Phap hanh - Tri tue bat tu 17.8.2018
LINH QUY PHÁP ẤN
PHÁP HÀNH
Trí tuệ bất tử
Thích Minh Thành
Nhà xuất bản …………….
Thuyết giảng:
Thượng tọa Giảng sư Thích Minh Thành.
Chuyển thành văn bản:
Diệu Quang.
Biên tập, hiệu đính:
Thiện Ngộ.
Sửa bản in:
Thích Pháp Sơn.
Ban Văn hóa Pháp Ấn
Biên tập, hiệu đính từ ngày 17.8.2018 đến ngày 11.11.2018.
MỤC LỤC
Chương 1: NHẬN DIỆN CẢM GIÁC
1. Duyên khởi ……………………………………………………… Trang 5
2. Thực tập tọa thiền ……………………………………………………………… 8
3. Quán chiếu cảm giác …………………………………………………………… 13
4. Hiệu quả cảm giác toàn thân …………………………………………………… 19
Chương 2: SOI LẠI NĂM UẨN
1. Pháp hành năm uẩn ……………………………………………………………26
2. Năm uẩn trong đời sống …………………………………………………………32
3. Soi lại năm uẩn …………………………………………………………………. 39
4. Thực tập soi năm uẩn ……………………………………………………………. 46
5. Năm uẩn vận hành ………………………………………………………………. 50
6. Quán sát sâu sắc về năm uẩn …………………………………………………….. 57
7. Nhìn sâu bên trong năm uẩn ……………………………………………………… 63
7. Gội rửa phiền não …………………………………………………………………. 72
Chương 3: HỔ THẸN VÀ SỢ HÃI
1. Hổ thẹn và sợ hãi ……………………………………………………………………. 80
2. Diệt trừ phiền não …………………………………………………………………… 87
3. Phá trừ hôn trầm, tham, sân ………………………………………………………... 95
4. Quán xét các pháp ………………………………………………………………… 101
Chương 4: QUÁN BẤT TỊNH
1. Quán bất tịnh ……………………………………………………………………….. 109
2. Tầm quan trọng của quán bất tịnh …………………………………………………. 116
3. Trí tuệ bất tử ………………………………………………………………… trang 123
Chương 5: GỘI SẠCH VẾT NHƠ
1. Ơn sâu nghĩa nặng – pháp quán thân ………………………………………………. 134
2. Quán chiếu tứ đại – Ngoại địa giới và nội địa giới ………………………………… 147
3. Quán chiếu tứ đại – Thủy hỏa phong giới ………………………………………….. 153
4. Gội sạch vết nhơ ……………………………………………………………………. 162
Chương 1:
NHẬN DIỆN CẢM GIÁC
1. Duyên khởi
Trong đời tu sĩ, ai cũng không ít lần nhập thất để chiêm nghiệm Phật pháp. Nhập thất để soi rọi lại chính mình còn thiếu sót, chưa trọn vẹn điều gì, sám hối và phát tâm Bồ-đề, kiên cố và tinh tấn đạo hạnh trên bước đường tu hành hơn nữa.
Sau lần nhập thất mới đây, Minh Thành rất xúc động, có thể nói là như vừa xuất gia lại trong đời tu của chính mình. Từ đây trở về sau mới thật sự là hành trình tu chân thật, vì xưa nay chưa hiểu xuất xứ, cội rễ của phiền não ẩn trú nơi nào. Nay đã biết thành trì của phiền não nương gá trong thân tâm này. Khi nhận thấy rồi thì phát khởi cảm giác rất hổ thẹn, nhục nhã! Tại sao phải xấu hổ và nhục nhã như vậy? Bởi, đã thấy được những con giòi trong thân tâm này. Nó ẩn núp, tiềm phục dưới nhiều lớp dạng khác nhau, qua nhiều cách thể hiện. Khi nhìn lại một cách sâu sắc thì thấy rõ chúng, nên có sự đấu tranh quyết liệt với điều xấu hổ tiềm phục ấy.
Trước đây, chúng ta chỉ thấy phiền não trên chữ nghĩa, nay thấy rõ sự vận hành của chúng ở ngay thân tâm này. Phần nhiều tu trên tưởng tượng, nay nhìn rõ chúng bằng con mắt, cảm giác, biết được chúng có khởi điểm, dị biệt và hoại diệt ra làm sao.
Khó khăn nhất của người tu là nhiếp phục tham dục. May mắn gặp được thiện tri thức, nghe thấy được chánh pháp của Phật mà hành trì. Khi có huân tu trong đối trị nhiếp phục con ma tham dục, tham sân si ấy thì có những cảm giác hỷ lạc diệu kỳ. Sự mong mỏi tột cùng của bản thân là muốn đem hết những gì mình hiểu biết chia sẻ với huynh đệ, Phật tử để cùng nhau nếm pháp vị trên bước đường chuyển hóa.
Bây giờ huynh đệ chúng ta cùng nhau tu tập thiền tọa. Lưu ý, không nhắm mắt, chỉ khi nào quán tưởng mới nhắm mắt. Ngồi thiền, lưng thẳng, mắt mở ra một phần ba hoặc phân nửa, nhìn xuống về phía trước khoảng 7, 8 tấc hoặc 1 mét.
Chú ý vào hơi thở, thở vào hơi dài, rõ biết hơi thở dài; thở ra hơi thở dài, rõ biết hơi thở dài. Tiếp tục thở vào hơi ngắn, rõ biết hơi thở ngắn; thở ra hơi thở ngắn, rõ biết hơi thở ngắn. Đưa hơi thở luân chuyển vào thân vài ba hơi cho tâm lắng dịu.
Thở vào lắng dịu thân tâm,
Thở ra lắng dịu thân tâm,
Cảm nhận hơi thở,
Cảm nhận sâu sắc sự vận hành hơi thở trong thân.
*
Chú ý để thấy hơi thở động chuyển ở bụng, ngực và chót mũi,
Mở rộng cảm giác chỗ lồng ngực, lan tỏa ra hai vai, hai tay, hai chân, đầu, cảm giác toàn thân,
Thở vào cảm giác toàn thân,
Thở ra cảm giác toàn thân.
*
Tiếp tục cảm nhận hơi thở đi từ gót chân lên tới đỉnh đầu, hai vai, hai cùi chỏ, hai bàn tay, cảm nhận cảm giác toàn thân đang hiện diện.
Cảm nhận và rõ biết hai đầu gối chạm dưới nền đất, hai bàn chân chạm dưới nền đất có biết sự lạnh.
Từ nay về sau lấy cảm giác toàn thân làm nền tảng cho sự tu tập ở tất cả pháp môn.
Tuyệt đối không nhắm mắt, mở rộng tầm nhìn về phía trước, phía trên, bên phải, bên trái bao quát hết mức để cho cái thấy sáng tỏ. Ở đây, không phải trợn mắt nhìn, mà là mắt nhìn nhưng không trụ vào điểm nào hết. Đó gọi là chánh niệm trước mặt hay còn gọi là đặt niệm trước mặt như trong kinh Tứ niệm xứ đã chỉ dạy.
Như vậy, chánh niệm trước mặt, cảm giác toàn thân và tiến tới nội tâm tỉnh giác.
Hành giả luôn chú tâm nhận biết rõ sáng cái thấy trước mắt, cảm giác toàn thân, nội tâm tỉnh giác, nhớ ba pháp hành.
Chúng ta chú ý nhớ kỹ và thực tập thuần thục trong quá trình hành thiền. Vì khi thực tập pháp này thì lúc nào chúng ta cũng sẽ sống trong thực tại. Ví như, trước đây mình đi kinh hành thì giở chân mình chỉ biết giở chân, co tay mình chỉ biết đang co tay, cầm cái chung nước chỉ biết đang cầm chung nước. Từ cái biết cục bộ trước đây, nay mình nâng lên cái biết toàn diện, cảm giác, chánh niệm luôn đồng hành. Tạo nền tảng cho định trên thân. Đây là nền móng để xây dựng lâu đài về sau trên bước đường tu hành.
Những hình sắc, âm thanh xung quanh có xúc chạm tới mình thì mình cũng đã có trong sự cảm giác toàn thân, rõ biết trước mặt, nội tâm tỉnh giác làm kim chỉ nam. Cho nên nó khó mà chi phối mình, nếu chịu khó luyện tập thì mới được.
Không phải ngồi thiền mới nhận biết những gì đã nói ở trên, mà cả khi đi, đứng, nằm, ngồi, nói, nín, động, tĩnh cũng đều hành trì.
Trước giờ chúng ta thiền tọa dễ đi vào hôn trầm, biết là vậy nhưng lại khó điều trị tận gốc. Vì sao bị hôn trầm? Do nhắm mắt ngồi thiền, dễ khởi tưởng và vọng niệm vì cái thấy lúc này lờ mờ trong nhận biết nhợt nhạt. Do đó, mở mắt để phá cái lờ mờ, lưới tưởng bủa vây, vô minh dẫn lối. Mở mắt giúp chúng ta tỉnh táo, trừ khi pháp quán tưởng mới nhắm mắt.
Ngồi thiền nhiếp tâm theo hơi thở vô, hơi thở ra và thở vào thầm niệm A Di, thở ra thầm niệm Đà Phật cũng chưa đủ sức công phá cái vọng niệm lăng xăng đang chạy trong tâm mình. Do vậy, cần luôn nhận rõ hơi thở vận chuyển, nhớ kỹ ba pháp: Đặt niệm trước mặt, cảm giác toàn thân, nội tâm tỉnh giác.
Vì sao cảm giác toàn thân ? Là đưa tâm trở về thân, những gì đang xảy ra đều rõ biết về chúng.
Những gì đang đau, tê, cấn, nhức trong thực tập thiền tọa, chúng ta áp dụng ngay cảm giác toàn thân để gọi tên chúng đúng như sự thật. Khi ngồi lâu đau nhức sinh khởi cảm giác gì? Khó chịu. Vậy nó thuộc uẩn nào? Thọ uẩn. Trong thọ uẩn thì nó thuộc thọ uẩn gì? Khổ thọ (cảm thọ có ba loại: khổ thọ, lạc thọ, bất lạc thọ bất khổ thọ). Như vậy, cần tác ý rằng, sự đau nhức, mệt mỏi của thân này một chút đã khó chịu, bức bối, nó là đầu mối của khổ đau, phiền não. ‘Thân đau, chân đau nhưng tâm đâu có đau’ – Nói mạnh với nó như vậy. Đừng để vừa đau khi ngồi thiền đã vội bung chân ra mau, tức là ta không làm chủ được cảm thọ vận hành, chi phối.
Ngày nay không chịu khó khổ, hun đúc, trau dồi thì sau này đối diện với chuyện sanh tử, làm sao mình có thể làm chủ được cảm thọ. Muốn làm chủ cảm giác, phải biết cảm giác trước tiên.
2. Thực tập tọa thiền
Chúng ta sẽ gặp vô vàn gian khó, trong thực tập trên bước đường chuyển hóa. Mỗi ngày một chút, chiêm nghiệm và tháo gỡ, làm thường xuyên và liên tục rồi sẽ tuần tự từng nấc thang mà giác ngộ theo lời Phật dạy.
Huynh đệ cùng nhau chia sẻ những vướng mắc, cũng như thành tựu trong lúc công phu để chúng ta dìu nhau sách tấn, hành theo bước Như Lai.
- Trong khi kinh hành thiện niệm từng bước chân, nhưng có lúc nghe như bị ù tai hoặc vọng lại từ tiếng gì đó ở độ cao, không biết do con làm sai hay tự nhiên nó có, Sư phụ chỉ cho con được hiểu chỗ đó?
- Vấn đề mình bị ù tai có nhiều lý do, cần phải xét lại. Có khi cơ thể mình bị bệnh về lỗ tai hoặc ảnh hưởng những âm thanh gì bên ngoài hoặc là tưởng của mình đang phát huy. Vậy nên, cần làm:
Một là, xem lại sức khỏe, chăm sóc về tai;
Hai là, tu tập cần quay lại pháp môn mình đang hành trì, đừng có đi theo âm thanh bên ngoài. Chánh niệm tỉnh giác, trú tâm vào điều mà hành giả đang thực tập.
- Con xin trình bày sự quán chiếu của con. Con thỉnh thoảng ngồi niệm theo hơi thở, khoảng giữa đầu con thấy tâm mình lặng, nhưng khoảng thứ hai tâm mình có những làn at lăn tăn, một hồi lại lặn sâu vào cảnh hôn trầm. Ngay khi đó, con cảm thấy hơi thở trong người bị hụt hẫng. Con bạch trên Thầy chỉ dạy, để có kinh nghiệm trong sự thực tập quán chiếu hơi thở của mình?
- Mình ngồi thiền tuyệt đối không nhắm mắt và mình phải giữ ba pháp.
Thứ nhất, rõ biết trước mặt, mắt mình mở nhìn về phía trước, tầm nhìn mắt hai bên mở ra hết mức, không trụ một điểm nào trước mặt. Vì mình trụ một hồi là sinh ra tưởng, hiện thành hình này hình kia nên mình nhìn xuống về phía trước, mở rộng tầm mắt hết mức tỉnh thức. Đức Phật dạy từ trong kinh A-hàm là đặt niệm trước mặt hoặc trong Pàli, gọi là chánh niệm trước mặt.
Thứ hai, cảm giác toàn thân trong mười sáu hơi thở đức Phật dạy mình khi thở vào thở ra mình xem xét cho thật kỹ rồi dụng công hành trì. Ngồi xuống đặt niệm trước mặt, xem hơi thở động chuyển ở đâu, nhìn xem động chỗ nào trong thân thể mình. Bây giờ mình mở rộng cảm giác hơi thở ra toàn thân, mở bung cảm giác từ hơi thở mở ra, cảm nhận đầu, cảm nhận hai vai, cảm nhận hai tay, cảm nhận hai đầu gối, mông, rồi nhận biết rõ ràng từng cảm giác trong toàn thân.
Thứ ba, nội tâm tỉnh giác, rõ biết nội tâm mình tỉnh táo sáng suốt khi đang ngồi chánh niệm, tức là phối hợp cảm giác toàn thân và nội tâm tỉnh giác.
Giờ đây, huynh đệ chúng ta cùng nhau thực tập ngay đây và bây giờ. Lưu ý kỹ, tuyệt đối không nhắm mắt, mở rộng tầm nhìn ra hai bên, cái nhìn của mình rất sáng tỏ, rất rõ từng hơi thở động chuyển, cảm giác toàn thân, nội tâm tỉnh giác, nhận biết rõ. Vì khi hành giả nhắm mắt, tâm mình lờ mờ không sáng, lọt vào tưởng, đi vào trạng thái hôn trầm nên tuyệt đối không nhắm mắt.
Nếu mình chỉ chú trọng hơi thở thì tâm mình diễn biến trong phạm vi rất nhỏ hẹp, vi tế. Như vậy, có điều kiện soi tỏ rõ sáng cảm giác toàn thân. Lúc đó, cái biết của hành giả rất rộng, tầm nhìn phía trước mở ra hết mức, cái biết toàn thân mình rộng, nội tâm chúng ta tỉnh giác, dáng ngồi của mình như đỉnh đồng ba chân rất vững chắc, hôn trầm khó xâm nhập được.
Đó là ba pháp rất quan trọng trong khi ngồi thiền bất cứ lúc nào. Ngoài lúc ngồi thiền, dụng tâm chánh niệm trước mắt, cảm giác toàn thân, nội tâm tỉnh giác trong bất cứ hành động, cử chỉ,… đi đứng ngồi nằm mình đều chuyên chú vào ba pháp này thực tập. Có như vậy, khi đi thì bước đi của mình rất vững chắc, rõ biết việc đang làm, nhận rõ cảm giác và nội tâm rất rõ.
Lâu nay mình tọa thiền là nhắm mắt, niệm thở một hồi là tâm tưởng đi đâu không biết. Đó là đi vào tâm mê trong mờ tối, còn niệm lăn tăn mình tưởng yên nhưng tất cả việc diễn ra ấy đều là tưởng. Tưởng nhưng lại không rõ sáng chứ không phải là thực pháp. Khi nào tâm mình tỉnh giác, sáng tỏ, nhận biết rõ ràng lúc đó mới là thực pháp hiện thực. Còn ai đang có biểu hiện như vừa nêu thì cách ngồi như vậy là ngồi dưới cái mê. Trước, Minh Thành cũng vậy, gần đây ứng dụng mới thấy được nó thay đổi, có rất nhiều tiến bộ.
Chúng ta cùng lần bước trở về nghe lời dạy đức Từ phụ Thích-ca Mâu-ni từ trong kinh tạng Pàli, năm bộ Nikàya là tiêu biểu, là minh chứng hùng hồn cho lời dạy chân thật và thành tựu mà Thế Tôn đã tuyên bày cho hàng đệ tử từ ngàn xưa cho tới bây giờ. Những pháp bổ khuyết, phát triển về sau, nếu thấy có ích và phù hợp thì chúng ta thực hành, nếu không đem lại lợi lạc thật sự, rườm rà thì cũng nên để sang một bên, chú trọng pháp hành để tâm an định.
Chúng ta chú trọng vào câu niệm thì tâm mình nó nhỏ, chuyên chú một câu đó và sinh tưởng, thực tại mình không thấy. Ví dụ, lúc mình tập trung vào câu niệm Phật, có khi con gì đó đột nhiên xuất hiện rồi bò lên mình, nhưng ta vẫn không quan tâm, chẳng rõ biết có sự xuất hiện của con vật lạ đang tiến sâu vào mình hoặc đang gây chướng ngại, uy hiếp đến sinh mạng,… cần quay trở lại, rõ biết cảm giác toàn thân, đặt niệm trước mặt, quán sát hơi thở, biết rõ sự động chuyển trong thân. Đây là nền tảng, sau này mình bước lên tất cả pháp môn của đức Phật cũng từ nấc thang đầu tiên này. Vì cảm giác toàn thân nhằm giúp hành giả đem tâm quay về thân, nhận biết sự thật ngay giây phút hiện tại nó đang diễn ra trong thân và tâm của mình, bởi vì trong tâm mình có cảm giác gì mình không biết nó đang có suy tưởng nhưng mình không hay, mình chỉ biết cái ở ngoài cái này là chỗ mình phải suy xét sâu sắc.
Chúng ta thường hay nói với nhau rằng, phải nhiếp phục ba con rắn độc là tham sân si, chuyển hóa tham sân si. Vậy, xét thử xem ‘tham’ nằm ở đâu? Nếu mình không thấy, làm sao mình nhiếp phục cái tham sân si. Như vậy, vĩnh viễn mình không thể nhiếp phục được nó.
Tham, sân trong mình ví như lúc nóng giận mình thay đổi, vì lúc đó mình hiện hữu tham và nóng giận đều nằm trong cảm giác. Sự nóng bức ấy tỏa ra toàn thân. Đức Phật nói trong Tăng Chi Bộ Kinh, tất cả pháp hội tụ nơi cảm thọ nên mình nhìn thấy người đó họ tham ăn, họ gắp lia gắp lịa, họ nhai rộn rã, nuốt ào ào. Điều đó giúp ta nhận rõ là người đó đang tham. Mà người đó chỉ biểu hiện bên ngoài, còn thực sự ngay lúc đó cảm giác bên trong thúc đẩy biểu hiện ra tướng tham bên ngoài, nên mình muốn tu điều cần thiết nhất là phải nhận diện được năm uẩn.
Cần nhận diện rõ ba loại cảm giác:
Cảm giác khổ;
Cảm giác vui;
Cảm giác không khổ, không vui.
Sắc là thân tứ đại;
Trong thọ, có ba loại thọ lạc, thọ khổ và thọ bất khổ bất lạc;
Tưởng là những hình ảnh trong nội tâm của mình;
Hành là những lời nói thì thầm đi theo những hình bóng, đó là suy nghĩ.
Nói đơn giản, tưởng là hình bóng và hành là những lời nói lầm thầm đi theo hình bóng đó;
Thức là điều mình rõ biết được thọ tưởng hành đó, nhận diện được cảm giác, rõ biết được hình bóng và lời nói đó là thức.
Chúng ta cùng nhau thực tập nhận diện cảm thọ hiện giờ?
- Bạch Sư phụ, hiện tại con đang tê chân và mỏi lưng. Đó là khổ thọ và có chút xíu không khổ không vui là cảm giác cuối cùng; sắc là hình tướng bên ngoài con đang nhìn Sư phụ; hành là hiện tại đây con nghe tiếng Sư phụ và tiếng chim hót; nhắm mắt, con thấy hình sắc, cảnh, tất cả mọi người, có tiếng nhạc vọng lại vì mới vừa rồi khi đang đi đường con có nghe.
- Đó là thanh tưởng, những hình ảnh, âm thanh mình đã nghe.
- Huynh đệ có thích ăn sầu riêng hay không?
- Trong con lập tức xuất hiện cảm thọ không khổ không lạc, tưởng đến trái sầu riêng đó, hình ảnh từng thấy và đã từng ăn, hành là nói thầm thích ăn sầu riêng, thức là con nhận biết được thọ hành tưởng đó.
Như vậy, chúng ta liên tục nhìn vào cảm giác mình thì tham khởi lên mình sẽ thấy, không những mình thấy được hình ảnh mà còn thấy cảm giác và thấy nó được ở chỗ nào trong tâm mình. Đầu tiên mình phải thấy nó đang đến, sẽ có phương pháp Như lý tác ý và quán chiếu nhiếp phục chuyển hóa nó được. Ngược lại, không thấy, chẳng nhận rõ cảm giác nào đang hiện hữu trong thân và tâm này thì mãi mãi mình tu không có tiến.
Cho nên, cảm giác toàn thân rất quan trọng trong khi mình thực tập ngồi thiền. Hành thiền một khi đã thuần thục, lúc ra ngoài gặp những cảnh sắc,… chúng ta sẽ thực tập được như pháp hành. Từ cảm giác toàn thân, hành giả dần đi vào nhận diện được năm uẩn, từ đó mình mới thấy điều mà ta thường hay cho là ‘tôi’ là ‘ta’ là ‘mình’ lúc đó từ từ được tách ra nhẹ nhàng trong sự buông xả. Vì bản thân luôn thấy năm uẩn vận hành sinh siệt. Sở dĩ hành giả chưa thành tựu được trí quán vô ngã bởi thường nghĩ rằng mình là trọn vẹn, còn nhận diện năm uẩn thường trực sẽ có cảm nhận sắc, thọ, tưởng, hành, thức một cách sâu sắc, cụ thể. Sau đó, chúng ta sẽ tìm thấy được những phiền não bên trong vận hành, diễn biến như thế nào. Lúc đó, mình có những phương pháp nhiếp phục thì sự tu ấy sẽ có thành tựu rất đáng kể, hiệu quả ngay đây, đang là.
Do vậy, bước đầu hành giả thực hành ba pháp: Đặt niệm trước mặt, cảm giác toàn thân và nội tâm tỉnh giác trong khi ngồi thiền. Chúng ta thực hành, vượt qua những thói quen, rồi sẽ quen dần pháp hành này trong mọi sinh hoạt đời sống, song song đó dụng công hành trì cho được việc nhận diện năm uẩn.
Đức Phật từng tuyên bố trong kinh Tương Ưng Bộ rằng: “Ta không bao giờ tuyên bố ta thành tựu Chánh Đẳng Giác khi ta chưa thấu suốt trọn vẹn liễu tri, thắng tri, thức tri tận tường về ngũ thủ uẩn. Ta chỉ tuyên bố ta thành tựu Chánh Đẳng Giác khi ta thấu triệt hoàn toàn liễu tri, thắng tri, sắc, thọ tưởng, hành, thức”. Sắc thọ tưởng hành thức là thân và tâm của chính mình. Nó diễn ra liên tục, vô thường, mà mình không thấy, chỉ lo bên ngoài nên nội tâm đau khổ vẫn hoàn nguyên. Hãy thận trọng và thiết thực hành trì pháp mà Như Lai đã chỉ dạy, thành công sẽ đến với tất cả những ai hành trì đúng pháp.
Nếu tưởng, hành, suy tưởng là thiện pháp tương ưng với trí huệ, ly tham, nhàm chán, là vô thường tưởng, lúc đó mình phát huy nó. Như lý tác ý đúng thật về bản chất thiện pháp ấy. Ngược lại, trong ta đang tuôn chảy dòng tưởng về dục tầm, sân tầm, hại tầm, mờ mịt tăm tối, tật đố, hiềm hận v.v… Cần phải Như lý tác ý quở trách nó, đây là tưởng đưa đến khổ đau, dẫn tới sự ràng buộc, chìm nổi lặn hụp trong luân hồi sanh tử. Dứt khoát từ bỏ, diệt tận chúng để không cho chúng tái sanh nữa. Chặt chúng giống như chặt cây Sala, cây dừa, cây cau rồi từ từ mình đi tới chỗ giảm bớt lậu hoặc, thậm chí diệt tận hết tất cả lậu hoặc.
Ví dụ đơn giản để cho huynh đệ không thấy khó khi mình tu đúng pháp và tinh tấn nỗ lực. Một ngày nọ, trong nhà ta xuất hiện một con rắn, lúc đó mình phải làm sao? Dĩ nhiên, ta phải tự vệ, phải dè chừng và tìm cách xua cây đuổi con rắn lạ ra khỏi nơi trú xứ của mình. Hoặc mình nhìn thấy trong nhà có một đống rác hay đống phân dơ, mình phải hốt quét rồi chùi rửa, lau cho sạch. Sự tu hành cũng vậy, Sơ quả dự lưu là thấy được đống rác, thấy được căn cứ địa của phiền não phát sanh đó là sơ quả. Nhị quả là hốt đống rác đó đổ nhưng còn dính lại. Tam quả là chùi cái dính lại phía dưới cho sạch, khi sạch hết là thành tựu tứ quả A-la-hán.
Hành giả thường trực nhận diện năm uẩn, thấy được cảm giác. Vì cảm giác là chỗ trú của các phiền não. Tất cả pháp hội tụ nơi cảm thọ, nếu thường nhìn lại cảm giác, mỗi khi khởi tham, mình thấy nó động chuyển; tham dục khởi lên là cảm giác thay đổi; sân khởi lên là cảm giác nóng lên; si khởi lên là lờ đờ trì trệ uể oải. Chúng ta phải phấn chấn dùng Như lý tác ý cảnh tỉnh nó, dập tắt những độc cảnh đang xâm lấn thân tâm này sẽ có tịnh lạc. Minh Thành tu gần ba mươi năm mới phát hiện ra! Thật hoan hỷ và vô cùng xúc động chia sẻ cùng quyến thuộc bồ-đề, cốt nhục Linh Sơn.
3. Quán chiếu cảm giác
Chúng ta nhận diện cảm giác toàn thân, chúng ta tiến hành thường xuyên pháp này. Ngay đây ngồi niệm thở, ba nghiệp thanh tịnh, chuyên chú vào hơi thở vào ra nuôi sống mạng mạch. Thở ra làm cho thân tâm yên tịnh, thở vào làm cho thân tâm lắng dịu; thở ra lắng dịu thân tâm, thở vào thân tâm lắng dịu cảm nhận; nhận rõ cảm giác toàn thân; nội tâm tỉnh giác; rõ biết trước mắt, trở về sống trọn vẹn với hơi thở.
Chúng ta tiếp tục sinh trưởng dòng năng lượng được thở vào cảm nhận niềm vui, thở ra cảm nhận sự an lạc, thật là thanh tịnh trong giây phút này. Hơi thở bắt đầu nhẹ dần, cảm giác bắt đầu vơi đi, tâm bắt đầu rỗng rang, toàn thân đều được an tịnh, lắng dịu, thấm nhuần trong cảm giác hỷ lạc ngay giờ phút hiện tại. Vậy, hành giả tiếc gì mà không thể mỉm cười nhẹ? Hạnh phúc thay, chúng ta đã trút bỏ được những thế sự. Hạnh phúc thay, giờ này chúng ta đã buông xuống phiền toái của cuộc đời. Hạnh phúc thay, giờ này chúng ta xả hết tất cả hệ lụy, thật là vui sướng cho thân tâm rỗng lặng. Và như vậy, chúng ta đã lìa tất cả tham muốn về tài sắc, dục lạc của thế gian huyễn ảo. Ngay đây xuất hiện niềm hỷ lạc, hơi thở chuyển động với nụ cười trao tặng người và vật. Nó đang thấm nhuần từ đỉnh đầu xuống hai gò má, lan sang hai vai, tỏa xuống hai chân, đến tận bàn chân, truyền khắp châu thân. Thật là hạnh phúc thay, thật là vui sướng thay để cho niềm hỷ lạc lan tỏa từ mình truyền sang người bên cạnh, rộng khắp giảng đường, trùm quanh chùa Bửu Liên, tỏa rộng hết phường 25, truyền cảm xúc hạnh phúc êm dịu ấy tới nhà mình, tới người thương của mình, rộng cho đến toàn Thành phố Hồ Chí Minh, cho đến khắp đất nước, toàn thế giới, muộn vật từ người đến cỏ cây hoa lá, động vật bậc thấp, cho đến muôn loại chúng sanh hữu hình lẫn vô hình đều thấm nhuần dòng hỷ lạc đó. Hành giả mở tâm và mỉm cười chia sẻ vô biên trú xứ ấy bằng tâm vô ngã. Đẹp làm sao! Vi diệu làm sao! Đó là hành giả đang thực tập Hỷ vô lượng tâm.
Quán tưởng để vào định, Tứ vô lượng tâm đó gọi là Hỷ vô lượng tâm nếu mình tác ý mình làm theo là vào hỷ vô lượng tâm, người thuần thục có thể trú suốt ngày ‘mỉm cười’ an lạc với tất cả người và vật khi mình tiếp xúc, cảm nhận. Trong Phật pháp không có môn khổ vô lượng tâm, người phàm phu không học Phật pháp trở thành vô lượng khổ, thấm nhuần dìm dập sự sống của họ ở trong đó. Phật không dạy như vậy, nhưng chúng ta không khéo học, chẳng chịu hành trì đúng đắn từ lời dạy của Bậc Thầy siêu việt thế gian ấy mà chạy đuổi tìm cầu bên ngoài, thì khổ vẫn là khổ.
Quý vị nhớ ba pháp rõ biết trước mặt, cảm giác toàn thân, nội tâm tỉnh giác, điều này rất quan trọng. Nếu thực hành được, chúng ta đã có chìa khóa mở được kho tàng châu báu của chánh pháp.
Tuyệt đối không nhắm mắt, khi nào chứng A-la-hán quả mới nhắm mắt được. Mặc nhiên vọng tưởng, đừng để hôn trầm. Cảm nhận rõ biết trước mặt là tuyệt vời, nhưng mình không trú vào một điểm, vì sẽ làm cho con mắt mình mỏi, nhìn gà hóa cuốc, thấy nền nhà ra con gà, con vịt… Do an trú một điểm nên sinh tưởng. Chỉ nhìn chung, hết sức sáng tỏ, pháp tu của đức Phật là trí huệ, nên thấy biết phải nhận rõ thật bản chất của chúng, chẳng có lờ mờ. Nếu chỉ biết mơ màng, không rõ rệt điều gì thì cần mạnh dạn đánh đuổi nó ra khỏi tầm nhìn, ra khỏi thân và tâm.
Chẳng hạn, chúng ta đang làm ăn buôn bán mà không rõ vật bán mua là gì thì làm sao có lời, không khéo là sập tiệm. Anh A, chị B nào đó đang coi tiệm vàng hay bán hàng cao cấp mà lờ mờ giá cả lên xuống thị trường không kịp thời nắm bắt thông tin thì sẽ bị thất thoát tài sản. Chỉ có thật sự tỉnh táo, còn tu mà mù mịt không biết đi đâu về đâu thì xa lắm mới đến Đạo.
Chú ý khi ngồi thiền, tướng ngồi gục gật, nghiêng ngả là tướng của khổ, si mê, vô minh chứ không chánh niệm tỉnh giác. Cần nhớ kỹ:
Rõ biết trước mặt;
Cảm nhận cảm giác toàn thân.
Đầu tiên, theo hơi thở ra vào có dịu nhẹ, sáng suốt chưa? Chú ý ở hai mũi, nhìn kỹ thấy dao động chỗ lồng ngực, thấy bụng mình phồng xẹp. Đây là ba chỗ mình thấy rõ nhất khi hơi thở vào ra. Hành giả chú tâm vào hơi thở vô biết hơi thở vô, hơi thở ra biết hơi thở ra rõ như thật. Sau đó, hành giả mở rộng cảm giác ra khắp thân.
Từng phút giây, mình sống sáng rõ trong chánh niệm. Nếu chỉ có hơi thở hoặc chỉ có câu niệm Phật thì cái biết của mình rất nhỏ, còn những điều khác không biết không phải là pháp toàn thể, pháp này đức Phật dạy mình cảm giác toàn thân là cái biết của mình trở thành toàn diện.
- Tại sao đức Phật dạy mình cảm giác toàn thân? Mục đích của nó là gì? Tại sao mình phải làm như vậy?
- Mình là Phật tử, tu theo Phật nhằm nhiếp phục tham sân si, phải trị được dứt điểm ba tên rắn độc tham sân si luôn tìm cách nhập vào thân tâm, ẩn sâu nấp kỹ ấy, đó là mục đích của người tu.
Tham sân si nằm ở cảm giác. Nếu không biết được chỗ ở của phiền não, chỗ ở của tham sân si thì ta không thể nhiếp phục, trị nó được. Chẳng hạn, cầm quân đi đánh giặc, nhưng không biết giặc ở đâu thì làm sao đánh. Đi Đà Lạt mà không biết phương hướng, độ dài ngắn, phương tiện nào phù hợp cho chuyến đi, cần trang bị những gì trong hành trình,… thì làm sao tới được Đà Lạt. Cũng vậy, mình đi dẹp phiền não mà không biết phiền não ở đâu thì không thể xóa nó được. Hoặc như lờ mờ về tham sân si, không biết ở đâu thì phải làm sao? Tham sân si nằm trong cảm giác.
Luôn nhớ ba cảm giác lạc thọ, khổ thọ và bất khổ bất lạc thọ. Cảm thọ là cảm giác. Mình nói dễ hiểu cảm giác dễ chịu, cảm giác khó chịu và cảm giác không dễ chịu không khó chịu.
Thứ nhất, mình ngồi lại nhìn xuống xem mình có cảm giác gì đang hiện hữu. Nó là dễ chịu hay khó chịu hay không dễ chịu không khó chịu?
Thứ hai, xem coi tưởng uẩn có hình bóng gì trong tâm?
Thứ ba, coi có những lời nói thầm gì, tức là hành uẩn, những suy nghĩ. Nhắm mắt nhìn rõ, lắng tâm sâu, soi xét lại nội tâm của mình.
- Kính thưa Thầy và quý đại chúng, trong năm phút tỉnh giác vừa thực tập, con nhận biết sắc uẩn của con là con đang ngồi ở giảng đường; con đang hít thở một cảm giác thật an lạc; tưởng là con nhớ tới những người bạn thỉnh thoảng chủ nhật hay rủ nhau đi Thọ bát và đi tu niệm Phật một ngày, con nghĩ không biết giờ này họ đang làm gì?... Hành của con có một tiếng nói trong đầu ‘nếu như mình rủ bạn mình đến đây họ nghe Thầy giảng như vậy không biết họ có hiểu hay không? Vì tu như vậy chưa nghe bao giờ’; thức con biết con đang ở đây và hoan hỷ, nhận biết được sắc thọ tưởng hành thức.
- Con cảm thấy sự bình an đang lan tỏa khi con đang hiện hữu trong chùa Bửu Liên. Con rõ biết hơi thở từ mũi đến lồng ngực, buồng phổi cho đến bụng và ngược lại theo tuần hoàn. Con sẽ mang pháp hành này để hướng dẫn lại các con trong gia đình, con thấy được sự nhẹ nhàng thân tâm ngay đây trong pháp nhận diện hơi thở và quán tâm sâu sắc về ngũ uẩn. Điều hay này, con sẽ chia sẻ lại với người thân để cùng nhau thực tập.
Ngày xưa, đức Phật còn tại thế đã từng dạy cho các Thầy Tỳ-kheo phương pháp quán chiếu năm uẩn, điều này được lặp lại rất nhiều trong kinh tạng Pàli.
Khi thực tập cảm giác toàn thân thì mỗi hành giả là bác sĩ cho chính mình. Vì những bệnh mới bắt đầu manh nha, ta kịp thời phát hiện và dập tắt chúng bằng những toa thuốc, liều dùng và sử dụng nó một cách hiệu quả triệt để. Có nhiều người bị đau cột sống, đau lưng hay đau vai, nhưng thấy hơi đau nên bỏ qua, tới khi đau nặng mới chịu đi bác sĩ khám, lúc đó nhận diện sự đau ấy đã khá muộn, nó đã mọc mầm, bén rễ nên khó trị hoặc không thể chữa trị được nữa. Bây giờ mình thực tập cảm giác toàn thân, nó vừa biến đổi điều gì hơi khác trong cảm giác là mình phát giác được liền. Có như vậy mới điều trị kịp lúc và phối kết với bác sĩ điều trị cho mình dứt điểm căn nguyên bệnh tật kia. Đó là nói về cơ thể vật chất, thể chất.
Về mặt tinh thần, có rất nhiều điều lợi ích thiết thực. Người nào thường xuyên chú ý về cảm giác toàn thân sẽ dễ bảo vệ được hạnh phúc gia đình. Ngăn che sự sai phạm. Giữ đẹp được tình nghĩa của vợ chồng, gắn kết giữa bạn bè, đồng nghiệp khi mình làm việc. Chẳng hạn, có cảm giác khó chịu sanh khởi trong nội tâm, vì ông xã / bà xã đi làm về trễ, mọi khi năm giờ chiều là ông / bà về tới nhà, nay tám giờ tối mới thấy mặt ông / bà về. Trong khi đó, mình đang mệt, có cảm giác khó chịu, gặp đối tượng xuất hiện đúng lúc phát ra cảm giác khó chịu và bản thân khó dằn lòng nên đã phát ra những lời nói khó nghe, ánh nhìn không dễ chịu, thân tâm lăng xăng. Gặp chuyện đó, những người hằng ngày thực tập cảm giác toàn thân, quán chiếu cảm giác, hoán đổi vị trí mình với người thì sẽ có sự đề phòng lửa sân sắp phựt. Vậy là, quay trở lại tỉnh thức, làm chủ cảm xúc, cảm giác và đề phòng thận trọng. Ngày trước mình không để ý, nên dễ cáu gắt, sân si phát khởi khi gặp chuyện trái ý nghịch lòng, chẳng tìm rõ nguyên nhân họ về trễ, đi muộn… nên gia đình xào xáo, bất hòa làm thương tổn tâm hồn nhau. Nay, có hiểu rõ về cảm giác và suy cùng xét tận nguyên nhân từng sự việc, nên hạnh phúc được thắt chặt hơn, mối quan tâm nhau sẽ không là sự kiểm soát mà là sự sẻ chia, cảm thông, thương yêu thật lòng.
Cách chuyển hóa phiền não trong cảm giác được đức Phật dạy trong bài kinh Đoạn tận:
“Này các Tỷ-kheo, có ba cảm giác này tức là có ba thọ, cảm giác dễ chịu là lạc thọ cảm giác khó chịu là khổ thọ, cảm giác không dễ chịu không khó chịu. Này các Tỷ-kheo tham tùy miên đối với lạc thọ cần phải đoạn tận, sân tùy miên đối với khổ thọ cần phải đoạn tận, vô mình tùy miên đối với bất khổ bất lạc thọ cần phải đoạn tận”.
Thế nào gọi là tham tùy miên đối với lạc thọ? Một khi mình có một cảm giác thích thú, khoan khoái, vui sướng, dễ chịu thì đi theo cảm giác đó là gì? Ví dụ như trưa này nhà bếp đãi bảy món ăn, lúc đó mắt nhìn thấy đó là thọ do nhãn xúc sanh tức là cảm thọ cảm giác từ khi con mắt tiếp xúc phát sanh, cảm giác đó đi kèm, đây là căn cứ địa của phiền não. Tham không phải ăn cắp đồ hay yêu đương trai gái đó là tham của phàm phu, còn người tu trí huệ là biết lúc nào cảm giác thiện hoặc bất thiện có mặt và lúc nào chúng không có mặt trong nội tâm của mình.
Cho nên, ăn một món ngon, nghe một tiếng khen, đang ở ngoài trời nắng nóng 38 độ C hoặc có bước vào trong phòng máy lạnh 21 độ C,… Tất cả cảm giác dễ chịu, thích thú, khoan khoái, ngon miệng, mát mẻ đều có dục và tham đi theo, có mặt của tùy miên (tùy: là đi theo, miên: là miên man bất tận, gọi là tham tùy miên).
Trí huệ Phật mới thấy được tất cả diễn ra ngoài thân, trong tâm mình một cách rõ ràng. Nói như vậy để mình thấy có một cảm giác thích thú, dễ chịu, sung sướng ngay đó mình phải nhìn kỹ liền phát hiện thật tướng trong đó. Đây là con mắt tinh vi, trí huệ, mắt pháp bắt đầu thành tựu.
Ví dụ, gần đến mùa sầu riêng, sầu riêng trên núi rất đặc biệt, hoàn toàn tự nhiên múi sầu riêng này vừa thơm, vừa béo, vừa ngọt, vừa bổ, vừa bùi,… nghe nói như vậy, tâm cảm thọ của mình thì nó hoạt động liên tục. Tưởng hiển bày, trái sầu riêng hiện trong ý nghĩ mình về vẻ ngoài có một lớp gai bao phủ, màu sắc, hình dáng, ở bên trong có bao nhiêu múi, nghe hương vị, lỗ tai nghe mắt thấy,… Tâm mình hoạt động rất tinh vi. Hình ảnh trái sầu riêng là tưởng; nói lầm thầm ‘lần này mình lên Linh Quy Pháp Ấn’, đó là hành; khi mình ăn thấy hình mình ăn; lúc đó thọ mình thấy thơm béo rồi chảy nước miếng chứ không phải tự nhiên chảy nước miếng; mà thọ tưởng hành thức vận hành rõ biết có hình ảnh trái sầu riêng, vọng lại lời nói, có ăn cảm giác đó, thức rõ biết về điều đó. Hoặc như nói tới trái me hay món ăn khác cũng vậy. Những cảm giác dễ chịu khoan khoái thì cái tham đi theo, nếu mình không có chánh niệm.
Đức Phật nói: “Này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu, không nghe được chánh pháp thì khi có một cảm giác vui sướng giống như đang bị trói buộc, khi có một cảm giác khó chịu, khổ giống như đang bị trói buộc, khi có một cảm giác không khó chịu không dễ chịu cũng giống như đang bị trói buộc.”. Vô văn phàm phu tức là kẻ phàm phu không nghe chánh pháp, mình nghe đúng chánh pháp mới phá được tham sân si. Chánh pháp ở đây phải đoạn tận được tham sân si phá được phiền não.
Điều đó cũng ví như chúng ta từng nếm qua món ăn hoặc mình đã từng có những cảm giác khó chịu hay người nào đó, một sự vật, sự việc nào đó. Cho nên, mỗi khi trong tâm mình muốn trở lại cảm giác đó, mình thấy cái muốn không được là khổ, ta bị trói buộc vào cảm giác ấy. Người thích ăn ớt thì đến mâm cơm, bàn tiệc là để ý đến trái ớt đầu tiên. Dù thật nhiều món ngon nhưng không có trái ớt là có cảm giác ăn không ngon, cảm giác mình bị trói cột. Nam nữ yêu thương nhau say đắm là đang bị xích vào trong cảm giác của tham dục chi phối. Có trường hợp, đăng hình lên Facebook và xảy ra án mạng. Do đăng hình bạn gái cũ. Tất cả chỉ là cảm giác si mê làm ta đau khổ dài, bất tận trong đời sống ngắn ngủi này. Mình vẫn tiếp tục khổ đau vì cảm giác, nếu mình không biết tu tập theo chánh pháp. Chúng ta không thấy, tại vì nó bị tham dục trong cảm giác, bị bản ngã muốn chiếm người đó, muốn chiếm cảm giác duy nhất đó của người đó mà không biết rằng không có gì là ‘tôi’, không có gì là ‘của tôi’. Cảm giác đó là vô thường, thân này là vô thường, tất cả sự yêu thích, hờn mát, giận hờn đều biến đổi. Do mình không biết được sự biến đổi đó, mình muốn chiếm hữu, muốn duy nhất một mình mình có, từ chỗ đó làm mình khổ đau, nếu mình không biết tu tập.
Nếu làm chủ cảm giác, hành giả sẽ biết tiết chế, hiểu nên và không nên làm gì khi gặp phải vui – buồn trong đời sống cũng như sinh hoạt và tu tập với bản thân, bạn bè, đồng nghiệp, người thân, đạo hữu… Những gì mình thấy không thể làm với mình thì cũng đừng nên làm cho người khác gặp sự khó chịu, bức ngặt ấy.
Ví như, mình đi ngoài nắng ba mươi tám độ C có cảm giác khó chịu, cảm giác đó là bình thường nhưng trong cảm giác khó chịu ấy mình cộng với cái bực bội, thì bực bội đó mới là cái xấu, sanh khởi sân. Nếu như mình gặp trường hợp khó chịu nóng hay lạnh, cảm giác đó là bình thường, biết rằng cảm giác khó chịu vì nắng nóng, cảm giác khó chịu vì lạnh là đủ, thì không có sanh khởi buồn – vui từ cái nghĩ của mình. Ngược lại, cảm giác at đi qua cảm giác của tâm, phát sinh tâm phân biệt.
Hai loại cảm giác: Cảm giác của thân và cảm giác của tâm, từ cảm giác khó chịu của thân nó đẩy qua cảm giác khó chịu của tâm, sanh ra bực bội đó là sân. Không chịu khó tu tập sẽ luôn có cảm giác khó chịu, sân nó đi theo khi gặp một hoàn cảnh bất như ý. Đức Phật gọi là sân tùy miên, bực bội sẽ đi theo miên viễn trong cảm giác khó chịu nếu mình không biết tu.
Bây giờ làm sao mình chuyển hóa cảm giác phiền não?
Ví dụ, bây giờ khởi sự bực tức, mình nói Như lý tác ý (suy xét đúng chánh pháp, xét đúng sự thật), những lời nói đúng chánh pháp suy xét, nói với tâm rằng ‘bộ giận sướng lắm hả con, giận sướng lắm hả mày? Có biết cái giận này dẫn đi tới đâu không?’… Tất cả tham sân si là một pháp, mình phải đối thoại với nó, nhìn thẳng vào mặt nó, nóng trong lồng ngực mình, để cái tâm vô ngay chỗ nóng nói chuyện với nó, vì nó là một pháp. Tiếp theo là quán chiếu sự nguy hiểm của cơn giận, rồi mình xem cơn giận này đưa tới đâu, đưa tới vợ chồng không nhìn mặt nhau, khó chịu với nhau, rạn nứt tình cảm, ly thân thậm chí ly dị có khi đi tới chỗ giết nhau. Ngay thời đức Phật đã có trường hợp đó. Sự sân hận đó đã gắn chặt với nhau, đều từ cảm giác sân, nguy hiểm của cảm giác sân hận đưa mình tới chỗ khổ của mình và người. Chấm dứt càng sớm càng tốt, đẩy cảm giác sân ra rồi đóng cửa lại không cho vào nhà, trừ bỏ, diệt tận, không chấp nhận nó, bứng gốc rễ để không sân si sanh khởi trong nội tâm mình nữa. Diệu dụng của Như lý tác ý là ở chỗ này!
Đức Phật dạy trong kinh Nikàya đây là pháp lệnh, lúc mình nói như vậy mình đối thoại nó, bắt đầu mình trị nó. Nếu mà tâm lực mạnh thì những bất thiện pháp bắt đầu lắng và tan rã. Chỗ nào trong thân đang nóng mình hướng tâm ngay chỗ đó mình nói. Sau đó, dùng từ bi quán, nói ‘người ta không hiểu đạo, tha thứ cho người ta đi, chấp nhứt làm gì! Tu để cho dễ thương, người ta sân si không hiểu đạo, mình cũng giống như vậy thì có khác gì người ta đâu? Tha thứ đi nhé! Mở rộng tình thương đi!’. Mình nói dỗ ngọt nó nhưng tùy lúc, khi thì uy lực như nắm đấm, lúc tha thiết như mẹ vỗ về con thơ, tất cả bằng lòng chân thành thì mới hiệu nghiệm. Liệu pháp vừa đấm vừa xoa trị tâm bệnh. Như vậy mới gọi là trí huệ, trí giác.
4. Hiệu quả cảm giác toàn thân
Khi chúng ta hít vào là biết đang thở vào, thở ra biết đang thở ra; thở vào làm cho thân tâm của mình được yên tịnh, thở ra làm cho thân tâm mình được nhẹ nhàng và lắng dịu.
Hành giả cảm nhận hơi thở của chính mình trong giây phút hiện tại, cảm nhận hơi thở đang chuyển động ở nơi mũi, hơi thở vào ra ở nơi mũi, cảm nhận sự vào ra của hơi thở.
Tiếp theo, cảm nhận sự động chuyển ở lồng ngực khi hơi thở vào ra, cảm nhận sự chuyển động của hơi thở ở ngay nơi bụng phồng xẹp.
Sau đó, mở rộng cảm nhận hơi thở đi khắp cơ thể, cảm giác được toàn thân. Bắt đầu cảm giác hơi thở từ đỉnh đầu, mặt, rồi dần xuống hai vai, hay tay, cho đến cảm giác hơi thở đi tới mông, đôi chân, rồi trọn vẹn tới hai bàn chân, từng ngón chân. Tỉnh thức trong cảm giác biến đổi, di chuyển trong toàn thân. Chúng ta nhận rõ sự thanh lọc và lắng dịu dần những cảm xúc, thấy biết, nội tâm êm dịu, an tịnh theo hơi thở điều hòa. Ngay giờ phút này đem tâm trở về tâm.
Hành giả mở mắt nhìn xuống về phía trước bằng một tầm tay, mở rộng tầm nhìn ra hai bên toàn diện, rõ biết trước mặt, nhìn rõ sáng tỏ, mỗi hơi thở vào và ra thật nhịp nhàng, điều hòa, không cố tình làm hơi thở khác đi, chẳng ngắn hơn hoặc dài hơn, đừng gò ép, câu thúc, để hơi thở tự nhiên và ta quan sát thật rõ về chúng. Khi thân và tâm đã bắt đầu đi vào sự an tịnh, dễ chịu, hành giả tập nở nụ cười tươi trên đôi môi, gương mặt, ánh nhìn từ ái bao la với muôn vật và người cho tới muôn loại chúng sanh trong khắp pháp giới.
Hiệu quả của cảm giác toàn thân trước mắt và hiện tại đang hạnh phúc ngập tràn, vì mình đã buông xuống tất cả những thói quen của phàm tình, tập làm người thiện lành, mở tâm bồ-đề. Đó là tha thứ, thương yêu, sống trọn vẹn với phút giây đang là. Sự vận hành của thân và tâm, mình đều rõ biết, nhận diện thấu suốt bản chất của chúng.
Hãy nhìn xem mấy bụi trúc ở ngoài đang đón theo con gió nhẹ lay vẫy chào chúng ta, tiếng phong linh rộn ràng chào đón hành giả, tất cả núi đồi này đang dang tay đón người con Phật, khách hành hương, và trong từng chiếc lá, mỗi cánh hoa đều chan chứa yêu thương, dâng tặng. Sự sống diệu kỳ, thiên nhiên tuyệt vời. Vậy là ta có cùng hướng tâm tuyệt vời như thiên nhiên đã làm với mình?
Hãy trở về với tâm, thật sự cảm nhận trong giây phút này. Khổ hiện diện, vì mình sống ngập tràn suy tư, lo lắng, tính toán, tâm mình không trống trải, chẳng trong lành, có khi quên mất sự tuyệt vời của hiện hữu. Điều quan trọng nhất là chúng ta đã không cảm nhận nhiều người ta thương, những điều tốt đẹp đang phủ tràn trước mặt, mình chưa đem nó vào tâm, chưa tẩm ướp những hương vị đẹp của cuộc sống vào tâm, chẳng mở lòng từ ái, bao dung ra hết thảy sẽ khó có những cảm giác thanh lắng yên định. Đó là một sự thiếu sót rất lớn, mình bị những thói quen thị phi, phân biệt, hơn thua… lấn át, nên gặp nhau cứ nói toàn chuyện của người, chê khen và không hài lòng. Cho nên, phiền não cứ như cuộn gió gào làm cho tâm chẳng phút giây được thảnh thơi thật sự, huống nữa là được trọn vẹn. Từ đó dẫn đến sự rạn vỡ tình thương yêu thiêng liêng trong thân tộc, hiểu lầm trong tình nghĩa vợ chồng, tình làng nghĩa sớm bị phai nhạt,… chỉ vì những hiểu lầm, những bức xúc nhất thời thiếu cảm giác toàn than, không nhận diện được tam độc, chẳng thấy vô minh nhấn chìm ta. Nó nguy hại vô cùng, hành giả hãy cẩn thận, thật thận trọng trong việc nhận diện để điều phục thân tâm, làm chủ cảm xúc mới không bị mất những điều cao đẹp, quý mến, thương yêu giữa mình với người, giữa mình với vật, giữa mình với cảnh và ngược lại.
Chúng ta đã cùng nhau trở về ngôi chùa, mỗi người đều rót vào nhau suối nguồn của năng lượng tỉnh thức và yêu thương. Mái nhà Tăng-già đẹp đẽ, cao thượng, tỏa ra từ tinh thần lục hòa, sợi dây Linh Sơn cốt nhục, quyến thuộc Bồ-đề nuôi dưỡng chúng ta ngày một thêm lớn hơn, trưởng thành hơn trên bước đường tu tập giải thoát.
Cần thường xuyên trau dồi việc nhìn lại ngũ uẩn này để khai mở mạch nguồn của sự tỉnh thức, phát khởi trí huệ, dung chứa tình thương của từ bi, của sự cảm thông, thấu hiểu, bao dung, độ lượng nhất là với những người ân tình ân nghĩa với mình.
Từ Tam bảo, mình đã nhận được chiếc chìa khóa vàng, kim cương trân quý đó để mở ra kho tàng bí mật của hạnh phúc, giải thoát khổ đau. Sự an lạc trong tầm tay mà chưa chịu làm, chẳng tiến tới nắm bắt, cứ trông chờ, ỷ lại, mơ tưởng thì chẳng có an lạc thật sự. Chúng ta hãy ‘tự thắp đuốc lên mà đi!’.
Do ta cứ mong cầu tìm mãi nên cứ khó khổ trập trùng, tự mình làm gập ghềnh con đường đi, chính mình làm cho sự tự tại bị thu hẹp, lòng tham làm nhọc mệt đến tận cùng vẫn chưa chịu buông.
Mỗi người tự thân đều có viên kim cương trong ngôi nhà tâm linh của chính bản thân, nhưng vì vọng tưởng phóng tâm ra bên ngoài nên lâu dần quên mất tự tánh mình. Điều này được thấy rõ hình ảnh gã cùng tử bỏ quên viên kim cương trong túi áo, qua bản kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Những giây phút lắng dịu mình sẽ thấy từng chiếc lá xanh, mỗi khóm trúc vàng, những viên sỏi bên đường hay cành trà đung đưa những giọt sương buổi sớm mai… đều là những đại tác phẩm mỹ thuật của tự nhiên.
Trong tâm luôn tỉnh thức chánh niệm, phải cảm giác được toàn thân, nghe rõ sự hạnh phúc đang có mặt khi mình có một thân thể lành lặn và tốt đẹp. Còn rất nhiều người không thể có tấm thân trọn vẹn, bị tật nguyền, xấu xí và bệnh hoạn. Khi chúng ta cảm giác được toàn thân sẽ thương hơn thân này, không thể làm thân này khổ, chẳng muốn bắt nó liên tục vận hành mà không bảo dưỡng. Sử dụng thân theo chiều hướng tích cực và thông minh, làm những điều có ý nghĩa, lợi ích, đúng cách, bắt nó phải phụng sự, phục vụ, nhất là với những người đại ân đại nghĩa như cha mẹ, anh chị em, vợ chồng con cái,… Ta phải làm chủ thân này, không được nô lệ nó bởi sự đòi hỏi và mong cầu không cùng tận của nó.
Sự nguy hiểm của nóng giận, tham, si đã dẫn đến rất nhiều hậu quả nghiêm trọng. Hàng ngày, chúng ta vẫn nghe qua báo đài tin tức đầy dẫy tai nạn từ chủ quan dến khách quan, những buồn giận, tỵ hiềm, đánh nhau đến nỗi phải li tán, chết chóc cũng do sự đố kỵ, lòng tham, không có cái nhìn dễ thương, chẳng chịu mở tâm. Khi nguôi cơn giận, tất cả qua đi, chỉ còn lại là nỗi đau. Cho nên, đức Phật dạy mọi người sống tỉnh thức, để thấy được sự nguy hiểm của nó. Chúng ta kịp thời nhiếp phục chúng khi nó mới vừa manh nha, sinh khởi.
Không ai muốn bệnh, nhưng khi than có chỗ đau yếu, suy kiệt thì nó bệnh. Ngồi đó than thở rên đau cũng không hết bệnh, chỉ có uống thuốc, ngồi dậy tập thể dục, vận động cơ thể điều hòa lại, thả lỏng toàn thân, ngồi thiền hít thở, đừng quá lo lắng và bị ảnh hưởng từ tâm, chỉ có như vậy mới phát huy tâm lực của mình mạnh lên, nó sẽ làm chủ được thân, tâm yếu cũng trở thành bệnh như thường. Do vậy, cảm giác toàn thân rất quan trọng.
Thường xuyên quay lại nội tâm phán xét lỗi mình. Tập nở nụ cười với người và vật.
Ví dụ, mình đi làm từ sáng đến chiều tối, thấy mệt bực trong công ty đủ thứ chuyện, lúc đó bốn năm bảy cảm giác dồn vào một lúc, bốn phương tám hướng bát diện mai phục, thập phương du kích đánh một trận, lúc này mình không tỉnh là chết liền. Cho nên, cái tu này đức Phật gọi là thể nhập bất tử. Ai tu được cái này là không còn chết, đạt tới cảnh giới Niết-bàn. Ngược lại, mình bị sanh tử luân hồi không biết ngày nào thoát ra.
Nhận rõ được cảm giác của mình đang khó chịu, phải tự nhắc cẩn thận phút giây cảnh giác, nhờ đề phòng cẩn trọng nên không xảy ra những điều đáng tiếc, đó là mầu nhiệm của sự tu.
Ví dụ, cảm giác ngủ nướng rất sung sướng, cách đây hai chục năm có chú tiểu lúc đó mười một giờ thức dậy khóc. Minh Thành hỏi tại sao mới ngủ dậy đã khóc? Chú nói hôm nay là ngày thi, mà ngủ quên sẽ ở lại nguyên một năm. Có những việc rất quan trọng, vì một điều nhỏ này mà chỉ vì cảm giác sung sướng một chút làm hư hết đại sự.
Hoặc như chuyến lên núi này lẽ ra sẽ ‘lượm được cục vàng’ nhưng tới giờ mọi người đã xuất phát, còn riêng mình thì ngủ nướng và quên lịch trình nên bị mất ‘cục vàng’, bỏ qua cơ hội thính pháp, học pháp và hành pháp.
Lại nữa, trong chúng ta đang có vấn đề bị trói cột tạo thành nội kết bên trong tâm. Nếu đi coi bói toán cũng không giải quyết được, tâm sự với bạn cũng chẳng giải quyết được, mà nói với ba mẹ không thể nói nên lời. Thế rồi, vào trong chùa thắp nhang cầu nguyện nhưng cũng mơ màng, bất an. Chỉ còn cách là đến gặp Thầy tâm sự để nghe chỉ cách giải những gút thắt tâm tư. Nhưng do bạn bè rủ rê đi Thái Lan chơi, mê tìm cảm giác nên nội kết còn nguyên, mê cảm giác.
Mình nhìn thấy toàn cảm giác, từ đó điều chỉnh cho phù hợp và chuyển hóa nó từ xấu thành tốt, từ mê sang ngộ, thường xuyên như vậy thì mới có ngày thành tựu. Chúng ta trở thành người Phật tử chân chính, thuần hành, gia đình êm ấm, trong ngoài bình an, con hiền dâu thảo, công việc hành trì, hiếu lễ đúng nghĩa đạo làm làm người và tu hành miên mật thì đưa đến bờ giải thoát là điều có thật.
Cho nên, mình phải cẩn thận với cảm giác. Cảm giác vui sướng cần dè dặt và chánh niệm, cảm giác khổ đau phải đề phòng, cảm giác khổ quá mình chết cho xong đó là mờ tối. Ví dụ, nhiều người gặp phải chuyện tình cảm buồn giận, mất mát thì tự xét lại sẽ thấy rõ mất cái này có cái khác. Lúc mình chưa quen người đó mình không đau khổ, đến khi quen nhau mới có sáu tháng thì lại nói là ‘không có anh là em chết’ hoặc ngược lại.
Do chúng ta sống trong ảo giác, tưởng tượng nhiều quá! Bị cảm giác đó trói buộc, nếu như mình nghĩ ngày xưa mình chưa quen thì vẫn sống, bây giờ không quen nữa thì thôi, quen người khác, có gì đâu mà tự tử. Nếu thực tập cảm giác toàn thân, làm chủ chính mình, điều phục cảm giác, chế ngự sự tham muốn thì trên thế giới không bao giờ nghe tin thất tình tự tử, cũng như nhiều điều đau khổ khác dẫn đến… Chẳng hạn, những mối bất hòa từ cha mẹ, anh chị em, đồng nghiệp, nơi công sở, những mối quan hệ trong xã hội,… Thật vậy, phải để ý cảm giác của mình và người đối diện để tự điều chỉnh lại cho hài hòa trong cung cách đối đãi với nhau trong có lý vẹn tình.
