Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Khổ Thánh Trí 4 - Nhổ Mũi Tên Buồn Đau

2026-03-03 00:53:22
KINH NIKĀYA GIẢNG GIẢI

KHỔ THÁNH TRÍ 4

NHỔ MŨI TÊN BUỒN ĐAU

–Thích Minh Thành–

Chúng ta phải xem mỗi buổi nghe pháp là thời thiền tập, thiền quán, là thời công phu, tác ý, mình nghe được những lời chân lý, sự thật thâm sâu của các pháp từ bậc tối thượng nhân là Đức Như Lai tuyên thuyết, trình bày, hiển thị, khai thị, phân tích, phơi bày ra cho chúng ta, đó là cơ hội ngàn năm khó gặp, vô lượng vô biên kiếp vừa qua trong sanh tử có thể mình chưa từng được nghe, đây có thể là lần đầu tiên mình được nghe những lời dạy thâm sâu, trí tuệ như vậy. Trong kinh không ghi các vị Tỳ-kheo khóc, rơi lệ nhưng lại dùng từ chấn động, cảm xúc mạnh thì đó là những lúc các thầy Tỳ-kheo rơi lệ, khóc, cho nên càng an trú tâm trong pháp thì càng phải hân hoan, vui sướng, thích thú, khoan khoái.

Có một Phật tử trong đạo tràng gửi lời cảm ơn, tuy ngắn ngủi nhưng đọc lên để chúng ta thấy được tấm lòng của các Phật tử.

Đệ tử thành tâm kính đảnh lễ tôn sư. Kính thưa tôn sư bài pháp hôm nay tuy nói về khổ uẩn nhưng khi nghe xong bài pháp đệ tử cảm thọ thân tâm nhẹ nhàng và an lạc. Như tôn sư chỉ dạy đệ tử cảm nhận đệ tử đã lớn mạnh hơn thêm trong Phật pháp, quả là nhờ đệ tử được uống tẩm pháp nhũ mỗi ngày, nhờ công đức cao dày của tôn sư, công đức này to lớn vô vàng không thể đền đáp được, đệ tử luôn khắc ghi và chuyên tâm trong tu học để xin dâng lên cúng dường vị tôn sư luôn quý kính trọng trong đời của đệ tử.

Khi Minh Thành đọc chữ "tôn sư" thì quán tưởng mình là kẻ hèn hạ nhất đang quỳ xuống để lạy lại vị Phật tử đó. Khi đọc lên hai chữ "tôn sư" đó thì hình bóng của mình là đang quỳ lạy vị Phật tử đó, cô Phật tử này đã 70 tuổi, tới lui chùa Bửu Liên mấy chục năm từ đời Hòa Thượng trước. Có rất ít những Phật tử có thể đi theo tu học dòng kinh Nikāya này lâu dài, những bài pháp rất thâm sâu nên cần để tâm nhiều hơn, đừng nghĩ là khó học mà hãy nghĩ là quý báu, mình tác ý trong dòng luân hồi sanh tử này mình chưa từng được nghe và đây là lần đầu được nghe nên cần hân hoan, hỷ lạc, thích thú, mình mở bài kinh tiếp tục đọc và quỳ lạy bài kinh đó, vừa đi kinh hành vừa tác ý những câu khổ khổ, hành khổ, hoại khổ. Mình phải vui thích, hạnh phúc, cảm thấy mình có phước báo, có được duyên lành.

"Một thời, Tôn giả Sàriputta trú ở giữa dân chúng Magadha, tại Nàlalagàmaka. Rồi du sĩ Sàmandakàni đi đến Tôn giả Sàriputta sau khi đến, nói lên với Tôn giả Sàriputta những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, du sĩ Sámandakàni nói với Tôn giả Sàriputta:

- Thưa Hiền giả Sàriputta, trong Pháp và Luật này, thế nào là lạc, thế nào là khổ?

- Không thích ý, này Hiền giả, trong Pháp và Luật này là khổ; thích ý là lạc". (Tăng Chi Bộ, Chương X - Mười Pháp, VII. Phẩm Song Ðôi, (VI). Lạc Và Khổ (2))

Không thấy hứng thú, thích thú, hỷ lạc, hạnh phúc khi chánh pháp vô thượng được vận chuyển, được tuyên thuyết, hiển lộ thì đó là sự khổ đau, còn khi được diễn thuyết, được trình bày, được khai mở mà thấy thích thú thì đó là vui.

"Nhật nguyệt tuy minh nan chiếu phúc bồn chi hạ

Đao kiếm tuy khoái, bất trảm vô tội chi nhân".

Nghĩa là mặt trời và mặt trăng tuy sáng, nhưng không chiếu vô được chậu đang úp. Gươm tuy bén nhưng không lẽ dùng để chém kẻ vô tội. Tâm mình hân hoan, hoan hỉ trong pháp thì đó là hạnh phúc, còn khi thấy nhàm chán, không thích thú trong pháp và luật thì đó là khổ đau, cho nên dựa vào tâm mình có thể biết bản thân lúc đó đang tu tiến hay đang thối lui, thối lui là không thích, còn tiến là thích thú trong pháp, hân hoan trong pháp.

"Khi nào không thích ý có mặt, này Hiền giả, chờ đợi là khổ này: Khi đi không được lạc thú, khi đứng... khi ngồi... khi nằm... khi đi đến làng.. khi đi đến rừng... khi đi đến gốc cây... khi đi đến ngôi nhà trống... khi đi đến chỗ lộ thiên... khi đi đến giữa các Tỳ-kheo, không được lạc thú.

