩn, sự nhận diện đối với năm uẩn này.
Như vậy, để tổng kết định lý hôm nay chúng ta thấy được điều gì? Chúng ta kết thúc bằng một bài kinh nói về nguyên lý sanh khởi của ngũ uẩn, bài kinh “Cả hai”. Những gì nãy giờ chúng ta nói ở trong bài kinh này, mà Minh Thành sợ mới vô mà đi vào kinh liền thì quý thấy, quý sư cô sẽ hơi ngỡ ngàng nên mình học cái này trước. Bài này trong “Tương Ưng bộ kinh” tập Bốn, bài kinh “Cả hai” này gồm bài kinh số một và số hai. Minh Thành đọc ngắn gọn thôi.
“Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông về cả hai. Hãy lắng nghe. Này các Tỷ-kheo, thế nào là cả hai?
Mắt và các sắc, tai và các tiếng, mũi và các hương, lưỡi và các vị, thân và các xúc, ý và các pháp. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là cả hai”.
Kinh Tương Ưng Bộ– Tập IV Thiên sáu xứ - Chương I Tương Ưng sáu xứ - Phẩm Chana – Kinh Cả hai 1
Tức hai cái này bao trùm nhân sinh, vũ trụ, thế giới. Mắt với các sắc, tai và tiếng, mũi và mùi, lưỡi và vị, thân và sự xúc chạm, ý đối với pháp bao trùm hết cả thế giới này, không còn gì ở ngoài đó nữa. Chúng ta thấy không, trí tuệ của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác tóm thâu lại chỉ còn hai cái. Còn chúng ta, vô văn phàm phu, mình nhìn thế giới này muôn màu muôn vẻ, bị mê say, say đắm trong sự lòe loẹt chứ thật ra không có nhiều, chỉ có bấy nhiêu thôi.
“Này các Tỷ-kheo, ai nói như sau: " Sau khi đoạn tận hai cái này, tôi sẽ trình bày hai cái khác "; thời người ấy chỉ nói suông, nếu hỏi, người ấy không có thể chứng minh, còn có thể rơi vào ách nạn.
Vì sao? Vì rằng vấn đề ấy vượt ngoài phạm vi của người ấy”.
Không thể có cái nào ngoài hai cái này, không thể rời hai cái này để thấy biết về thân tâm, vũ trụ..
“Do duyên cả hai, này các Tỷ-kheo, thức hiện hữu. Này các Tỷ-kheo, thế nào là do duyên cả hai, thức hiện hữu?
– Do duyên mắt và các sắc, khởi lên nhãn thức
Mắt là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác.
– Các sắc là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác.
– Như vậy, cả hai này là biến động, tiêu tan, vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác.
– Nhãn thức là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác ”.
(Kinh Tương Ưng Bộ– Tập IV Thiên sáu xứ
- Chương I Tương Ưng sáu xứ - Phẩm Chana – Kinh Cả hai 2)
Chúng ta đã viết thành định lý. Mắt, các sắc là sự rõ biết các sắc, là vô thường, tan biến, hủy hoại, hoại diệt, tan vỡ, diệt vong.
“Do nhân nào, do duyên nào, nhãn thức khởi lên; nhân ấy, duyên ấy là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Này các Tỷ-kheo, nhãn thức này khởi lên từ một duyên vô thường, từ đâu sẽ thành thường còn được?”
Từ những thứ vô thường, biến hoại như vậy, kết hợp để tạo ra sự rõ biết của nhãn thức này. Từ nhãn thức này, một nhân duyên vô thường, tan hoại như vậy làm sao mà nhãn thức này thường còn được? Nó là những thứ vô thường, đồ gốm, những thứ tính chất tan nát bại hoại như vậy làm sao tạo ra những cái kiên cố, vững chắc, bất hoại, bất tử được.
“Này các Tỷ-kheo, sự hợp hội, tụ tập, hòa hợp của ba pháp này, này các Tỷ-kheo, đây gọi là nhãn xúc.
– Nhãn xúc cũng vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác.
Do nhân nào, do duyên nào, nhãn xúc khởi lên; nhân ấy, duyên ấy là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Này các Tỷ-kheo, nhãn xúc này khởi lên từ một duyên vô thường, từ đâu sẽ trở thành thường còn được?”
Những thứ vô thường, tạm bợ, mong manh, tan vỡ kết hợp lạilàm sao có thể làm ra một thứ chân thường, bất hoại, bất tử được?
“Do cảm xúc nên có cảm thọ, do cảm xúc nên có tư lường, do cảm xúc nên có hay biết. Ở đây, các pháp này là biến động, tiêu tan, vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác.
Và do duyên tai và các tiếng khởi lên nhĩ thức...
Và do duyên mũi và các hương khởi lên tỷ thức...
Và do duyên lưỡi và các vị khởi lên thiệt thức...
Và do duyên thân và các xúc khởi lên thân thức...
Và do duyên ý và các pháp khởi lên ý thức. Ý là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Các pháp là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Ở đây, cả hai cái này là biến động, tiêu tan, vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Ý thức là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Cái gì là nhân, cái gì là duyên cho ý thức khởi lên; nhân ấy, duyên ấy là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác”.
Đức Thế Tôn chỉ ra bản tánh của từng pháp cho chúng ta thấy, căn, trần, thức, xúc, thọ, tưởng, hành. Tất cả là những thứ kết hợp, lắp ráp, những món đồ gốm, những thứ cấu tạo, mong manh, dễ tan, dễ vỡ, dễ hoại, dễ nát, là những pháp bại hoại, đi đến tiêu ma, hủy diệt, diệt vong, làm sao tạo ra cái thường còn, hạnh phúc được. Bản chất của nó là vô thường, khổ đau, trống rỗng, vô ngã, nhìn thấy được chỗ đó để nhàm chán, không ham muốn, yêu thích, không ràng buộc, say đắm trong đó, không để nó làm chủ mình nữa mà mình thoát ra nó.
Nhưng muốn thoát ra nó còn cả một bước dài, mà bước đầu tiên, căn bản là chúng ta phải nhận diện được các pháp này. Trong thời gian hết sức ngắn gọn, Minh Thành chỉ có thể giới thiệu những định lý, định luật căn bản của nguyên lý sanh khởi ngũ uẩn trong thân tâm, thế giới cho quý thầy, quý cô nghe qua, làm quen, tiếp xúc. Thầy mong rằng quý vị tìm hiểu thêm, nhận diện, thiền tập thêm trong pháp học và pháp hành để thật sự có được lợi ích chân chánh trong sự tu học Phật pháp, trong căn nhà Tam Bảo tối thượng của chúng ta. Rất mong lắm thay, cảm ơn tất cả quý thầy cô đã lắng nghe.
MẬT MÃ THẾ GIỚI II
NGUYÊN LÝ SANH NGŨ UẨN I
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Ngũ uẩn bao trùm thế gian PAGEREF _Toc87168144 \h 1
II. Ý PAGEREF _Toc87168145 \h 3
III. Duyên sanh pháp PAGEREF _Toc87168146 \h 5
IV. Cảm thọ PAGEREF _Toc87168147 \h 11
I. Ngũ uẩn bao trùm thế gian
Minh Thành sẽ trình bày với đại chúng về nguyên lý sanh ngũ uẩn, có tựa đề Mật mã thế giới – nguyên lý sanh ngũ uẩn hay Tâm lý học tối thượng của Phật giáo. Vì thời gian ngắn nên Minh Thành cố gắng “trói voi bỏ rọ”, nghĩa là trói nguyên con voi mà bỏ vào cái rọ nhỏ xíu nên mong rằng quý thầy cô chú tâm, cẩn thận vì đây vừa kết hợp Pháp học và Pháp hành để nhận diện nguyên lý sanh khởi của thân tâm ngũ uẩn, cũng như các pháp bên ngoài và bên trong.