Phật dạy, rải tâm từ để giải tỏa tâm sân, Ngài được gọi là Vô Thượng Y Vương, tức là một vị Thầy thuốc siêu việt trên thế giới này không có ai so sánh được. Bệnh nào Phật cũng đều có thuốc trị được hết. Tâm nóng giận, bực bội thì Phật dạy đem tâm thương để chuyển hóa tâm nóng giận này. Đầu tiên là thương mình, sau đó là thương đến người khác. Thương đến người tôn kính, dễ mến, người gần gũi, quyến thuộc cho đến người xa xôi, sau cùng là đến người không dễ thương, người với mình thù nhau cũng tập khởi tình thương mến. Khó, nhưng tập rồi sẽ thành. Còn giận thì còn đau khổ.
Chính hành giả là nạn nhân của cơn giận, ta đã từng bị nó hành hạ bao lâu nay, người kia cũng giống mình đều là tai nạn với cơn giận. Tại sao mình không giận cơn giận, chỗ này là trí huệ sâu xa của Phật, Bồ-tát dạy mình. Ví dụ, có người cầm cây đánh mình, mình giận người, như vậy giận đó là tâm sân giận chứ không phải ta giận. Mà giận người đó giống như mình giận cái cây của người đó, nó chỉ là công cụ của tâm sân.
Có người ngủ mê man hay bị bất tỉnh gây mê, thân xác lúc này không hoạt động, chẳng còn cảm giác, tâm bên trong điều khiển thân chỉ là công cụ. Tâm sân nóng giận bên trong làm cho mình ghét, nếu người đó không có tâm nóng giận mình không có ghét. Nếu người đó thương mình thì mình thương lại. Như vậy, chúng ta muốn ghét là ghét, tâm nóng giận đừng có ghét người đó. Vì người đó là tai nạn của cơn nóng giận. Khi ta giận lên cũng là tai nạn của nóng giận. Giận làm gương mặt khó coi, các dây thần kinh căng cứng, mất kiểm soát hậu quả khôn lường. Một khi nhận rõ vấn đề thì mọi việc đã xong, có hối hận thì đã muộn màng. Quán chiếu cảm giác, quán chiếu cơn giận để làm chủ được mình.
Hành giả thiền định sẽ thấy rõ sự vận hành cảm giác toàn thân. Buồn vui khởi lên phải nhận diện ngay. Bất thiện pháp hiện hữu là chặt dứt, nhổ tận gốc rễ ngay. Còn thiện pháp sinh thì quán xét khởi lên tâm từ nhiều hơn, nhưng đừng bám chặt, nắm níu, hãy như người giữ cửa.
Buồn vừa lên, mình hỏi ‘mày thích buồn lắm phải không? Buồn được cái gì? Tại sao buồn? Nó chỉ đưa ta vào trạng thái và hành động vô nghĩa. Hãy mạnh mẽ lên’.
Buồn là chứng bệnh của nội tâm, mình phải ý thức được nó, chỉ mặt kêu tên, thấy rõ bản chất của nó, vì sơ suất là bị nó làm cho mình chết dần chết mòn dòng năng lượng, nhiệt huyết, hưng phấn, sáng tạo… mà chỉ còn lờ mờ, thụ động, tiêu cực, mất hết khả năng vốn có mạnh mẽ. Nhanh chóng lạy Phật, tụng kinh, nghe pháp, làm từ thiện hoặc bước ra ngoài quét sân, nhổ cỏ, trồng cây, hoặc quét dọn lau chùi nhà cửa cho gọn con mắt, đẹp đẽ thơm tho… Những việc tay chân ấy sẽ làm quên cơn buồn và hành động tinh tấn đến với việc nghe pháp, thực hành pháp qua việc lạy Phật, tụng kinh, bái sám sẽ chặt đứt cội rễ si ám ta trong cơn buồn thăm thẳm của vô minh.
Cho nên, cái buồn này thiêu đốt thời gian, tuổi tác, kiếp người… Con người không chắc chắn sống tám mươi tuổi hay trăm tuổi, nên dẹp nó đi không chơi với nó nữa, tinh tấn mạnh mẽ lên đại hùng đại lực đại từ bi, để mình sống có ý nghĩa, lợi ích hãy đem cái tâm này làm chiếc thuyền đưa mình qua tới bờ bên kia hạnh phúc, an lạc, thiện pháp công đức giúp cho tất cả mọi người đều được niềm vui, hạnh phúc, tự tại thì cuộc sống này có ý nghĩa thiết thực biết bao nhiêu!
Giá trị tu học rất quý, chúng ta đừng nghĩ tưởng rằng mình làm có tiền nhiều, nhà cửa to đẹp là hạnh phúc. Nó chỉ đơn thuần về phần vật chất, mà vật chất không phải là tất cả, có nhiều người ở trên đống tiền, đống vàng mà vẫn khổ đau. Vừa rồi, tai nạn hàng không bên Mỹ, động cơ máy bay va vào vỡ kính và cô này bị hút nửa người ra ngoài. Rất nhiều người nắm kéo, máy bay hạ xuống đưa cô đi cấp cứu mà không kịp. Cô đã qua đời. Cô này là Phó Giám đốc Ngân hàng. Hoặc như những vị có chức quyền, danh phận, giàu sụ nhưng vẫn phải bị khổ nạn khi sa chân lầm lỡ điều chi đó, ngồi tù, hoặc phải lo âu trong việc tranh quyền chức vị, sợ người giàu hơn… Đó là khổ trên giàu sang và quyền thế.
Không phải vật chất quyết định tất cả, khi có phước mình mới có được cái này, do đó cần cố gắng để tâm nghĩ điều tốt, miệng nói lời tốt, thân làm việc tốt. Sau đó, mình chia phước đó cho mọi người. Việc làm đó chỉ giúp mình trồng thêm phước báu, cũng như mình chưa ăn hết cây này đã có cây mới, chưa ăn hết cây mới lại có cây mới. Cứ như vậy, phước báu sinh sôi, do tâm mình rộng mở, lòng mình khoan dung, biết nghĩ đến mọi người, biết làm chủ cảm xúc.
Mỗi chúng ta luôn cần tỉnh thức trước vô thường, tỉnh thức cho sâu sắc hạnh phúc không phải vật chất mà còn có tâm linh quyết định. Ở đây, tâm linh không phải vào chùa lạy Phật rồi cầu xin và được cái này cái kia, đó là mê tín. Mà tâm linh là Phật chỉ cho mình phương pháp để dụng công hành trì. Phương pháp quan trọng nhất của đạo Phật là nhìn lại thân tâm của mình, xét lại tự tâm của mình. Phật không cho La-hầu-la thành Phật được, Phật không có hoàng hậu Ma-ha-Ba-xà-ba-đề thành Phật được mà phải xuất gia tu hành mới thành tựu. Như vậy, mình lạy Phật, cảm ơn Phật mà không biết Phật dạy cái gì thì điều đó rất trái với lời dạy của Thế Tôn.
Ngay bây giờ, chúng ta cùng ngồi thẳng lưng, thả lỏng toàn thân và thực tập quán niệm hơi thở, rõ biết cảm giác toàn thân, nhận diện sâu sắc trước mặt.
Tỉnh táo bên trong nội tâm để nhìn thấy những biến động trong cơ thể của mình. Trong lúc cảm thọ vui sướng, cần đề phòng; cảm giác khó chịu thì cẩn thận; lúc bình thường mình cũng nên luôn tỉnh táo sáng suốt, đừng để cảm giác nhận chìm. Tâm phải làm chủ thân, mình phải làm chủ cảm xúc, điều phục, chế ngự nó để ra ngoài khổ đau.
Phải tập nhìn đến người khác, nhất là cha mẹ, ông bà, vợ chồng, con cái, anh chị em, bà con, cho đến những người bạn, đồng sự, đồng nghiệp. Phải biết cảm nhận sự cảm nhận của người khác, đừng chỉ biết cảm nhận của mình mà quên đi cảm nhận của người khác. Mình luôn luôn hướng tới điều thiện lành, niềm vui, tích cực, vứt bỏ những tư tưởng bi quan, tiêu cực, buồn chán để đóng góp cho cuộc đời này điều hữu dụng. Chúng ta sống một cuộc đời có giá trị, ý nghĩa, tức là mình sống một ngày là một ngày có giá trị, sống một tuần là một tuần có ý nghĩa, sự có mặt của mình là đem lại lợi ích cho nhiều người, sự có mặt của mình là đem lại ánh sáng, niềm tin, tình thương cho cộng đồng, xã hội, thế gian này. Có như vậy mới tạm gọi là chân bước tới đâu thì sen Tháp Mười nở dưới chân tới đó, chỗ nào có mình thì chỗ đó sen đều nở. Thật là lành thay!
Chương 2:
SOI LẠI NĂM UẨN
Pháp hành năm uẩn
Chúng ta mang tâm hướng ngoại rất nhiều, từ chánh pháp đức Phật gọi trong Kinh tạng Pàli là diệu pháp hoảng loạn. Cho nên, pháp hành để thực tập thành tựu thánh đạo thánh quả bây giờ là một điều người ta nghe rất làm lạ, nên giá trị của chánh pháp chỉ có những người thật tâm muốn cầu giác ngộ giải thoát, chấm dứt luân hồi mới biết hết được giá trị của nó.
Chúng ta cùng nhau trao đổi sâu sắc về pháp hành năm uẩn để thấy sự vận hành của thân tâm này từ vi tế đến thô.
- Trong năm pháp hành thì ‘sắc’ và ‘thọ’ dễ nhận diện, nhưng ‘tưởng’ nhận diện không ra, con không hiểu thế nào là ‘tưởng’? Xin Thầy chỉ dạy.
- ‘Tưởng’ là những hình bóng thô, tế trong nội tâm hành giả. Khi mình ngồi thiền nhắm mắt lại mình sẽ dễ thấy những hình bóng đã qua, đã từng biết. Chẳng hạn, ngồi một lát bắt đầu vọng niệm khởi lên nhớ về cha, hình ảnh cha mình hiện ra; mình nhớ mẹ, hình dáng mẹ hiện ra; mình nhớ người bạn ngày xưa mình chưa đi xuất gia, hình ảnh người bạn đó hiện ra… những hình bóng đó là ‘tưởng’. Hình sắc từ thô đến tế hiển bày trong nội tâm của mình gọi là ‘tưởng’.
- Lúc ngồi, con nhận diện con đang ngồi; lúc thở con nhận diện cảm thọ là thấy lạc thọ; con không tưởng được trường hợp con đang ngồi, sắc, thọ, hành, thức, thức con nhận diện được con đang ngồi, con đang thở đang nghe nhưng tưởng trong trường hợp đó con không nhận diện được?
- Thọ là cảm giác; cảm thọ, tưởng là những hình ảnh trong nội tâm của mình, hình ảnh hoặc thô hoặc tế; hành là những lời nói thầm suy nghĩ trong nội tâm, những lời nói thì thầm từ suy nghĩ đó là hành; còn thức là rõ biết được cảm giác của tưởng. Tưởng không phải lúc nào cũng có, khi nào nó có hình sắc lúc đó có mặt của tưởng. Ngược lại, hình bóng chẳng xuất hiện thì không có có tưởng hoặc cái tưởng nó vi tế, tâm mình phải yên định sâu mình mới thấy hết được.
- Qua bài học của Thầy, con hay về ngồi thiền nhắm mắt, cảm giác toàn thân con hít hơi thở vào con biết hơi thở từ mũi tới lồng ngực, tới bụng, xuống hết toàn thân; từ toàn thân thở ra con thấy rõ sắc tướng của con đang ngồi; thọ lúc đó con chỉ theo dõi hơi thở toàn thân mình. Con theo dõi hơi thở khoảng 15, 20 phút sau bỗng nhiên con thấy thân con sao lớn quá, lúc đó con thấy ý hành của con nó sợ vì cái thân mình lớn. Cho nên, con sợ không dám theo dõi nữa, xả thiền. Con thực tập hai, ba ngày liền đều rơi trong tình trạng đó, lúc đó thức con thấy rõ biết rõ. Hiện tượng đó giải thích như thế nào, bạch Thầy?
- Tuyệt đối NGỒI THIỀN KHÔNG NHẮM MẮT, nếu nhắm mắt dễ rơi vào ‘tưởng’. Vì, nhắm mắt sẽ không sáng tỏ, mình không rõ các pháp bên trong với bên ngoài. Lại nữa, nhắm mắt thì chúng ta dễ rơi vào trạng thái lờ mờ, trạng thái vô minh và trạng thái tưởng, mở mắt là hết bị trạng thái đó.
- Quán xét năm uẩn con thực tập nhưng không được thường xuyên. Con ngồi quán sát theo tiến trình Thầy chỉ trên lớp, nhưng tự nhiên có luồng điện trên đỉnh chạy dọc từ trên đầu xuống sau đó nước mắt ứ ra, toàn thân con rõ biết cảm giác đó. Sau đó, thỉnh thoảng con có cảm giác biết được ai có tư tưởng bất thiện với con thì con đều có cảm giác thân mình ớn lạnh, con không biết tại sao?
- Cái này mình phải để ý nhiều trường hợp:
Thứ nhất, có khi do cơ thể của mình;
Thứ hai, có khi do cái tưởng, mình phải sáng tỏ để nhìn nhận chứ không phải mình quyết định cái đó là như vậy. Hành giả phải thật bình tĩnh, tinh tường để coi xem cảm giác đó là cảm giác gì, đừng nghĩ phỏng đoán nó là như vậy;
Thứ ba, thật sự có thật, mà có thật thì bình thường. Vì kinh mạch của mình khai thông, mình biết cảm giác đó mà không bị dính mắc. Hành giả đừng nghĩ bữa nay mình chứng được cái gì, lúc đó tâm mình động. Bởi, sự tham ái bám víu vào chấp ngã phát sanh, chỗ đó thành ra cái sai nếu như có những trạng thái. Mình ngồi thiền có rất nhiều trạng thái, đây là thọ, đây là cảm giác, mắt mình mở ra thật minh mẫn, tỉnh táo, thấy rõ thì không có vấn đề nó diễn ra, nó tự đến rồi cũng tự đi, đừng bận lòng khéo tưởng mà bị nó lôi kéo lúc nào chẳng rõ, bởi tham và si mê.
- Con có thực hành năm uẩn, riêng sắc uẩn quán về vô thường thì dù con xem sách pháp và thực hành rất nhiều nhưng con quán chưa được. Con quán không thấy ghê gớm, Thầy quán thành tựu về vô thường, có thể ngửi được mùi hôi tanh muốn ói, còn con thì làm không được. Mong Thầy chỉ dạy cho con?
- Khi quán về hơi thở, hành giả niệm hơi thở tự nhiên hay mình điều khiển hơi thở?
Quán niệm hơi thở thì để hơi thở tự nhiên, không kéo dài cũng không rút ngắn, mình chỉ nhận biết hơi thở. Hơi thở vào nhận biết hơi thở vào hơi thở ra biết hơi thở ra. Hơi vào dài biết hơi thở ra dài, hơi thở vào ngắn biết hơi thở ra ngắn. Lúc đầu, hơi thở mình hít dài, về sau từ từ ngắn lại, mình nhận biết được đó là tuệ tri. Tuệ tri tức là nó như thế nào mình biết như thế ấy. Chúng ta không nên điều khiển hơi thở, chẳng kéo dài hay rút ngắn hơi thở mà chỉ nhận biết rõ ràng.
Quán về sắc uẩn, cái này nhân duyên của mỗi người, tức là trong quá khứ mình đã tu tập pháp đó, nên bây giờ mình tiếp tục tu tập. Đức Phật dạy trong kinh, nếu như mình dụng công hành trì mà chưa thấy thành công thì càng phải phấn đấu, nỗ lực, tinh tấn, không phải thấy khó để sang bên, nỗ lực thực tập sẽ thành công.
Bài “Tầm quan trọng của quán bất tịnh”, quý huynh đệ mở ra nghe tới nghe lui ít nhất chục lần, mình mở lên rồi ngồi đó nhắm mắt lại quán chiếu theo lời nói đó hoặc kiếm hình bộ xương, hình tai nạn giao thông bị rơi xương thịt bầy nhầy một đống, hình con diều hâu, kên kên rỉa xác chết,… lúc đầu Minh Thành lấy mấy hình đó xem để quán chiếu sự bất tịnh của thân này. Có đoạn video clip quán tưởng bất tịnh kèm theo lời dạy Tứ niệm xứ của đức Phật, video clip đó Minh Thành xem hai trăm lần. Chẳng có điều gì đơn giản cho mình dễ dàng tiến bộ. Tu hành để thành tựu thánh đạo, thánh quả, thánh trí phải nỗ lực, quyết tâm, không ngừng nghỉ. Mỗi hành giả phải tự chiến đấu với cảm giác và tập nhìn trong đây là ba trăm bộ xương, nhìn ai cũng là bộ xương đó là cốt tưởng. Có như vậy mới không bị sắc dục chi phối.
- Buổi tối khi con ngồi thiền được một lúc, mắt bị nhức, nước mắt chảy ra, con có nên nhắm mắt không? Con rất muốn nhắm mắt vì nước mắt cứ chảy hoài? Buổi sáng khi con công phu xong, con ra ngoài tập thể dục nhận diện sắc uẩn là con đang đi con rõ biết được trước mặt là từng miếng gạch; sắc con đang đi; sau đó con nhận được cảm giác mát mẻ lạc thọ; con thường nhận diện năm uẩn, con gọi cái đó là tưởng uẩn, khi con thấy được cái đó thì con không thấy được sắc uẩn của con đang đi, con nói nghĩ những điều đó không nên, không thấy được sắc uẩn, trở về sắc uẩn mình đang làm gì đó là hành uẩn. Con nhận diện như vậy không biết đúng hay không?
- Tuyệt đối không nhắm mắt, chảy nước mắt cũng kệ, phải chiến thắng. Nếu mắt sụp xuống là nó đi vào si, vô minh, đi vô tưởng. Mọi khi mình tỉnh táo như vậy mà còn bị vô minh tham ái, chấp thủ, ngã mạn đủ thứ tấn công si mê, nay nhắm mắt lại chắc chắn sẽ bị sa vào hang quỷ, chỗ tăm tối đó trưởng dưỡng vô minh, ảo tưởng ảo giác. Hãy mở mắt, hành giả mạnh mẽ, quyết liệt chiến thắng tự thân sẽ thành tựu!
Lại nữa, khi đi tập thể dục nhận diện năm uẩn được thì rất hay. Tất cả chỗ, mọi thời khắc, ở các nơi đều thực tập nhận diện năm uẩn. Thực hành năm pháp rõ biết trước mặt, mắt sáng rõ, nên nhãn thức của mình rất tinh minh mở rộng không trú vào một điểm, trú vào là lát sau thành tưởng.
Cho nên, nhớ mở rộng tầm nhìn, nhãn thức tinh minh, cảm giác toàn thân, mở rộng từ hơi thở sau đó nội tâm tỉnh giác gọi là định tâm trên thân, pháp đức Phật dạy rất vững chắc giống như đỉnh bằng đồng ba chân.
Khi mình nhận diện sắc uẩn, mình thấy rõ sắc uẩn; khi mình nhận diện tưởng uẩn, sao lại lo mất sắc uẩn?
Ví dụ, mình lo chuyện nhà bếp thì chuyên chú nhà bếp cho xong. Tuần tự thực tập cái này xong rồi tới cái kia, cái kia xong rồi tới cái nọ. Đại đa số chúng ta trước giờ công phu hoặc chọn pháp hơi thở hoặc hành câu Phật hiệu. Mình thích những điều đơn giản, êm ái, nhẹ nhàng. Có biết đâu rằng chính cái êm ái nhẹ nhàng nó nuôi vô minh, bị cột chặt trong cảm giác lạc thọ êm ái, mình bị mà không biết.
Ngồi yên nhận diện hơi thở thì vọng tưởng khởi, hãy quán chiếu rõ biết từng biến chuyển trong thân tâm. Do đó, hình ảnh nào hiện diện đều được hành giả chỉ mặt từng cái, đây là thọ, đây là tưởng, đây là hành, là thức, tâm vậy có động hay không? Không phải, tại pháp tu đó không toàn vẹn nên không đủ sức công phá phiền não.
Ví dụ, trong ngôi chùa mình là tri sự hay trụ trì, mình có trách nhiệm, tri sự lo việc nhà bếp và những việc khác nữa, chánh điện, phòng khách, giảng đường, xem coi tổng quát hết mới gọi là người tri sự khéo, người trụ trì giỏi.
Cũng vậy, trong tâm mình có thọ, tưởng, hành, thức; thân mình có sắc, cần rõ biết hết mọi ngóc ngách của nó, nên xưa giờ mình biết rất nhỏ, chỉ chuyên chú niệm hơi thở sẽ không đủ đánh phá phiền não.
Cho nên, mình mới bắt đầu mở trí huệ mình ra để thấy một cách toàn diện, lúc đầu hơi vất vả nhưng khi quen rồi thì chỉ cần đặt niệm xuống là thấy rõ từng tên giặc phiền não, từng uẩn vận hành trong thân tâm.
Ví dụ, nhóm bạn của mình năm người. Lúc mới quen biết, bắt đầu tìm hỏi tên, nơi ở, sở thích,… rồi lâu dần không ai phải đi hỏi tỷ tên gì vậy? Chỉ cần thoáng thấy dáng hình là biết ai đang tới. Sự tu hành cũng vậy, giai đoạn đầu mình phải chịu vất vả, chịu cực, tại mình chưa có quen, khi mình đã phân biệt rõ năm uẩn, lúc đó mình chỉ nhìn lại là nhân diện rất rõ tên nào tên nào ra tên ấy, thấy rõ hết.
- Trên đường đi tới trường, ví dụ, đến đèn đỏ con dừng lại, khi con nhìn thấy một người mẹ chở hai con nhỏ không đội nón bảo hiểm. Con tưởng đến ‘nếu trường hợp không đội nón bảo hiểm có những tai nạn gây nguy hiểm cho đứa bé’; sau đó tâm con khởi lên là hành con nói ‘trời ơi sao mẹ không thương con, thương là lo lắng đội nón cho con khi chạy xe’; thức là con biết trạng thái đang nổi lên là tưởng và hành, con nhận biết được nó; nhưng trong giai đoạn đó, con không nhận thấy được thọ. Trong giai đoạn đó thọ của con là như thế nào?
- Lúc đó thấy rõ ‘tưởng’, suy nghĩ là cái ‘hành’, ‘thức’ thấy rõ biết. Như vậy, ‘tưởng’ và ‘hành’ lúc đó nghĩ “có thể xảy ra tai nạn” thì câu đó là ‘hành’; song song câu nói có hình ảnh tai nạn xảy ra ra đó là ‘tưởng’; khi ‘tưởng’ rõ biết, đó là thức; ‘thọ’ lúc đó khổ, khó chịu, cảm giác lo sợ, nghĩ đến hậu quả ở tương lai gần, thuộc về khổ thọ.
Hoặc ví như, thực hành năm uẩn trong lúc đánh chuông, đảnh lễ, hô kệ, tụng kinh, niệm Phật, ngồi thiền, trì chú, kinh hành, quét sân, dâng hoa cúng Phật, nấu bếp, rửa chén,… thì hành giả đều nhận biết một cách rõ rệt từng sự việc diễn ra trong thân và tâm một cách sâu sắc, vi tế, chú tâm trong từng công việc và quán tưởng nghĩ đến lời đức Phật dạy để thực hành cho thật tốt, tinh tấn, chuyên cần, không thoái chuyển. Tiếng chuông ngân lên cùng lời kệ ngân ngân trong đại chúng:
“Tiếng chuông này vang pháp giới
Khắp nơi u tối cũng đều nghe
Những ai lạc bước mau dừng lại
Tỉnh giấc hôn mê thoát nẻo về.”
Hoặc như:
“Nghe chuông phiền não tan mây khói
Ý lặng, thân an, miệng mỉm cười
Hơi thở nương chuông về chánh niệm
Vườn tâm hoa tuệ nở xinh tươi.”
Có nghĩa hành giả đang hành và nhớ lại lời đức Phật dạy, tưởng đến cõi địa ngục là những cánh cửa địa ngục được mở ra giải thoát khó khổ gông cùm, những ai nghe được tiếng chuông đạo vị ấy sẽ dễ dẫn đến cánh cửa giải thoát, bình yên, ngay lúc đó chúng ta cảm nhận sự thấy an lạc, tức cảm thọ vui sướng.
- Khi con thực hành ngồi thở và nhận diện năm uẩn được một lát, sau đó con nhận diện năm uẩn và chỉ nhận diện hơi thở trong khoảng thời gian đó, lúc sau có vọng tưởng có suy nghĩ gì đó đến, con nghĩ là không nghĩ gì hết nó đến rồi tự nó đi. Dạ, bạch Thầy, khi vọng tưởng đến, mình giữ lại hay mình nhận diện năm uẩn?
- Khi vọng tưởng khởi lên, mình hãy nhận diện năm uẩn chứ không nói để nó qua một bên không được. Tại sao?
Vì năm uẩn là tự thân và tự tâm của mình, nếu mình không rõ làm sao mình tu. Ở trong cảm giác của mình là chỗ cư trú của tham sân si, bản ngã vô minh và chấp thủ. Nếu mình không nhìn sâu vào thì mình không thấy nó thì làm sao mình nhiếp phục được nó. Còn như hành giả trốn tránh mà bỏ nó qua một bên, không dám đối diện, chẳng giải quyết được vấn đề.
Ví dụ, bây giờ mình thiếu nợ hay đang giận một ai đó, chịu khó để cái giận qua một bên thì cái buồn không hết hay chuyện nợ bỏ qua một bên nợ đó cũng không hết. Bây giờ nhất định mình sẽ già bệnh chết, nhưng mình nói ‘thôi, đừng nói chuyện kổ sầu, chia ly, đau bệnh chết chóc, ghê quá!’, nhưng đó là một sự thật không hề chối cãi, chẳng thể trốn tránh. Nó hiển nhiên nhưng ta không chấp nhận, chẳng dám đối mặt thì mình còn khổ mãi, điên đảo vọng tưởng là ở chỗ này. Do bám chấp vào ảo tưởng, nghĩ đến cái thường còn, nên vô thường đến, lập tức khổ đau theo sau!
Phải có niềm tin bất động với Phật, với Tam bảo. Niềm tin ấy cùng với sự làm theo một cách đúng đắn, ta sẽ có được lợi ích không thể nghĩ bàn ngay đây và bây giờ, không chờ tới khi hấp hối, chẳng đợi tới kiếp sau mới được cái này cái kia. Hãy sáng suốt và đi trong chánh pháp Như Lai đã chỉ bày!
Tại sao mình tu chưa có kết quả? Vì hành giả chưa thành tựu niềm tin bất động đối với Phật đối với Pháp. Bây giờ tin mình chưa đủ, cho nên nay tìm vị này mai tìm vị kia, cứ tìm cầu mãi mà giáo pháp của Thế Tôn dạy chân xác, nhưng chúng ta lại bỏ qua một bên, uổng lắm thay. Thiếu sót rất lớn và bị chìm vào tư tưởng Tiểu thừa, làm cho mình cách xa với thánh đạo thánh quả. Trong khi đó, năm bộ Nikàya là năm bộ kinh quyền uy của Phật giáo trên thế giới.
Tất cả các nước trên thế giới nghiên cứu về đạo Phật, thường thì họ chọn kinh tạng nghiên cứu đầu tiên là tập trung vào năm bộ kinh Nguyên thủy Nikàya, đứng về phương diện lịch sử nó có sớm nhất. Cho nên, chính vì mình bị hiểu lầm kinh này là của Tiểu thừa, phân biệt Đại với Tiểu, so sánh Tông này Phái kia mà không tìm hiểu rốt ráo chất Phật trong từng pháp báu. Từ nguyên thủy đến phát triển, từ nền tảng đến con đường Bồ-tát đạo, chúng ta cần thận trọng xét nét kẻo bị sai lầm thì hối tiếc đã muộn màng một đời tu hành!
2. Năm uẩn trong đời sống
- Con thường thực hành ngồi thiền quán xét năm uẩn có phối hợp với hơi thở, nên bình thường sau khi ngồi yên không tác ý, tâm con yên lặng một hồi, bắt đầu con theo dõi hơi thở trong ý thức của con nó phát ra một hơi thở vô và ra như vậy là một. Như vậy, mình có nên tiếp thực thực hành hay là mình có phép đối trị hay không?
- Phương pháp đếm hơi thở chỉ là phương pháp ban đầu, nó giúp hành giả cột tâm, không để tâm phóng nhiều, đem tâm trở về. Nhưng về lâu dài, phương pháp đếm hơi thở không đủ sức phá phiền não. Ta cần buông xả nó, nếu như chưa bỏ được vì quen thì cứ để tự nhiên từ từ nó nhả ra, mình cứ thực tập vào ba pháp hoặc mình thực tập quán chiếu cảm giác coi xem cảm giác mình như thế nào. Kế đến, tập nhận diện năm uẩn, mình cứ hành trì nhận diện năm uẩn, cảm giác toàn thân một thời gian thì phương pháp đếm hơi thở sẽ phai nhạt và buông ra, kiên nhẫn hành trì sẽ đạt.
- Con chọn pháp hành quán năm uẩn bằng cách thực tập hành trì trú Đại bi, khi ‘tưởng’ con nghĩ những câu đại bi, từng câu có những vị hộ pháp, những vị Bồ-tát là con biết mình đang trì như vậy, trong lúc đang trì nhưng vẫn quán được, biết mình làm gì, trong tâm tụng thầm hoặc tụng to đều nhớ biết rõ. Cách dụng công như vậy có đúng không, thưa thầy?
- Thứ nhất, đức Phật trong kinh tạng Nikàya không dạy như vậy. Ở đây, Minh Thành muốn giới thiệu đến quý vị phương pháp tu trở về cội gốc của đức Phật, không đi lan man. Trong tạng Nikàya dạy làm sao mình tu y như vậy, trong tạng kinh không dạy mình vừa trì chú đại bi vừa quán chiếu năm uẩn, nên mình không thực hành cái đó.
Thứ hai, mình không thể cùng một lúc làm quá nhiều việc. Chúng ta phải nhất hướng, có sự quyết tâm rõ ràng, còn như pháp nào cũng ham, pháp nào cũng thực hành nhưng không đi tới chỗ trọn vẹn rốt ráo thì nó sẽ có phản ứng ngược, loạn tưởng, vọng niệm. Có thể mình đã quen trì đại bi, bây giờ bước qua phương pháp này sẽ hơi khó, đừng ngại, chuyên tâm thực tập, thói quen ban đầu sẽ còn ảnh hưởng nhiều trong dụng công pháp mới, lâu dần nó sẽ tự buông ra.
Những phương pháp khác trực tiếp để nhìn thấy tự thân tự tâm mà mượn phương tiện, pháp này là pháp nhận diện trực tiếp thân và tâm, nên nó mạnh. Tạm gọi, những giai đoạn trước giống như học tiểu học, trung học, bây giờ mình lên đại học. Cũng như lúc trước mình học sơ cấp, trung cấp, bây giờ mình học lên cao đẳng, mình thấy được như vậy mình sẽ không bị vấn đề chấp thủ trong pháp tu.
Tu hành không khéo cũng dễ bị chấp pháp đó! Vì cứ cho rằng, hồi đó Sư cố dạy vậy, Sư ông dạy vậy và bây giờ Sư phụ dạy vậy nên con cũng tu như vậy, con không chịu đổi.
Đôi khi hành giả niệm tới câu chú nào đó thì cho rằng có một vị hộ pháp, đó là tưởng uẩn. Hoặc khi chiêm bao hay niệm Phật nói ‘tối qua, nằm chiêm bao tôi thấy có Phật tới rờ đầu’, đó là tưởng uẩn, vô thường. Sự quán chiếu này sâu sắc, nhìn khắp sơn hà, đại địa vũ trụ, vạn vật, tất cả nhìn thấy đều là sắc uẩn, không có gì khác, đây là thánh trí.
Mọi sắc tướng sum la vạn tượng, thiên hình vạn trạng nhìn thấy đều là sắc uẩn, nội sắc và ngoại sắc, tất cả những hình ảnh trong nội tâm mình hay hình ảnh nào từ bên ngoài đi tới hoặc những ảo ảnh trong tâm mình tưởng tượng đều là tưởng uẩn. Tất cả cảm giác, dù cảm giác thật là nhẹ nhàng êm ái hoặc khó chịu, bức ngặt cũng đều là thọ uẩn, bao nhiêu lời thì thầm trong tâm là hành uẩn.
Như vậy, sự rõ biết là thức uẩn, năm uẩn này bao trùm khắp vũ trụ thế giới. Cho nên, trí năm uẩn là trí thấu suốt khắp pháp giới chúng sanh. Còn những phương pháp tu lâu nay, không khéo mình vẫn chỉ tu ở trong năm uẩn.
Ví dụ, mình nói bây giờ mình làm thiện rồi giúp người nghèo khổ có phước, để đời sau mình hưởng phước. Đó là tâm mình mong muốn tiếp nối có một sắc uẩn tiếp nối đời sau, đi vào luân hồi sanh tử, dù hưởng phước lành, quả ngọt, nhưng vẫn không thoát khỏi vòng sinh diệt sanh tử, cần nhận diện rõ điều này! Ở đây, pháp Phật chỉ dạy là pháp chấm dứt sanh tử luân hồi. Chỗ này trí huệ trong kinh nói là vị thành tựu trí năm uẩn thấy được rõ vị ngọt của năm uẩn, sự nguy hiểm của năm uẩn và sự xuất ly của năm uẩn, người đó đi vào dòng Dự lưu, Tu-đà-hoàn là điều hoàn toàn có thể, nếu hành trì đúng như pháp.
- Thế nào là vị ngọt của năm uẩn?
- Vị ngọt của năm uẩn là sự khoan khoái thích thú vui sướng trong sắc, trong cảm giác; dục hỷ khởi lên từ những tư tưởng, ở trong nhận thức đó là vị ngọt.
- Thế nào là sự nguy hiểm của năm uẩn?
- Năm uẩn là vô thường, biến hoại, đi đến chỗ đoạn tận đó là sự nguy hiểm của năm uẩn. Chính sự nguy hiểm của năm uẩn, từ những cảm giác sinh ra vọng tưởng mê lầm đã làm cho người ta khổ sở, trộm cướp, đấu tranh, chiến tranh, giết hại lẫn nhau,… đều từ dục sanh ra và tham trong năm uẩn.
Hành giả cần luôn luôn luôn quán chiếu năm uẩn, nó sẽ sinh ra một trí huệ rất đặc biệt. ‘Tưởng’ rất nguy hiểm, người ta có thể chết vì cái ‘tưởng’. Có câu chuyện rất đơn giản, cậu này quen với cô này, sau đó cô này không quen cậu đó nữa mà chuyển sang quen một cậu khác, cậu khác đó mới đưa hình và những bài hát karaoke hai người ca hát chung với nhau lên mạng xã hội. Rồi người bạn trai cũ của cô này sân hận lên, lúc đó lửa sân đốt, thọ, tưởng tượng ra, suy nghĩ thức vận hành trong sân hận không còn biết đúng sai nên đã tiến tới hành động tìm và giết chết người bạn trai mới của cô này. Cuối cùng, anh này phải lãnh án tù chung thân.
Sự nguy hiểm của sắc, thọ, tưởng, hành, thức, nếu mà không biết tu, chưa có trí huệ thì những suy nghĩ nhất thời dẫn tới hành động nông dại đó họ phải trả giá đắc cho việc làm sai trái. Do họ bị năm uẩn lôi kéo trong vô minh, không còn nhìn thấy điều gì khác. Nếu như khi đó anh bạn trai cũ của cô người yêu đã chia tay kia còn tỉnh táo, suy nghĩ kỹ càng thì sẽ không dẫn tới hậu quả giết người rồi tù tội. Biết dừng đúng lúc thì không còn gì để bàn, nhưng do năm uẩn mê mờ, thúc giục vì vọng tưởng điên đảo. Ở đời là vậy, trong chùa cũng có những chuyện tế nhị, không khéo nhẫn, thông cảm, mở lòng với nhau thì cũng sẽ sa vào con đường sai pháp, lạc đường Đạo mà không hay, tới khi hay đã thành người mắc đọa.
Thọ, tưởng, hành cũng làm cho mình phiền não, tại mình không thấy nó, chẳng nhận diện, sự liễu tri về nó không tường tận cho nên mình không thắng tri nó. Nếu hành giả nhận là mình sẽ nói ‘tôi đang suy nghĩ, tôi bực quá’. Chúng ta không thấy lúc đó thọ bực chứ đâu phải mình bực, hành nó vận hành và đang hành hạ mình. Hành uẩn làm chúng ta mệt nhiều, nếu mình không khéo tu. Âm thanh cũng gây sự phân tâm, nhiễu hại tới mình, nên phải quán chiếu sâu sắc sự nguy hiểm trong năm uẩn.
Chính từ năm uẩn này, dục – tham – vô minh – chấp ngã cái ta đây, rồi bám chặt trong đó. Ví dụ, trong chùa hiện có 20 huynh đệ, sư phụ dặn đại chúng chiều nay tổng vệ sinh chùa cho sạch sẽ, gọn gàng, ngăn nắp lại, chuẩn bị Lễ… Đại chúng đang lao động vất vả, trưa nắng nóng, chợt có Phật tử đem tới cúng dường một quầy dừa xiêm, mọi người lấy dao chặt dừa và rót nước ra uống tuần tự. Nhưng tới lượt mình thì quầy dừa xiêm ấy đã hết, lúc đó mình thấy được rõ nhất về thọ. Lúc này thọ khổ vận hành trong tư tưởng, tùy the sự định tĩnh ở mỗi hành giả, nếu ai còn bám chấp vào cái ngã thì còn nhớ hoài hình ảnh quầy dừa xiêm đã hết khi tới lượt mình. Chuyện đã qua nhưng còn neo mắc vào, nhớ hoài nên khổ, tọa thiền không lạc thọ mà toàn khổ thọ sinh khởi, hãy xem lại và quán xét sâu sắc về lẽ vô thường. Đó là một chuyện nhỏ, vi tế, nếu không để ý sẽ còn nhiều chuyện phức tạp hơn mà mình sẽ bị lôi kéo vào trong đó. Khổ trong năm uẩn.
Hoặc như chúng ta đang ngồi trong chùa, một lát có việc Phật sự cần ra ngoài nhưng không còn thấy chiếc xe máy nữa, đã bị mất cắp rồi. Lập tức thọ tưởng hành thức vận hành, do nó bám vào ngoại sắc. Ngoại địa giới cho rằng chiếc xe đó là của nó, quán sự nguy hiểm của năm uẩn, suy nghĩ diễn biến làm cho mình khổ.
Hoặc gặp một chuyện bất như ý làm cho mình ăn không ngon ngủ không yên, nghe kể ra mới biết là do bị sư tỷ nói nặng nên đã ba đêm nay không ngủ được, thần trí mê mờ. Từ đó sinh ra bệnh phải ăn cháo, đó là hành uẩn. Thọ uẩn, suy nghĩ cảm giác nhớ lại sắc tưởng, những lời nói, hành động trong suy tưởng được hiện lại, nên mỗi lần tưởng là nó tô lên, giống như vẽ cho đậm, đậm tới lúc nó hiện rõ ra, thậm chí đi vào ngõ cụt vô phương cứu chữa. Chính nó tạo thành nghiệp và dẫn dắt mình sang đời sau, điều này chúng ta thấy rất rõ và nhiều trong nhiều mẩu chuyện kể về tiền thân của đức Phật Thích-ca Mâu-ni và chuyện Trưởng Lão Tăng Ni Kệ ở Tiểu Bộ Kinh thuộc bộ Đại tạng Kinh Nguyên thủy Nikàya. Cần xem xét, nghiền ngẫm để thấy rõ sự vận hành của năm uẩn trong đời sống cũng như quá trình tu hành của mỗi người.
Có những chuyện đi theo mình năm trăm kiếp hoặc xa lâu hơn nữa, đừng nghĩ nó chỉ xuất hiện trong một kiếp này là xong. Đường đi của nghiệp, nhân duyên quả là vô cùng công bằng, không chối cãi, tránh né, chỉ có sớm hoặc muộn thôi! Cũng như vợ chồng không phải một kiếp này thành mà nó đã hội tụ từ nhiều nhân duyên khác mà tác ý, đủ duyên thì thành trong đời kiếp hiện tại. Bởi những hình bóng, suy nghĩ, thân tướng đó gắn liền với ngũ uẩn. Chúng đã trải qua bao nhiêu đời kiếp có buồn vui khổ sướng trong dòng lục đạo luân hồi. Nhưng thường là đọa trong nẻo khổ đường mê, lắm nỗi đau thương thân tâm. Vậy mà đã mấy ai còn nhớ, mấy ai chịu quay đầu là bờ, mấy ai đã chịu vượt lên con đường sanh tử để đến thánh đạo. Cứ gặp tia sét ái tình là dính vào con đường xưa của thọ uẩn. Nguy hiểm lắm! Cho nên, cần quán xét, trí huệ năm uẩn để khởi ý niệm trong ba nghiệp thân, miệng ý thật tốt đẹp, làm hành trang cho con đường tươi sáng ngày mai. Vì, năm uẩn này thâu tóm toàn bộ vũ trụ vạn vật, do mình thấy, nghe rồi sinh tâm phân biệt, tưởng tượng, mong muốn nên mới chuyện tham – sân – si khởi lên.
Đức Thế Tôn nói: “Này các Tỳ-kheo, ta không tuyên bố ta được Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác khi nào ta chưa thấu triệt được trọn vẹn, rốt ráo hoàn toàn về năm uẩn. Ta chỉ tuyên bố ta thành tựu trí huệ Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác khi đã thấu suốt tận cùng năm uẩn” (Chương ‘Thiên Uẩn’ trong Tương Ưng Bộ Kinh).
Hành giả thường xuyên trau dồi quán chiếu sự nguy hiểm của năm uẩn rất có ích và tạo thành thói quen ngăn ngừa những lỗi lầm. Minh Thành hay đọc những tin tức tai nạn giao thông, cháy nhà hỏa tai hay đọc những tin hình sự,… Tại sao phải đọc, nghe, xem những tin tức rùng rợn như vậy? Nó phản tỉnh, giúp mình giữ chánh niệm trong mọi việc làm, lời nói, ý nghĩ đúng với chánh pháp. Từ đó suy sâu xét kỹ để thấy sự nguy hiểm của năm uẩn. Nó là đồ dỏm, phối hợp nương nhờ nhau mà thành, vô thường, biến đổi, mau chóng lụn tàn và dễ vỡ vô cùng. Do đó, quý trọng từng phút giây sống để làm gì có ích lợi cho mình và cho người, có ý nghĩa trong cuộc đời này.
Có câu chuyện về ông tài xế lái xe tải chạy đường dài như sau:
Ông đang lái xe nhưng có điện thoại, đầu dây bên kia là bạn gái, hai người mải mê nói câu chuyện hẹn hò và tình yêu nên ông quên việc lái xe là chính, việc đang chở hàng hóa cồng kềnh và vài người đi chung xe là điều trọng yếu, việc bảo vệ tánh mạng này là vô cùng quan trọng. Như vậy, trong khoảnh khắc mất chánh niệm, không sáng suốt, ông đã không làm chủ tay lái, xe ông đã tông vào xe ngược chiều. Người chết, kẻ bị thương, xe hư hoại, hàng hóa hư hao.
Câu chuyện trên cho ta biết ông tài xế đó bị vướng kẹt vào uẩn nào mà gây ra tai hại nghiêm trọng như vậy? Lúc đó ông bị thọ uẩn, cảm giác lạc thọ; sau đó là cảm giác khổ thọ; trong đó hành uẩn là ý hành; khẩu hành trong lúc ý ông suy nghĩ, miệng ông nói; rồi tưởng uẩn, vì khi nói, ông thấy hình bóng người yêu hiện ra, ông không thấy chiếc xe phía trước đang chạy với tốc độ kinh hoàng, làn đường bé nhỏ, xe chạy nhộn nhịp, tay lái chểnh mảng. Lúc đó thức uẩn chỉ biết cảm giác sung sướng khoan khoái do nghe lời của người yêu từ đầu dây bên kia, những lời nỉ non, ngon ngọt làm mê mờ hiện tại, do sinh ra tưởng tượng và sắc dục sinh khởi mãnh liệt. Ông đã không còn biết gì tới những thứ xung quanh, nếu biết những thứ xung quanh thì lúc đó đã không bị tan nạn.
Dùng trí năm uẩn chúng ta sẽ nhận diện một cách rõ ràng, cụ thể, sâu sắc nhất. Thường xuyên thực tập để khi nghe giọng nói điện thoại của bất kỳ ai đó, dù ở đâu thì chúng ta cũng lập tức quay trở về chánh niệm, tập trung việc nào là chính yếu. Huynh đệ nhìn những người xung quanh biểu hiện là mình thấy được năm uẩn của họ ra sao và bản thân mình cũng như thế nào. Rõ biết về năm uẩn để điều chỉnh, điều phục, ditệ cái sai trái, lỗi lầm, tăng cường những thiện pháp. Hành trì liên tục sẽ đạt thành tựu trí huệ.
- Khi con ngồi thiền ở tư thế kiết già hoặc những lúc ngồi yên, sau một khoảng thời gian khá lâu con có cảm giác đau trên thân mình. Dạ thưa Thầy, khi đau như vậy có cần đổi tư thế? Theo con hiểu, nếu mình đổi tư thế để hết đau thì khi thân mình chuyển động như vậy nó sẽ bị dao động, thân tâm cũng dao động theo. Nếu mình không đổi mà để nguyên tư thế như vậy thì mình vẫn chấp vào trạng thái mình muốn ngồi yên. Xin Thầy chỉ dạy để con thông suốt?
- Tùy theo sức chịu đựng của mình, cũng như ý chí ở mỗi người. Có người ngồi thiền là lên kế hoạch, ý định sẽ là ngồi một giờ đồng hồ, dù đau tê nhức gì cũng cố gắng và vượt qua, đúng hạn định mới chịu xả thiền. Đây là người có ý chí mạnh mẽ, huấn luyện tâm người ta làm chủ được cảm thọ. Hơn nữa, còn có những vị tọa thiền đến hai giờ đồng hồ là chuyện thường ngày. Tất cả do luyện tập, sức mạnh của lòng quyết tâm.
Ngày trước, Minh Thành ở Thiền Viện Trúc Lâm, năm 1994, lúc đó tu quyết tử. Nhớ lại ngày đó có một số Thầy lên ngồi thiền giống như ra chiến trường đánh giặc. Bởi một ngày ngồi thiền sáu giờ đồng hồ, mỗi lần ngồi hai giờ. Tối nằm nghỉ mới thấm thía, ê ẩm khắp người vì sáng và trưa công phu tọa thiền, tối và khuya ngồi thêm hai thời, đau chân lắm! Quý Thầy ở đây chuẩn bị rất kỹ! Dạo đó có một Thầy tu hành rất tinh tấn, có những trưa không ngủ, vào tolet ngồi thiền.
Hoặc như Thầy Minh Quang xin ra Trúc Lâm tu học, mà khi đó thầy còn rất trẻ, mà Thiền Viện chỉ nhận những ai đã tốt nghiệp Phật học Phật giáo và ở Thiền viện Thường Chiếu mười năm mới được lên Trúc Lâm. Hòa thượng xét thấy thầy Minh Quang chưa đủ điều kiện đã nêu nên không cho ra Trúc Lâm tu hành. Thầy Minh Quang hạ quyết tâm cho việc chọn nơi công phu tu hành và đã có hành động chặt ngón tay, máu văng phun đỏ, để nói lên tinh thần cầu pháp của thầy là bất động. Cuối cùng thầy Minh Quang đã thỏa ước nguyện.
Bây giờ, chúng ta tu hành có phần dễ dãi quá! Cần phải vượt qua cái bình thường, thói quen, tập nghiệp, cầu pháp tự thân chuyển hóa cho thật mạnh mẽ, không gián đoạn thì mới thấy sự tu hành là rất quý, đời tăng sĩ là rất tuyệt vời, trăm muôn ngàn kiếp đâu dễ được.
Cho nên, vừa có cảm giác hơi đau chân, còn chịu được, mình nhìn ngay vào chỗ thọ là nó lên ngay chỗ đó thôi! Nó đau tê ngay chỗ cấn chân ống quyển nhưng cái tưởng của mình phóng đại cảm thọ, phải trấn an nó bằng câu ‘không được đau, cái gì đang đau’. Nhưng trong tâm bắt đầu rì rầm câu nói ‘đau chân quá, mai mốt chắc không đi được’, đó là hành uẩn, nó chính là cái nhận mình là mình. Thọ một chút xíu chỗ đau đó nhưng tưởng uẩn làm cho lan tỏa cảm giác toàn thân, nó chiếm ngự tâm của mình. Ngay đó hành giả phải thật sự tỉnh thức, đưa tâm trở về cùng thân hòa hiệp trong sự chánh niệm. Phải ra pháp lệnh để cho thân tứ đại giả huyễn hợp thành này biết tất cả là sự vay mượn, nương tựa vào nhau nên gọi là chân, là đau nhức, nhưng phân tích kỹ thì chẳng có cái gì là một, nghĩ thông suốt thì lập tức mạnh mẽ lên liền.
Hoặc chúng ta nói với cái thân đang đau nhức ở một vị trí là chân: “Đau chân chứ có đau vai, đau tay gì đâu, các bộ phận còn lại đều mạnh khỏe mà!”. Chúng ta dễ bị nổi sân trong khổ thọ, ngũ uẩn trong thân tứ đại này mà mình không nhận dạng được, là vô minh. Thỉnh thoảng ta tự sân với chính mình mà không thấy.
Hành giả nên làm chủ mọi cảm giác, tưởng, hành, thức đang vận hành. Tham ái nó tinh vi xảo quyệt lắm, cẩn trọng kẻo bị sa hầm sụp hố vì nó. Tu phải biết ‘thắng’, đừng để nó ‘tuột thắng’ (thắng xe đạp, xe máy hay còn gọi là phanh), tuột thắng đó là cảm thọ. Rất quan trọng sự quán chiếu bất tịnh, Vô thường, Khổ, Không, Vô ngã, ba mươi hai thể trược, chín lổ rò rỉ chảy ra những nước dơ bẩn trong xác phàm này, rồi từ đó hành giả nâng lên bước nữa, quán chiếu chín giai đoạn của một tử thi sình ra.
Bệnh của mình được ít cho là đủ, mới nghe hiểu được một chút, ngồi quán được mười phút nửa tiếng cho là xong, biết rồi, cái gì cũng biết, cuối cùng không biết gì. Chính vậy mà ta phải hạ thủ công phu, ráo riết hành trì trong chốn già lam để mau chóng thoát cảnh trôi lăn xoay vần trong dục tham ái, lửa sân đốt luôn bản ngã, thiêu rụi ngã mạng, hủy diệt chấp thủ. Đi thẳng một đường tu đến chứng quả A-la-hán, muốn vậy không phải là điều đơn giản, thường xuyên quán bất tịnh để không còn nắm níu, ham muốn, mong cầu trở lại thân ngũ uẩn, không bị kẹt trong cái thọ.
- Trước con cũng tinh tấn ngồi thiền, chiêm nghiệm những suy nghĩ về chuyện ngày xưa hoặc là sân giận con biết kéo nó về tỉnh thức. Con ngồi niệm Phật tiếp thì con vẫn thấy cảm giác mát lạnh cả người, con rất thích. Cho nên, con ngồi rất lâu nhưng có an lạc, đến lúc ngủ con tưởng thọ gì con không rành, con lại ngồi dậy niệm Phật, tự nhiên co sợ, không dám nói với ai. Xin Thầy từ bi cho con biết cái đó là cái thọ hay hành tưởng của con?
- Có cảm giác ngồi thiền được an lạc mà sau đó biết lo sợ cảm giác đó là tốt. Đừng chấp vào, không phải mình tu mà trơ trơ. Hành giả mà tu không có pháp hỷ, chẳng được pháp lạc, chưa từng nếm thiền vị là chưa thể tiến bộ được. Mình ngồi thiền an lạc là tốt, đừng có chấp, cho rằng như vậy là hay rồi, đã giỏi, có lẽ đã chứng được cái gì đó. Ngay suy nghĩ ấy là sai lạc, cần điểu chỉnh ngay. Nếu mình tu có lạc thọ, mình biết đó là lạc thọ, khổ thọ mình biết đó là khổ thọ. Còn như cái đó không khổ không lạc (không buồn không vui) thì mình phải cần nhận rõ về cảm thọ đó. Chúng ta phải luôn đề phòng, nâng cao cảnh giác, tỉnh thức, chánh niệm, chuyên chú trên bước đường tu hành.
- Dạ, con có nghe một giảng sư nào đó nói, người nữ không thể ngồi kiết già được. Có một chị ưa ngồi thiền hay bị ngửa về phía sau, chị hỏi nên ngồi kiết già hay bán già? Trạng thái ngửa ra phía sau là bị gì?
- Trong thể trạng của mỗi người tự mình biết. Nếu mình thấy ngồi bán già mà nó thoải mái thì mình ngồi bán già; nếu ngồi kiết già được, đó là tuyệt vời, không còn gì tuyệt vời hơn. Khi ngồi mà có tư thế bị ngửa về phía sau thì ngay lúc đó mình phải điều chỉnh tư thế lại, có thể do bồ đoàn thấp hoặc mình không ngồi bồ đoàn nên nó dễ nghiêng về phía sau.
- Con ngồi nhận diện năm uẩn, nhưng khi nhắm mắt để nhận diện thì dễ hơn là mở mắt. Xin Thầy chỉ dạy cho con?
- Có thể lúc đầu chúng ta nhận diện năm uẩn nhắm mắt cho thấy rõ được, nhưng từ từ mình phải mở mắt, không được nhắm. Vì nhắm mắt một hồi là rơi lọt vào mộng tưởng, si mê, vô minh, hôn trầm nên phải mở mắt ra. Tuy vậy, trừ lúc nào mình thấy cần thiết lắm thì có thể nhắm mắt lại một chút xíu, sau đó phải mở mắt. Trong thời gian duy trì ngồi thiền là thật tỉnh táo. Như vậy, công phu đó mới có giá trị, sẽ thành công, gọi là thiền tuệ chứ không phải thiền si. Vì thiền si là ngủ gục, hôn trầm, trạo cử. Như vậy uổng lắm thời công phu, cần khéo léo và mạnh mẽ diệt tận si mê, trừ ngay những thói quen tập nghiệp đã kết dính từ lâu xa, phải thay đổi một cách táo bạo, mạnh mẽ và chắc chắn.
- Dạ thưa Thầy, có một chị bạn hỏi rằng: Khi ngồi thiền nhắm mắt, chị thấy trạng thái rất tỉnh nhưng cơ thể cứ gục gật hoài, vậy chị đó rơi vào tình trạng nào?
- Tuyệt đối không nhắm mắt, vì nhắm mắt nó rơi vào đủ thứ trạng thái. Có lúc nó rơi vào chỗ lờ mờ, si mê, hôn trầm; có khi nó bị tưởng ảo, tưởng loạn, hoang tưởng; có nhiều người ngồi thiền một lát sau hơi nghiêng sang một bên mà không biết, vì bản thân người đó đã không trú trong cảm giác toàn thân. Cho nên, hành giả không phát hiện ra những biểu hiện ấy lúc tọa thiền. Nếu mình tỉnh thức ở cảm giác toàn thân là mình biết liền, đó là công năng.
3. Soi lại năm uẩn
Đức Thế Tôn nói rằng có một pháp làm cho người xuất gia đi tới chánh trí giải thoát Niết-bàn, pháp đó là pháp không phóng dật. Ngày trước, Minh Thành đọc qua chỉ hiểu nghĩa nôm na, nghĩ rằng buông lung phóng dật là cười nói, nói lớn, đi đứng không oai nghi… Nhưng bây giờ có dịp tìm hiểu sâu sắc trong Tạng kinh Nguyên thủy Pàli, cùng với sự thực tập nỗ lực pháp hành thì bản thân nhận ra ‘phóng dật’ là không phải như vậy. Phóng dật là một trong những kiết sử trói buộc nội tâm của mình. Lúc nào người tu không trú trong pháp, tức là phóng dật.
Ví dụ, phương pháp niệm Phật, tức là người đang thực tập niệm hơi thở. Nhưng vì có việc phải theo duyên bên ngoài, nên trong khoảng thời gian đó mình đã tạm ngưng niệm hơi thở, gọi là phóng dật, buông lung. Trong Tạng kinh, đức Phật nói: “Tỳ-kheo luôn luôn sống với giới bổn, luôn luôn tinh tấn, chánh niệm, thiền định không gián đoạn thì mới đạt tới chánh trí giải thoát”.
Ba chữ ‘không phóng dật’ lần này hiện lên trong tâm trí mình, nhắc nhở cho bản thân một bài học rất sâu sắc, chính mình phải biết tự hổ thẹn. Ngay khi ở trong thất, một ngày ngồi thiền bốn, năm thời công phu chúng ta vẫn thấy mình còn phóng dật. Dù có ngồi thiền rồi đi kinh hành, nghe pháp liên tục, thậm chí ngày ăn một bữa mà vẫn thấy phóng dật rất nhiều, tâm ý rượt chạy miên man vi tế. Có chú ý lắm mới thấy tâm ý nó lừa mình một cách lão luyện. Do vậy, hành giả cần phòng hộ thân tâm, nhớ biết một cảm giác xấu hổ vì tâm mình chưa thật sự trụ vào pháp, để cho ‘tưởng’ dẫn đi, phóng tâm không thâu nhiếp lại liền, lúc đó là mình đang buông lung phóng dật.
Tại sao tu hành chưa thành tựu là vì mình không có nhiệt tâm tinh cần. Điều này đức Phật từng dạy trong Kinh Pháp cú số 280:
“Khi cần không nỗ lực
Tuy trẻ mạnh nhưng lười
Trí nhu nhược biếng nhác
Với trí tuệ thụ động
Sao tìm được chánh đạo”
Hoặc:
“Việc cần làm nên làm
Làm cùng tận khả năng
Xuất gia sống phóng đãng
Chỉ tăng loạn bụi đời”.
Khi ở trong thất tĩnh tọa, mình mới chiêm nghiệm lại câu này, tuy tuổi trẻ mạnh nhưng mà lười. Mọi việc đều mạnh mẽ, sung mãn nhưng với thiện pháp thì rất chay lười, nhất là việc hộ trì các căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Phòng hộ căn là phương pháp rất quan trọng, nếu người tu không có phương pháp này sẽ không thể nào vào định và có chánh niệm được. Do đó, phải hộ trì lục căn luôn thanh tịnh, tỉnh thức thì sự tu của mình sẽ thấy tiến không thể ngờ được.
Nếu tuổi trẻ mạnh mẽ sức vóc mà lười, chí nhu nhược thụ động làm sao đạt được chánh đạo! Thật sự soi xét sâu sắc mới thấy, rồi mình đau xót thương cho mình, tủi nhục cho bản thân. Vì chuyện thế gian rất chăm chỉ và có vẻ như thông suốt lắm, nhưng giữ gìn và phát huy thiện pháp, đưa chánh niệm tỉnh giác soi rọi nội tâm, quán chiếu thiền định thường xuyên tu tập thì lại rất dễ dãi bỏ qua, hẹn nay hẹn mai.
Ví dụ, nghe pháp thực hành cái này thực hành cái kia, tâm ý nó nói ‘khó quá sao làm được’ chính điều này nó giết mình chết! Tâm ý khởi lên, mình không diệt tận, tẩy sạch, từ bỏ, chẳng cho tái sanh lên nữa thì lúc đó nó sẽ quay trở lại giết mình chết. Như vậy, con đường tu hành khó thành tựu.
Cho nên, một ý niệm khởi lên khi đang nghe pháp mà nó nói ‘nhiều vậy, sao thực hành được’, hành giả phải lập tức diệt tận ý niệm đó. Ta quay lại nói nó ‘chí nhu nhược, biếng nhác sao tìm được chánh đạo?’, đó gọi là Như lý tác ý, phương pháp này rất quan trọng.
Hãy nói mạnh pháp lệnh với tâm rằng: “Tâm tham dục đưa ta vào dòng luân hồi sanh tử khổ đau, chính ngươi là ác ma, là rắn độc, kẻ đã lôi đầu ta vào con đường vô minh khổ đau triền miên. Bây giờ ta thấy được ngươi rồi, đừng hòng dẫn dắt ta nữa, ta sẽ tẩy sạch mi, ta sẽ đập cho mi tan nát thành tro bụi”. Những lời tác ý mạnh mẽ đó lúc đầu nó yếu, có thể cái kia nó thắng nhưng lần lần hai cái cân bằng, 50/50 sau này mình hơn nó được chút xíu 70/30, cuối cùng mình hoàn toàn chiến thắng thì thành tựu quả vị A-la-hán. Vì hành giả đã diệt tận tham sân si.
Đức Phật thương chúng sanh nên đã chỉ dạy rõ pháp xa lìa luân hồi, khổ đau. Hành giả có nhận lãnh mới thấy thấm thía và trân quý ngọc báu mà Thế Tôn đã truyền trao ba mươi bảy phẩm trợ đạo, Bát chánh đạo, rồi khi chúng ta lạy Phật nước mắt tuôn ra vì mình đã thấy được căn bệnh phiền não của bản thân. Lúc nào chúng ta thật sự yên tĩnh, nhìn vào sâu trong đó sẽ thấy nỗi khổ niềm đau, vô minh, tham sân si chất đầy trong nội tâm.
Hình ảnh thiên thủ thiên nhãn với mười tám tay, mỗi tay cầm một bảo bối là những pháp khí để trị sáu căn sáu trần sáu thức. Tu hành là rõ biết những gì đang khởi lên, cái gì đang lầm thầm trong tâm, nó có yêu sách, tham luyến, si mê, cuồng vọng gì thì mình phải nắm chặt, rõ biết để mà chặt nó, cắt bỏ từ gốc rễ. Diệt bất thiện pháp, trổ hoa thiện pháp, tu tinh tấn lực, đó mới là công phu hướng về của người Phật tử.
