Tự Mình Tiến Lên 3 - Kinh Tăng Thượng - Tăng Chi Bộ
Kinh Nikāya Giảng Giải
TỰ MÌNH TIẾN LÊN 3
KINH TĂNG THƯỢNG - TĂNG CHI BỘ
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Thiền quán Khổ Thánh Đế PAGEREF _Toc113198353 \h 1
II.Pháp tăng thượng PAGEREF _Toc113198354 \h 3
III.Ý nghĩa bài kinh “Tăng Thượng” PAGEREF _Toc113198355 \h 11
Thiền quán Khổ Thánh Đế
Trong giờ phút chúng ta đang ngồi đây có hàng trăm ngàn người đang chìm trong nước lũ. Trong giờ phút chúng ta đang ngồi đây có hàng vạn căn nhà bị ngập tới nóc, vợ mất chồng, con mất cha, bà mất cháu. Trong giờ phút chúng ta đang ngồi đây đang có những dòng nước mắt tuôn chảy vì đau khổ, lo lắng, sợ hãi và bất an. Giờ này biết bao nhiêu người đang lạnh lẽo, đang ngâm mình trong làn nước trắng xóa của lũ lụt, chiếc quan tài phải treo trên nóc nhà 5 ngày, sự đau khổ chất chồng lên sự khổ đau, những tiếng kêu cứu thảm thiết vang lên từ những mái nhà xa xa đầy nước, những ánh mắt tuyệt vọng trông chờ của những đứa trẻ thơ. Đau khổ vì bao nhiêu tài sản chất chứa được mấy mươi năm qua đều theo dòng nước chảy, heo, gà trôi lềnh bềnh, trâu bò chết ngổn ngang, mùa màng đều hư nát, ruộng vườn thành cánh đồng hoang chỉ còn trời và nước mênh mông, tiếng kêu đau xót có thấu trời không? Những người chiến sĩ, những đội cứu hộ, những chú bộ đội chôn xác dưới những đống đất sạt lở của núi đồi, những công nhân, những người làm nương rẫy phải chết tức tưởi trong bàng hoàng và kinh hãi. Dòng thác lũ cuốn phăng hết tất cả không có giây phút nào dừng lại, cũng vậy này các Tỳ-kheo đời sống loài người như dòng thác lũ trôi nhanh, trôi mau, trôi qua và cuốn phăng đi tất cả những gì đáng yêu, đáng thích. Đời sống này thật là ngắn ngủi, đời sống này thật là nhỏ bé, thật là tạm bợ, mong manh, nhiều khổ đau, nhiều ưu não, nhiều lo lắng, sợ hãi và bất an là đời sống này.
Này Bà-la-môn, ít ỏi là đời sống của loài Người, nhỏ bé, không đáng kể, nhiều khổ đau, nhiều ưu não. Với bùa chú, hãy giác ngộ! Hãy làm điều lành, sống đời Phạm hạnh! Với người đã sanh, không có bất tử. Ví như, này Bà-la-môn, con sông trên núi chảy xa, dòng nước chảy nhanh, lôi cuốn theo vật này vật khác, không có sát-na nào, không có giây phút nào, không có thời khắc nào có dừng nghỉ, nó phải chảy tới, cuồn cuộn chảy, thúc đẩy chảy tới. Cũng vậy, này Bà-la-môn, ví như con sông ấy là đời sống của loài Người, nhỏ bé, không đáng kể... Với người đã sanh, không có bất tử. (Tăng Chi Bộ, Chương VII – Bảy Pháp, VII. Ðại Phẩm, (X) Araka)
Nhỏ bé là đời sống này!
Mong manh là kiếp người này!
Nhiều khổ đau, nhiều ưu não, nhiều sự bất an, lo lắng và sợ hãi là kiếp nhân sinh này!
Chúng ta là người xuất gia đừng sống trong vô cảm, đừng sống trong lãng quên. Hãy cảm nhận một cách sâu sắc những gì đang diễn ra xung quanh chúng ta bằng trí tuệ, bằng trái tim và bằng tất cả tấm lòng, tình thương của mình.
Hãy vứt bỏ thế lợi, tâm hướng cầu tịch tịnh!
Mọi lợi ích của thế gian này trong tích tắc dòng nước có thể cuốn trôi hết tất cả, mọi đốm lửa có thể thiêu rụi tất cả, một ngọn gió bão có thể cuốn phăng tất cả, một cơn địa chấn động đất có thể làm sụp đổ hết tất cả. Đừng nghĩ rằng những thứ chúng ta đang có là còn hoài, bất cứ lúc nào, bất cứ chỗ nào thân này cũng có thể tan hoại, tan nát, hư hoại.
Chúng ta đang thực tập thiền quán về Khổ Thánh Đế, nếu khéo léo để tâm có thể phát sanh cảm thọ, cảm xúc. Đó cũng là bài học chứ không phải mở sách, mở tập ra ghi chép mới là bài học, tâm cảm trước sự thật của đời sống này, chạm đến bản chất của thế gian này, nhận ra và nhìn thấy là bài học sâu sắc hơn tất cả các bài học, không nhất thiết phải viết bài mới là học. Viết 10 năm mà không cảm xúc được gì, trí huệ không sanh thì viết để làm gì? Phải tập có cảm xúc, tập phát triển những cảm giác thiện pháp trí huệ từ tâm, những cảm giác đó phát triển mạnh chừng nào thì sự tu tập của mình càng tăng thượng phát triển chừng đó. Xin mời đại chúng nghe thêm nhiều bài thiền quán trên linhquyphapan.vn, vừa mở ra nghe vừa ngồi thiền để thực tập theo lời dạy trong đó, làm như vậy sẽ khác với khi nghe pháp thông thường rất nhiều, có khi đạt kết quả tốt gấp trăm lần, phải làm như vậy để khơi mở những dòng cảm xúc trí huệ từ tâm của mình. Trong bản thân mỗi người đều có nhiều trí huệ hiểu biết, có rất nhiều tình thương nhưng mình lại không biết cách mở ra, cứ đi đến hang rắn sẽ ảnh hưởng thân thể trong khi long mạch lại không biết cách khai mở. Bậc thiện tri thức là bậc chỉ cho mình đâu là hang rắn, đâu là long mạch, người nào biết mở long mạch tức là khơi được nguồn cảm xúc thánh trí huệ, đại bi tâm thì người đó tu hành thành tựu, còn người không biết đi lại hang rắn sẽ bị nọc độc của rắn cắn chết, đó là nọc độc của tham sân si và bản ngã.
Pháp tăng thượng
- Này các Tỳ-kheo, có ba tăng thượng này. Thế nào là ba ?
Ngã tăng thượng,
Thế giới tăng thượng,
Pháp tăng thượng.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là pháp tăng thượng?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, vị Tỳ-kheo đi đến ngôi rừng hay đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, rồi thẩm sát như sau: "Không phải vì y áo, ta xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Không phải vì món ăn khất thực, không phải vì sàng tọa, không phải vì nhân có mặt hay không có mặt ở đây mà ta xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình, (nhưng với ý nghĩ như sau): "Nay ta bị rơi vào sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, rơi vào khổ, bị khổ chi phối. Có thể do làm như vậy, đoạn tận tất cả các khổ uẩn này được hiện khởi lên cho ta. (Tăng Chi Bộ, Chương III - Ba Pháp, IV. Phẩm Sứ Giả Của Trời, 40.- Tăng Thượng)
Nói theo bây giờ là không phải vì y áo, cơm áo mà ta bỏ cha mẹ, tình thân, không phải vì phòng ốc, chùa chiền mà ta bỏ gia đình cạo đầu đi tu. Không phải vì danh lợi mà ta đi tu. Không phải vì ta xuất gia chỉ để có mặt ở đây, không chỉ có mặt suông hoặc có mặt cho đủ sống lượng điểm danh, không phải chỉ là một sự có mặt trống rỗng vô tích sự mà ta bỏ cha mẹ ta. Mà vì ta thấy cảnh đau khổ của cuộc đời, vì tham dục đau khổ, vì tình ái đau khổ, vì giành giật, chém giết đau khổ, vì hơn thua, ganh tị, đố kị đau khổ, vì sự mưu sinh mà hãm hại, lợi dụng, giết hại người khác. Vì cảnh già nua bệnh tật, nằm một chỗ trong đống phân và nước tiểu của chính mình, muốn ngồi dậy phải có người nâng đỡ. Vì ta nhìn thấy được những cảnh tượng con cái đánh đập, mắng chửi cha mẹ già, vì ta nhìn thấy những cảnh bất hiếu, bất nhân, bất nghĩa trên thế gian này, vì ta nhìn thấy cuộc đời vô tình, vô nghĩa, một cuộc đời đầy rẫy sự tranh đấu, ích kỉ.