Khi nào không thích ý có mặt, này Hiền giả, chờ đợi là khổ này". (Tăng Chi Bộ, Chương X - Mười Pháp, VII. Phẩm Song Ðôi, (VI). Lạc Và Khổ (2))

Đi tu là đi tìm pháp, cầu pháp, hành pháp, sống với pháp mà giờ mình không vui với pháp thì còn gì nữa? Mình sẽ thấy buồn chán, lạc lẽo, không có mùi vị gì cả, không thích ý trong pháp sẽ đi tìm những cái ở ngoài pháp gọi là phi pháp, không có pháp lạc thì đi tìm dục lạc, đi đến đâu cũng buồn bã, đến ngồi chung đại chúng cũng không vui vẻ, không phấn khởi với pháp.

"Khi nào thích ý có mặt, này Hiền giả, chờ đợi là lạc này: Khi đi được lạc thú; khi đứng... khi ngồi... khi nằm... khi đi đến làng... khi đi đến rừng... khi đi đến gốc cây... khi đi đến ngôi nhà trống... khi đi đến chỗ lộ thiên... khi đi đến giữa các Tỳ-kheo, có được lạc thú.

Khi nào thích ý có mặt, này Hiền giả, chờ đợi là khổ này". (Tăng Chi Bộ, Chương X - Mười Pháp, VII. Phẩm Song Ðôi, (VI). Lạc Và Khổ (2))

Đi đến đâu cũng thích thú, đi đến căn nhà trống hay gốc cây cũng hoan hỉ, hoan hỉ với từng bước chân thiền hành, hoan hỉ với Bồ-đoàn, với từng tảng đá, gốc tre khi ngồi thiền tập thì đó là niềm vui. Chỉ có như vậy mới nuôi lớn pháp thân huệ mạng, trí huệ thân của mình, mới nuôi lớn chánh kiến, chánh trí, minh, giác, tuệ. Thầy Pháp An từ khi lên núi đến giờ tánh tình thay đổi rất nhiều là nhờ nghe pháp, thầy chuyển đổi từ từ, tự thân thầy có thể nhận biết và người xung quanh có thể nhận biết, có thể cảm nhận được, bản thân mình cũng nhờ pháp ngấm từ từ để vận chuyển cho nên đầu tiên là nhờ pháp bên ngoài, nghe, đọc, kế đó là suy tư, nghiền ngẫm, sau đó là luôn chánh niệm sự sanh diệt của các uẩn, đó là mức tu sâu sắc. Lúc đầu là nhờ cái nghe bên ngoài rồi nhớ, suy tư, thực tập rồi mới đi đến mức thâm sâu hơn là luôn chánh niệm sự sanh diệt của các uẩn, phải trải qua các cấp độ như vậy, mình yếu thì phải nhờ văn, huệ bên ngoài thật nhiều, kế đó là nhờ sự tác ý, khi tác ý thuần thục ngấm vào thân tâm thì không cần tác ý nữa mà tự động nhìn bằng pháp. Mỗi một buổi học như vậy Minh Thành đưa ra rất nhiều bài kinh chứ không chỉ có một bài nhưng tóm gọn lại những tinh hoa để đại chúng nghe không thấy chán mà thấy dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thâm nhập.

"- Có bốn loài ngựa hiền thiện thuần thục này, này các Tỳ-kheo, có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là bốn?

Ở đây, này các Tỳ-kheo, có loài ngựa hiền thiện thuần thục, thấy bóng cây gậy thúc ngựa liền bị dao động, kích thích nghĩ rằng: 'Hôm nay, người đánh xe điều ngự ngựa sẽ bảo ta làm gì, và ta đáp ứng thế nào?' Như vậy, này các Tỳ-kheo, ở đây là loại ngựa hiền thiện thuần thục. Này các Tỳ-kheo, đây là loại ngựa hiền thiện thuần thục thứ nhất, có mặt, hiện hữu ở đời.

Ở đây, này các Tỳ-kheo, có hạng người hiền thiện, thuần thục nghe tại một làng hay thị trấn kia, có người đàn bà hay người đàn ông bị khổ đau hay bị mạng chung; người ấy do vậy bị dao động, kích thích. Bị kích thích, vị ấy như lý tinh cần. Do tinh cần, với thân, vị ấy chứng ngộ được tối thắng sự thật; với trí tuệ, vị ấy sau khi thể nhập, thấy được sự thật ấy. Ví như, này các Tỳ-kheo, con ngựa hiền thiện, thuần thục ấy, thấy bóng cây gậy thúc ngựa, bị dao động kích thích, Ta nói rằng, này các Tỳ-kheo, con người hiền thiện thuần thục này giống như ví dụ ấy. Như vậy, này các Tỳ-kheo, ở đây có hạng người hiền thiện. Này các Tỳ-kheo, đây là hạng người hiền thiện thuần thục thứ nhất có mặt, hiện hữu ở đời". (Tăng Chi Bộ, Chương IV - Bốn Pháp, XII. Phẩm Kesi, (III) Gậy Thúc Ngựa)

Đây là loại ngựa thứ nhất cũng như hạng người thứ nhất, chỉ cần nghe có người đau khổ là bị xúc động, tinh cần, tinh tấn nỗ lực tu hành, chứng ngộ được tối thắng sự thật, với trí tuệ người ấy thể nhập, thấy được sự thật. Ở Nepal, Ấn Độ vừa có trận mưa thế kỉ, trăm năm mới có một lần, làm chết hơn cả trăm người nhưng vẫn chưa tìm hết xác, mọi năm mùa này hết mưa nhưng vì biến đổi khí hậu gây mưa không thuận gió không hòa, chết hàng trăm người. Con ngựa hạng thứ nhất này chỉ cần thấy bóng roi là chạy, thấy người bị tai nạn, lũ lụt hay thấy người ta chết chóc trong dịch bệnh là nỗ lực tinh cần tu tập, chứng ngộ tối thắng sự thật.