Chúng ta đã nói tầm quan trọng của ngũ uẩn trong pháp hành, hôm nay chúng ta nói về nguyên lý sanh khởi của ngũ uẩn và cũng là mật mã của thế giới. Khi nắm vững được mật mã này rồi sẽ giải mã được vũ trụ này, thân tâm này, thế giới này, và giải mã được tất cả những cảnh giới từ hữu hình đến vô hình, từ hữu sắc đến vô sắc. Và sự vận hành này cũng gọi là tâm lý học tối thượng của Phật giáo. Chúng ta có một khái niệm rõ ràng rằng tất cả sự hiện hữu mà chúng ta thấy được, nghe được, cảm xúc, nhận thức được trên thế giới này đều không ra ngoài năm uẩn.
Bây giờ quý thầy, quý cô chỉ thứ nào ở ngoài năm uẩn được không? Chúng ta có học thuộc định nghĩa ngũ uẩn chưa ạ? Thân người, cảnh vật, đồ vật, tứ đại là sắc. Một chữ sắc đã bao trùm thân này, cảnh vật, núi non, quả đất, thế giới, tất cả mọi hình tướng, từ hạt bụi đến thiên hà đều nằm trong sắc uẩn, tức tổ hợp của sắc chất. Đó là nhóm thứ nhất về vật chất, còn bốn tổ hợp ở phía sau là tổ hợp tinh thần. Những cảm giác dễ chịu, khó chịu hoặc những cảm giác thường thường, không dễ chịu, không khó chịu, những cảm giác đều đều đó thuộc về tổ hợp cảm giác, cảm thọ, cảm xúc, là uẩn thứ hai – thọ uẩn.
Tất cả những hình bóng trong tâm mình: người, vật, màu mè lòe loẹt… Tất cả những hình bóng trong tâm là tổ hợp của tưởng, tất cả những suy nghĩ, những lời nói lòng thòng, những suy tư, tư duy, nghĩ ngợi, tất cả những điều đó nằm trong tổ hợp những suy nghĩ đó thuộc về hành uẩn. Đó là nhóm thứ tư. Nhóm thứ năm là tổ hợp của nhận thức, sự rõ biết. Có sáu cái biết, được gọi là sáu thức. Rõ biết các hình sắc gọi là nhãn thức, chúng ta nhớ không định nghĩa giống như mình học thông thường trước nay, kinh Nikāya khác.
Mình định nghĩa nhãn thức là sự rõ biết của mắt là không đúng. Sự rõ biết các sắc là nhãn thức, sự rõ biết các âm thanh là nhĩ thức, chứ không phải sự rõ biết của lỗ tai. Vì nếu sự rõ biết của tai thì người chết không rõ biết, sự rõ biết các âm thanh là nhĩ thức. Sự rõ biết các mùi là tỷ thức, sự rõ biết vị ngọt mặn chua cay là thiệt thức, rõ biết sự đụng chạm, tiếp xúc nơi thân mình, mình rõ biết, đó là thân thức. Chỗ khó ở đây là sự rõ biết được thọ, tưởng, hành là ý thức. Điều này rất sâu sắc, chúng ta từ từ chia sẻ, cứ ghi vào: sự rõ biết thọ, tưởng, hành là ý thức.
Như hôm trước chúng ta nhận diện ngũ uẩn, nhìn vào bên trong thân tâm, mình thấy có hình người đó, người mà mình giận hiện ra trong tâm nên có cảm giác bực bội, khó chịu. Mình suy nghĩ người đó đã làm hại mình như thế nào, khi đó mình rõ biết được hình bóng của người mình giận, cảm giác khó chịu, những suy nghĩ đã từng làm hại mình như thế nào. Sự rõ biết đó là ý thức.
Thành ra, ngay bản thân Minh Thành học trong trường Phật học ra, nhiều năm cho đến đi đứng lớp cũng không biết ý thức là gì. Khi đi vào dòng pháp Nikāya này rồi, có sự thực tập, nhận diện trong thiền tập đúng theo tinh thần của kinh, không sai một chữ, lúc đó mình mới biết ý thức là gì. Chúng ta nhớ ý thức là sự rõ biết thọ, tưởng, hành. Cho nên, mong rằng các thầy các cô lấy quyển “Nghi thức tu học Nikāya” để ghi chép bài và học thuộc những định nghĩa này. Cái này thuộc về khẩu quyết, định lý, định luật cho nên không thể muốn nói sao thì nói được.
Học thuộc những định lý này, khi thiền tập, khi nhận diện trong sinh hoạt, khi nhận diện trong lúc mình tức giận, tham muốn, hơn thua, mình sẽ thấy rõ các pháp sanh khởi, vận hành trong tâm, từ đó chúng ta mới thấy được nguyên lý sanh khởi ngũ uẩn. Chúng ta chỉ gói gọn bữa hôm nay và hôm sau thôi, nhưng những điều này hết sức quan trọng, để cho chúng ta nhìn nhận lại thân tâm của mình.
II. Ý
Đầu tiên, chúng ta nói sợ lược về sáu pháp, mời bộ phận máy mở giùm sáu pháp. Sáu căn chúng ta dễ biết rồi: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, nhưng qua tới chữ ý không còn dễ hiểu nữa. Chúng ta mới vừa giải thích, ý là biết được thọ, tưởng, hành ở bên trong. Bây giờ để đi vào sáu pháp này, chúng ta phải tìm hiểu chữ “ý” này, nếu không hiểu”ý” thì đi vô pháp không được. Bây giờ tới sáu trần, chữ sắc chúng ta dễ hiểu rồi, thanh là âm thanh, mùi vị là hương vị, xúc là sự tiếp xúc, đụng chạm của thân. Bây giờ chữ pháp trong sáu trần này là gì? Chữ pháp trong sáu trần này là pháp trần. Chữ pháp này là thọ, tưởng, hành trong tâm. Chúng ta chú thích vào.
Thật sự học bài này đúng ra phải chạm mặt nhau, ghi bài, trả bài, bắt làm bài tập ngay trên lớp mới sáng tỏ vấn đề, mà hoàn cảnh hiện tại như vậy, thôi chúng ta cố gắng một chút. Bây giờ Minh Thành giải thích ý căn, pháp trần và ý thức, phải nắm được điều này chúng ta mới đi vào pháp được. Chúng ta ngưng chép bài một chút để mình nhận diện. Chúng ta ngồi theo tư thế thiền tập, để ý ngoài sau xương sống, để tâm vào xương sống phía sau lưng mình. Mắt chúng ta nhìn xuống theo tư thế thiền tập, chúng ta để ý lưng.
Chúng ta thấy có hình bóng của lưng hiện ra trong tâm mình không ạ? Hình bóng đó là tưởng, một cảm giác hoặc dễ chịu, hoặc thường thường, đều đều, không thôi nó hơi mỏi, đó là thọ. Mình có suy nghĩ về lưng, đó là hành, hình bóng của lưng là tưởng, cảm giác về lưng là thọ, suy nghĩ về lưng là hành. Chúng ta để ý, hình bóng hiện ra, cảm giác rõ ràng ra, suy nghĩ đó mình thấy rõ, sự để ý đó là ý căn. Hình bóng, cảm giác của lưng và suy nghĩ về lưng là pháp trần, thọ, tưởng, hành. Và mình có sự rõ biết, đang có hình bóng, cảm giác, suy nghĩ đó, sự rõ biết đó là ý thức.