Đau khổ là đời sống này, ta nhìn thấy cảnh sanh, già, bệnh, chết đau khổ, vì ta nhìn thấy được bản chất thật sự của thế gian này, ta nhìn thấy được Trái Đất vô minh, u ám, ta thấy những thứ đau khổ đó chi phối. Để đoạn tận, chấm dứt hết tất cả đống đau khổ đó cho nên ta đi tu, ta từ bỏ lục thân quyến thuộc, ta từ bỏ những người thương yêu máu huyết, ta cắt ái ly da, ta bỏ mái tóc yêu quý, hủy hoại hình hài của ta, ta mong cầu chấm dứt hết tất cả khổ đau của đời sống vô thường, tham sân si, vô minh và bản ngã này. Vị xuất gia suy tư, nghiền ngẫm, quán chiếu, tác động tâm ý như vậy.
Pháp được Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, có kết quả ngay tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người có trí tự mình giác hiểu. Nay ta có những người đồng Phạm hạnh, chúng sống biết và thấy. Ta đã được xuất gia trong pháp và Luật khéo giảng như vậy, không lẽ ta lại có thể sống biếng nhác phóng dật. Như vậy, thật không xứng đáng cho ta. (Tăng Chi Bộ, Chương III - Ba Pháp, IV. Phẩm Sứ Giả Của Trời, 40.- Tăng Thượng)
Thật là không xứng đáng cho ta khi bỏ cha mẹ, ông bà, cô bác để ở trong giáo pháp vi diệu, những lời dạy chân chánh như vậy mà ta lại sống đời sống buông lung phóng dật, giải đãi, biếng nhác. Thật là không xứng đáng cho ta! Mỗi tối trước khi ngủ phải quở trách, rầy la chính mình.
Này chư Hiền, các pháp lấy dục làm căn bản. Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi. Tất cả pháp lấy xúc làm tập khởi. Tất cả pháp lấy thọ làm chỗ tụ hội. Tất cả pháp lấy định làm thượng thủ. Tất cả pháp lấy niệm làm tăng thượng. Tất cả pháp lấy tuệ làm tối thượng. Tất cả pháp lấy giải thoát làm lõi cây (Tăng Chi Bộ, Chương VIII. Tám Pháp, IX. Phẩm Niệm, (III) (83) Cội Rễ Của Sự Vật).
Tất cả pháp thiện hay bất thiện đều từ suy nghĩ của mình mà ra, đều từ sự tác động tâm ý của mình mới có. Trước khi con vào lớp, mọi người có suy nghĩ ra cảnh tượng như lời thiền quán không? Không có, khi trên đây tác ý nương theo lời đó thì những hình ảnh đó hiện ra trong tâm mình vì thế tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi. Pháp tăng thượng là sự phát triển trong chánh pháp lớn mạnh, là sự tác ý thường xuyên và liên tục, trong mỗi phút giây đều tác ý, ví dụ muốn đi nhanh, chạy nhanh, cười lớn thì tác ý trong tâm "không được như vậy, mình là người tu", phải nhắc nhở trong tâm như vậy, còn giờ muốn là thả lỏng các căn, buông thả thân tâm, phải kiểm soát thân tâm, dùng sự tác ý, dùng sự soi rọi lại cảm giác, suy nghĩ phải được giáo dục, đào tạo, tự thân tâm mình huấn luyện tâm mình. Tất cả giáo pháp của Phật đều là pháp hành, nếu không thực hành thì vĩnh viễn chỉ đứng ngoài cổng chùa, dù cho cạo đầu 70 năm vẫn là vô văn phàm phu, không chạm được vào thánh pháp. Không nhìn thấy ngũ uẩn, không nhìn thấy tham sân si, vô minh và bản ngã đang vận hành, yêu mến sắc uẩn này, đam mê thân kiến này, chạy theo danh lợi, hình thức bề ngoài thì cái đó vẫn là phàm phu dù cho hình thức là xuất gia, thậm chí tội còn nặng hơn người đời. Người tu phải nhìn thấy thân tâm, phải kiểm soát hành vi cử chỉ, tâm niệm, phải luôn luôn tự mình dò xét mình, tự mình đi đến mình, tự mình chỉ trích mình, tự mình quở mắng mình.
Tự mình chỉ trích mình,
Tự mình dò xét mình,
Tỳ-kheo tự phòng hộ
Chánh niệm, trú an lạc.
(Kinh Pháp Cú 25 – Phẩm Tỳ-kheo, kệ 379)
Ở đây, này Bhaddali, có Tỳ-kheo không thực hành trọn vẹn học giới trong giáo pháp của bậc Đạo Sư. Vị ấy suy nghĩ như sau: "Ta hãy sống tại một trú xứ xa vắng, khu rừng, gốc cây, sườn núi, chỗ hoang dã, hang núi, nghĩa địa, tùng lâm, ngoài trời, đống rơm. Và ta có thể chứng được thượng nhân pháp, tri kiến thù thắng, xứng đáng bậc Thánh". Vị ấy sống tại một trú xứ xa vắng, khu rừng, gốc cây, sườn núi, chỗ hoang dã, hang núi, nghĩa địa, tùng lâm, ngoài trời, đống rơm. Khi vị ấy sống viễn ly như vậy, bậc Đạo Sư quở trách, các vị đồng Phạm hạnh có trí sau khi quán sát quở trách, chư Thiên quở trách, tự mình quở trách mình. Vị này bị bậc Đạo Sư quở trách, bị các vị đồng Phạm hạnh có trí sau khi quán sát quở trách, bị chư Thiên quở trách, bị tự mình quở trách mình, nên không chứng được thượng nhân pháp, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh. Tại sao vậy? Sở dĩ như vậy, này Bahaddali, là vì vị ấy không thực hành trọn vẹn học giới trong giáo pháp bậc Đạo Sư. (Trung Bộ Kinh, 65. Kinh Bhaddàli)
Còn mình cứ muốn làm gì thì làm, muốn nghĩ gì thì nghĩ thì làm sao tu? Làm sao tiến bộ trong pháp? Cho nên người tu phải quản thúc nghiêm túc tự thân tâm chính mình trong tất cả cảm giác, nghĩ tưởng, đó cũng là Tứ Niệm Xứ và cũng là thiền quán. Tu mà 5-10 năm gặp lại cũng tham sân si, bản ngã y như cũ thì tu cái gì? Càng tu thì bản ngã càng cao, càng học lâu thì càng làm biếng, ở trong chùa lâu chừng nào thì làm biếng chừng đó, bản thân không tụng kinh ngồi thiền mà lại bắt người nhỏ hơn làm thì làm sao dạy họ được? Bây giờ con chỉ muốn dạy lớp Sơ cấp vì dễ dạy, năm thứ tư Trung cấp là khó rồi, lên tới Cao đẳng càng khó dạy hơn nữa, ngày mới vào trường hiền hòa tuyệt vời, học tới năm thứ tư là khó nói. Tại sao lại phát triển theo chiều nghịch như vậy? Vì mình đặt tâm không đúng hướng, coi thường mọi thứ, ta đã được xuất gia trong pháp và Luật khéo giảng như vậy, không lẽ ta lại có thể sống biếng nhác phóng dật hay sao? Câu này phải được học thuộc lòng, thi cử không phải chỉ thi bài này mà phải vận dụng đời sống, thẩm thấu thể nhập. Mỗi ngày đều phải nhìn lại bản thân mình chứ không phải quan trọng vấn đề ở trong chùa được bao lâu, thọ giới được mấy năm, đó chỉ là hình thức bề ngoài.
Vị ấy lại quán sát như sau: "Thắng tấn là tinh tấn của ta, không có thụ động; an trú là niệm của ta, không có thất niệm; (Tăng Chi Bộ, Chương III - Ba Pháp, IV. Phẩm Sứ Giả Của Trời, 40.- Tăng Thượng)
Thụ động là dậm chân tại chỗ, thỏa mãn với những thiện pháp nhỏ bé, hài lòng với vô minh của phàm phu. Hài lòng với một chút thiện pháp nhỏ bé, nhỏ hẹp như vậy làm sao tiến tới địa vị của hiền thánh? Làm sao tăng thượng trong thánh trí huệ? Không được hài lòng, không sống thụ động, an nhàn. Sự an nhàn sẽ giết chết đời tu, điều này là nguy hiểm nhất trong tất cả sự nguy hiểm, con nhìn thấy được sự nguy hiểm nhất trong tất cả sự nguy hiểm của người tu sau 30 năm kinh nghiệm trong chùa của con là an nhàn, an phận, không cầu tiến. Bài kinh này cũng là thông điệp tuyệt đối quan trọng cho người xuất gia, sẽ được đưa vào quyển Xuất Gia Bảo Tạng. Cứ nghe tiếng kẻng là lên công phu, nghe gõ bảng là đi ăn, tới giờ thì đi học, xong thì về ngủ hoặc ra rửa chén nấu cơm, lên tụng thời kinh xong lại nằm ngủ, như vậy là thất bại, chết không có đất chôn, lũ lụt cuốn mất xác.