"Lại nữa, này các Tỳ-kheo, ở đây có loài ngựa hiền thiện thuần thục, thấy bóng cây gậy thúc ngựa, không bị dao động, kích thích. Nhưng khi bị gậy thúc ngựa đâm vào lông, nó liền bị dao động, kích thích, nghĩ rằng: "Hôm nay, người đánh xe điều ngự ngựa sẽ bảo ta làm gì, và ta đáp ứng thế nào?" Như vậy, này các Tỳ-kheo, ở đây là loài ngựa hiền thiện thuần thục. Này các Tỳ-kheo, đây là loài ngựa hiền thiện thuần thục thứ hai, có mặt, hiện hữu ở đời.

 Lại nữa, này các Tỳ-kheo, ở đây có hạng người hiền thiện, thuần thục không có nghe tại một làng hay thị trấn kia, có người đàn bà hay người đàn ông bị đau khổ hay bị mệnh chung, nhưng khi tự mình thấy người đàn bà hay người đàn ông khổ đau hay mệnh chung, người ấy do vậy bị dao động, kích thích. Bị kích thích, vị ấy như lý tinh cần. Do tinh cần, với thân, vị ấy chứng ngộ được sự thật tối thắng; với trí tuệ, vị ấy sau khi thể nhập, thấy được sự thật ấy. Ví như, này các Tỳ-kheo, con ngựa hiền thiện thuần thục ấy, khi bị cây gậy thúc ngựa đâm vào da, bị dao động, kích thích, Ta nói rằng, này các Tỳ-kheo, con người hiền thiện thuần thục này giống như ví dụ ấy. Như vậy, này các Tỳ-kheo, ở đây có hạng người hiền thiện. Này các Tỳ-kheo, đây là hạng người hiền thiện thuần thục thứ hai có mặt, hiện hữu ở đời". (Tăng Chi Bộ, Chương IV - Bốn Pháp, XII. Phẩm Kesi, (III) Gậy Thúc Ngựa)

Hạng ngựa thứ hai là phải quất vào da thịt thì ngựa mới chạy cũng như hạng người thứ hai, tự họ thấy một người đau khổ hoặc chết chóc thì người này bị dao động, lo lắng, bất an, người này bị chấn động nên mới nỗ lực, tinh cần chứng ngộ được sự thật tối thắng, với trí tuệ sau khi thể nhập thấy được sự thật. Hạng đầu tiên là nghe, hạng thứ hai là thấy, cũng như hạng ngựa thứ nhất chỉ nghe thôi là tỉnh thức tu, hạng thứ hai phải thấy tận mắt mới tỉnh ngộ.

"Lại nữa, này các Tỳ-kheo, ở đây có loài ngựa hiền thiện thuần thục, thấy bóng cây gậy thúc ngựa, không bị dao động, kích thích. Khi bị gậy thúc ngựa đâm vào lông, nó không bị dao động, kích thích. Nhưng khi bị cây gậy thúc ngựa đâm vào thịt, liền bị dao động, kích thích, nghĩ rằng: "Hôm nay, người đánh xe điều ngự ngựa sẽ bảo ta làm gì và ta đáp ứng thế nào?" Như vậy, này các Tỳ-kheo, ở đây là loài ngựa hiền thiện, thuần thục. Này các Tỳ-kheo, đây là loài ngựa hiền thiện thuần thục thứ ba, có mặt, hiện hữu ở đời.

Lại nữa, này các Tỳ-kheo, ở đây có hạng người hiền thiện, thuần thục không có nghe tại một làng hay thị trấn kia, có người đàn bà hay người đàn ông bị khổ đau hay bị mệnh chung, không có tự mình thấy người đàn bà hay người đàn ông khổ đau hay mệnh chung. Nhưng, khi có một người bà con hay người đồng một huyết thống khổ đau hay bị mệnh chung, người ấy do vậy bị dao động, kích thích. Bị kích thích, vị ấy như lý tinh cần. Do tinh cần, với thân vị ấy chứng ngộ được sự thật tối thắng; với trí tuệ, vị ấy sau khi thể nhập, thấy được sự thật ấy. Ví như, này các Tỳ-kheo, con ngựa hiền thiện thuần thục ấy, khi bị cây gậy thúc ngựa đâm vào thịt, bị dao động, kích thích, Ta nói rằng, này các Tỳ-kheo, con người hiền thiện thuần thục này giống như ví dụ ấy. Như vậy, này các Tỳ-kheo, ở đây có hạng người hiền thiện. Này các Tỳ-kheo, đây là hạng người hiền thiện thuần thục thứ ba có mặt, hiện hữu ở đời". (Tăng Chi Bộ, Chương IV - Bốn Pháp, XII. Phẩm Kesi, (III) Gậy Thúc Ngựa)

Hạng ngựa thứ ba phải đâm vào da thịt cho đau đớn mới chạy, cũng như hạng người thứ ba phải thấy người trong gia đình, thân tộc chết đi như cha mẹ, ông bà, anh em chết thì người này mới đau khổ, đau đớn, từ đó mới giác ngộ, thức tỉnh, tinh cần, tinh tấn tu tập chứng ngộ được sự thật tối thắng, với trí tuệ, sau khi thể nhập, thấy được sự thật ấy. Nghĩa là phải thấy người thân thương trong gia đình, trong thân tộc chết đi thì lúc đó mới chịu thức tỉnh, tu tập, đó là hạng người thứ ba, thấy khổ mới tu.

"Lại nữa, này các Tỳ-kheo, ở đây có loài ngựa hiền thiện thuần thục, thấy bóng cây gậy thúc ngựa, không bị dao động, kích thích; bị cây gậy thúc ngựa đâm vào lông, không bị dao động, kích thích; bị cây gậy thúc ngựa đâm vào thịt, không bị dao động, kích thích; bị cây gậy thúc ngựa đâm vào xương, bị dao động, kích thích, nghĩ rằng: "Hôm nay, người đánh xe điều ngự ngựa sẽ bảo ta làm gì và ta đáp ứng thế nào?" Như vậy, này các Tỳ-kheo, ở đây là loài ngựa hiền thiện, thuần thục. Này các Tỳ-kheo, đây là loài ngựa hiền thiện, thuần thục thứ tư, có mặt, hiện hữu ở đời.