Bây giờ chúng ta cho một ví dụ khác. Mình đang ngồi thiền, một người đặt câu hỏi nên lấy câu hỏi này làm ví dụ: người này nhớ quê vì thực hiện phong tỏa theo chỉ thị mười sáu nên mắc kẹt lại ở thành phố. Khi ngồi yên như vậy, hình ảnh của quê mình, căn nhà hay ngôi chùa ở quê, sư phụ mình. Để ý lại trong tâm mình thấy có hình bóng của ngôi chùa, căn nhà ở dưới quê. Hình bóng đó là tưởng, cảm giác êm ái, dễ chịu, thân thương là thọ. Những suy nghĩ xung quanh hình bóng đó là hành.
Như vậy, sự để ý vào trong tâm, những hình bóng, suy nghĩ, cảm giác đó hiện ra và mình có sự rõ biết về hình bóng, cảm giác, suy nghĩ đó. Đó là ba pháp, để ý là ý căn, hình ảnh, cảm giác, suy nghĩ là pháp trần, thọ, tưởng, hành. Và sự rõ biết điều đó đang có mặt, đó là ý thức. Chúng ta nắm được chỗ này chưa ạ? Nãy giờ mình giải thích ý căn, pháp trần và ý thức, quý thầy quý cô thấy rõ chưa? Muốn thêm ví dụ nữa không? Có ai muốn hỏi gì không? Cái này là pháp thật, pháp sống, là tâm lý học của Phật giáo, không phải trên lý thuyết.
Bây giờ chúng ta sẽ đi chậm chậm, từ từ, vì đây là pháp trong tâm mình nên cần sự trầm tĩnh và thực tập ngay tại chỗ. Ví dụ, mình để ý bữa tối cúp điện, mình cầm đèn pin trong tay, mình muốn nhìn cái gì liền lia đèn pin vô chỗ đó. Do ánh đèn của đèn pin mà mình soi vô chỗ muốn nhìn mà chỗ đó được tỏa sáng ra. Vật ở chỗ hướng mình soi sẽ được soi thấy do mình cầm đèn pin lia vô trong đó, đối tượng đó sẽ hiện ra, đó là cái bàn, tủ, hay cuốn kinh gì đó mình thấy được. Còn mình không cầm đèn pin soi vô thì hồi nãy chỗ đó là bóng đêm.
Cũng vậy, sự để ý của mình vào trong tâm, ví dụ giờ ở trong tâm đang có hình bóng gì không? Mình để ý trong tâm, nếu nó có, nó hiện hình bóng đó ra, hình bóng của mẹ mình, thầy mình. Chúng ta thấy không, sự để ý vào bên trong giống như mình lấy đèn pin lia vô vậy, bên trong có gì nó sẽ hiện ra cái đó. Sự để ý đó là ý căn, và thứ được sự để ý đó hiện rõ ra là pháp trần. Và chúng ta thấy được trong đó là cuốn kinh, hay cái bàn, hay món đồ gì, chúng ta thấy được, rõ biết được đó là gì, nó là ý thức.
III. Duyên sanh pháp
Bây giờ chúng ta đi vào duyên sanh pháp này để dễ thấy. Đầu tiên, đây là duyên sanh pháp, nguyên lý sanh khởi của ngũ uẩn trong Nikāya. Trước hết, do duyên chúng ta có con mắt, mình ví dụ trực tiếp ngay tại chỗ mình đang ngồi. Chúng ta nhìn thấy hình bóng của Minh Thành qua màn ảnh, hình bóng Minh Thành là sắc. Do duyên chúng ta có con mắt, nhìn thấy sắc, tức hình bóng của Minh Thành trên màn hình là sắc. Nó có ra sự rõ biết sắc pháp đó, rõ biết là đang có hình bóng Minh Thành, thì sự rõ biết đó là nhãn thức. Chúng ta thấy rõ không ạ? Thực tế, cụ thể ngay tại chỗ đó.
Con mắt, sắc là hình bóng Minh Thành ngay trên màn hình, chúng ta có một sự rõ biết về hình sắc đó, đó là nhãn thức. Ba điều này hội tụ, tụ tập, tập hợp, giao thoa lại, tiếp xúc với nhau. Con mắt, hình sắc và sự rõ biết đó, ba thứ này giao thoa, tiếp xúc với nhau gọi là nhãn xúc, là sự tiếp xúc của mắt, của sắc, của sự rõ biết. Ba thứ này giao thoa, tập hợp lại, hội tụ lại, gặp gỡ với nhau, gọi là nhãn xúc – sự tiếp xúc của mắt, là mình nói tắt, chứ thật ra là sự tiếp xúc mắt, sắc và sự rõ biết. Khi ba thứ này giao thoa lại với nhau, tiếp xúc, tập hợp, hội tụ lại với nhau, sanh ra cảm giác thọ do nhãn xúc sanh.
Có thể mình có cảm giác dễ chịu khi mình học, mình thích thú, hoặc có cảm giác khó chịu, khó hiểu. Như vậy, do sự tiếp xúc của mắt mà sanh ra cảm thọ, cảm giác, thì cảm giác, cảm thọ đó gọi là thọ do nhãn xúc sanh. Chúng ta thấy rõ phải không? Nó sanh ra một cảm giác, cảm xúc, cảm thọ từ nơi sự tiếp xúc của con mắt. Chúng ta ví dụ liền ngay tại chỗ để thấy: sanh ra một cảm thọ, cảm xúc ngay con mắt tiếp xúc, như vậy, một lát tan giờ học, hình bóng của Minh Thành hiện về trong tâm chúng ta khi chúng ta nghĩ về, đó gọi là sắc tưởng. Khi hình bóng hiện ra, những suy nghĩ về buổi học đó hiện ra, đó là sắc tư. Chúng ta có hình bóng của buổi học, có suy nghĩ về buổi học lúc nãy là sắc tưởng, sắc tư. Đó là sự vận hành của tâm thức chúng ta.
Bây giờ do có lỗ tai, bài nhạc du dương trầm bổng, chúng ta có sự rõ biết bài nhạc cũng như âm thanh của bài nhạc đó. Như vậy lỗ tai, tiếng nhạc, sự rõ biết, ba cái này hội họp, tiếp xúc lại với nhau gọi là nhĩ xúc, sanh khởi ra một cảm giác thích bài nhạc đó. Dễ chịu, thoải mái, lâng lâng, lạc thọ, cảm xúc sanh khởi đó là từ nơi sự tiếp xúc của lỗ tai. Một hồi bài nhạc đó tắt, âm thanh không còn nữa, nhưng chúng ta suy nghĩ lại, có một âm thanh vang vọng trong tâm mình, mình suy nghĩ lại bài nhạc đó. Đó gọi là thanh tưởng, thanh tư, là tiếng của nó, âm hưởng sau khi mình đã nghe rồi, dư âm còn lại trong tâm mình. Tuy rằng tiếng đó tắt rồi, nhưng âm thanh còn vang vọng, đọng lại lời nhạc, đó là thanh tưởng. Còn mình suy nghĩ về lời của bài nhạc đó, là thanh tư.