Người tâm ý đắm say
Con cái và súc vật,
Tử thần bắt người ấy,
Như lụt trôi làng ngủ.
(Kinh Pháp Cú 20 – Phẩm Đạo, kệ 287)
Cuộc sống bấp bênh, vô thường như vậy mà không chịu nỗ lực tinh tấn tu học, vào học cứ uống café, uống nước mía không thì buồn ngủ. Phải quán chiếu để thấy nỗi khổ của chúng sanh, phải thấy những gì đang có mặt xung quanh mình chứ đừng ngu mê, si dại, đó là sống trong bóng đêm. Tâm tư nguyện vọng của con là trên đất Việt Nam này có chùa nào con đi đến thăm từng chùa, đem hết tấm lòng chia sẻ Phật pháp nhưng rất khó vì nhiều khi có người nghĩ "lỡ ngồi nghe thầy nói chứ không lẽ lại đi ra". Mình phải có tấm lòng tha thiết, chân thành tu học vì mình mắc nợ rất lớn, mình nợ rất khủng khiếp, những thứ mình đang dùng, đang ăn, mặc, ở mà mình tu không thành tựu giới – định – tuệ, không tăng thượng trong thánh pháp thì sau khi nhắm mắt thì lập tức đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Tiền điện, nước, xăng, dầu gội đầu, quần áo, xe cô, chỗ ăn ở, đi lại… tất cả mọi thứ đó cộng lại một năm bao nhiêu tiền? Chưa kể đến việc người ta đến tuổi cha mẹ, ông bà của mình mà quỳ lạy dâng lên cúng dường cho mình thì cái đó không thể tưởng tượng nổi, không thể trả được. Không phải người ta đưa mình 5 đồng rồi đời sau làm trâu, làm ngựa, ở đợ trả lại 5 đồng là xong, con số 5 đồng đó sẽ tăng lên 50, 500 ngàn, vấn đề không phải là ăn miếng trả miếng mà đây là sự lừa gạt, mình không tu, lấy đồng tiền đó mà không có giới đức, không có đạo hạnh, không phải chỗ đáng được chắp tay, cung kính, đảnh lễ, cúng dường, tôn trọng, mình lừa gạt người ta thì tội này là vô cùng khủng khiếp, không có hổ thẹn, không có lo lắng và sợ hãi cứ trơ ra, ăn rồi ngồi nói chuyện thế gian, cười ha hả, đây là sự rùng rợn và kinh khủng, chỉ có những người điếc mới không sợ súng, người mù không thấy trước mắt họ là vực sâu, là biển lửa, người mắt mở ra là kinh sợ, hoảng sợ, sau khi mắt nhắm là vô lượng vô biên, vô số kiếp Trái Đất này thành hoại vẫn còn bị đọa dưới địa ngục. Ngoài ra còn thêm tội bất hiếu với cha mẹ, cha mẹ bệnh rồi nhớ thương, trông chờ con mà không dám gọi cho con vì để con tu, trong gia đình có chuyện cũng không dám nói, khổ chỉ biết khóc một mình để con yên tâm tu học, tất cả đều đặt hết niềm tin, hy vọng hướng vào mình vậy mà mình không tu, lừa gạt cha mẹ, lừa gạt những người tín tâm tin tưởng, tội này không có gì có thể cân đo đong đếm được vì rất khủng khiếp. Con tu học như vậy mà lúc nào cũng ở trong trạng thái xấu hổ và lo sợ, thường trú trong cảm giác xấu hổ và sợ hãi, xấu hổ vì giới đức, thiền định, trí huệ của mình chưa thành tựu viên mãn, đời sống cứu cánh phạm hạnh chưa viên thành. Phải lo lắng, ray rứt, trăn trở, đau khổ vì tu mà lại còn tâm sân hận, tham ái, thị phi, nhỏ mọn. Mình tha thiết, chân thành muốn từ bỏ, khạc nhổ tất cả những cái tâm cấu uế, lậu hoặc, ô nhiễm đó. Sự tu như vậy mới đưa đến tăng thượng trong pháp và luật, còn giờ cứ sống nhàn nhã, đều đều qua ngày đoạn tháng, không ôm ấp, trăn trở, thao thức mà cứ sống trong vô minh, tham ái. Trong kinh Pháp Cú, Đức Phật đã nói:
Cười gì, hân hoan gì,
Khi đời mãi bị thiêu?
Bị tối tăm bao trùm,
Sao không tìm ngọn đèn?
(Kinh Pháp Cú 11 – Phẩm Già, kệ 146)
Chúng ta phải lo sợ, nếu người biết tu là lo sợ vô cùng. Từ ngày mình cạo đầu xuất gia đến giờ lộ trình giác ngộ mình đã biết mình đi đến đâu? Con đường phía trước mờ mịt, tự thân tự tâm không thấy không biết thì lấy gì đền đáp cha mẹ? Làm sao mình có thể dửng dưng khi được người khác quỳ lạy? Bây giờ một người đi vay nóng xã hội đen bạc tỷ là cực kì lo sợ, không trả được thì sợ bị đánh, chém, chặt tay chặt chân, còn mình nợ hơn món nợ đó rất nhiều vậy mà không biết lo sợ gì cả. Đức Thế Tôn nói trong phần giới luật:
Tỳ-kheo có giới, sống được chế ngự với sự chế ngự của giới bổn Pàtimokkha, đầy đủ uy nghi chánh hạnh thấy sợ hãi trong các lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và học tập trong các học pháp, là người nghe nhiều, thọ trì điều đã được nghe, cất chứa điều đã được nghe... khéo thông hiểu, khéo quyết định, theo kinh, theo chi tiết. Những pháp nào, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, tán thán Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh, những pháp như vậy, vị ấy được nghe nhiều, được thọ trì, được đọc tụng bằng lời, được quan sát với ý, được khéo léo thể nhập với chánh kiến. Cả hai giới bổn Pàtimokkha được khéo truyền đạt một cách rộng rãi, được khéo phân tích, khéo thông hiểu, khéo quyết định theo kinh, theo chi tiết. Vị ấy được khéo an trú trên luật, không có dao động; có khả năng làm cho cả hai phe chống đối thông hiểu, chinh phục họ, làm cho họ thấy, làm cho họ hòa giải với nhau. Vị ấy thiện xảo trong sự sanh khởi và chấm dứt các tránh sự, biết các tránh sự, biết tránh sự sanh khởi, biết tránh sự đoạn diệt, biết con đường đưa đến tránh sự được đoạn diệt. (Tăng Chi Bộ, Chương X – Mười Pháp, IV. Phẩm Upàli Và Ananda, (II) Người Ðoạn Sự)
Phải biết sợ hãi trong những lỗi nhỏ nhặt và phải chấp nhận học pháp, phải tôn trọng giới bổn, sống với sự phòng hộ, hộ trì nhãn căn, hộ trì mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý, nhiếp phục tham ưu ở đời. Những nguyên nhân làm dục tham, sân si, bản ngã sanh khơi thì phải nhiếp phục, chế ngự. Thật sự con nơm nớp lo sợ, chừng nào thành tựu pháp, diệt tận thân kiến, chứng nhập Nhập lưu trở lên thì lúc đó mới đi vào chỗ an ổn. Phá được thân kiến, hoài nghi và giới cấm thủ, thành tựu Dự lưu thánh quả thì mới bắt đầu bước vào an toàn, còn ngoài ra đều nằm trong lãnh vực của hiểm họa, tai ương, nếu chưa thành tựu thánh tri kiến, chánh tri kiến, chưa Nhập lưu Tu-đà-hoàn quả, tức là chưa nhìn thấy trọn vẹn thân tâm ngũ uẩn và những tham sân si, bản ngã vận hành như thế nào thì đó là đời sống bóng đêm. Chúng ta đang sống trong bóng đêm chứ không có vui sướng gì, đừng nói "thầy ơi, con không có tham sân si gì nữa", không phải vậy, thử đụng vào thân thể, làm mất đồ vật yêu thích, nói nặng một câu sẽ biết ngay còn tham sân si hay không. Học kinh Đại Niệm Xứ sẽ thấy tham ái của mình kinh khủng thế nào, Đức Phật chỉ ra cho mình thấy chỗ cư trú của tham ái. Chỗ cư trú của tham ái không chỉ là chuyện nam nữ, đó là phàm phu không cần học cũng biết, tham ái trong con mắt, lỗ mũi, tai, miệng, đôi môi, trong từng cánh tay, bàn tay, trong từng sợi lông, tham ái chất chứa trong