Trong bài kinh Song Tầm, đức Phật kể lại quá trình tu chứng, Ngài chia ra những niệm nào thuộc về tham, sân si, tật đố, bất thiện qua một bên, những niệm nào khởi lên không tham, không sân, không si qua một bên. Rồi từ đó, những niệm nào bất thiện Ngài diệt trừ, tẩy sạch tận gốc rễ phiền não, vô minh. Còn niệm thiện lành, Ngài phát huy. Ví dụ, những ý niệm tương ưng với trí huệ thấy cuộc đời là vô thường, ảo mộng, các pháp là vô ngã, đó là phát huy vô thường tưởng, vô ngã tưởng. Ngược lại, những niệm sân si, hiềm hận thì phải diệt tận nó lập tức, không để nó trà trộn và bén rễ trong nội tâm mình.
- Như vậy, niệm của mình khởi lên Như lý tác ý để diệt tận, muốn đốt cháy hay muốn công phá bất thiện niệm thì những niệm đó có chống cự lại những phiền não ở hiện tại hay không? Đứng trên lý trí, tức là một tâm sân khác hay là đứng ở trên trung đạo tức là chánh kiến để mình thấy ra được những cái tâm niệm đó và mình chuyển hóa nó?
- Nếu vậy, hành giả đang công phu trong am thất, sau đó chuẩn bị ngủ nhưng hành giả thấy con rắn đã có mặt trong am thất, nó trườn qua bò lại chưa chịu đi. Nó lăm le đến gần, sự nguy hiểm đang tràn ngập. Lúc đó, chúng ta phải làm sao?
- Nếu trong thất xuất hiện con rắn thì trước tiên mình phải nhận biết đó là con rắn thật; xem con rắn đó thuộc dạng độc hay hiền; nếu con rắn hiền, mình có thể trực tiếp bắt nó hoặc lấy cây đuổi ra, còn nếu rắn độc chắc chắn mình không trực tiếp lấy tay bắt được và mình lấy cây để đuổi ra. Trong lúc đuổi rắn độc khỏi am thất, hành động đuổi có tham sân với nó hay không?
- Trí huệ nhận thấy được phiền não. Hành động cầm cây đuổi lẹ con rắn đi ra khỏi am thất là hành động của trí khôn. Ta nhận thức được nó là rắn độc, nên đuổi n ra khỏi nơi cư trú của mình, khỏi còn phân tâm, phiền não. Đuổi con rắn chứ không có tâm ý xâm hại nó hoặc vì hận thù với nó thì hành động đó không sai, vì bảo vệ mình.
Hoặc, ông A, chị B nào đó đang ngồi trong nhà, biết có người ăn trộm là ăn trộm vậy thôi chứ không đuổi không rượt. Cũng như khi thấy lửa cháy, mình nhìn thấy biết lửa cháy nhưng không làm gì hết. Hành động cấp tốc khi thấy lửa cháy phải tìm đủ mọi cách dập tắt liền tức khắc, đó mới là nhiệt tâm tinh cần, tinh tấn quyết liệt trong tu hành. Chỉ có thấy biết, cảm nhận rồi ngồi đứng im thì cũng chẳng ăn thua gì, phải diệt tận những sai trái, những cái làm cho mình và người khác đau khổ, chìm ngập trong biển mê lầm. Như lý tác ý của mình càng mạnh sẽ đập tan hoại những bất thiện niệm khởi lên càng nhanh.
Ta đập tan bất thiện niệm không bằng tâm sân hận mà bằng trí huệ tỉnh thức trong một sức mạnh, gọi là tinh tấn lực của chánh niệm, niệm lực sức mạnh của chánh niệm chứ không phải bằng tâm sân. Bởi, có gì đâu mà sân, nó là pháp vô thường, sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Đó là những suy tưởng không có gì phải sân, nếu cần sân với nó cũng sân được, sân này gọi là phẫn nộ kim cương, tức là sự phẫn nộ của trí huệ. Cho nên, Bồ-tát Tịch Thiên nói tại sao mình lại giận người họ đánh mình mà mình không giận cơn giận, giận cơn giận là mình dùng sân trị sân. Bây giờ, có người cầm cây gậy đánh chúng ta, lúc này mình sẽ trách cây gậy, nhưng cơn giận đó mới chính là thủ phạm sâu xa.
Không người nào có tâm yếu đuối có thể thành tựu được, đó là cả một sự quyết tâm rất vĩ đại. Chúng ta thấy được điều đó, để mình đem cả tâm cung kính, chân thành, tôn trọng, tâm mạnh mẽ, nhiệt thành để mình thực tập liên tục. Ngoài đời, mấy người giàu có, làm ăn lớn do người ta nỗ lực, gắng sức chứ không đơn giản người ta trở thành tỉ phú. Hoặc như người muốn trở thành một nhà khoa học, bác học, nhà nghiên cứu, thợ giỏi phải dốc hết tất cả sức lực, thậm chí quên ăn bỏ ngủ để tìm tòi, học hỏi, sáng tạo, phát minh ra những định lý, định luật đóng góp cho cuộc đời này.
“Vui thích không phóng dật
Tỳ-kheo sợ phóng dật
Bước tới như lửa hừng
Thiêu kiết sử lớn nhỏ”
Vui thích trong sự tinh tấn, hoan hỷ ở trong sự nhiệt tâm, sợ sự buông lung, sợ sự phóng túng, sợ sự phóng dật. Vì:
Bước tới như lửa hừng
Thiêu kiết sử lớn nhỏ.
Bước tới là sự tu của mình phải đi tới, không thể đứng một chỗ, càng không thể lùi. Bước tới ở mỗi ngày, mỗi tuần, mỗi tháng trong sự tu. Hành giả cứ ngồi than thở tôi xuất gia mấy năm trời mà không thấy gì hết. Tại sao lại không thấy gì hết? Đó là do chính mình không nỗ lực. Người xuất gia mười năm mà không thấy gì hết là do chính mình không có tinh cần, chẳng nhiệt tâm, chưa gắng sức nên cứ hay đổ lỗi cho cái này, đổ thừa cho cái kia… Tất cả đều không thấy được sự thật, chính điều đó làm cho mình càng tăng lậu hoặc, mê lầm, vô minh.
Niệm định huệ của mình phải liên tục trong thực hành niệm, luôn luôn niệm bất tịnh, thường xuyên quán chiếu sự vô thường, không ngừng suy niệm về cái chết, mọi lúc nhìn thấy rõ tính chất tạm bợ, mong manh của cuộc đời này. Có như vậy, mình mới đang từng bước tới bờ giải thoát giác ngộ. Như vậy, tuệ quán giống như đống lửa được mất, hơn thua, danh lợi đến với mình không hề hấn gì.
Bây giờ đang lúc cường tráng, khỏe mạnh cố gắng tu, lúc bệnh hoạn sao mà tu mạnh được. Tận dụng hoàn cảnh thuận lợi, điều kiện tốt đẹp để làm hành trang vững chí tu hành trên bước đường chuyển hóa diệt tận khổ đau. Giữ vững chí nguyện như buổi đầu cạo tóc xuất gia, độ mình, độ người, cùng nhau tiến tới Thánh quả. Nhưng chỉ ngồi mơ hoặc niệm lực suông thì không ai cứu giúp được mình, kết quả chẳng thể tự dưng mà có được. Hành giả cẩn trọng, phải Như lý tác ý quán xét nỗ lực.
Các pháp hội tụ nơi cảm thọ, chúng ta khổ não đều vì cảm giác sinh ra. Chẳng hạn, nhiều cặp vợ chồng cự cãi cho đến đánh đập, tuy đánh nhau và không thuận thảo nhưng vẫn sống với nhau, không thể li dị được, họ vẫn vợ chồng mấy chục năm. Đời người dốc hết sức lực để có được cái nhà, chiếc xe, đồ hay ăn ngon, quần áo đẹp, rồi danh vị, chức tước,… toàn là xoay vần trong cảm giác.
Hành giả thường xuyên thực tập nhận diện cảm giác toàn thân, thấy được sự vận hành của cảm giác đều các chỗ. Khi mình giận, chỗ lồng ngực nóng lên, hai tai mình nóng lên, phát hiện sẽ chuyển hóa ngay chỗ đó để thân và tâm liên hệ điều hòa với nhau. Có những vị quán ly dục, điều đó làm giảm dục, mình quán chấp về thân, về tham muốn dục vọng đối với người khác, quán để buông ra chứ không phải quán cái đó để tự tử thì không nên quán làm gì.
- Con đang phân vân giữa từ quán, pháp đức Phật dạy có thực tại hiện tiền. Trên thực tế, những đối tượng mình quán chiếu phải có thực tánh, tức là thực thấy đối tượng thật khi trong tâm mình ngồi yên quán đối tượng đó, có phải là thực hay do tưởng của mình ra?
- Đó gọi là quán tưởng, là một trong những phương pháp định mà đức Phật dạy, thánh chánh định đó là quán tưởng.
- Quán tưởng đưa đến định. Ví dụ, định của mình đúng đưa đến chánh định, nhưng nếu quán tưởng dựa trên chánh định đó thì cái quán tưởng đó đưa đến chánh trí tuệ, gọi là thấy các pháp như thật, đối với bản chất của nó hay không hay dựa trên trí tuệ ở trên tưởng?
- Tất cả pháp tu của đạo Phật lấy chánh kiến làm căn cứ địa. Phải thành tựu được chánh kiến, từ chỗ đó mình mới tu. Tất cả sự hành trì ở mỗi hành giả đều đúng theo chánh đạo. Ngược lại, tu không chánh kiến rất nguy hiểm, sai đường lạc nẻo, chẳng đi về đâu hết.
Ví dụ, hành giả đạt tới tứ thiền, cửu định, bát định thì vẫn là tà định vì nó không có chánh kiến của Phật giáo. Chánh kiến thực thấy bằng trí của mình chứ không phải giống như lúc trước mình tưởng giống như vô thường, vô thường là chết, không phải như vậy. Mà mình thấy vô thường trong thân tâm mình đang hiện diện, trong thọ tưởng hành thức của mình, trong cảm giác suy tưởng và nhận thức, thấy được rõ trong rừng giây từng phút ngay lúc này ngồi thực tập thấy được.
Cảm giác tưởng là hình ảnh trong nội tâm của mình phản chiếu từ những hình ảnh được ghi lại khi đã từng thấy biết về chúng. Ví dụ, ai đó nói lâu quá mình không đi ngang quán phở Hội Ngộ, quán đó ăn rất ngon. Khi người đó nói như vậy, trong tâm mình khởi lên điều gì?
- Nghe xong, tưởng xuất hiện ra, trước thấy bảng hiệu hiện lên chữ Hội Ngộ, rồi khung cảnh quán đó ẩn hiện trong cái tưởng; hành là những lời nói âm thầm bên trong quán đó nó như vậy và mình đã từng tới đó; thức của con biết rõ hai pháp đó còn cảm thọ hiện tại chưa thấy cảm giác lạc hay khổ, con thấy con nhận biết đó là cảm giác xả.
Hoặc như huynh đệ đang thể hiện điều nhận diện thọ, tưởng, hành xuất hiện trong than tâm. Chẳng hạn, ba mình ở quê hiện giờ đang làm gì ở nhà? Khi thấy nghĩ trong tưởng, tâm mình giờ này ở dưới quê có mưa hay nắng, đó là hành; khi nói như vậy nhận biết được đây là cái tưởng của mình; lúc đó bản thân ta cũng có bị chạy theo cái tưởng, có cảm giác lo và ba đang khỏe hay bệnh, đó là cảm giác lạc thọ…
Tại sao có lạc thọ đó? Trước đó lo không biết ba bệnh hay khỏe, đó là cảm giác khổ thọ, từ cảm giác khổ thọ chuyển sang lo ba hiện tại đang bệnh hay khỏe thì tư tưởng khác khởi lên, ba ở nhà rất khỏe, nên trong tâm cảm giác sinh lạc thọ, sinh khởi cái thức nhận biết được suy nghĩ đó.
Hoặc như ở một huynh đệ khác có nhận biết sự chuyển động của thọ tưởng hành thức về hình ảnh ba mẹ mình đang ở quê nhà ra sao? Ngay đó xuất hiện hình ảnh của mẹ. Khi hình ảnh mẹ hiện lên trong tâm, tưởng khởi lên chữ mẹ, hình ảnh của mẹ hiện rõ trong tâm thì một sự gắn kết rất nhanh gồm có hành thức đi cùng một lúc, thấy hình ảnh của mẹ rõ là do lưu lại trong thức của mình.
Tưởng là khi nghe về hình ảnh mẹ, hành là lời nói thực hành gì đó giờ này mẹ như thế nào, thức là về sự rõ biết của tưởng và hành đó.
Trong giây phút hiện tại này, có hành giả nhận diện cảm thọ, đó là cảm giác khổ thọ. Vì chân đang đau và tưởng mong được đứng lên và đi, hành là đứng lên đi kinh hành, thức là thấy rõ được cái thọ tưởng hành đó nó đang vận hành.
Còn một huynh đệ khác cho biết rằng, hiện tại đang mỏi mông và lưng, bị ngứa muốn xả chân xoa bóp cho đỡ đau trong cảm giác khổ thọ, muốn được duỗi chân xoa cho đỡ, trong tâm nói là duỗi chân xoa bóp cho đỡ là hành, thức là nhận rõ được sự vận hành chuyển biến của thọ và hành trong tâm đang diễn ra, tưởng là đang nghĩ hình at tưởng tượng duỗi chân ra.
Như vậy, chúng ta thường xuyên công phu quán chiếu về cảm giác toàn than, xem xét thật kỹ sự vận hành của năm uẩn trong đời sống này, sẽ thấy được thật pháp thật tướng pháp của Phật.
4. Thực tập soi năm uẩn
Chúng ta cùng nghe huynh đệ trao đổi về quá trình thực hành soi xét năm uẩn ở mỗi hành giả trên bước đường tu hành.
Thầy Pháp Thi: “Lúc đi kinh hành con thấy ‘sắc’, biết là mình đang đi, có ‘cảm thọ’ thích và vui, ‘tưởng’ nghe thấy mấy con ễnh ương kêu, ‘hành’ đang nói ‘không biết mấy con này bự hay nhỏ’, ‘thức’ là biết và nhận rõ.
Huynh Trần Tiến: “Lúc con đi thiền hành tự nhiên nhớ lại câu Lục tổ nói ‘Đối cảnh tâm thường sanh, Bồ-đề làm gì lớn’. Con đối chiếu với pháp Như lý tác ý vừa mới học, nó là ‘hành’ mạnh, ý thức nhận rõ được hành đó, hành đó là ý hành, còn tưởng nói về hình ảnh không hẳn là về hình ảnh mà chủ yếu là ý niệm mạnh hơn, ‘tưởng’ lúc đi nhìn phía trước, nhận thức được cái mảng sân phía trước.
Thầy Pháp Minh: “Vừa rồi con đi kinh hành, ‘sắc’ đang đi, chân bước theo hơi thở, ‘thọ’ là cảm giác ở bàn chân đối với nền nhà, một bàn chân lạnh còn một bàn chân ấm, mình cảm giác rõ được sự chuyển đổi cơ thể dưới chân khi bàn chân được đặt xuống nền nhà. Lúc này, có hai cảm thọ lạnh nóng, khi đổi từ bên mặt ra đàng sau ra đàng trước thì cái tưởng sinh.
“Ví dụ, khi mình đi tới giảng đường, cái tâm bắt đầu nghĩ về Thầy, nói pin có đầy đủ buổi giảng hay không, thì cái tưởng nó nghĩ, cái hành âm thầm nói chắc không sao chắc đủ, hành của con nghĩ đến câu Thầy nói pin có đủ hay không, con nghĩ chắc đủ, tưởng con nhớ tới cái miệng nói đó là tưởng, lúc đó hình bóng là miệng Thầy nói, thức của con biết vừa cảm giác bàn chân đang đi, hơi thở và suy tưởng hành trong tâm. Lúc biết bàn chân lạnh ấm cũng là nhận biết toàn thân.”
Huynh Hoàng: “Ngũ uẩn lúc con đi kinh hành, sắc đang đi, con nhìn xuống dưới sàn, đang nhận rõ khổ thọ vì đang khát nước, tưởng là một ca nước, hành là lời nói của con ‘nếu có một ca nước uống chắc rất đã’, thức là nhận diện được những lời nói những tưởng tượng có hình ảnh.”
Một vị khác: “Trong lúc đi kinh hành, con thấy chân mình đang đi và mắt nhìn xuống sàn nhà; cảm giác chân phát ra tiếng động, đi theo sau gót chân người đi trước, cảm thọ mỗi bước chân bước, gót chạm trước sau đó tới bàn chân rồi tới ngón chân; trong đầu lúc đó tưởng tượng bước chân trái đi thì người mình nghiêng về bên trái, khi bước bên phải thì người nghiêng về bên phải, tay đung đưa nhè nhẹ; con thấy trong tâm thức mình nhìn thấy được hành động đang bước đi; thức con nhận thấy trong cơ thể đang tiến hành đi như vậy; trong tâm không nghĩ gì chỉ thấy mình đang đi; đang cảm thọ sự nóng lạnh của lòng bàn chân và tưởng tượng mình đi hơi nghiêng qua nghiêng lại.”
Thầy Pháp Từ: “Khi đi kinh hành giai đoạn đầu con tập trung vào ba pháp như Sư phụ chỉ dạy, tức là đặt niệm trước mặt, cảm giác toàn thân và nội tâm tỉnh giác. Khi con thấy được mình trú tâm tỉnh giác trong ba pháp đó thì thân hành niệm của con có sự vững chãi được một lúc. Con an trú vào oai nghi nhận biết rõ những cảm giác, đặt hai bàn chân xuống nhận biết rõ, sau đó khoảng một lúc tưởng hành thức nó hoạt động trở lại. Chẳng hạn, con tưởng tới lúc mọi người đi ngủ thì chỗ ngủ như thế nào, mọi người ngủ có thoải mái, đầy đủ mền chiếu gối hay không?... Những hình ảnh đó hiện ra ở thất, mọi người ẩn hiện trong con, lời nói hành uẩn cũng xuất phát, nói thầm mọi người ngủ có thoải mái hay không, mền gối có đủ hay không? Sau đó, con nhận biết con tác ý, cái hành con tác ý thất niệm, mình đang bị hành chi phối phải quay về với pháp. Lập tức con quay trở về, được một lúc thì nghe câu hỏi của Sư huynh, Sư phụ ngay lúc đó con nhận thức rõ cái tưởng, cái hành nó đang hoạt động, thức của con nhận rõ hai pháp đó hành uẩn, cũng tác ý không đúng. Như vậy, buông lung phóng dật không tốt, phải quay lại pháp, an trú trong ba pháp.”
Trong tâm Minh Thành biết ơn sâu sắc đối với tất cả huynh đệ! Vì các huynh đệ đã xa cha lìa mẹ, để lại chuyện gia đình của mình qua một bên, bỏ hết những gì thân thương nhất trong đời sống này, cùng nhau trở về chỗ hiu quạnh của núi rừng để tu tập, cũng như hỗ trợ đạo tràng với một niềm tin tưởng đối với Phật, Pháp, Tăng và Minh Thành. Bản thân tự thấy mình rất hổ thẹn nên cố gắng nỗ lực tu học, làm công quả. Khi sự tu học có những thành quả tốt, Minh Thành muốn đem pháp ấy chia sẻ mong đáp lại tấm lòng của huynh đệ đã quý mến Minh Thành! Mong rằng chúng ta cùng nhau trân trọng những giây phút này, để biết được giá trị quý báu của sự tu học chánh pháp, nhất là trong thời đại này. Hồi trước đến nay, mình hay nói Vô thường, Vô ngã là nói trên lý thuyết, trên sự giải thích bây giờ Minh Thành muốn cho các huynh đệ chứng minh thấy bằng mắt bằng tâm của mình, chứ không phải nói bằng ngôn ngữ, bằng giải thích suông trên môi.
Huynh đệ nhìn lại nội tâm của mình trong khi đi thiền hành, mỗi người đã đều phát biểu, mọi người nhìn lại thấy sắc thọ tưởng hành thức của mình, có thấy biến đổi vô thường hay không?
Đây là thật pháp của đức Phật mà ngày nào chúng ta cũng tụng ‘Quán Tự Tại Bồ-tát hành thâm Bát-nhã ba-la-mật đa chiếu kiến ngũ uẩn giai không’, vậy mà mình không thấy ngũ uẩn là gì? Bây giờ mình đang thực tập để thấy rõ chính mình, tự thân và tự tâm của chính mình. Đó là đến để mà thấy, mong rằng huynh đệ hãy nỗ lực trong sự thực tập này để chúng ta nếm được, cảm nhận được pháp vị.
Chúng ta cùng nhau ngồi mười lăm phút rồi xem lại ngũ uẩn của mình sắc, thọ, tưởng, hành, thức trú trong ba pháp.
Thầy Pháp Nhân: “Con ngồi tĩnh tọa mười lăm phút, con đặt niệm trước mặt, trước mặt con là bức hình họa của một chú chim công trên tấm chiếu, nhận diện đó là sắc; khi con nhìn chú chim công trên chiếc chiếu trước mặt con có cảm thọ không dễ chịu cũng không khó chịu; tưởng của con lúc này hướng đến hình ảnh một chú chim công; hành của con là lời nói phải chi có một chú chim công thật trên khóa tu lần này thì hay biết mấy; thức là sự rõ biết của sắc thọ tưởng và của hành. Cảm giác toàn thân cảm thọ của mình không khó chịu cũng không dễ chịu.”
Huynh Cường: “Con nói về cảm nhận, sắc con đang ngồi thiền; con có cảm thọ ngồi cảm giác mông với chiếu và con cảm giác thân con với áo; con ngồi tưởng tượng thế ngồi có bị méo, có bị nghiêng để con điều chỉnh; thức là con nhận thức được sự nhận biết của sắc thọ tưởng hành thức trong con để con chuyển hóa nó.”
Một vị khác: “Trong lúc ngồi thiền, con thấy trước mặt mình ngồi xếp bằng kiểu bán già, nghe hơi thở của mình đi theo, đồng thời cảm giác về thân, cảm giác chân trái đau nhức, con đổi chân qua lại và đổi thế ngồi của Ngài Quán Tự Tại, làm như vậy gọi là hành, thức là nhận biết được thân tướng đang ngồi đó và cảm tưởng khổ thọ, đó tưởng tượng như thế này như thế kia đó là thức.”
Một vị khác: “Trong lúc ngồi thiền, sắc là con đang ngồi thiền, thọ là cảm giác khổ thọ vì buồn ngủ, tưởng là được đi ngủ, còn hành của con được đi ngủ rất sướng, thức của con nhận biết được những lời nói và tưởng đang vận hành.”
Một hành giả đặt câu hỏi: “Con đang băn khoăn nhìn chánh niệm trước mặt, cảm nhận toàn thân và cảm nhận trong tâm giống như khi nhận rõ vấn đề, con thấy trong tâm mình diễn biến song song theo một cái nào hay bình thường theo nó? Trong ba pháp giống như con quán xét ba pháp đó có một pháp hành, ba pháp đó con cảm nhận như bị mỏi, mình tập trung hay điều hòa hết cả ba?”
Huynh tập trung điều hòa hết cả ba pháp, nếu mình làm một cái không đủ sức, mình chánh niệm tỉnh giác, điều hòa chia đều ra, mình tập nhận diện từ từ mình sẽ thấy được sự trú ẩn của phiền não tham sân si. Ta sẽ nhận diện rõ sự trú ẩn của chúng trong sắc thân ngũ uẩn này.
Thật vậy, đức Phật dạy hàng đệ tử thường xuyên nên tập quán chiếu sâu xa xét kỹ tận tường về năm uẩn đang vận hành. Vì trong nhận thức, mình là nguyên khối, mình là trọn vẹn, còn đức Phật nhìn bằng trí huệ, Ngài đã bóc tách cho chúng ta thấy rõ sự tập hợp của năm nhóm. Trong năm nhóm đó không có cái nào là chắc thật, thay đổi liên tục, mình thấy thọ tưởng hành thức không có cái nào cố định. Ví như, trái quít đem ra lột vỏ, rồi tách ra từng múi, không có cái nào là chắc thật. Phân tích năm uẩn nhằm giúp hành giả phá được thân kiến, tức là kiến chấp sai lầm về thân và tâm. Là người con Phật, nên thường thực tập quán chiếu như vậy thì từ từ mình thật sự tách khỏi ý niệm cho rằng cái sắc thọ tưởng hành thức là mình. Phải thấy rõ nó là năm uẩn, người thấy rõ được như vậy thành tựu trí đó là đoạn được thân kiến hoài nghi của giới cấm thủ, dự vào thánh quả thứ nhất tu-đà-hoàn.
Chúng ta thật tâm hành trì để phá được thân kiến thấy đó là sắc thọ hành thức không phải mình, chính mình thấy, hoài nghi là mình, nghĩ hồi xưa mình ra làm sao, sau này mình sẽ ra làm sao?... Giới cấm thủ là giới đi không đúng chánh pháp hoặc là tuy mình giữ giới đúng chánh pháp hoặc mình sợ phạm Phật bắt tội mình. Đó cũng là giới cấm thủ, mình ý thức giới đây là nhân quả đem những điều tốt đẹp đến với mình. Cũng giống như người lớn ý thức được bờ vực thẳm là nguy hiểm, người ta không bước ra còn con nít phải la rầy làm hàng rào để nó không tới nơi nguy hiểm được. Ý thức nhân quả để mình giữ giới, không phải mình sợ Phật phạt la rầy có tội, là mình phá hoài nghi, giới cấm thủ dự vào dòng thứ nhất trong bốn thánh quả.
Trước, mình nghe vô thường, tưởng mai mốt mình sẽ chết được vãng sanh hoặc sẽ thành cái này cái kia. Đó là mượn phép quán tưởng để dẹp bớt cái chấp quá nặng. Bây giờ từ việc quán thân hành niệm nhìn thấy thọ tưởng hành nó liên tục vận hành. Mình mang sắc uẩn thấy khổ, chỉ có một bệnh đã khó chịu huống nữa là chất chồng bao thứ khác đến với thân tâm này, nhưng ta tưởng đâu là vui, nên chìm ngập trong si mê sai lầm. Đừng nghĩ rằng tới lúc bệnh mình mới khổ, ngay khi không bệnh vẫn có khổ, nó túc trực nhưng vì ít để ý nên chưa nhận diện. Chẳng hạn, ngồi lâu thì đau mông, tê chân, mỏi gối; đi hoài thì nhức chân, mệt; nghe pháp mới có chút ít đã thấy nản, buồn ngủ; ngồi thiền một ít đã nản vì chân đau, mông tê, lưng mỏi, không vượt qua khó khổ hiện tại thì làm sao đến bờ giải thoát an nhiên?! Đó là sắc uẩn, sự tập hợp của sắc chất cho nên mình nhìn thấy sự nỗ lực, nhìn trí huệ soi thấu nó được rồi, sẽ được an lạc, diệu kỳ sẽ xuất hiện.
5. Năm uẩn vận hành
Chúng ta tiếp tục chiêm nghiệm trong quá trình tu tập tọa thiền, kinh hành, oai nghi đi đứng ngồi nằm, nói nín động tĩnh, từ cuộc sống cho tới tâm linh, từ thân miệng ý mọi lúc mọi nơi để nhận rõ về sự vận hành, biến chuyển trong khoảnh khắc hiện tiền của năm uẩn.
Thầy Pháp Minh: “Từ khi nghe được lời chia sẻ của Thầy sau những ngày nhập thất vừa qua, riêng bản thân con thấy sự vận hành của ngũ uẩn và thân tâm rất rõ hơn so với thời gian trước, nhờ ba pháp mà Thầy đã truyền trao cho. Cho nên, mình luôn cảm nhận được sự tỉnh giác hơn và sự vận hành của ngũ uẩn trong nội tâm, cũng như biểu hiện trên thân thể rõ ràng hơn rất nhiều.
Trong giờ ngồi thiền lúc sáng nay vì thời tiết rất lạnh, đầu tiên thân thể con cảm thấy lạnh, con thấy khổ thọ; sắc thọ là cơ thể con đang ngồi thiền xếp bằng lưng thẳng; cảm thọ khổ vì trời lạnh, cảm giác tay chân tê cóng cảm thọ khổ; tưởng là mình được ngủ một chút nữa; hành, thời tiết lạnh như vậy nằm chút không sao; thức là biết đang ngồi, tay chân đang lạnh, tư tưởng vận hành.”
Một vị khác: “Ngày hôm qua, trước khi đi ngủ con đã lên gác nhìn thấy bộ xương bằng nhựa, trước khi ngủ con có ngồi tĩnh tọa ít phút để quán chiếu về thân ngũ uẩn. Con quán xét thấy được tưởng của mình là bộ xương và hành nói là sau này mình sẽ đến chỗ đó, vì sắc thân này là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi tánh chất đó. Nó nói thầm, trong tâm quán chiếu quán tưởng một hồi con thấy được an lạc và có ý thức trong sự tu tập nhiều hơn. Con ngồi nhìn bộ xương, nhớ lại những lời dạy của Sư phụ và lời dạy của đức Phật dạy.
Buổi sáng sau khi thức dậy, cảm giác khổ xuất hiện đó là thời tiết lạnh và tưởng của con cũng xuất hiện từ đó. Mình lạnh, không đủ áo mặc sợ bệnh, sau đó hành nói chuyện trong tâm, thức là con nhận biết được những ý niệm tư tưởng, hành uẩn đang hoạt động, con có khởi lên tác ý rằng những ý niệm đó là những ý niệm nhu nhược không phải là một người đệ tử chân chánh của đức Phật. Do vậy, mình gắng sự kham nhẫn, vì còn có tịnh thất để ngồi trú lạnh, trong khi thời xưa các vị Thánh tăng chỉ có những gốc cây, mình có mền, gối, tịnh thất có đầy đủ như vậy mà mình vẫn còn tham trong đó, còn mến tiếc thân này sợ bệnh sợ khổ, nghĩ đến thấy xấu hổ có những ý niệm tác ý trong hành uẩn khởi lên, con thấy được khởi sanh ra tâm xấu hổ.”
Một vị khác: “Sáng, ngồi thiền con nhận diện năm uẩn như sau: Sắc thân của mình đang ngồi trong tư thế xếp bằng lưng thẳng; còn thọ hơi khó chịu, đầu hơi nặng, mắt hơi sụp; tưởng, sắc thân nằm trên mền chắc là rất ấm; hành nói ‘phải chi thân này nằm trên mềm ấm rất tuyệt vời’; thức là sự rõ biết của sắc, thọ, tưởng, hành.”
Một vị khác: “Hiện tại bây giờ sắc con đang ngồi thẳng, thọ của con đang cảm thấy thọ lạc, tưởng của con thấy một hình bóng tưởng tượng mình đang ngồi thiền cầm micro nói chuyện, hành cầm micro nói chuyện, thức biết là đang nói, nó nói nghe tim đập tiếng gió thổi, nhắm mắt nhìn trong nội tâm nghe tiếng A-di-đà Phật đó là ý hành, nhắm mắt kỹ có cái tưởng Phật.”
Một vị khác: “Sắc con có một thân đang ngồi đây, thọ cảm giác không khí rất mát mẻ cảm giác lạc thọ, tưởng con có hình dung nghĩ bình minh sắp lên có hình bóng mặt trời trong tâm, hành con thấy hơi mờ, hành không rõ ràng, về thức biết được hành niệm con thấy chưa rõ.”
Một vị khác: “Hiện tại bây giờ con nhận diện được rằng sắc của con đang ngồi bán già còn thọ của con đang cảm giác khổ thọ, khổ thọ của con là do đau lưng, còn tưởng của con tưởng tượng ra có dựa lên một bức tường, hành là nếu có một vách tường dựa chắc rất đã, thức của con nhận diện được mấy thọ tưởng hành đang vận hành.”
Trước giờ mình học trên lý thuyết, ngôn từ nhiều thuộc về tưởng uẩn. Nay, mình vừa học vừa thực tập tại chỗ, lý thuyết kết hợp thực hành ngay trong hiện tại để nhận thấy rõ rệt sự vận hành của thân và tâm trong mỗi hành giả. Đây là pháp chỉ thẳng thân tâm của đức Phật khi Ngài còn tại thế, chứ không phải nói suông hay tưởng tượng mà bằng con mắt tâm của mình nhìn thấy rõ chính mình.
Nếu huynh đệ siêng năng nỗ lực nhận diện liên tục năm uẩn, huynh đệ sẽ còn phát hiện ra những điều rất đặc biết, nếu bước này không thực tập được, những bước sau khó thành tựu, vì chính mình còn không hiểu rõ bản chất của chúng thì làm sao tu tập được. Thử nghĩ, tư tưởng mình ra làm sao mình cũng không biết, những suy nghĩ của mình như thế nào mình chẳng rõ, cảm giác gì cũng chưa tường, nhận thức trong nội tâm mãi lờ mờ thì làm sao mình tu. Cho nên, bước này là bước quyết định là bước thứ hai sau bước ba pháp.
Như vậy, chúng ta cùng nhau chất vấn, tại sao phải nhìn lại nội tâm mình? Mình đã học pháp vạch mặt thọ tưởng hành thức. Mình phải thấy rõ thọ tưởng hành thức là thọ tưởng hành thức không phải là mình. Từ đó, chúng ta mới có thể mạnh dạn nhìn sâu vào bản chất. Ví dụ, ta đang ngồi nghe pháp mà tư tưởng suy nghĩ của mình chạy về nhà, chạy xe đi chơi lúc đó là tưởng với hành.
Từ đâu mà có tư tưởng suy nghĩ đó? Suy là suy nghĩ tưởng là những hình ảnh, nói gọn là tưởng với hành.
Rồi từ đâu nó phát sanh ra suy tưởng đó? Từ cảm giác. Cho nên, cảm giác phía dưới nung nấu, đẩy lên rồi thọ tức là cảm thọ cùng lúc tương tác và vận hành, mong muốn một cảm giác sướng vui nên mới suy tưởng, tức là sâu thẳm trong cảm giác là nghĩ tưởng, có mặt của tham dục và tham chỉ vì sự ham muốn của cảm giác tức là từ phía cảm thọ mà thành tưởng, hành. Đó là trú xứ của phiền não, căn cứ địa của tham ái, khi thấy được chỗ xuất phát của nó rồi, mình trị rất dễ, trước đây mình không thấy nên khổ còn đeo bám.
Một nhận diện khác của huynh đệ. Ví dụ, ai đó đang nói về cha, còn mình thì có tình cảm sâu sắc với mẹ, mà mẹ đã mất, nên lúc đó thọ, tưởng, hành sẽ suy tưởng về hình ảnh của mẹ. Những lời nói xung quanh, cảm giác lo lắng. Đức Phật gọi là thọ ưa cái cảm thọ là lo lắng nhìn sâu xuống đó là ái.
Hoặc như, trong tỉnh Lâm Đồng mình nghe tin có người bị tai nạn giao thông chết hoặc trong huyện Bảo Lâm có người gặp tai nạn thê thảm lắm. Đó là nghe hoặc biết về tin tức buồn, nhưng chúng ta chỉ thoáng buồn, hoặc biết thở dài, cảm xúc cho nhân thế gặp chuyện đau khổ hoặc có người cũng nghĩ là bình thường vì nó không liên quan đến ốc đảo của bản thân họ. Nhưng nếu người bị tai nạn đó là người thân thương nhất của mình chết thì mình sẽ đau thương tột cùng, đó là ái. Cho nên, chỗ này mình nhìn sâu xuống thọ tưởng hành thức, bình thường mình nghĩ đây là suy tưởng tôi nhớ vậy thôi, chuyện đó rất bình thường, nhưng nhìn sâu vào sẽ có cảm giác rất xót thương. Chúng ta cùng trao đổi về điều này.
Thầy Pháp Nhân: “Lúc đó cảm giác niềm vui hân hoan hay xúc động buồn vui mà trước đây có với mẹ, cảm xúc trào dâng rất mãnh liệt, khi trào dâng tình cảm như vậy thì cảm giác toàn thân lúc đó nằm chính diện là ở trong lồng ngực.”
Như vậy, phiền não có chỗ biểu lộ ở thân mình. Do vậy, tất cả đều nằm trên thân, trú trong cảm giác, nếu mình nói nghĩ nhớ về mẹ, chuyện đó rất bình thường. Nhưng nhìn sâu sẽ thấy trong đó là ái. Trong cảm giác này nó làm cho mình rất xót xa, nhớ nhung, có khi tiếc thương, hối hận những gì mình chưa làm được cho mẹ. Tất cả những cung bậc cảm xúc cũng từ luyến ái phát sanh cảm giác. Rồi từ cảm giác đẩy lên những suy tưởng, tưởng và hành làm mình không dứt khổ, vậy mà chúng ta vẫn mải mê, không biết tại sao mình có cảm giác này.
Thầy Thường Tín: “Con có nhận biết được mấu chốt vấn đề. Bây giờ muốn phá dẹp được ái này, mình phải Như lý tác ý và quán chiếu.”
Nhận diện thứ hai của huynh đệ là buồn ngủ muốn được ngủ, còn huynh khác thì đau muốn bung chân ra khỏi tư thế kiết già cho khỏi đau. Nếu nhìn sâu đó là dục và tham đang vận hành. Vì giờ đó không phải giờ ngủ mà là giờ tu, mình nhìn sâu vào điều mong muốn của mình tuy thấy rất bình thường nhưng cảm giác, suy tưởng, hình bong, lời nói, cảm giác đó là động lực của tham đẩy tới sanh ra sự suy tưởng mong muốn có được cảm giác đó. Nếu giờ đó là giờ ngủ thì đúng nhưng giờ đó là giờ tu, giờ đó là giờ mình nghe pháp để hành trì cho đúng, tức là sự mong cầu của mình không đúng thời, phải dùng Như lý tác ý dẹp phá, tẩy sạch nó chính là tinh tấn.
Khi hành giả đang đi, đứng, nằm lúc đó có dục tầm (tầm là suy tầm, suy tư), suy tư về tham dục khởi lên, nghĩ về sân hận, hoặc về hại khởi lên lập tức nhận biết rõ và thấy đó là bất thiện pháp, ta phải nhanh chóng diệt tận ý niệm ấy, còn mình nuôi dưỡng tiếp tục tư tưởng đó là lười biếng, giải đãi, thấp hèn, nhu nhược trong giáo pháp.
Một huynh đệ khác nhận diện, đang đi thiền hành nghe mấy con ễnh ương kêu, không biết hình tướng nó nhỏ hay lớn, màu sắc ra làm sao, thì đó là hướng ngoại, phóng tâm. Nếu nói sâu là hữu lậu, tức là sự nhiễm của tâm mình muốn suy nghĩ, không muốn yên, thà làm cái này cái kia cái nọ chứ ngồi yên là không chịu được.
Tâm chúng ta vi tế và xảo quyệt lắm! Phải chiến đấu không buông. Chẳng hạn, hành giả đang ngồi thiền nó kêu mình đi nghe pháp, đi kinh hành hay kêu đi nằm ngủ đó là trạng thái hữu lậu. Nó len lỏi, luôn luôn tiềm phục trong ngóc ngách tâm mình mà mình không thấy. Điều này không phải thường! Nếu thấy được tham sân si một cách rõ ràng, trọn vẹn người đó bước vào thánh quả tu-đà-hoàn. Vì hành giả ấy đã diệt tận được tham sân si giai đoạn thứ nhất, quả vị thứ nhất là nhất lai, dẹp nó tới giai đoạn thứ hai gần sạch hết là bất lai, giai đoạn thứ ba thánh quả, dẹp sạch hết không còn gì nữa hoàn toàn trong sạch là quả thứ tư thành A-la-hán.
Trong thất Minh Thành đang ở có rất nhiều kiến. Cái thau mình rửa chén có dính chút dầu hay còn sót chút đồ ăn là kiến bám, trong nhà mình rớt chút xíu đồ ăn là kiến bu đầy. Lúc đó, Minh Thành mới rửa sạch để không còn một cái gì dính dầu hay có nước rơi vãi thì kiến không có vào. Vì có lần còn đồ ăn kiến bu vào nên mình lượm miếng đồ ăn sót ấy bỏ ra ngoài. Lát sau, kiến vẫn bu quanh chỗ còn dính nước. Cho nên, mình phải lấy nước rửa cái dính cho sạch, không còn mùi lúc đó kiến không còn bu nữa. Cũng như vậy, sự tu tập là tẩy rửa tâm của mình thường xuyên và liên tục.
Tạm phác thảo sơ đồ:
Phát hiện miếng đồ ăn rớt ra ngoài nền nhà, thau chậu rửa chén, ví như thành tựu trí thứ nhất, thánh quả thứ nhất;
Lập tức đem bỏ miếng đồ ăn đó ra ngoài nhà, khỏi thau chậu trong nhà, ví như thành tựu quả thứ hai;
Chịu khó, kiên trì công việc rửa sạch chỗ từng bị dính miếng thức ăn còn bám trên nền nhà, trong thau chậu, ví như bước vào quả vị thứ ba;
Vẫn tiếp tục lau chùi, trong nhà, ngoài ngõ, thau chậu thật cẩn thận trên dưới trong ngoài cho sạch sẽ, không còn mùi ô nhiễm để kiến không thể bắt mùi tìm tới. Ví như vậy là bước vào thánh quả thứ tư A-la-hán.
Trước nay mình thấy tham sân si ở chỗ nào, huynh đệ nhìn sâu vào thọ tưởng hành thức mình sẽ thấy được nó cư trú chỗ nào trong thân mình. Một khi ta thấy rõ năm uẩn vận hành, sự tu tập rõ ràng theo lời Thế Tôn dạy thì sẽ thành tựu những thánh quả mà đức Phật đã tuyên bố. Điều chánh yếu là tu đúng chánh kiến, chọn nơi tu hành ở a lan nhã núi rừng, độc cư thiền định có khả năng thành tựu nhiều hơn ở chốn lao xao dễ phân tâm. Tuy vậy, thành hay bại, chiến thắng hay quy hang là do ở ý chí của mỗi hành giả trên bước đường tu. Còn nơi trú xứ chỉ mang tính trợ duyên, xét sâu soi kỹ để phá trừ dục và tham, ở giai đoạn thô mình thấy hạnh phúc lạ kỳ!
Làm sao nhiếp phục dục và tham? Muốn nhiếp phục được dục và tham, chỉ khi nào mình không còn suy nghĩ muốn được sở hữu, muốn là của riêng mình, phải thật sự buông xuống ý niệm ấy thì mới thoát ra vòng vây của dục tham quấy phá. Tánh tham muốn này chỉ nói ở bên ngoài. Dục tham trong nội tâm của mình làm sao có thể bỏ được? Ví như, dứt khoát dứt áo ra đi lìa ái từ thân, xa vợ bỏ con để đi xuất gia phải làm thế nào?
Sâu xa là muốn dứt phiền não, nên huynh đệ chúng ta đã tìm con đường để giải thoát, diệt tận tham sân si, khởi từ bi hỷ xả, học theo Phật để thành Phật. tham pháp cầu đạo, không thể tham danh lợi dính mắc như ở thế gian nữa, cần tự soi rọi lại chính mình mới khéo tu để tránh dục tham dấy khởi.
Trở về vấn đề là mình phải quán thân, theo bản kinh Tứ niệm xứ, để nhận ra ba mươi hai thể trược giúp ta ngăn che móng khởi tham. Rồi quán chín giai đoạn của một tử thi để thấy có gì đáng để tham. Hành giả thường quán niệm tử, luôn nghĩ nhớ đến cái chết để lìa dục tham.
Con rắn có thể làm cho ta chết, cơn gió độc cũng có thể làm cho ta suy yếu hoặc chết, con rết, bò cạp mang tới sự nguy hiểm mạng sống của mình. Những điều vừa nêu chỉ là tạm ví dụ trong hằng hà sa số điều ta thấy thiết thực hàng ngày để quán sát. Ngày nay, cái chết thường trực, lơ lửng, nguy hiểm, hiện ra nhan nhản khắp bản tin trên báo nói, báo hình, báo giấy dễ thấy nhất là mục điểm tin tai nạn giao thông. Ngày nào cũng có tai nạn chết chóc cho tới thương tật, một năm chết gần chục ngàn người, hơn cả chiến tranh. Trước vô lăng là tính mạng của nhiều người trên xe và trên đường lưu thông, tài xế chỉ sơ sẩy tay lái một chút không phải chết một người mà là chết cả bảy người mười người, hai mươi mấy người, thậm chí xe bị cháy không nhận dạng ra ai cả. Nguy hiểm khôn lường! Ngoài ra còn có vô vàn thứ chiến tranh đang diễn ra như chiến tranh với bệnh tật, những tên bệnh mang tên thần chết treo lơ lửng và cái nghèo khó khổ hiện ra trong sự vô vọng. Nước mắt, nỗi khổ niềm đau chìm ngập trong phận người.
Chúng ta hãy hoán chuyển mình ở vị trí của họ sẽ thấy vô thường hiện diện thường trực. Lúc đó nếu như mình chết thì sao? Nếu như mình đi buổi tối trên con đường núi vắng vẻ này bất chợt có con rắn trườn ngang và mổ mình chết thì sao? Nghĩ như vậy không phải yếm thế, bi quan mà là nghĩ rằng sự sống này mong manh, tạm bợ nên cái chết luôn diễn ra bất cứ lúc nào. Cho nên, khoảnh khắc đang sống là phút giây hạnh phúc, tuyệt vời, cần sống có ý nghĩa, vượt thoát khỏi tầm thường phàm phu để học và đi theo bước thánh nhân đã đi. Có như vậy mới ra khỏi nhà lửa, đi vào con đường Như Lai đã chỉ dạy.
Nghĩ sâu xét kỹ để buông xuống phóng dật, nhiệt tâm tinh cần, hung tâm dũng trũng trên con đường giải thoát. Chúng ta cùng nhau trao đổi về suy nghĩ này, cảm nhận qua phương pháp đức Phật dạy để làm sao hành trì giảm dần cho tới dứt được dục và tham. Nhìn lại ngũ uẩn để nhìn rõ chính mình, thân tâm của mình chỗ cư trú của phiền não của dục tham.
Một hành giả chia sẻ rằng: “Thời gian qua con nhìn thấy được sự tham dục, biết được ngũ uẩn nhưng không biết phương pháp nhận diện nó như Thầy nói. Thiền định nhìn thấy hoạt động của ngũ uẩn, chỉ biết ngũ uẩn như vậy là như vậy nhưng không biết sự vận hành của nó, bây giờ mình mới nhận ra, thấy được nó nắm rõ nguồn gốc dục trú trong mình, tham muốn do đâu. Lúc trước, con tu tập chỉ biết cảm thọ, bỏ đi phiền não. Con chỉ muốn từ bỏ được phiền não để mình không còn vương vấn, tìm con đường giải thoát, bây giờ mới thấy chính phiền não do cảm xúc sanh ra, trong cảm xúc mình thấy được sự tham muốn lăn tăn và luôn muốn sở hữu, con may mắn hôm nay biết được căn cội của phiền não.”
- Suy tầm, suy tư con hiểu, còn tầm và tứ trong kinh nói, ‘tầm’ con hiểu mà ‘tứ’ con chưa hiểu rõ?
- ‘Tầm’ ví như con ong hướng về cái hoa, còn ‘tứ’ là đi tới bông hoa đó vờn quanh quanh nó, tức là hướng tâm và bám vào đối tượng. Mình quán về bất tịnh, tâm mình bắt đầu hướng về quán đó gọi là ‘tầm’ khi đề mục hiện rõ lên mình bám chặt vào nó gọi là ‘tứ’, con ong bay quanh hoa là ‘tầm’ hướng tới đối tượng, khi nó bay tới hoa rồi lượn quanh và đậu vào hoa đó là ‘tứ’. Như vậy, ‘tầm’ là hướng vào đối tượng, ‘tứ’ là bám sát vào đối tượng.
Một huynh đệ khác chia sẻ: “Trước đây con nghe những bài pháp của Thầy giảng trên trường Phật học, khi con nghe về ngũ uẩn trong tâm của con có một ý nghĩ là ngũ uẩn với bản ngã của mình nó có liên quan gì nhau chăng? Rồi khi thực hành nhận diện rõ sắc, thọ, tưởng, hành, thức lúc đầu con chưa có được rõ lắm. Nhưng giờ thì đã dần hiểu ra, thấy rõ hơn về năm uẩn để mình phá bản ngã, bắt đầu con mấp mé thấy được cánh cửa để mình đi đến vô ngã. Vì con đường tu một khi bước vào cánh cửa vô ngã thì con đường an lạc thảnh thơi sẽ tiếp đón.”
Một huynh đệ chia sẻ: “Trước nay, hôm nào con cũng tụng kinh Bát-nhã, đến bây giờ khi đào sâu quan sát ngũ uẩn này, con thấy mình thật may mắn được tu tập theo pháp hành giống như Ngài Quán Tự Tại Bồ-tát ngày xưa.
Quán chiếu ngũ uẩn giai không
Vượt qua tất cả khổ ách
Theo con hiểu cái khổ về tâm quan trọng hơn, mục tiêu mình tu tập về tâm linh, khổ do u minh nghiêm trọng hơn về tâm, qua hết thảy khổ ách theo con hiểu là giải quyết cả khổ u minh lẫn nỗi khổ bệnh tật về thân xác.”
Thầy Pháp Bảo: “Thật sự cảm xúc của con bây giờ rất vui! Trong những năm vừa qua, riêng bản thân con trong khoảng năm năm trở lại hay chạy theo hình sắc, những đối tượng vì không kiểm soát tham dục, tham ái, dục tưởng bên ngoài. Khi chúng con được hướng dẫn tu tập quán pháp bất tịnh, hành theo kinh Tứ niệm xứ. Lúc đó trong thân tâm con đã tìm lại được con đường gọi là chuyển hóa nội tâm những gì mình đã rượt đuổi chạy theo. Pháp Bảo năm rồi đã chết, Pháp Bảo năm nay mới chính là Pháp Bảo!”
Thầy Pháp Minh: “Đức Phật đã nói ra ba nguyên lý vĩ đại, toàn thể vũ trụ này là Vô thường, Khổ và Vô ngã. Ngày trước chúng ta nói Vô thường nhưng khi mình thực hành quán xét về năm uẩn này mới thấy rõ sự Vô thường. Nó hiện diện trong từng tâm niệm, chính ngay nơi thân thể của mình, sự vận hành của danh và sắc. Khi mình thực hành nhiều như Thầy nói, sẽ thấy rõ thân tâm vô thường và hoàn cảnh vô thường để chứng ngộ được vô thường này không có cái gì nhanh hơn là mình quán chiếu chính cái ngũ uẩn. Sâu sắc hơn nữa, ta cảm thấy vô thường đến đi rất nhanh, ban đầu chánh niệm của mình chưa được mạnh, nó cảm nhận rất từ từ nhưng càng ngày mình càng phát hiện sâu hơn những dòng tư tưởng của mình đến đi rất nhiều. Chẳng hạn, lúc ngồi thiền có khi đến hai chục đến trăm tư tưởng rồi cảm thọ, cảm thọ khổ, cảm thọ lạc, cảm thọ không khổ không lạc đến đi một cách nhanh chóng, nên con thấy rằng con đường này mình đi rất khả quan, cốt lõi ở bản thân phải chịu ra sức trau dồi, luôn tinh tấn.”
Thầy Pháp Thi: “Sắc của con đang ngồi nghe Thầy giảng pháp, thọ thì rất lạc thọ hạnh phúc, tưởng rất nhiều hình bóng. Ví dụ, ‘tưởng’ tim của con đập mạnh nhiều; ‘hành’ nói quả tim đập cái biết mình là nó đang biết chim kêu gió thổi. Con đang thực hành trên bước đường tu tập, để biết nguyên nhân tại sao là mình không có, vô ngã của mình ảo tưởng nhưng không biết nguyên nhân tại sao mình lại có ngã đó, không biết cách phá như thế nào? Bao nhiêu câu hỏi chập chờn về tôi, ngã, có và không… Hôm nay, con cũng đã biết cách nhận diện được nó. Con cảm ơn thầy đã chỉ dạy, hé mở cho con thấy cánh cửa chánh pháp bất tử, con cố gắng áp dụng thực hành những bài học được tinh tấn tu hành thoát khỏi phiền não, khổ đau.”
6. Quán sát sâu sắc về năm uẩn
Nguyên nhân của khổ vì chạy theo sắc, để tự ngã của mình nằm trong sắc. Nếu mình muốn an lạc phải lìa sự dính mắc từ sắc. Đối với thọ, tưởng hành, thức cũng vậy. Nếu hành giả luôn nhận thấy một cách sâu sắc và hành trì theo từng tầng bậc pháp hành mà Thế Tôn đã chỉ dạy thì con đường đạt đạo quả là có thật.
Thầy Pháp Minh: “Con có cảm nghĩ, sở dĩ chúng ta đau khổ đều không nhìn nhận được sự vận hành của năm uẩn. Do không thấy được sự vận hành của năm uẩn nên dễ bị đồng hóa với sắc, thọ, tưởng, hành, thức là ta, của ta. Vì thấy sắc, thọ, tưởng, hành thức là ngã, còn trong phàm phu, vô văn phàm phu. Còn bậc thánh đệ tử thấy rõ rằng năm uẩn này không phải là ta cũng không phải của ta. Nó không phải là tự ngã, không nằm trong tự ngã và tự ngã không nằm trong nó. Nếu tách năm uẩn ra khỏi thân tâm này tức là mình nhìn và quán chiếu nó, để thấy một cách chân thật rằng đó chỉ là duyên hợp giả tạm. Đức Phật dạy về mười hai nhân duyên, nói đến duyên khởi từ vô minh sinh ra hành với thức, hành sở dĩ tại sao chúng ta sanh tử luân hồi, chúng ta còn cái hành sinh ra thức mới đi tái sinh. Khi chúng ta đồng hóa, tự ngã, không nhìn nhận sắc này là năm uẩn tiến trình duyên sinh, chúng ta mãi mãi không thể nào thoát được sự trói buộc chấp thủ trong nội tâm đối với thọ, tưởng, hành thức.”
Một vị thầy khác: “Sau khoảng gần một giờ thiền hành, bên cạnh đó Sư phụ cho nghe Đại tạng kinh Thiên uẩn, con thấy những lời đức Phật nhắn đi nhắn lại rất nhiều lần là sắc thọ tưởng hành thức này không phải là ta, của ta, chẳng phải tự ngã của ta. Nếu ai cho rằng đây là ta, đây là tự tự ngã của ta thì sẽ dẫn đến sầu bi khổ ưu não. Ai cho rằng mang thân này mà không có bị bệnh, thật người đó chính là người ngu. Khi con nghe đến những lời nói đó, thân tâm có chấn động, cũng có suy nghĩ rất nhiều khi mình mang tâm trạng lo lắng, sợ hãi suốt cả ngày, mình không có cách đối trị. Bây giờ biết được chánh pháp, nghe được những lời dạy từ chính kim khẩu của đức Phật, cảm thấy rất hoan hỷ và con cũng xin cảm ơn trên Sư phụ đã tạo điều kiện nhân duyên cho huynh đệ chúng con tận mắt thấy tai nghe và chiêm nghiệm những lời của đức Phật dạy.”
Một vị thầy khác nêu cảm nghĩ: “Vừa qua có đi kinh hành và nghe kinh Tương Ưng Bộ, con nghe được những lời đức Phật chỉ dạy về năm uẩn và sự tập hợp của chúng, xưa nay không biết, tưởng đó là mình, hôm nay chúng ta thấu rõ về cách thức vận hành hoạt động của năm uẩn, nhìn thấy rõ để buông xả, không bám chấp vào nó sẽ được tự tại giải thoát.”
Chúng ta thấy được giá trị của chánh pháp nhưng thật sự chánh pháp khó nghe. Điều này có khi người ta không chấp nhận được, thậm chí mình tu nhiều năm nếu mình không có tâm tha thiết chân thành cầu giải thoát thì cũng chỉ nghe hiểu nhưng không trân trọng tôn quý đây là sự thật tối thượng. Người tu cần thường xuyên văn tư tu suy sâu xét kỹ mới thành tựu. Còn nghe để đó, chẳng chịu chiêm nghiệm, không thực hành thì chỉ là thuộc lòng và biết trên mặt ngôn ngữ. Đó là dưỡng chất, nếu mình không tiêu hóa được thì làm sao nuôi được trí huệ than. Cho nên, nghe pháp, thực tập pháp, quán chiếu pháp và hành trì pháp không đứt đoạn thì sẽ có những bước tiến bộ càng ngày càng rõ rệt. Chúng ta nghe tới đâu chúng ta chia sẻ những điểm quan trọng tới đó cho huynh đệ, đạo tràng.
Trong Phật giáo, điểm quan trọng quyết định đầu tiên là chánh kiến, sự nhìn nhận phải chính xác, từ nhận định chính xác sẽ làm cho suy tư, ngôn ngữ, hành động của mình dẫn đến đúng đắn. Bát chánh đạo là con đường Phật đã đi, con đường của hàng Thánh nhân đã qua, huống nữa là Sa môn càng phải học và hành theo con đường Bát chánh đạo, tứ diệu đế.
Nghe được pháp là đã khó, nghe chánh pháp càng khó hơn, người nghe chánh pháp kiên trì và thực hành đúng theo lời Phật dạy đó là đa văn thánh đệ tử. Người không chịu nghe chánh pháp, chẳng chuyên chú học pháp và hành trì đúng lời Như Lai đã chỉ bày thì cũng như kẻ vô văn phàm phu. Chúng ta cảm niệm công ơn sâu dày của đức Phật, nhờ Ngài ra đời mà có bánh xe chánh pháp luân chuyển gần 26 thế kỷ nay và mãi về sau vẫn như vậy! Bức màn vô minh, tăm tối được vén cao lên cho ánh sáng ngập tràn, pháp vị tỏ rạng khắp muôn nơi. Phàm phu không được nghe pháp thì quán sắc như tự ngã hay tự ngã như quán sắc, quán cho rằng xác thân này là tôi, tôi chính là xác thân này hay là sắc này ở trong tôi, tôi ở trong sắc này vị ấy bị ám ảnh, sắc này của tôi, sắc này là của ta. Do bị ám ảnh như vậy, nên khi sắc này biến hoại đổi khác vị ấy khởi lên sầu bi khổ ưu não.
Hai chữ ‘ám ảnh’ rất sâu sắc, mình bị ám ảnh trong nội tâm của mình. Mỗi khi mình nói về mình, ví dụ, chút xíu nữa tôi đi ăn cơm, lúc đó trong nội tâm mình có cái gì? Có cái tưởng cái hành ra làm sao?
Thầy Minh Nhân chia sẻ: “Khi con nghe câu nói chút xíu đi ăn cơm, ‘tưởng’ có hình bóng là không biết món ăn gì đây, món này mình có thích ăn hay không, có hình bóng, có chén cơm và món ăn ưa thích trong tâm mình, những hình ảnh món ăn đó để giúp cho sắc thân này khỏe.”
Thầy Pháp Từ nói lên cảm nhận: “Bản thân con có khởi lên ý hành, chút nữa tôi đi ăn cơm, hình ảnh trước tiên là bát cơm và những món ăn, nếu trên thất con sẽ tưởng ra rau củ gạo và hình bóng của con sẽ có.”
Khi mình nói rằng ‘ngày mai tôi sẽ đi Đà Lạt’ lúc đó chúng ta nhìn thấy hình dáng lờ mờ của mình trong nội tâm, có một hình bóng về mình. Nó là sự ám ảnh của một bản ngã, cái tôi, đây là điều rất quan trọng, tất cả phàm phu không nghe chánh pháp đều là như vậy. Huynh đệ nói ‘việc này là tôi làm’ hay ‘tôi thấy được điều này’ hoặc ‘tuần sau tôi sẽ được về thăm nhà’,… tất cả những điều mình nói được hiện ra, nó đầy đủ thọ tưởng hành thức, nói một câu lên là đầy đủ hết. Điều gì thúc đẩy cho mình nói lên? Chính là cảm giác mong muốn được về nhà, từ cảm giác nung lên bắt đầu nó có hình ảnh lờ mờ của mình, về tới nhà mình thấy cha mẹ hay ai đó, nói chuyện gì đó, ‘thức’ rõ biết điều đó, sâu thẳm bên trong cảm giác được tưới tẩm bởi thọ tưởng hành thức vận hành theo. Sự chuyển động về cái tôi, ảo ảnh về một cái tôi được diễn ra cùng lúc.
Có vị thầy ngồi thiền lúc rạng sáng, ngồi trong mùng, do ánh đèn rọi vào nên nhìn vào cái mùng thấy sắc thân của vị hành giả ấy chiếu lên vách mùng. Vị ấy khởi niệm ‘mặt mình hơi tròn, đầu cũng tròn, khởi lên một lạc thọ cảm giác vui, bữa nay tướng hảo à!’. Ngay lúc đó, nếu vị hành giả kia chịu nhìn lại thân tâm hiện tại, liền thấy đây là cái gì? Có một cái thân mà cũng dễ làm chúng ta bám chấp vào cái ngã. Từ cái thân nhìn rộng ra ngoài đời rồi soi lại trong nội tâm sẽ thấy do chấp về tự ngã. Sắc dính chặt trong đó, lập tức quán chiếu lại liền, tất cả pháp là vô thường, có gì đâu mà thích thú, còn ở trong ngôi nhà lửa mà hoan hỷ gì… đây là dục, tham, vô minh hãy từ bỏ ý niệm về tôi. Vì thân tứ đại vô thường, lúc đó phải quay về với Như lý tác ý để dập tan tư tưởng hỷ tham ở trong tự ngã. Quán chiếu tường tận, liên tục tới lúc mình già, bệnh, chết, quán tới bộ xương, quán tới xương nát thành bụi, quán như vậy sẽ phát sanh một cảm giác sâu sắc về vô ngã.