Chúng ta thấy không, điều này mình làm hằng ngày, hằng giờ, hằng phút, hằng giây nhưng chúng ta không biết điều đó. Đức Phật gọi đó là vô minh. Khi biết điều đó, chúng ta sẽ đi từ pháp học đến pháp hành, sẽ thực tập, điều này hết sức rõ ràng, cụ thể, thực tế mà chúng ta đang sử dụng hằng ngày, hằng giờ, hằng phút, hằng giây mà chúng ta không biết. Mà nguyên cái này chúng ta làm dính chùm hết, là tôi, của tôi, con mắt mình cũng nói là tôi, của tôi. Xách món đồ đó cũng là tôi, tôi thấy, tôi biết, thấy đẹp đẽ, đã quá, sướng quá, rồi về tôi mộng mơ, dính chùm hết. Đó là vô minh, tham ái, chấp thủ. Vì sao?
Vì chúng ta không thấy, không biết, còn bây giờ Đức Phật dạy mình nhận diện các pháp, mà các pháp này chính là ngũ uẩn. Nhận diện con mắt thuộc về tứ đại, sắc thuộc về tứ đại (sắc uẩn), nhãn thức này thuộc về thức uẩn, thọ này là thọ uẩn, tưởng này thuộc về tưởng uẩn, tư này thuộc về hành uẩn. Hành với tư là một, tức sự suy tư, suy nghĩ.
Bây giờ chúng ta tiếp tục, mùi có lỗ mũi. Mới vừa học xong, bước xuống ngay cửa nhà bếp, bốc mùi lên, bún mắm, bốc mùi mắm lên, nghe biết có mùi, hít hít mũi, mùi này hơi đặc biệt, bún mắm. Mũi, mùi bún mắm, sự rõ biết có mùi, ba thứ này tập hợp, tiếp xúc với nhau sanh ra cảm giác dễ chịu, khoái khoái, thích thích, lạc thọ, bưng tô lên húp rột rột, múc, gắp, có khi ăn hai tô. Lúc đó mũi cũng thích, mùi ngào ngạt, cảm giác khoái, đã, sướng, lạc thọ. Vận hành trong đó là sự yêu thích, khoái, ngon, sướng, đã.
Nhưng ăn xong rồi cũng chưa xong, rửa tô chén hết rồi, chiều ngồi lại nhớ món đó ngon, hình bóng tô bún mắm hiện ra, mùi hương bún mắm thoang thoảng trên mũi. Lưỡi cũng hiện ra mùi hương, hương tưởng, hương tư. Mùi đó thực sự không còn nữa, nó hết rồi, nhưng dư âm của mùi đó còn phảng phất đâu đây, đó gọi là hương tưởng, dư âm, chứ không phải mùi đó còn, nó hết rồi, thậm chí nó biến ra mùi khác rồi. Ở trên này là mùi khác, nhưng đi vô bên trong rồi lại ra đường khác, có mùi khác. Nhưng dư âm của mùi bún mắm, suy nghĩ về mùi đó, là hương tưởng. Mà mùi đó phải kết hợp với vị, vì mũi và lưỡi kết hợp với nhau. Lưỡi, bún mắm, sự rõ biết, vị của bún mắm chạm vô lưỡi, ba thứ này tiếp xúc với nhau gọi là thiệt xúc. Lưỡi, món ăn, sự rõ biết, ba thứ này tiếp xúc sanh ra cảm thọ. Đủ thứ món như bún riêu, bánh canh, phở…
Cảm thọ do thiệt xúc sanh, cảm thọ, cảm xúc, cảm giác này từ chỗ miếng ăn chạm vô lưỡi có sự rõ biết đó, sanh khởi ra cảm giác đó. Hoặc món ăn đó không ngon, không vừa ý, mặn quá hay lạc quá, cay quá, hoặc món ăn đó mình ưa thích, hay không ưa thích, tham hoặc sân. Nếu món ăn vừa khẩu vị mình, mình ái, thích, khoái. Còn món ăn không vừa khẩu vị, không thích, ngán, khó chịu, sanh ra tham, sân. Còn món ăn không ngon không dở, sanh ra si. Như vậy mình dính hết ba thọ.
Ăn xong, vẫn còn hình bóng đó, mình suy nghĩ về vị đó, nó vừa ăn, ngon, hay hơi lạc nhưng hôm nay nấu mặn quá, để cay hơi nhiều, ví dụ vậy. Những suy nghĩ đó là vị tư, chúng ta thấy điều này rõ không? Mình sử dụng hằng ngày hằng giờ, hằng phút, hằng giây. Các pháp vận hành hằng ngày, hằng giờ như vậy đó mà mình không thấy không biết, hễ ăn vô rồi mình thấy ngon, dở. Khoái không khoái, thích không thích, ngon không ngon, vừa miệng hay không vừa miệng. Hôm nay tôi ăn ngon quá, dính một chùm bên trong hết. Rồi vô hết, tôi, của tôi, không thấy pháp, chỉ thấy ăn thôi, thấy món đó thôi, ngon với dở, thích với không thích, tham với sân. Thúc giục bên trong, khoan khoái bên trong, muốn nữa, chỉ thấy tham ái chứ không thấy pháp.
Đó là sự vô minh, tham ái và chấp thủ. Nguyên nhân do không thành tựu Chánh Tri Kiến, Chánh Kiến, không thấy đúng được các pháp, nhưng không đúng làm sao thấy? Vì mình không học, không nhận diện, không quán chiếu, soi rọi, đâu có lấy đèn pin lia vô coi kỹ có con rắn hay sợi dây thừng. Như vậy là tâm vô minh, Đức Phật gọi là mù “Này, các Tỳ-kheo, con mắt là mù lòa, các sắc là mù lòa. Này, các Tỳ-kheo, nhãn thức là mù lòa. Này, các Tỳ-kheo, nhãn xúc là mù lòa. Này, các Tỳ-kheo, thọ do nhãn xúc sanh là mù lòa. Này, các Tỳ-kheo, sắc tưởng, sắc tư đối với kẻ vô văn phàm phu là mù lòa”.
Mù lòa là không thấy không biết, không tri không kiến, không nhận không thức, không chiếu không soi, không nhận diện, không thông đạt, không thấu suốt, không minh, không giác, không tuệ. Cũng giống như bóng đêm vậy, có con rắn nằm bên trong mà mình không biết, cứ lại đó, vậy là chết người. Cho nên, sự tu học của chúng ta là để thấy, để biết, rõ biết ngũ uẩn này, thân này, nội tâm này có gì, đang như thế nào, vận hành ra làm sao, dẫn dắt, sai khiến, áp đảo, dụ dỗ, trói trăn, ràng buộc chúng ta ra sao. Chúng ta bị chìm đắm, quay cuồng trong này thế nào, chúng ta nhìn thấy và biết. Đó gọi là minh, trí, Chánh Kiến – minh trí.
Bây giờ chúng ta nhận diện tiếp, khi có thân, sự xúc chạm, đụng chạm. Ví dụ từ thứ dễ dễ tới sâu sắc để thấy. Lúc trước dịch mình được người ta mời đến nhà tụng kinh cầu an, cầu siêu, tới nhà mình ngồi vô bộ ghế salong xịn, hàng nhập. Thân mình tiếp xúc với bộ ghế mắc tiền, chúng ta có sự rõ biết đây là êm ái, sự tiếp xúc, đụng chạm êm ái, dễ chịu. Như vậy, thân mình, bộ ghế salong, sự đụng chạm, có sự rõ biết, thân này có sự đụng chạm, tiếp xúc với bộ ghế salong, có sự rõ biết điều đó, ba cái này gọi là thân xúc –sự tiếp xúc của thân đối với ghế salong, đồ đắt tiền, đồ xịn, đồ quý, sanh ra cảm giác dễ chịu, thích thú, khoan khoái.