đó, chừng nào ái tận thì mới giải thoát. Dì mẫu của Thế Tôn đã xin Thế Tôn chỉ cho phương pháp tu hành ngắn gọn nhất để thành tựu vì tuổi cao sức yếu, Thế Tôn trả lời thấy ái ở đâu là đoạn ở đó, thấy ái ở đâu là diệt ở đó, dì mẫu tu liên tục chứng quả trở thành tổ sư của Ni chúng, đó là mô phạm phải học hỏi. Khi nào đang soi gương mà mình tác ý "đây là tứ đại, không phải tôi, không phải của tôi, nó là cái thân bất tịnh từ đất, nước, gió, lửa hợp thành, không có gì của tôi trong đây", một cái suy nghĩ đó mình có từng nghĩ tới chưa? Vì thế sự tu là cả một công trình vĩ đại chứ không hề đơn giản như chúng ta vẫn thường nghĩ, bây giờ mình còn chụp hình đăng Zalo, Facebook, chẳng những thấy mình đẹp mà còn muốn mọi người thấy cái đẹp của mình nữa, đó là vô văn phàm phu thân kiến nặng nề. Mình còn say đắm, yêu thích thân này thì còn sanh ra những cái thân khác tiếp tục, chắc chắn những cái thân chó mèo, giòi trùn…còn vô số trong dòng luân hồi sanh tử, vì thế bậc thánh đầu tiên Tu-đà-hoàn là phải phá được thân kiến, phải nhìn thấy được tấm thân này chỉ là đất, nước, gió, lửa, chỉ là phèo phổi, ruột gan, tinh huyết, xương và da… quán chiếu thường ngày liên tục cho đến khi gỡ được thân kiến, tức là trong đầu không còn tôi và của tôi, đây chỉ là tứ đại, duyên sanh pháp vô thường, vô ngã thì mới Nhập lưu, lúc đó mới xứng đáng được chắp tay đảnh lễ, cung kính, cúng dường, là ruộng phước vô thượng ở trên đời, đó mới là Tăng bảo. Sự tu của mình phải đi đến kết quả như vậy chứ đừng nghĩ theo kiểu cạn cợt thường ngày, phải tháo gỡ được những cái luyến ái chấp thủ trong thân xác, đời sống này. Nếu căn cứ theo như tinh thần trong kinh tạng thì xin hỏi tất cả mọi người ở đây hiện tại bây giờ được bao nhiêu người tu theo đường lối này và tu tới chỗ này? Cực kì hiếm hoi cho nên mới gọi là mạt pháp, pháp thật sự của Đức Phật không còn được diễn nói, không còn được lưu bố, không còn người thực hành chứng đắc nữa. Vì thế mà người tha thiết, chân thành tu học phải cố gắng rất nhiều, cố gắng cầu tiến, tìm hiểu và học hỏi.
Vị ấy làm cho tăng thượng pháp, từ bỏ bất thiện, tu tập thiện, từ bỏ có tội, tu tập không tội, giữ gìn cho tự ngã được thanh tịnh. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là pháp tăng thượng. (Tăng Chi Bộ, Chương III - Ba Pháp, IV. Phẩm Sứ Giả Của Trời, 40.- Tăng Thượng)
Nếu tu tập đúng theo câu kinh từ bỏ bất thiện, tu tập thiện thì phải từ thánh quả thứ nhất đến thánh quả thứ tư. Trong kinh Nikāya chữ "thiện" rất thâm sâu chứ không phải thiện chỉ là làm từ thiện, đó chỉ là một pháp nhỏ, còn thiện trong kinh Nikāya là diệt tận tham sân si. Ví dụ được người khác cho món đồ đẹp, quý là thích, như vậy là bị tham ái, cho nên khi nào có người cho món đồ thật quý mà tâm mình vẫn thấy "đó là vô thường, không khéo là mang nợ, mình tu có xứng đáng với món đồ này không?", quán chiếu như vậy mà sự tu của mình chỉ mới bắt đầu khởi động thôi, còn người ta cho món đồ nào cũng thích, cũng khoái thì sự tu còn xa lắm vì trong nội tâm vẫn còn ưa thích, khoan khoái sắc uẩn.
Ý nghĩa bài kinh “Tăng Thượng”
Trên đời không giấu được
Ác nghiệp tự mình làm
Ngã của ngươi ta biết
Là thật hay là giả
Ngươi thật khinh thiện ngã
Mặt giáp mặt chứng kiến
Muốn che giấu tự ngã
Ðiều ác tự ngã làm
Chư Thiên và Như Lai
Thấy rõ ở trong đời
Sở hành của kẻ ngu
Làm các hạng tà vạy
Vậy vị ngã tăng thượng
Sở hành phải chánh niệm
Vị thế giới tăng thượng
Hãy khôn khéo, Thiền tịnh
Với vị pháp tăng thượng
Hãy sống theo tùy pháp
Ðại sĩ không thối thất
Tinh cần theo chân lý
Nhiếp phục được ma quân
Chiến thắng được tử thần
Với tinh cần tinh tấn
Sanh đã được đoạn tận.
Bậc đạo sĩ như vậy,
Hiểu thế gian diệu chí
Ðối với tất cả pháp
Không có gì xúc phạm.
(Tăng Chi Bộ, Chương III - Ba Pháp, IV. Phẩm Sứ Giả Của Trời, 40.- Tăng Thượng)
Thứ nhất phải thấy được tự mình tiến lên, ta đã được xuất gia trong pháp và Luật khéo giảng như vậy, không lẽ ta lại có thể sống biếng nhác phóng dật. Như vậy, thật không xứng đáng cho ta. Phải quở trách tham dục, tham ái của chính mình để làm cho mình lớn mạnh trong sự tu hành. Thứ hai là ta đã xuất gia như vậy, lại có thể suy nghĩ về dục tầm hay có thể suy nghĩ về sân tầm, hay có thể suy nghi về hại tầm. To lớn là đại chúng này sống ở trong đời. Trong đại chúng sống ở đời, có các vị Sa-môn, Bà-la-môn có thần thông, có thiên nhãn, có tha tâm thông. Phải biết rằng không thể che giấu được đối với chư thiên, chư thần, phi nhân hoặc đối với các bậc tu hành đã mở thiên nhãn, nhân quả và nghiệp báo không thể che giấu được. Thứ ba là pháp tăng thượng, phải tinh tấn nỗ lực, không được lười nhác, buông lung phóng dật, như vậy là không xứng đáng cho đời tu chúng ta. Minh Thành muốn giới thiệu cho mọi người thấy mục đích thật sự của sự tu rất dài xa và rộng lớn để mình hướng tới nếu không mình sẽ bị dừng lại, đứng lại. Nếu không thấy được thật sự đích đến là đỉnh núi cao mà mình dừng lại dưới chân núi hoặc lưng chừng núi thì đời tu sẽ không tiến bộ, không tăng thượng được.
Vì thế trong sự tu thì trọng tâm là đoạn ái, mà ái là ái ngũ uẩn, người nào thành tựu trọn vẹn là bậc thánh A-la-hán, bậc thánh cao nhất trong hàng thánh chúng, còn người nào bắt đầu hướng tâm xác quyết nhất định phải đi theo con đường này, không thay đổi nữa thì người đó bắt đầu hướng Dự lưu và Nhập lưu, tức là đi vào bốn đôi tám chúng hiền tháng của Đức Phật, dù cho người đó là cư sĩ vì tứ chúng của Đức Phật ngoài hàng Tăng, Ni còn có cư sĩ nam và cư sĩ nữ, vì thế mình đọc kinh thấy Diệu hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Trực hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Ứng lý hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Chơn chánh hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Tức là bốn đôi tám chúng. (Tương Ưng Bộ, Tập V- Thiên Đại Phẩm, Chương XI. Tương Ưng Dự Lưu (a), I. Phẩm Veludvàra, I. Vua) thì chỉ nghĩ là chỉ có Tăng Ni là mới là đệ tử Thế Tôn là không đúng, ngoài Tăng Ni còn có cư sĩ và cư sĩ vẫn có thể thành tựu thánh quả thứ ba Bất lai, vì thế đừng nhìn vào hình thức rồi xem thường hàng cư sĩ. Cho nên trong sự tu học cần cố gắng nhìn thấy chỗ nào là chỗ chúng ta cần hướng đến, chỗ đó là đoạn tận tham ái đối với đời sống này, đối với sắc uẩn. Càng giảm bớt sự ưa thích, tham đắm thì sự tu của mình càng tiến bộ chừng đó, ngoài sắc uẩn còn có cảm giác, hình bóng, suy nghĩ lầm thầm.