Lại nữa, này các Tỳ-kheo, ở đây có hạng người hiền thiện thuần thục không có nghe tại một làng hay thị trấn kia, có người đàn bà hay người đàn ông bị khổ đau hay mệnh chung, không có tự mình thấy người đàn bà hay người đàn ông khổ đau hay bị mệnh chung, không có người bà con hay người đồng một huyết thống khổ đau hay bị mệnh chung. Nhưng khi tự mình cảm xúc những cảm thọ về thân khổ đau, nhói đau, chói đau, mãnh liệt, kịch liệt, không phải khả hỷ, không khả ý, đoạt mạng sống, vị ấy bị dao động, kích thích. Bị kích thích, vị ấy như lý tinh cần. Do tinh cần, với thân, vị ấy chứng ngộ được sự thật tối thắng; với trí tuệ, vị ấy sau khi thể nhập, thấy được sự thật ấy. Ví như, này các Tỳ-kheo, con ngựa hiền thiện thuần thục ấy, khi bị cây gậy thúc ngựa đâm vào xương mới bị dao động, kích thích, Ta nói rằng, này các Tỳ-kheo, con người hiền thiện thuần thục này giống như ví dụ ấy. Như vậy, này các Tỳ-kheo, ở đây có hạng người hiền thiện thuần thục. Này các Tỳ-kheo, đây là hạng người hiền thiện thuần thục thứ tư có mặt, hiện hữu ở đời". (Tăng Chi Bộ, Chương IV - Bốn Pháp, XII. Phẩm Kesi, (III) Gậy Thúc Ngựa)

Hạng ngựa thứ tư phải bị cây gậy đâm vào thấu xương mới chịu chạy, giống như một người phải tự chính bản thân họ chịu những cảm xúc khổ sở, đau nhói, mãnh liệt, thậm chí có thể mất mạng sống thì người đó mới bị dao động. Chính bản thân họ rơi vào trường hợp thập tử nhất sinh, chết đi sống lại hoặc bị hỏa hoạn, xe tông hoặc trải qua một cơn bạo bệnh thì người này mới chịu tỉnh ngộ tu tập. Nếu mình thuộc hạng thứ tư là hạng bét nhưng dù sao vẫn có hạng, vẫn chịu tu chứ đừng để không có thứ hạng nào, hoàn toàn không tu tập là không được.

Hạng thứ nhất chỉ cần thấy bóng roi, tức là chỉ cần nghe nói đến khổ thôi là đã thức tỉnh, đã thấy vô thường, thấy sự khổ đau, chỉ cần nghe dịch bệnh ở Trung Quốc là ở đây đã tinh cần, nỗ lực tu tập. Hạng thứ hai là bị cây thúc ngựa chạm vào da, tức là phải tận mắt thấy người ta đau đớn, khổ sở, tận mắt thấy cảnh giành giật sự sống trong bệnh viện thì mới thức tỉnh tu. Hạng thứ ba là con ngựa bị cây thúc ngựa đâm vào thịt cũng như hạng người phải tận mắt thấy người thân trong gia đình, thân quyến xảy ra tai nạn hoặc qua đời vì dịch bệnh thì người này mới thức tỉnh trước đời sống mong manh, tạm bợ mà tu tập. Hạng người thứ tư là cây thúc ngựa đâm vào xương tủy, nghĩa là tự thân người này gặp cảnh tai nạn, xe tông, bể sọ não, gãy chân hoặc bị phá sản, ung thư nhưng may mắn vượt qua nghịch cảnh rồi người này mới giác ngộ, thức tỉnh. Đó là bốn loại ngựa được Đức Phật ví dụ cho bốn hạng người hiện hữu, có mặt ở trên đời.

Hôm nay mình học những câu chuyện, những nghĩa lý xảy ra thời Đức Phật và thực tế ngay trước mắt mình.

" Một thời, Tôn giả Nàrada trú ở Pàtaliputta tại khu vườn Kukkuta (Kê Viên). Lúc bấy giờ, hoàng hậu Bhaddà của vua Munda mệnh chung, được ái luyến thương yêu. Vì quá thương yêu hoàng hậu Bhaddà, vua không tắm rửa, không thoa dầu, không ăn uống, không lo các công việc, ngày đêm sầu muộn, ôm ấp thân của hoàng hậu Bhaddà. Rồi vua Munda bảo Piyaka, người giữ kho bạc:

- Này Piyaka, hãy đặt thân hoàng hậu Bhaddà vào trong một hòm sắt đựng đầy dầu, và đậy lại với một hòm bằng sắt khác; nhờ vậy chúng ta có thể thấy thân hoàng hậu Bhaddà lâu hơn.

- Thưa vâng, tâu Ðại vương.

Piyaka, người giữ kho bạc vâng đáp vua Munda, đặt thân hoàng hậu Bhaddà vào trong một hòm sắt đều đầy dầu, và đậy lại với một hòm bằng sắt khác. Rồi Piyaka, vị giữ kho bạc cho vua nghĩ như sau: 'Hoàng hậu Bhaddà của vua Munda này đã mệnh chung, được ái luyến thương yêu, vì quá thương yêu hoàng hậu Bhaddà, vua không tắm rửa, không thoa dầu, không ăn uống, không lo các công việc, ngày đêm sầu muộn, ôm ấp thân của hoàng hậu Bhaddà. Hãy để vua Munda đến yết kiến một vị Sa-môn hay Bà-la-môn, sau khi nghe pháp từ vị ấy, có thể bỏ được mũi tên sầu muộn'. Rồi Piyaka, người giữ kho bạc nghĩ như sau: 'Có Tôn giả Nàrada này trú ở Pàtaliputta, tại khu vườn Kukkuta. Tiếng đồn tốt đẹp sau đây được truyền đi về Tôn giả Nàrada: 'Bậc Hiền trí, thông minh, bậc trí giả, được nghe nhiều, khéo nói, thiện biện tài, bậc Trưởng lão, bậc A-la-hán'. Hãy để vua Munda đến yết kiến Tôn giả Nàrada. Sau khi nghe pháp từ vị ấy, vua có thể gạt bỏ mũi tên sầu muộn'. Rồi Piyaka, người giữ kho bạc đi đến vua Munda, sau khi đến, nói với vua Munda:

-Tâu Ðại vương, có Tôn giả Nàrada nay trú ở Pàtaliputta, tại khu vườn Kukkuta. Tiếng đồn tốt đẹp sau đây được truyền đi về Tôn giả Nàrada: 'Bậc Hiền trí, thông minh, bậc trí giả, được nghe nhiều, khéo nói, thiện biện tài, bậc Trưởng lão, bậc A-la-hán'. Nếu Ðại vương yết kiến Tôn giả Nàrada, rất có thể, sau khi nghe pháp từ Tôn giả Nàrada, Ðại vương có thể gạt bỏ mũi tên sầu muộn.

- Vậy này Piyaka, hãy tin cho Tôn giả Nàrada được biết.

Rồi vua nghĩ: 'Làm sao ta tự nghĩ, một người như ta, phải đến thăm như thế nào một Sa-môn hay Bà-la-môn sống ở trong quốc độ, từ trước chưa được ai biết?'

- Thưa vâng, tâu Ðại vương

Pijaka, người giữ kho bạc vâng đáp vua Munda; đi đến Tôn giả Nàrada, sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Nàrasa rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Piyaka, vị giữ kho bạc bạch Tôn giả Nàrada:

Hoàng hậu Bhaddà của vua Munda, thưa Tôn giả, đã mệnh chung, được ái luyến, thương yêu. Vì quá thương yêu hoàng hậu Bhaddà, nên vua không tắm, không thoa dầu, không ăn uống, không lo các công việc, ngày đêm sầu muộn, ôm ấp thân hoàng hậu Bhaddà. Lành thay, Nếu Tôn giả Nàrada thuyết pháp cho vua Munda như thế nào để vua Mundasau khi nghe pháp từ Tôn giả Nàrada, có thể gạt bỏ mũi tên sầu muộn.

- Này Piyaka, nay là thời để vua Munda làm những gì vua nghĩ là phải thời.

Rồi Piyaka, người giữ kho bạc, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Tôn giả Nàrada, thân bên hữu hướng về ngài rồi ra đi, và đi đến vua Munda; sau khi đến, thưa với vua Munda:

- Tâu Ðại vương, cơ hội đã được sắp đặt với Tôn giả Nàrada. Này Ðại vương hãy làm những gì Ðại vương nghĩ là phải thời.

- Vậy này Piyaka, hãy cho thắng các cỗ xe tốt đẹp.

- Thưa vâng, tâu Ðại vương.

Pikaka, người giữ kho bạc vâng đáp vua Munda, cho thắng các cỗ xe tốt đẹp, rồi thưa với vua Munda:

- Tâu Ðại vương, các cỗ xe tốt đẹp đã thắng xong. Nay Ðại vương hãy làm những gì Ðại vương nghĩ là phải thời.

Rồi vua Munda leo lên cỗ xe tốt đẹp, cùng với các cỗ xe tốt đẹp khác đi đến khu vườn Kukkuta với uy nghi oai lực của nhà vua để yết kiến Tôn giả Nàrada. Vua đi xe xa cho đến đường đất xe có thể đi được, rồi xuống xe, đi bộ vào khu vườn. Rồi vua Munda đi đến Tôn giả Nàrada, sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Nàrada rồi ngồi xuống một bên. Rồi Tôn giả Nàrada nói với vua đang ngồi một bên.

- Thưa Ðại vương, có năm sự kiện này không thể có được bởi một Sa-môn, hay Bà-la-môn, bởi Ma hay Phạm thiên, hay bởi một ai ở đời. Thế nào là năm?

Bị già và muốn không già, là một sự kiện không thể có được bởi một Sa-môn hay Bà-la-môn, bởi Ma hay Phạm thiên, hay bởi một ai ở đời. Bị bệnh và muốn không bệnh... bị chết và muốn không chết... bị hoại diệt và muốn không hoại diệt... bị hoại diệt và muốn không tiêu diệt, là một sự kiện không thể có được bởi một Sa-môn hay Bà-la-môn, bởi Ma hay Phạm thiên, hay bởi một ai ở đời". (Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, V. Phẩm Vua Munda, (X). Tôn Giả Nàrada)

Bị già mà muốn cho không già, bị bệnh mà muốn không bệnh, bị chết mà muốn không chết, bị hoại diệt mà muốn cho không hoại diệt, bị tiêu diệt mà muốn cho không bị tiêu diệt là năm sự kiện không thể có được đối với bất cứ một ai trên đời này dù là vua chúa, quan quyền hay người tu hành, hoặc là chư thiên hay là ma. Đây là năm điều không thể chống cự, không thể phản kháng, nó phải xảy ra và tất cả mọi chúng sanh đều phải chịu như vậy, đó là quy luật của thế gian, quy luật của cuộc đời, là định luật của các pháp trong thế giới vô thường này.