Tập khí nhiều đời nhiều kiếp đã ăn sâu, nếu tuệ quán của mình yếu sẽ không đủ sức chống cự, diệt tận nó. Muốn chuyển hóa thân tâm này, không gì bằng thường xuyên quán chiếu năm uẩn, soi thấu sự vận hành của nó mới biết tất cả là giả huyễn hợp thành, đều là đồ dỏm. Có như vậy, chúng ta mới không tham đắm, mê lầm, chịu sự sai khiến của chúng. Công phu chỗ đó là chánh kiến, chánh tư duy, Như lý tác ý chứ không phải mình nhìn cái thân mình biết cái này vô ngã rồi thôi! Phải quán cho chắc chắn cảm giác hỷ lạc, ưa thích tướng hảo, quán làm sao cho cảm giác tan hết, đó là chân thực tập.
Vị ấy bị ám ảnh thọ là ta, của ta; do bị ám ảnh cảm giác này là ta, của ta nên cảm giác này biến hoại, đổi khác thì vị ấy sẽ sanh khởi sầu bi khổ ưu não. Cảm giác cổ thụ ngàn năm đó, cái kho a lại da thức tỉ kiếp tạo thành tập nghiệp, tập khí, bám chấp của mình hội tụ trong kho của cảm thọ. Cho nên, ta thấy người người luôn đi tìm cảm giác.
Ví dụ, anh A chạy xích lô, anh B chạy xe ôm từ sáng cho tới tối về, đi nhậu, vui vẻ với vợ con được một chút rồi lại tiếp tục cuộc mưu sinh. Chỉ vì một ít cảm giác đó mà tất cả hoạt động đi làm quần quật cả ngày.
Ở đây, hành giả học bài kinh Tiểu khổ uẩn và Đại khổ uẩn sẽ thấy rất khiếp đảm. Dùng từ khổ uẩn là sự tích tập hội tụ của tất cả khổ do dục tham, muốn có cảm giác vui sướng có khi người ta đánh đổi hết cả cuộc đời, thậm chí đánh đổi cả sinh mạng, sự nghiệp.
Dục ái ở ngoài đời rất rõ, bạn bè với nhau bỗng chốc trở thành kẻ thù; cha với con cũng hiềm hận nhau, thậm chí giết hại nhau; vợ chồng ganh ghét vì hiểu lầm hoặc không kềm chế cơn tức giận cũng nảy sinh giết một cách thê thảm dã man,… Tất cả đều từ cảm giác. Lúc đầu là cảm giác yêu thương, sau này chỉ còn cảm giác oán hận, nên sự đau khổ của con người, chúng sanh điệp trùng bất tận. Cũng vì cho rằng cảm giác này là tôi, của tôi mà không thấy cảm giác chỉ là cảm giác.
Bây giờ ngồi thiền, chân nó đau, mình buông chân ra là hết đau, đói thấy khó chịu nhưng ăn vào là hết đói, buồn ngủ thì ngủ một giấc sẽ tỉnh táo trở lại. Đó là bình thường, thói quen, nhưng nếu hành giả chịu khó, kiên trì quán chiếu tới vô thường, khổ, vô ngã, nghĩ nhớ tới công ơn cha mẹ, Thầy Tổ, nhớ tới người thân, nhớ tới những người đã đặt niềm tin hy vọng vào sự xuất gia thoát ly ngôi nhà lửa của mình thì lúc này hành giả sẽ hạ thủ công phu, ráo riết tinh cần, tinh tấn lực. Ngay chỗ đó ochúng ta đã đánh tan cảm giác buồn ngủ, cảm giác lờ đờ, uể oải. Tu tập từ từ mình sẽ làm chủ cảm giác chứ không cho cảm giác làm chủ, quan trọng phải thấy cảm giác chỉ là cảm giác không phải là mình. Đó là pháp vô thường, nên vị ngọt của thọ là sự nguy hiểm luôn rình rập, chực chờ sự chểnh mảng của chúng ta. Ta mạnh dạn xuất ly thọ, vị ngọt của cảm giác, sự nguy hiểm của cảm giác sẽ thoát ra cảm giác này.
Thế nào là vị ngọt của cảm giác?
Những gì vui sướng, thích thú, hấp dẫn tức là vị ngọt của cảm giác, nó diễn ra giây lát tạm có rồi biến mất. Chẳng hạn, để làm cho buổi tiệc thành công tốt đẹp, người ta đã chuẩn bị hai ba ngày trước đó, từ việc nấu nướng đến việc trang trí, sắp xếp,… nhưng lên ăn được chừng một tiếng đồng hồ là xong. Cũng vì một chút cảm giác đó mà họ phải làm cả ngày hoặc nhiều ngày, có nhiều người nặng về vị giác, cảm giác của lưỡi. Nhưng cảm giác nguy hiểm nhất là cảm giác thân xác, nhục dục, cảm giác đó nhận chìm tất cả chúng sanh ở trong trầm luân biển khổ.
Do sợ mất tất cả những gì mình yêu thích, đây là ác ma trong tâm, nên nó sẽ chống cự. Vì mình tu như vậy không còn cảm giác mong muốn gì, nhưng tham dục muốn cảm giác, mình chuyên cần sẽ vượt qua.
Không quán cảm giác, chỉ thẳng tên chống đối sự tu tập, xét trong tâm mình sẽ có phát sanh vì sợ bị mất những gì trước giờ đang hưởng thụ. Điều đó ngăn che ám dụ mình trên bước đường tu hành, nó không cho mình tiến sâu vào trí huệ, tuệ giác. Thật tâm soi chiếu sâu vào trong mới thấy là ác ma trú ẩn trong nội tâm, là tên vô minh, tham dục, tham ái. Hành giả càng lưu luyến, bịn rịn thì nó càng có dịp bùng phát sinh trưởng lôi kéo mình, đẩy mình xa lìa chỗ giải thoát.
Hương vị rất nguy hiểm, phải thấy rõ bộ mặt của nó, tưởng cũng vậy, vị ấy cho rằng những suy tưởng nói chung tưởng hành, hành là những suy ghĩ, tưởng là những hình bóng, vị ấy cho rằng suy tưởng là mình, của mình; do bị ám ảnh suy tưởng của ta nên suy tưởng biến hoại, đổi khác vị ấy khởi lên sầu khổ buồn đau.
Suy tưởng này là tôi cho nên chấp chặt vào suy tưởng đó. Ai nói không phải sanh ra tranh đấu, gây gổ thậm chí đi tới chỗ tù tội hay án mạng xảy ra, nên trong kinh Đại ngũ uẩn đức Phật nói nước này đấu với nhau, vua này đấu với nhau, người này cầm dao cầm mác đâm người kia, tất cả đều từ tham dục. Mà tham dục được nuôi dưỡng bởi suy tưởng, dục tưởng nuôi dưỡng nó, chấp nhận nó, không chịu từ bỏ nó, chẳng đoạn sạch nó vì thế nó sẽ tiếp diễn trong nội tâm của mình hoài.
Ví dụ, nghe nói ngày mai có phái đoàn lên viếng chùa ta bảy chục người, mình tưởng họ lên đây lễ Phật, tham quan đồi núi, và nhiều thứ tưởng khác đồng lúc phát sinh làm xa rời thực tại.
Hoặc nghe điện thoại biết là có ba mẹ, người thân lên thăm, bắt đầu ta tưởng. Nhưng sự thật thường khác xa với tưởng tượng, nó đã làm mình buồn, thậm chí phiền vì tưởng chuyến này gia đình giúp chút tài vật để có điều kiện mua thêm sách vở, lộ phí để tu học khoảng năm bảy trăm ngàn nhưng người thân chỉ cho khoảng một hai trăm ngàn thì sự tưởng phong phú trong việc mua sắm chi tiêu tu học đã bị xì hơi, hụt hẫng. Ngoài đời, tưởng còn ‘lộng hành’ hơn, chi phối điên đảo người hơn nữa. Tưởng đã đẩy họ vào vòng luẩn quẩn không ra khỏi luân hồi lục đạo.
Chúng ta đang ngồi đây, thầm nói có khi mưa nhưng thật sự khác. Tuy thấy trời chuyển mây đen nhưng rồi sự vận hành nó khác, nói mưa sẽ ướt, thức rõ biết ngay lúc đó tâm diễn biến rất nhiều thứ. Ngồi nhưng nhìn hoài lên trời, xem mây từ chỗ vận hành bên trong biểu hiện ra bên ngoài hữu lậu sanh khởi liên miên. Chính vậy mà nó đẩy mình đi tạo nghiệp, nên suy nghĩ, miệng nói, thân hành động đều từ ý hành, khẩu hành đưa tới nghiệp khổ.
Sống với thực tại, tưởng mình biết tưởng nhưng tưởng đó chỉ là tưởng; tưởng này vô thường, luôn biến đổi, không phải mình. Suy nghĩ này không phải mình, nó chỉ là suy nghĩ, là pháp duyên sanh. Tưởng là những cái đã qua, những gì đã thấy của hồi xưa, không phải của hiện tiền, đang là.
Ví dụ, mình nghe người ta phê bình, chỉ trích được hai ba phút lúc đó, nhưng trở về sau năm ngày một tuần câu đó vẫn còn câu chê chỉ trích mình, ngồi thiền vẫn còn nhớ. Nếu như mình không như lý tác ý, chẳng quán chiếu để tẩy trừ nó thì phiền não vẫn đồng hành. Có khi những câu đó làm cho mình nhiều năm, nhiều chục năm, thậm chí cả một cuộc đời còn ghim trong tâm.
Như vậy, đầu tiên, hành giả cần lưu ý thật kỹ trong quá trình công phu là luôn thực hành ba pháp khi tọa thiền: Rõ biết trước mặt, cảm giác toàn thân, nội tâm tỉnh giác.
Bước thứ hai nhận diện năm uẩn, nhìn rõ bản chất của từng uẩn, nhận biết đâu là thọ, đâu là thức, cái nào là cảm giác, cái nào là hình sắc, chỗ nào là những lời nói thì thầm và có rõ biết về chúng. Sắc pháp và sắc thân này, sắc thọ tưởng hành thức dịch chuyển tới đâu hành giả chuyên chú quán xét nhận diện chúng một cách tường tận đến đó, gọi đúng tên, không nói chung chung được.
Sự tu học sâu sắc ở chỗ chúng ta chịu quay trở lại để nhận rõ tự tánh tự tâm của mình. Chỉ khi nào nhận rõ rồi mới thấy rất thú vị, phát hiện bên trong nó nhiều vấn đề. Ở đó, mình thấy đầy dẫy dục tham, vô minh, chấp ngã, cống cao ngã mạn đủ thứ trong đó. Lúc nào mình thấy được như vậy tức là mình đã thành tựu trí huệ tự tâm.
Mỗi phút giây trong ngày, huynh đệ chúng ta cùng nhau tắm gội chánh pháp của Như Lai cho thuần tịnh để tẩy trừ nghiệp chướng sâu dầy nhiều đời kiếp, cần chuyên tâm trì chí, tinh tấn, nhiệt tâm tinh cần, chánh niệm tỉnh giác. Mỗi khi có bất thiện pháp sanh khởi, dùng Như lý tác ý kế đến quán chiếu về sự bất tịnh, về cái chết, lẽ vô thường, những biến hoại, tan vỡ của các pháp. Rồi từ từ mình sẽ tách ra được những dính mắc của năm uẩn sẽ thành tựu trí huệ năm uẩn, điều đó tùy thuộc tự mỗi người trên bước đường tu hành chuyển hóa.
7. Nhìn sâu bên trong năm uẩn
Thầy Pháp Từ chia sẻ cảm nhận về năm uẩn: “Con ngồi thiền được khoảng mười phút, sắc thọ tưởng hoạt động liên tục, nhất là về cảm thọ dễ nhận ra nhất. Cảm nhận hiện tại bên vai trái dường như có con gì bò nãy giờ mà hành nói ‘phải kham nhẫn, chịu đựng’; tưởng của con không biết là con gì đang bò trên vai trái; hình bóng nghĩ là con bọ vì con cảm thấy nó lớn hơn con kiến; ngồi lâu cảm thọ khó chịu, vì nó cắn con nhưng khi ngưng được giây lát, con thấy rằng do cảm thọ khó chịu mất đi nhờ đó mình có được cảm giác dễ chịu. Từ đây, ngẫm rằng đời sống chúng ta khó chịu hay dễ chịu đều xoay quanh cảm giác. Sở dĩ con cảm thấy hạnh phúc là do cảm giác khó chịu tạm lắng, con biết rằng cái thức con biết rõ là con đó đang bò ở vai trái, chưa ra được, tạm thời ngưng một lát sau khi nó bò sẽ tiếp tục khởi lên khó chịu; hành lại nói ‘để chờ tới dịp cầm micro pháp đàm xong xin phép Sư phụ cho con bắt nó ra, vì nó ở trong thân cũng khó chịu. Con thấy mình thực tập được sự kham nhẫn, mặc dù phải trải qua sự chịu đựng không dễ dàng gì. Nhưng tưởng uẩn vận hành nhiều, cần nhận diện rõ và khắc chế bằng cách kham nhẫn. Năm uẩn đi dọc hành trình tu tập ở mỗi người.”
Thầy Pháp Minh chia sẻ cảm nhận về năm uẩn trên bước đường tu hành thiền tọa: “Thật sự trong tâm con còn rất nhiều vọng động, phóng tâm không ngừng. Đang ngồi với toàn thể đại chúng nhưng tự nhiên con chợt nhớ tới thời sinh viên ở nhà trọ. Những hình ảnh, kỷ niệm xa xưa hiện về, đó là tưởng trong con. Sau cái tưởng này lại tới cái tưởng khác. Chẳng hạn, có người bạn mới tốt nghiệp đại học nhưng gia đình bắt ép lấy một người mới học hết cấp hai, trong tâm con nghĩ sự chênh lệch học thức, như vậy lấy nhau có được hạnh phúc hay không? Đó là tưởng và hành của con, nghĩa là mình cho người bạn lời khuyên; tác ý của con là mỗi người có một duyên nghiệp, là vợ chồng nhiều khi người ta có nhân duyên, thôi cứ để nhân duyên tiến hành một cách tự nhiên, chứ mình không xen vào, biết đâu người ta sẽ học được gì trong đó rồi cuộc sống tự nó trải qua, họ sẽ cảm thấy hạnh phúc thì sao; thức của con nhận thức được hành tưởng đó; thọ của con bây giờ cảm thấy lạc thọ, vì không khí mát, vừa rồi thì có chút khổ thọ vì lưng hơi đau và trước khi cầm micro phát biểu, con an trú vào hơi thở để nhận biết hơi thở ra vào.”
Huynh Cường cảm nhận: “Cảm thọ con hiện là lạc thọ; tưởng của con là tưởng tượng tư thế con đang bị đau lưng; hành là con đang chỉnh thư thế, là con cảm nhận hơi thở; thức là con cảm nhận được thọ, tưởng, hành.”
Những thọ, tưởng, hành nào phù hợp với thiện pháp đưa chúng ta tới thiện, càng xích lại gần với trí huệ, giúp tăng trưởng tinh tấn, tỉnh thức thì mình nuôi dưỡng nó. Nếu cảm giác, hình ảnh, những suy tưởng nào phát triển theo chiều bất thiện, tương ưng với tham muốn, nóng giận, hơn thua, si mê lúc đó mình phải như lý tác ý, quán chiếu sâu sắc và diệt tận.
Như lý tác ý là suy xét đúng sự thật. Ví dụ, mình thấy hình dáng sư huynh nói câu gì đó không được hoan hỷ, lúc đó mình phải suy xét như thế nào về Như lý tác ý?
Suy xét là mình có làm cái gì sai hay không? Xem lại coi mình có thực hiện đúng như lời sư huynh nói hay không? Đặt câu hỏi trong tâm tại sao sư huynh nói như vậy? Tìm lại nguyên nhân sâu xa. Đặt mình vào trường hợp là sư huynh,… cứ đặt câu hỏi cho bản thân rồi sẽ có quyết định đúng đắn, không vội trả lời đúng sai hoặc có thái độ hơn thua. Nếu mình sai phải sám hối, sửa lỗi một cách chân thành. Nếu mình đúng, lựa lời và phù hợp thời điểm trình bày. Mọi hành động cần đặt trong chánh niệm sẽ không làm buồn nhau.
Nếu ta lơ đểnh bị thất niệm sẽ có cảm giác khó chịu trong hình ảnh, lời nói đó thì mình phải quán chiếu. Cần biết rằng hình ảnh, lời nói đó đã đi qua rồi, chỉ là những ảo ảnh; hành và tưởng này là vô thường, biến đổi. Những lời nói đó tức là ý hành, nếu nói kỹ đó là thanh tưởng. Bởi, chúng có sắc tưởng, thanh tưởng, hương tưởng, vị tưởng, xúc tưởng, pháp tưởng, tức là có sáu tưởng khi mình nghe một âm thanh. Dù cho âm thanh đi qua nhưng ta nhớ lại âm thanh đó, gọi là thanh tưởng. Chúng ta bị thanh tưởng hành hạ rất nhiều, chỉ có một lời nói nhưng làm cho mình có nhiều cảm giác, mỗi khi mình nhớ lại. Thật sự soi rọi tâm để quán chiếu nhằm giải tỏa cảm giác đang bức bách, vận hành, dẫn mình, lôi kéo mình vào sự hơn thua, muốn tranh đấu. Do mình không chấp nhận hình bóng, lời nói đó, chẳng phải mình không chấp nhận người thật bên ngoài, tức là mình không nuôi dưỡng và tiếp tục để cho cái tưởng hành thọ này lưu trú trong nội tâm.
Dùng Như lý tác ý để hóa giải những lăn tăn gợn trong đầu mình, bằng cách hình ảnh, tưởng này là vô thường; những tiếng nói này là hư ảo, đã qua rồi tại sao mình cứ lưu giữ hoài làm gì cho thêm phiền toái. Như vậy có khác gì ta đang sống với cái ảo. Thực pháp ngay trước mắt mà ta không thấy rõ, chẳng cảm nhận được giữa tình đạo chốn già lam, giữa đại chúng thì mình cần mở lòng, đừng sống với hình ảnh đã chết, âm thanh đã qua, cần trở về với chánh niệm tỉnh thức trong hơi thở, cảm giác toàn than, sống trọn vẹn với hiện tại, nếu tưởng hành phát sanh mình phải quán chiếu.
Thầy Pháp Đạo trình bày cảm nhận: “Bạch Thầy! Xin Thầy chỉ dạy, con có một điều thắc mắc trong sự thực tập tọa thiền quán chiếu cảm giác toàn thân, theo dõi sự vận hành năm uẩn, nhận diện ngay hiện thực, sự soi chiếu thì con vẫn có cảm nhận, tuy vậy để trở về sống trong thực tại thì vẫn bị chi phối, vọng niệm liên tục. Vậy làm sao nhận diện năm uẩn, cảm nhận năm uẩn một cách sâu sắc, thiết thực?”
Ngay giây phút này, huynh nhìn lại trong thân tâm đang diễn ra thọ gì? Có cảm giác gì? Ngay giờ phút này theo dõi hơi thở, chú ý sự chuyển động cảm giác và từng cảm giác diễn ra rồi phân tích kỹ về chúng.
Có câu chuyện Minh Thành xin kể lại cho huynh đệ nghe.
Nếu như chúng ta thường xuyên thực tập nhận diện năm uẩn sẽ thấy đường đi nước bước của chúng làm ta điên đảo, dìm ta trong chốn vô minh từ bao đời kiếp này. Nhìn lại để biết hổ thẹn, e dè và dứt trừ sai lầm trong thân, miệng, ý hôm nay và mãi về sau.
Hôm đó, cô Ứng Phổ gửi đồ ăn, trong đó có bịch bắp, Minh Thành lấy một trái bắp ra lột ăn, lúc lột trái bắp thấy quá non, lúc đó mình thấy được ý hành nói ‘tại sao lại bẻ vội trái bắp còn non, uổng quá, sao không để cho chín?’, cảm giác chuyển biến khó chịu. Đó là tập khí của mình.
Nhìn lại, mình thấy đây là một cái tâm vô ơn, vong ân. Vì người ta thương quý, lo lắng cho mình, thậm chí chưa kịp chín vẫn hái bắp đem lên cúng dường cho Thầy. Còn bản thân lại quay ngược trở lại với tình cảm tốt đẹp ấy. Sâu trong cảm giác này là bản ngã to tướng, bản ngã của một người Thầy, một người Sư phụ, bản ngã của một người trụ trì. Cảm giác khó chịu là những ý hành, Như lý tác ý quán chiếu, đây là sự nhục nhã của người xuất gia, đây là một vết nhơ của một tu sĩ, đây là điều đáng hổ thẹn của một người tu. Vì người tu không nên có những ý nghĩ, cách nhìn nhận vong ơn bội nghĩa và bản ngã to đùng Sư phụ như vậy. Ngay đó Minh Thành Như lý tác ý tẩy sạch cảm giác vừa sinh khởi ấy, làm cho ý hành dập tắt, xong rồi mình thấy rất hoan hỷ. Cũng giống như mình vừa bắn được tên giặc mà nó ẩn nấp trong nội tâm, bình thường mình không thấy.
Thật sự những ngày trong thất, Minh Thành quay nhìn lại nội tâm mới thấy hổ thẹn. Trước đây, cứ kêu người ta tu tập vô ngã, hạ thấp cái tôi xuống mà mình không biết cái ngã của mình càng ngày càng cao. Nó trá hình qua những hình thức là Thầy, bổn phận, trách nhiệm, công việc. Khi nhận ra điều đó Minh Thành vô cùng tàm quý nhục nhã của người tu. Đây là vết nhơ cho Tam bảo, không xứng đáng với Thánh hạnh, chưa phải đời sống thanh cao của một người xuất sĩ. Sau đó, quán chiếu tới cái chết của mình, rồi quán chiếu tới chín trạng thái tử thi, thậm chí quán chiếu tới bộ xương. Lúc nào mình thấy bản ngã lớn, hành động tiếp duyên xuất cảnh vì cái tôi thì lúc đó Minh Thành nhớ lại cách trong kinh có nói vị lực sĩ cầm chày kim cang đập cho nát bộ xương ra thành bụi để diệt ngay bản ngã trong nội tâm đang hiện hữu.
Có lần mình đang bận nói chuyện điện thoại với một vị Pháp sư thảo luận về giáo pháp. Chợt, bên ngoài có tiếng nói ‘Sư phụ ơi con đem sầu riêng…’. Vậy là khi đang bên trong nghe điện thoại nhưng tâm mình nhảy ra một tin nhắn cảm giác khó chịu. Ngay lúc đó, nhận diện ra tên giặc cảm giác hiển bày, tai nghe, miệng nói chuyện nhưng tâm phải Như lý tác ý để quán tẩy cảm giác khó chịu đó. Đến một lúc sau, công phu tọa thiền thì cảm giác khi nãy trở lại. Tâm nó nói với nhau rằng ‘sao cứ lo đồ ăn hoài vậy, mất thời gian’, đây là tâm vong ơn bội nghĩa, bất thiện pháp. Người tu không thể có tâm này, phải từ bỏ tâm này, thay bằng tâm cảm ơn, nhớ ơn, biết ơn những người đã lo lắng cho mình, đánh tan cảm giác khó chịu đó, phát sanh cảm giác biết ơn, nhớ ơn, cảm ơn dào dạt. Lúc đó niềm vui trở lại, như vậy mình bắn được tên giặc thứ hai.
Khi chúng ta tĩnh tâm sẽ nhìn ra được năm uẩn, thấy rằng những gì ẩn nấp, bị lấp vùi sẽ được phơi bày trong năm uẩn, nhất là trong cảm thọ. Chúng ta chuyên chú nhìn ra căn cứ địa của tất cả phiền não nằm trong cảm giác. Ví dụ, ham muốn của mình khởi lên, phải nhận biết và tìm mọi cách chặn đứng xa lìa diệt tận nó.
Chẳng hạn, bữa đó đám giỗ nhà cô Diệu Hằng nên cô mang đồ ăn qua chùa cúng dường ba bốn món, khi dọn thức ăn lên mình nhìn lại cảm giác, thọ thấy khác với buổi ăn bình thường; thọ này háo hức muốn gắp ăn cho nhanh, nhìn cảm thọ đó và mình không ăn cứ để cảm thọ đó xem thế nào. Vậy là mình quán chiếu về thức ăn, thức ăn này để nuôi mạng sống, nuôi sinh mạng vô thường, nuôi sắc thân tứ đại ảo mộng, để duy trì, tu tập cho mình đến bờ kia.
Hoặc có lần, nhờ chú Cường dọn dẹp vệ sinh trong tủ bếp mới phát hiện ra mấy củ cà rốt còn sót, cất kỹ nên quên, khi lấy ra mấy củ cà rốt đã héo khô quắt queo và có hai ba con giòi lúc nhúc trong đó. Thật tướng của các món ăn mà mình đam mê vẫn luôn có chứa giòi, bất tịnh ở trong đó. Nó nhắc nhở để mình dừng lại sự ham thích ăn uống, mong cầu ngon, cảm giác một chút vì cái miệng, những con giòi trú trong củ cà rốt giúp chúng ta nhận diện lại sự ham thích và độc hại của cảm giác, sâu sắc quán chiếu sẽ thấy lý thú.
Lại có lần huynh đệ chia sẻ với Minh Thành rằng, thầy Thiện Hóa kêu mấy huynh đệ tu dưới thất là ‘Thầy dạy nhưng mình cứ làm theo cách của mình, mình tu theo cách của mình, chứ không nhất thiết theo cách của Thầy dạy. Vì mỗi người có kỹ thuật riêng’. Lúc đó, Minh Thành nghe câu đó có cảm giác khó chịu khởi lên. Lập tức bản thân nhận diện ngay năm uẩn nó trương bảng hiệu tôi là, của tôi, vậy là ý hành diễn ra, nó nói ‘mình là trụ trì, Thầy là vị khách đến đây tu, ở đây cất thất cho ở, lo cho nhập thất nhưng tại sao lại kêu đệ tử của mình không tu theo cách mình hướng dẫn? Có cảm giác khó chịu. Ngay đó, nhìn kỹ quán chiếu đây là cái gì? Là bản ngã của trụ trì, cái tôi của một vị Thầy, cái phân biệt chủ khách, thật là cay đắng, xấu hổ, đáng nhờm tởm cho một người xuất gia mấy mươi năm mà không thấy rõ được thực tính vô ngã của năm uẩn này. Lúc đó, bản thân tự nhắc nhở và thực hành một việc sám hối ngay. Mình đã đắp y hậu đàng hoàng rồi quỳ xuống lạy thầy Thiện Hóa. Lạy ba lạy chưa đủ, lạy mười lạy. Quán chiếu như vậy, quỳ xuống lạy mười lạy đánh tan cảm giác khó chịu, ý hành mình là trụ trì, là chủ, là của mình. Dùng thật tâm và thấy rõ như thật năm uẩn dắt mình đi trong luân hồi.
Sau đó, có những lúc Minh Thành ngồi một mình nhớ những việc mình làm sai lúc trước, Minh Thành quỳ xuống lạy Pháp Minh, lạy Pháp Từ, lạy Thầy Thạnh Văn, lạy Pháp Trường, lạy Pháp Thanh, lạy hết mấy chú mới xuất gia, lạy luôn những chú tập sự, lạy cư sĩ. Mình ngồi đó và bắt tâm mình lạy, sám hối, nghĩ về điều thiện lành tốt đẹp ở tất cả người đã gặp. Cúi đầu thấp xuống để diệt tận bản ngã, tự cao tự đại cho là mình. Rèn luyện thường xuyên và thành tâm thì mới thấy chuyển hóa chính mình. Lúc đó, mình bắt tâm nó phải quỳ xuống lạy cô Ấn Phổ mười lạy để mình nhiếp phục bản ngã cái tôi.
Hôm đó, mình đã lạy Pháp Từ trong lúc thiền quán. Sự lạy đó đó ở trong quán chiếu hay ngoài cũng không khác. Ngày trước, hở ra là hay rầy quở đệ tử, bây giờ mình bắt đầu tẩy từ từ, quán chiếu vì bản ngã quá thâm sâu. Kế đó, Minh Thành phát tâm cảm ơn thầy Thiện Hóa, nhờ thầy tới nơi am vắng này để mình có một người bạn tu hành, tinh thần của Tăng, có cái gì không đúng như pháp mình mời lại chia sẻ một cách rõ rang, tình nghĩa huynh đệ chứ không có một cảm giác ta đây chủ trụ trì, Sư phụ. Cần đánh tan ngay tư tưởng chủ - khách, đập tan nó không thầy không đệ tử, nhìn sâu vào năm uẩn trống rỗng, sanh diệt liên tục.
“Người luôn luôn chánh niệm,
Sự sanh diệt các uẩn,
Được hoan hỷ, hân hoan,
Chỉ Bậc Bất Tử biết.”
Kinh Pháp Cú – câu 374
Chỉ có Bậc Bất Tử là đức Phật và các bậc A-la-hán mới biết rõ và làm chủ được niềm hân hoan, hoan hỷ.
Công phu để đối diện với nội tâm mình là sự tu hành đúng theo lời đức Phật dạy, không phải ở ngoài tụng niệm mà tâm đi du lịch. Nhận diện năm uẩn, diệt đi bản ngã, kiên trì và chuyên chú thì trên bước đường tu mới trổ hoa trái. Tu là bỏ xuống chứ không phải ôm vào, mang theo.
“Bỏ quá, hiện, vị lai,
Đến bờ kia cuộc đời,
Ý giải thoát tất cả
Chớ vướng lại sanh già.”
Trích truyện Pháp Cú – kệ 348
Lúc trước, Minh Thành chia sẻ an trú trong hiện tại, bây giờ bỏ hiện tại nhưng không có nghĩa chúng ta không biết hiện tại, mà mình làm sao vượt thoát vướng mắc trong hiện tại. Chuyên chú để thấy được sự an trú, sanh khởi và diệt uẩn của các uẩn, nhất là cảm thọ.
Đức Phật nói trong Tăng Chi Bộ Kinh, thế nào là chánh niệm? Là vị Tỳ-kheo đó biết cảm thọ sanh khởi, an trú và chấm dứt. Đó là vị Tỳ-kheo chánh hiệm tỉnh thức. Cũng như vậy, cái tưởng chúng ta ngỡ rằng cứ việc nói thẳng là mình thấy được trí huệ, còn trước mình không thấy đó là mình, là tôi nghĩ, là chấp nhận của mình, nuôi dưỡng bản ngã, thậm chí mình phát huy tà tư duy, phi như lý tác ý.
Không ai có gương mặt giống nhau, cảm giác mỗi người một khác, hình sắc trong nội tâm với những suy nghĩ khác, chính vậy, đưa mình đi tới dị thục quả, dị là biến dị, biến đổi, thục là chín muồi. Sau này, mình chết những cái đó nó đẩy mình đi cộng với nghiệp thành thọ sanh. Người tu tinh tấn, chánh niệm thấy rõ được ngũ uẩn thì làm chủ được ngũ uẩn, cảm thọ không chi phối được; tu thuần thục tưởng không ảnh hưởng; thấy nó là hình dáng như trên màn hình chiếu những lời nói, đó làm làm chủ sanh tử.
Mình còn trong quá khứ, hiện tại, vị lai là còn lòng vòng mãi. Chỉ thật sự buông xuống, chẳng nắm níu tam độc không chấp vào có không, biết rõ về năm uẩn vận hành sanh diệt để mau đến bờ kia cuộc đời, là chỗ thấy được năm uẩn và không chấp chỗ đó là bờ kia.
Có đôi khi, lòng chùng xuống, ý buông lung kịp giật mình và nhớ tới bài kệ của vị A-la-hán trong Tương Ưng Bộ Kinh:
“Hãy đứng dậy, lên đường,
Hãy dấn thân Phật giáo,
Hãy đánh bại Ma quân,
Như voi phá chòi lá.
Ai trong pháp luật này,
An trú không phóng dật,
Đoạn tận vòng sống chết,
Sẽ chấm dứt khổ đau.”
Những câu này trở thành pháp lệnh, làm cho mình phấn chấn trở lại. Chúng ta cùng nhau đứng dậy, mạnh mẽ lên đường tới bờ giải thoát. Nhẩm đọc để tinh tấn, dũng mãnh vượt qua ma chường trên đường tu, phút giây thiền tọa vững vàng như chuông úp. Dấn thân trọn vẹn với Phật giáo bằng cả thân xác và tâm hồn để mình thực hành lời dạy của đức Phật.
“Hãy đánh bại ma quân,
Như voi phá tròi lá.”
Khi hành giả thành tựu được trí sâu sắc năm uẩn, cũng như việc đánh ma quân khác gì con voi phá chòi lá. Cho nên, thành tựu trí huệ về tứ đế, hiểu rõ năm uẩn thì có sức mạnh nhiếp phục được tham sân si, sức mạnh giống như voi phá chòi lá. Nếu mình không có trí huệ năm uẩn, không có chánh kiến thành tựu thì khó, cực khổ.
Ví dụ, tức quá mình kềm lại, nén mãi cũng khổ, kềm không được cũng khổ còn như mình biết ngay cảm thọ, vị trí, tên gọi cụ thể chỗ nào trong xác này, chẳng hạn, ngay ngực hay chỗ đầu hay tham dục nằm ở đâu,… Chúng ta biết chỗ nào thì nhiếp phục ngay chỗ đó, chuyển hóa và mình thấy nó lắng dịu, tan ra từ từ. Cần trị nó tận gốc, còn mình càng kềm thọ tưởng hành thức trong sự vận hành sanh diệt, dù kềm nhưng cảm giác vẫn thôi thúc, tưởng vẫn tiếp tục bao nhiêu hình ảnh, hành vẫn cứ nói tại mình không biết được căn cứ địa của phiền não, thành ra tâm mình rất sáng mạnh, năng lực tiềm tàng vô cùng vô tận nếu chúng ta khéo tu rồi sẽ khai thác nó một cách triệt để theo chiều hướng tích cực.
Bữa đó, Minh Thành đi tắm buổi trưa, khi xối nước vào người gọi là xúc, sự xúc chạm của thân; xối nước vào có ý niệm thích thú, cảm giác lạc thọ, trong cảm giác đó mình phát hiện ra dục và tham. Sao vậy? Chuyện xối nước vào người mát mẻ, sạch sẽ là chuyện bình thường nhưng ở trong cảm giác đó mình có dục tham. Chỗ này rất tinh vi, vi tế, cảm giác mát mẻ dễ chịu là đương nhiên nhưng trong cảm giác đó mình muốn duy trì nhiều hơn, mong muốn kéo dài tăng cảm giác này thêm, đó là dục tham.
Hoặc, ba giờ sáng thời tiết trên núi rất lạnh, lẽ ra phải ngồi dậy công phu thiền tọa, nhưng nướng thêm, ủ mình trong chăn ấm, đây là dục và tham, cộng với sự lười biếng, nó không đâu xa, mà ở ngay trong giấc ngủ, ngay trong miếng ăn, thức uống, đi tắm, sinh hoạt hàng ngày của chúng ta, chỉ cần không nhiếp tâm, chẳng kịp chánh niệm là tham dục nó len lỏi vào, nó ngự trị và xoay mình theo nó.
Người ta khen, mình có cảm giác thích thú, vậy là ta đã mở rộng chỗ cho sự thích thú ẩn nấp ngay ‘thính giác’ – sự nghe của mình. Nhĩ thức rõ biết về âm thanh, sâu trong đó có dục và tham, nên sáu căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý chỗ nào cũng có dục tham, nếu không khéo tiếp xúc với sáu trần là sinh ra đủ thứ nghiệp. Người tu cần cẩn trọng mỗi ý niệm và phải làm chủ năm uẩn này, đừng để nó lôi kéo đưa mình vào thành trì của vô minh, tâm ta hãy dũng mãnh như voi chúa xô ngã chòi lá phiền não này, kiến tạo chánh tín, đi thẳng tới bờ giác theo lời Thế Tôn chỉ dạy.
Thầy Pháp Nhân cảm xúc về năm uẩn: “Cảm ơn Thầy đã cho huynh đệ chúng con ôn lại nhận diện ngũ uẩn. Trong buổi pháp thoại hôm nay, Thầy chia sẻ đang thực hành loại trừ bản ngã của mình, đứng ở vai trò một người đệ tử cũng là một người học trò, con không giảm đi sự cung kính của con đối với Thầy. Bởi vì con vẫn nhớ trong một bài pháp Thầy có nói về tâm bồ-đề, người phát tâm bồ-đề có ba hạng người.
Người thứ nhất, phát tâm bồ-đề như một vị vua;
Người thứ hai, phát tâm bồ-đề như người chăn cừu;
Người thứ ba, phát tâm bồ-đề như ông lái đò.
Ở đây, con thấy tâm bồ-đề của Thầy như một người lái đò. Trong quá trình Thầy chia sẻ cho huynh đệ chúng con, con cảm thấy con cũng giống như người đang trên chuyến đò đó được Thầy lèo lái để đi đến bờ giải thoát. Con cũng mong trên Thầy và huynh đệ hiện tại bây giờ và về sau khi gia nhập vào Tăng đoàn Linh Quy Pháp Ấn này thì nguyện cho các huynh đệ đều được thành tựu đi tới con đường giải thoát rốt ráo.”
Thầy Pháp Đạo chia sẻ: “Bản thân con cảm thấy từ ngày đến đây tính cho tới thời điểm hiện tại, con cảm nhận được điều quý giá tình cảm trên Thầy, huynh đệ có tình có nghĩa, ở mức trọn tình trọn nghĩa thì chưa, vì mỗi người còn đang trên đường để loại trừ bản ngã. Cảm ơn thầy đã tận tình chia sẻ kinh nghiệm chỉ dạy cho chúng con, khi chúng con còn lầm lỗi, tâm còn cứng cỏi chưa nhu nhuyến Thầy chịu khó, cần mẫn giúp mỗi người từng chút một để vượt qua mê lầm.”
Thầy Pháp Bảo chia sẻ: “Thật sự từ hôm qua cho tới hôm nay, trong thâm tâm con có một niềm hoan hỷ! Trên nhờ Thầy, dưới có huynh đệ cùng nhau san sẻ pháp hành trên bước đường tu tập, nên chính mình đã chuyển hóa một phần nho nhỏ trong vô biên phiền não, nhờ vào sự quán chiếu năm uẩn về niệm tử thi để diệt trừ những tâm tham dục tham ái.”
Thầy Pháp Minh chia sẻ: “Thật sự qua lời bộc bạch của Thầy, con cũng nhìn lại nội tâm của mình, đúng như đức Phật nói khi hiểu được tâm của mình thì sẽ hiểu được tâm của người. Con nhìn lại nội tâm rất hổ thẹn, từ khi con được xuất gia đối với bản thân con ngày đầu tiên gặp Thầy để lại hình ảnh rất tốt đẹp. Hình ảnh đó đến bây giờ nhiều lúc con vẫn nhớ lại. Dưới sự hướng dẫn của Thầy, mọi chuyện con đều cảm thấy nó là nhân duyên, mọi thứ đều là nhân duyên, mình sống trong cuộc đời này đến đi đều do nghiệp nhân duyên của mình đã tạo ra cùng với mọi người. Có thể ở quá khứ, rồi hiện tại, vị lai nhưng để có trí quán xét nhìn sâu về ngũ ẩn mình mới phá vỡ được chấp thủ về quá khứ rồi hiện tại và tương lai, mình không còn bám víu vào nữa.
Hiện tại cũng chỉ là ảo, là sự vận hành của ngũ uẩn trôi chảy không ngừng của danh và sắc, nên người tu chúng ta thấu hiểu được vấn đề này quả là bước tiến rất lớn trên đường giác ngộ giải thoát. Nếu chúng ta hiểu được ngũ uẩn vô thường thì sẽ không còn trách ai giận ai. Tu hành là nhìn lại nội tâm của mình, thuận duyên quá sẽ làm mình say mê ở những lời khen, vẻ bên ngoài vinh hoa phú quý. Nghịch duyên quá cũng chẳng nên nản lòng sờn chí. Học hành tu tập bên huynh đệ cùng nhau sách tấn cho nhau để vượt qua những sơ suất, điểm yếu của bản thân, học lẫn nhau và không ngừng nỗ lực thì bờ giác sẽ là điều có thật cho tất cả người thật tu.”
8. Gội rửa phiền não
Tâm mình do sinh diệt năm uẩn, không có quá khứ, hiện tại, vị lai mà nó là sự vận hành liên tục của năm uẩn vô thường, không phải trên hình tướng. Tu hành cần soi rọi kỹ về mình.
Ví dụ, Pháp Minh muốn xuất gia thì bản thân phải kiên trì vượt qua mọi trở ngại, nỗ lực bên trong lẫn bên ngoài, bỏ qua những thú vui thế gian để một lòng hướng về Tam bảo, đi tới mục đích lý tưởng sống trong cõi người là được xuất gia.
Bước vào đời sống tu hành điều thiết yếu là phải trạch pháp, đừng để nhầm lẫn và loanh quanh sẽ dễ nản lòng, nhục chí. Chúng ta đừng nhầm lẫn dục như ý túc với tham dục. Vì tham dục dễ đưa mình vào chỗ bất thiện pháp.
Ví dụ, mình tham ngủ, tham sắc đẹp, tham hưởng thụ, tham những tiếng khen,… đó là những tham dục cần trừ dẹp. Chúng sẽ đưa hành giả tới chỗ khổ. Thật vậy, không ai khen mình hoài nên mình khổ, chấp làm chi với những lời gió thoảng mây trôi đó, trong kinh Pháp cú đức Phật đã từng dạy rồi. Do mong cầu, tham muốn không ngừng cho nên khổ, tám cái khổ trong bát chánh đạo mà Phật đã dạy nhưng ta không để tâm, chỉ chú tâm tới cái cao siêu, chưa học nền tảng đã muốn làm Bồ-tát, Phật. Khó lắm!
Thiện pháp cần luôn được nuôi dưỡng, tu hành và mong mỏi sự chứng đắc dĩ nhiên là có ngã, chưa hết cái ngã nên mới tu. Dụng tâm mãnh liệt của người tu có chỗ người ta nói là mong cầu duy nhất, tức là mong cầu đạt tới chỗ mong muốn duy nhất của người tu là không còn mong muốn gì. Hành giả lúc này tiến đến ly dục, nếu mình không có cái muốn đó làm sao mình thành, nên chỗ này phải phân biệt cho kỹ.
Tứ như ý túc là chìa khóa vàng đưa mình đến thành công, gồm: Dục như ý túc, tinh tấn như ý túc, tâm như ý túc, tư duy như ý túc, tức là khi mình muốn phát khởi làm một điều gì đó, kế đó mình phải nỗ lực để làm, sau đó để tâm vào công việc đó và quán xét về nó một cách sâu sắc.
Ngồi quán xét không phải là tọa thiền thẳng lưng mắt lim dim và ngủ, mà là nhìn sâu bên trong những tư tưởng nào là những tư tưởng tham dục, sân hận, không biết ơn, chẳng tôn trọng, thiếu cung kính, chưa khiêm hạ… và đâu là điều đưa ta vào chỗ phát huy cái tôi, bản ngã. Như vậy, phải thật sự dụng tâm mình mới thấy, thấy rồi mới đoạn trừ được. Cũng giống khi mình soi gương phải để ý kỹ chỗ nào sạch dơ, sau đó lau chùi hoặc như cạo tóc, nhất là tóc chưa dài, nếu không để ý thì sót, đó là tâm như ý túc, để tâm vào công việc mình đang làm. Cuối cùng là tư duy, tư duy mình phải suy tư, suy xét coi cách nào làm cho nhanh gọn lẹ, hiệu quả nhất, gọi là tư duy như ý túc, cánh cửa giác ngộ sẽ được mở tung, nếu hành giả chú ý đến.
Chúng ta cùng trao đổi lại ‘hiện pháp lạc trú’ trong quá trình thiền tọa.
Thầy Pháp Từ trình bày: “Lúc trước, hiện pháp lạc trú là mình an trú ở giây phút hiện tại, ‘hiện pháp’ là những gì đang diễn ra, ‘lạc trú’ là sự an lạc trong giây phút hiện tại đó.
Hiện pháp lạc trú còn gọi là chánh niệm trong hiện tại, ngay đây và bây giờ, thực tại hiện tiền, chánh niệm tỉnh giác. Có một số từ như vậy nhưng mình phải hiểu chính xác về những từ này.”
Vậy, khi nói hiện pháp lạc trú, mình nghĩ rằng tâm mình đặt ngay giây phút hiện tại hay thực tại hiện tiền?
Thầy Pháp Minh chia sẻ: “Thực tại hiện tiền, theo bản thân con nghĩ đó là thực tại của thân và tâm sắc, còn ngay trong khoảnh khắc đó quán thân trên thân, thọ trên thọ, tâm trên tâm, pháp trên pháp như thế nào thì mình nhìn nó y như vậy. Khi mình có cảm xúc xảy ra, nhìn nó đúng như bản chất của nó.”
Hiện tại lạc trú hay hiện tại hiện tiền, lúc trước chúng ta dừng lại ở ba môn tức là niệm theo hơi thở, đi đứng ngồi nằm ngủ nghỉ đều biết. An trú ở giây phút hiện tại là an trú theo hơi thở, đi biết đi, đứng biết đứng, ngồi biết ngồi, nằm biết nằm, co duỗi rõ biết về hành động mình đang thực hiện. Chúng ta hiểu ‘hiện pháp lạc trú’ như vậy chưa đủ.
Ví dụ, đang là bây giờ và ở đây có cảm giác sung sướng, nhưng nghe tin cha mẹ mình qua đời thì làm sao mình an trú được bây giờ và ở đây? Khó mà an trụ ngay giây phút hiện tại an lạc, chỗ này mình phải suy xét kỹ. Lúc mình bệnh nặng trong bệnh viện hay lúc mình đau đớn oằn oại, tai nạn bất ngờ xảy ra với chính tự thân của mình, ngay khoảnh khắc đó khó mà ‘hiện pháp lạc trú’. Rồi những lúc dục vọng trong nội tâm mình mạnh lên, không an lạc được ngay giây phút đó. Người thân bị bệnh hiểm nghèo cũng khó mà an vui nội tâm. Còn rất nhiều những sự thật diễn ra quanh ta, cho nên con đường đến chỗ tự tại, thảnh thơi không phải lúc nào cũng dễ dàng, buông xuống vô tâm được. Do đó mới ra sức công phu tu hành ngày đêm sáu thời không lơi lỏng, cột tâm vọng niệm, giữ thân yên bình.
Thiền sư nói, nhà nghèo mới biết con hiếu, nước loạn mới biết trung thần. Gia cảnh khó khăn, thiếu trước hụt sau, có con chịu đựng được, có con thì không thể chịu đựng được, có khi bỏ nhà mà đi phương xa tìm cách lo cho bản thân. Có con ở lại chịu khó chăm sóc mẹ cha, phụng dưỡng lúc ốm đau, tảo tần lo các em nhỏ, xứng đáng là anh giỏi, chị hiền. Hiếu chân thật là ở chỗ đó. Bình thường quân tướng ai cũng đều như nhau, có người hứa hẹn điều to tát, có kẻ âm thầm phụng sự, lắm người khua môi múa mép nhưng khi xảy ra chiến tranh mới rõ biết ai là người dám chết để bảo vệ sự an nguy cho hoàng đế, tướng trung thần, tướng gian thần… đứng ra bảo vệ giang sơn xã tắc.
Người tu, ngay lúc bình thường cần chú ý rõ biết về tham dục, sân, si, kiêu mạn nó ngủ ngầm. Tinh cần điều phục, trị liệu một cách cụ thể những chỗ nào mà bản thân hay dấy khởi, khi có chuyện là biết ngay năm uẩn vận hành, gột rửa ngay những bất thiện pháp khởi lên. Thường ngày không chịu quán bất tịnh, chẳng chuyên chú quán vô thường, vô ngã đến khi đối mặt với sự ăn uống, vui mắt, sướng tai, khỏe thân quên mất câu chuyện lục căn bị lục trần dắt bỏ vào bao mất rồi. Quay trở lại thì đã qua một đời. Uổng lắm thay!
Bây giờ, mình phải chiến đấu với nội tâm. Ra sắc lệnh mạnh mẽ ‘buông bỏ’, buông cái gì và bỏ cái gì? Buông xuống tham chấp là của mình, là tôi, của tôi, bản ngã to đùng. Dặn thân luôn nhớ sâu sắc đây là tứ đại giã huyễn hợp thành, đồ dỏm thôi! Còn bỏ là bỏ cái gì? Bỏ xuống cái gọi là chùa phố, am thất trên núi, những việc đang làm với Tăng Ni, trường lớp, sở thích giảng dạy, những Phật tử, danh vọng, lợi dưỡng, cung kính,… phải chiến đấu quyết liệt trong sự buông xả này. Muốn vậy, dụng tâm sâu sắc trong Như lý tác ý, rồi quán chiếu chứ không phải mình nói chuyện nhẹ nhàng như mình nghĩ.
Chúng ta sợ nhất điều gì? Đối diện với chính mình và đối diện với cái chết. Đó là sự thật hiển bày nhưng mình thường né tránh, chạy đuổi cái khác, càng vượt nó càng khó thoát, bởi đó là chỗ cuối cùng ai cũng trở về. Đau khổ hoặc an lạc do mỗi hành giả!
Có lần, Minh Thành đi qua Úc Phật sự, nhận tiện có tới thăm một Phật tử gia đình rất thành đạt, người nào cũng mặt mày thanh tú, đẹp, giàu sang, nhưng họ đang không thật hạnh phúc vì những bàn tay con cái ấy đang cố nắm chặt, giữ lấy chút hi vọng dù chỉ le lói, miễn là mẹ họ được khỏe mạnh, được bình yên sống lâu, phục hồi sức khỏe lại. Vì mẹ họ đang lâm vào căn bệnh ung thư giai đoạn cuối, thân gầy còm chỉ còn 25kg, xanh xao, hốc hác, thật là tội nghiệp!
Trước tình cảnh đó, người ngoài chứng kiến cũng khó mà dửng dưng huống nữa mình là người xuất gia. Cần chia sẻ, giúp họ nguôi ngoai nỗi đau chia lìa, bệnh tật và hiểu rõ lẽ vô thường. Mình đặt vào hoàn cảnh đó thì làm sao? Nếu không có niệm định tuệ một cách vững chắc, sâu thẳm tình cảm đó làm sao mình có thể điềm nhiên bất động. Chính vì thế sức tuệ quán phải thật sâu.
Lợi dưỡng cúng dường là điều cần cẩn trọng, thật cẩn thận đối với người tu. Lời dạy của Bậc Đạo sư đã chỉ rất rõ trong kinh Tương Ưng Bộ, ở chương lợi đắc cung kính cúng dường. Người xuất gia khi được lợi ích cúng dường cung kính tài vật phải thật là thận trọng, không khéo mình bị sa đọa mà không hay. Đức Phật đưa ra rất nhiều hình ảnh, trong đó có một hình ảnh đầy ấn tượng, giống như con giòi ăn đống phân mà nó nói ‘ta có đống phân lớn nhiều, còn tụi bay có đống nhỏ hay không có’ đó là một sự xót xa.
Chỉ khi nào xem danh văn lợi dưỡng cúng dường giống như đống phân, không tham đắm trong đó giống như con giòi ăn phân thì mới có tự tại, mới nhẹ nhàng đường tu. Lúc đó, nhắc Pháp Tuệ mà cũng là răn nhắc bản thân.
Pháp Tuệ nói ‘dạ, con thường quán hình ảnh này, quán danh lợi tiền bạc giống như đống phân’. Không chỉ vậy, mà phải quán chiếu soi rọi cho tới điểm cùng tận. Từ tâm tham dục, mong cầu, muốn được, chiếm hữu, nên mới chạy theo danh lợi. Do tâm tham muốn ở trong mới chạy theo danh lợi cung kính, quán sâu hơn nữa tham muốn cho cái gì? Tham muốn cho tôi, bản ngã là cái tôi. Từ đâu mà có bản ngã đó? Vì vô minh. Chỗ không sáng suốt chẳng thấy rõ pháp, không thấy rõ bản chất của sự thật. Vậy tại sao có vô minh? Do không thấy rõ năm uẩn là vô thường, bản tính của nó là vô ngã, khổ.
Cho nên, chúng ta thường xuyên nhận diện năm uẩn. Bước vào con đường đức Phật dạy, mỗi hành giả hành trì mới thấy toàn phép quán chiếu, nó giúp chúng ta thành tựu chánh kiến, cũng như mình thấy con nít nhà ở gần dòng song, chúng còn nhỏ nên không biết dòng sông nguy hiểm nên cứ chạy ra chơi, nhưng mẹ la cha rầy, người lớn bắt vào sân gần nhà chơi, không được tới gần bờ sông, chẳng nên vượt qua khỏi hàng rào. Sông là nguy hiểm, hàng rào là giới, nhờ giới che chắn nên ta không dám vượt qua, không tới chỗ nguy hiểm.
Đức Phật muốn mình nhận thức được vấn đề sắc là nguy hiểm, tham dục là nguy hiểm. Vì nó sẽ đưa mình tới vực thẳm, nên bậc Đạo Sư đã dùng rất nhiều từ như rắn độc, mũi nhọn, gươm dao, kẻ sát nhân, hố lửa hừng, lò than hừng đốt cháy mình. Ngài đưa ra rất nhiều hình ảnh minh họa để những người con Phật soi rọi lấy làm sợ hãi, dè chừng, tránh xa những điều dễ mắc lỗi, đi theo con đường Phật dạy để tới bến bờ giác ngộ.
Dùng pháp quán làm cho thức tỉnh, phá vỡ lớp giáp sắt vô minh nhiều đời kiếp trùm lên chúng ta, nay hội đủ duyên lành, hiểu được và hành trì nghiêm cẩn để ra sức phá vỡ tham dục, bởi nó mạnh mẽ hẫy hừng, khát ái tức là khao khát, ham muốn, nôn nao, rạo rực. Tại sao người ta không muốn ở một mình? Khó nhập thất được? Vì phải đối diện với những cái đó bên trong, một mình thì sợ hãi bao trùm, do thiếu kiên định, chưa chịu phản tỉnh.
Bước đầu nhiếp phục dục lậu, muốn nhiếp phục phải quán chiếu tứ đại, ba mươi hai thể trược, tử thi qua chín giai đoạn. Có thật sự quán chiếu sâu sắc tỏ rạng thì hành giả mới dẹp bớt cái dục, mặt khác đi sâu vào pháp cái tôi, cái ngã, thân kiến, chấp kiến là mình. Cho nên, dục thô dễ thấy nhưng thật, tức là có mình thấy còn không thấy là hết, nhưng bản ngã tinh vi ghê gớm, trá hình đủ kiểu. Còn dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu cần nhận thức rõ về nó mới phát hiện và loại rừ dần ra khỏi phiền não.
Lúc đó, mình nhập cuộc với ngũ uẩn, trừ khi người nào sức tu vững chắc lắm mới làm chủ được. Bởi, chúng ta còn thân hành, khẩu hành, ý hành và thọ, tưởng, sắc bao trùm cũng như bó chỉ rối cần tìm đầu mối chính xác để cuộn lại cho thẳng đường thẳng lối. Chỗ đó giúp ta cố gắng, nỗ lực trên bước đường tu. Thiện xảo trong quán chiếu, suy xét đúng bản chất là mình phải rất khéo léo mới được, nếu không sẽ khó phân biệt được pháp thiện đi dập còn pháp ác để nó sanh là lâm nguy.
Do vậy, đức Phật nói những phương pháp đoạn trừ lậu hoặc trong kinh ‘điều không đáng không nên như lý tác ý vị ấy lại tác ý, chuyện nên Như lý tác ý vị ấy lại không tác ý’, tức là điều gì đáng suy xét lại không suy xét mà cái không đáng suy xét lại suy xét. Các lậu hoặc của vị ấy tăng trưởng phát triển không thể nào đi tới diệt tận.
Khi chưa thấy pháp, chúng ta hay phân biệt, khởi tâm khen chê, nay khen vị này giảng hay, mai chê vị nọ giảng chưa hay, mốt lại bình luận vị này vị khác… thật ra mình chưa thấy pháp thì tất cả nhận định của mình hoàn toàn không đúng sự thật. Cần có niềm tin bất động đối với đức Thế Tôn. Chúng ta mãi loay hoay khen chê Thầy này, Tổ kia, thầy nọ, cuối cùng chỉ là con rối giữa biển đời khổ ải. Dù cho Tổ sư, Hòa thượng, các tông môn đi chăng nữa thì cũng là những hành giả trên bước đường chuyển hóa từ phàm sang thánh, từ những điều khó biết, khó thông các vị ấy chỉ dẫn cho người sau dễ hiểu, dọn đường cho quang đãng để đi thuận lợi, chứ chưa hẳn các vị ấy đã là bậc A-la-hán. Cần thận trọng bình luận, suy sâu xét kỹ và thật sự tin vào Phật để hành theo lời Phật chỉ dạy mới thật là con Phật.
Chúng ta chạy kiếm pháp này pháp kia, tất cả là là mình chạy theo năm uẩn. Ví dụ, ông Thầy giảng vui, nên quá thích, nhĩ căn lệch lạc. Hôm nay, ông thầy này tướng hảo quá! Đang chạy theo sắc. Rồi mình nghĩ ông Thầy tu hay, phước đức đó là tưởng hành. Sự rõ biết tức là thức. Đừng để đường tu chạy lòng vòng trong cây cột. Phật dạy mình pháp ngũ uẩn để soi rọi thật kỹ năm uẩn của mình hoạt động như thế nào? Thánh trí vô thượng, trí huệ của bậc thánh, thánh đệ tử mới được trí huệ này. Hành giả đang thừa hưởng gia tài vĩ đại của Bổn Sư Thích-ca Mâu-ni Phật, quan trọng lật chúng ta có chịu biết không, có biết trân quý giá trị đó hay không. Nay, chúng ta lắng tâm sâu sắc, đem hết thân tâm cung kính Phật, cung kính Pháp, cung kính Tăng, cung kính Giới, cung kính Thiền Định. Như vậy, huynh đệ sẽ thấy được giá trị siêu việt hơn hết tất cả trên đời này, đó là thế gian trí bảo của trí huệ năm uẩn này.
Minh Thành nghe bài kinh Thiên uẩn trong Tương Ưng Bộ Kinh rung động toàn thân. Đức Phật cho chúng ta thấy hình ảnh chúng sanh giống như mấy đứa bé chơi nhà chòi, nhà bằng đất khi nào tâm ham thích, ưa muốn, dính mắc trong nhà bằng đất đó thì nó sẽ không rời ra được nhà bằng đất, cứ loay hoay ôm giữ nhà đất đó hoài. Nhà bằng đất đó là gì? Là sắc, cảm giác, những tư tưởng, những suy nghĩ, nhận thức hay rõ biết này. Hãy đập tan nhà bằng đất ngũ uẩn đó sẽ được giải thoát khỏi sự trói cột vào nhà bằng đất đó. Do tham dục luyến ái, dính mắc trong năm uẩn, lúc nào cũng nghĩ của tôi là hay là đúng, tràn ngập trong tưởng uẩn, hành uẩn.
Đức Phật định nghĩa một vị pháp sư, một vị hành giả và một vị chứng đắc trong Phật giáo.
Lúc đó, đức Phật ở Sa-va-thi, có một Thầy Tỳ-kheo bạch với đức Phật:
- Bạch đức Thế Tôn! Con nghe nói đến vị thuyết pháp, thế nào là vị thuyết pháp?
- Này Tỳ-kheo, thuyết pháp về sự nhàm chán, lìa tham, đoạn diệt đối với sắc như vậy là vừa đủ để được gọi là vị Tỳ-kheo thuyết pháp. Nếu vị Tỳ-kheo đi vào sự thực hành nhàm chán, sự lìa tham, đoạn diệt đối với sắc như vậy vừa đủ được vị Tỳ-kheo thực hành pháp, tùy pháp. Nếu như Tỳ-kheo do nhàm chán, lìa tham, đoạn diệt đối với sắc không chấp thủ như vậy là vừa đủ để được gọi vị Tỳ-kheo đạt được Niết-bàn ngay trong hiện tại, đối với thọ tưởng hành thức cũng vậy”.
Một vị Tỳ-kheo đến bạch đức Thế Tôn nói ‘con nghe nói một vị thuyết pháp? Như thế nào mới được gọi là một vị pháp sư?’. Phật nói: “Này Tỳ-kheo, nói pháp về sự nhàm chán, xa lìa, không còn tham muốn, chấm dứt đối với sắc như vậy là vừa đủ gọi là pháp sư. Nói làm sao để cho người nghe nhàm chán, họ không còn tham muốn, muốn chấm dứt, không chạy đuổi theo sắc đó là đại pháp sư, là chân thật của pháp sư.”
Mình cứ căn cứ trên kinh tu hành, mà không thấy cảm giác, chưa thấy sự vận hành những vọng tưởng, suy nghĩ, nhận thức rõ biết bên trong, vô thường luôn hiện hữu mà chẳng chịu giật mình tỉnh thức.
Hành pháp, tùy pháp là người thực hành pháp của Như Lai, tùy pháp bất cứ lúc nào người đó thực hành được pháp là người đó tùy pháp. Thực hành pháp theo tự thân tâm, bằng trí huệ tâm yên định tĩnh nhìn thấy rõ bản chất biến đổi của sắc, tư tưởng, suy nghĩ. Phật xác nhận, nếu vị Tỳ-kheo nào do nhàm chán, ly tham, đoạn diệt với sắc thọ hành thức đó, do nhàm chán ly tham đó dẫn đến sự đoạn diệt, được giải thoát không chấp thủ đối với năm uẩn, như vậy gọi là vừa đủ để vị Tỳ-kheo đạt được Niết-bàn ngay trong hiện tại.
Đạt được Niết-bàn ngay trong hiện tại sẽ chấm dứt tất cả khổ, vượt qua hết tất cả khổ ách, thành tựu chánh trí thánh trí thành tựu vô thượng Niết-bàn giải thoát ngay trong hiện tại. Đây mới thực tại hiện tiền, ‘hiện pháp lạc trú’ cứu cánh, cảnh giới này sẽ thấy chỉ thấy, nghe chỉ nghe, ngồi chỉ ngồi, nhìn chỉ nhìn, tới chỗ bất động. Bởi, tâm giải thoát, tuệ giải thoát.