./.
TỰ MÌNH TIẾN LÊN 3
KINH TĂNG THƯỢNG - TĂNG CHI BỘ
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Thiền quán Khổ Thánh Đế PAGEREF _Toc113198353 \h 1
II.Pháp tăng thượng PAGEREF _Toc113198354 \h 3
III.Ý nghĩa bài kinh “Tăng Thượng” PAGEREF _Toc113198355 \h 11
Thiền quán Khổ Thánh Đế
Trong giờ phút chúng ta đang ngồi đây có hàng trăm ngàn người đang chìm trong nước lũ. Trong giờ phút chúng ta đang ngồi đây có hàng vạn căn nhà bị ngập tới nóc, vợ mất chồng, con mất cha, bà mất cháu. Trong giờ phút chúng ta đang ngồi đây đang có những dòng nước mắt tuôn chảy vì đau khổ, lo lắng, sợ hãi và bất an. Giờ này biết bao nhiêu người đang lạnh lẽo, đang ngâm mình trong làn nước trắng xóa của lũ lụt, chiếc quan tài phải treo trên nóc nhà 5 ngày, sự đau khổ chất chồng lên sự khổ đau, những tiếng kêu cứu thảm thiết vang lên từ những mái nhà xa xa đầy nước, những ánh mắt tuyệt vọng trông chờ của những đứa trẻ thơ. Đau khổ vì bao nhiêu tài sản chất chứa được mấy mươi năm qua đều theo dòng nước chảy, heo, gà trôi lềnh bềnh, trâu bò chết ngổn ngang, mùa màng đều hư nát, ruộng vườn thành cánh đồng hoang chỉ còn trời và nước mênh mông, tiếng kêu đau xót có thấu trời không? Những người chiến sĩ, những đội cứu hộ, những chú bộ đội chôn xác dưới những đống đất sạt lở của núi đồi, những công nhân, những người làm nương rẫy phải chết tức tưởi trong bàng hoàng và kinh hãi. Dòng thác lũ cuốn phăng hết tất cả không có giây phút nào dừng lại, cũng vậy này các Tỳ-kheo đời sống loài người như dòng thác lũ trôi nhanh, trôi mau, trôi qua và cuốn phăng đi tất cả những gì đáng yêu, đáng thích. Đời sống này thật là ngắn ngủi, đời sống này thật là nhỏ bé, thật là tạm bợ, mong manh, nhiều khổ đau, nhiều ưu não, nhiều lo lắng, sợ hãi và bất an là đời sống này.
Này Bà-la-môn, ít ỏi là đời sống của loài Người, nhỏ bé, không đáng kể, nhiều khổ đau, nhiều ưu não. Với bùa chú, hãy giác ngộ! Hãy làm điều lành, sống đời Phạm hạnh! Với người đã sanh, không có bất tử. Ví như, này Bà-la-môn, con sông trên núi chảy xa, dòng nước chảy nhanh, lôi cuốn theo vật này vật khác, không có sát-na nào, không có giây phút nào, không có thời khắc nào có dừng nghỉ, nó phải chảy tới, cuồn cuộn chảy, thúc đẩy chảy tới. Cũng vậy, này Bà-la-môn, ví như con sông ấy là đời sống của loài Người, nhỏ bé, không đáng kể... Với người đã sanh, không có bất tử. (Tăng Chi Bộ, Chương VII – Bảy Pháp, VII. Ðại Phẩm, (X) Araka)
Nhỏ bé là đời sống này!
Mong manh là kiếp người này!
Nhiều khổ đau, nhiều ưu não, nhiều sự bất an, lo lắng và sợ hãi là kiếp nhân sinh này!
Chúng ta là người xuất gia đừng sống trong vô cảm, đừng sống trong lãng quên. Hãy cảm nhận một cách sâu sắc những gì đang diễn ra xung quanh chúng ta bằng trí tuệ, bằng trái tim và bằng tất cả tấm lòng, tình thương của mình.
Hãy vứt bỏ thế lợi, tâm hướng cầu tịch tịnh!
Mọi lợi ích của thế gian này trong tích tắc dòng nước có thể cuốn trôi hết tất cả, mọi đốm lửa có thể thiêu rụi tất cả, một ngọn gió bão có thể cuốn phăng tất cả, một cơn địa chấn động đất có thể làm sụp đổ hết tất cả. Đừng nghĩ rằng những thứ chúng ta đang có là còn hoài, bất cứ lúc nào, bất cứ chỗ nào thân này cũng có thể tan hoại, tan nát, hư hoại.
Chúng ta đang thực tập thiền quán về Khổ Thánh Đế, nếu khéo léo để tâm có thể phát sanh cảm thọ, cảm xúc. Đó cũng là bài học chứ không phải mở sách, mở tập ra ghi chép mới là bài học, tâm cảm trước sự thật của đời sống này, chạm đến bản chất của thế gian này, nhận ra và nhìn thấy là bài học sâu sắc hơn tất cả các bài học, không nhất thiết phải viết bài mới là học. Viết 10 năm mà không cảm xúc được gì, trí huệ không sanh thì viết để làm gì? Phải tập có cảm xúc, tập phát triển những cảm giác thiện pháp trí huệ từ tâm, những cảm giác đó phát triển mạnh chừng nào thì sự tu tập của mình càng tăng thượng phát triển chừng đó. Xin mời đại chúng nghe thêm nhiều bài thiền quán trên linhquyphapan.vn, vừa mở ra nghe vừa ngồi thiền để thực tập theo lời dạy trong đó, làm như vậy sẽ khác với khi nghe pháp thông thường rất nhiều, có khi đạt kết quả tốt gấp trăm lần, phải làm như vậy để khơi mở những dòng cảm xúc trí huệ từ tâm của mình. Trong bản thân mỗi người đều có nhiều trí huệ hiểu biết, có rất nhiều tình thương nhưng mình lại không biết cách mở ra, cứ đi đến hang rắn sẽ ảnh hưởng thân thể trong khi long mạch lại không biết cách khai mở. Bậc thiện tri thức là bậc chỉ cho mình đâu là hang rắn, đâu là long mạch, người nào biết mở long mạch tức là khơi được nguồn cảm xúc thánh trí huệ, đại bi tâm thì người đó tu hành thành tựu, còn người không biết đi lại hang rắn sẽ bị nọc độc của rắn cắn chết, đó là nọc độc của tham sân si và bản ngã.
Pháp tăng thượng
- Này các Tỳ-kheo, có ba tăng thượng này. Thế nào là ba ?
Ngã tăng thượng,
Thế giới tăng thượng,
Pháp tăng thượng.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là pháp tăng thượng?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, vị Tỳ-kheo đi đến ngôi rừng hay đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, rồi thẩm sát như sau: "Không phải vì y áo, ta xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Không phải vì món ăn khất thực, không phải vì sàng tọa, không phải vì nhân có mặt hay không có mặt ở đây mà ta xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình, (nhưng với ý nghĩ như sau): "Nay ta bị rơi vào sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, rơi vào khổ, bị khổ chi phối. Có thể do làm như vậy, đoạn tận tất cả các khổ uẩn này được hiện khởi lên cho ta. (Tăng Chi Bộ, Chương III - Ba Pháp, IV. Phẩm Sứ Giả Của Trời, 40.- Tăng Thượng)
Nói theo bây giờ là không phải vì y áo, cơm áo mà ta bỏ cha mẹ, tình thân, không phải vì phòng ốc, chùa chiền mà ta bỏ gia đình cạo đầu đi tu. Không phải vì danh lợi mà ta đi tu. Không phải vì ta xuất gia chỉ để có mặt ở đây, không chỉ có mặt suông hoặc có mặt cho đủ sống lượng điểm danh, không phải chỉ là một sự có mặt trống rỗng vô tích sự mà ta bỏ cha mẹ ta. Mà vì ta thấy cảnh đau khổ của cuộc đời, vì tham dục đau khổ, vì tình ái đau khổ, vì giành giật, chém giết đau khổ, vì hơn thua, ganh tị, đố kị đau khổ, vì sự mưu sinh mà hãm hại, lợi dụng, giết hại người khác. Vì cảnh già nua bệnh tật, nằm một chỗ trong đống phân và nước tiểu của chính mình, muốn ngồi dậy phải có người nâng đỡ. Vì ta nhìn thấy được những cảnh tượng con cái đánh đập, mắng chửi cha mẹ già, vì ta nhìn thấy những cảnh bất hiếu, bất nhân, bất nghĩa trên thế gian này, vì ta nhìn thấy cuộc đời vô tình, vô nghĩa, một cuộc đời đầy rẫy sự tranh đấu, ích kỉ.