"Với phàm phu không học, thưa Ðại vương, phải bị già và già đến; và khi già đến, kẻ ấy không suy tư: 'Không phải chỉ một mình ta phải bị già và già đến. Nhưng đối với loài hữu tình, có đến, có đi, có diệt, có sanh, tất cả loài hữu tình đều phải bị già và già đến. Và nếu phải bị già và khi già đến, ta lại sầu, bi, than khóc, đập ngực, đi đến bất tỉnh, thời ăn uống, không làm ta ưa thích; thân ta trở thành xấu xí; các công việc không có xúc tiến, kẻ thù sẽ hoan hỉ; bạn bè sẽ lo buồn'. Kẻ ấy phải bị già, khi già đến, sầu, bi, than khóc, đập ngực, đi đến bất tỉnh.

Thưa Ðại Vương, đây gọi là kẻ phàm phu không học bị mũi tên sầu muộn tẩm thuốc độc bắn trùng, kẻ ấy tự làm mình ưu não". (Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, V. Phẩm Vua Munda, (X). Tôn Giả Nàrada)

Không phải một mình ta chịu năm quy luật này mà tất cả mọi người ai cũng bị như vậy.

"Thời tiết xoay vần xuân đến thu

 Cái già xồng xộc đã lên đầu

 Giàu sang ngó lại trơ tràng mộng

 Năm tháng mang theo chất hộc sầu

 Nẻo khổ: vành xe lăn lóc khắp

 Sông yên: bọt nước mất còn đâu

 Trường đời ví chẳng sờ lên mũi

 Ngàn thuở nhân duyên chỉ bóng màu."

(Khuyến Thế Tiến Đạo - Tuệ Trung Thượng Sĩ)

Thời tiết xoay vần hết xuân rồi đến thu, hết năm này lại tính năm sau nhưng nhìn lại cái già đã cận kề ở ngay trên đầu. Giàu sang, tuổi trẻ, sức khỏe, địa vị, quyền uy nhìn lại chỉ là giấc mộng, chỉ là dĩ vãng, chỉ là những điều đã qua như vở kịch, như một bộ phim nhưng năm tháng lại mang theo biết bao nỗi buồn, nỗi nuối tiếc, sự đau khổ, nó được chất chứa trong cảm thọ, trong tưởng, trong suy tư. Giận người này, ghét người kia, hơn thua với người nọ, tranh đấu với người khác, yêu người này, ghét người kia, sân với người nọ… cứ thế chất chứa vào tâm nên buồn khổ. Cho nên kẻ phàm phu không nghe pháp, không tu tập, phải bị già nhưng họ không suy nghĩ không phải một mình mình chịu cảnh già nua, lẻ loi, cô độc này mà tất cả mọi người đều bị như vậy.

"Lại nữa, thưa Ðại vương, với kẻ phàm phu không học, phải bị bệnh và bệnh đến... phải bị chết và chết đến... phải bị hoại diệt và hoại diệt đến... phải bị tiêu diệt và tiêu diệt đến; khi tiêu diệt đến, kẻ ấy không suy tư: 'Không phải chỉ một mình ta phải bị tiêu diệt và tiêu diệt đến. Nhưng đối với các loài hữu tình có đến, có đi, có diệt, có sanh, tất cả loài hữu tình đều phải bị tiêu diệt và tiêu diệt đến. Và nếu phải bị tiêu diệt, khi tiêu diệt đến, ta lại sầu, bi, than khóc, đập ngực, đi đến bất tỉnh, thời ăn uống không làm ta ưa thích; thân ta trở thành xấu xí; các công việc không có xúc tiến; kẻ thù sẽ hoan hỉ, bạn bè sẽ lo buồn'. Kẻ ấy phải bị tiêu diệt, khi tiêu diệt đến, sầu, bi than khóc, đập ngực, đi đến bất tỉnh.

Thưa Ðại vương, đây gọi là kẻ phàm phu không học bị mũi tên sầu muộn tẩm thuốc độc bắn trúng, kẻ ấy tự làm mình ưu não". (Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, V. Phẩm Vua Munda, (X). Tôn Giả Nàrada)

Bị hoại diệt, tiêu diệt từ vật chất tài sản bên ngoài cho đến thân xác, hình hài này. Họ không biết suy nghĩ chỉ một mình ta bị bệnh, bị chết, bị hoại diệt mà tất cả các loài hữu tình đều phải bị như vậy.

"Với vị Thánh đệ tử có học, thưa Ðại vương, bị già đến; và già đến; khi già đến, vị ấy có suy tư: 'Không phải chỉ một mình ta phải bị già và già đến. Nhưng đối với các loài hữu tình có đến, có đi; có diệt, có sanh, tất cả các loài hữu tình đều phải bị già và già đến. Và nếu phải bị già và khi già đến, ta lại sầu, bi, than khóc, đập ngực, đi đến bất tỉnh, thời ăn uống không làm ta ưa thích; thân ta trở thành xấu xí; các công việc không có xúc tiến; kẻ thù sẽ hoan hỉ; bạn bè sẽ lo buồn'. Vị ấy phải bị già, khi già đến, không sầu, không bi, không than khóc, không đập ngực, không đi đến bất tỉnh.

Thưa Ðại vương, đây gọi là vị Thánh đệ tử có học, được nhổ lên là mũi tên sầu muộn có tẩm thuốc độc, mà kẻ phàm phu không học bị bắn trúng, tự làm mình ưu não. Không sầu muộn, không bị tên bắn trúng, vị Thánh đệ tử tự làm mình được hoàn toàn tịch tịnh". (Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, V. Phẩm Vua Munda, (X). Tôn Giả Nàrada)