Tùy tín hành là mình theo tin và thực hành giáo pháp, gọi là địa vị tùy tín hành, tùy tín hành đã nhập chánh tánh, chân nhân địa, đã vượt phàm phu địa. Chánh tánh là đã vào được bản tánh chân chánh của người đệ tử Phật. Đã nhập chân nhân địa là trở thành một con người chân thật trong giáo pháp của đức Phật. Đã vượt phàm phu địa là đã vượt qua phàm phu, tuy chưa thành chánh quả nhưng không còn giống kẻ phàm phu. Khi thấy ngũ uẩn là vô thường, vị ấy không làm những điều tội lỗi để đi xuống ba đường ác và vị ấy mệnh chung chứng quả dự lưu, tức là vị này chậm nhất tới lúc chết sẽ chứng quả dự lưu đây là địa vị tùy tín hành.
Tùy tín hành là bước vào đạo bằng niềm tin, còn tùy pháp hành là bước vào đạo bằng sự thực hành và trí huệ.
“Với ai, này các Tỳ-kheo, kham nhẫn một ít thiền quán như vậy, giới trí huệ những pháp này vị ấy được gọi là tùy pháp hành.”
Kham nhẫn một ít thiền quán là sao? Là cố gắng chịu đựng để tu tập, vượt qua chính mình, nỗ lực chịu khó một ít thiền quán, tức là không phải quán sâu quán nhiều mà được một ít thiền quán để thấy năm uẩn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân là vô thường, biến hoại, đổi khác nên vị này kham nhẫn một ít thiền quán như vậy với trí huệ và những pháp này vị ấy được gọi là tùy pháp hành, là theo sự thực hành pháp là theo pháp đó mà thực hành bằng trí huệ thiền quán.
“Vị này cũng là bậc chân nhân vượt qua vị phàm phu và vị ấy không thể làm rơi vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Một vị không có thể mệnh chung mà không chứng quả dự lưu”.
Vị này nếu siêng năng, tinh tấn trong thời gian ngắn, nhập vào thánh quả dự lưu thành tựu trí về năm uẩn; nếu chậm nhất không có thể mệnh chung mà chứng quả dự lưu, tức là nhất định chậm nhất vị này chết sẽ vào dòng thánh tại vì thấy rõ ngũ uẩn. Hồi xưa thì chấp nhận nó, đi theo nó, bám chặt nó, bây giờ thấy nó không phải mình, nhìn riết thấy nó vô thường, đòi hỏi suy nghĩ hoài, cứ chạy theo cảm giác nên mình thấy và thường xuyên quán chiếu nó tự nhiên mình thành tựu tùy pháp hành, chắc chắn trong một đời vào trí huệ thứ nhất, trí huệ thứ nhất là mình thấy được phiền não rõ tham sân si cội gốc nó.
“Đối với những pháp này với ai biết rõ như vậy, thấy như vậy vị ấy đã chứng dự lưu không bị thối đọa, quyết chắc chứng giác ngộ.”
Mình còn lờ mờ, lúc tin lúc không tin. Khi mình tin được gọi là tùy tín hành, nếu bản thân mỗi hành giả chịu khó nỗ lực tu tập để thấy như vậy bằng thiền quán, bằng tuệ quán thì đó là thùy pháp hành; cho tới mức độ không còn thấy tham sân si, đó là dự lưu vào dòng trí huệ bậc nhất của thánh nhân, dự vào thánh chúng của đức Phật.
Chương 3:
HỔ THẸN VÀ SỢ HÃI
1. Hổ thẹn và sợ hãi
Chúng ta học để thâm nhập trọn vẹn giáo pháp Vô thường, Khổ, Vô ngã để thành người vô úy, bất khuất, mãnh liệt chứ không phải trở thành người gặp việc, gặp sự gì đến cũng bó tay, buông xuôi, yếu hèn. Đức Phật từ trong kinh để dạy chúng ta là ‘thể nhập cảnh giới bất tử’. Như vậy, hành giả học cái chết để mình đi tới chỗ không chết.
Con Phật thì tinh cần học Phật, giảm ăn, bớt ngủ, xa lìa những cám dỗ để chuyên tâm trì chí vào kinh tạng, hành trì miên mật. Thật sự gắn kết cuộc đời mình cùng với Tăng-già, tin Phật, học Pháp không lay động. Điều đó làm cho cuộc đời mình đổi thay, chuyển biến, hun đúc tinh thần trở thành trở thành bất tử. Muốn vậy, ngay đây và bây giờ cần luôn mạnh mẽ, hùng dũng, nỗ lực, quyết tâm trên con đường xuất gia.
Bản thân luôn soi rọi mình và để tâm hổ thẹn. Mỗi khi nhìn lên dung nhan đức Phật, hình ảnh đại hùng, đại lực, đại từ, đại bi của Ngài trải khắp chúng sanh làm ấm lòng và tiếp tục nhen lên ngọn lửa nhiệt thành cầu đạo. Lại nhớ về Ngài đại trí Xá-lợi-Phất, Ngài Mục-kiền-Liên, Ngài A-nan, La-hầu-la dũng tâm tinh cần trên con đường giải thoát. Chẳng những tự độ mà lại độ tha một cách tuyệt vời triệt để, rốt ráo. Những Thánh đệ tử ấy trưởng dưỡng đường tu mình mạnh bước, nhưng cũng thật thẹn, cảm giác tệ hại len lỏi và tủi nhục cho mình. Sao mình tu hoài mà không tiến, cứ lòng vòng trong năm triền cái [Tham dục (Kamacchanda); Sân hận (Vyapada); Hôn trầm (Thina-middha); Trạo cử (Uddhacca-kukkucca); Hoài nghi (Vicikiccha)] không thoát ra được, tối ngày cứ loay hoay trong chiếc bánh vẽ của dục tham, sân, hôn trầm, thùy miên, trạo cử lăng xăng, còn nghi pháp, không đi vào được thấy xấu hổ, lại tiếp tục mở kinh ra nghe lời Phật để trau dồi thực tập.
Tăng Chi Bộ Kinh, tập 3, Kinh Xấu hổ, trang 63:
“Này các Tỳ-kheo khi tàm quý không có, với người thiếu hổ thẹn, xấu hổ thì chế ngự các căn đi đến hủy diệt.”
Nếu người nào không biết xấu hổ, người đó không chế ngự được các căn. Giờ thiền hành hay giờ nghe pháp mà chúng ta ngồi đơ ra muốn ngủ muốn rã rượi, trì trệ, đờ đẫn nhưng mình không biết tàm quý, chẳng biết xấu hổ, không cung kính khi nghe Pháp thì mãi còn xa pháp.
Nếu có tâm hổ thẹn, mình sẽ chế ngự được các căn, khi chế ngự các căn bị hủy diệt thì giới sẽ đi đến hủy diệt. Đây là dòng chảy của pháp, tức là pháp duyên khởi ‘cái này có nên cái kia có’. Khéo quán chiếu thân tâm, giữ gìn oai nghi tế hạnh để không bị phạm giới. Có huynh nọ ngồi thiền một tiếng rưỡi vẫn tinh tấn, khi chân đau quá thì huynh ấy quạt hai cái chân lên xuống để đỡ đau nhưng không bung chân ra. Còn giờ nghỉ trưa thì huynh ấy váo trong nhà vệ sinh ngồi thiền. Cứ nghĩ là tinh tấn dũng mãnh sẽ thành tựu trên bước đường tu, nhưng không hẳn, sau này huynh ấy đã hoàn tục. Tu hành không phải quá căng trong việc tập trung tinh cần quá sức hoaặc buông lơi, cho qua ngày. Hai thái cực ấy đều dễ phạm, giữ được thăng bằng, bền chí mới là điều quý.
Tinh tấn niệm định huệ gọi là vừa, vừa là chế ngự các căn, tinh cần chế ngự, đoạn tận bất thiện pháp và hộ trì thiện pháp, gọi là vừa, chứ không phải vừa là im re. Vì chúng ta hiểu chưa đúng tinh thần kinh Phật, không đi vào hành pháp chân thật sâu sắc nên dễ lầm lộn. Mình hiểu theo kiểu tham ái, vì bị cảm thọ dẫn dắt hành, tưởng mà không biết.
Nhiếp phục năm triền cái, thành tựu chánh tri kiến mới hiểu tương đối chính xác kinh, còn mình chưa hiểu năm triền cái đa số mình bị thọ, tưởng, hành, thức kéo lôi trong đó. Hiểu pháp không chính xác nên khó chế ngự các căn, hiểu đúng như thật mới mở cánh cửa giới pháp chánh định. Luôn giữ gìn mắt tai mũi lưỡi thân ý đừng để nó xúc chạm với sáu trần mà sinh ra vọng niệm. Khi ngồi thiền, tâm mình khó định, vì một ngày ngồi thiền có hai ba giờ, còn lại lăng xăng chuyện này chuyện nọ gần như cả ngày. Luôn giữ ý niệm rõ ràng, chế ngự các căn, nếu những giới lớn mình không giữ, khi mình ngồi thiền định nó sẽ làm cho mình hối hận. Lúc sắp vào định, có những sai phạm trước đó, nó hiển bày làm cho tâm mình bị ray rứt, khó vào định. Tam vô lậu học rất tuyệt vời, không phải tự nhiên đức Phật làm ra, đó là trình tự của pháp giải thoát, nó phải vậy, nếu không vậy, nó không thành như vậy.
“Người không có giới, người thiếu giới chánh định đi đến hủy diệt, chánh định đi đến hủy diệt, khi chánh định không có với người không chánh định tri kiến như thật, đi đến hủy diệt.”
Tâm không yên định chẳng thể thấy rõ các pháp, ở đây là pháp trong tự thân tâm do mình thọ, tưởng, hành, thức luân chuyển và dục tham, sân bản ngã trỗi dậy như thế nào dẫn tới vô minh. Dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu mình không thấy, làm sao mình nhiếp phục nó được. Khi tâm không có định tri kiến như thật, nó bị hủy diệt. Tri kiến như thật không có với người tri kiến như thật cái nhàm chán, lìa tham, đi đến chỗ hủy diệt, khi không thấy biết được sự thật. Làm sao mình nhàm chán, không tham muốn nếu như chưa thấy sự thật của sắc, thọ, tưởng, hành thức là vô thường, khổ, vô ngã. Người thiếu tri kiến như thật nhàm chán ly tham đi đến hủy diệt, khi nhàm chán ly tham không có thiếu nhàm chán ly tham giải thoát tri kiến đi đến hủy diệt. Sự thấy biết về giải thoát đó sẽ không còn không thành tựu được. Do mình đâu có nhàm chán mà giải thoát, mình còn ham muốn, tức là mình còn buộc vào không chịu mở ra.
Nếu thật sự hiểu mới thấy thánh quả. Vì thánh quả phá vỡ hết sắc thọ tưởng hành thức, đây là những cái người ta yêu dấu, say đắm, bám chặt, vun bồi, điểm trang. Khi nào nhìn thấy rõ bản chất của nó là hư ảo thì thành tựu thánh trí. Phải hành trì quyết liệt đúng pháp thì mới đi tới con đường chấm dứt sanh tử. Đức Phật nói: “Trong pháp của ta, sự thành tựu chánh trí, thành tựu Niết-bàn không phải cầu may, không phải đột ngột mà đến” từ từ đi vào, từ từ thể nhập đó là một sự thật. Chẳng phải hoát nhiên khai ngộ.
“Này các Tỳ-kheo, ví như một cái cây không có cành và lá, các mầm non của cây ấy không đi đến chỗ thành mảnh gỗ trong giác cây, lõi cây không đi đến chỗ thành mãn.”
Cây không có cành, lá thì mầm non của cây đó làm sao phát triển được. Vỏ ngoài, vỏ trong rồi sau đó mới có giác cây, cuối cùng tới lõi cây, giác cây là thịt của cây ở trong lõi cây là ngay chính giữa như vậy làm sao đi đến chỗ hoàn thành, thành tựu cũng vậy.
“Này các Tỳ-kheo, khi tàm quý không có xấu hổ người không xấu hổ chế ngự các căn đi đến hủy diệt v.v… cho đến chỗ giải thoát tri kiến đi đến hủy diệt”.
Đức Phật nói ngược lại: Khi có xấu hổ thì có sự chế ngự các căn; khi có chế ngự các căn, giới đầy đủ chánh định đầy đủ; chánh định đầy đủ thì tri kiến như thật được đầy đủ; tri kiến như thật được đầy đủ rồi thì nhàm chán, lìa tham đầy đủ; nhàm chán lìa tham đầy đủ thì tri kiến đầy đủ. Ví dụ, ngược lại một cây có cành, có lá, các mầm non của cây đó tốt tươi thì vỏ trong giác cây, lõi cây đi đến chỗ thành mãn.
Nuôi dưỡng tàm quý, xấu hổ để ngăn che lỗi lầm làm cho thiện pháp sinh khởi mạnh mẽ. Thời gian gần đây, mình chiêm nghiệm thấy được từ ‘hổ thẹn’ ‘xấu hổ’. Ví dụ, mình tham ăn, phát hiện được nên dừng là mình có chế ngự. Hoặc như, mình nói hồi nào đến giờ sao mình ham hố nói vậy, phát hiện ra mình có sự xấu hổ trong khẩu nghiệp, dừng lại khẩu hành, rồi đang ngồi thiền mà trong dục khởi thấy xấu hổ, tự nhiên đang ngồi trước Phật điện, trước Tam bảo xấu hổ nhục nhã. Như vậy, phải triệt tiêu dục tham này, từ cái xấu hổ, nhục nhã, tàm quý này nó đưa mình đến gần con đường Thánh. Khi biết xấu hổ như vậy, hôn trầm tan, thùy miên ngủ nghỉ bớt lại, dục tham giảm, sân hận sẽ tiêu trừ. Nuôi lớn hai pháp này lên tàm quý, ăn ngủ mình cũng thấy xấu hổ. Vì đức Thế Tôn ngủ hai ba tiếng trong ngày còn mình ngủ sáu bảy tiếng còn chưa đủ, tới giờ thiền không phải giờ ngủ sao nó ngủ hoài, xấu hổ nhục nhã quá, đánh tan nó, mỗi khi mình buông lung phóng dật, cười nói, giỡn, chuyện tầm phào lúc đó mình nhìn thấy nhục nhã quá, xấu hổ quá. Vì bản thân thiếu tinh cần, chưa tinh tấn, không chánh niệm tỉnh giác. Trong tâm dấy lên bao câu hỏi ‘tại sao mình để cho thân khẩu ý không chế ngự, không tinh cần, chẳng điều phục nó’. Thế rồi, lúc nào mình cũng nhớ hai chữ hổ thẹn. Dục khởi lên mình thấy xấu hổ, sân vừa có, lập tức biết xấu hổ, tham vừa niệm phải thấy rõ nỗi xấu hổ này. Bản tâm luôn để trong chánh niệm thì sẽ chế ngự, diệt tận được những lệch lạc, sai trái, dễ mắc lỗi về giới hạnh.
Bát Chánh đạo là kim chỉ nam của đường tu. Khi làm việc cũng vậy, nếu làm một cách qua loa cẩu thả, hãy biết xấu hổ vì gian dối. Thường quán chiếu sâu sắc, có khi mình ăn đâu có qua loa ăn mà ăn là cho no, nhưng làm lại cẩu thả. Có người thì mình dễ dãi, buông lung, lại có người thì mình khó khăn quá mức. Vậy mà quên đi cái xét nét cho chính bản thân. Mình tu cho người ta nhìn hay tu cho mình, phải đặt câu hỏi này trong đầu thường xuyên để nhắc nhở nó, đánh thức nó, làm cho nó không ngã mạn.
Luôn xoay lại những ác niệm thành thiện niệm, ngày một ngày hai nó lơi dần, giảm bớt và sẽ tan ra để cuối cùng thuần khiết là thiện niệm. Đã xuất gia mà còn ác niệm thì mọi người xung quanh nhìn thấy sẽ rất nhục, ngồi một mình soi tâm thấy tệ hại, đau đớn biết mấy cho những ý niệm tà vạy, sai lầm, mê muội. Hạ thủ công phu để tà nghiệp ấy không thể sinh khởi, chẳng nên có mặt, phải lau sạch, xóa hết để tư tưởng, thân tâm này trong trẻo trở lại như xưa (xưa nay không một vật – Lục Tổ Huệ Năng). Thiện pháp không đâu xa, từ chuyện đi đứng ngồi nằm, ăn mặc ngủ nghỉ, nói nín động tĩnh, học hiểu hành trì và phụng sự.
Chẳng những biết hổ thẹn, xấu hổ mà còn biết nghĩ tới điều sợ hãi. Tại sao phải sợ hãi? Ở đây, sợ hãi từ những lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận học pháp, giữ gìn trong giới bổn. Bài kinh hữu học là tuần tự tu trì của người xuất gia. Người tu nên luôn sợ tội, sợ nghiệp, sợ quả báu, sợ làm cho tâm mình phát ra sợ mỗi khi người khác nghĩ gì, nói gì sai chánh pháp, sai với giới, sai với hạnh của người tu. Do vậy, bản thân tự làm cho mình phát sanh cảm giác sợ hãi. Ví dụ, giờ ngồi thiền mình ngủ gục, điều đó vừa xấu hổ lại nhục nhã và sợ hãi vì điều bất thiện pháp này, nó khởi lên sân là bao nhiêu cái ngã mạn, bản ngã, quán chiếu mạnh lên, pháp sợ hãi rất hiệu quả.
Quán chiếu sợ hãi phải sợ chết, sợ bệnh, sợ mình xảy ra tai nạn, sợ những bất thiện pháp, sợ phiền não, vô minh, dục ái, sân, luôn phòng ngừa nó, thấy nó manh nha là lạy Phật, lạy khóc lên làm phát sanh cảm giác nhục nhã xấu hổ, tội lỗi, làm cho kinh tởm ác pháp trong người mình. Quán chiếu đẩy ra những bất thiện pháp, cảm thọ cảm giác tội lỗi, không dung chứa, chẳng tiếp tục tăng trưởng, kế đó là cung kính.
Kinh Không cung kính, Tăng Chi Bộ Kinh, tập 2, trang 325:
“Này các Tỳ-kheo, không cung kính, không thận trọng, không sống trong tương hòa với các vị đồng phạm hạnh sẽ làm cho viên mãn thắng hạnh pháp, sự kiện này không có xảy ra”.
Cung kính đem lại rất nhiều sự lợi lạc. Có cung kính thì thiện pháp thường còn, người không cung kính mất hết thiện pháp. “Nếu Tỳ-kheo không cung kính, không thận trọng, không sống tương hòa, tức là hài hòa với bạn đồng tu, làm cho viên mãn thắng hạnh pháp là sự kiện không thể xảy ra viên mãn”, thắng hạnh pháp là hạnh lành, thù thắng, tốt đẹp được tròn đầy, không bao giờ có người không có cung kính.
Đối với một người cư sĩ, tăng sĩ mình cũng không dám xem thường, thỉnh thoảng mình cũng bị thất niệm, nhưng thường nhanh chóng quay trở lại chánh niệm, xấu hổ vô cùng! Vì từ ông già bà cả cho đến đứa con nít thích mến, quý đạo tràng, chùa mình ở nên họ tới, cũng đều có nguyên do, nhân duyên cả. Tôn trọng người, là chuyện bên ngoài, còn trong đây là thắng hạnh pháp làm cho mình tròn đầy hạnh tốt đẹp.
Người không thận trọng làm sao viên mãn được thắng hạnh pháp, thận trọng là một trong những điều kiện rất quan trọng của Thiên chủ (Vua Trời). Trong kinh ví dụ con sư tử bắt con thỏ hay bắt con hươu giống hệt nhau, thậm chí nó bắt con voi vừa tầm. Nó ra sức y hệt nhau chứ không xem thường con thỏ, nó muốn bắt con gì là nó dùng toàn lực. Vậy chúng ta có toàn lực trong thận trọng và công phu tu tập hay chưa?
Trong kinh ví dụ, người tu trí huệ nhạy bén tinh tấn lực phải giống như vậy. Hành giả không thận trọng không được, dù cho đó là pháp thế gian. Vừa thận trọng lại vừa cung kính thì rất tuyệt vời.
Tại sao vợ chồng người ta không có hạnh phúc? Khi chưa về ở với nhau thì đối đãi rất vui, tử tế, giữ mình nhưng về ở chung nhà thì bắt đầu không còn thận trọng nữa. Ngày trước nói chuyện dè dặt từng câu, từng chữ; mỗi hành động, cử chỉ đều rất cung kính, thận trọng, nhưng bây giờ thì muốn nói thì nói, muốn làm cứ làm chẳng còn cung kính hay là thận trọng gì nữa. Trong khi đó, ra ngoài đường đối xử với mọi người rất tốt, khi về tới nhà, mình đối xử người thân, vợ / chồng / con cái không có tốt như vậy. Thậm chí với cha mẹ mình hay bà con cô bác, mình nói năng hay hành động thiếu sự thận trọng, cung kính. Ở ngoài mình thận trọng nhưng về nhà không thận trọng, tập khí, thói quen xấu bung ra với người trong gia đình.
Ví dụ, mình gặp người đó lần đầu tiên hay khách thì mình nói chuyện rất thận trọng nhưng cha mẹ, người thân ruột thịt lại không thận trọng, cứ thoải mái nói. Cho nên, trong gia đình là chỗ để cho chúng ta phát ra tập khí nghiệp của mình. Chỗ này rất sâu sắc, cần lưu ý. Nên trong kinh đức Phật có ví dụ một hình ảnh tuyệt vời vô cùng, cô dâu mới về nhà chồng rất rụt rè, e thẹn, xấu hổ với cha mẹ chồng, xấu hổ với cô chú anh chị em nhà chồng, thậm chí xấu hổ với người làm vườn giúp việc trong nhà, từng câu nói hành động rất cẩn thận. Sau một thời gian, cô dâu này đã quen với môi trường mới và những tập khí, bất thiện pháp có từ lâu trỗi dậy và bung ra. Cô dâu ấy bắt đầu nói những lời xúc phạm tới cha mẹ chồng, buông thả thậm chí chửi mắng chồng. Đức Phật nói cũng giống vậy, vị Tỳ-kheo mới tu rất cẩn thận, rất xấu hổ khi nhìn đức Thế Tôn, quan sát các bậc trưởng thượng, những bạn đồng học rất cẩn thận, ở trong đó một thời gian không còn cẩn trọng, quên mất cung kính đối với Thầy, bậc huynh trưởng, huynh đệ hay đối với người cư sĩ. Sự buông thả ấy rất nguy hiểm, nếu không quán chiếu lại mình thì lạc nẻo khi nào không hay, trôi về đâu chẳng biết. Giữ được tinh thần đi tu mười năm cũng giống như ngày mình mới đi tu, lúc nào cũng có sự vui sướng, thích thú học pháp, hiểu pháp, hành pháp, không rời pháp.
Nhân viên mới tới công ty làm ngày đầu tiên, tháng thử việc người này rất cẩn thận từng chút một, từ lời ăn tiếng nói, từng cử chỉ. Nhưng nhân viên ấy được nhận vào làm chính thức thì mấy năm sau bắt đầu người này sỗ sàng, thậm chí phản ảnh sếp, nói xấu sau lưng sếp.
Chính bản thân Minh Thành ở trong chùa lâu năm nhìn thấy những người xuất gia không tu hành, thiếu chánh niệm tỉnh giác, chẳng thực tập pháp này, còn tệ hơn lúc chưa đi tu còn là cư sĩ hiền thiện, dễ thương, dễ mến, dễ dạy, dễ nói, dễ bảo. Do vậy, cẩn thận và cung kính không chỉ là buổi đầu, chẳng phải là với người ngoài, đối tác, công sở, trưởng thượng, chốn già lam mà với người thân trong gia đình, ông bà cha mẹ, anh chị em càng phải cung kính, thận trọng. Sự đối đãi giữa mình với người lúc nào cũng như buổi ban đầu thì mới hun đúc, tôi rèn thiện pháp trong mỗi hành giả ngày một tươi tốt. Vườn hoa chánh pháp ngày một nở rộ.
Sống không tương hòa với các bạn tu của mình thì không được, nếu như vậy vị ấy làm cho viên mãn hữu học pháp thì sự kiện này không thể xảy ra. Viên mãn hữu học pháp, hữu học pháp là tứ niệm xứ, tứ chánh cần, tứ như ý túc, ngũ căn, ngũ lực, thất bồ-đề phần. Tứ thánh đế đó là pháp hữu học, pháp cần phải học để hành trì đúng như vậy rồi sẽ đi tới chỗ vô học A-la-hán. Bây giờ chúng ta trong địa vị hữu học, cần phải chăm bồi đạo làm người, đạo xuất thế gian, giữ gìn oai nghi tế hạnh, luôn biết xấu hổ hổ, sợ hãi để rèn giũa cho viên mãn ba mươi bảy phẩm trợ đạo.
Không làm cho viên mãn các giới luật, mà vị ấy sẽ làm cho viên mãn chánh tri kiến, sự kiện này không thể xảy ra.
Không có chánh tri kiến thì không thể nào làm viên mãn chánh định được, tại vì không có chánh tri kiến sẽ không thấy rõ ngũ uẩn, Vô thường, Khổ, Không, Vô ngã. Không thấy được năm uẩn là không phải mình, làm sao mình định viên mãn được. Nếu bên trong còn dục, còn tham, vô minh, chấp ngã làm sao có sự viên mãn chánh định được. Do vậy, cần cung kính.
Đừng nghĩ rằng người xuất gia thì không phải quỳ với cha mẹ, ông bà cô bác. Đó là hiếu, là chân thành pháp môn, là cung kính để dung chân tâm mời gọi mọi người quay về nương tựa Phật, quay về nương tựa Pháp, quay về nương tựa Tăng. Cho nên, Minh Thành quỳ với người thân để báo đáp ơn tình cao trọng của sinh thành dưỡng dục. Phải chịu khó bỏ những tiểu tiết để làm những chuyện lớn về sau. Dần dà đưa họ vào dòng pháp, đó là báo ân, tại vì những người đó là ân sâu nghĩa nặng với mình, chuyện đó mình làm rất xứng đáng không có gì sai, đó là cung kính. Chúng ta thực tập từ trong kinh ra.
Hiện nay, có một số chú tập sự xuất gia nhưng chưa chú ý tập luyện pháp cung kính, cần chú ý để học cho thuần thục, đốn ngã cái cao ngạo, ngã mạn của bản thân. Từ đó mới sanh ra phước đức trí huệ. Thường xuyên chiêm nghiệm và quán chiếu pháp cung kính với mọi người từ người lớn đến con nít, không phân biệt, để phá bản ngã. Muốn vậy, mình quán chiếu bất tịnh quán, quán bộ xương xong tan ra thành tro bụi, sau khởi ý niệm về cái tôi để quán tưởng, sử dụng Như lý tác ý đập vỡ nó, bắt nó phải quỳ lạy đối tượng trong tâm, mình cho là ta đây bất kính, lạy mười lạy, lạy mười tám lạy, lạy cho tan sáu căn sáu trần sáu thức, lạy để phá hết mười hai xứ, mười tám giới, lạy làm tiêu hết tham sân si mạn nghi ác kiến, biên kiến, tà kiến, chấp kiến, kiến thủ.
Chúng ta lạy Phật năm vóc sát đất, lạy bằng tâm cung kính, niệm thường xuyên câu xin lỗi, nên bên trong trí huệ ngút trời, bên ngoài sự khiêm cung tận cùng với mặt đất. Nhưng sự nhu thuận, nhu nhuyến bên ngoài mềm mại như dòng suối thì mới được, chứ không phải mềm mà yếu xìu, cũng không phải cứng như đá, tùy lúc uyển chuyển theo hạnh, pháp thiện xảo để mình tu tập quán chiếu.
Như vậy, trong hành giả luôn có đủ sắc thái, bước tới như lửa hừng thiêu kiết sự lớn nhỏ, có lúc mình như ngọn lửa rực cháy tất cả phiền não mình đốt hết, luôn luôn bước tới tuyệt đối không dừng lại. Bước tới thiêu bản ngã, vì nó là khốn khổ và hoạn nạn, cản đường tu, không tiến được, chẳng thể thành tựu đạo nghiệp. Vì nó nói nó biết rồi, nó hiểu rồi, nó không cần biết thêm, mình phải phát hiện ra lúc nó vừa khởi lên, dù đang nghe pháp nó cũng khởi lên, đang làm việc nó cũng khởi lên, đang ăn cơm nó cũng khởi lên, đang ngủ nó cũng khởi lên, nằm chiêm bao nó cũng khởi, vô ngồi thiền nó cũng khởi. Sự xuất hiện của nó dày đặc, bao trùm nếu thiếu chánh niệm lập tức sập bẫy mồi của nó ngay.
Dùng chày kim cang lực sĩ đập nó nát ra thành bụi, bắt nó quỳ lạy, lạy ai vậy? Lạy Phật, lạy Tổ, Hiền Thánh, lạy Thầy, huynh đệ, chúng sanh,… lúc nào mình nghĩ hình ảnh mình cũng thấy nó gục đầu xuống thật tâm lễ lạy, cung kính. Mỗi khi nó hiện hình bóng tự ngã, sắc tưởng về cái tôi, đừng cho nó ngẩng mặt lên tự đắc, bản ngã này rất ghê, nó còn dữ dội hơn dục tham. Vì dục tham thiệt thà, có là mình thấy hết cắt là thôi, còn bản ngã nó ma mãnh, tinh ranh, mưu mô xảo quyệt ẩn trú trong thân tâm này. Nhưng thất niệm là quên, bị đọa ngay. Do đó luôn tinh cần, tỉnh thức, giữ được bình thường là pháp.
2. Diệt trừ phiền não
“Chén trà trong hai tay
Chánh niệm nâng tròn đầy
Thân và tâm an trú
Bây giờ và ở đây.”
Mỉm cười nhè nhẹ, cảm nhận được sự an tịnh thở vào thở ra, cảm giác toàn thân thật là an tịnh, giây phút này rất mầu nhiệm, trang nghiêm, vì mình đang quay trở lại soi rọi bên trong tâm. Sống trọn vẹn ngay đây như đang là. Mặc cho ngoài kia xôn xao, dưới phố đang rộn ràng, chúng ta từ bỏ tất cả phiền lụy đi vào cảnh giới thanh tịnh, gần với thiên nhiên, nghe pháp vị ngập tràn trong mỗi hơi thở huynh đệ tương ưng với Tam bảo trong giờ phút hiện hữu giữa núi đồi này.
Chúng ta bị thói quen đi tìm thú vui ở ngoại cảnh, dễ bị lệ thuộc vào ngoại cảnh, sự tu tập là trở về nhìn lại thân tâm của mình ngay trong giây phút hiện tại, nhìn nhận trở lại, cảm nhận lại.
Làm thế nào diệt trừ được phiền não?
Tất cả chúng ta tu học Phật pháp để mong cầu an lạc giải thoát và không phiền não. Đầu tiên, mình phải biết phiền não là gì? Ở chỗ nào? Nếu mình không biết nó, làm sao nhiếp phục, chuyển hóa để chấm dứt nó được.
Phiền não là làm cho mình buồn phiền, lo lắng, đau khổ, mình không muốn mấy cái đó, phải giải thoát ra khỏi nó. Cũng giống như mình bị trói, nay được tháo mở được gọi là giải thoát. Cái gì buộc, cột ta? Cái buồn nó buộc, cái giận nó buộc, cái tức nó cột, cái tham muốn làm cho mình khổ, cái si mê tăm tối làm cho mình lo lắng sầu đau. Bây giờ mình mở ra được những tên ma phiền não đó, tức là thoát ngục, thấy khỏe nhưng quý vị phải biết phiền não nằm ở chỗ nào mới là điều quan trọng.
Nóng giận nằm ở đâu?
Khi có ai làm cho chúng ta bực mình, lúc đó cảm giác mình thay đổi, sân giận nằm trong cảm giác. Nếu mình tu mà chưa thấy sự thật bản chất phiền não ở chỗ nào thì mình không thể trị nó được. Nếu đã phát hiện nó thì phải trị tận gốc nó mới không phát sanh khi có dịp.
Ví dụ, giữa đám đông, khoảng năm mươi người mà nói ‘tôi đi kiếm bà Xoài đòi tiền’, nhưng lại không biết bà ở đâu, mặt mũi ra làm sao thì không thể đòi tiền được. Phải biết những thông tin cơ bản, chính xác về bà Xoài, tên tuổi, địa chỉ nhà, số điện thoại, làm việc, thường hay lui tới những đâu, mối quan hệ xã hội,… Cũng vậy, ta cứ nói đánh giặc phiền não, diệt tận tham sân si nhưng lại chẳng biết mặt mũi, hình dáng, biểu hiện của chúng thế nào thì khó mà chiến đấu với chúng được. Cuối cùng là mình đánh vào không khí, đánh vào cái bóng vô minh, đen tối, điên đảo, mê lầm.
Nổi giận thì cảm giác bị biến động, chuyển đổi tùy theo mức độ giận. Nếu giận vừa phải thì ở lồng ngực trước ấm nóng lên khi vừa khởi lên cơn giận. Có thường trực xoay lại nhìn nhìn cảm giác mới rõ biết điều này. Vì lúc giận thì chúng ta đang hướng ra ngoài, có ai kịp nhìn lại bên trong, quán chiếu vì nó đang bung trào ra mà. Giận mạnh hơn,ấp độ cao thì nó bừng bừng đỏ trên gương mặt, lỗ tai đỏ, cả hai mắt đỏ. Tất cả sự giận dữ đó là một chuỗi dài của cảm giác ngay trong thân của mình. Hành giả chú ý, nhìn thấy kỹ nó phát tán ra chỗ nào mình thấy rõ, mình nhận biết cảm giác toàn thân để một khi mình có nóng giận hay tham muốn, ganh tỵ mà có thay đổi cảm thọ là thấy được liền. Khi thấy rõ về cảm thọ thì điều phục ngay cơn giận ấy. Nó sẽ không có cơ hội chiếm ngự, làm mệt thân tâm mình.
Người tham ăn, cảm giác nằm trong chỗ thức ăn, hương vị món ăn, nhìn thấy món ăn và ăn nhanh, gắp lia lịa, húp cho mau để còn ăn tiếp, húp tiếp món súp khác… Cảm giác đánh lừa tất cả. Đức Phật không phải vô duyên vô cớ dạy mười sáu hơi thở trong kinh Niệm hơi thở hay kinh Tứ niệm xứ, cảm giác toàn thân rất quan trọng, luôn luôn nhìn lại cảm giác của mình để biết hiện tại đang diễn ra sao và sống trọn vẹn tỉnh thức như đang là.
Có ba loại cảm giác, dễ chịu, khó chịu, không khó chịu không dễ chịu, mỗi ngày chúng ta thường xuyên gặp gỡ chúng, sống với chúng, bị chúng áp đảo mà quên, vô tâm chẳng chủ động xoay trở nên thành thói quen, đó là điều nguy hiểm, nó tạo thành nghiệp dẫn mình đi trong luân hồi sanh tử mà mình không hay. Chẳng hạn, mưa thì dễ chịu với người này nhưng khó chịu với người kia; nắng thì khó chịu với chỗ này nhưng lại dễ chịu với chỗ khác; phòng máy ạnh thì thoải mái với người này nhưng dị ứng với người kia và người nọ thì thấy không vui không buồn. Mọi hiện tượng, sự vật nó diễn biến đều đặn bình thường nhưng do cơ thể, cảm giác và thói quen hằng hữu của sự cố chấp, chúng ta dễ bị chết trong cảm giác. Khắp người trong thiên hạ đều đi tìm cảm giác, chỉ vì một chút cảm giác vui thích kia mà đánh đổi rất nhiều thứ, từ tiền tài, danh vọng đến thân mạng,… người đời là vậy còn người tu cũng không khác, nếu không khéo nhiếp tâm, điều phục cơn nóng giận, rõ biết cảm giác đang dấy khởi vì một yêu thích, nắm níu thì chết.
Bình thường 4 giờ sáng thức dậy tụng kinh hay ngồi thiền, hôm nay 3 giờ 45 phút thức dậy, cảm giác lạnh trong tâm mình bắt đầu nói, ‘thôi, nằm thêm chút nữa, hồi hôm thức khuya’ đó là tiếng nói của nó, vậy là ngủ quên thời công phu tới sáng bét mới dậy nổi. Ma ngủ đánh sập rồi. Hoặc như, mình làm điều gì sai mình biết là sai, nhưng trong đó nói cái này chút chút không sao đâu cái lớn mới có sao nhưng tại cái chút chút đó đưa mình tới cảm giác dễ chịu. Ví như, một tháng ăn chay sáu ngày, mình nhớ rõ ngày đó là ngày ăn chay nhưng bạn mời tiệc nhiều món ngon. Ngay đó không nhìn lại cảm giác sẽ dễ dàng thỏa hiệp trong việc xả chay, ăn mặn trong ngày ăn chay mà mình đã quy định. Cũng vì cảm giác mà ngày xưa hai người để ý rồi đến với nhau thành vợ thành chồng, sau này lại cũng cảm giác mà nảy sinh hờn ghen, giận và muốn bỏ nhau. Hoặc như, ngày trước thường đền chùa công phu cùng quý thầy, mến cảnh, tôn kính Tam bảo rồi quyết định xả bỏ ngôi nhà lửa đến với ngôi nhà xất trần, lập chí xuất gia dõng mãnh. Một thời gian vì cảm giảm của tuổi trẻ, của nhưng mắt xanh môi đỏ bên ngoài, lời ngon tiếng ngọt rồi lại bỏ chùa, bỏ thầy mà đi theo tiếng gọi của cảm giác dục khởi. Đường đời không xong, đường tu cũng chẳng trọn, thành ngư đứng giữa ngã ba đường mặc tình cho gió bụi cuốn vào. Sự tu tập là luôn soi sâu xét kỹ lại thân và tâm của mình không có gì khác. Bởi, tất cả sự tu hành hiểu thân tâm mình tới tận cùng thì thành Chánh Đẳng Chánh Giác, A-la-hán chứ không phải tu là hướng ra ngoài.
Thực tập ngũ uẩn, phần sắc quý vị dễ nhìn thấy, còn phần thọ tưởng hành thức thì có khó hơn. Chúng ta đào sâu suy nghiệm để hành trì về ngũ uẩn sẽ phá dần bản ngã, đánh sập những tà kiến để đi đến bước đường thong dong tự tại của không có cái gì là tôi, của tôi.
Chẳng hạn, đi đường vắng ban ngày không sao nhưng đi đêm lại bắt đầu sợ này sợ kia, nghe âm thanh của chiếc lá, tiếng lao xao của cành cây, bóng sáng nhòe nhoẹt của đêm trăng khuyết cũng làm mình sinh khởi bao nhiêu vọng niệm, tưởng tượng đủ thứ nên sợ. Chính mình đang nhát ma mình. Tưởng làm cho chúng ta đau khổ nhiều.
Ví dụ, mọi khi chị A này thân thiện vui cười khi tiếp xúc với mình, nhưng hôm nay mình đi ngang chị A không nhìn, chẳng thèm quay lưng cười xã giao. Vậy là mình dấy khởi bao nhiêu tư tưởng, rồi từ đó giận, hành trong tâm nó nói ‘nay sao chị A kỳ quá ta, không biế có điều gì buồn giận hay hiểu lầm mà không nói với mình câu nào’. Tâm khởi bao nhiêu thứ trong đó, lăng xăng tưởng tượng tuôn trào, nó đang dệt vẽ làm cho mình khổ đau.
Chẳng hạn, ông xã mình mọi ngày sáu giờ chiều đã về tới nhà, nhưng hôm nay tới chín giờ tối mới về. Lúc đó, cái tưởng mình hoạt động đủ thứ chuyện. Nếu không tỉnh giác với cái tưởng này rồi dệt ra, liên tưởng mộng ảo thì tình cảm vợ chồng bị rạn nứt, hao mòn, hoài nghi, thậm chí đổ vỡ. Khi hiểu ra chuyện là do bữa nay trong công ty có người bị đột quỵ, ông đưa người ta vào bệnh viện, lo thủ tục, chăm sóc sức khỏe đồng nghiệp nên về trễ. Vợ chồng cần cảm thông, tìm hiểu mọi nguyên nhân rồi mới quyết định đúng sai, đừng vội quyết định là cho mình đúng vì lúc đó chỉ là chạy theo tưởng tượng mà nó không phải là sự thật đã và đang diễn tiến.
Hoặc như, từ xa đã thấy bạn gái mình đang vỗ vai cười nói tay nắm mặt mừng vui vẻ với một thanh niêm lạ, mình đã đùng đùng nổi giận, tưởng tượng chắc là bạn trai mới hay là bồ cũ của cô ta, chạy nhanh tới định làm những chuyện cho ra lẽ, khi tới nơi, cô bạn vui vẻ chỉ với mình là đó là em trai ở quê mới lên chơi. Bao nhiêu suy nghĩ sai, biến mất và mình kịp dừng chứ không thì đã sai lầm, mê muội chạy theo tưởng uẩn. Cũng vậy, trên bước đường tu cẩn thận, học, hiểu, hành trì và hoằng dương chánh pháp là điều không phải dễ, phải thực tri liễu pháp. Đức Phật nói khác nhau giữa tưởng tri, tuệ tri và thức tri. Ba cái này khác nhau, đó là biết bằng tưởng, biết bằng thức và cái biết bằng tuệ.
Chúng sanh biết bằng cái tưởng, không có sự thật, thức là sự nhận thức tri thức, kiến thức, học thức, thức này cũng không đúng. Vì có trường hợp nó đúng, có trường hợp nó khác nên học thức nó cũng chưa đúng mà biết bằng trí tuệ là biết đúng sự thật bản chất, hiện tượng của sự vật, sự việc đó, gọi là tuệ tri (biết bằng trí tuệ).
Có lần, Minh Thành đi xe từ Thành phố Hồ Chí Minh lên núi Linh Quy Pháp Ấn. Trên đường đi mưa rất to, mấy chú đi chung xe mới nói ‘chết rồi!’. Minh Thành nói ‘sao chết?’. Mấy chú đang tập tu mới nói ‘mình đi về núi tối không có đèn pin, không có đèn đường, không có dù hay áo mưa, đường sình bùn trơn trượt lại nửa đêm’. Mình mới nói rằng ‘chưa có chết, mưa đang ở Thành phố chứ chưa mưa tới núi Linh Quy, mà chúng ta cũng chưa đi tới núi làm sao biết là mưa ở đó có hay không’. Khi tới núi Linh Quy không có mưa, thành ra chỗ mình khổ một phần rất lớn là do cái tưởng của mình. Thiếu phút giây tỉnh thức chánh niệm, cảnh giác tự thân, sẽ khó thấy rõ được thực tế, nên không có bình tâm, thiếu định lực, chưa sinh ra tuệ giác. Do tưởng vận hành và mình mình nó lôi đi.
‘Hành’ là những suy nghĩ của mình làm cho nó loạn hết, một chuyện gì mình rối loạn lên lúc đó không bình tĩnh, thiếu sáng suốt, chẳng còn thấy rõ. Việc rõ biết hiện thực ngay trong hiện tại nó đang diễn ra rất quan trọng. Phải sống trọn vẹn, tự nhiên và chánh niệm tỉnh giác. Chuyện đâu còn có đó, bình tĩnh thì thấy rõ vấn đề, còn loạn động tâm trí thiếu tập trung, suy nghĩ sai lệch, làm theo cái hành không đúng thì mọi việc cũng trở thành dã tràng sẽ cát biển đông nhọc lòng mà chẳng nên công cán gì.
Trọng vụ cháy nổ nếu như chúng ta chưa từng tập dượt về cháy nổ, cũng như thiếu để tâm quán xét tập rèn bình tĩnh trước mọi biến cố thì lúc gặp chuyện sẽ chạy nhảy mất phương hướng, tất cả đều loạn lên và cái chết dẫn đến mau nhất, ngắn nhất. Hoặc, nhiều khi mới chuẩn bị làm công chuyện nhưng lại khởi tâm ý ‘chắc là chuyện này khó, việc này mình không thể làm được, cho qua đi’, đó là tưởng, cứ làm có khi được. Ta biết việc đó là tốt, ý nghĩa thì cứ dấn thân làm.
Chúng ta bình tĩnh, đưa tâm trở về hơi thở, nhìn lại rõ cảm giác của mình, nhìn rõ cái tưởng trong tâm của mình đừng có để cho nó dẫn mình đi tới chỗ mê đạo, mê là con đường lờ mờ.
Hành giả tụng Tâm kinh bát-nhã thấy biết Ngài ‘Quán Tự Tại Bồ-tát chiếu kiến ngũ uẩn giai không độ nhất thiết khổ ách’ thuộc lòng nhưng không có chiếu. Chúng ta hành trên văn nghĩa chưa thật sự đi vào hành trì tự thân tâm nên dễ hý luận, rất nguy hiểm!.
Hành là những lời nói thì thầm suy nghĩ trong nội tâm, những lời này rất nguy hiểm, nó cũng đưa mình tới thiện pháp hoặc đưa mình tới bất thiện pháp, cũng có khi đưa mình tới bát chánh đạo hoặc bát tà đạo, phước đức hoặc tội lỗi tạo nghiệp cũng do hành này mà thành.
Ở núi, có một loại trái cây rất đặc biệt, sầu riêng ở đây không thuốc không phân không tưới, khi khui ra đúng mùa để múi sầu riêng vào miệng vừa thơm, vừa ngon, vừa béo, vừa bổ. Vậy trái sầu riêng này có dính dáng tới việc chúng ta đang nói? Có. Khi Minh Thành nói về trái sầu riêng, trong tâm quý vị có hình bóng trái sầu riêng đó là sắc tưởng, sắc tưởng là những sự vật mình thấy rồi, căn cứ trên cái thấy biết nên khi nói về chúng thì mình tưởng trở lại, nó là những hình bóng thuộc về sắc; khi nói trái sầu riêng chẳng những thấy trái sầu riêng mà còn khui từng múi ra làm sao, tâm mình hoạt động rất siêu, mình không để ý nên không biết, lúc đó sắc tưởng này hiện lên trong tâm.
Tại sao có hình bóng trái sầu riêng? Đó là thanh tưởng, gọi là thanh trần, ví dụ chúng ta nói ‘me chua’, những ai từng biết cây me, trái me, ăn me thì sẽ cảm nhận như là đang ê hàm răng, nhăn mặt, hai tay ôm mặt và có tuyến nước bọt tiết ra, đó là thanh tưởng.
Âm thanh là thanh trần, âm thanh nói ‘có sự rõ biết âm thanh’, đó là nhĩ thức. Ba pháp giao thoa lại với nhau gọi là xúc, sự tiếp xúc, xúc chạm, giao thoa từ lỗ tai, tiếng rồi có sự rõ biết âm thanh sanh ra một cảm thọ mới. Có ba loại cảm giác, một cảm giác dễ chịu, một cảm giác khó chịu, một cảm giác không dễ chịu không khó chịu. Cảm giác dễ chịu là tham, chẳng hạn khi nói sầu riêng me, lỗ tai, âm thanh, sự rõ biết ba cái này giao thoa với nhau gọi là xúc, xúc này sanh ra thọ, cảm thọ khó chịu thì sân, cảm giác dễ chịu thì tham, cảm giác không dễ chịu không khó chịu thì si, vì si này mình không biết, phải đa văn thánh đệ tử mới biết, thường ngày mình ở trong trạng thái si rất nhiều mà mình không biết, mình tưởng tôi giờ cũng tỉnh táo mà giờ tôi không có cảm giác nhưng thật ra mình đang si.
Vậy phá tham sân si, chuyển hóa phiền não như thế nào? Làm sao để mình phá được cảm giác giận?
Thứ nhất, muốn nhổ luôn gốc phiền não, sân giận phải chịu khó thường xuyên thực tập nhìn lại cảm giác, luôn để ý xem hiện tại mình đang thuộc loại cảm giác nào.
Thứ hai, khi phát hiện phiền não trong cảm giác, tham, sân khởi lên mình biết, cái si hiện hữu mình cũng biết, nhận ra căn cứ địa của phiền não ở trong cảm giác trong cảm thọ.
Thứ ba, dùng Như lý tác ý, tức là mình lấy roi quất con trâu, con trâu ăn lúa mạ người ta, mình lấy roi mình quất tức là mình dùng những lời lẽ trị nó, chuẩn bị giận lên mình nói ‘bộ giận khỏe lắm hả, giận sướng lắm sao mà hở ra là giận?’, chúng ta mạnh dạn đối thoại với cơn giận vì cơn giận nó không phải mình, nó chỉ là cảm giác, nó là một pháp trong thân tâm mình.
Giận rồi đưa tới đâu? Tới khổ đau cho mình, cho người, đưa đến đổ vỡ, ly tán, nước mắt tù tội,… Vậy thì giận này đâu có đáng để nuôi dưỡng. Đức Phật dạy ‘hãy từ bỏ chúng, hãy diệt tận chúng’, bứng gốc rễ nó giống như chặt cây, cau cây dừa không cho mọc lại nữa, chặt cây sa la không cho nó mọc lại nữa. Không chấp nhận nó, vì không phải là mình. Tập luyện thường xuyên rồi nó sẽ từ từ tách mình ra, mình không bị nó làm chủ, sai khiến sẽ dần thành tựu trí huệ.
Lúc trước, mình nói ‘tôi đang giận, đừng chọc tôi’ là mình chấp nhận cái giận đó là mình, nhận giặc làm con. Bây giờ có trí huệ, không nhận giặc làm con nữa, mà lúc giận lên mình nói chuyện với nó, quán chiếu sự nguy hiểm của cơn giận.
Ví dụ, bây giờ có người cầm cái cây đánh mình, mình giận người đánh là không đúng, phải là giận cơn giận, nó mới là thủ phạm thật sự chứ không phải người đánh.
Tham dục cần luôn dè dặt và quán chiếu. Ai đã có gia đình bỗng nhiên một ngày đẹp trời sanh tâm tham dục muốn đi thêm lối tẻ, cảm giác đó mình quán chiếu sự nguy hiểm của nó đưa đến hậu quả, khổ đau, hệ lụy về sau như thế nào? Dùng cây roi đánh nó, dung ý chí lời nói mạnh với nó mới giải quyết được.
Si khó rất khó phá, quán chiếu thấy được rõ sắc thân này là pháp duyên hợp, cảm giác đó là do kết hợp, từ con mắt nhìn hình sắc mới có cái biết, xự xúc chạm này thành cảm giác, cảm giác này không tự có mà do kết hợp. Chẳng hạn, mình đang có cảm giác không khổ không vui nhưng cảm giác đó không phải là mình, mà là cảm giác do phối hợp, lát sau nó chuyển sang cảm giác khác khi gặp trần cảnh. Nó hoạt động liên tục, nên chú tâm theo dõi và điều phục nó, lâu dần sẽ thành thói quen tốt chuyển hóa nỗi khổ niềm đau.
- Dạ, thưa thầy! Con thường ngày tụng Kinh Cầu an nhưng con nghe pháp nói mình không nên mong cầu, tự mình tu mình chứng không mong cầu nguyện; sự thật khi con đọc kinh, niệm Phật con lại xin ân trên Phật Pháp Tăng hoan hỷ, hỷ xả cho con xin thêm phần tha lực để con tu học tinh tấn không giãi đãi, như vậy có đúng trong Phật pháp hay không?
- Bản thân của cầu nguyện không phải là sai, nhưng cầu nguyện như thế nào mới là chánh tín, nếu không mình cầu nguyện trong mê tín mà mình không biết. Chẳng hạn, mình không lo làm ăn, chẳng chịu siêng năng, cố gắng làm ăn mà cứ thắp nhang lễ lạy cầu cho con trúng mánh trúng mối, đó là không chánh tín. Vì không lo nỗ lực làm việc, cầu xin như vậy là mê tín.
Bây giờ mình không tu tập tâm, tâm mình không thường quay lại, để ý nhiếp niệm tịnh tâm mà cầu xin Phật độ cho con nhất tâm bất loạn nhưng lại không chịu niệm Phật chẳng thiền hành. Mong cầu như vậy là mê tín. Cầu nguyện chánh tín là mình muốn có trí huệ thì phải nghe pháp, nghiền ngẫm quán chiếu, mong Phật phù hộ cho con trí huệ sáng suốt đó là đúng. Cầu nguyện là tâm nguyện, ước muốn trong đạo Phật gọi là dục như ý túc, là chìa khóa vàng để mở ra cánh cửa chánh pháp gọi là dục như ý túc, có muốn mình mới tu.
Có người hiểu lầm là dục trong tham dục, không phải, dục mà đưa mình vào tài sắc danh thực lợi là đam mê sa đọa, đó là phiền não khổ đau. Còn ở đây là mong muốn, có khởi ý niệm muốn đó mới đưa mình tới con đường học và hành theo đạo lộ giác ngộ giải thoát. Từ đây mới có phút giây thăng hoa thánh thiện, cho nên cần cắt đứt hết mọi phiền não, những nắm níu, tham chấp, ngã mạn, si mê, ám chướng thì mới phát sinh thăng hoa trí huệ, cái muốn đó phải phát huy. Cho nên, những tư tưởng nghĩ về thiện, về tốt phát huy lớn mạnh lên đừng có sợ, những tư tưởng về ác, về xấu mình dập tắt diệt trừ nó. Phát huy tư tưởng thiện lành đó là tứ chánh cần, sự chuyên cần, nên mình tu phải biết là thế nào là tha lực, tha lực là sức mạnh của Phật của Pháp của Tăng.
Phật chỉ cho mình giáo pháp, con đường, phương cách, Chư tăng là cầu nối giữa Phật Pháp với chúng sanh. Chư tăng thực tập có kết quả, nắm được phương pháp, chia sẻ lại cho mình đó là tha lực, sức mạnh lớn chỉ cho mình thấy biết đường rồi mình phải đi. Khi đã có bản đồ Tam bảo trong tay thì cần nhất là chuyên cần trì chí thực hành cho đúng với phương pháp để chuyển hóa phiền não. Nếu mình không làm cứ ngồi đó lạy hoài cầu hoài cũng không được. Đức Phật có một ví dụ, có người đem hòn đá quăng xuống sông, kêu hàng trăm người đi xung quanh chắp tay cầu nguyện đá ơi đá ơi đừng có chìm hãy nổi lên đi, nguyện như vậy thật là lớn từ sáng tới tối đá vẫn không nổi lên, vì đá nặng nên phải chìm. Do mình tạo nghiệp xấu nghiệp ác đương nhiên nó sẽ rơi xuống. Bây giờ mình đổ dầu hay bơ xuống nước, có nguyên ghè bằng sành đổ dầu để bơ trong đó mình đập ghè sành cho bể đổ xuống song, cái sành thì chìm xuống, dầu nổi, cả trăm cả ngàn người xunh quanh cầu dầu ơi chìm đi đừng có nổi, lạy cầu ngày này qua ngày kia dầu không chìm vì nó nhẹ. Cũng vậy, nhẹ là cái thiện lành, phước báu của mình nó sẽ được đi lên, còn cái nặng là ác cái nghiệp, tội thì đi xuống. Đức Phật chủ trương phải thấy đúng, nghĩ đúng, nói đúng, làm đúng, siêng năng sẽ có kết quả tốt đẹp.
- Có một số cô khi tập thiền bị đau khớp, không ngồi ở tư thế kiết già hoặc bán già được, các cô ngồi trên ghế. Con muốn xin Thầy giải thích cho chúng con ở tư thế nào khi mình thiền đạt hiệu quả nhất?
- Cách ngồi thiền kiết già là tốt nhất, phải tùy theo sức khỏe của mình nữa. Ví dụ, người đó không ngồi kiết già được thì họ không ngồi thiền được sao? Nếu không ngồi kiết già được thì ngồi bán già, bán già ngồi không nổi thì ngồi sao được thì ngồi. Vì bệnh đau nhức nó làm khó mình trong tọa thiền. Cố gắng thôi! Đương nhiên ngồi kiết già là thù thắng nhất, đó là thế ngồi của đức Phật.
Khi mình ngồi được kiết già, thấy thân mình giống như đại hồng chung úp ngược, tư thế này rất vững chắc. Khi ngồi kiết già hàng ma tọa, kiết thường tọa, thế ngồi của hoa sen, liên hoa tọa rất vững chắc nên các bạn trẻ ngồi kiết già rất hay, thế hàng ma rất vững chắc. Do thế ngồi vững chắc mạnh mẽ nên thân ảnh hưởng đến tâm. Lúc này tâm cũng vững mạnh, rất kiên cố, chính vậy mới có sức nhiếp phục phiền não, tham sân si.
Mình dễ bị kẹt trong hình tướng, nghĩ rằng tu phải ngồi cho ra dáng vẻ như vậy như vậy mới là người tu, Phật tử mà không biết ngồi như vậy đang nghĩ cái gì. Cho nên, bây giờ mình không những có hình thức mà phải có nội dung, có số lượng và chất lượng, nếu như hình thức không được thì nội dung vẫn quan trọng hơn. Tu đừng tính giờ, ngồi đừng lo chuyện đông tây mà hãy sống trọn vẹn bằng tâm tỉnh thức và chánh niệm.
3. Trao đổi về việc phá trừ hôn trầm, tham, sân
Trong quá trình tọa thiền thực hành quán chiếu năm uẩn để phá trừ hôn trầm, tham, sân, gần đây một vài hành giả có những thắc mắc như sau:
Một là, khi ngồi thiền và theo dõi hơi thở sẽ có cảm giác khó chịu, gò bó; nếu như mình không để ý vấn đề đó, hơi thở sẽ nhẹ nhàng hơn?
Hai là, khi mình ngồi yên thực tập dễ, còn khi tổ chức khóa tu hay công việc nhiều, sự thực tập của mình rất khó; do mình không có bình tĩnh hoặc là do bề bộn việc rồi mình quan trọng hóa vấn đề, chạy tới chạy lui làm mình cứ nghĩ mình là quan trọng, nên đổ xô vào như người chỉ đạo. Con xin Thầy chỉ cho con phương pháp thực tập?
Ba là, con có nghe được một bản kinh trong Đại tạng kinh Nikàya, để thực tập ngồi thiền cho có kết quả tốt thì vị hành giả đó phải xa lìa được lợi dưỡng, sự cung kính, sự tán thán; nếu như ngồi thiền mà còn bị vướng ba vấn đề vật chất, danh lợi và cung kính của trần thế và sự giao tiếp của trần thế, con nghĩ là mình không thể nào ngồi thiền được; nếu có ngồi đi chăng nữa, cũng là ngồi với sự gò bó ép buộc, còn thực tập không có được. Con có nghe Hòa thượng thượng Trí hạ Quảng nói mình thành tựu được giới định tuệ, từ đó có oai nghi, mình thực tập thiền mới có kết quả?
Bốn là, khi thực tập hơi thở được một chút xíu là con ngủ, nếu những người tu theo pháp môn Tịnh độ, họ vừa niệm Phật, niệm miên man hết một thời khóa được; con thực tập như vậy. Sau thời gian con nghe pháp, Ngài dạy cách nhìn nhận vào tâm hành, là những suy nghĩ của mình, như vậy mình biết khởi lên cái gì mình nhận diện cái đó thì tự nhiên nó tan biến. Sau khi con học xong mười hai món tâm sở, món tâm sở nào khởi lên mình ghi nhận điều đó, không phân biệt, vì mình tác ý nhiều là phân biệt mà phân biệt là còn vô minh. Xin thầy chỉ dạy?
Chúng ta cùng giải quyết những hoài nghi trên.
Mình để ý hơi thở thấy hơi khó chịu, nếu mình không để ý thấy thoải mái là tại vì tâm của mình nó không có chịu sự điều phục, nó muốn cho thoải mái, đó là chúng ta đang bị rơi vào cảm thọ. Huynh đệ nắm vững trí năm uẩn này sẽ thấy rằng mình quanh quẩn trong năm uẩn không ra khỏi.
Bài kinh Dây thừng, đức Phật ví dụ giống như con chó bị buộc vào dây cột, con chó đi đứng ngồi nằm nó sủa, làm cái gì cũng chỉ loanh quanh cây cột mà không thể nào đi ra khỏi. Cũng vậy, tất cả chúng sanh bị chấp thủ trong năm uẩn, toàn bộ thế giới này sống trong năm uẩn. Chính là thế giới của sắc, cảm giác, các tưởng, những sự suy nghĩ và của nhận thức rõ biết. Năm uẩn bao trùm cả thế giới thân tâm nên chúng ta cần thường xuyên quán chiếu trí năm uẩn. Khi nào thành tựu trí năm uẩn, huynh đệ thành tựu được trí khắp thế giới. Lúc đó, hành giả mới thấy được giá trị của bài bài Tâm kinh. Tại sao ‘chiếu kiến ngũ uẩn độ nhất thiết khổ ách’, có thực tập mới thấy; đại đa số chúng ta bị rơi vào trong cảm giác, mình muốn cảm giác thoải mái, rồi bị cuộn vào trong cảm giác mà mình không biết.
Chúng ta đừng có khởi ý rằng cảm giác sung sướng được ăn ngon, được ở nhà đẹp, khách sạn, máy điều hòa cao cấp hay là được đi chơi, mặc sức mua sắm… mà đâu hay ta đang châm ngòi, làm nền tảng sâu dày thêm cho năm dục tăng trưởng, bén rễ sâu chắc khỏe. Vì năm dục trưởng dưỡng mình mới thấy tham, nếu không tham, chẳng mong cầu thì không có chỗ nương náu của năm món dục này.
Ngũ dục là năm sự ham muốn, là năm thứ dục lạc của trần cảnh nên cũng gọi là Ngũ Trần.