Đau khổ là đời sống này, ta nhìn thấy cảnh sanh, già, bệnh, chết đau khổ, vì ta nhìn thấy được bản chất thật sự của thế gian này, ta nhìn thấy được Trái Đất vô minh, u ám, ta thấy những thứ đau khổ đó chi phối. Để đoạn tận, chấm dứt hết tất cả đống đau khổ đó cho nên ta đi tu, ta từ bỏ lục thân quyến thuộc, ta từ bỏ những người thương yêu máu huyết, ta cắt ái ly da, ta bỏ mái tóc yêu quý, hủy hoại hình hài của ta, ta mong cầu chấm dứt hết tất cả khổ đau của đời sống vô thường, tham sân si, vô minh và bản ngã này. Vị xuất gia suy tư, nghiền ngẫm, quán chiếu, tác động tâm ý như vậy.
Pháp được Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, có kết quả ngay tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người có trí tự mình giác hiểu. Nay ta có những người đồng Phạm hạnh, chúng sống biết và thấy. Ta đã được xuất gia trong pháp và Luật khéo giảng như vậy, không lẽ ta lại có thể sống biếng nhác phóng dật. Như vậy, thật không xứng đáng cho ta. (Tăng Chi Bộ, Chương III - Ba Pháp, IV. Phẩm Sứ Giả Của Trời, 40.- Tăng Thượng)
Thật là không xứng đáng cho ta khi bỏ cha mẹ, ông bà, cô bác để ở trong giáo pháp vi diệu, những lời dạy chân chánh như vậy mà ta lại sống đời sống buông lung phóng dật, giải đãi, biếng nhác. Thật là không xứng đáng cho ta! Mỗi tối trước khi ngủ phải quở trách, rầy la chính mình.
Này chư Hiền, các pháp lấy dục làm căn bản. Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi. Tất cả pháp lấy xúc làm tập khởi. Tất cả pháp lấy thọ làm chỗ tụ hội. Tất cả pháp lấy định làm thượng thủ. Tất cả pháp lấy niệm làm tăng thượng. Tất cả pháp lấy tuệ làm tối thượng. Tất cả pháp lấy giải thoát làm lõi cây (Tăng Chi Bộ, Chương VIII. Tám Pháp, IX. Phẩm Niệm, (III) (83) Cội Rễ Của Sự Vật).
Tất cả pháp thiện hay bất thiện đều từ suy nghĩ của mình mà ra, đều từ sự tác động tâm ý của mình mới có. Trước khi con vào lớp, mọi người có suy nghĩ ra cảnh tượng như lời thiền quán không? Không có, khi trên đây tác ý nương theo lời đó thì những hình ảnh đó hiện ra trong tâm mình vì thế tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi. Pháp tăng thượng là sự phát triển trong chánh pháp lớn mạnh, là sự tác ý thường xuyên và liên tục, trong mỗi phút giây đều tác ý, ví dụ muốn đi nhanh, chạy nhanh, cười lớn thì tác ý trong tâm "không được như vậy, mình là người tu", phải nhắc nhở trong tâm như vậy, còn giờ muốn là thả lỏng các căn, buông thả thân tâm, phải kiểm soát thân tâm, dùng sự tác ý, dùng sự soi rọi lại cảm giác, suy nghĩ phải được giáo dục, đào tạo, tự thân tâm mình huấn luyện tâm mình. Tất cả giáo pháp của Phật đều là pháp hành, nếu không thực hành thì vĩnh viễn chỉ đứng ngoài cổng chùa, dù cho cạo đầu 70 năm vẫn là vô văn phàm phu, không chạm được vào thánh pháp. Không nhìn thấy ngũ uẩn, không nhìn thấy tham sân si, vô minh và bản ngã đang vận hành, yêu mến sắc uẩn này, đam mê thân kiến này, chạy theo danh lợi, hình thức bề ngoài thì cái đó vẫn là phàm phu dù cho hình thức là xuất gia, thậm chí tội còn nặng hơn người đời. Người tu phải nhìn thấy thân tâm, phải kiểm soát hành vi cử chỉ, tâm niệm, phải luôn luôn tự mình dò xét mình, tự mình đi đến mình, tự mình chỉ trích mình, tự mình quở mắng mình.
Tự mình chỉ trích mình,
Tự mình dò xét mình,
Tỳ-kheo tự phòng hộ
Chánh niệm, trú an lạc.
(Kinh Pháp Cú 25 – Phẩm Tỳ-kheo, kệ 379)
Ở đây, này Bhaddali, có Tỳ-kheo không thực hành trọn vẹn học giới trong giáo pháp của bậc Đạo Sư. Vị ấy suy nghĩ như sau: "Ta hãy sống tại một trú xứ xa vắng, khu rừng, gốc cây, sườn núi, chỗ hoang dã, hang núi, nghĩa địa, tùng lâm, ngoài trời, đống rơm. Và ta có thể chứng được thượng nhân pháp, tri kiến thù thắng, xứng đáng bậc Thánh". Vị ấy sống tại một trú xứ xa vắng, khu rừng, gốc cây, sườn núi, chỗ hoang dã, hang núi, nghĩa địa, tùng lâm, ngoài trời, đống rơm. Khi vị ấy sống viễn ly như vậy, bậc Đạo Sư quở trách, các vị đồng Phạm hạnh có trí sau khi quán sát quở trách, chư Thiên quở trách, tự mình quở trách mình. Vị này bị bậc Đạo Sư quở trách, bị các vị đồng Phạm hạnh có trí sau khi quán sát quở trách, bị chư Thiên quở trách, bị tự mình quở trách mình, nên không chứng được thượng nhân pháp, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh. Tại sao vậy? Sở dĩ như vậy, này Bahaddali, là vì vị ấy không thực hành trọn vẹn học giới trong giáo pháp bậc Đạo Sư. (Trung Bộ Kinh, 65. Kinh Bhaddàli)
Còn mình cứ muốn làm gì thì làm, muốn nghĩ gì thì nghĩ thì làm sao tu? Làm sao tiến bộ trong pháp? Cho nên người tu phải quản thúc nghiêm túc tự thân tâm chính mình trong tất cả cảm giác, nghĩ tưởng, đó cũng là Tứ Niệm Xứ và cũng là thiền quán. Tu mà 5-10 năm gặp lại cũng tham sân si, bản ngã y như cũ thì tu cái gì? Càng tu thì bản ngã càng cao, càng học lâu thì càng làm biếng, ở trong chùa lâu chừng nào thì làm biếng chừng đó, bản thân không tụng kinh ngồi thiền mà lại bắt người nhỏ hơn làm thì làm sao dạy họ được? Bây giờ con chỉ muốn dạy lớp Sơ cấp vì dễ dạy, năm thứ tư Trung cấp là khó rồi, lên tới Cao đẳng càng khó dạy hơn nữa, ngày mới vào trường hiền hòa tuyệt vời, học tới năm thứ tư là khó nói. Tại sao lại phát triển theo chiều nghịch như vậy? Vì mình đặt tâm không đúng hướng, coi thường mọi thứ, ta đã được xuất gia trong pháp và Luật khéo giảng như vậy, không lẽ ta lại có thể sống biếng nhác phóng dật hay sao? Câu này phải được học thuộc lòng, thi cử không phải chỉ thi bài này mà phải vận dụng đời sống, thẩm thấu thể nhập. Mỗi ngày đều phải nhìn lại bản thân mình chứ không phải quan trọng vấn đề ở trong chùa được bao lâu, thọ giới được mấy năm, đó chỉ là hình thức bề ngoài.
Vị ấy lại quán sát như sau: "Thắng tấn là tinh tấn của ta, không có thụ động; an trú là niệm của ta, không có thất niệm; (Tăng Chi Bộ, Chương III - Ba Pháp, IV. Phẩm Sứ Giả Của Trời, 40.- Tăng Thượng)
Thụ động là dậm chân tại chỗ, thỏa mãn với những thiện pháp nhỏ bé, hài lòng với vô minh của phàm phu. Hài lòng với một chút thiện pháp nhỏ bé, nhỏ hẹp như vậy làm sao tiến tới địa vị của hiền thánh? Làm sao tăng thượng trong thánh trí huệ? Không được hài lòng, không sống thụ động, an nhàn. Sự an nhàn sẽ giết chết đời tu, điều này là nguy hiểm nhất trong tất cả sự nguy hiểm, con nhìn thấy được sự nguy hiểm nhất trong tất cả sự nguy hiểm của người tu sau 30 năm kinh nghiệm trong chùa của con là an nhàn, an phận, không cầu tiến. Bài kinh này cũng là thông điệp tuyệt đối quan trọng cho người xuất gia, sẽ được đưa vào quyển Xuất Gia Bảo Tạng. Cứ nghe tiếng kẻng là lên công phu, nghe gõ bảng là đi ăn, tới giờ thì đi học, xong thì về ngủ hoặc ra rửa chén nấu cơm, lên tụng thời kinh xong lại nằm ngủ, như vậy là thất bại, chết không có đất chôn, lũ lụt cuốn mất xác.