Vị Đa văn Thánh đệ tử biết tính chất của nó là vậy, bản tánh là vậy, nó phải bị già, phải bị bệnh, phải bị chết. Còn kẻ vô văn phàm phu không tu học không chấp nhận cái già mà chỉ thích cái trẻ, không chấp nhận cái bệnh mà chỉ muốn khỏe, không chấp nhận cái chết mà chỉ muốn được sống lâu, chỉ thích sanh ra thôi nên khi đến sanh nhật là chúc tụng nhau nhưng đến ngày chết lại gọi là huý nhật hay kỵ nhật, là ngày kiêng kỵ. Như vậy mới gọi là vô văn phàm phu, không hiểu về sự thật, không nghe về sự thật, không thấy sự thật, không chấp nhận sự thật, không tư duy, quán chiếu về sự thật cho nên khi sự thật đến thì bàng hoàng, than khóc, đấm ngực, bất tỉnh, đau khổ, không chịu nổi sự thật phũ phàng, không chịu nổi cái khổ khổ, không chịu nổi sự đổi thay, đột ngột chết chóc xảy ra, tai nạn xảy ra, ung thư xảy ra, không chịu nổi sự hoại diệt của những tài sản, của những người thân hay tự thân mình, như vậy là kẻ vô văn phàm phu trúng mũi tên tẩm độc của buồn đau, khổ sầu, mũi tên thứ nhất là già nua, mũi tên thứ hai là bệnh tật, mũi tên thứ ba là chết chóc, mũi tên thứ tư là tiêu diệt và thứ năm là hoại diệt.

Đây là năm mũi tên tẩm độc, kẻ phàm phu nào không nghe chánh pháp, không học chánh pháp, không gặp chánh pháp thì kẻ này không chấp nhận sự thật đang xảy ra trong giây phút hiện tại, tức là không chấp nhận sự thật, hiện thực của cuộc đời nên họ đau khổ, còn bậc Đa văn Thánh đệ tử biết nó bản chất là vậy, bản tánh là vậy, tính chất là vậy nên chấp nhận, thấy biết không những mình bị bệnh, già, chết mà tất cả chúng sanh hữu tình vạn loại đều già, bệnh, chết, đều phải hoại diệt, hoại khổ tánh, khổ khổ tánh, hành khổ tánh, tất cả các loài vô tình hay hữu tình đều nằm trong bản tánh khổ nên khổ chồng lên khổ kia, ở trong tính chất biến đổi đau khổ, ở trong tính chất hoại diệt tan rã. Bậc Đa văn Thánh đệ tử ở trong cảnh sanh, già, bệnh, chết, hoại diệt, đau khổ nhưng vẫn không sầu muộn, không bị mũi tên của buồn đau bắn trúng, tự mình được hoàn toàn lắng dịu.

Các vị Thánh đệ tử của Đức Phật cũng bị bệnh, cũng bị già, bị chết nhưng các ngài biết được đây là định luật, là bản chất của đời sống, là chân lý của ngũ uẩn, là sự thật của thân tâm, là tánh chất của thế giới cho nên các ngài không để sầu khổ, không than khóc, đập ngực, không đi đến bất tỉnh, các ngài không bỏ ăn mất ngủ, không để thân thể xấu xí, tiều tụy, vẫn là một cái tâm an tịnh, lắng dịu, điềm nhiên, tươi sáng, không hốt hoảng, bất ngờ, không rối loạn mà tịch tịnh, dễ chịu. Các ngài đã thực tập điều này nhiều tháng, nhiều năm cho đến nhiều chục năm cho nên đến đúng lúc thì các ngài thành tựu viên mãn một cảm thọ an tịnh, lắng dịu nhuần nhuyễn, lão luyện. Các ngài không sầu không bi, không buồn không đau, không than khóc, đây vị Thánh đệ tử có tu học, nhổ lên mũi tên có độc, vị ấy an nhiên, tự tại và tịch tịnh. Đây là năm sự kiện không thể có được bởi bất cứ một ai trên đời này, không thể chống lại già, bệnh, chết, hủy hoại và tiêu diệt.

"Không sầu, không than khóc,

Lợi ích được thật ít,

Biết nó sầu, nó khổ,

Kẻ địch tự vui sướng.

Do vậy, bậc Hiền trí,

Giữa các sự bất hạnh,

Không hoảng hốt run sợ,

Biết phân tích lợi ích.

Kẻ địch bị khổ não,

Thấy sắc diện không đổi,

Với tụ niệm văn chú,

Với lời thật khéo nói,

Với bố thí chơn chánh,

Với truyền thống khéo giữ,

Chỗ nào được lợi ích,

Chỗ ấy gắng tinh cần.

Nếu biết lợi không được,

Cả ta và người khác,

Không sầu, biết chịu đựng,

Mong vị ấy nghĩ rằng:

Nay ta phải làm gì?

Phải kiên trì thế nào?" (Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, V. Phẩm Vua Munda, (X). Tôn Giả Nàrada)

Bậc hiền trí giữa những bất hạnh không hoảng hốt, không lo sợ, không thay đổi sắc diện mà họ lo tụng niệm kinh, lo nói lời chân thật khéo léo, họ lo bố thí, sớt chia, chia sẻ cho những người thiếu thốn, tai nạn, khổ sở, họ giữ gìn truyền thống tốt đẹp của thiện pháp, chánh pháp, Thánh pháp, chỗ nào có lợi ích thì chỗ ấy họ sẽ tinh cần, tinh tấn vì mình vì người, họ biết chịu đựng nên họ không khổ sầu.

"Sau khi được nghe như vậy, vua Munda thưa với Tôn giả Nàrada:

- Thưa Tôn giả, pháp thoại này tên gì?

- Thưa Ðại vương, pháp thoại này tên là 'Nhổ lên mũi tên sầu muộn'.

- Thật vậy, thưa Tôn giả, được nhổ lên là mũi tên sầu muộn! Khi con nghe pháp thoại này, mũi tên sầu muộn đã được đoạn tận.