1. Sắc dục: Ham muốn sắc đẹp, ưa thích tướng tốt.
2. Thinh dục: Ham muốn tiếng hay, dịu ngọt….
3. Hương dục: Ham muốn mùi thơm ngạt ngào….
4. Vị dục: Ham muốn đồ ăn, thức uống ngon ngọt…
5. Xúc dục: Ham muốn sự đụng chạm mềm dịu….
Lại nữa, ngũ dục còn có năm thứ sau :
1. Tài dục: Ham muốn của, vàng ngọc.
2. Sắc dục: Tham sắc đẹp mỹ miều.
3. Danh dục: Tham muốn địa vị cao sang, tiếng tốt.
4. Thực dục: Tham muốn thức ăn ngon nhiều.
5. Thùy dục: Tham muốn ngủ nghỉ nhiều.
Huynh đệ nhìn sâu vào cảm giác mới thấy rằng tham, sân và si liên tục vận hành, không có lúc nào ngừng lắng. Để lòng nhìn ra ngoài thì nó bao vây, cột tâm soi lại bên trong thì nó cũng chẳng chừa.
Do nghiệp mà chiêu cảm các tùy miên. Vì tham nên có tham tùy miên, vì sân nên có sân tùy miên, vì vô minh nên có vô minh tùy miên. Tùy này là đi theo, miên là miên man, miên man là lúc nào cũng có mà mình không thấy. Bởi, chúng ta chưa thành tựu trí huệ nên chưa thể thấy được. Tưởng đâu lúc phát ra đỏ mặt tía tai mới sân, đó là của phàm phu, vô văn phàm phu, cái sân đó không tu cũng thấy; nếu sân giống vậy cần gì mình tu. Chẳng hạn, mình thấy nóng nực một chút trong lòng đã thấy bực, khi mình đi ngoài nắng 39 độ C, lúc đó mình thấy khó chịu, đó là bình thường, lẽ đương nhiên, đức Phật hay các bậc A-la-hán cũng giống vậy, tức là biết rõ sự nóng bức ngoài trời, có sự không thoải mái trong cơ thể nhưng họ không sinh tâm bực tức hoặc phiền não, chỉ trích, vì họ biết đó là lẽ tự nhiên. Ngược lại, chúng ta sẽ sanh tâm không vui, nắng mưa cũng làm ảnh hưởng tâm tánh, tiếng ồn cũng làm cảm giác khó chịu, tất cả tác động đến mình thì mình đều muốn phản kháng, triệt tiêu nên sanh ra bao lụy phiền, đó là sân tùy miên, sân nó đi theo miên man trong thọ tưởng hành thức, trong cảm giác.
Khi hành giả ngồi thiền bị ngủ gục do mình trong cảm thọ êm ái, cảm thọ buông xuôi bó buộc khi nào không hay, sự tinh tấn, nỗ lực, nhiệt tâm, tinh cần tỉnh giác đã biến mất. Phải thường xuyên chú tâm thực tập Tứ chánh cần, đừng chỉ học qua lý thuyết rồi thôi. Pháp của Phật là để hành trì. Nếu không kiên trì vượt qua những cảm giác trì trệ, lờ đờ sẽ khó có những bước ngoặt trên bước đường tu hành. Vì mình nhắm mắt, nên sinh ra trạng thái lờ đờ; tuyệt đối không nhắm mắt, cảm giác thật mạnh ở vùng mắt, nhận biết thật rõ trước mặt, mở rộng sự thấy biết ở trước mặt hết mức có thể được, nhãn thức mở rộng sáng tỏ thì mình trị được bệnh ngủ gục. Có bài kinh Hôn trầm thùy miên đức Phật dạy cho Ngài Mục-kiền-liên, do Ngài ngồi thiền bị hôn trầm, Thế Tôn dạy cách hành trì đối trị hôn trầm và Tôn giả Mục-kiền-liên tinh tấn tu hành đã vượt qua, sau cùng đạt tới Thánh quả cứu cánh.
Tâm chúng ta quen ở trạng thái buông lung phóng dật, nên bây giờ bắt nó vào một khuôn phép chặt chẽ thì nó không chịu, nó chống cự. Do đó, mỗi hành giả phải tự thân mạnh dạn, quyết liệt đấu với nó, chiến đấu để thắng được sự dễ dãi, phóng dật đó, để không cho tâm nó muốn làm gì thì làm, đó là một kiết sử (Tăng Chi Bộ Kinh, tập 2, trang 711) “Này các Tỳ-kheo, có năm cái tâm triền phược này, ở đây Tỳ-kheo, đối với các dục không dục không phải không tham ái, không phải không dục cầu, không phải không ái luyến, không phải không khao khát, không phải không nhiệt não, không phải không khát ái.
Này các Tỳ-kheo, Tỳ kheo đối với các dục như vậy, tâm vị ấy không hướng về nỗ lực, không hướng về chuyên cần, kiên trì tinh tấn nếu tâm của ai không hướng về nỗ lực chuyên cần, kiên trì tinh tấn như vậy là tâm triền phược thứ nhất.”
Đó là tâm trói buộc thứ nhất. Như vậy, mình đối với các dục còn sống trong tham ái, mong cầu, luyến ái trong đó; nhiệt não là mình bị nóng bức, khát ái trong đó; nếu như vị ấy không nỗ lực, chẳng chuyên cần, thiếu kiên trì, chưa tinh tấn chắc chắn chúng ta mãi bị trói cột.
Hành giả vướng trong tưởng không, bị nó trói buộc, mình vào kiến chấp hồi nào không hay. Vì mình nghĩ rằng trước sau gì mình cũng thành, cái gì cũng không, Tứ đế không, Bát chánh đạo rỗng, Địa ngục chẳng có, nhưng khi thật sự gặp phút giây dầu sôi cột đồng cháy đỏ thì gọi đất không thấu kêu trời không hay, trễ rồi, quả báu trổ ra theo nghiệp, lúc đó có hay không thì cũng đều nhận lãnh. Mình bị thiên lệch rất nặng về tư tưởng không. Đức Phật dạy đệ tử phải nỗ lực, luôn tinh tấn, cần kiên trì, quyết tâm đoạn tận cái dục, cái tham, cái luyến ái, sự khao khát trong đó, nếu không mình bị tâm trói cột.
Tâm thứ hai, đối với thân thể.
Tâm thứ ba, đối với sắc với các sắc.
Tâm thứ tư là Tỳ-kheo nào ăn cho đến thỏa thích, bụng chứa đầy, sống thiên nặng về khoái lạc sàng tòa, khoái lạc về ngủ nghỉ, khoái lạc về thùy miên, đó là trói buộc vào vật chất.
Đối với thân thể này yêu thích nó, say sưa vì nó, đam mê phục vụ cho nó, khao khát cũng vì nó sai khiến. Thật vậy, chúng ta không chỉ khao khát tham ái trên thân, thử xét lại xem một ngày ngắm gương bao nhiêu lần, tắm giặt mấy lần, ăn bữa chính bữa phụ và ăn vặt, rồi đi ngủ bao nhiêu lần, tham ái trong thân này. Chính vậy mà ta cứ châm ngòi cho nhiệt não, nóng bức đối với nó, sân khởi lên hòa trộn với tham tạo thành mù mịt bức ngặt của lửa hừng, sự trói cột vẫn không buông tha mình nếu mình chưa thấy tận cội rễ và đối trị chúng bằng cách nhìn vào sự thật và chiến đấu dũng mãnh bằng tinh thần chánh pháp.
Kinh Sợ hãi trong tương lai, đức Phật nói ‘Tỳ-kheo của ta trong tương lai ngủ cho tới mặt trời đứng bóng, thiên nặng về khoái lạc của năm dục trưởng dưỡng, tới lúc đó diệu pháp bị hỗn loạn, chánh pháp mai một không còn nữa’. Như vậy, người con Phật không chịu học hành tăng trưởng thiện pháp, buông lung, phóng dật, một lúc nào đó xa rời chánh pháp làm việc ma không hay, chẳng biết, đến lúc giật mình thì đã qua một đời kiếp khác. Vì hành giả đã từ bỏ cuộc sống độc cư thiền tịnh, xa lìa thiện pháp, không chịu xoay trở lại để nhìn tự thân tự tâm của mình để tu tập, đó là nguyên nhân làm cho diệu pháp bị hỗn loạn, chánh pháp diệt mất. Trước những lời răn nhắc mạnh mẽ, chỉ rõ căn bệnh của chúng sanh tương lai, Phật đã cho chúng ta nhìn thấy phải khiếp sợ, nên sanh tâm khiếp sợ, rúng động, phát ra tàm quý hổ thẹn, những lời dạy sách tấn ấy giúp mình đánh ngã gục những cảm giác trơ lì, làm cho cảm giác yếu hèn chảy tan, những xúc gợi đến sự tham ái bị đẩy bật ra, bứng lên hết những tâm tư chấp kiến, sai lầm, vô minh để ánh sáng trí huệ phát khởi trong quá trình thực hành lời dạy của Như Lai.
Tu hành với mục đích mong cầu để sanh lên cõi Trời, cõi nào đó được phước báu, thiện lành thì cũng là sự tiếp nói hiện hữu dục và ái trong năm uẩn, đều chưa thấy rõ pháp; giáo pháp của Phật là chấm dứt luân hồi sanh tử, mình không biết lại đi tuyên dương con đường tiếp nối ngũ uẩn sanh tử.
Hành giả ngồi thiền, tác ý nhiều phân biệt là chưa đúng, chính cách này hồi xưa Minh Thành đã đi qua trong sự tác ý như vậy mười năm dài. Không phải thiền là yên hết, yên lắng im im là ở trong vô minh; yên mà mình không phân biệt được thiện, bất thiện; yên nhưng chưa thấy rõ đâu là cội gốc của bản ngã, tham dục, si mê thì sự yên lắng đó không có giá trị. Ví dụ, mình nghĩ không nghĩ thiện không nghĩ ác, mình đi theo con đường đó, đức Phật không dạy như vậy.
Trạch pháp trong Thất giác chi, Niệm giác chi, Trạch pháp giác chi và quyết định của Bát chánh đạo là chánh kiến, chánh tư duy; chánh tư duy là sự suy xét đúng lý, suy xét đúng chánh pháp. Chúng ta chưa thiết lập tư duy chuẩn xác, chân thật như pháp thì làm sao có chánh tư duy.
Ví dụ, mình muốn làm một công việc, trước lúc mình đi xuất gia, mình có suy tư cặn kẽ đủ điều, chiến đấu rất mãnh liệt trong nội tâm, phải suy tư rất kỹ mới đưa tới quyết định đi xuất gia. Hoặc như ở ngoài đời, người ta muốn kết hôn, trước tiên phải tìm hiểu bạn đời, suy nghĩ rất là kỹ về nhau, sau cùng mới đi đến quyết định cưới. Hoặc là người kia muốn mua một căn nhà, trước hết cũng coi xem vị trí nơi ở, giá cả phải chăng, chất lượng, thẩm mỹ của ngôi nhà cũng phải tìm hiểu rất kỹ, suy xét rất sâu sắc rồi thấy hợp mới quyết định mua ngôi nhà ấy.
Sự tu cũng vậy, nếu bất thiện pháp thuộc về tham sân si, là tham tầm hay si tầm (tầm tức là cái tâm mình hướng tới, mình phải đoạn tận nó, chấm dứt nó), nếu tâm này tương ưng với trí huệ, tương ưng tới chỗ đưa mình tới chỗ ly tham lìa sân, đi đến chỗ chấm dứt vô minh, tâm này cần được phát huy mạnh lên. Cho nên, tu tập không phải im bặt hết tất cả suy nghĩ, không phải đâu! Như lý tác ý một pháp rất quan trọng, nên đức Phật nói: “Này các Tỳ-kheo, ta không thấy một pháp nào có lợi ích có quả báo lớn, có lợi ích lớn đem đến chánh trí, đem đến thanh tịnh đạt đến Niết-bàn như là Như lý tác ý”. Như lý tác ý rất là quan trọng, nếu không có cái đó mình không có thành tựu được.
Như lý tác ý như thế nào? Lúc đó mình thấy trạng thái lờ mờ muốn buồn ngủ, lập tức mình mở mắt ra, nói chuyện với ‘nó’, ‘ngủ mấy chục năm rồi chưa đã hay sao, đã ngủ bây giờ, đang ngủ và sẽ ngủ, ngủ giấc ngủ ngàn năm không nghe chân diệu pháp, ngủ từ vô thỉ kiếp cho đến giờ, bây giờ tỉnh lại đi đừng có si mê vô minh nữa’. Tác ý mạnh, dùng búa tạ đập vào si ám, hôn trầm miên man đó. Ngay lúc ấy, cảm giác buồn ngủ, gục gật, lờ đờ, mơ mơ màng màng kia chạy mất, bị đánh thức, vươn vai đón chào ngày mới bằng sự thúc giục tinh tấn, cầu pháp vô thượng, kiên cố thân tâm bất thoái chuyển, đó là Như lý tác ý.
Diệu dụng của Như lý tác ý là tuệ lực, sức mạnh của trí tuệ, mình nói ‘thôi khởi tâm này lên, lúc đó tâm nó động, thôi đừng khởi im luôn thì đi theo nó ngủ gục mê muội. Đây là sức mạnh của trí huệ, tinh tấn niệm định huệ. Bây giờ tham dục khởi lên mình cũng nói, ‘từ hồi nhỏ mười mấy tuổi cho đến bây giờ mày vẫn cứ đam mê, mày ngu si, ngủ lì tham đắm trong đãi da hôi thúi, trong phân, trong nước tiểu, ở trong nước miếng, trong bộ xương giòi ăn này hay sao hả?’ Mình tác ý quyết liệt, không nhân nhượng, chỉ thẳng vào nó, đập mạnh vào đầu nó, có như vậy cái dục bị đẩy ra vì hoảng sợ, lắng dịu xuống.
Trí huệ chưa thông suốt chẳng thấy được vô minh, không nhận diện được bản ngã, chưa thấy hoạt động lăng xăng liên tục của dục tham trong tâm mình. Nếu mình thấy được là có trí huệ, sau đó dùng sức mạnh trí huệ đó dập tắt nó. Cho nên, chữ tham thùy miên rất sâu, lúc nào dục tham cũng ở trong con người mình.
Đức Phật nói các Ngài có biết dục tham nằm ở đâu hay không? Dục tham nấp trong con mắt mình, dục tham ở trong sắc, dục tham ở trong nhãn thức của mình; dục tham trong xúc căn trần thức, tiếp xúc dục tham trong đó; dục tham trong cảm giác trong cảm thọ; dục tham trong cái tưởng, hình bóng tưởng ra cảnh vật đó là dục tưởng; từ dục tưởng đó nó mới làm cho dục tư, bắt đầu mình suy nghĩ những hình bóng hiện ra, mình suy nghĩ dục tư; tiếp tục là ý hành, nói theo ý đó, những hình ảnh, âm thanh; thức mình rõ biết nó quay cuồng trong khát ái, trong dục, lúc đó mình không còn biết gì nữa. Nếu mình không có trí huệ để phát hiện ra, nên khi mình thấy được cuộc vận hành như vậy huynh đệ mới kinh khiếp chính mình. Do trước kia chúng ta không thật thấy, mình sẽ phát hiện dục vận hành như thế nào, sân vận hành như thế nào, cái bản ngã kinh khiếp trá hình, nên mình phải có một sự nỗ lực rất nhiều chứ không dễ. Ví dụ, nếu như mình đang ngủ trong phòng, có con rắn hổ mang vào, lúc đó mình chỉ nhận biết nó vậy thôi hay làm sao? Phải xua đuổi nó ra khỏi phòng ngủ lúc đó mới yên tâm mà ngủ. Hoặc như, cái sân nó không phải là dòng sông để cho mình đứng mình ngắm, chính nó sẽ giết mình, đẩy lôi mình vào dòng luân hồi sanh tử vô minh, si mê và mình đau khổ với nó, sân của mình giống như rắn hổ mang, rắn độc cắn là chết cấp cứu không kịp.
4. Quán xét các pháp
“Việc đáng làm nên làm
Làm cùng tận khả năng
Xuất gia sống phóng đãng
Chỉ tăng loạn bụi đời.”
Có lần, Minh Thành có chia sẻ ba điều mình phải nắm vững, đó là:
Thứ nhất, mình phải biết tên tuổi,
Thứ hai, mình phải biết mặt,
Thứ ba, mình phải biết tính tình.
Khi đã biết được ba vấn đề của đối tượng thì chúng ta sẽ có cách đối trị, điều khiển, nhiếp phục được phiền não, cũng như các pháp trong tự thân tự tâm của mình. Ngược lại, không biết đó là cái gì làm sao mình nhiếp phục nó được. Vì nó là một mớ bòng bong như tổ kén rối ren, từ đầu mối chỗ nào làm sao mình biết mà rút ra, nên không vô cớ đức Thế Tôn nói ra bao nhiêu pháp số, rất nhiều tên gọi, những đặc tính của tâm, tâm sở hay những phiền não. Cho nên, sự tu học của mình có kết quả nhiều hay ít là do có tâm tôn kính Phật, tôn kính Pháp, tôn kính Tăng. Sở dĩ bậc Đế Thích được làm Vua Trời là có hai đặc tính quan trọng, một là cẩn thận, hai là tôn kính mọi người. Các vị được làm Đế Thích có hai tính chính yếu ngoài Tứ Vô lượng tâm. Sự học Phật, điều cẩn trọng rất là thiết yếu, nhỏ nhiệm, từng chút một mà đi.
Trong lúc đi kinh hành, quán về pháp, ngoài ba pháp rõ biết trước mặt, cảm giác toàn thân và nội tâm tỉnh giác, sự xúc chạm bàn chân mình đối với mặt đất, ánh nhìn của con mắt đối với cảnh sách, cảm thọ dễ chịu hay khó chịu,… những điều đó cần thực tập thì tới một lúc tự động nó vẫn thực hiện thuần thục. Đi kinh hành do mình có thân, thân mới tiếp xúc với sự vật bên ngoài gọi là thân xúc, thân tiếp xúc với nền xi măng hay nền gạch hay đất; chân tiếp xúc với nền gạch, nền xi măng lúc đó có sự rõ biết bàn chân của mình với đôi dép với nền xi măng, cái rõ biết ngay chỗ chân và nền xi măng đó gọi là cảm xúc của thân thức, rõ biết của thân thức; chân hay thân tiếp xúc với nền xi măng, sau đó rõ biết tiếp xúc, ba pháp này hội tụ lại giao thoa với nhau thành xúc; xúc sanh thọ là phát sanh ra một cảm giác mới; sau cảm giác thọ thì tới tưởng, hành, thức.
Khi phát sanh một cảm giác, sau cảm giác hiện tại sẽ có những hình bóng của cảm giác đó, chẳng hạn, đi thấy lạnh lạnh bàn chân, thì trong tâm hiển thị bóng dáng bàn chân của mình; cảm nhận được hơi lạnh hoặc ấm tức là tưởng; cảm giác được bàn chân là thân thức; từ ba pháp giao thoa với nhau sanh ra cảm thọ dễ chịu hoặc khó chịu hoặc không dễ chịu không khó chịu, cảm thọ đó lại có hình bóng của cảm thọ đó trong nội tâm của mình, thọ đó sanh ra cái tưởng như mình liên hệ mình nói ‘giờ này lạnh quá, phải chi có đôi vớ dày mang chắc sẽ ấm chân’, đó là ý hành có tưởng ngay chỗ đó có cảm thọ, thức rõ biết.
Bây giờ chặn ngang chỗ xúc sanh ra thọ, thọ chia ba làm ba nhánh nếu cảm thọ lạc sẽ nói ‘ồ, đôi vớ của Mỹ làm bằng nỉ gì mà êm’, cảm thọ lạc vì có sự xuất hiện của ấm và êm, cảm thọ lạc hay cảm thọ khổ của thân là bình thường nhưng phía sau cảm thọ đó có dục tham, đối tượng của nó nằm trong đôi vớ êm ấm và mong cầu chiếm hữu qua suy tưởng ‘mai mốt kiếm hiệu đó mua đôi vớ này’. Vì dục tham muốn tìm thêm, nếu chánh niệm sâu sắc sẽ thấy ngay lúc mình đi kinh hành, ngay chỗ đó biết rồi chúng ta phải tẩy sạch, nói với nó ‘đam mê gì với sắc thân ảo mộng vô thường này, có gì trong đây để cho mình thích thú, có gì trong đây để cho mình đắm say; bàn chân này chính là bàn chân mà từng khớp xương gắn kết; cảm giác này là cảm giác của vô thường, đổi thay; nếu mình về xứ nóng đôi vớ này không có điều kiện sử dụng’. Như vậy, tác ý mạnh mẽ với tâm ý mình, dù cho đó là điều nhỏ nhặt nhất, vì từ cái nhỏ nó sẽ sinh ra nhiều điều phức tạp về sau.
Ngược lại, với cảm thọ khổ thọ, ví dụ đi kinh hành không vớ, bị Sư phụ rầy là tại sao không mang đôi vớ, vì thời tiết núi rừng thì đang lạnh, ngay đó phiền não, ngay chỗ đó nhìn lại là bản ngã, nhìn sâu hơn nữa là vô minh, không thấy được ngũ uẩn, có cái gì để mà giận, vì ai là Sư phụ hay đệ tử. Cho nên, quán phải đi sâu vào sự vận hành của năm uẩn nó chiếm ngự, chen lấn, dày đặc, cẩn trọng kẻo bị nhấn chìm trong một chút hỷ lạc mà mất đi những cơ hội tinh tấn, trưởng dưỡng đạo tâm kiên cố.
Thọ không khổ không vui thì chưa sanh tưởng khác, dù không sanh ra tưởng nhưng lúc đó vẫn ở trong trạng thái si mê, bởi không thấy rõ năm uẩn.
Kinh Tương Ưng Bộ, có nói rằng, có một vị Tỳ-kheo đi tới bạch đức Thế Tôn, thế nào gọi là minh? Thế nào một người được gọi là minh, là sáng suốt? Ở đây bậc đa văn thánh đệ tử biết rõ sắc tập khởi, biết rõ sắc đoạn diệt, biết rõ con đường đưa đến sắc đoạn diệt, biết rõ con đường thọ tưởng, hành, thức giống như vậy.
Vô minh là gì? Là kẻ vô văn phàm phu không biết rõ sắc, không biết rõ sắc tập khởi, không biết đoạn diệt, không biết rõ con đường đi đến sắc đoạn diệt, thọ tưởng hành thức cũng vậy.
Sắc sanh, sắc diệt, sắc diệt đạo.
Bốn đại chủng về sắc do bốn đại chủng tạo thành, gồm có đất, nước, gió, lửa. Dù cho đẹp, xấu, cao, thấp, trắng, đen, sang, hèn, cũng do bốn đại chủng tạo thành; nếu hành giả quán về tứ đại giả huyễn tụ lại thì chúng ta ít bị tâm phân biệt dính mắc. Vì lúc này đây, quý vị nhìn thấy khắp mọi nơi từ thân thể này cho tới khắp sơn hà vũ trụ, khắp pháp giới chúng sanh đều là tứ đại. Như vậy, có gặp gỗ đẹp mắt cũng là tứ đại, đối diện với gỗ rẻ cũng là tứ đại, cần phải thấy rõ bản chất của tứ đại mới triệt tiêu tâm phân biệt, đam mê. Thực tập cho đến thuần thục thì lớp chấp thủ ngày càng mỏng dần cho đến không còn bóng dáng của nắm níu về thân này (sắc), chẳng phải cung phụng, phục vụ cho thân này đắm nhiễm. Trí quán tứ đại này là một trong thân hành niệm, nhìn thấy tất cả đều là tứ địa đất nước gió lửa thì không còn tham sân si.
Kinh Đáng được ăn, định nghĩa rằng: “Bị thay đổi được gọi là sắc, bị thay đổi bởi lạnh nắng đói khát, xúc chạm của ruồi muỗi, gió, sức nóng mặt trời, các loài bò sát chỉ với mục đích che….”
Cho nên, tin tức về một vụ tai nạn giao thông, hoặc là nhà cháy, sóng thần, động đất, người chết vì bệnh hiểm nghèo,… khi chúng ta nghe thấy hoặc nhìn thấy thì trong tâm khởi lên bao nỗi niềm đau khổ, rùng rợn, sợ hãi. Hoán đổi vị trí và thường quán như vậy bị thay đổi nên gọi là sắc; cũng như lúc cố Hòa thượng thượng Thiện hạ Bình xả bỏ thân này, khi Minh Thành đưa vào lò thiêu lúc sang đẩy nguyên hòm vào lò, khi chiều lại nhận thùng nhựa đựng tro cốt vào một hủ có để tên Hòa thượng Thích Thiện Bình. Nói vậy, để chúng ta nhìn rõ ràng vào sự thật nhưng sao giống một giấc mơ. Tại sao mới mấy ngày trước còn đi đứng nói năng chỉ dạy mình trong đạo nghĩa Thầy trò; mấy bữa sau chỉ là sanh tử, là bất động.
Quán niệm về niệm tử, quán về ba mươi hai thể trược, chín giai đoạn của một tử thi, không những quán bản thân mình chết mà quán luôn cha mẹ chết các đệ tử chết, từ người than tới bạn bè huynh đệ,… chỉ còn trơ lại bộ xương, bộ xương nát hết, còn đó cái đầu lâu xương sọ, xương sườn, xương vai, xương ống chân nằm khắp nơi trên ngọn núi này, biến đổi như vậy gọi là sắc, bị đổi thay gọi là sắc. Quán như vậy để không còn dính mắc vào thân, ái thân, tham muốn, chết là không còn làm gì cho ý nghĩa, chết là chẳng thể mang theo cái gì trừ nghiệp thiện ác. Có nhận thức sâu sắc mới dám xả thân để cầu đạo, quên mình vì pháp, đem cả sinh mạng hy sinh để đạt được giáo lý vô thượng, chân lý tột cùng của đức Phật.
Sắc sanh là nói nguyên lý sanh khởi rất sâu, thức ăn tập khởi (tập là tập hợp, khởi là sanh khởi) thức ăn nuôi dưỡng, vun bồi sắc thân này mới sanh ra được.
Thức ăn có thức ăn vật chất và tinh thần, sắc diệt do thức ăn đoạn diệt nên sắc đoạn diệt. Chúng ta đã, đang từng thấy, nghe, xem hoặc biết qua kể lại chuyện đói thì chết trong những thời chiến tranh hoặc có chứng bệnh ăn không được, phải đút cái ống đổ thức ăn nấu nhuyễn thành nước cho vào. Sắc diệt đạo là phương pháp Bát chánh đạo.
Vị ngọt của sắc, sự xuất ly của sắc.
Vị ngọt của sắc là do duyên sắc khởi lên lạc hỷ, tức là do vì ở nơi sắc đó mà tâm mình sanh khởi lên sự ưa thích, vui sướng, khoan khoái, đam mê trong đó. Bất cứ sắc nào làm cho mình đam mê, thích thú, khoan khoái, lưu luyến, khao khát, đợi chờ mong muốn… đó là vị ngọt của sắc. Phải thấy cho rõ trong tâm mình bị cái đó bao trùm phủ vây, đây là vị ngọt của sắc, mình điểm danh điểm tên đó, mặt mũi của nó, tính tình của nó, đó là tên vị ngọt; chiếc xe đời mới là vị ngọt của sắc, đồng hồ hàng hiệu là vị ngọt của sắc nhưng nếu đồng hồ cũ hư cho không lấy đó là sự nguy hại của sắc, vô thường, khổ, sự biến hoại, nguy hại của sắc, vị ngọt rất ít nhưng nguy hại rất nhiều.
Sự xuất ly của sắc là nhiếp phục dục và tham, sự đoạn tận dứt hết dục và tham đối với sắc đó gọi là thoát ra khỏi sắc.
Thế nào là con đường giải thoát?
Con đường giải thoát là con đường nhiếp phục ái, vì ái làm cho mình tham muốn, thoát ra khỏi nó, nhiếp phục được tham muốn đó đối với món đồ có giá trị thì ý chí và quyết tâm mạnh mẽ mới giải thoát được món đồ đó. Sắc gồm chung tất cả mọi sự vật có hình tướng là sắc chất, mình nhiếp phục được dục và tham, thấy rõ nó là tứ đại, thoát ra khỏi nó, phải nhiếp phục được dục và tham.
Làm sao nhiếp phục được dục và tham?
Thấy được sự nguy hại, tai họa của nó, dẫn mình đi tới chỗ hiểm họa, quán sâu vào sự nguy hiểm đừng quán vị ngọt; quán vị ngọt thường sẽ làm mình bị bám vào vị ngọt; quán vào sự nguy hại của nó rồi mình xuất ly khỏi nó, vượt ra nó nhiếp phục được tham.
Bốn thức ăn.
Thức ăn thường gọi là đoàn thực bốc, nắm, múc, gắp.
Xúc thực là sự gặp gỡ nhau, thức ăn tinh thần, nói chuyện, trao đổi Phật pháp, đi du ngoạn sơn thủy, nghe nhạc thiền,… nếu mình phân tích bao nhiêu thứ trong đó, sáu căn, sáu trần, sáu thọ, sáu ái, sáu tưởng, sáu xúc, sáu tư, sáu thức nhân lên rất nhiều; nên lúc đó mình đâu biết nó đang xúc cái gì, đó là vô minh.
Ví dụ, tai mình nghe tiếng nam nữ dẫn nhau đi chơi bên ngoài nói những câu nghiêng về tình cảm, tự nhiên nghe tiếng đó trong đây nếu không có chánh niệm tỉnh giác bắt đầu mình thọ do nhĩ xúc sanh, thọ do nhĩ xúc sanh tức là cảm thọ do sự tiếp xúc của lỗ tai mà nó phát sanh ra.
Hôm đó Minh Thành đang trên thất, Pháp Sơn gửi một tin nhắn vô Viber bấm ra thấy hình mặt mình, có ghi thêm dòng chữ ‘sự thật vĩ đại’ đang cầm hoa lài, mình nhìn vào có ý niệm lạc thọ, thích trong này. Thọ do nhãn xúc sanh, lạc thọ và dục tham ưa thích nó tan giống như mình bỏ viên thuốc sủi bọt vào nước, mình thấy rõ ràng cảm giác bị tan ra khi gọi đúng tên nó bằng pháp lệnh ‘thọ do nhãn xúc sanh có gì trong này mà ưa thích, đây là ảo ảnh; chính cái thân thể này còn vô thường biến hoại, huống chi cái bóng giả dối, có gì đâu mà thích thú đam mê’, giống như mình thấy ai đó mà kêu đúng tên người đó mới quay lại, pháp cũng giống như vậy, khi mình biết đúng tên gọi, nhận dạng rõ mặt mũi, nói chính xác tính tình với ‘nó’, vậy là hiệu lệnh, pháp lệnh có thực thi.
Thọ do nhĩ xúc sanh một ngày không biết bao nhiêu lần nếu mình không có chánh niệm tu tập.
Ví dụ, huynh đệ đang ngồi trong thiền thất, đằng kia có hai người đang ngồi cắt cỏ và giỡn chơi, nếu mình không biết chánh niệm, chẳng biết thọ do nhĩ xúc sanh nên mình dễ đi theo, thọ sanh ra tưởng, hành, thức; từ đây, thức này lại tiếp tục sanh ra thọ tưởng hành, cứ liên tục như vậy gọi là chúng sanh. Chúng ngũ uẩn sanh liên tục như vậy gọi là luân hồi vô tận, mà chúng ta trầm luân không thấy được, nên đức Phật gọi mình là vô minh đang diễn ra trong tâm mình mà không thấy.
Muốn nghe được cảm thọ, trước hết phải có lỗ tai, mình phân tích mới thấy được chỗ giả của nó. Nếu mình thấy là tôi nghe, đó là vô văn phàm phu, còn mình nghe là do có lỗ tai, có âm thanh có tiếng nói, có sự rõ biết ba pháp này giao thoa hội tụ tạo thành một sự xúc; từ xúc này sanh ra một cảm giác; chính cảm giác này dẫn chúng ta vào chỗ chết. Cho nên, nhận biết cảm giác toàn thân liên tục, hễ nó rục rịch có ý niệm ái (thích) hay sân hận nổi lên ngay trong thân, biến chuyển trong thân là chúng ta biết vị trí nào trong thân đang xuất hiện cảm giác.
Sự tập hợp của tất cả tư tưởng, hình bóng, hành khởi lên nói những chuyện ngày xưa hay nói chuyện sắp tới; thức nhận biết tiếp tục sanh thọ tưởng hành thức, lôi kéo ta không biết đó là chỗ vận hành sâu sắc của tâm, thọ do nhĩ xúc sanh.
Vận hành của ý căn là sâu xa nhất trong sáu căn. Từ đâu nó phát sanh vọng tưởng? Vọng tưởng sanh khởi làm sao?
Ví dụ, tâm mình muốn hướng về thăm ba mẹ, xét ra từ dục tham, do cái muốn đó nó đẩy lên thành cảm thọ, cảm thọ nó sanh ra bao nhiêu cảm xúc cứ nung lên giống như nồi nước chưa sôi, có những bong bóng ở dưới đáy ấm nhẹ nhẹ nung ở dưới lên từ từ sôi lên 100 độ C, tất cả thọ ham muốn, sanh ra tưởng. Hành giả đang ngồi thiền, nhưng tưởng mình đi về nhà gặp ba mẹ, người thân hay bạn bè chứ không tự nhiên có vọng tưởng. Cho nên tầm hướng tới chỗ nào gọi đó là dục tầm hay là sanh tầm hay si tầm. Tâm nó hướng tới sự rũ rượi, lười biếng, uể oải đó là tâm si tầm, tâm hướng tới sự si. Từ chỗ thọ nung lên tới sự tưởng in ra hình bóng, rồi hình bóng nung đẩy từ cảm thọ phía dưới, nung đẩy lên, biểu hiện ra hình bóng, hình bóng đó suy nghĩ, chạy loanh quanh về nhà làm gì, nói gì với người than, bạn bè… thức rõ biết ngay những ý niệm đang khởi đó. Một lát sau, ý căn để ý xoay trở lại thân tâm, bắt đầu ‘nó’ sự nhớ là vừa rồi vọng tưởng, tức là lúc đó cái đèn pin tâm sáng rọi ngay trên chỗ gặp cha mẹ hay gặp bạn, tới chừng để ý mới giật mình, ý căn chú tâm, ý thức soi sáng giống như luồng ánh sáng của đèn pin sáng ngay chỗ đó, bởi ta không rõ nên vô mình tái diễn dài nhưng chúng ta mê lầm, nhận giặc làm con nên không thấy, chẳng rõ biết. Chỉ khi nào thật sự xoay trở lại tâm ý thật thấu đáo nhận ra năm uẩn giả huyển hợp thành thì lúc đó mới tỉnh táo nhận ra vấn đề, gọi đúng tên từng căn và biết được sự vận hành của chúng.
Sự tu của chúng ta nằm sâu ở chỗ ý căn, mắt-tai-mũi-lưỡi-thân đối với sắc có sự rõ biết, nhưng ý căn tiếp xúc với pháp trần, nội trần trong những sắc tưởng, thanh tưởng, hương tưởng, vị tưởng, xúc tưởng, pháp tưởng. Tư duy sâu sắc về ý căn để thấy đường đi của nó vô cùng vi tế, phức tạp.
Sắc tưởng là bóng dáng của người, cảnh tứ đại hiện khởi trong tâm; thanh tưởng là lời nói, âm thanh, tiếng động hiện khởi trong tâm; hương tưởng là bóng dáng có mùi thơm, mùi hôi hiện khởi trong tâm; vị tưởng là bóng dáng vị mặn, vị ngọt, chua chat; xúc tưởng là bóng dáng xúc chạm giữa thân này và người, vật hay tứ đại bên ngoài hiện khởi trong tâm; pháp tưởng là bóng dáng của thọ tưởng hành hiện khởi trong tâm pháp tưởng.
Bóng dáng của thọ tưởng hành.
Ví dụ, cảm thọ khi mình được khen, ‘Thầy tướng hảo, tu hành tinh tấn, phước đức công đức vô lượng’, nghe khen là thọ do nhĩ xúc sanh nhưng khi thọ đó là thọ lạc cảm giác vui sướng. Bởi, người ta khen có năm phút nhưng ba ngày sau, một tuần lễ sau nếu thọ còn dính mắc trong sự vui sướng của lời khen kia thì rất nguy hiểm. Thọ nhận là chấp nhận, thâu vô, để vào, tại mình quên hoặc không biết tiếng đó là vô thường, trống rỗng, chẳng thật còn nên mình thu vào. Đây là thọ lạc và mình ái thọ này nên mình thâu vào, tối ngồi thiền, ba ngày sau hay tuần sau mà lời khen vẫn còn đậm đà in sâu trong trí nhớ thì câu khen đó trở thành thanh tưởng, có người nói là sắc tưởng, có xúc tưởng, pháp tưởng.
Nhớ lại cảm giác lúc mình được nghe tiếng khen, chỉ là bóng dáng của cảm thọ chứ không phải ngay lúc mình ngồi đây có cảm thọ của cái đã qua. Chấp vào thọ giúp cho tăng trưởng niềm đam mê, mờ ám và con đường xa tít khi đến với Đạo. Tình cảm ở ngoài cũng vậy, lời nói mà buộc suốt cuộc đời là xúc tưởng, hoặc như một cái nắm tay, ánh mắt nhìn cười cũng có thể ‘giết người’ đó là xúc tưởng, thọ tưởng, hành tưởng. Vì sau những cái mà nghe, thấy, biết, gặp gỡ thì tư tưởng bắt đầu suy nghĩ, vọng niệm sanh khởi liên miên năm uẩn một cách siêu tốc. Chỉ là đang sống với thức tưởng, ảo mộng, nhưng chấp vào nên luân hồi kéo mãi chưa thoát được! Bản chất của tứ đại là ảo, vô thường nhưng ảo ở trong cái ảo, thành ra chúng ta chìm đắm sống ảo ở trong cái ảo, rồi mình chế tác thêm cái ảo nữa, sinh sôi bất tận của ảo giác, nó nằm thâm sâu trong tâm thức mình.
Đức Phật dạy Phật tử phải học sắc tưởng, thanh tưởng, xúc tưởng, pháp tưởng vì ngày nào hành giả cũng giao thiệp với nó, bị nó lừa gạt, lôi kéo, trìu mến, chi phối, sai khiến đến khốn cùng mà mình không biết nó tên gì, chẳng rõ được mặt mũi, tính tình của chúng. Như vậy, tới bao giờ mình mới thoát khỏi nó, khi nào thì xuất ly được sáu tưởng này, nên lúc ngồi thiền mình vọng tưởng, toàn chạy lòng vòng sáu tưởng.
Hương tưởng, Bồ-tát Tịch Thiên nói nếu như không xúc miệng, không cắt tóc không uốn tóc gội đầu để tóc dài hôi hám ai cũng chạy, còn xoa dầu thơm như mài dao để tự giết mình, xoa dầu thơm hàng hiệu của Pháp đi ngang phớt qua ai đó cũng đủ làm chao đảo lòng người khác, mê hoặc người khác là hương tưởng. Người đi qua, mùi hưng cũng tan loãng theo không khí nhưng cái cảm giác đó lưu dấu lại trong tư tưởng. Thâu nhận nó là thọ, cho nên lúc thâu nhận rất quan trọng, nếu không chánh niệm, xúc sanh thọ thì cẩn trọng ngay cảm giác, nhận diện cảm giác toàn thân, đưa tâm về thân.
Ý tiếp xúc rất sâu vì pháp tưởng là bóng dáng của thọ, của tưởng, của hành, là khi ý căn tiếp xúc với bóng dáng của thọ, cảm giác còn lưu lại, tiếp xúc với bóng dáng của cảm giác, tiếp xúc với những tưởng, tiếp xúc bóng dáng của những suy nghĩ lời nói thầm thì, tiếp xúc lúc đó có ý thức, ý thức rõ biết được hai cái này, ý tiếp xúc với pháp sau đó thức rõ biết thọ, tưởng thì chúng tạo thành sự giao thoa, sanh ra xúc trong nội tâm. Sự tiếp xúc của nội pháp và pháp trần lại tiếp tục sanh ra cảm giác mới.
Ví dụ, đang ngồi thiền nhớ ăn sầu riêng, lúc đó là ý; thuộc sắc tưởng trong đó có hương tưởng, vì có vị tưởng mùi thơm; xúc tưởng để trong lưỡi, xúc đó sanh ra thọ; sẽ có cảm giác ngon béo, thọ sanh ra tưởng vì có hình bóng sầu riêng; ăn nói ngon béo ra sao ý thức rõ biết, chỉ có hình bóng sầu riêng vận hành như vậy. Tham hoặc sân hoặc si còn thì mãi chìm trong năm uẩn.
Con quán mình chính là bộ xương tử thi, quán mình như vậy rồi nghĩ tới cảnh mình sẽ vào lò thiêu, nhưng con ngồi suy nghĩ lại mới nói là quý thầy từng dạy đừng có nghĩ về quá khứ, đừng có nghĩ tướng lai mà hãy sống với hiện tại, nên con nói mình đang nghĩ về tương lai thì con muốn hỏi như vậy là sao? Trong khi tương lai chưa đến, mình đang sống ở đây cảnh rất đẹp và người rất hiền hòa, có Thầy có bạn rất vui. Tại sao mình đi nghĩ lúc mình chết mình đi vào lò thiêu để cho mình khổ tâm? Xin Thầy chỉ dạy ạ?!
Đức Phật dạy ở bài kinh Song tầm, lúc Ngài chưa chứng Chánh Đẳng Giác còn là Bồ-tát. Khi ngồi ở cội Bồ-đề, tâm Ngài phân làm hai nhóm, một nhóm là nhóm bất thiện tức là tương ưng với dục với tham với sân si; còn một nhóm tương ưng với không tham, không sân, không si tức là không có dục. Như vậy, cái nào tương ưng với tham với sân với si là loại trừ, diệt bỏ nó; cái nào tương ưng không tham, không sân, không si tương ưng với trí huệ, tương ưng với giải thoát thiện pháp, công đức thì phát triển lên.
Ví dụ, làm cỏ chỉ chặt sạch cỏ, nhổ hết gốc rễ của cỏ dại chứ không thể nhổ sạch, chặt luôn cây cảnh, cây che bóng mát, cây ăn trái. Cũng vậy, khi tâm sanh khởi bất thiện pháp lập tức loại trừ, chấm dứt không cho nó phát triển. Ngược lại, những suy nghĩ giúp tăng trưởng trí huệ, phát huy về thực tánh của thân này, thân này sẽ già và chết, thân này sẽ tan thành bộ xương, đó là tương ưng với trí, tương ưng với sự thật, tương ưng với tuệ đưa mình tới chỗ yểm ly, nhàm chán, lìa tham, nó đưa mình tới chỗ giải thoát, tháo gỡ tất cả sự trói buộc, kiết sử đó là giải thoát pháp.
Bình thường mình nghĩ an vui ngay hiện tiền, an vui nhưng dục tham mình không thấy, sự vướng mắc chẳng biết, sự luyến ái còn, chưa kịp tu nhiều, chưa thành tựu trí huệ mà mãi rong ruổi trên con đường ngộ nhận thì cần chấn chỉnh, học, hiểu, hành trì và đem tâm thành tha thiết để Phật có trọn trong lòng ta. Mỗi người sẽ có duyên với pháp nào đó thì từ từ mình tu, tu pháp nào có duyên và thực tập cho thành tựu rốt ráo. Đừng chạy đông chạy tây rồi chẳng đạt được gì, không đem lại sự lợi lạc thảnh thơi trong tu hành làm sao hóa độ chúng sanh.
Chương 4:
QUÁN BẤT TỊNH
1. Quán bất tịnh
Đầu tiên, quán xét về thân có chín lỗ rỉ chảy.
Chúng ta nhìn lại thân thể chính mình sẽ thấy có chín lỗ thường chảy ra rất không sạch sẽ, bên ngoài được lớp da mỏng bao bọc che đậy, những thứ nhơ uế bên trong không kể xiết. Nhưng vì mê lầm sâu dày, chấp chặt thân này của mình, của tôi, là tôi, phải chiếm hữu nó, phải lo lắng, làm đẹp cho nó, giữ gìn nó cứng chắc dài lâu theo năm tháng, cho nên từ đây hội tụ khổ theo về.
Muốn chuyển mê khai ngộ, tỏ suốt được sự thật thì hành giả nắm yếu chỉ Bốn Sự thật vĩ đại của đức Phật và Bát Chánh đạo mà Thế Tôn soi đường dẫn lối tỏ tường. Dùng tất cả tình cảm và lý trí mạnh mẽ, trau dồi, huấn luyện thân tâm, đập và nghiền nát nó ra những ngã chấp, những hư vọng chứ không thể nói nhẹ nhẹ, vì nó đã sâu dầy nắm níu, trú ẩn trong lớp vỏ vô minh từ vô thỉ đến nay rồi. Nhìn thẳng sự thật, mình thấy miệng chảy ra nước miếng, lỗ mũi chảy ra nước mũi đều không sạch sẽ, hai con mắt chảy ra ghèn, hai lỗ tai lâu lâu lọt ra cục cứt ráy, hai chỗ đại tiểu tiện vừa bài tiết vừa bịt mũi.
Trong Kinh Tăng Chi Bộ: “Ví như một ung nhọt đã chảy ra nhiều năm, nó có chín miệng vết thương, nó có chín miệng nứt rạn, từ đấy có gì chảy ra chắc chắn là bất tịnh rỉ chảy, chắc chắn là hôi thúi rỉ chảy, chắc chắn nhàm chán rỉ chảy, có cái gì nứt chảy chắc chắn bất tịnh nứt chảy, chắc chắn hôi thúi nứt chảy, chắc chắn nhàm chán nứt chảy. Này các Tỳ-kheo ung nhọt là đồng nghĩa với cái thân này, do bốn đại tác thành, do cha mẹ sinh ra, do cơm cháo chất chứa nuôi dưỡng, thân này là vô thường biến hoại, tan nát hủy hoại, hoại diệt, chín miệng vết thương, có chín miệng nứt rạn do vậy này các Tỳ-kheo các Thầy hãy nhàm chán cái thân này”.
Thân này giống như một ung nhọt được nuôi lớn từ thân này, sau đó nó chảy ra chín lỗ thoát hiểm những chất hôi dơ, thế mà mình si mê, bám chấp, ai chê chị hôi là sân bực giận lên nhưng đó là sự thật; chẳng phải lúc bài tiết nó mới hôi dơ, ngay khi không bài tiết bản chất nó cũng hôi dơ. Hành giả quán chiếu, nghiền ngẫm, đừng có nhìn người ta, nhìn chính mình mỗi khi nó bài tiết ra. Ví dụ, ba ngày không xúc miệng mà khà một cái là ôi thôi mùi hôi, đó là sự thật cần mình phải nhìn, phải quán tại mình che đậy rồi, tâm tham ái, mê lầm che đậy hết, nên mình không thấy, bây giờ Phật chỉ cho mình, cần khéo tác ý nhận lãnh để hành trì từ kinh tạng.
Thật vậy, thân này không chỗ nào sạch sẽ.
Ba mươi hai thể trược
Bây giờ chúng ta thực hành trong sự nhắm mắt và quán tưởng. Từng lời nói kết hợp hành động sẽ đưa tâm mình trú trong pháp soi rọi ba mươi hai thể trược.
Quán tưởng tay này đang bức từng cọng tóc trên đầu rồi để xuống trước mặt, sau đó nhổ hết lông trên cơ thể để trước mặt, rồi rứt từng móng tay móng chân, nhổ từng cái răng máu chảy ròng ròng một mớ hỗn độn răng và máu trộn lẫn; tiếp tục hành giả làm cuộc đại phẩu lấy dao rạch giữa trán dọc dài xuống, rọc hai tay máu chảy ròng ròng, lột da tay, lột da bụng, lột da lưng, lột hết da toàn thân để một đống da trước mặt; tiếp theo cắt từng miếng thịt, tất cả được 300 miếng thịt, rồi tim, phổi, thận, mật lấy ra; bao tử để riêng lá lách, dạ dày ruột non, ruột già, tỳ, phế, thận, màng ruột, gân, xương, tủy, hoành cách mô, lá lách lấy ra hết để trước mặt một bên; sau đó là phân, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, mỡ da, nước mắt, nước miếng, nước khớp xương, nước tiểu lấy ra từng phần thành ra ba mươi hai thể trược. Lúc này, hành giả nhìn kỹ những chất đống trước mặt, những thứ trong người được lấy ra, lột sạch và phân tích cái gì là mình, là của mình, là tôi, là của tôi, cái gì là tên tôi… không có cái gì thật có, chỉ là tổng hợp, là nương dựa, là hôi hám, vì nhận lầm tên tham ái, cố chấp và lầm rằng tứ đại này là mình, nên khổ dài dài.
Mình nhìn kỹ xem gan, mật, mỡ hay nước miếng có phải là mình không? Nó ở trong thân tứ đại này và chảy ra, luân chuyển, mạnh yếu vô thường. Có gì là sạch, có gì là thơm, có cái gì là đẹp trong đây mà tại sao cứ bám chấp vào thân duyên hợp vô thường tạm bợ này.
Nhìn thật tướng của thân này để thấy bản tánh là ba mươi hai thể trược. Tất cả chất cứng thuộc về đất, tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, lá lách, ruột non, ruột giàtim, gan, tỳ, phế, thận, hoành cách mô, ruột, màn ruột v.v... Tất cả những chất ướt thuộc về thể nước, như mủ, máu, mồ hôi, nước mắt, nước miếng, dịch, nước tiểu v.v... Tất cả những gì động chuyển trong cơ thể của mình thuộc về gió; nhiệt độ hơi ấm trong cơ thể mình thuộc về lửa. Quán xét cho kỹ để thấy rõ tính chất tứ đại này, ngay bây giờ mình nhìn thấy mỗi hơi thở là phong đại; tim đập, mạch nhảy, máu huyết lưu thông, tê chân chích như kim châm đó là phong đại đang động chuyển trong cơ thể của mình. Ngồi thấy ấm dưới chân là hỏa đại, bao nhiêu chất ướt trong cơ thể mình tươm ra, mồ hôi của mình tươm ra, nước miếng mình tươm ra, tất cả những chất ướt từ hai tay mình là mồ hôi đó là thủy đại, hãy quán xét cho sâu sắc thân này là tứ đại, thân này là sắc uẩn. Cái gì là mình? Tóc là mình hay răng, móng, da, thịt, xương, tủy… là mình? Nhìn kỹ vào thân tâm và quán chiếu cho sâu sắc sẽ xa lìa, nhàm chán thân này.
Quán tới cửu tưởng, chín giai đoạn của một tử thi.
Nhắm mắt lại tưởng ngay giây phút này, khoảnh khắc này, đang là, hiện giờ mình đang nằm trên giường bệnh hấp hối, lấy hơi lên tìm chút oxy rồi đứt hơi, nằm bất động, giống như khúc cây nằm bất động. Cả cơ thể này im lặng đơ ra và bắt đầu từ chân lạnh dần dần lên, lạnh lên nửa người, lạnh hết hai tay, lạnh lên tới phần trên, người cứng đơ, lạnh ngắt. Như vậy, thân này đã vẫy tay chào cái túi da hôi thúi, vẫy tay chào tháng ngày tạm gọi là sanh, già, bệnh, chết, vẫy tay chào những hỷ nộ ái ố, vẫy tay chào tất cả.
Lúc này, trong gia đình đưa lên bảng cáo phó Nguyễn Thị Xoài (Trần Văn Ổi,…) sinh, ngày, tháng, năm, tử ngày tháng năm, hưởng dương / thọ bao nhiêu tuổi, con cháu khóc lóc, mọi người đang tiếc nuối, kể về mình, thương xót, trách móc,… và thân mình nằm dài bất động.
Một ngày, hai ngày, ba ngày sau thân thể của mình từ từ phình trương lên, xanh đen lại, rồi bắt đầu nó nứt nẻ, chảy những chất lỏng thể nước bên trong ra từ những chỗ nứt nẻ, chảy mủ, chảy máu, dịch nhầy,… thân đó nằm trong nghĩa địa bốc mùi và các loài chim ăn thịt hoặc muông thú ăn thịt bắt được tín hiệu xác chết kéo tới, nào là quạ, diều hâu, kên kên, chó rừng đến mổ, rỉa, cắn rứt thân xác của mình, tiếp theo nó ăn, nó gặm nhấm, nó giành giật, nó cào cấu gầm gừ.
Bên ngoài là vậy, còn bên trong thì thân xác đó bị giòi từ trong bụng mình nó ăn ra, ăn những phần nội tạng bên trong rồi ăn trên hai con mắt, hai lỗ tai, giòi tuôn đầy mặt, tràn hai hốc mắt, ăn xuống phần thân, ăn chân, tay; cuối cùng còn lại bộ xương dính một ít thịt và máu khô bê bết, còn được các đường gân cột lại, chúng vẫn tiếp tục ăn riết đến khi chỉ còn chút thịt và máu không thể cạp được nữa, chúng ngửi và bỏ đi.
Ngày tháng trôi qua, các cây quanh đó lá xanh rồi vàng cứ tuôn xuống, lấp và bay đi… Bấy giờ than thể mình chỉ còn là những lóng xương khô quánh, gân khô lại giống như những sợi dây cũng dần dà từ giã những khớp xương, lóng xương rã rời kia. Vì gió và di chuyển của những loài ăn thịt nên xương sọ một chỗ, xương tay một chỗ, xương chân một chỗ, xương sườn một nơi, xương bàn chân một chỗ, xương bắp vế, xương mông, xương ống, toàn xương màu trắng giống như vỏ ốc. Sau cùng, những phần xương này bị thối nát theo năm tháng nó rã ra thành bột, mịn đến nỗi gió thổi rắc đi đó đây, chúng trở về hư vô, không còn gì là xác thân của Nguyễn Thị Mít, Trần Văn Xoài cả! Hãy quán chiếu thân này tính chất là như thế, bản tánh là như thế, không vượt khỏi tính chất ấy đó chính là thực tướng của thân này. Cuối cùng, nó thân tứ đại mà mình tạm gọi là của mình, là thân mình tan hoại trở về tro bụi.
Bây giờ, chúng ta lại từ từ mở mắt ra, hít sâu thở đều và thấy rõ đó là thực tướng của thân này.
Bệnh nặng của tất cả chúng ta trong cõi dục là chỉ đắm chìm vào tham dục, tham ái. Yêu thích tự thân, mong cầu và muốn chiếm hữu thân của người khác, tham ái mê lầm tài sắc danh thực thùy lộn lạo đúng sai, hơn thua, tranh đấu, thị phi không chịu buông. Chẳng chịu thấu tường tận thân này là tứ đại kết hợp, là ba mươi hai thể trược, là đồ dỏm, cuối cùng đi đến một bộ xương, biến dị rồi tan hoại. Chúng ta cứ nghĩ nó sống hoài, nó đi đến một chỗ sạch sẽ tốt đẹp, đáng yêu quý. Nghĩ là thường mà quên là vô thường; cho là đẹp mà quên là nhờm tởm… do vậy nên khổ và luân hồi còn. Đức Phật chỉ cho mình soi lại ánh sáng trí huệ, nếu chịu tu hành chân thật vào đạo thì sẽ thấy sự thật của thân này là giả huyễn hợp thành.
Tu tập cốt tưởng
Kinh Tương Ưng Bộ (Quyển 5): “Này các Tỳ-kheo, làm cho sung mãn được lợi ích lớn, thành tựu được một trong hai quả được chờ đợi ngay trong hiện tại, được chánh trí hay nếu có dư ý chứng được quả hoàn bất hoàn”.
Tu tập về quán tưởng bộ xương này làm cho sung mãn tròn đầy, tức là trong tâm khởi lên nhìn ai cũng thấy là bộ xương, chính điều đó giúp ta ngăn che sai lầm, bị sắc dục mê hoặc, bị những thứ bên ngoài thổi lọt vào tai thích nghe, mắt ưa nhìn, mũi ngửi thơm, lưỡi ưa vị ngọt rồi xúc chạm mềm mại mà ngủ quên trong vô minh. Thực tập được như vậy, lúc đó mình sẽ được quả báu lớn, lợi ích lớn, một trong hai thánh quả một là ngay trong đời này mình đốt cháy sạch hết tham sân si, chấm dứt hết tất cả đau khổ thành bậc A-la-hán, thánh quả tối cao trong Phật giáo đó là lợi ích thứ nhất.
Lợi ích thứ hai, nếu như mình còn hữu dư y là còn sót lại, chứng quả bất hoàn thì không còn ở nhân gian mà lên tận tứ thiên, rồi lên quả thứ ba gần kề quả thứ tư A-la-hán, pháp này rất rõ ràng, thâm thúy. Đức Phật nói ‘Thành này làm bằng xương, quét tô bằng thịt máu, ở trong ấy già chết, mạng lừa đảo chất chứa, như trái bầu mùa thu giống như xương trắng bồ câu’ thấy thân khô giống như trái chuối, cau khô, miếng cau khô còn da bọc xương, sân hận rất khổ.
Lợi ích của sự tu để trí huệ mình đốt cháy hết phiền não, nên mình cứ thường nhớ tưởng đây là bộ xương, mình sẽ thấy được công năng dẹp phiền não không thể tưởng tượng.
Hồi xưa, có một vị Tỳ-kheo, tu tập rất lâu năm gọi là Trưởng lão, vị này đang đi trên đường khất thực, tình cờ gặp một phụ nữ, người nữ ấy đang giận cãi cự với nhà chồng, cô mới đi về nhà cha mẹ đẻ ở, lúc cô đi về trang sức rất đẹp, cô đi ngang gặp một vị Tỳ-kheo trưởng lão, cô cười khiếm nhã, lúc đó vị Tỳ-kheo này đang quán chiếu cốt tưởng bộ xương nên vị này quán chiếu thấy cô này đưa nguyên hàm răng, ngay lúc đó Ngài đang quán về bộ xương, đốt sạch phiền não chứng A-la-hán đọc bài kệ:
“Thấy xương hàm răng
Duy trì cốt tưởng
Chưa dời chân bước
Quả chứng vô sanh.”
Tu đúng chánh pháp nên Ngài chứng quả A-la-hán. Lúc đó, ông chồng chạy tìm bà vợ, gặp ông trưởng lão và hỏi ‘có thấy vợ con đi ngang đây không?’, vị trưởng lão nói ‘tôi không thấy nam nữ, tôi chỉ thấy có đống xương di động’.
Bài kệ Ngài đáp:
“Không rõ ông hay bà
Vì ta không để ý
Nhưng trên đường cái này
Có đống xương di động”
Tu như vậy mới thành thánh quả.
Quán chiếu sâu sắc, trú trong sự quán tưởng liên tục không gián đoạn mới thuần thục pháp hành. Trong Trưởng lão Tăng kệ có thuật lại các vị Tăng tu chứng Thánh quả. Vị kia có gia đình rồi mới đi xuất gia, sau đó vị này gặp đức Thế Tôn thuyết pháp, vì quý kính quá nên ông đã xin Phật được xuất gia. Vị này xuất gia rất tinh tấn tu tập. Một hôm, trên đường đi cùng Tăng đoàn đi về ngang gia đình vị Tăng đó, lúc đó mẹ của vị Tăng đã bày mưu cho con dâu dụ chồng về sống lại, đừng xuất gia nữa, bằng cách kêu con dâu trang điểm thật đẹp, quần là áo lụa, son phấn, đeo vàng vòng, hương thơm quyến rũ đi tới dụ vị Tăng. Ngay lúc đó, Ngài quán bất tịnh tướng, quán ba mươi hai thể trược, quán cô vợ này là một thân giòi ăn, Ngài phát khởi thiền quán, Ngài quán cho tới mức độ tột đỉnh trí huệ đốt hết tham sân si chứng quả A-la-hán ngay tại chỗ.
Pháp đức Phật dạy quán chiếu rất tuyệt vời, không phải mình chỉ ngồi im re thở, rồi đọc vài câu pháp là thành tựu. Mà phải đốt phiền não, dập tắt tham sân si, phá mê lầm. Bây giờ tham sân si luôn dấy khởi, phiền não không dẹp thì không thể thành tựu tâm thanh tịnh.
Một cái mê lầm cứng chắc của mình là cái gì? Cái mê lầm cứng chắc của mình nghĩ thân này là bền chắc, nó như vậy hoài, nếu mình không có trí huệ quán chiếu sẽ nghĩ than là thường hằng, bất biến.
Chúng ta từng ngày đều có thấy, có nghe, có chứng kiến cảnh tai nạn giao thông, nghe tin báo đài từ tai nạn giao thông đến thiên tai chỗ này chỗ kia, nước này nước nọ. Nhưng vì không sâu sắc quán chiếu, chẳng để tâm nghiền ngẫm nên cứ nghĩ nó ở xa, không dính dáng tới mình đâu. Thật ra, nó luôn túc trực, kề cận bên ta. Mở con mắt trí huệ nhìn sâu thấy chấp ngã cái tôi, cái ta, của mình là dễ đưa vào tử nạn mà không hay. Cái tôi dìm ta sanh tử luân hồi, vô minh, tham ái, bị cái tôi mà nó đấu đá đánh đấm đưa tới khổ lụy tù tội, tam đồ ác tội. Chịu khó dung chày kim cang đập vỡ cái tôi này ra, trí huệ bát-nhã của đức Phật trao cho mình quán chiếu, thấy rõ đó là một đống thịt bầy nhầy khi bị tai nạn giao thông, khi bị chết, chấm dứt mạng sống, ổ chứa nhóm tật bệnh, bệnh hành mình khổ biết bao nhiêu, chết là chấm dứt mạng sống.
Minh Thành thường quán chiếu khi đang ngồi xe, máy bay, thuyền tàu, đi bộ,… có khi sẽ không còn tồn tại, có lúc sẽ im thở, mọi bức ngặt, khó chịu, vô thường sẵn sàng ập đến, cho nên cần dụng công, quán chiếu sâu sắc vô thường. Vì sao phải suy nghĩ như vậy? Có nghĩ vậy mới dễ dàng tha thứ, thương yêu, hiểu và thông cảm cho người cho vật. Nghĩ như vậy để nhẹ nhàng, thảnh thơi trên bước đường tầm cầu học Đạo giải thoát, phải tự độ rồi mới độ tha.