Người tâm ý đắm say
Con cái và súc vật,
Tử thần bắt người ấy,
Như lụt trôi làng ngủ.
(Kinh Pháp Cú 20 – Phẩm Đạo, kệ 287)
Cuộc sống bấp bênh, vô thường như vậy mà không chịu nỗ lực tinh tấn tu học, vào học cứ uống café, uống nước mía không thì buồn ngủ. Phải quán chiếu để thấy nỗi khổ của chúng sanh, phải thấy những gì đang có mặt xung quanh mình chứ đừng ngu mê, si dại, đó là sống trong bóng đêm. Tâm tư nguyện vọng của con là trên đất Việt Nam này có chùa nào con đi đến thăm từng chùa, đem hết tấm lòng chia sẻ Phật pháp nhưng rất khó vì nhiều khi có người nghĩ "lỡ ngồi nghe thầy nói chứ không lẽ lại đi ra". Mình phải có tấm lòng tha thiết, chân thành tu học vì mình mắc nợ rất lớn, mình nợ rất khủng khiếp, những thứ mình đang dùng, đang ăn, mặc, ở mà mình tu không thành tựu giới – định – tuệ, không tăng thượng trong thánh pháp thì sau khi nhắm mắt thì lập tức đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Tiền điện, nước, xăng, dầu gội đầu, quần áo, xe cô, chỗ ăn ở, đi lại… tất cả mọi thứ đó cộng lại một năm bao nhiêu tiền? Chưa kể đến việc người ta đến tuổi cha mẹ, ông bà của mình mà quỳ lạy dâng lên cúng dường cho mình thì cái đó không thể tưởng tượng nổi, không thể trả được. Không phải người ta đưa mình 5 đồng rồi đời sau làm trâu, làm ngựa, ở đợ trả lại 5 đồng là xong, con số 5 đồng đó sẽ tăng lên 50, 500 ngàn, vấn đề không phải là ăn miếng trả miếng mà đây là sự lừa gạt, mình không tu, lấy đồng tiền đó mà không có giới đức, không có đạo hạnh, không phải chỗ đáng được chắp tay, cung kính, đảnh lễ, cúng dường, tôn trọng, mình lừa gạt người ta thì tội này là vô cùng khủng khiếp, không có hổ thẹn, không có lo lắng và sợ hãi cứ trơ ra, ăn rồi ngồi nói chuyện thế gian, cười ha hả, đây là sự rùng rợn và kinh khủng, chỉ có những người điếc mới không sợ súng, người mù không thấy trước mắt họ là vực sâu, là biển lửa, người mắt mở ra là kinh sợ, hoảng sợ, sau khi mắt nhắm là vô lượng vô biên, vô số kiếp Trái Đất này thành hoại vẫn còn bị đọa dưới địa ngục. Ngoài ra còn thêm tội bất hiếu với cha mẹ, cha mẹ bệnh rồi nhớ thương, trông chờ con mà không dám gọi cho con vì để con tu, trong gia đình có chuyện cũng không dám nói, khổ chỉ biết khóc một mình để con yên tâm tu học, tất cả đều đặt hết niềm tin, hy vọng hướng vào mình vậy mà mình không tu, lừa gạt cha mẹ, lừa gạt những người tín tâm tin tưởng, tội này không có gì có thể cân đo đong đếm được vì rất khủng khiếp. Con tu học như vậy mà lúc nào cũng ở trong trạng thái xấu hổ và lo sợ, thường trú trong cảm giác xấu hổ và sợ hãi, xấu hổ vì giới đức, thiền định, trí huệ của mình chưa thành tựu viên mãn, đời sống cứu cánh phạm hạnh chưa viên thành. Phải lo lắng, ray rứt, trăn trở, đau khổ vì tu mà lại còn tâm sân hận, tham ái, thị phi, nhỏ mọn. Mình tha thiết, chân thành muốn từ bỏ, khạc nhổ tất cả những cái tâm cấu uế, lậu hoặc, ô nhiễm đó. Sự tu như vậy mới đưa đến tăng thượng trong pháp và luật, còn giờ cứ sống nhàn nhã, đều đều qua ngày đoạn tháng, không ôm ấp, trăn trở, thao thức mà cứ sống trong vô minh, tham ái. Trong kinh Pháp Cú, Đức Phật đã nói:
Cười gì, hân hoan gì,
Khi đời mãi bị thiêu?
Bị tối tăm bao trùm,
Sao không tìm ngọn đèn?
(Kinh Pháp Cú 11 – Phẩm Già, kệ 146)
Chúng ta phải lo sợ, nếu người biết tu là lo sợ vô cùng. Từ ngày mình cạo đầu xuất gia đến giờ lộ trình giác ngộ mình đã biết mình đi đến đâu? Con đường phía trước mờ mịt, tự thân tự tâm không thấy không biết thì lấy gì đền đáp cha mẹ? Làm sao mình có thể dửng dưng khi được người khác quỳ lạy? Bây giờ một người đi vay nóng xã hội đen bạc tỷ là cực kì lo sợ, không trả được thì sợ bị đánh, chém, chặt tay chặt chân, còn mình nợ hơn món nợ đó rất nhiều vậy mà không biết lo sợ gì cả. Đức Thế Tôn nói trong phần giới luật:
Tỳ-kheo có giới, sống được chế ngự với sự chế ngự của giới bổn Pàtimokkha, đầy đủ uy nghi chánh hạnh thấy sợ hãi trong các lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và học tập trong các học pháp, là người nghe nhiều, thọ trì điều đã được nghe, cất chứa điều đã được nghe... khéo thông hiểu, khéo quyết định, theo kinh, theo chi tiết. Những pháp nào, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, tán thán Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh, những pháp như vậy, vị ấy được nghe nhiều, được thọ trì, được đọc tụng bằng lời, được quan sát với ý, được khéo léo thể nhập với chánh kiến. Cả hai giới bổn Pàtimokkha được khéo truyền đạt một cách rộng rãi, được khéo phân tích, khéo thông hiểu, khéo quyết định theo kinh, theo chi tiết. Vị ấy được khéo an trú trên luật, không có dao động; có khả năng làm cho cả hai phe chống đối thông hiểu, chinh phục họ, làm cho họ thấy, làm cho họ hòa giải với nhau. Vị ấy thiện xảo trong sự sanh khởi và chấm dứt các tránh sự, biết các tránh sự, biết tránh sự sanh khởi, biết tránh sự đoạn diệt, biết con đường đưa đến tránh sự được đoạn diệt. (Tăng Chi Bộ, Chương X – Mười Pháp, IV. Phẩm Upàli Và Ananda, (II) Người Ðoạn Sự)
Phải biết sợ hãi trong những lỗi nhỏ nhặt và phải chấp nhận học pháp, phải tôn trọng giới bổn, sống với sự phòng hộ, hộ trì nhãn căn, hộ trì mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý, nhiếp phục tham ưu ở đời. Những nguyên nhân làm dục tham, sân si, bản ngã sanh khơi thì phải nhiếp phục, chế ngự. Thật sự con nơm nớp lo sợ, chừng nào thành tựu pháp, diệt tận thân kiến, chứng nhập Nhập lưu trở lên thì lúc đó mới đi vào chỗ an ổn. Phá được thân kiến, hoài nghi và giới cấm thủ, thành tựu Dự lưu thánh quả thì mới bắt đầu bước vào an toàn, còn ngoài ra đều nằm trong lãnh vực của hiểm họa, tai ương, nếu chưa thành tựu thánh tri kiến, chánh tri kiến, chưa Nhập lưu Tu-đà-hoàn quả, tức là chưa nhìn thấy trọn vẹn thân tâm ngũ uẩn và những tham sân si, bản ngã vận hành như thế nào thì đó là đời sống bóng đêm. Chúng ta đang sống trong bóng đêm chứ không có vui sướng gì, đừng nói "thầy ơi, con không có tham sân si gì nữa", không phải vậy, thử đụng vào thân thể, làm mất đồ vật yêu thích, nói nặng một câu sẽ biết ngay còn tham sân si hay không. Học kinh Đại Niệm Xứ sẽ thấy tham ái của mình kinh khủng thế nào, Đức Phật chỉ ra cho mình thấy chỗ cư trú của tham ái. Chỗ cư trú của tham ái không chỉ là chuyện nam nữ, đó là phàm phu không cần học cũng biết, tham ái trong con mắt, lỗ mũi, tai, miệng, đôi môi, trong từng cánh tay, bàn tay, trong từng sợi lông, tham ái chất chứa trong