Như vậy, cảm giác dễ chịu, thích thú, khoan khoái này là do sự đụng chạm của thân sanh ra. Nếu không có sự đụng chạm, tiếp xúc với ghế salong đâu có sanh ra dễ chịu, khoan khoái, thích thú này. Cho nên, thọ là do súc sanh. Đúng ra chúng ta phải học bảy trí về thọ, bảy trí về sắc, bảy trí về tưởng, bảy trí về hành, bảy trí về thức. Nhưng thời gian của chúng ta quá ngắn nên mình đang học tắt. Chúng ta biết nhân duyên sanh khởi và đoạn diệt của trí sanh diệt của nó. Sở dĩ nó sanh ra cảm xúc, cảm giác, cảm thọ là từ sự tiếp xúc, đụng chạm mới có. Nếu không có sự đụng chạm sẽ không có cảm giác khoái này. Mà cảm giác khoái, thích này từ thân đụng chạm, tiếp xúc.
Cúng kiếng đồ xong hết rồi trở về, mai mốt ngồi nhớ lại cảm giác khi đụng chạm với ghế salong. Bây giờ đang ngồi trên ghế tre, cũ mèm, cứng, nghĩ rằng phải chi mình có bộ ghế salong để ngồi thì rất sướng. Cũng xúc tưởng, xúc tư, hình ảnh ghế salong, những tiếp xúc, đụng chạm, suy nghĩ về sự tiếp xúc, đụng chạm đó là xúc tưởng, xúc tư. Đó mới nói về ghế, còn con người nguy hiểm vô cùng. Chúng ta thấy chưa, tất cả chúng sanh có thân xúc này đều chết hết, thoát không ra nổi, từ người phàm tới thần tiên, từ người đời tới người tu. Để chiến thắng được thân xúc này là cả một công trình công phu thâm hậu.
Ví dụ như đưa đồ, lỡ cầm món đồ đó mà trúng tay, chạm vào tay, đối tượng đó mình có thể phát sanh ra tham ái, tham dục. Khi tay này chạm qua tay kia, hay đi ngồi xe, chạm đụng vào người kế bên, thân này rõ biết sự đụng chạm đó. Do có thân và sự đụng chạm sanh khởi ra sự rõ biết đụng chạm đó. Ba thứ này giao thoa, hội tụ, hội họp với nhau tạo thành sự tiếp xúc của thân. Mà khi tiếp xúc thì sanh thọ liền, xúc sanh thọ, tưởng, hành. Chúng ta để ý, bất cứ khi nào tiếp xúc, nó sanh ra cảm giác, hình bóng, và suy nghĩ liền.
Đây là định lý chúng ta phải học kỹ, học thuộc lòng. Xúc sanh thọ, tưởng, hành. Xúc gồm sáu xúc: nhãn xúc, tỷ xúc, thiệt xúc, thân xúc, ý xúc. Hễ tiếp xúc liền sanh ra cảm thọ, hình bóng, suy nghĩ. Đây là định luật của tâm lý Phật giáo, xúc sanh ra cảm giác, khi tiếp xúc sanh ra hình bóng, tiếp xúc sanh ra suy nghĩ, hoặc thiện, hoặc bất thiện, hoặc tham dục hay sân hận.
Giờ có một ví dụ, mình đang đi thì có một người chạy trúng khiến mình chúi nhủi, mình rất bực bội, sân hận, quay lại nhìn thấy hoa hậu Hoàn Vũ. Lúc đó cảm giác khó chịu mất tiêu, cảm giác dễ chịu sanh. Xúc sanh, thọ này ra ba thọ, chúng ta học rồi: dễ chịu, khó chịu, không dễ chịu không khó chịu. Nếu xúc của nó gặp ngay thằng ăn mày ghẻ lở, đầu bù tóc rối, mình mẩy hôi hám, dơ bẩn liền sanh cảm giác khó chịu. Nếu xúc đó là người bình thường, không đẹp không xấu, ngay chỗ xúc đó sẽ sân chứ không bình thường, mạnh như vậy sẽ dễ gây sân.
Đó là mình nói vô tình, bây giờ tới thọ thọ “Nam nữ thọ thọ bất thân” mà nhà Nho hồi xưa hay nói. Đưa đồ không trực tiếp tay cầm tay mà để chỗ đó rồi người ta lấy, không tay đưa qua tay. Vì người ta sợ xúc như thế này, ông xúc ghê gớm vô cùng, phải cẩn thận, không được xúc, cắt xúc thì thọ, tưởng, hành mới chấm dứt. Xúc đoạn diệt thọ, tưởng, hành đoạn diệt, chấm dứt. Nhưng đây mình mới nói xúc hiện tại, còn muốn đoạn diệt thật sự phải Bát Chánh Đạo mới đoạn diệt nổi vì hiện tại không xúc nhưng cái xúc của quá khứ còn chất chứa ở thọ, tưởng, hành bên trong.
IV. Cảm thọ
Nhưng thứ quan trọng nhất trong vấn đề tu là tại sao chúng ta học, đọc Nikāya rồi mới thấy, là tại sao ngày xưa các thầy Tỳ-kheo độc cư thiền định một mình vì để cắt xúc này, do ông xúc này mới sanh ra đủ thứ chuyện. Mình thấy không, tự nhiên gặp nhau trúng tiếng sét ái tình, gặp xong về ăn không được, ngủ không được, là do xúc này. Cho nên tại sao chúng ta tu là hộ trì căn, phòng hộ, bảo vệ, giữ gìn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, tránh xúc. Vì xúc sanh ra cảm thọ nên chúng ta gọi là cảm xúc.
Cảm xúc là sao? Là cảm giác từ khi tiếp xúc sanh khởi ra gọi là cảm xúc. Xúc cảm cũn vậy, đảo qua đảo lại, xúc cảm cảm xúc, tiếp xúc sanh ra cảm giác gọi là xúc cảm, thành ra xúc này rất ghê. Bây giờ mình coi, nam nữ, người thương yêu, vợ chồng mà dính vô xúc này là suốt cuộc đời đi ra không nổi. Vì sao? Xúc vô chỗ đó rồi có dục, ái, tham. Nhưng đâu phải xúc chỗ đó xong rồi thôi, xong rồi về suy nghĩ, hình bóng của sự đụng chạm, tiếp xúc đó lưu vô trong tâm. Hình bóng của sự đụng chạm đó không mất, đó gọi là xúc tưởng, là hình bóng của sự đụng chạm đó còn lại, tồn đọng, tồn chỉ, tồn tại, tồn hàng, tồn kho, tồn trữ, tồn đọng, rồi lâu lâu khởi lên, sanh khởi hình bóng đó ra.
Xúc tư là suy nghĩ về sự đụng chạm, sự tiếp xúc, sự mà đưa món đồ rồi chạm trúng vào ngón tay, có ghê không? Hay ngồi trên xe mà gặp ổ gà, ổ voi rồi đụng chạm một cái mà về, sự đụng chạm đó, hình bóng của sự đụng chạm đó hiện ra, suy nghĩ về sự đụng chạm đó. Cho nên chúng ta mới thấy tại sao Đức Phật nói giữ giới là quan trọng. Vì khi mình phạm những giới lớn, những điều này chất chứa trong tâm làm mình không thiền định được. Những hình ảnh đó, suy nghĩ đó, cảm thọ đó xâm chiếm, áp đảo, chế ngự trong tâm, mình không xóa nổi.