Đức Phật dạy tinh tấn có bốn cách tinh tấn
Tinh tấn thứ nhất là hộ trì căn. Mình phải luôn luôn đề phòng mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Đừng để nó phan duyên theo trần cảnh. Luôn giữ gìn nó trong chánh niệm.
Ví dụ, đang ngồi ở đây có ai đó quên tắt chuông điện thoại, tự nhiên có tiếng động reo lên inh ỏi từ chuông điện thoại thì âm thanh ấy làm cho nghe dễ khó chịu. Đó là không hộ trì lỗ tai, nhĩ thức, rõ biết của lỗ tai là mình bị phiền não.
Tinh tấn thứ hai là diệt tận tham, diệt tận sân, diệt tận si. Bất cứ lúc nào mình đi đứng ngồi nằm mà lúc đó trong tâm mình khởi lên nóng giận bực tức ai, diệt tận nó bằng cách là mình quán bộ xương, quán thân nằm dài chết, quán mấy người đang chuẩn bị chôn hay đưa vào lò thiêu, lúc đó cái sân dập tắt, cái tham cũng vậy.
Tinh tấn thứ ba là tinh tấn tu tập Tứ Niệm xứ (niệm thân).
Niệm thân có sáu phần, gồm:
Thứ nhất, niệm hơi thở;
Thứ hai, niệm bốn oai nghi;
Thứ ba, niệm hành động;
Thứ tư, niệm tứ đại (đất, nước, gió, lửa);
Thứ năm, niệm ba mươi hai thể trược;
Thứ sáu, niệm cửu tưởng (chín giai đoạn của một tử thi).
Thế Tôn nói rằng: “Này các Tỳ-kheo, ai mà thực hành thân hành niệm, người đó đang nếm hương vị của bất tử, ai mà không thực hành thân hành niệm người đó chưa có nếm hương vị bất tử”.
Xin chúc cho tất cả quý vị đang nếm hương vị bất tử!
Nhìn thấy cái tử để mình không bị dính mắc trong sanh tử, kiên trì, nỗ lực tu hành vượt thoát sanh tử, vào cửa bất tử. Ngược lại, thấy là thật, còn hoài thì mình đam mê trong sanh tử nên tử sanh, sanh tử, tử tử sanh sanh, sanh sanh tử tử, nhìn sâu xuyên thủng tấm thân vô thường này, xuyên thủng tấm thân bất tịnh này, xuyên thủng tấm thân vô ngã này, xuyên thủng tấm thân giống như một cái máy ráp những bộ phận không có gì là tôi, không có gì là của tôi, đó là mình quán thân niệm xứ, quán niệm thân, quán xét sự thật về thân này để đừng có chấp, đừng có tham luyến, buộc chặt vào nó nữa, mình sẽ được giải thoát.
Câu thần chú mà Minh Thành hay nhắc tự chính bản thân là: “Này cư sĩ, mắt không phải là mình, mắt là vô thường. Này cư sĩ, tai không phải là mình, tai là vô thường. Này cư sĩ, lỗ mũi này không phải là mình, lỗ mũi này là vô thường. Này cư sĩ, lưỡi này không phải là mình, chiếc lưỡi này là vô thường, sắp sửa rã rồi. Này cư sĩ, thân này không phải là mình, thân này là vô thường, nó sắp vào lò thiêu rồi. Này cư sĩ, ý này không phải là mình, ý này là vô thường, nó sắp sửa theo nghiệp luân chuyển rồi. Cư sĩ hãy tỉnh ngộ đi, hãy thấu triệt, hãy nhàm chán, hãy lìa tham, hãy giải thoát”.
Tu mà mười năm, hai chục năm nhìn mặt cũng khổ, không đi sâu vào chánh pháp, tu phớt phớt ngoài da, tu lờ mờ, là nguy lắm thay! Bây giờ chúng ta cùng nhau sách tấn tu hành, nói mạnh, làm căng, nhiệt tâm tinh cần, sáng suốt, thời gian không còn dài, tu thẳng, tu sâu vào, đó là niệm thân.
Tinh tấn thư tư là hộ trì thiện pháp.
Tinh tấn hộ trì thiện pháp là giữ những thiện pháp lành mà trí huệ hành giả có được. Mình thường tu siêng năng, tinh tấn trong tinh thần Bát chánh đạo. Chánh kiến là thấy thân này là vô thường, tứ đại kết hợp; thường xuyên chiêm nghiệm, nghiền ngẫm điều này mà không cho đi ngược, đó là chánh tư duy; mình nói lời chân thật, không nói lời gian dối, nói lời phù hợp với đạo lý, đó là chánh ngữ; mọi hành động, mình thực hiện theo đúng như pháp mình học đó là chánh nghiệp; mình nuôi mạng sống của mình một cách chân chánh, đúng với giới pháp đức Phật dạy, đó là chánh mạng; siêng năng, tinh tấn nỗ lực làm những điều mình học, đã thấy, đã chiêm nghiệm, đó là chánh tinh tấn; chánh tinh tấn như vậy sẽ thành tựu được chánh niệm, siêng năng nhớ nghĩ hoài đó là chánh niệm, chánh niệm rồi đưa mình tới chánh định, viên mãn Bát thánh đạo.
Ví dụ, bữa nay mình thành tựu được phương pháp quán chiếu về bộ xương, hay quán chiếu về con giòi hay thân nằm chết. Khi được pháp này, mình phải hộ trì, giữ gìn nó không cho nó mất, thường nhớ nghĩ, nhiếp tâm khéo quán chiếu về điều đó, phát huy cho nó lớn mạnh, cao rộng hơn thêm, sâu hơn nữa, gọi là mình tinh tấn hộ trì giữ gìn thiện pháp.
Hoặc như, hôm nay làm ăn có lời được mười triệu, mười triệu đó để dành làm ăn nữa, lấy vốn để làm ăn đẻ thêm lời, sự tu hành cũng giống vậy. Khi những thiện lành mình đã có thì phải giữ cho kỹ, giữ cho chắc, giữ cho chặt, đừng để nó rớt và sau đó càng phát huy them để nó lớn mạnh, tăng trưởng trí huệ sáng tỏ. Như vậy, hành giả đánh phá tất cả phiền não thành tựu tuệ giác tối thượng.
2. Tầm quan trọng của quán bất tịnh
Nếu hành giả mãi loay hoay đi tìm vị Thầy này, vị Thầy kia để thu thập hết tất cả kinh nghiệm hoặc đi hết nước này nước kia để tìm pháp hành thì hoàng hôn đã phủ, pháp hành vẫn chưa thông. Cần y cứ lời Thế Tôn dạy và quay trở lại tự thân tự tâm này sẽ thấy rõ con đường của chánh pháp không phải bên ngoài.
“Đức Thế Tôn là bậc Pháp chủ, Pháp nhãn và Pháp bổn, Thế Tôn là chủ của pháp, Thế Tôn là con mắt của pháp, Thế Tôn là cội gốc tất cả pháp, tất cả Pháp lấy Thế Tôn làm chủ, tất cả pháp lấy Thế Tôn làm y cứ, chúng con thỉnh đức Thế Tôn sau khi đúng, lắng nghe và khéo suy xét và y theo đó thọ trì tu tập”. Các Thầy Tỳ-kheo lúc nào cũng nói như vậy sau khi nghe Bậc Đạo Sư truyền pháp. Chúng ta lần trở về Tứ niệm xứ, quán xét thân tâm mình bao trùm hết tất cả giáo pháp, Tứ niệm xứ là một phần trong Bát chánh đạo.
Chúng ta tiếp cận kinh điển Nguyên thủy trên tinh thần cũ như giấc mộng nhưng mới hiện giờ.
Khi nhập thất lặng yên tu tập, huynh đệ nghĩ tại sao chúng ta không thể ở một mình được? Trong bài kinh Khiếp đảm và sợ hãi, Bậc Thiện Thệ dạy rằng: “Người có tham dục mạnh mẽ không độc cư thiền định được, người sợ hãi không độc cư thiền định được, người thích giao thiệp, giao du không thể độc cư thiền định được, người thích danh văn, lợi dưỡng cúng dường, cung kính không thể độc cư thiền định được.”
Thân nhập thất, tâm ở ngoài, lo nghĩ ngược xuôi bao thứ chuyện chẳng thật đạo. Hết nhớ Phật tử, đệ tử lại nghĩ tới huynh đệ, tỷ muội hoặc suy tính công việc bộn bề chưa xong, việc này còn, việc kia sắp phải làm,… Trong thất ăn uống kham khổ quá, không được tự do đi đó đây và quan trọng nhất là chẳng dám đối diện với chính mình. Bao nhiêu ý nghĩ ấy là cạm bẫy làm cho mình thối chí, dễ dàng buông bỏ ý niệm nhập thất, xa lìa nơi tịnh tu mà đi vào nơi chốn an nhàn, đông chúng, gặp gỡ huynh đệ, có nơi hý luận. Người mà như vậy, khó mong vào thiền định được.
Chế ngự dục lậu, hạ thủ công phu đòi hỏi mình phải có thời gian yên tịnh để nhìn lại thân tâm, đóng lại sáu căn để soi lại bên trong, tìm lỗi mà sám hối, để soi chiếu cho nó sạch lại thiện pháp như hôm nào. Vì ở ngoài thì dễ mở sáu căn tiếp xúc với sáu trần sanh ra thị phi, khởi niệm tham sân si, lăng xăng có khác gì ngoài đời.
Tiếng xe ồn ào nghe riết thành quen nhưng có những người ở quê lên thành phố, có dịp nghỉ lại tới sang hôm sau vẻ mặt uể oải, thần sắc bợt bạc vì khó ngủ, không ngủ được vì tiếng ồn của xe cộ. Do không quen chế ngự nhĩ căn, âm thanh làm cho mình bực bội, khó chịu. Họ quen tĩnh lặng nên khó tiếp nhận cái động, còn mình thì quen trong cảnh động nên sợ tiếp cận cảnh tĩnh lặng. Đều phân biệt và chưa thật dụng tâm tu hành!
Trong một bài kinh đức Phật có nói, người kia đứng trước gương soi và nhìn thấy gương mặt dính bẩn, nhờ soi gương mới phát hiện gương mặt mình dơ, khi phát hiện mặt mình dơ mới chùi lau rửa, tẩy, làm đủ mọi cách cho nó sạch; sự tu hành cũng vậy. Đối diện với chính mình rất cần thiết, tất cả chúng ta thường trốn tránh, khỏa lấp nhằm che đi sự thật, cố tìm cái khác lấp lên cho lãng quên, nhưng đó là sai lầm.
Vào thất không dám đối diện với mình, bằng cách tụng kinh, niệm Phật, trì chú liên tục, không dám ngồi yên nhìn lại tâm; tuy vào thất nhưng vẫn là chưa phải đối diện với chính mình, tâm vẫn còn bên ngoài. Vậy, phải đối trị, nhiếp phục cho được dục tham, dục ái, chính chỗ này là chỗ chúng ta phát hiện ra sự thiếu sót không thể thiếu mà mình thiếu, đó là thời đức Phật còn tại thế, thân niệm xứ nhất định phải có quán bất tịnh, quán ba mươi hai thể trược và quán chín giai đoạn của một tử thi; tu tập pháp này sẽ nhiếp phục được tham dục, đây là phương pháp của Bậc Chánh Đẳng giác.
Hòa thượng Luật sư thượng Minh hạ Thông có dạy rằng ‘chỉ cần giữ một giới này (tham dục) đủ để nhận sự cung kính, cúng dường, đó là giới quan trọng nhất của người tu mình’. Bây giờ mình tu mà không động đậy đến vấn đề đó, né tránh nó, sợ nó thì bị nó nhiếp phục mình rồi! Để tẩy sạch tham dục, diệt tận tham dục cần soi lại thật kỹ trong bản kinh Tứ niệm xứ, thân hành niệm, quán tướng bất tịnh. Từ lý thuyết tường tận rồi gia công hành trì, nhiệt tâm tinh tấn, bồi đắp tài đức, dụng công miên mật mới không thẹn với đời sống xuất gia.
Thật lòng tâm sự cùng huynh đệ, mình đã quán như thế nào khi nhập thất? Lúc đó, một sự chuẩn bị rất chu đáo tựa như là lần chót, lần không thể ra ngoài nữa, lần này quyết tử như cái ngày mới đi xuất gia vậy! Mình đã ghi những dòng chữ sau đây trên bảng:
Đại đức Thích Minh Thành tân viên tịch
Thế danh: Hồ Ngọc Hiếu
Sinh ngày: 30.12.1975
Mất ngày: 01.04.2018
Hưởng dương: 43 tuổi
Quê quán: Thị xã Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp
Viên tịch tại thất Linh Quy Pháp Ấn (thôn Tà Ngào, xã Lộc Thành, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng).
Bắt đầu mình ngồi đối diện với cái bảng ghi những dòng chữ trên, cạnh đó là bộ xương người bằng nhựa. Sự quán tưởng đi vào từng ngóc ngách trong cơ thể, tâm tư này. Lúc đó, Minh Thành thấy cha mẹ khóc, đệ tử trong chùa khóc, Phật tử gần xa biết tin kéo về núi viếng tang. Còn cái gọi là Thích Minh Thành kia thì đang nằm bất động, không còn móng niệm gì, chẳng phải nói gì nữa, như một cái cây vô dụng nằm đó!
Huynh đệ, đệ tử tụng kinh siêu độ, khói nhang rợp trời. Sau đó là sáu người khiêng cái xác bất động được bó lại bao lớp vải... Họ để mình lại trên đỉnh núi. Một cuộc sanh tử, một sự ra đi bất tận. Bỏ lại sau lưng chùa chiền, bổn đạo, trường học, khát vọng, ấp ủ trên bước đường hoằng pháp lợi sanh,… đều sựng lại, nghẽn mạch, im lìm và không thể tiếp tục, bỗng chốc trở thành vô dụng.
Sự mong nhớ, khóc buồn của mọi người rồi cũng qua đi.
Thân xác mình nằm trong quan tài lúc này bắt đầu, không phải lúc này, mà thật sự là nó chuyển động thay đổi từng khoảnh khắc một. Mình ghi nhận như một thước phim quay chậm lại về xác thân giả huyễn này.
Bên trong nội tạng bắt đầu hư thối; bên ngoài sau vài ngày bắt đầu nó trương phình lên gấp hai, ba lần lúc còn sống. Toàn thân chỗ nào cũng như được bơm hơi. Mặt to lên, hai tay phình lên, hai chân cũng trương sình và cái bụng cứ như bự lên mãi. Sau đó, chúng bắt đầu rạn da nứt nẻ dần, lớp da ngoài cơ thể này bắt đầu tím tái xanh xao bầm lại, mùi hôi thối trong xác chết bắt đầu hực lên. Nước trong nội tạng rỉ ra, chảy ra, bùng nổ, tuôn trào và vỡ như vỡ đê vậy. Bộ đồ lòng bị giòi lúc nhúc thi nhau rúc rỉa, từ trong hai con mắt giòi đổ ra, giòi đầy hai lỗ tai bò ra cùng khắp, những bộ phận phía dưới giòi ăn hết, chúng bu đen và hút, ăn, nhai, nuốt những gì là mềm, nhẹ, bên trong.
Kế đó loài kên kên, quạ, diều hâu, chó rừng tới gặm, cắn xé, giành nhau, gầm gừ, từng miếng thịt bị chúng nó giật ra khỏi thân nghe phựt phựt, mỡ, máu chảy tanh hôi, bốc mùi kêu gọi những con thú khác tìm tới tử thi để ăn. Từ loài lớn cho tới loài nhỏ, chúng ăn lần, ăn mãi cho đến không còn thứ gì có thể ăn, cắn, nuốt được thì chúng bỏ đi.
Lúc này, chỉ còn lại một bộ xương vương vãi đó đây, những miếng thịt khô quánh lại còn sót trong những khúc cong, khe xương nên muông thú không ăn được. Gió, mưa, nắng làm héo khô bộ xương kia, nó nằm trơ trọi một năm, hai năm, ba năm và sau đó bị phân hủy dần, những lóng xương, khúc xương, khớp xương giòn mục rã ra, một số bám sâu vào đất, một số thành bụi bay lên hư không về với bao la vũ trụ. Xương sọ to nên còn nằm đó, hai hốc mắt sâu thăm thẳm kiếp người! Xương ống chân, ống tay, xương sườn, xương bàn chân, xương vai, xương khuỷu tay nằm trộn lẫn và giờ thì không còn phân biệt được cái nào là cái nào nữa.
Tất cả đều tan hoại, nước mắt rồi khô, xương tan thành bụi, đó chính là bản tánh thân này là như thế không thể khác, tánh chất thân này là như thế không thể khác. Và thân này cuối cùng cũng đi tới đó không có gì khác hơn nữa, dù cho có khóc than ly biệt. Ai rồi cũng trải qua một cuộc sanh trụ dị diệt, sanh già bệnh chết. Do đó mà tìm cầu đạo giải thoát xa lìa phiền não, bỏ mê tìm giác, đi tới giải thoát hoàn toàn, rốt ráo chân thật, tịch tỉnh Niết-bàn, không còn sanh tử luân hồi.
Quán tới tột cùng như vậy, lông tóc dựng ngược, thân nổi da gà và chấn động hết thân tâm. Minh Thành thực tập như vậy không chỉ một lần mà cả chục lần. Mỗi lần quán đều nghe nồng nặc mùi hôi tanh xác người, muốn ói mửa ra.
Minh Thành quán như vậy xuyên suốt bốn tuần lễ, hiệu quả là nhiếp phục được dục tham, suốt thời gian đó thân không có sanh khởi, mình mới thấy và tin được lời đức Phật. Một vài huynh đệ quán theo cách ấy nhưng chưa thật dốc hết toàn tâm ý nên nói rằng, ‘con quán thân bất tịnh mà toàn quán thấy tịnh’, đó là một suy nghĩ tiêu cực. Do chúng ta không thật tin chánh pháp của đức Phật, chẳng thật tôn trọng pháp nên thực hành chưa sâu sắc, dụng công chưa thấu triệt, nên hiếm có kết quả. Nói như vậy không có nghĩa là mình đã được gì, là gì, chỉ là tiếp tục công phu, nỗ lực hành trì, đường đi còn xa vạn dặm! Hãy cùng nhau chí thành nỗ lực, không ngừng đắp bồi đạo hạnh tu hành chân chánh.
Bản thân thấy xấu hổ, ngã chấp còn đó, tham dục còn kia, chỉ là bước đầu thấy được mạch nguồn của sự si ám đó, diệt tận nó, bứng cội rễ nó lên để cho ánh quang minh rọi vào. Ngày nào trong thất cũng quán tới quán lui liên tục, quán rằng bộ xương này đang ngồi đây, quán tình ái của nam nữ là do sự tham dục sanh khởi mà không hay rằng chúng chỉ là bộ xương này ôm bộ xương kia và bộ xương này khao khát bộ xương kia. Mình mới nói với tâm ‘một bộ xương hôi hám dơ bẩn chưa đủ hay sao mà còn muốn tìm thêm bộ xương khác để cùng với nhau hôi dơ, bất tịnh và đau khổ; tham cầu cho tới chết luôn hay sao, có được cái gì đâu, đừng tham nữa, đừng sân nữa’.
“Thành này làm bằng xương
Quét tô bằng thịt máu
Trong ấy già và chết
Mạng lừa đảo chất chứa.”
Đọc lại và ngẫm cho thấu để thấy thân này không thật có. Lớp da bọc bên ngoài che đậy sự nhơ nhớp bất tịnh này, tấm thân này lừa dối mình không phải kiếp này, đời này mà trải qua bao nhiêu đời bấy nhiêu kiếp rồi. Vậy mà, than ôi! Mình vẫn bị nó lừa dối, còn đắm đuối, mê say, si mê, ảo mộng trong tấm thân vô thường hư ảo này. Đúng là ngu si điên đảo cho một tên Thích Minh Thành, mê muội cho một cái tên là Thích Minh Thành, tỉnh ra chưa? Hãy mở mắt to lên để nhìn thấy thực tướng bản chất của thân này, nhìn đi, nhìn cho kỹ đi… Khi quán xét nói chuyện với tâm mình, lúc đó nước mắt Minh Thành ràn rụa giống như người ta đang đánh mình nên mình mới tin lời của Phật.
Pháp quán bất tịnh là một phương pháp tuyệt diệu giúp cho mình nhiếp phục những ngã mạn, sai lầm, tham dục. Nhưng không phải mình thực hành một lần là sạch hết, không phải trong một giai đoạn là được, nếu mình bỏ dở không tu nữa thì tập khí, chướng duyên tiếp tục trở lại. Trong sự tinh tấn, đức Phật dạy, gọi là tinh cần hộ trì thiện pháp, tức là mình được pháp quán rồi cần phải giữ không cho mất.
Tại thất Linh Quy Pháp Ấn huynh đệ, đại chúng cùng nhau thực hành bất tịnh quán, qua việc xem video xem những hình giòi ăn trơ xương, thú ăn xác người, chín giai đoạn của một tử thi… Sau đó, cùng nhau thiền quán, bước đầu có một vài chú trẻ có được sự hỷ lạc thân tâm.
Bốn Thánh quả là bốn thành quả của một người xuất gia chân chánh theo Phật giáo, được đức Phật xác nhận. Bốn thành quả giống như mình làm thì có tiền, mình học thì tốt nghiệp cái đó đương nhiên, Thánh quả là thành quả của con đường Thánh đạo. Chúng ta tu hành là dịp để soi lại nội tâm của mình, luôn làm bác sĩ phẫu thuật chính mình; đừng nhìn người, đừng chê người mà hãy chê mình, chỉ trích những sai phạm, chưa giải thoát được của chính bản thân. Từ đó, thấy được tham dục di chuyển, sân hận vận hành, vô minh trú nơi nào trong thân tâm này. Đầu tiên phải thấy được dục lậu, sự nhiễm dục ở trong tâm của mình, nếu mình không nhìn lại sẽ không thấy. Huynh đệ biết rằng từ đỉnh đầu xuống tới gót chân chỗ nào cũng nhiễm dục, mình tưởng đâu tôi tu ngày nay tôi không thấy tôi giận, ai không thấy phiền não thì thật là chưa thấy pháp.
Phiền não ở trong cảm giác cảm thọ, phải biết mình đang ở cảm giác nào, nếu không nhận diện được cảm giác cảm thọ thì không biết được trú xứ của phiền não. Ví dụ, lúc mình nổi nóng lên thì cảm giác có thay đổi nóng trên mặt, nóng hai lỗ tai, hai con mắt nóng đỏ lên đó là hình tướng của sân. Thường nhìn quán chiếu khổ thọ, khi nó cục cựa tát cho nó mấy cái, đánh cho nó tơi tả tan tành. Chỉ khi nào thấy được trú xứ của phiền não, căn cứ địa của tham sân si, hành giả mới đoạn diệt được những bất thiện pháp ấy. Trú xứ căn cứ địa là cảm thọ, nó liên hệ tới tưởng, hành, thức mình phải nhận diện năm uẩn, cảm giác của mình.
Mình cứ tưởng sống hàng ngày như vậy là tốt, nếu không nhìn sâu cảm giác, chẳng hay quán chiếu sẽ không thể biết được tâm cảm mình như thế nào. Lúc mình lên ngồi Quả đường, đại chúng dọn lên cúng trai Tăng bảy món, trong đó có món ruột của mình. Ngay khoảnh khắc đó, bản than soi chiếu liền, như đang dùng kính chiếu yêu vậy! Chiếu coi gương mặt mình đang tham, sân, si như thế nào về món ăn đó. Về phần sinh lý tự nhiên nước miếng tươm ra, bên trong rạo rực mong muốn lẹ mau gắp nhanh thức ăn mình thích, muốn món ăn đó được đặt ngay vị trí mình ngồi, đó là dục tham trỗi dậy, cảm giác ham ăn. Không chánh niệm là mình đang nuôi dưỡng dục và tham mà mình không biết. Hoặc như, nếu lúc đó trong mâm của mình có một món mình thích nhất tự dưng bị người khác đẩy qua mâm kia, lúc đó cái gì nổi lên? Tu ngay chỗ miếng ăn đó. Chú ý tham và sân khởi trong tâm. Điều đó có khi nó trỗi dậy hoặc chìm khuất đâu đó, nhưng được dịp nó tái hiện và sự tham cầu, sân hận lại tiếp tục nung nấu, dù cho qua việc đó hai ba ngày cho tới một tuần, nửa tháng sau. Như vậy, dài ngắn, chậm hay mau là do công phu tu của bản thân hành gỉ có khéo kiểm soát cảm giác chính mình hay không. Mình bị ý hành, những lời nói thầm thì trong tâm và khi nói những lời nói đó, có những hình ảnh người bưng thức ăn trong ngày cúng trai Tăng tái hiện, đó là tưởng và cảm giác lúc bị bưng tô thức ăn mình thích đi chỗ khác, đó là cảm thọ. Tất cả là sắc tưởng, thanh tưởng, hương tưởng, vị tưởng, pháp tưởng tức là những gì của quá khứ nhưng hồi tưởng trở lại. Như vậy, hình bóng người đó trở lại là sắc tưởng, tiếng nói của người đó hiện lên là thanh tưởng, mùi hương của món ăn đó hiện lên là hương tưởng, vị tưởng là cảm giác của món ăn đó ngon. Chúng ta bị đau khổ dìm tận, do mình chưa thực hành chế ngực, đoạn tận năm uẩn.
Hãy nghĩ tới món ăn bằng việc ngon biết là ngon, dở biết là dở, nhưng không khởi tâm chê khen, mong cầu hoặc khó chịu… Cảm giác ngon, dễ chịu đó là bình thường nhưng trong đó nó có dục tham; dục tham muốn món này được châm thêm hay muốn gắp thêm món này nhiều nữa hoặc là có cơ hội ăn xong mình xuống bếp hỏi món này cách làm ra sao để khi về mình làm tiếp món đó ăn, như vậy là dục tham.
Cảm giác khó chịu là bình thường, như mình đi ngoài nắng ba mươi tám độ C, lập tức khởi tâm ý bực bội, đây là bóng dáng của sân rất vi tế. Cho nên, cảm giác khó chịu kia là cảm giác của thân, còn cảm giác khó chịu, bực bội là của tâm sân. Còn không khó chịu không dễ chịu đó là si, tức là mình không thấy được thân hành niệm, mình không biết thân này là pháp duyên khởi kết hợp vô thường, nó phải tồn tại do ăn mặc tắm gội, do tinh cha huyết mẹ bao nhiêu thứ hỗ trợ mới được sinh tồn. Vì nó không tự có, không quán chiếu về vô thường tưởng, vô ngã tưởng nên khổ, nếu mình nhìn thấy được như vậy sẽ phá được si ám.
Hoặc như trời nóng nực, chúng ta đi tắm cho mát, đương nhiên mình có cảm giác dễ chịu, trưa nắng mình được xối nước (nhìn thấy ở trong xúc trần, thân mình tiếp xúc với nước là xúc, thân căn tiếp xúc với nước là sắc trần bên ngoài), phát sanh rõ biết gọi là thân thức, thân thức rõ biết của thân về sự xúc chạm, ba pháp này giao thoa với nhau tạo ra xúc sanh ra thọ, sanh ra một cảm giác. Thọ sanh ra tưởng, hành, nên mình xúc, cảm giác sanh ra dễ chịu, nếu mình không biết chánh niệm do có nước xối vào người, thức rõ biết sự tiếp xúc của nước này đó là pháp duyên hợp, xúc mới sanh ra cảm giác cảm thọ mình nhìn thấy được pháp như vậy, mình không có bị cái xúc nó nhận chìm, lúc đó xúc sanh thọ, thọ sanh tưởng rồi những cảnh liên hệ tới dục, liên hệ tới sự êm ái, liên hệ tới tham tiếp tục thọ, tưởng, hành, thức, xúc sanh thọ ngũ uẩn vận hành liên tục suốt ngày suốt đêm. Chúng ta thấy được chỗ dục tham ẩn nấp trong việc tắm nước mát, thích thú, tất cả những gì hỷ tham, ưa thích trong sắc đó gọi là vị ngọt của sắc.
Thế nào là sự nguy hiểm của sắc? Là vô thường, biến đổi, tan hoại, đi tới chỗ chấm dứt, diệt tận, đấy là chỗ nguy hiểm của sắc.
Thế nào là sự xuất ly của sắc? Là sự nhiếp phục của tham ở trong sắc. Đòi hỏi tinh cần, nỗ lực, quyết chí của mình chứ không phải tu phớt phớt, chỉ an ổn trong sinh hoạt của mình hai thời khóa tụng cùng Tăng-già. Tu theo lời đức Phật sẽ thành tựu con đường Như Lai đã đi. Con đường đó khai mở, sáng tỏ, cụ thể. Học kỹ rồi hành trì, có niềm tin bất động với Bậc Đại Giác ngộ, hành giả sẽ thành tựu.
Hữu lậu là gì? Tâm mình muốn làm cái này cái kia không có yên, muốn suy nghĩ, kiếm chuyện này chuyện kia để làm, là hữu lậu; còn nghĩa sâu, luôn luôn bên trong mình có sự khao khát hiện hữu là muốn mình còn tiếp tục những đời sau. Nội tâm mình luôn luôn có sắc tưởng về mình, mình nói chiều này tôi đi qua chùa bên kia dự lễ, khi mình nói vậy là trong tâm mình có hình bóng mờ mờ của mình trong đó, là sắc tưởng về mình. Tu để nhìn cho thấu được những phiền não này đang tiêm nhiễm trong tâm. Những gì đang khao khát hiện hữu tiếp tục hiện hữu, phải có cái mình, có cái tôi mới được, không có cái tôi là không được, do vậy chìm đắm trong vô minh, khổ sầu hoài chưa thoát.
Luôn ghi nhớ trong tâm niệm, cảm giác toàn than, nhận diện năm uẩn, quán bất tịnh và sẽ cảm nhận được ý nghĩa nhiệm mầu trong quá trình hành trì quán bất tịnh. Nó giúp hành giả xa lìa tham muốn, chấp chặt, mê lầm, thị phi, điên đảo. Không có cái gì là mình, của mình. Quán sâu xét kỹ pháp Vô thường, Vô ngã, Niết-bàn tịch tỉnh đang là.
3. Trí tuệ bất tử
Tất cả đại chúng cùng nhau quay về thực hành ba pháp trong khi tĩnh tọa, mắt mở ra nhìn về phía trước, cảm nhận sự sự động chuyển ở ba chỗ chóp mũi, lồng ngực và bụng; mở rộng cảm giác toàn thân, cảm nhận sự di chuyển của hơi thở đi từ đỉnh đầu, mặt, cổ, vai, cánh tay, bàn tay, mình, mông, bàn chân, đến tận các ngón chân. Toàn bộ cơ thể cảm nhận được sự có mặt của hơi thở di chuyển qua từng bộ phận, nội tâm tĩnh giác tỏ sáng. Ba pháp này thực tập mọi lúc mọi nơi, lúc đi đứng ngồi nằm, không phải đợi lúc ngồi thiền mới thực tập, rõ biết trước mặt, trở về hơi thở.
Thực tập cảm giác toàn thân để phát hiện tham sân si ở trong cảm giác, nhìn lại cảm giác để thấy được tham trong đó, sân trong đó, si mê chấp ngã trong đó cái trì trệ hôn trầm lờ đờ nó là si. Sau đó, nhiếp phục cảm hóa nó mới cảm thấy an lạc được. Vì, con rắn trong nhà làm sao mình ngủ yên, đó là bốn con rắn độc!
Thế Tôn nói rằng, nếu trong cuộc đời này mà không có già, không có bệnh, không có chết đức Phật không xuất hiện trên thế gian. Do mình luôn luôn sống trong sự lãng quên, không nhớ mình đã già, đang già và sẽ già, chẳng nhớ mình đang bệnh, đã bệnh và sẽ bệnh, quên rằng một lúc nào đo mình sẽ chết, đang chết và đã chết. Như vậy, cái chết trong tế bào từng bộ phận đang tiến dần tới chỗ hủy hoại, hoại diệt, biến diệt đó là mình đang chết, đã chết trong vòng luân hồi sanh tử.
Tương Ưng Bộ Kinh có dạy rằng: “Này các Tỳ-kheo, này các đệ tử, nước mắt của các ông khóc vì cha chết, mẹ chết, vợ chết, chồng chết, con chết, anh chết, em chết, cô chú, ông bà chết nhiều hơn nước mắt của bốn biển”. Nước mắt của chúng ta đã rơi vì những người thân thương trong vòng luân hồi này rất nhiều. Nếu không có trí huệ quán chiếu, chúng ta sẽ không thấy, cứ ngỡ rằng mình mới sanh ra đây. Không phải đâu, mình đã sanh sanh tử tử muôn ngàn vạn kiếp rồi. Thật vậy, ta đã chết, đang chết và sẽ chết. Luân hồi, mê lầm, vọng tưởng, điên đảo nên giờ đây mình quên nỗi đau đó. Tiếp tục tái sanh trong sự luẩn quẩn của tham sân si nên chưa ra khỏi năm uẩn lẫy lừng mê muội. Vì chúng ta ‘quên hết’, nên giờ đây tiếp tục mạnh mẽ trong dục cầu, nối tiếp sự tranh đấu, bị ràng buộc phiền não với nhau; nếu mình nhớ những điều đã từng vô minh, tất cả phiền não tự động rơi rụng, như nước đổ lá sen, như hạt cải đầu kim.
Chúng ta từng đi dự những đám tang của Phật tử, của người thân, huynh đệ tỷ muội,… Nhưng có bao giờ giật mình và nghĩ rằng cái chết đang xâm chiếm, bủa vây lấy chính mình hay không? Bí mật pháp môn là luôn luôn nhớ mình sẽ chết, đó là pháp môn bí mật, nhớ nó rồi suy xét kỹ thì tham sân si, phiền não tự động rơi rụng. Có như vậy mới buông xả, không để giành thời gian cho thị phi, sân giận với mọi người, nói xấu với người. Vì không có nhiều thời gian cho sự sống, nên sống tốt, sống thiện lành là cách hữu hiệu kéo dài tuổi thọ, cách làm cho mình tự tại, mình với người cùng an vui. Đây là tuệ lực, sức mạnh của trí huệ, sức mạnh của Bậc Chánh Đẳng Giác truyền trao cho Phật tử. Hành giả ơi! Cùng nhớ nhé!
Đa phần gặp gỡ nhau là chúng ta sau màn chào hỏi thăm nhau, bắt đầu kể chuyện tốt mình xấu người. Hoặc than vãn, tham sân si dấy đầy trong câu chuyện. Nhưng lại vui vẻ trò chuyện từ sớm mai tới tối mịt bên tách trà, ly rượu, phiếm luận đó đây. Vậy mà nghe kinh, đọc tụng, đi chùa, gặp thiện tri thức lại e dè, né tránh, bận bịu, trốn tránh. Đặc biệt, hễ ngồi một mình, yên tĩnh cho tâm lắng đọng, để thân và tâm cùng trao đổi chuyện trò thì không thể lâu hơn năm, mười phút. Vì ta sợ đối diện với chính mình, đối diện với sự sợ hãi, cô đơn, nên né tránh, chạy tìm người, nhằm khỏa lấp, mà càng làm vậy thì sự xa rời con đường vào Đạo, con đường giải thoát phiền não càng thêm xa cách với mình.
Bài kinh ‘Già’, Tương Ưng Bộ Kinh, tập 5, trang 338: “Tôi nghe như vậy, một thời đức Thế Tôn ở Sa-va-thi, lúc bấy giờ Thế Tôn vào buổi chiều từ chỗ độc cư đứng dậy, ngồi sưởi ấm lưng trong ánh nắng của phương tây, Ngài Tôn giả A-nan-đa đi đến bên đức Thế Tôn, sau khi đi đến đảnh lễ Thế Tôn với tay xoa bóp chân tay cho Thế tôn và thưa rằng: ‘Thật là kinh hoàng thay, bạch Thế Tôn, thật là kỳ dị thay bạch Thế Tôn; bạch Thế Tôn, màu da Thế Tôn nay không có còn thanh tịnh trong sáng, tay chân rã rời nhăn nheo, thân được thấy còng về phía trước, các căn đang bị đổi khác, mắt, tai, mũi, lưỡi, than…’”.
Đức Phật dạy: “Sự thể là vậy, này A-nan-đa, sự thể là vậy, tánh già nằm trong tuổi trẻ, tánh bệnh ở trong sức khỏe, tánh chết ở trong sự sống. Như vậy màu da không còn thanh tịnh trong sáng, tay chân rã rời nhăn nheo, thân còng về phía trước, các căn đang bị đổi khác, nhãn căn, nhĩ căn, thiệt căn, thân căn, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, Thế Tôn thuyết như vậy, Thiện Thệ nói như vậy”. Bậc Đạo Sư lại nói: “Bất hạnh thay tuổi già, đáng sợ thay cuộc sống, tuổi già làm phai nhạt sắc diện của màu da, hình bóng trước đáng yêu, vừa lòng nay già đã phá tan, ai sống được trăm tuổi cuối cùng cũng phải chết, không bỏ sót ai, tất cả pháp bị phá sập”.
Minh Thành nghe tới bài kinh này rúng động chảy nước mắt, cảm xúc rất sâu sắc chảy nước mắt.
Thông điệp đức Thế Tôn truyền tới chúng ta rất quan trọng, phải biết sự thật của vô thường, khổ là điều hằng hữu. Ngài đã giúp chúng ta phá vỡ lớp mê tín sâu dầy từ trước đến giờ, cứ tưởng tượng đức Phật là một vị giống như trong phim, không lột tả được hết chân lý của đạo Phật muốn nói là già bệnh và chết là cốt lõi của đạo Phật, là sự chỉ bày cặn kẽ để bớt khổ thêm vui, tinh tấn chuyên cần sẽ lên bờ giải thoát. Già, chính đức Phật da nhăn nheo, lưng còng về phía trước khom lưng, tay chân giống như rã rời, mắt mũi đổi khác hết, cho nên mình tu tới giờ này mà cứ ghi tên cầu an, chứng tỏ mình chưa có trí huệ, thân thể làm gì có an ổn trong này, làm gì có sự an toàn trong đây.
Kinh Bất an, không an toàn làm gì có thân cứng chắc bong bóng này:
“Hãy nhìn bong bóng đẹp
Chỗ chất chứa vết thương
Bệnh hoạn và suy tư
Thật không gì trường cửu.”
Đó là sự thật của thân này, thân này giống như bong bóng đẹp nhưng nó nát vỡ, tan ra bất cứ lúc nào, mình đừng tưởng còn trẻ mà cứng chắc. Mọi vật luôn biến đổi. Chúng ta nghiền ngẫm sẽ thấy sự bất an, không có gì là an toàn, vững chãi cả. Đi bộ sát lề cũng có khi bị xe tông vào. Vô tình đi ngoài đường gặp ngya vùng bị nhiễm đường hô hấp, về bị bệnh, lây cả nhà. Đi tàu, xe, máy bay cũng vậy… không biết được sự trọn vẹn của bình an. Không phải nói để chúng ta thấy sao mà yếm thế, khổ đau quá vậy! Mà để vạch ra cho mình cách sống tốt hơn, ý nghĩa thiết thực, ngay đây và bây giờ có ích lợi cho mình, cho người. Đừng lãng phí tuổi trẻ làm chuyện không hay, đừng lãng phí tuổi trẻ vào những cuộc đua thị phi, tham sân si trong biển vô minh. Đừng chờ già mới tu. Tu ngay khi còn trẻ và lúc nào có dịp, chớp lấy cơ hội để mang lại sự quân bình tỉnh táo và sáng suốt trong công việc, đời sống bản thân và gia đình...
Đức Từ phụ thị hiện thân già, bệnh, chết để cho chúng ga thấy rõ sự vận hành của vô thường là như vậy, không thoát ra. Muốn thoát chỉ còn cách tu hành cho chân chánh thì cái chết kia là rũ bỏ túu da hôi thối để đi vào cõi sống bất tử thường hằng, còn gọi là Thường Tịch Quang Tịnh Độ.
Tánh bệnh ở trong sức khỏe.
Dù cho cơ thể chúng ta đang rất khỏe mạnh, bình thường, lành lặn, nhưng tánh bệnh nó tiềm ẩn, phục kích chờ khi tứ đại tiêu hao nguyên khí, chờ khi mình sục sịch cơn ho cảm, uể oải gì đó là nó xông lên đánh một trận cho mình ngã gục. Người ta hỏi mình khỏe không, mình cứ luôn miệng nói là tôi khỏe lắm à, rất khỏe, rồi thờ ơ với thân thể, làm việc lao lực tới khi sơ sẩy thì nguy hại cái thân, còn đâu phương tiện để mà hành trì công phu trên bước đường giải thoát.
Bất hạnh thay tuổi già.
Bất hạnh là không may mắn khi tuổi về già, tuổi của hư suy, bệnh tật, không làm chủ được cơ thể. Nhưng tuổi già mà mình còn đi chùa nghe pháp, tụng kinh, lạy Phật được thì coi như còn chút may mắn. ai mà có tuổi già phải nằm một chỗ, đại tiểu tiện một chỗ, ngồi xe lăn, sống dở chết dở thì đó thật là điều bất hạnh của kiếp người khi ở tuổi xế chiều. Có trường hợp, người mẹ kia bị hỏa hoạn cháy nằm một chỗ bỏ lại đứa con mười mấy tuổi, đứa con gào khóc xót xa khi chứng kiến mẹ nó rớt ra từng miếng thịt và bị hoại tử.
Có những người tuy đã già, đã mang nhiều chứng bệnh vậy mà cũng không thể nán lại một chút cho biết niệm Phật, nghe kinh, nghe pháp. Cứ xem ti vi coi phim, nói chuyện đông tây suốt ngày thì được, cho nên khổ hoành hành thân tứ đại. Có cô kia chân bị sưng phù, ăn không được, tiểu cũng khó khăn, người nhà là Phật tử mới nói lên núi cho thay đổi không khí, thuốc thang điều trị cũng đã hết cách, vậy mà cũng không thể lên núi ngắm cảnh, nghe kinh một đôi ngày. Cảnh già đó rất đáng thương! Tâm chúng ta bị chấp, vướng mắc, khó tháo gỡ, tới một ngày nào đó mình không thể nhúc nhích nổi cái than này, muốn làm gì cũng không được, muốn nhấc cánh tay lấy li nước uống, cầm chén ăn cơm không xong thì chao ôi! Sầu khổ đó mới não nề. Bây giờ quán chiếu sâu như vậy, thấy cho được não hại, bức ngặt của thân tứ đại nương gá mà thành này, để ra công tu hành, buông xả ganh tỵ, muốn hơn nhau, giành giật, chiếm đoạt, cưỡng cầu,… tất cả chỉ mang lại khổ và nuối tiếc. Chỉ có buông xuống, bỏ đi và quán cho sâu vào ngày mình ra đi về với cõi chết có mang theo cái gì đâu, có chăng chỉ là nghiệp như bóng với hình theo mình. Nó chẳng rời mình. Nghiệp thiện ác lúc đó xâm chiếm lien tục, não hại vô cùng. Nghe, thấy và ngẫm để mà sợ hãi, nhằm diệt tận tham sân si, đoạn trừ những móng khởi của tôi, là tôi, của mình, bản ngã cao kia phải đốn nó, làm cho nó gãy đổ thì mới an vui, nhẹ nhàng.
Phật dạy các pháp vô thường, thân này già, bệnh, chết để tâm mình thoát ly; khi nhắm mắt đi một cách nhẹ nhàng. Những điều này đều là giả, không có thật thì mình mới siêu thoát. Đức Phật tròn đầy trí huệ, chỉ dạy tỏ tường cho mình mà mình càng bám chấp nặng chỉ càng thêm khổ. Hoặc như, có ông vua nọ, hoàng hậu chết nên ông đã đau khổ, buồn thương, tiếc nuối, không tin đó là sự thật nên cứ ôm xác chết mãi, chẳng lo việc triều chính, quốc sự để đó…. Cuối cùng, các vị quan năn nỉ mãi, ông mới đi tới đức Phật để nghe thuyết bài pháp về vô thường, tham ái,… Ông vua tỉnh ngộ, về hỏa táng hoàng hậu liền, ái dục nó sâu sắc, mạnh lắm, có thể nhấn chìm, dìm cho mình chết, cho tất cả điên đảo.
Tuổi già làm phai nhạt sắc diện của màu da.
Hình bóng đáng yêu thời tuổi trẻ đã bị tuổi già tước đoạt, nó xâm chiếm có khi rất nhanh chóng với người này, có khi rất chậm chạp với người kia nhưng diễn biến của già là không ai có thể trốn tránh, phải chấp nhận nó và biết đó là một sự thật của vòng xoay sanh, già, bệnh, chết. Chúng ta thấy bà cụ tám chục tuổi lưng còng, má hóp, răng rụng, mặt mày nhăn nheo, mắt mờ, tai điếc, đi lại chậm chạp phải có gậy chống đỡ, ăn uống rất chậm và nhai nuốt khó khăn,… bao nhiêu hình ảnh đó đủ cho lòng ta phải xót xa cho người và nhìn lại xót xa cho mình càng nhiều hơn. Bởi, đó là tương lai của mình. Nếu không chánh niệm, tu hành ngay đây và bây giờ thì sẽ không có một tuổi già an vui, hạnh phúc, mà nó sẽ là của bệnh tật, khổ đau… Hoặc những em bé, người tàn tật phải đội nắng, mưa gian khó mà mưu sinh bên những xấp vé xố may rủi cho cuộc đời. Thấy tội lắm, thương lắm, xót xa lắm…
Dù cho sống trăm tuổi, cuối cùng cũng chết, cái chết không bỏ xót một ai, tất cả đều bị phá sập. Do đó, đừng để tâm nhiều đến thế sự, đến phiền não sự, đến thị phi sự. Vì nó không đem lại lợi lạc cho mình và người, chẳng phải là pháp cứu cánh vượt thoát ngục tù luân hồi sanh diệt, phải buông xuống mạnh mẽ, nghiền ngẫm nghe pháp, học kỹ xét sâu lại thân tâm năm uẩn này để hành trì. Rõ biết sáng suốt tất cả là sự nương gá vào nhau, là nhân duyên hợp thành, có cái gì để mà yêu quý, nuối tiếc gìn giữ mãi vì thân, cần lo tâm nhiều hơn. Từ đó, trí huệ sáng soi trong tuổi già, pháp thế gian khi mà mình nằm bệnh thì nó chẳng giải quyết được gì, chỉ có nuôi sáng huệ mạng này, may ra lúc gặp nguy khốn còn chút định tâm mà suy xét, nghĩ điều chân chánh đúng như thật. Còn không, chúng ta mãi loanh quanh, nhiều khi mình làm ra vật chất rất nhiều, giàu có của cải nhưng chính tài sản của cải đó đang ngày đêm thắt chặt, xiết lại, trói buộc mình trong đó, không thể cục cựa gì hơn. Như vậy, cái đó chẳng có ích thiết thực lâu dài, nó chỉ tạm nuôi thân mạng hoặc thỏa mãn cho sự tham, sân của mình ở thời tuổi trẻ, ngay khi lên đến hang bảy chục cũng không bỏ công việc được, tiếc việc, sợ mất của, nắm níu. Chỉ có biết Phật pháp mới mở những thắt gút trói buộc kia ra được.
Tăng Chi Bộ Kinh, tập 1, trang 247, kinh Diêm Vương:
Đức Phật nói có ba Thiên sứ, Thiên sứ là sứ giả của Trời.
- Có người thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác, sau khi chết, người đó rơi vào cõi dữ, địa ngục. Những lính địa ngục bắt người đó dẫn đến Diêm Vương và ‘thưa đại vương, người này không kính mẹ, không kính cha, không kính sa môn, không kính những người tu hành, không tôn kính các bậc lớn tuổi trong gia đình, đại vương hãy trừng phạt nó’.
Vua Diêm Vương mới chất vấn người phạm tội đó rằng:
- Này Người kia, người có thấy thiên sứ thứ nhất hiện ra giữa loài người hay không?
Người đó trả lời:
- Con không thấy, thưa Ngài.
- Ngươi có bao giờ thấy giữa loài người có người đàn bà hay đàn ông tám, chín chục tuổi, một trăm tuổi già yếu, người cong như nóc nhà, lưng còng chống gậy, vừa đi vừa run rẩy bệnh hoạn, tuổi trẻ đã tận, răng rụng tóc bạc, hư rụng xói đầu, da nhăn, người khô đét, Ngươi có thấy người đó không?
- Dạ thưa con thấy.
Rồi này các Tỳ-kheo, vua Diêm ma nói với các người ấy như sau:
- Này người kia, với ngươi là người có trí và lớn tuổi, ngươi có nghĩ rằng ta rồi cũng bị già, ta không vượt qua được tuổi già, vậy ta hãy làm điều lành về thân về lời nói và về ý.
- Người đó thưa rằng, không thưa Ngài, con không có làm, con buông lung phóng dật.
Đây là thiên sứ thứ nhất, tức là già.
Hồi đó, chúng ta còn trẻ, khi đi ngang ai đó sẽ có biết bao ánh mắt nhìn dõi theo, bây giờ đi ngang không ai nhìn, bất hạnh thay tuổi già. Đã như vậy, đức Phật nói, người có trí cũng bị già, ta không vượt qua tuổi già, ta hãy làm điều lành về thân, về khẩu, về hành, về ý, nhưng ở đây con không có làm, con buông lung phóng dật, con ham chơi, con mê ngủ, thích ăn. Cần phải mạnh mẽ lên để chiến thắng nó. Phải luôn nhớ kỹ, tất cả rồi chúng ta sẽ già, bệnh, chết. Thường xuyên quán niệm già, bệnh, chết, ngay khoảnh khắc ấy chúng ta đang trở về tự thân của mình, trí huệ của mình để nỗ lực tu hành. Mình không nhiếp thân, khẩu, ý, chẳng quản thúc nó, không có bảo hộ thì nó chạy bậy giống như chăn trâu không cho giẫm đạp lên lúa; cũng như lái xe phải rà thắng chân, lúc nào cũng phải rà, cần phải đạp lại liền, mình chạy xe thắng đứt thì nguy to. Chớ có buông lung, đừng phóng dật, hàng ngày tu niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm Giới tinh tấn nỗ lực. Bởi, tu không phải dễ, được gặp bậc thiện tri thức khó lắm, nên mình phải trau dồi, không ngừng học hỏi và rèn luyện.
“Này người kia chính vì do buông lung, phóng dật, người đã không làm các điều lành về than, về lời, về ý. Thật vậy, này người kia, chúng ta sẽ làm cho người đúng theo như buông lung, phóng dật của ngươi, ác nghiệp ấy của ngươi không phải mẹ làm, không phải cha làm, không phải anh bà con huyết thống làm, không phải trời làm, không phải sa môn, người tu hành nào làm, ác nghiệp ấy chính do ngươi làm và ngươi sẽ lãnh quả dị thục của ác nghiệp ấy”.
Ác nghiệp của mình làm, sự buông lung phóng dật co mình gây ra thì tự mình mang lấy tất cả hậu quả đó, chẳng ai giúp mình nhận lãnh, cũng chẳng thể đổ thừa, né tránh được. Không nên đi chùa đổ thừa tại ông Thầy, tại bà kia, mà không phải tại mình, tại tâm mình, tại mình không biết tu, chẳng biết nhẫn, không biết hiểu mình không biết bao dung tha thứ, độ lượng. Có trí huệ để mình thấy được vấn đề, sự việc đó không nên đổ thừa cho người ta; trong gia đình mình cũng vậy. Chính mình gây ra nghiệp ác, mình sẽ thọ lãnh quả dị thục ác nghiệp đó, quả dị thục là quả chín mùi. Khi quả chín là mình phải nhận lấy, nhiều khi quả còn sống, còn non, mình chưa nhận nhưng quả chín là mình phải nhận, quả đó là mình gieo trồng thì tự gặt hái. Do đó, cẩn thận đối với nghiệp, không nên xem thường, nghiệp quả thật là đáng sợ. Dù cho là suy nghĩ xấu về người khác cũng không được, tuyệt đối bỏ. Xưa từng nói lời nói không tốt về người khác, nay phải chấm dứt liền. Một hành động bất thiện là tâm ý phải kịp thời ngăn chặn, diệt trừ, thay đổi liền. Nếu không, chính mình nhận lấy hoa trái của nghiệp quả đó.
Những đất nước liên miên chiến tranh không tự nhiên bị, mà là do nghiệp quả trong quá khứ gây ra. Hay những nước có nhiệt độ nóng lên một cách dữ dội gây ra hàng loạt người chết, nhiều nơi toàn là người nghiện hút chích xì ke ma túy, ăn chơi trác tang, hoặc là có chỗ toàn người mù, trại tâm thần toàn điên loạn,… tất cả đều là nghiệp quả đáng sợ. Trong quá khứ người ta gieo nghiệp tạo nên quả mù lòa, câm ngọng, điếc, sanh ra đã bệnh, những bệnh lạ, dị tật, có khi chưa sanh đã chết hoặc sanh ra rồi bỏ trước cổng chùa, sanh ra rồi bỏ ngay bệnh viện…. Đều là tạo nghiệp, gieo nghiệp rồi nhận lấy nghiệp cả!
Trong bốn sự chẳng thể nghĩ bàn có một nghiệp quả dị thục bất khả tư nghì, tức là khi nghiệp quả chín muồi, không thể nào tưởng tượng được nếu mình suy nghĩ, mình cố gắng suy nghĩ mình sẽ điên loạn và đi tới chỗ chết. Nên mình thấy có những người tại sao làm những chuyện như vậy,… đó là nghiệp quả chín muồi trổ ra, có những người thấy tự nhiên chết hay có những người bị thương, có những người mới lên đỉnh cao của danh vọng chợt sập xuống ở tù hay tự tử, điên loạn, thất tình, phá sản… Tất cả đều do quả chín muồi của nghiệp biểu hiện ra.
Thiện nghiệp gieo trồng thì đời nay vui, đời sau vui, tiếp tục bao nhiêu đời vui. Do vậy, mình làm những việc thiện, công đức nên nghiệp lành sẽ gắn kết với mình, nó đồng hành với mình hết đời này đến kiếp khác, trừ khi nào mình chấm dứt tất cả nghiệp để mình vào Niết-bàn, lúc đó mình thoát khỏi luân hồi sanh tử. Còn bây giờ vẫn trong luân hồi sanh tử, nên nghiệp rất quan trọng, phước rất quan trọng, công đức rất quan trọng.
- Này người kia, ngươi có thấy vị thiên sứ thứ hai hiện ra giữa loài người không?
- Dạ con không thấy, thưa Ngài.
- Này người kia, người có bao giờ thấy giữa loài người có một người đàn bà hay đàn ông bệnh hoạn, khổ não, nguy kịch rơi nằm trong tiểu tiện và đại tiện của mình, phải cần người khác nâng dậy, phải cần người khác dìu cho nằm xuống?
- Thưa Ngài, con có thấy.
- Ngươi có nghĩ rằng ta đây rồi sẽ bệnh, ta sẽ không vượt ra khỏi bệnh hoạn, vậy ta hãy làm các điều lành về than, về miệng, về ý không?
- Dạ không, thưa Ngài, con không có làm, con buông lung, phóng dật thưa Ngài.
Bệnh hoạn khổ não nguy kịch rơi nằm trong tiểu tiện và đại tiện, cảnh này tưởng thôi cũng thảm rồi, đừng nói chi mình vướng trong cảnh đó.
Cần người khác nâng dậy cần người khác dìu cho nằm xuống, muốn ngồi lên hay nằm xuống phải có người đỡ.
- Này người kia, ngươi có thấy thiên sứ thứ ba hiện ra giữa loài người hay không?
- Dạ con không thấy, thưa Ngài.
- Này người kia, ngươi có bao giờ thấy giữa loài người có một người đàn bà hay người đàn ông chết, đã được một ngày hay chết được hai ngày hay chết được ba ngày, sưng phù lên, xanh xám lại rồi nát rữa ra hay không?
- Ngươi có nghĩ rằng, ta rồi cũng bị chết, ta không vượt qua cái chết, nên ta hãy làm điều lành?
- Dạ không, con buông lung, phóng dật, con ham chơi thưa Ngài.
- Này các Tỳ-kheo, những người lính địa ngục bắt người ấy chịu hình phạt gọi là năm cọc, họ lấy cọc sắt nung đỏ đóng vào một bàn chân, cốp, họ lấy một cục sắt nung đỏ đóng vào bàn tay thứ hai, cộp, họ lấy một cục sắt nung đỏ đóng vào một bàn chân thứ hai, đóng vào giữa ngực, cộp, cộp. Ở đấy, người ấy lãnh thọ các cảm giác đau đớn cực khổ, thống khổ khốc liệt, nhưng người ấy không thể mệnh chung, không có chết được cho đến khi ác nghiệp của người ấy chưa được tiêu trừ.
Đó là cứu cánh bất tịnh, sự không sạch sẽ nhơ nhớp tới tột cùng là chỗ này, sình ra thối rữa, xì ra.
Ngày nào, hành giả cũng hành trì pháp quán bất tịnh, bản chất thân thể.
Vì nghiệp chưa hết nên phải sống để trả nghiệp. Vì xưa kia sân hận, chém giết người ta nên bị hình phạt như vậy.
- Này các Tỳ-kheo, các người lính địa ngục bắt người đó nằm xuống, rồi lấy rìu chặt người ấy; dựng ngược người ấy lên, chân lên trên, đầu xuống dưới; lấy dao sắc chặt người ấy; cột người ấy vào chiếc xe kéo chạy tới chạy lui trên đất, đốt cháy đỏ cháy thành ngọn, cháy đỏ rực;lính địa ngục đẩy người ấy lên, kéo người ấy xuống một sườn núi đầy than hồng cháy đỏ, cháy thành ngọn, cháy đỏ rực, không chết được; nắm ngược người đó, chân phía trên đầu, phía dưới quăng người đó vào vạt dầu bằng đồng nung đỏ, cháy đỏ cháy thành ngọn, cháy đỏ rực, người ấy ở đây bị nấu bởi bọt nước sôi sùng sục, khi trôi nổi lên trên khi thì chìm xuống dưới đáy, khi trôi dạt ngang người ấy lãnh thọ cảm giác đau đớn cực khổ, thống khổ, khốc liệt nhưng người đó không thể mệnh mạng chung cho đến khi ác nghiệp người đó được tiêu trừ.
- Có bốn góc bốn cửa chia thành bằng nhau xung quanh có tường sắt, mái sắt lợp lên trên, nền địa ngục bằng sắt nóng đỏ cháy đỏ rực, đứng thẳng luôn có mặt rộng một trăm do tuần, một do tuần là mười tám cây số, mười tám cây số nhân lên một trăm lần, bất hiếu với cha mẹ, bất kính với bậc sa môn phạm hạnh giới đức, tham sân si lẫy lừng rơi vào cảnh đó.
- Một thời xưa lắm, này các Tỳ-kheo, vua Diêm Vương mới suy nghĩ như sau, những ai làm ác nghiệp ở đời phải lãnh thọ những hình phạt sai khác như vậy, mong rằng ta được làm người và Như Lai bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác xuất hiện ở đời, ta có thể hầu hạ đức Thế Tôn, đức Thế Tôn thuyết pháp cho ta và ta có thể thông hiểu pháp do Thế Tôn thuyết giảng.
Ông vua Diêm Vương suy nghĩ, ông mong rằng ông được gặp đức Như Lai ra đời, bậc Chánh Đẳng Giác, ông được hầu hạ đức Phật và được nghe đức Phật thuyết pháp để hiểu được diệu pháp.
- Này các Tỳ-kheo, điều ta đang nói, không phải ta nghe từ một sa môn hay một bà-la-môn nào khác, những điều ta đang nói chỉ được ta biết, chỉ được ta thấy, chỉ được ta hiểu.
Đức Phật nói những điều trên đây không phải do nghe từ chỗ nào, người khác mà chính sự thấy biết tột cùng của Ngài. Do chúng ta chưa thành tựu được thiên nhãn, nên không thấy được những bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác, cho nên bây giờ nghe người nào nói không có địa ngục coi chừng đi vào tà kiến. Vì đức Phật nói rõ ràng trong kinh tạng Nikàya, phải tin lời của Phật nói để mình tu.
Đức Phật nói bài kệ kết thúc:
“Dầu Thiên sứ báo động
Thanh niên vẫn phóng dật
Họ ưu buồn lâu dài
Sanh làm người hạ liệt”.
Phóng dật, buông lung sẽ ưu buồn lâu dài sanh làm người hạ liệt thấp hèn, bị đọa địa ngục, súc sanh khổ não vô biên.
“Đây bậc chân nhân
Được thiên xsứ báo động
Không bao giờ phóng dật
Trong diệu pháp bậc Thánh
Thấy sợ trong chấp thủ
Trong hiện hữu sanh tử
Được giải thoát khỏi thủ
Sanh tử được đoạn trừ
Được yên ổn an lạc
Ngay hiện tại tịch tĩnh
Mọi oán hận sợ hãi
Các vị ấy vượt qua
Mọi đau đớn khổ sầu
Thảy đều được siêu thoát.”
Bậc chân nhân là bậc thật sự tu hành gọi là bậc chân nhân, đệ tử chân chánh của Phật, thấy được Thiên sứ báo động là họ không buông lung, phóng dật, tinh tấn tu tập để chấm dứt tất cả sanh tử, thành tựu yên ổn, an lạc.
Chương 5:
GỘI SẠCH VẾT NHƠ
1. Ơn sâu nghĩa nặng – pháp quán thân
Một trong bốn trọng ân của người con Phật hằng nhớ là ơn cha mẹ, gia đình quyến thuộc. Nhắc nhở bản thân, nói với người thân cũng là lời chia sẻ sách tấn cùng huynh đệ trước đường tu hành.