Rồi vua Munda bảo Piyaka, vị gìn giữ kho bạc:

- Này Piyaka, hãy cho thiêu đốt thân của hoàng hậu Bhaddà, rồi xây tháp cho hoàng hậu. Bắt đầu từ hôm sau, chúng ta sẽ tắm rửa, sẽ thoa dầu, sẽ ăn cơm, sẽ lo làm các công việc". (Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, V. Phẩm Vua Munda, (X). Tôn Giả Nàrada)

Nói Tiếng Việt cho dễ hiểu là nhổ mũi tên buồn đau, khi nhổ lên được mũi tên này là hết khổ sầu, hết buồn đau, luyến tiếc, yêu thương, nhớ nhung hoàng hậu. Chúng ta học sanh, già, bệnh, chết không phải để than thở, để thấy khổ sở, để thấy tiêu cực mà chúng ta học già, bệnh, chết, học cái khổ để chúng ta điềm nhiên trước cái già, bệnh, chết, để chúng ta thành tựu trí tuệ thấy biết về già, bệnh, chết, hoại diệt. Không phải nhắc già, bệnh, chết, khổ để không muốn làm gì nữa mà thấy biết già, bệnh, chết, hiểu về già, bệnh, chết, thấu đáo về già, bệnh, chết để khi thấy cảnh già, bệnh, chết mình có sự điềm nhiên, an nhiên, tự tại, chánh niệm, tịch tịnh.

Học về khổ, thấy khổ, biết về khổ không phải để khổ mà để vượt qua cái khổ, đó là Thánh trí về khổ, đó là lý do giảng bài về khổ nhưng Phật tử cảm ơn vì thấy được an lạc, chính vì bên ngoài quá khổ nên mới phải giảng về khổ để không bị cái khổ nhận chìm, khi đã thấy rõ bản chất của nó thì chúng ta mới có thể thấu đáo triệt để sự thật của khổ đau, chúng ta không bị những hình tướng, những sự giả dối của các pháp duyên sanh, vô thường, vô ngã, trống rỗng này bao vây mình, mình không ở trong ma trận, không ở trong bát tà đạo đó mà đi ra bằng tám chánh, thoát ra bằng sự thấy biết đúng, suy nghĩ đúng, nói lời đúng rồi từ từ bước lên những cái đúng khác.

Trước tiên phải viên mãn chánh kiến, chánh tư duy, thành tựu được chánh tri kiến mới phá được thân kiến, hoài nghi và giới cấm thủ, từ đó mới tham dự vào dòng chảy trí huệ của bậc Thánh. Đừng thấy học về khổ rồi sợ, học khổ để hết khổ cho nên chúng ta cần chiêm nghiệm thật nhiều những gì chúng ta được nghe, được học, chiêm nghiệm thật kĩ những gì Đức Phật tuyên thuyết, trình bày.

-- Này các Tỳ-kheo, ai nói như sau: 'Không có như thật giác ngộ Thánh đế về Khổ... Thánh đế về Khổ tập... Thánh đế về Khổ diệt... Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt, ta sẽ chơn chánh đoạn tận khổ đau'; sự kiện này không xảy ra". (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương XII. Tương Ưng Sự Thật (b), V. Phẩm Vực Thẳm, IV. Nhà Có Nóc Nhọn)

Không thấy biết về khổ, không thấy biết về nguyên nhân của khổ, không thấy biết sự dập tắt khổ và con đường đưa đến đoạn tận khổ đau mà có thể đoạn tận được khổ là không thể xảy ra.

"Ví như, này các Tỳ-kheo, ai nói như sau: 'Không xây dựng tầng dưới của ngôi nhà có nóc nhọn, tôi sẽ xây dựng tầng trên của ngôi nhà', sự kiện này không xảy ra. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, ai nói như sau: 'Không có như thật giác ngộ Thánh đế về Khổ... Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt, ta sẽ chơn chánh đoạn tận khổ đau'; sự kiện này không xảy ra". (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương XII. Tương Ưng Sự Thật (b), V. Phẩm Vực Thẳm, IV. Nhà Có Nóc Nhọn)

Cũng như không xây nền móng vững chắc mà muốn xây lên tầng cao là không thể được, cũng như không thấy biết về khổ, về nguyên nhân của khổ, về sự chấm dứt khổ và con đường thoát khỏi khổ mà có thể chấm dứt khổ thì sự kiện này không thể xảy ra.

"Ví như, này các Tỳ-kheo, ai nói như sau: 'Sau khi xây dựng tầng dưới của căn nhà có nóc nhọn, tôi sẽ xây dựng tầng trên của ngôi nhà'; sự kiện này có xảy ra. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, ai nói như sau: 'Sau khi như thật giác ngộ Thánh đế về Khổ... Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt, ta sẽ đoạn tận khổ đau'; sự kiện này có xảy ra.

Do vậy, này các Tỳ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: 'Ðây là Khổ'... một cố gắng cần phải làm để rõ biết: 'Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt'". (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương XII. Tương Ưng Sự Thật (b), V. Phẩm Vực Thẳm, IV. Nhà Có Nóc Nhọn)

Nếu xây nền móng vững chắc rồi xây lên lầu cao thì sự kiện này xảy ra, cũng vậy sau khi thật sự giác ngộ sự thật về khổ, nguyên nhân của khổ, sự dập tắt khổ và con đường đưa đến chấm dứt hết khổ thì chân chánh chấm dứt khổ đau thì sự kiện này có thể xảy ra. Mọi người đã thấy khổ trong con người mình hằng giờ, hằng phút, hằng giây không? Có nhận diện được những lời nói lầm thầm, những cảm thọ rì rào dâng lên, những suy nghĩ, hình bóng trong tâm không? Phải nỗ lực cố gắng để nhìn thấy nó, để tâm vào để thấy nó, thường xuyên quay về nội tâm để thấy nó, tác ý đánh đuổi nó để thoát ra khỏi nó, đó gọi là một cố gắng cần phải làm. Cố gắng để làm như vậy chứ không phải tà tinh tấn, siêng năng làm nhiều việc nhưng làm để tăng trưởng tham, sân, si, bản ngã, đó không phải là chánh tinh tấn, không phải siêng đúng

./.