Nó hành hạ mình, đay nghiến mình, giày xéo mình, xâm chiếm mình, áp đảo mình, nó đòi hỏi, thúc giục bên trong. Chúng ta nhớ ba chữ: dục – cảm giác thúc giục, kích thích, khoái là ái, muốn thêm nữa, muốn lặp lại nữa cảm giác đó nhiều hơn nữa - tham. Đó là sự vận hành trong thọ, tưởng, hành của mình. Đây là những cảm giác thúc giục, muốn sự đụng chạm đó, muốn tiếp xúc nữa.
Mà sự tiếp xúc này có tới sáu xúc chứ không phải chỉ có thân xúc: muốn gặp để nhìn thấy người đó – nhãn xúc, muốn nhìn thấy thôi cũng được; muốn nghe tiếng người đó nói ra âm thanh; mùi – mà nhiều khi có mùi đặc biệt. Có nhiều người leo lên xe máy lạnh rồi, tất cả mọi người xem như thảm họa, nhưng thiếu mùi đó không được. Người ta nói: “Lia thia quen chậu, vợ chồng quen hơi”, từ chỗ đó mình mới phanh phui ra, người ta ái mùi đó rồi, bị trói cột trong mùi đó rồi, gọi là kiết sử, kiết là trói cột, sử là sai khiến.
Mình có thấy lạ không, hai vợ chồng gặp là cãi, cự lộn nhưng thiếu nhau không được. Cự là cự, cãi là cãi, nhưng vắng lại nhớ, thiếu sự cãi đó, đó là kiết sử. Bởi vậy chúng ta nói đây là mật mã thế giới, trí ngũ uẩn này giải quyết hết tất cả mọi thứ trên cuộc đời, thế gian này. Mình phải học cái này mới giải mã được tất cả những bí mật, những thứ bị che giấu, khỏa lấp, che đậy. Trí ngũ uẩn này phơi bày hết những gì bị che kín, đem đèn sáng vào trong bóng tối cho những người có mắt có thể thấy sắc, chỉ đường cho người lạc hướng, dựng đứng lên những gì bị quăng ngã.
Đó là công năng, tác dụng của pháp pháp là do Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, đến để mà thấy, không có thời gian, có hiệu quả tức thời, được người trí tự mình giác hiểu. Chúng ta thấy có ghê gớm không? Vì có thân này, sự đụng chạm, rờ mó, tiếp xúc, có sự rõ biết. Ba thứ này, sự đụng chạm, sự rõ biết tạo thành sự tiếp xúc của thân. Khi tiếp xúc lập tức sanh ra cảm giác, cảm giác này do sự đụng chạm của thân mà có, gọi là thọ do thân xúc sanh. Khi có cảm thọ do thân xúc sanh này rồi, sau đó hình bóng của sự đụng chạm, sự tiếp xúc hiện ra trong tâm, tồn tại trong này.
Tại sao nó tồn tại? Vì yêu thích nên nó còn. Chúng ta thấy không? Tại sao hình bóng này còn được lưu giữ? Vì mình thích hình bóng đó, không bỏ. Trong phòng mình tại sao có món đồ đó? Tôi thích nó nên nó có mặt, không thích tôi đã cho người ta, quăng đi, hay bỏ thùng rác? Tại sao có nó? Vì thích, mà thích là ái, còn gọi là hữu ái, mình mới giải mã được thế giới này.
Hữu ái là sao? Mình yêu thích sự hiện hữu của món đồ đó nên món đồ đó nó có. Mình yêu thích hình bóng đó cho nên hình bóng của con người đó tồn tại trong tâm, gọi là ý trung nhân – người trong tâm. Tại sao hình bóng người đó còn hoài trong tâm? Do mình thích, nên đây gọi là hữu ái. Đây chỉ mới giải thích cạn thôi chứ chữ hữu ái rất sâu. Ưa thích sự hiện hữu trong năm uẩn gọi là hữu ái. Tại sao trước phòng mình có cây kiểng đó? Do mình thích. Tại sao trong tủ mình có món đồ đó? Mình yêu thích món đồ đó. Tại sao trong lòng mình có hình bóng đó? Vì mình thích, mình yêu hình bóng đó, muốn, thích, trói cột trong này.
Như vậy chúng ta mới thấy tại sao mà mình không giải quyết được những vấn đề bên trong tâm, những cảm giác đó, hình bóng đó, suy nghĩ đó. Các pháp sở dĩ tồn đọng, tồn tại, tồn kho, tồn chỉ, tồn hàng, tồn trữ trong tâm mình là vì sao? Vì tham ái, cho nên mới nói: “Làm sao giết được người trong mộng”. Vì bên trong mình còn thích, còn khoái, còn muốn giữ hình bóng đó, nó không thể tiêu tan được. Sở dĩ những hình bóng này có, những suy nghĩ về hình bóng này có vì có cảm thọ. Đây là ông tổ của tất cả các ông tổ, chỗ hội tụ của tất cả các pháp ở trong cảm xúc, cảm giác, cảm thọ của mình là mình thích, muốn, khoái, ưa.
Chính vì cảm thọ chất chứa như vậy, nó khoái, muốn, ưa, thương, yêu, ràng buộc nên những hình bóng hiện ra, rồi những suy nghĩ đi theo, xuất hiện, chạy lòng vòng chung quanh cảm thọ này. Thọ chính là tổng hành dinh, là hang ổ, sào huyệt, là kho chứa đựng, trong năm uẩn thọ là chúa tể. Thọ là tổng hành dinh, trung khu thần kinh, là trung ương.
Cho nên, tất cả sự tu của mình mà không có cảm xúc, cảm thọ, cảm giác gì thì đó mới chỉ là tu ngoài miệng, tu hình thức, tu trên nghĩ tưởng, tưởng tượng, suy nghĩ. Mình tu mà chạm tới cảm thọ này thì sự tu đó mới có khả năng xuyên thủng khối vô minh, tham ái, chấp thủ to lớn phải phá trong cảm thọ này thì những tiết sau chúng ta sẽ nói thêm. Như vậy chúng ta thấy không, giờ mới tới thân mà chúng ta đã ngán rồi.
Bởi vậy Đức Thế Tôn nói: “Này các Tỳ-kheo, lưỡi là mù lòa, vị là mù lòa, thiệt thức là mù lòa, thiệt xúc là mù lòa”. Mình nói tiếng Việt cho dễ hiểu, lưỡi này mù lòa, vô minh, mình cũng vô minh đối với vị này. Sự rõ biết đối với lưỡi, với vị này mình cũng mù lòa. Khi ba thứ này tiếp xúc với nhau lúc đó mình cũng không biết gì, cũng ngơ ngơ ngáo ngáo, không thấy không biết, mờ mờ mịt mịt, mù mù, tối thui, toàn bóng đêm. Như vậy, thiệt xúc là mù lòa.
Cảm giác sanh ra khi lưỡi tiếp xúc mà mình cũng không thấy, không biết gì là mù lòa. Những hình bóng của hương, vị đó, những suy nghĩ về hương, vị đó cũng mù lòa, không biết gì. Mình ưa hoặc ghét, muốn hoặc không muốn, tham, sân, cái nào cũng tôi, của tôi. Tất cả những thứ này Đức Thế Tôn gọi là mù lòa, xin mời các thầy cô nghe bài: “Tất cả là mù lòa”, bài kinh đó Minh Thành mới chia sẻ.