đó, chừng nào ái tận thì mới giải thoát. Dì mẫu của Thế Tôn đã xin Thế Tôn chỉ cho phương pháp tu hành ngắn gọn nhất để thành tựu vì tuổi cao sức yếu, Thế Tôn trả lời thấy ái ở đâu là đoạn ở đó, thấy ái ở đâu là diệt ở đó, dì mẫu tu liên tục chứng quả trở thành tổ sư của Ni chúng, đó là mô phạm phải học hỏi. Khi nào đang soi gương mà mình tác ý "đây là tứ đại, không phải tôi, không phải của tôi, nó là cái thân bất tịnh từ đất, nước, gió, lửa hợp thành, không có gì của tôi trong đây", một cái suy nghĩ đó mình có từng nghĩ tới chưa? Vì thế sự tu là cả một công trình vĩ đại chứ không hề đơn giản như chúng ta vẫn thường nghĩ, bây giờ mình còn chụp hình đăng Zalo, Facebook, chẳng những thấy mình đẹp mà còn muốn mọi người thấy cái đẹp của mình nữa, đó là vô văn phàm phu thân kiến nặng nề. Mình còn say đắm, yêu thích thân này thì còn sanh ra những cái thân khác tiếp tục, chắc chắn những cái thân chó mèo, giòi trùn…còn vô số trong dòng luân hồi sanh tử, vì thế bậc thánh đầu tiên Tu-đà-hoàn là phải phá được thân kiến, phải nhìn thấy được tấm thân này chỉ là đất, nước, gió, lửa, chỉ là phèo phổi, ruột gan, tinh huyết, xương và da… quán chiếu thường ngày liên tục cho đến khi gỡ được thân kiến, tức là trong đầu không còn tôi và của tôi, đây chỉ là tứ đại, duyên sanh pháp vô thường, vô ngã thì mới Nhập lưu, lúc đó mới xứng đáng được chắp tay đảnh lễ, cung kính, cúng dường, là ruộng phước vô thượng ở trên đời, đó mới là Tăng bảo. Sự tu của mình phải đi đến kết quả như vậy chứ đừng nghĩ theo kiểu cạn cợt thường ngày, phải tháo gỡ được những cái luyến ái chấp thủ trong thân xác, đời sống này. Nếu căn cứ theo như tinh thần trong kinh tạng thì xin hỏi tất cả mọi người ở đây hiện tại bây giờ được bao nhiêu người tu theo đường lối này và tu tới chỗ này? Cực kì hiếm hoi cho nên mới gọi là mạt pháp, pháp thật sự của Đức Phật không còn được diễn nói, không còn được lưu bố, không còn người thực hành chứng đắc nữa. Vì thế mà người tha thiết, chân thành tu học phải cố gắng rất nhiều, cố gắng cầu tiến, tìm hiểu và học hỏi.
Vị ấy làm cho tăng thượng pháp, từ bỏ bất thiện, tu tập thiện, từ bỏ có tội, tu tập không tội, giữ gìn cho tự ngã được thanh tịnh. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là pháp tăng thượng. (Tăng Chi Bộ, Chương III - Ba Pháp, IV. Phẩm Sứ Giả Của Trời, 40.- Tăng Thượng)
Nếu tu tập đúng theo câu kinh từ bỏ bất thiện, tu tập thiện thì phải từ thánh quả thứ nhất đến thánh quả thứ tư. Trong kinh Nikāya chữ "thiện" rất thâm sâu chứ không phải thiện chỉ là làm từ thiện, đó chỉ là một pháp nhỏ, còn thiện trong kinh Nikāya là diệt tận tham sân si. Ví dụ được người khác cho món đồ đẹp, quý là thích, như vậy là bị tham ái, cho nên khi nào có người cho món đồ thật quý mà tâm mình vẫn thấy "đó là vô thường, không khéo là mang nợ, mình tu có xứng đáng với món đồ này không?", quán chiếu như vậy mà sự tu của mình chỉ mới bắt đầu khởi động thôi, còn người ta cho món đồ nào cũng thích, cũng khoái thì sự tu còn xa lắm vì trong nội tâm vẫn còn ưa thích, khoan khoái sắc uẩn.
Ý nghĩa bài kinh “Tăng Thượng”
Trên đời không giấu được
Ác nghiệp tự mình làm
Ngã của ngươi ta biết
Là thật hay là giả
Ngươi thật khinh thiện ngã
Mặt giáp mặt chứng kiến
Muốn che giấu tự ngã
Ðiều ác tự ngã làm
Chư Thiên và Như Lai
Thấy rõ ở trong đời
Sở hành của kẻ ngu
Làm các hạng tà vạy
Vậy vị ngã tăng thượng
Sở hành phải chánh niệm
Vị thế giới tăng thượng
Hãy khôn khéo, Thiền tịnh
Với vị pháp tăng thượng
Hãy sống theo tùy pháp
Ðại sĩ không thối thất
Tinh cần theo chân lý
Nhiếp phục được ma quân
Chiến thắng được tử thần
Với tinh cần tinh tấn
Sanh đã được đoạn tận.
Bậc đạo sĩ như vậy,
Hiểu thế gian diệu chí
Ðối với tất cả pháp
Không có gì xúc phạm.
(Tăng Chi Bộ, Chương III - Ba Pháp, IV. Phẩm Sứ Giả Của Trời, 40.- Tăng Thượng)
Thứ nhất phải thấy được tự mình tiến lên, ta đã được xuất gia trong pháp và Luật khéo giảng như vậy, không lẽ ta lại có thể sống biếng nhác phóng dật. Như vậy, thật không xứng đáng cho ta. Phải quở trách tham dục, tham ái của chính mình để làm cho mình lớn mạnh trong sự tu hành. Thứ hai là ta đã xuất gia như vậy, lại có thể suy nghĩ về dục tầm hay có thể suy nghĩ về sân tầm, hay có thể suy nghi về hại tầm. To lớn là đại chúng này sống ở trong đời. Trong đại chúng sống ở đời, có các vị Sa-môn, Bà-la-môn có thần thông, có thiên nhãn, có tha tâm thông. Phải biết rằng không thể che giấu được đối với chư thiên, chư thần, phi nhân hoặc đối với các bậc tu hành đã mở thiên nhãn, nhân quả và nghiệp báo không thể che giấu được. Thứ ba là pháp tăng thượng, phải tinh tấn nỗ lực, không được lười nhác, buông lung phóng dật, như vậy là không xứng đáng cho đời tu chúng ta. Minh Thành muốn giới thiệu cho mọi người thấy mục đích thật sự của sự tu rất dài xa và rộng lớn để mình hướng tới nếu không mình sẽ bị dừng lại, đứng lại. Nếu không thấy được thật sự đích đến là đỉnh núi cao mà mình dừng lại dưới chân núi hoặc lưng chừng núi thì đời tu sẽ không tiến bộ, không tăng thượng được.
Vì thế trong sự tu thì trọng tâm là đoạn ái, mà ái là ái ngũ uẩn, người nào thành tựu trọn vẹn là bậc thánh A-la-hán, bậc thánh cao nhất trong hàng thánh chúng, còn người nào bắt đầu hướng tâm xác quyết nhất định phải đi theo con đường này, không thay đổi nữa thì người đó bắt đầu hướng Dự lưu và Nhập lưu, tức là đi vào bốn đôi tám chúng hiền tháng của Đức Phật, dù cho người đó là cư sĩ vì tứ chúng của Đức Phật ngoài hàng Tăng, Ni còn có cư sĩ nam và cư sĩ nữ, vì thế mình đọc kinh thấy Diệu hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Trực hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Ứng lý hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Chơn chánh hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Tức là bốn đôi tám chúng. (Tương Ưng Bộ, Tập V- Thiên Đại Phẩm, Chương XI. Tương Ưng Dự Lưu (a), I. Phẩm Veludvàra, I. Vua) thì chỉ nghĩ là chỉ có Tăng Ni là mới là đệ tử Thế Tôn là không đúng, ngoài Tăng Ni còn có cư sĩ và cư sĩ vẫn có thể thành tựu thánh quả thứ ba Bất lai, vì thế đừng nhìn vào hình thức rồi xem thường hàng cư sĩ. Cho nên trong sự tu học cần cố gắng nhìn thấy chỗ nào là chỗ chúng ta cần hướng đến, chỗ đó là đoạn tận tham ái đối với đời sống này, đối với sắc uẩn. Càng giảm bớt sự ưa thích, tham đắm thì sự tu của mình càng tiến bộ chừng đó, ngoài sắc uẩn còn có cảm giác, hình bóng, suy nghĩ lầm thầm.
./.