Chúng ta thấy trí huệ của Đức Thế Tôn là không thể tưởng tượng nổi. Hồi xưa mình học chung chung, ý thức mình cũng không biết là gì, pháp trần cũng chung chung. Còn đây là cái nào rạch ròi ra cái đó, và mình nhận diện thân tâm mình một cách chính xác, chuẩn xác, xác quyết, không lẫn lộn. Sắc là sắc, thọ là thọ, tưởng là hình bóng là hình bóng, suy nghĩ là hành là suy nghĩ là hành, thức rõ biết là thức chứ không lộn xộn mà cho rằng thức là sự phân biệt rõ biết. Không phải, thức chỉ là rõ biết. Còn nói lầm thầm, đúng sai, hay dở thuộc về hành.
Thành ra, chúng ta phải học định nghĩa năm uẩn thuộc lòng, học nhận diện năm uẩn thật chân xác thì sau đó mới có chìa khóa để mở cánh cửa ngôi nhà thân tâm của chúng ta. Nếu không chỉ là cưỡi ngựa xem hoa, đứng ngoài cổng chùa nhìn vô thôi, tu tới chết không biết vô minh là gì, tham sân si ở đâu, dục ái làm sao vận hành mình không hay. Cho nên chúng ta có cơ hội để đào sâu vào trong pháp học, pháp hành Nikāya là rất trân quý.
Bây giờ tới chỗ lúc nãy chúng ta nói: ý là sự để ý. Mình ví dụ từ ngoài thô cho tới tế để mình nắm thật vững vì chỗ này rất sâu sắc, có khi ngồi thiền tới chết cũng không biết, thành ra mình phải học chậm và kỹ, để ý. Ví dụ một con người có ý có tứ, để ý là như thế nào? Một người nấu cơm bằng bình ga, nếu là người có ý có tứ, nấu xong rồi sẽ kiểm tra bình ga đó xem có khóa, có tắt chưa. Mà mình không để ý, cứ việc nấu xong rồi đi về nằm ngủ, có khi xảy ra hỏa hoạn, cháy nhà chết người, vì mình không để ý cái cần để ý nên xảy ra tai nạn hỏa hoạn, thậm chí mất mạng.
Ví dụ chuyện đánh chuông, mõ mình không để ý, để tâm, cứ vô là gõ bong bong. Nhiều khi ở trong chùa ba bốn mươi năm mà đánh tiếng chuông nghe muốn rớt tim ra ngoài. Do không thiền vị, không để ý công chuyện mình đang làm, thành ra nó không thấm tàu hủ, tương chao. Người không để ý như vậy suốt đời tu học cái gì cũng không đi tới đâu, chỉ làm được vậy thôi.
Bây giờ sâu sắc hơn một chút: để ý vào trong tâm. Ví dụ có người tới hỏi sư cô hay sư huynh hổm rày tu học ra sao. Trả lời tôi tu học rất êm, hết tham, sân, si, dường như rất an ổn. Như vậy người này không để ý, họ sẽ rất cạn cợt, thiển cận, bồng bột và nông nổi. Mà người bồng bột, nông nổi, cạn cợt, thiển cận Đức Phật gọi là ác pháp, không sâu sắc.
Mình sẽ có một ví dụ hết sức dễ hiểu: bây giờ đi lên tụng kinh, đương nhiên có người đứng trước đứng sau, tuổi đạo cũng lớn mà có sư cô nào ở dưới quê mới lên, nhỏ tuổi đạo hơn mình mà lên đứng trên mình, trước mặt mình. Lúc đó mình phải để ý coi xem bản thân đứng phía sau suy nghĩ gì, cảm giác ra sao, có khó chịu không? Có suy nghĩ vì sao nhỏ mà dám đứng chỗ cao, coi tôi không ra gì, mới tới mà muốn là sếp sòng tôi rồi phải không? Rồi tưởng của mình, của người đó, hình bóng của sự khó chịu đó sanh khởi, mình thấy như vậy chính là cảm thọ sân, khó chịu, khổ thọ, là cảm thọ suy nghĩ bản ngã, cái tôi lớn vì tôi ở đây lâu hơn, kia là người mới, tôi là người cũ, kia là người nhỏ, tôi là người lớn.
Suy nghĩ đó là bản ngã, cảm thọ đó là sân, những cái tưởng, hình bóng đó là hơn thua, cao thấp nhân ngã. Mình tu làm sao mà toàn những thứ này? Mình nói tu lâu, đúng ra ở chùa càng lâu, tuổi đạo càng lớn làm sao chấp vô những cái ngã này? Kỳ vậy ta? Mình nhìn, để ý vô mới thấy thọ, tưởng, hành này hiện ra. Phải để ý các pháp thọ, tưởng, hành, phải để ý vô bên trong, còn nếu hướng ra ngoài mình chỉ thấy người kia sai. Đúng, rõ ràng người đó sai, người đó trật. Nhưng nếu mình hướng ngoại thì không tu được, tu là nhận diện lại, tức để ý cảm giác, suy nghĩ, hình bóng trong tâm, thọ, tưởng, hành của mình lúc đó ra sao.
Mình để ý trở lại, lúc đó trong tâm mình có một sự rõ biết cảm giác khó chịu, có hình bóng, suy nghĩ bực bội lớn nhỏ, đúng sai, hơn thua. Như vậy, ba pháp này hội tu, lúc đó mình có cảm thọ sân, bức xúc, khó chịu, giận. Tụng kinh xong rồi về phòng pháp tưởng, pháp tư. Tức những hình bóng của cảm giác, suy nghĩ lúc nãy vẫn hiện lại trong tâm, mình gặp người kia liền không muốn nhìn, hoặc mình nhìn nửa con mắt.
Hình bóng của những cảm giác nghĩ tưởng lúc nãy còn đọng lại trong tâm, không mất. Suy nghĩ, hình bóng đó vẫn tiếp tục sanh khởi và cảm thọ sân, khó chịu này được đồ lên thêm, giống như lúc mình vẽ, mới có một nét, lại thêm nét thứ hai, thứ ba, thứ tư… Cứ đồ lên hoài nên lần nào nhìn cũng thấy khó chịu, bực bội do người này giành chỗ của tôi lên đứng phía trước, càng ngày càng đậm. Nó chất chồng vô cảm thọ, tưởng, hành này, nhất là thọ. Lâu ngày chất chồng liền bung ra lời nói, phát ra hành động, tạo ra nghiệp, có quả báo khổ.
Như vậy, ở đây chúng ta nói chỗ quan trọng là sự để ý lại bên trong, giống như cầm đèn pin lia vô bóng đêm để nhìn thấy chỗ đó có con rắn hay món đồ bên trong, đống rác hay gì đó. Nhờ sự để ý vào bên trong, các pháp thọ, tưởng, hành mới được hiện ra, lúc đó mình có sự rõ biết. Rõ biết được những hình bóng, cảm giác, suy nghĩ đó, sự rõ biết đó là ý thức. Nó nhờ sự để tâm vào bên trong mà có sự rõ biết. Nếu như nó không để ý vào bên trong mà chỉ nhìn hướng ngoại ra bên ngoài thôi, thì chỉ thấy người này sai, trật, người nọ không tốt, người kia xấu… Hướng ngoại là không tu được, cho nên trong sự tu này điều quan trọng nhất là nhìn vào bên trong.
Nhìn vào bên trong là nhìn ở đâu? Cảm giác nghĩ tưởng, nhìn vào cảm thọ, cảm xúc của mình. Những hình bóng, suy nghĩ, cảm giác trong tâm phải được thấy, được biết, được kiểm soát, được quản lý, xử lý, quét dọn sạch sẽ, tẩy sạch. Còn nếu không, mình nói tu chỉ là ở ngoài hình thức, còn bên trong tùm lum, đụng vô là sân, gặp là dục ái, hở một chút là bản ngã. Như vậy mình tu được gì? Chỉ là ngoài hình thức thôi.
Cho nên, đào sâu trong sự tu chúng ta thấy toàn thể, giải mã của thân tâm này, tâm lý học tối thượng của Phật giáo, tất cả những điều nãy giờ chúng ta nói. Rõ ràng ai cũng có thể thấy, vì “đến để mà thấy” chứ không phải như duy thức học, nói cái gì đó mà mình không biết nó là cái gì. Còn cái này chỉ đâu sáng đó, điểm đâu tỏ rạng ở đó hết. Mình có là người trí tự mình giác hiểu, nhận thức, thấy biết được. Đây là chỗ tuyệt vời của chúng ta, tu học về các nguyên lý sanh ngũ uẩn, sự nhận diện đối với năm uẩn này.
Như vậy, để tổng kết định lý hôm nay chúng ta thấy được điều gì? Chúng ta kết thúc bằng một bài kinh nói về nguyên lý sanh khởi của ngũ uẩn, bài kinh “Cả hai”. Những gì nãy giờ chúng ta nói ở trong bài kinh này, mà Minh Thành sợ mới vô mà đi vào kinh liền thì quý thấy, quý sư cô sẽ hơi ngỡ ngàng nên mình học cái này trước. Bài này trong “Tương Ưng bộ kinh” tập Bốn, bài kinh “Cả hai” này gồm bài kinh số một và số hai. Minh Thành đọc ngắn gọn thôi.
“Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông về cả hai. Hãy lắng nghe. Này các Tỷ-kheo, thế nào là cả hai?
Mắt và các sắc, tai và các tiếng, mũi và các hương, lưỡi và các vị, thân và các xúc, ý và các pháp. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là cả hai”.
Kinh Tương Ưng Bộ– Tập IV Thiên sáu xứ - Chương I Tương Ưng sáu xứ - Phẩm Chana – Kinh Cả hai 1
Tức hai cái này bao trùm nhân sinh, vũ trụ, thế giới. Mắt với các sắc, tai và tiếng, mũi và mùi, lưỡi và vị, thân và sự xúc chạm, ý đối với pháp bao trùm hết cả thế giới này, không còn gì ở ngoài đó nữa. Chúng ta thấy không, trí tuệ của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác tóm thâu lại chỉ còn hai cái. Còn chúng ta, vô văn phàm phu, mình nhìn thế giới này muôn màu muôn vẻ, bị mê say, say đắm trong sự lòe loẹt chứ thật ra không có nhiều, chỉ có bấy nhiêu thôi.
“Này các Tỷ-kheo, ai nói như sau: " Sau khi đoạn tận hai cái này, tôi sẽ trình bày hai cái khác "; thời người ấy chỉ nói suông, nếu hỏi, người ấy không có thể chứng minh, còn có thể rơi vào ách nạn.
Vì sao? Vì rằng vấn đề ấy vượt ngoài phạm vi của người ấy”.
Không thể có cái nào ngoài hai cái này, không thể rời hai cái này để thấy biết về thân tâm, vũ trụ..
“Do duyên cả hai, này các Tỷ-kheo, thức hiện hữu. Này các Tỷ-kheo, thế nào là do duyên cả hai, thức hiện hữu?
– Do duyên mắt và các sắc, khởi lên nhãn thức
Mắt là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác.
– Các sắc là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác.
– Như vậy, cả hai này là biến động, tiêu tan, vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác.
– Nhãn thức là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác ”.
(Kinh Tương Ưng Bộ– Tập IV Thiên sáu xứ
- Chương I Tương Ưng sáu xứ - Phẩm Chana – Kinh Cả hai 2)
Chúng ta đã viết thành định lý. Mắt, các sắc là sự rõ biết các sắc, là vô thường, tan biến, hủy hoại, hoại diệt, tan vỡ, diệt vong.
“Do nhân nào, do duyên nào, nhãn thức khởi lên; nhân ấy, duyên ấy là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Này các Tỷ-kheo, nhãn thức này khởi lên từ một duyên vô thường, từ đâu sẽ thành thường còn được?”
Từ những thứ vô thường, biến hoại như vậy, kết hợp để tạo ra sự rõ biết của nhãn thức này. Từ nhãn thức này, một nhân duyên vô thường, tan hoại như vậy làm sao mà nhãn thức này thường còn được? Nó là những thứ vô thường, đồ gốm, những thứ tính chất tan nát bại hoại như vậy làm sao tạo ra những cái kiên cố, vững chắc, bất hoại, bất tử được.
“Này các Tỷ-kheo, sự hợp hội, tụ tập, hòa hợp của ba pháp này, này các Tỷ-kheo, đây gọi là nhãn xúc.
– Nhãn xúc cũng vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác.
Do nhân nào, do duyên nào, nhãn xúc khởi lên; nhân ấy, duyên ấy là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Này các Tỷ-kheo, nhãn xúc này khởi lên từ một duyên vô thường, từ đâu sẽ trở thành thường còn được?”
Những thứ vô thường, tạm bợ, mong manh, tan vỡ kết hợp lạilàm sao có thể làm ra một thứ chân thường, bất hoại, bất tử được?
“Do cảm xúc nên có cảm thọ, do cảm xúc nên có tư lường, do cảm xúc nên có hay biết. Ở đây, các pháp này là biến động, tiêu tan, vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác.
Và do duyên tai và các tiếng khởi lên nhĩ thức...
Và do duyên mũi và các hương khởi lên tỷ thức...
Và do duyên lưỡi và các vị khởi lên thiệt thức...
Và do duyên thân và các xúc khởi lên thân thức...
Và do duyên ý và các pháp khởi lên ý thức. Ý là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Các pháp là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Ở đây, cả hai cái này là biến động, tiêu tan, vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Ý thức là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Cái gì là nhân, cái gì là duyên cho ý thức khởi lên; nhân ấy, duyên ấy là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác”.
Đức Thế Tôn chỉ ra bản tánh của từng pháp cho chúng ta thấy, căn, trần, thức, xúc, thọ, tưởng, hành. Tất cả là những thứ kết hợp, lắp ráp, những món đồ gốm, những thứ cấu tạo, mong manh, dễ tan, dễ vỡ, dễ hoại, dễ nát, là những pháp bại hoại, đi đến tiêu ma, hủy diệt, diệt vong, làm sao tạo ra cái thường còn, hạnh phúc được. Bản chất của nó là vô thường, khổ đau, trống rỗng, vô ngã, nhìn thấy được chỗ đó để nhàm chán, không ham muốn, yêu thích, không ràng buộc, say đắm trong đó, không để nó làm chủ mình nữa mà mình thoát ra nó.
Nhưng muốn thoát ra nó còn cả một bước dài, mà bước đầu tiên, căn bản là chúng ta phải nhận diện được các pháp này. Trong thời gian hết sức ngắn gọn, Minh Thành chỉ có thể giới thiệu những định lý, định luật căn bản của nguyên lý sanh khởi ngũ uẩn trong thân tâm, thế giới cho quý thầy, quý cô nghe qua, làm quen, tiếp xúc. Thầy mong rằng quý vị tìm hiểu thêm, nhận diện, thiền tập thêm trong pháp học và pháp hành để thật sự có được lợi ích chân chánh trong sự tu học Phật pháp, trong căn nhà Tam Bảo tối thượng của chúng ta. Rất mong lắm thay, cảm ơn tất cả quý thầy cô đã lắng nghe.