Khi bước vào tuổi già sẽ luôn trong tình trạng bệnh tật, đau ốm liên miên, khó ăn, khó ngủ,… tuổi của nghiệp chướng và mong manh như tim đèn sắp tàn lụn. Nhìn cảnh người già để nhắc nhở mình rồi cũng sẽ như vậy, nếu bây giờ không khéo tu hành, về sau sẽ khổ lụy rất nhiều! Có lần Minh Thành nhân chuyến chia sẻ pháp tại chùa quê, đã ghé thăm cô Sáu và cô Út, cô Đồng Tâm là những người thân, nhắc nhở quý cô chú của mình nên dụng tâm cho thời gian tu hành để mai này làm hành trang nghiệp lành ra đi nhẹ nhàng hơn.
Đời sống cư sĩ luôn có nhiều chướng duyên hơn trên bước đường tu tập. Bởi, họ phải mưu sinh, lo toan nhiều việc khác, thời gian công phu không dễ gì được thường xuyên, liên tục… có chứng kiến những nỗi khổ trong gia đình, hàng xóm, đó đây mới thấy đời sống xuất gia là một điều kỳ diệu, phước báu rất lớn, không dễ gì người cư sĩ có được.
Chúng ta nghe lời Phật dạy về Vô thường, Khổ, Vô ngã rất nhiều lần, tuy vậy mình vẫn chưa thấm pháp, chưa thấy rõ lẽ thật, vì cứ nghĩ là Phật đang dạy ai khác, nói người nào đó chứ không phải nói với mình, chỉ cho mình… Vậy là ngày tháng mặc sức rong chơi, thỏa sức tiêu pha phước đức có được trong cõi người. Khi nào kiệt cùng, giật mình thì cũng là lúc hấp hối, không thể đi đâu, làm gì khác, mọi hoài bão, đam mê, phóng túng đành im trôi theo dòng nước. Lúc này, nghiệp chướng, oan gia trái chủ công phá lại mình. Khổ lắm!
Thấy người già, người bệnh, người bị tàn tật,… đều là những tướng khổ, hoại diệt hiện ra cảnh tỉnh cho mình biết, cần chiêm nghiệm sâu sắc. Mỗi khi đi vào bệnh viện thăm ai đó, có khi phải kềm chế nước mắt tràn ra, dù người đó là người dưng. Vì cảnh đau đớn thân bệnh và giày vò tâm bệnh của những bệnh nhân nơi bệnh viện là một bài pháp lớn cho mỗi hành giả thực tập pháp Vô thường, Vô ngã, Khổ, Không, quán bất tịnh.
Cách đây ba ngày, sau khi tọa thiền Minh Thành nằm ngả lưng ‘thấy’ bà Út nằm chết miệng méo, rất không tốt lành. Còn bà Sáu thì oằn oại trên giường bệnh, nước mắt ràn rụa, lúc đó Minh Thành rơi lệ, thức giấc. Ngay sau đó, gọi điện thoại cho cô Út, lúc đó cô đang tụng kinh, báo cho cô hay mới thấy một giấc chiêm bao như vậy, tùy mấy cô suy nghĩ, chỉ cho biết vậy thôi!
Thế rồi, cô Út mới hỏa tốc đưa bà Sáu với bà Út lên núi Linh Quy Pháp Ấn tịnh tâm tu học. Không phải xuất gia rồi là buông bỏ hết người thân, gia đình, mà tùy duyên phương tiện khéo đưa họ trở về nương tựa tinh thần trong giáo pháp đức Phật. Minh Thành nói việc nằm chiêm bao về cảnh xấu của hai người bà và kể cho cô Út nghe đó là trách nhiệm. Vì muốn báo ơn các bà, các cô. Chỉ sợ rằng mình thấy như vậy mà không nói ra, chia sẻ cho người thân, cảnh tỉnh Vô thường để họ biết mà giữ giới, tinh tấn tu hành, giữ đúng và trọn vẹn pháp của người cư sĩ thì thấy lòng nhẫn tâm, tội nghiệp cho họ.
Bà Sáu và bà Út đã không quản ngại tuổi cao sức yếu, nghe lời nhắc nhở đã đi lên núi Linh Quy Pháp Ấn, tu tập cùng đại chúng, bòn phước tuổi xế chiều. Minh Thành mừng nhưng cũng lo, mừng vì họ cũng có tỉnh giác, cũng biết quay về chánh pháp. Còn lo là họ mới lên núi tu học được hai ba ngày đã hỏi ‘cho tôi ở mấy ngày rồi được về quê nhà lại’. Thân trên núi mà tâm dưới đồng bằng, thân khoác áo tràng mà tâm lao xao chốn thị phi, nguy lắm thay!
Chúng ta phải chuyên tâm nghiền ngẫm kinh kệ để thực hành. Mình tâm đắc Phẩm Già của kinh Pháp cú:
“Cười gì, hân hoan gì,
Khi đời mãi bị thiêu,
Bị tối tăm bao trùm,
Sao không tìm ngọn đèn.”
Chúng ta mãi lo cười vui, ham ăn, mê chơi, thích ngủ, không biết rằng tấm thân này đang bị thiêu đốt, tuổi già đã tới, sự suy hại xuất hiện trên thân và tinh thnầ khôn sáng suốt như xưa nữa, sao không đi tìm ngọn đèn? Nếu như vô thường, bất thình lình đến biết mình sẽ đi về đâu. Được sống làm người, thân căn đầy đủ, có nhân duyên với đạo Phật, biết được giáo pháp để hành trì là phước đức lớn lắm. Nếu lo vui chơi hưởng phước, khi phước tận, đức tàn thì biết đến bao lâu mới được có duyên lành gặp lại chánh pháp, hết phước đó rồi mình sẽ rơi trong đọa lạc.
“Sắc này bị suy già
Ổ tật bệnh mỏng manh
Nhóm bất tịnh đổ vỡ
Chết chấm dứt mạng sống.”
Thật vậy, thân này là nhóm chứa tật bệnh. Chẳng hạn, nói về cái răng bị bệnh. Nó bệnh là do thức ăn nhét vào kẽ răng nhiều quá! Hôm đó, bác sĩ nha nói ‘cái răng này’ phải bọc sứ, Minh Thành đã bọc sứ răng lại. Lần trước ở trong thất, tháo răng bọc sứ ra cho dễ chịu rồi quên gắn vào, cái răng giả đó nằm yên trong thất hai tháng liền. Hôm rồi răng bị nhức và sưng, ngay đó mình đã quán chiếu ‘mới nhức răng chút xíu mà thân thể đã không thoải mái’.
Hoặc như chúng ta có Phật sự phải đi ra ngoài nhiều giờ trong ngày, có khi ngồi xe lâu, đến chiều tối nghỉ ngơi mới cảm nhận sự đau nhức, mệt mỏi của cơ thể này. Nó đau lưng mình biết thân này nó đang đau lưng, thân này là nhóm chứa ổ bệnh hoạn, đủ thứ vi trùng xâm nhập và sanh trưởng. Cho nên, chúng ta không khổ cái bệnh đó mà mình thấy rõ ở thực tướng thân này, nhằm giúp thêm tinh tấn hơn nữa. Vì sợ vô thường tới, chết chấm dứt mạng sống, lúc đó thiện pháp chưa có viên mãn, trí huệ mình chưa thành tựu cứu cánh nên mình phải dốc sức.
Hành giả thường xuyên tinh cần việc quán chiếu ổ tật bệnh luôn chực chờ cơ hội nảy nở trong thân này. Tấm thân này mỏng manh và quả thật rất bất tịnh. Đừng nghĩ chỉ có người già mới quán chiếu điều này mà người càng trẻ càng nên quán chiếu sâu sắc về nó. Từ đó, biết trân quý cuộc sống hữu hạn, để ra công, nỗ lực trên bước đường hành trì cho bản thân và mọi người cùng nhau chuyển hóa từ sông mê sớm sang bờ giác.
Không dễ gì được làm người biết được Phật pháp, có nhân duyên tu hành xuất gia. Vậy nên cùng nhau nhắc nhở, dìu dắt nhau ra khỏi bóng tối vô minh, chấp ngã. Trong kinh kể, một trăm năm con rùa mù dưới đáy biển mới nổi lên, ngay đó nó nổi lên trúng ngay bọng cây đang trôi trên mặt biển rồi con rùa mù đó chui vào trong bọng cây và bọng cây này theo con song đưa cả hai vào đất liền. Điều đó rất khó, vô cùng khó, cũng ví như mình được làm người và được nghe, gặp chánh pháp thì còn khó gấp trăm ngàn lần, gặp bậc thiện tri thức cho mình thoát khỏi luân hồi sanh tử khó hơn gấp ngàn lần. Bây giờ, chúng ta có được Tam bảo, có thiện tri thức dẫn đường để hành trì tu tập mà không chịu trân quý, chẳng ra công sức nuôi huệ mạng, góp phước, tích đức thì một khi than hoại mạng chung sẽ chẳng biết đi về nơi nào.
Cái thân này đúng là ổ bệnh tật mỏng manh, hôm rồi, nghe đài báo tin bên Campuchia nhiều người dân phải nhập viện do đường nước bị ô nhiễm. Bất cứ chuyện gì cũng có thể làm cho mình bệnh được. Ví như, ăn thức ăn không hợp thể trạng hoặc mất vệ sinh trong thức ăn, bị ngộ độc; hít không khí độc, bị ngạt hơi, ngất xỉu, chết; bệnh từ nhẹ tới nặng, từ có thuốc trị liệu được cho tới Y học chưa tìm ra cách chữa trị.
Bệnh nhiều là do lòng tham của con người. Vì ham lời mà bất chấp mạng sống người khác, chỉ cần người bán được, còn người mua bị gì cũng mặc kệ. Tham sân si trùng trùng, lửa hiềm hận dâng cao, đạo đức suy thoái, nhân nghĩa hiếm có, con người dễ dàng bị kích động và sẵn sàng đâm chém nhau cho tới chết dù việc đó chẳng đáng. Có những điều không tưởng tượng nổi con người bây giờ.
Khi tham sân si lên tới cực độ, nghiệp xấu ác giăng bủa khắp nơi thì thọ mạng bắt đầu giảm xuống rất nhiều. Bây giờ nghe đủ thứ chuyện không thể không tin, cứ nghĩ như không bao giờ có, vậy mà nó nhan nhản. Nào lào cướp, giết, hiếp, nào là suy thoái đạo đức và nhiều thứ khác nữa. Con người ta dễ nổi nóng, mau bực tức, bị áp lực sinh ra nhiều đổ vỡ, dậy sóng… Thân tâm bất an. Lửa dục nó lên nhưng không kiểm soát, chẳng làm chủ được hành vi nữa, nên mới sanh ra đủ thứ rắc rối cho mình, cho người… Năm uẩn vận hành bất tận, đi lên Thánh quả hoặc xuống Địa ngục là do mỗi người tự thân nỗ lực tinh cần.
“Thân này làm bằng xương
Quét tô bằng thịt máu
Ở đây già và chết
Mạn lừa đảo chất chứa.”
Khung sườn của thân này là bộ xương, da bọc thịt, thịt bọc gân, gân bọc xương, xương bọc tủy, quét tô bên ngoài bằng thịt với máu, màu da giống như lớp sơn tường, sơn màu trắng hay sơn màu đen, nâu hay sơn màu vàng, màu xanh, già và chết mạn lừa đảo chất chứa, mạn là sự kiêu mạn, ngã mạn, mà mình không biết. Rồi ý thức cùng với hàng loạt thọ, tưởng, hành, thức lừa dối mình, tham dục dấy khởi miên man, bản ngã đánh tráo khái niệm, lật ngược sự thật, che đậy chân thật, trốn tránh sự thật, sân hận bao phen làm mình mê muội, mất hết rừng công đức. Tất cả vì thiếu trí huệ nên không thấy sự thật. Mình cứ tưởng là mình nhưng thật ra năm uẩn điều khiển hết.
“Lúc trẻ không phạm hạnh
Không tìm kiếm bạc tiền
Như cây cung bị gãy
Thở than những ngày qua.”
Lúc trẻ không giữ gìn thân trong sạch, tâm thiện lành, chẳng chịu nỗ lực làm điều có ý nghĩa, ích lợi, chưa thật tâm cố gắng tu hành giống như khi mình còn trẻ không chịu đi làm ăn có tiền để dành, tới lúc già như cây cung bị gãy, thở than tháng ngày qua, cây cung bị gãy nằm một đống, vô dụng cũng như con người lúc đó đại tiểu tiện tại chỗ, sống không xong, chết cũng chẳng được.
Ngay khoảnh khắc này trở về sau, Minh Thành muốn tất cả thành viên trong gia đình mình huân tu nhiệt thành hơn nữa, buông xuống việc đời, sống trong đạo pháp để rõ biết rằng mắt tai mũi lưỡi thân ý này là Vô thường, Khổ, Vô ngã. Hạnh phúc thay, ngày nào đó mọi người đều vào dòng pháp trong cuộc tao ngộ chốn an lành. Như vậy, kiếp luân hồi này con trả ơn xong tình quyến thuộc, các cô lo cho con từ nhỏ tới bây giờ, các cô phải nhận thì con mới trao được! Phải chịu khó vượt qua những cảm giác không thoải mái, thọ trói cột. Vì mình ở nhà cảm giác thoải mái hơn, đó là cảm giác chứ không phải mình; ở nhà muốn ăn uống, ngủ nghỉ tùy theo cảm tính. Còn ở am tự thì cần khắt khe giờ giấc sinh hoạt. Tôi rèn lại là điều không phải một ngày, hai ngày là xong, các cô cần kiên trì, trong kiếp này phải nỗ lực, không dễ gùi gặp được chánh pháp, tri kiến thiện tri thức không phải dễ.
“Hãy xem bong bóng đẹp
Chỗ chất chứa vết thương
Bệnh hoạn nhiều suy tư
Thật không gì trường cửu.”
Minh Thành ở trong thất nghiền ngẫm và đọc ít nhất trăm lần, đi kinh hành, ngồi nhìn bộ xương rồi quán chiếu:
Hãy nhìn bong bóng đẹp
Chỗ chất chứa vết thương
Thân mình là bong bóng, nhìn xa xa lấp lánh đủ màu, bong bóng đẹp nhưng chút xíu nát, cái gì chạm tới đó nó bể; quán chiếu thân này là bong bóng, sáu bảy mươi tuổi giống bong bóng vào nhà tắm trơn trượt, té không ngồi dậy được nằm luôn một chỗ, mình được cái phước kéo dài tuổi thọ, ít bệnh nhưng cuối cùng cũng chết, điều quan trọng trong cái kéo dài thọ mạng chúng ta đã làm gì có ý nghĩa trong việc tu hành để tăng phước đức, huệ mạng.
Đừng để sống một trăm năm cũng không được cái gì, sống cho qua ngày, không biết ý nghĩa đích thực của sự sống. Do vậy, gặp được chánh pháp, diện kiến chân nhân, được thiện tri thức chỉ bày cho mình pháp tu chân chánh, đó mới là tối thượng, tối tôn, tối quý trọng nhất trong dòng luân hồi này. Pải biết pháp quý hơn vàng bạc châu báu, tài sản trên đời này không thể so sánh được. Khi thân hoại mạng chung, không mang theo của báu thế gian mà chỉ mang theo nghiệp lành dữ mà mình đã tạo ra lúc sinh thời. Cho nên, trong kinh Pháp Cú đức Phật nói:
“Hơn thống trị quả đất
Hơn được sanh cõi Trời
Hơn trụ trì vũ trụ
Quả Dự lưu tối thắng.”
Muốn được như vậy, đòi hỏi hành giả phải có lòng tin chắc thật vào Phật, Pháp, Tăng; nên, tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn, tuệ căn, năm pháp này là năm pháp chủ, khi mình có lòng tin thì mình phải tinh tấn dũng mãnh lòng tin đó, chứ bây giờ nghe hiểu rồi để đó xét lại, như vậy không đủ tín căn, chẳng thể thành tựu, chưa đưa đến tấn, có chăng cũng rất nhẹ, không đủ sức, niềm tin nỗ lực chánh niệm quán chiếu năm uẩn. Tâm mình sẽ tập trung vào chỗ quán chiếu trong đó là định, rồi tuệ sẽ sáng tỏ. Như vậy, năm căn trở thành năm lực, năm sức mạnh. Phải Như lý tác ý sâu sắc về tuệ lực, sức mạnh của trí huệ, khi trí huệ phát giác thấy được vô minh, tham ái, chấp ngã lập tức dùng lực đó để đập tan những cái vô minh, si ám lúc đó là tuệ lực.
Hãy nhìn bong bóng đẹp
Chỗ chất chưa vết thương
Thân này chỗ chất chứa vết thương, nhưng cưng chìu nó để tiếp tục đi vào sanh tử, cõi thống khổ lần lượt mở ra, dòng luân hồi quay mãi, bao nhiêu đau đớn xoay vần, nhưng chẳng hay, không tỏ, đắm nhiễm thì tiếp tục chết không có ‘nhà’ để về, chỗ chứa đống bệnh hoạn, chỗ chất chứa vết thương.
“Như trái bầu mùa thu
Bị vứt bỏ, quăng đi
Nhóm xương trắng bồ câu
Thấy chúng còn vui gì.”
Chúng ta nhìn thấy đống xương của mình lúc đó còn vui gì, mỗi lần mình phóng tâm theo đời, nên tập dừng lại và quán chiếu đống xương đó. Bởi, chẳng có vui gì trong đống xương, khi tới nhà hỏa thiêu nhận hũ cốt của cha mẹ, ông bà, người thân, bạn bè,… có ai trong chúng ta cất lên tiếng cười không? Dĩ nhiên chẳng bao giờ. Đống xương đau khổ lụn tàn kiếp người đã qua. Thật lòng quán quán chiếu hũ cốt chứa đống xương đó là mình sẽ thấy trân quý từng phút giây sống hiện tại có ý nghĩa, ích lợi hơn.
“Lúc trẻ không phạm hạnh
Không tìm kiếm bạc tiền
Như cò già bên ao
Ủ rũ không tôm cá.”
Khi còn trẻ đầy sung mãn, từ tinh thần đến cơ thể lại không chịu học điều tốt, làm điều hay, tìm hiểu con đường thánh nhân đã hành trì mà kham nhẫn tu trì, lúc đó chỉ ưa thích chơi đùa, hoài phí sức thanh niên, phóng dật, ỷ vào sức chịu đựng dẻo dai của thời thanh xuân nên làm việc không điều độ, ăn chơi không điều tiết. Tuổi trẻ chẳng lo làm ăn, dành dụm, nghĩ tới mai sau, đến khi già bệnh, và bao thứ chướng ngại khác từ sức khỏe, tuổi tác chỉ còn cách ủ rũ, sầu muộn và chờ chết trong nỗi đau không ai cứu được. Trẻ không tu phước đức trí huệ, lúc già một khối tham, sân, si, vô minh, nghiệp quả từ thọ tưởng hành thức biểu hiện toàn phiền não dấy khởi.
Có câu chuyện kể từ thời đức Phật rằng, một hôm ông Cấp-cô-độc bị bệnh nặng, cho người đến gặp đức Thế Tôn đảnh lễ và báo tin, sau đó cũng đến gặp Trưởng lão Xá-lợi-phất cũng báo tin như vậy. Nội dung bài kinh giáo giới vượt qua bệnh tật bằng chính bản than như thế nào, chúng ta cùng đọc lại và nghiền ngẫm từ toàn văn bài kinh dưới đây:
Đại Tạng Kinh Việt Nam
KINH TRUNG BỘ
Majjhima Nikàya
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt từ tiếng PÀLI
143. Kinh Giáo giới Cấp Cô Độc
(Anàthapindikovàda sutta)
Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú ở Savatthi (Xá-vệ), Jetavana, (Kỳ-đà Lâm), tại tinh xá ông Anathapindika (Cấp Cô Độc).
Lúc bấy giờ, cư sĩ Cấp Cô Độc bị bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh. Rồi cư sĩ Cấp Cô Độc gọi một người:
- Hãy đến đây, này Bạn. Hãy đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nhân danh ta, cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn và bạch như sau: "Bạch Thế Tôn, cư sĩ Cấp Cô Độc bị bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh. Cấp Cô Độc xin cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn". Rồi đi đến Tôn giả Sariputta (Xá-lợi-phất), sau khi đến, nhân danh ta cúi đầu đảnh lễTôn giả Sariputta và thưa như sau: "Thưa Tôn giả, cư sĩ Cấp Cô Độc bị bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh. Cấp Cô Độc xin cúi đầu đảnh lễ Tôn giả Sariputta và thưa như sau: "Thưa Tôn giả, lành thay, nếu Tôn giả Sariputta vì lòng từ mẫn, đi đến trú xứ của cư sĩ Cấp Cô Độc".
- Thưa vâng, Tôn giả.
Người ấy vâng đáp cư sĩ Cấp Cô Độc, đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ chân Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, người ấy bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, cư sĩ Cấp Cô Độc bị bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh. Xin cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn.
Rồi người ấy đi đến Tôn giả Sariputta, sau khi đến đảnh lễ Tôn giả Sariputta rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, người ấy thưa với Tôn giả Sariputta:
- Thưa Tôn giả, cư sĩ Cấp Cô Độc bị bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh, xin cúi đầu đảnh lễ Tôn giả Sariputta và thưa như sau: "Thưa Tôn giả, tốt lành thay, nếu Tôn giả Sariputta vì lòng từ mẫn đi đến trú xứ của cư sĩ Cấp Cô Độc".
Tôn giả Sariputta im lặng nhận lời. Rồi Tôn giả Sariputta đắp y, cầm y bát, cùng với Tôn giả Ananda là thị giả, đi đến trú xứ của cư sĩ Cấp Cô Độc, sau khi đến liền ngồi lên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Tôn giả Sariputta nói với cư sĩ Cấp Cô Độc.
- Này Cư sĩ, ta mong rằng Ông có thể kham nhẫn; Ta mong rằng Ông có thể chịu đựng. Ta mong rằng khổ thọ được giảm thiểu, không gia tăng, sự giảm thiểu được rõ rệt, không có gia tăng.
- Thưa Tôn giả Sariputta, con không có thể kham nhẫn, con không có thể chịu đựng. Sự khổ thống của con gia tăng, không có giảm thiểu; sự gia tăng rõ rệt, không có giảm thiểu. Thưa Tôn giả Sariputta, ví như một người lực sĩ chém đầu (một người khác) với một thanh kiếm sắc bén; cũng vậy, thưa Tôn giảSariputta, những ngọn gió kinh khủng thổi lên đau nhói trong đầu con. Thưa Tôn giả Sariputta, con không có thể kham nhẫn, con không có thể chịu đựng. Những khổ thống của con gia tăng, không có giảm thiểu; sự gia tăng rõ rệt, không có giảm thiểu. Thưa Tôn giả Sariputta, như một người lực sĩ lấy một dây nịt bằng da cứng quấn tròn quanh đầu rồi xiết chặt; cũng vậy, thưa Tôn giả Sariputta, con cảm thấy bị đau đầu một cách kinh khủng. Thưa Tôn giả Sariputta, con không có thể kham nhẫn, con không có thể chịu đựng. Những khổ thống của con gia tăng, không có giảm thiểu; sự gia tăng rõ rệt, không có giảm thiểu. Thưa Tôn giảSariputta, như một người đồ tể thiện xảo hay đệ tử người đồ tể cắt ngang bụng với một con dao cắt thịt bò sắc bén; cũng vậy, thưa Tôn giả Sariputta, một ngọn gió kinh khủng cắt ngang bụng của con. Thưa Tôn giả Sariputta, con không có thể kham nhẫn, con không có thể chịu đựng. Những khổ thống của con gia tăng, không có giảm thiểu; sự gia tăng rõ rệt, không có giảm thiểu. Thưa Tôn giả Sariputta, ví như hai người lực sĩ, sau khi nắm cánh tay của một người yếu hơn, nướng người ấy, đốt người ấy trên một hố than hừng; cũng vậy, thưa Tôn giả Sariputta, một sức nóng kinh khủng khởi lên trong thân con. Thưa Tôn giảSariputta, con không có thể kham nhẫn, con không có thể chịu đựng. Những thống khổ của con gia tăng, không có giảm thiểu; sự gia tăng rõ rệt, không có giảm thiểu.
- Do vậy, này Cư sĩ hãy học tập như sau: "Tôi sẽ không chấp thủ con mắt, và tôi sẽ không có thức y cứ vào con mắt". Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy. Do vậy, này Cư sĩ, hãy học tập như sau: "Tôi sẽ không chấp thủ tai, và tôi sẽ không có thức y cứ vào tai". Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy. Do vậy... không chấp thủ mũi... y cứ vào mũi... hãy học tập như vậy. Do vậy... không chấp thủ lưỡi... y cứ vào lưỡi.... hãy học tập như vậy. Do vậy... không chấp thủ thân... y cứ vào thân... hãy học tập như vậy. Do vậy... không chấp thủ ý... y cứ vào ý... hãy học tập như vậy.
Do vậy, này Cư sĩ, hãy học tập như sau: "Tôi sẽ không chấp thủ hình dạng, và tôi sẽ không có thức y cứ vào hình dạng". Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy. Do vậy... không chấp thủ tiếng... y cứvào tiếng... hãy học tập như vậy. Do vậy... không chấp thủ hương... y cứ vào hương... hãy học tập như vậy. Do vậy.... không chấp thủ vị... y cứ vào vị... hãy học tập như vậy. Do vậy... không chấp thủ xúc... y cứ vào xúc... hãy học tập như vậy. Do vậy, này Cư sĩ, hãy học tập như sau: "Tôi sẽ không chấp thủ pháp, và tôi sẽ không có thức y cứ vào pháp". Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy.
Do vậy, này Cư sĩ, hãy học tập như sau: "Tôi sẽ không chấp thủ nhãn thức, và tôi sẽ không có thức y cứ vào nhãn thức". Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy. Do vậy... "Tôi sẽ không chấp thủ nhĩ thức... Tôi sẽ không chấp thủ tỷ thức... Tôi sẽ không chấp thủ thiệt thức... Tôi sẽ không chấp thủ thân thức... Tôi sẽ không chấpthủ ý thức, và tôi sẽ không có thức y cứ vào ý thức". Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy.
Do vậy, này Cư sĩ, hãy học tập như sau: "Tôi sẽ không chấp thủ nhãn xúc, và tôi sẽ không có thức y cứ vào nhãn xúc". Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy. Do vậy... "Tôi sẽ không chấp thủ nhĩ xúc... Tôi sẽ không chấp thủ tỷ xúc... Tôi sẽ không chấp thủ thiệt xúc... Tôi sẽ không chấp thủ thân xúc.. Tôi sẽ không chấp thủ ý xúc, và tôi sẽ không có thức y cứ vào ý xúc". Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy.
Do vậy, này Cư sĩ, hãy học tập như sau: "Tôi sẽ không chấp thủ thọ do nhãn xúc sanh khởi, và tôi sẽ không có thức y cứ vào thọ do nhãn xúc sanh khởi". Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy. Do vậy... "Tôi sẽ không chấp thủ thọ do nhĩ xúc sanh khởi... Tôi sẽkhông chấp thủ thọ do tỷ xúc sanh khởi... Tôi sẽ không chấp thủ thọ do thiệt xúc sanh khởi... Tôi sẽ không chấp thủ thọ do thân xúc sanh khởi... Tôi sẽ không chấp thủ thọ do ý xúc sanh khởi và tôi sẽ không có thức y cứ vào thọ do ý xúc sanh khởi". Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy.
Do vậy, này Cư sĩ, hãy học tập như sau: "Tôi sẽ không chấp thủ địa giới, và tôi sẽ không có thức y cứ vào địa giới". Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy. Do vậy... "Tôi sẽ không chấp thủ thủy giới... Tôi sẽ không chấp thủ hỏa giới... Tôi sẽ không chấp thủ phong giới... Tôi sẽ không chấp thủ hư không giới... Tôi sẽ không chấpthủ thức giới và tôi sẽ không có thức y cứ vào thức giới". Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy.
Do vậy, này Cư sĩ, hãy học tập như sau: "Tôi sẽ không chấp thủ sắc, và tôi sẽ không có thức y cứ vào sắc". Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy. Do vậy... "Tôi sẽ không chấp thủ thọ... Tôi sẽ không chấp thủ tưởng... Tôi sẽ không chấp thủ hành... Tôi sẽ không chấp thủ thức và tôi sẽ không có thức y cứ vào thức giới". Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy.
Do vậy, này Cư sĩ, hãy học tập như sau: "Tôi sẽ không chấp thủ Hư không vô biên xứ, và tôi sẽ không có thức y cứ vào Hư khôngvô biên xứ". Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy. Do vậy... "Tôi sẽ không chấp thủ Thức vô biên xứ... Tôi sẽ không chấp thủ Vô sở hữu xứ... Tôi sẽ không chấp thủ Phi tưởng phi phi tưởng xứ, và tôi sẽ không có thức y cứ vào Phi tưởng phi phi tưởng xứ". Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy.
Do vậy, này Cư sĩ, hãy học tập như sau: "Tôi sẽ không chấp thủ thế giới ở đây và tôi sẽ không có thức y cứ vào thế giới ở đây". Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy. Do vậy... "Tôi sẽ không chấpthủ thế giới khác, và tôi sẽ không có thức y cứ vào thế giới khác". Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy.
Do vậy, này Cư sĩ, hãy học tập như sau: "Tôi sẽ không chấp thủ những gì được thấy, được nghe, được cảm thọ, được nhận thức, được hy cầu, được tư sát với ý, và tôi sẽ không có thức y cứ vào các pháp (nói trên)". Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy.
Khi nghe nói vậy, cư sĩ Cấp Cô Độc khóc và chảy nước mắt. Rồi Tôn giả Ananda nói với cư sĩ Cấp Cô Độc:
- Này Cư sĩ, Ông đang gượng lên mà sống, hay chìm xuống (cõi chết)?
- Thưa Tôn giả Ananda, con không gượng lên mà sống, con đang chìm xuống cõi chết. Dầu cho bậc Đạo sư được con hầu hạ đã lâu và dầu các vị Tỷ-kheo, tu tập ý lực con chưa từng được nghe một thời thuyết pháp như vậy.
- Này Cư sĩ, thuyết pháp như vậy không nói cho các hàng cư sĩ mặc áo trắng. Này Cư sĩ, thuyết phápnhư vậy nói cho các hàng xuất gia.
- Vậy thưa Tôn giả Sariputta, hãy thuyết pháp như vậy cho hàng cư sĩ mặc áo trắng. Thưa Tôn giảSariputta, có những Thiện gia nam tử sanh ra với cấu uế không nhiều, nếu không được nghe pháp, sẽ bị đọa lạc; nhưng họ không thể biết được (Chánh) pháp.
Rồi Tôn giả Sariputta và Tôn giả Ananda sau khi giảng dạy cho cư sĩ Cấp Cô Độc với bài thuyết giảng, từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi. Rồi cư sĩ Cấp Cô Độc, sau khi Tôn giả Sariputta và Tôn giả Ananda ra đi không bao lâu, sau khi thân hoại mạng chung liền sanh lên cõi Tusita (Đâu-suất thiên).
Rồi Thiên tử Cấp Cô Độc, khi đêm đã gần mãn, sau khi chói sáng toàn cảnh Jetavana (Kỳ-đà-Lâm) với dung sắc thù thắng đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn và đứng một bên. Đứng một bên, Thiên tử Cấp Cô Độc nói lên với Thế Tôn bài kệ sau đây:
Rừng Jetavana,
Tốt đẹp phước lành này,
Được chư Thiên, chúng Tăng,
Thường lui tới an trú,
Được Pháp Vương trú trì,
Ban hoan hỷ cho ta.
Nghiệp, minh và Chánh pháp,
Giới, tối thượng sanh mạng,
Chính nhờ các pháp trên,
Khiến chúng sanh thanh tịnh,
Không phải do giai cấp,
Không phải do tài sản.
Do vậy bậc Hiền giả,
Thấy rõ mục đích mình,
Suy tư pháp chân chánh,
Được thanh tịnh ở đây.
Như Sariputta,
Về tuệ, giới, tịch tịnh,
Bất luận Tỷ-kheo nào,
Đã tới bờ bên kia,
Hãy đạt được tối thắng
Trong những pháp kể trên.
Thiên tử Cấp Cô Độc nói như vậy. Bậc Đạo sư tán đồng. Rồi Thiên tử Cấp Cô Độc suy nghĩ: "Bậc Đạo sư tán đồng ta." Sau khi đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài rồi biến mất tại chỗ.
Rồi Thế Tôn, khi đêm ấy đã mãn, gọi các Tỷ-kheo:
- Này các Tỷ-kheo, đêm nay, một vị Thiên tử, khi đêm đã gần mãn, chiếu sáng toàn cảnh Jetavana với dung sắc thù thắng đã đi đến Ta, sau khi đến đảnh lễ Ta rồi đứng một bên. Đứng một bên, vị Thiên tử ấy nói lên với Ta bài kệ sau đây:
Rừng Jetavana,
Tốt đẹp phước lành này,
Được chư Thiên, chúng Tăng,
Thường lui tới an trú,
Được Pháp Vương trú trì,
Ban hoan hỷ cho ta.
Nghiệp, minh và Chánh pháp,
Giới, tối thượng sanh mạng,
Chính nhờ các pháp trên,
Khiến chúng sanh thanh tịnh,
Không phải do giai cấp,
Không phải do tài sản.
Do vậy bậc Hiền giả,
Thấy rõ mục đích mình,
Suy tư pháp chân chánh,
Được thanh tịnh ở đây.
Như Sariputta,
Về tuệ, giới, tịch tịnh,
Bất luận Tỷ-kheo nào,
Đã tới bờ bên kia,
Hãy đạt được tối thắng
Trong những pháp kể trên.
Nói vậy xong, này các Tỷ-kheo, vị Thiên tử ấy suy nghĩ: "Bậc Đạo sư tán đồng ta" sau khi đảnh lễ thân phía hữu hướng về Ta, rồi biến mất tại chỗ.
Khi được nghe nói vậy, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, có phải vị ấy là Thiên tử Cấp Cô Độc chăng? Bạch Thế Tôn, cư sĩ Cấp Cô Độc có lòng tịnh tín bất động đối với Tôn giả Sariputta.
- Lành thay, lành thay, Ananda! Những gì có thể thành đạt được bởi suy tư đã được đạt đến, này Ananda. Chính Cấp Cô Độc là vị Thiên tử ấy, không một ai khác.
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả Ananda hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.
[Hết trích]
Qua bài kinh này, chúng ta thấy một vị cư sĩ như ông Cấp-cô-độc hầu hạ đức Thế Tôn rất lâu, nhưng chưa được nghe bài pháp thâm sâu như vậy, ông lại mong cầu cho những người cư sĩ, ai có tâm uế nhiễm, ít có thể thâm nhập được chánh pháp này được nghe thấy để chiêm nghiệm vượt qua. Như vậy, hiện tại chúng ta rất may mắn, rất hạnh phúc khi đã nghe đã thấy được lời Phật dạy rõ ràng, mình cần soi xét cho tường tận để hành trì. Cần thấy rõ được vô thường, khổ, không, vô ngã, không cái gì là tôi, không cái gì là của tôi, thì mới may ra có vào dòng Thánh. Nhưng phải thật sự có chánh tri kiến, thấy được pháp.
Sau khi nghe lời chia sẻ này những người than quyến với Minh Thành đã hoan hỷ nghe pháp, chịu ở lại núi đồi Linh Quy Pháp Ấn ra công tu tập. Họ đã chịu vượt qua ổ bệnh tật, những trì trệ của tuổi già mà chịu khó niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng; sự vô thường đã và đang diễn ra ngày càng rõ rệt trong sự hiểu của họ. Vậy là, dù 4 giờ khuya trên núi đầy sương mù, nhưng họ đã bắt đầu chịu thức dậy và thực tập lạy Phật, tọa thiền, nghe pháp, theo dõi hơi thở trong sự sanh diệt bất tận. Minh Thành xúc động trong khoảnh khắc này, xin chia sẻ cùng quý thiện hữu!
2. Quán chiếu tứ đại – Ngoại địa giới và nội địa giới
Quán chiếu tứ đại giúp chúng ta có một cái nhìn thấu đáo, trọn vẹn về tự thân và tự tâm. Lời dạy của Bậc Chánh Đẳng Giác đặc biệt ở chỗ bất kỳ pháp nào đức Phật cũng nói rốt ráo, triệt để, toàn diện nên trong tứ đại mà không phải chỉ là tứ đại, hành giả sẽ thấy được sự giác ngộ tứ đại của đức Phật như thế nào? Vị ngọt của tứ đại, sự nguy hiểm của tứ đại, cũng như sự xuất ly vượt thoát của tứ đại như thế nào?
Nguyên nhân đưa đến sự nhập thai của chúng sanh, cũng như quá trình tu tập kiên trì, tinh cần dẫn đến thành tựu mục đích của sa-môn hạnh và quán chiếu tứ đại theo tinh thần Tứ Thánh Đế. Tuy nói soi rọi rõ biết về tứ đại là phá về sự bám chấp vào sắc uẩn, gọi là ngũ thủ uẫn. Kinh Tứ Thánh Đế từng liệt kê sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ v.v... ở phần định nghĩa về bốn đại. Cuối cùng, đức Phật nói tóm lại năm thủ uẩn là khổ, tức là sự bám chấp, kiến chấp, vọng chấp, mê chấp, lầm chấp về năm uẩn này là tôi, là của tôi. Chính điều đó là Tập Đế, nguyên nhân của đau khổ và chúng ta đang học theo tên gọi, danh từ là chúng ta đang phá cái chấp về sắc uẩn. Bởi vì lầm chấp bám chặt vào sắc thân này, từ chỗ đó thọ tưởng hành thức được dịp phát sanh, nó có chỗ y cứ, nương tựa. Như vậy, thọ tưởng hành thức và sự rõ biết nhận thức của mình bám vào trong thân sắc chất này để sanh ra các thứ tham dục, sân hận, si mê, vô minh, chấp ngã.
Chúng ta thường cho thân xác này là mình, của mình, là tôi, của tôi rồi nâng niu, chìu chuộng, lo cho tới mãn đường cũng vì cái ‘xác phàm’ này, mệt với nó rồi nó cũng bỏ mình đi không lời thưa hỏi.
Bốn đại được định nghĩa như Trung Bộ Kinh (Majjhima Nikaya), bài kinh số 28. Ðại kinh Dụ dấu chân voi (Mahàhatthipadopama sutta). Tôn giả Xá-lợi-phất đã nói với các Hiền giả rằng:
“Ví như tất cả dấu chân của mọi loại động vật đều thâu nhiếp trong dấu chân voi, vì dấu chân này được xem là lớn nhất trong tất cả dấu chân về phương diện to lớn. Cũng vậy, chư Hiền giả, tất cả các Thiện pháp đều tập trung trong Bốn Thánh Đế.Thế nào là trong Bốn Thánh đế? Trong Khổ Thánh đế, trong Khổ tập Thánh đế, trong Khổ diệt Thánh đế, trong Khổ diệt đạo Thánh đế.
Chư Hiền, thế nào là Khổ Thánh đế? Sanh là khổ, già là khổ, chết là khổ, sầu, bi, khổ, ưu, não là khổ, điều gì cầu không được là khổ, tóm lại Năm thủ uẩn là khổ.
Chư Hiền, thế nào là Năm thủ uẩn? Chính là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn.
Chư Hiền, thế nào là sắc thủ uẩn? Bốn đại và sắc khởi lên từ bốn đại. Chư Hiền, thế nào là bốn đại? Chính là địa giới, thủy giới, hỏa giới, phong giới.”
Thiện pháp ở đây không phải thiện tốt lành bình thường, Thiện pháp trong kinh Nikàya đức Phật nói là pháp xuất thế gian, thiện cứu cánh tức là giác ngộ giải thoát chứ không phải thiện đối với ác theo nghĩa thông thường, nên tất cả các thiện pháp đưa mình tới giác ngộ giải thoát đều lấy Bốn Thánh Đế làm chỗ quy tụ, hướng về, dung nhiếp trọn vẹn.
Thế nào là Bốn Thánh Đế? Khổ Thánh Đế, Tập Thánh Đế, Khổ Diệt Thánh Đế và Khổ Diệt Đạo Thánh Đế. Chữ khổ là một sự thật mà chỉ có Bậc Thánh mới thấy biết được một cách chân chánh như thật trong sự giác ngộ, không phải nghĩa của khổ thông thường.
Bốn Thánh Đế nghĩa là gì? Đế là chân đế, chân lý, bốn chân lý của Bậc Thánh Giác ngộ, Thánh ở đây chỉ đức Phật.
“Chư Hiền, thế nào là Khổ Thánh đế? Sanh là khổ, già là khổ, chết là khổ, sầu, bi, khổ, ưu, não là khổ, điều gì cầu không được là khổ, tóm lại Năm thủ uẩn là khổ.
Chư Hiền, thế nào là Năm thủ uẩn? Chính là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn.”
Cuộc đời là khổ, nên gọi là:
“Biển cả mênh mông sóng ngập trời
Khách trần chèo một chiếc thuyền chơi
Thuyền ai ngược gió, ai xuôi gió
Ngoảnh lại cùng trông bể khổ thôi.”
Khách trần chèo một chiếc thuyền khơi mới đúng. Khơi là đưa mình ra khơi, mình hiểu chữ khổ theo nghĩa thông thường là nghèo bệnh hay ốm đau tai nạn là không phải, cái đó là khổ của phàm phu, khổ như vậy không cần học cũng quá rõ biết, khổ đó không cần mình tu mình cũng biết.
Do sự bám chấp của chúng ta quá sâu dầy, khó mà lột sạch ra hết ngay một lúc, phải kiên trì, thật nhẫn nại, mỗi ngày một chút cạo bỏ lớp vô minh kia, từ từ mới bớt khổ và thoát phiền não. Vô minh là mình không biết sắc uẩn, cho đó là mình, đây là một kẻ vô văn phàm phu, không gặp bậc Thánh, chẳng gặp bậc chân nhân, chưa từng tu tập pháp mà các bậc chân nhân đã hành trì, như vậy làm sao thuần thục pháp các bậc chân nhân đã tu hành. Cho nên, sắc đó cho là mình chứ không thấy đó là sắc uẩn, một sự nhóm hợp của năm uẩn mà thành cái gọi là tôi hay bạn, chỗ này khéo xét, kẻo bị lầm lộn mãi. Ngay cả bây giờ đi tu, mình nói thân này là của mình thì mình vẫn là vô minh, khi nào nhận thức bên trong nhận thức thân này là sắc uẩn, lúc đó mới bắt đầu vén màn vô minh ra, đó là trí của Tu-đà-hoàn, trí này thời đức Phật cư sĩ đạt được rất nhiều, còn bây giờ chúng ta nghe Tu-đà-hoàn lại sợ, vì mình sống trong vô minh đã quen, mình thích mình là phàm không thích mình là thánh.
Tại sao mình trồng cây nhưng khi nghe nói cây có trái lại lo sợ? Rõ ràng là vô minh, nếu mình tu đúng chánh pháp thì hệ quả tất yếu phải có, tức là mình phải thấy pháp, rõ biết sáng tỏ để được vào dòng pháp.
Tại sao chúng ta tu mãi mà chưa thấy pháp? Vì mình tu chưa ngay mạch, chưa đúng, chẳng trọn vẹn chánh pháp. Bởi Phật nói một đường hành giả làm một ngã, mình thấy cảm giác là mình chứ không phải thọ uẩn, thấy những tư tưởng suy nghĩ đó là mình tôi, suy nghĩ chứ không phải tưởng uẩn, rõ biết trong nội tâm của mình nói tôi biết chứ không biết đó là thức uẩn. Chính vì vậy nói một đàng, tụng một đàng, sống một nẻo, vĩnh viễn mình và pháp là hai thái cực. Nếu mình thật sự thực tập theo lời Phật dạy, luôn nghe suy xét quán chiếu sâu sắc thật như vậy, rồi thực hành nhiều nhất định mình thấy được pháp. Trí thấy rõ đó là thánh trí, tỏ sáng nơi mình, đây là bước rất quan trọng, nếu mình không thấy mãi mãi mình tu trong vô minh, bản ngã mà không tự biết, chẳng ra khỏi vòng luân hồi sanh diệt, loay hoay thọ lại trong năm uẩn.
Ngay bản thân và cả những người xung quanh mình là một minh chứng sống động cho sự hăng say tu tập nhưng gặt hái kết quả thiết thực thì chẳng có bao nhiêu. Thật lấy làm tiếc! Thậm chí tu tới già thì ‘tôi vẫn là tôi’, chưa dứt lìa cái ngã, cái tôi, của tôi, là mình. Vì chúng ta cho năm uẩn này thật có, là mãi mãi, là của mình mà không thấu rõ nó chỉ là giả hợp, nương gá trong hữu hạn, là vô thường, rất dễ đổ vỡ. Cho nên, ai mà chạm tới thì cục lửa sân hận, tham, si nó phát khởi, phựt lên ào ào.
Chúng ta thực hành rất là nhiều. Tụng kinh, niệm Phật, trì chú, sám hối, tọa thiền, từ thiện,… nhưng tâm lăng xăng, thân vọng động, chứa chấp hữu ngã, chứa chất danh, chứa chất mình, tôi, phải quấy đúng sai… cho nên khổ, những phiền não ấy dìm mình xuống. Cho nên thủ uẩn là vậy! Hàng ngày, hành giả nhìn thấy cái tưởng vận hành, ý di chuyển, cảm giác luôn thay đổi, nhận thức trong tâm phát khởi liên tục; nếu đào sâu bằng trí tuệ vô thường, vô ngã, khổ, không để thấy bằng khách quan của hiện diện năm uẩn tạm gọi tạo thành tôi - bạn, ta - người, đều bị những cảm giác, những mắt xích của năm uẩn đan xen làm cho mình mệt. Chúng từ vi tế cho tới thô phù hiện diện, nhưng mình không kịp nhận hoặc để cho qua thì một lúc nào đó mình tự đi vào vùng ‘rốn lũ’ của sự vận hành si mê điên đảo ấy mà chẳng thật biết. Đó là vô minh. Chỉ vì một chút cảm giác mà thích thú, khoan khoái thì tham dục, tham ái trỗi dậy… lúc đó có ai làm ngược lại chắc hẳn sẽ khó chịu, muốn triệt phá, đoạn tận đây là đối ngại tưởng. Nó làm phát khởi một tư tưởng đối lập, chống đối, đó là sân; nếu cảm giác trơ trơ không khổ, chẳng vui, chưa từng thích thú, cũng chẳng sinh khởi sự chán và tối ngày lơ lửng, trơ trơ đó là si. Do mình không thấy, nhiều khi nghĩ, mỗi ngày tôi lên tụng kinh hai thời, công phu khuya cũng có mặt rồi chiều tối cũng có mặt như vậy là được, là tốt rồi, chắc là không dính dáng cái tưởng. Nghĩ vậy là sai lầm. Những hình bóng trong nội tâm nếu bản thân hành giả không trau dồi tu tập, thiếu quán chiếu, nhìn kỹ lại ‘mình’ thì những tưởng này, những lời nói thì thầm kia, bao lớp sóng suy nghĩ nọ làm cho mình càng thêm khổ. Phải thấy sâu xa ngũ thủ uẩn này là khổ, nếu không có tu tập.
Thời đức Phật còn tại thế, có nhiều câu chuyện về đệ tử của Thế Tôn được minh chứng cho hang đệ tử hôm nay thấy được ma chướng trên đường tu, thấy được sự quyết chí tiến tu không phải ai cũng vượt qua, nhưng người nào thắng được chính mình trong tham dục, đoạn tận tham – sân – si là vào dòng Thánh. Có những vị Tỳ-kheo còn trẻ, đẹp trai, học giỏi, xuất thân là nhà giàu,… ôm bình bát đi khất thực và hành trì pháp mà Bậc Đạo sư đã chỉ dạy. Thế nhưng, đâu đó trên bước đường hoằng hóa, các vị Tỳ-kheo lại gặp những phụ tử nữ mặc đồ hở hang, gợi cảm khiến vị Tỳ-kheo khởi tâm động dục; thậm chí có những vị nói lại các bạn đồng tu, đồng phạm hạnh rằng dục đang xâm chiếm tâm tôi, chế ngự tâm tôi, bây giờ tôi đau khổ, chắc tôi không thể sống đời sống phạm hạnh nữa, tôi muốn hoàn tục,… Lúc đó, các huynh đệ đã khéo khuyên bảo vị Tỳ-kheo kia phải gặp đức Thế Tôn, để được vị Cha lành nhắc nhở, chỉ cho phương cách chiến thắng, khéo vượt qua tham dục. Thật vậy, có rất nhiều vị Tỳ-kheo sau khi gặp Phật, nghe dạy, rồi thực hành theo lời Thế Tôn đã thu hái kết quả rất cao, thành tựu ngay trong hiện đời. Do vậy mới nói rằng pháp cảu Phật “đến để mà thấy, không trải qua thời gian”.
Ngày nay, tham dục chế ngự, xâm chiếm mình mà mình không biết bị xâm chiếm. Vì chúng ta chấp nhận tư tưởng đó, do mình thấy một đối tượng nào đó là đối tượng tham ái của mình, hình ảnh đã bắt gặp kia sẽ tái hiện khi mình về lại chùa hoặc lúc ngồi thiền hay nằm thiền hay là mình ở một mình trong phòng. Những hình bóng đó xuất hiện trở lại và câu nói đó, nụ cười hàm răng như ngọc kia đang hiện ra, làm cho mình nhớ lại ánh mắt, nhớ lại gương mặt, nhớ lại nụ cười đó là tưởng, sắc tưởng, là những hình bóng về sắc mà nó hiển hiện lại trong nội tâm của mình gọi là sắc tưởng. Không dừng lại ở sác tưởng, lúc đó có những âm thanh hoặc âm thanh của người đó nói, gọi là thanh tưởng hoặc âm thanh của mình nói lên là hành uẩn, là những lời nói thì thầm của chính mình hoặc cảnh trần xuất hiện. Người ta nói một là ngoại trần hai là nội trần, ngoại trần là sắc thọ tưởng hành thức những hình bóng sắc thọ tưởng hành thức ở bên ngoài. Đừng để sáu căn bị sáu trần tác động, chi phối, giăng lưới bẫy mồi. Một khi lọt vào bẫy thì khó mà thoát nổi. Cái lưới vô minh đó dìm tận mình không biết đã bao nhiêu đời kiếp, chẳng biết khổ đau đã trải qua bao nhiêu lần… sao còn ham, sao còn mê, sao còn chưa chịu buông xuống, xa lìa…
Sắc ngũ uẩn từ bốn đại khởi lên thì nguy hiểm vô cùng tận. Phải thật sự quán chiếu suy tư thường xuyên. Địa giới được Thế Tôn dạy như sau: “Chư Hiền, thế nào là địa giới? Có nội địa giới, có ngoại địa giới. Chư Hiền, thế nào là nội địa giới? Cái gì thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thô phù, kiên cứng, bị chấp thủ, như tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, thận, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, bao tử, phân, và bất cứ vật gì khác thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thô phù, kiên cứng, bị chấp thủ. Chư Hiền, như vậy gọi là nội địa giới. Những gì thuộc nội địa giới và những gì thuộc ngoại địa giới đều thuộc về địa giới. Cần phải như thật quán sát địa giới với chánh trí tuệ như sau: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi". Sau khi như thật quán sát địa giới với chánh trí tuệ như vậy, vị ấy sanh yểm ly đối với địa giới, tâm từ bỏ địa giới.”
Bị chấp thủ là mình cho cái đó là mình, ví như cho rằng hàm răng đẹp này là của mình, yêu quý nó, muốn nó sáng bóng, cứng cáp, vô tình bị gãy hoặc bị ai đó đánh nhầm làm rụng hai, ba cái rặng đẹp kia. Khi những chiếc răng rụng xuống, ra khỏi cơ thể, chúng ta không còn gọi là mình, của mình, chẳng còn cảm giác yêu thích hoặc đau xót. Nếu ai đó đạp lên, đập vào thì mình cũng không có cảm giác đau đớn, vì sự chấp thủ không có mặt. Do đó khổ im bặt.
Trần cảnh có nóng lạnh, có bức ngặt bất thường, sáu căn hành giả nhận rõ nhưng chúng ta dần tách ra khỏi những cảm giác của buồn, vui, lăng xăng chạy theo cảnh trần, vì cho vui buồn kia là thật của mình, là một phần của sự sống này. Nếu thực hành tách ra, làm một phân tích cho thật kỹ, thì thấy rõ là đồ láp ráp của sắc thọ tưởng hành và thức tạo nên sắc trần này, làm nên chấp thủ. Mà còn chấp thủ nắm níu ghì chặt là còn đau khổ, mê lầm. Dùng trí tuệ tách dần năm uẩn mới sanh ra thánh trí là chỗ đó. Lúc trước, hoàn toàn tôi đang khó chịu, tôi bực mình, đó là sắc đang khó chịu, thân đang bức ngặt, nó đang mong cầu, nó bị cảm giác sai khiến chứ không phải mình khó chịu. Nếu hành giả kiên trì tập tách suy nghĩ, đừng để mình hòa vào đó, mà sắc thân hay thọ tưởng hành thức chứ không phải mình thì dần dà sẽ thanh tựu rõ biết, chắc thật là như vậy.
“Những gì thuộc nội địa giới và những gì thuộc ngoại địa giới đều thuộc về địa giới”.
Nội địa giới là những cái thuộc về thân của mình, những cái thô phù kiên cứng, bị chấp thủ đó là nội địa giới trong thân; còn ngoại địa giới là những cái thô phù, kiên cứng cũng bị chấp thủ mà ở bên ngoài. Ví dụ, chiếc xe của mình là bị chấp thủ, mắt kiếng của mình, căn phòng của mình, cái áo cái quần của mình, món đồ của mình, tủ đồ của mình, tiền của mình, đồng hồ của mình… đó là ngoại địa giới, bị chấp thủ; mở rộng ra là quê hương của mình, làng xóm của mình, bà con của mình anh em của mình, cha mẹ của mình; mở rộng ra là trái đất này là của chúng mình, đất nước con người của mình… đó là ngoại địa giới, pháp này bị chấp thủ nên pháp của đức Phật là pháp ly dục, ly tham, diệt tận ái đó là pháp thanh lương của Niết-bàn, chấm dứt tất cả thống khổ. Một khi chúng ta thật sự hiểu được ý nghĩa này, mới thấy rõ giá trị của Phật pháp, chứ không phải vô chùa thờ cúng lạy, cầu xin hoài, đó là tín ngưỡng; không khéo là mình đi vào mê tín, chẳng có chánh kiến, chánh tín thì không thể thành tựu trí huệ. Như vậy, hành giả mãi đang trong tối tăm mù mịt, vậy sao dẫn người ta đi?! Quan trọng đạo Phật thành tựu được chánh kiến, thấy cho rõ vấn đề xuất phát từ đâu? Nguyên nhân phát ra từ đâu? Tại sao dẫn ra kết quả này? Cuối cùng, làm sao cho nó chấm dứt đau khổ? Có con đường chấm dứt, phải nắm vững pháp đó mới thành tựu trí huệ.
3. Quán chiếu tứ đại – Thủy hỏa phong giới
Thủy giới là gì? Trung Bộ Kinh - Đại kinh Dụ dấu chân voi đã được đức Phật dạy rõ như sau:
“Chư Hiền, thế nào là thủy giới? Có nội thủy giới, có ngoại thủy giới. Chư Hiền thế nào là nội thủy giới? Cái gì thuộc về nội thân, thuộc cá nhân, thuộc nước, thuộc chất lỏng, bị chấp thủ, như mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, niêm dịch, nước ở khớp xương, nước tiểu, và bất cứ vật gì khác thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thuộc nước, thuộc chất lỏng, bị chấp thủ. Chư Hiền, như vậy gọi là nội thủy giới. Những gì thuộc nội thủy giới và những gì thuộc ngoại thủy giới, đều thuộc về thủy giới. Cần phải như thật quán sát thủy giới với chánh trí tuệ như sau: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi". Sau khi như thật quán sát thủy giới với chánh trí tuệ như vậy, vị ấy sanh yểm ly đối với thủy giới, tâm từ bỏ thủy giới.
Chư Hiền, một thời xảy ra khi ngoại thủy giới dao động, nước cuốn trôi làng, cuốn trôi thị trấn, cuốn trôi thành phố, cuốn trôi xứ, cuốn trôi quốc độ. Chư Hiền, một thời xẩy ra khi nước biển đại dương hạ thấp một trăm do-tuần, hạ thấp hai trăm do-tuần, hạ thấp ba trăm do-tuần, hạ thấp bốn trăm do-tuần, hạ thấp năm trăm do-tuần, hạ thấp sáu trăm do-tuần, hạ thấp bảy trăm do-tuần. Chư Hiền, một thời xẩy ra khi nước biển đại dương dâng cao đến bảy cây ta-la, dâng cao đến sáu cây ta-la, dâng cao đến năm cây ta-la, dâng cao đến bốn cây ta-la, dâng cao đến ba cây ta-la, dâng cao đến hai cây ta-la, dâng cao chỉ đến một cây ta-la. Chư Hiền, một thời xẩy ra khi nước biển đại dương cao đến bảy đầu người, dâng cao đến sáu đầu người, dâng cao đến năm đầu người, dâng cao đến bốn đầu người, dâng cao đến ba đầu người, dâng cao đến hai đầu người, dâng cao chỉ đến một đầu người. Chư Hiền, một thời xẩy ra khi nước biển đại dương dâng cao đến nửa thân người, dâng cao chỉ đến hông, dâng cao chỉ đến đầu gối, dâng cao chỉ đến gót chân. Chư Hiền, một thời xẩy ra khi nước biển đại dương không có để thấm ướt đốt ngón chân. Chư Hiền, tánh vô thường của ngoại thủy giới xưa ấy có thể nêu rõ, tánh hủy hoại có thể nêu rõ, tánh đoạn diệt có thể nêu rõ, tánh biến dịch có thể nêu rõ. Như vậy còn nói gì đến thân thể yểu thọ do khát ái chấp thủ này? Ở đây không có gì để có thể nói là tôi, là của tôi, hay tôi là.
Chư Hiền, nếu có những người khác mắng nhiếc, chỉ trích, chọc tức, nhiễu não Tỷ-kheo, vị ấy biết rõ như sau: ...(như trên)... và xả tương ứng với thiện được an trú. Chư Hiền, cho đến mức độ này, vị Tỷ-kheo đã làm thật nhiều.”
Như vậy, thủy giới có nội thủy giới và ngoại thủy giới, tức là nước bên trong và nước ở bên ngoài thân này. Ở đây, chúng ta quán chiếu sâu về sắc uẩn, do vậy cần nghiệm kỹ về tứ đại. Qua những dẫn chứng thật cụ thể, xác chứng từ bản kinh, hành giả đã hình dung và theo dõi nội, ngoại thủy giới vận hành.
Không thể ngồi yên mà thành tựu, chỉ có yên tịnh rồi sau đó quán chiếu sâu sắc, tột cùng soi rọi lại đến từng chân tơ kẻ tóc, cho ra vấn đề, cho hiểu lẽ chân thật của nguyên nhân sanh khởi và diệt tận. Còn ngồi yên mà mong trí huệ phát khởi là điều không bao giờ có.
Vậy chúng ta quán chiếu cái gì? Chánh tư duy trong suy nghĩ. Nhận diện trước mặt, theo dõi cảm giác của hơi thở chuyển động toàn thân, thấy rõ sự sanh diệt bất tận, cảm nhận sự bức ngặt của sắc uẩn này. Dùng Như lý tác ý chân chánh phản tỉnh chính mình.
Ví dụ, chúng ta đang quán tưởng về thủy giới trong lúc hành thiền. Chẳng hạn, thủy nội giới, bắt đầu là nước bọt trong miệng đang tiết ra trong vòm họng; hoặc như bị sổ mũi, tức là nước trong mũi bắt đầu chảy rỉ, sụt sịt, khó chịu trong thân; hoặc khi tắm, vô tình bị nước bên ngoài lọt vào lỗ tai gây cảm giác lùng bùng, ù ù, ngứa ngáy, khó chịu; hoặc mồ hôi đổ ra do thời tiết nóng nực, cũng có khi cơ thể vận động sinh nhiệt, bốc hơi thành nước… Rồi nước mắt, nước đại tiểu tiện, bao nhiêu chất dịch nhầy từ cơ thể tiết ra.
Nhìn sâu xét kỹ như vậy thì trí huệ mới phát sanh. Hành giả sau khi phân biệt nội thủy giới và ngoại thủy giới, rồi bóc tách nó ra, về nội thủy giới mình mổ xẻ nó từng phần và như vậy chúng ta đã loại cái tôi, của tôi, là tôi, là mình rồi. Chỉ là những thành tố tổng hợp tạo thành sắc uẩn, tạo thành dòng chảy trong thân. Phải nhấn mạnh với chính bản thân rằng, đây không phải nước mũi của mình, đây không phải nước mắt của mình, đây không phải mồ hôi của mình mà đây là nước của một phần trong tứ đại, đó là thủy đại, cụ thể hơn chính là thủy nội địa giới. Như vậy, mình tách dần trong tư tưởng, cách nhìn không còn sự gắn kết giống như keo với sơn, chấp thủ, nắm chặt cho là mình, sợ mất, sợ tan hoại vì nghĩ thường còn, thật ra nó rất vô thường, phải quán chiếu vô thường, thấy được bản chất hư dối đó bằng tâm vô ngã, rỗng không, tịch lặng thì Niết-bàn mới rộng cửa chào đón hành giả.
Vừa soi rọi nội thủy giới, chẳng hạn về mồ hôi, lại kết hợp quán bất tịnh thì sẽ thấu triệt hơn sự nhàm chán, xa lìa xác phàm giả tạm này. Nói về mồ hôi cũng phân ra có rất nhiều loại mồ hôi, mồ hôi trên da mặt, trên cổ, dưới nách, trên lưng, trên bụng, dưới háng, chân, bàn chân,… tất cả mồ hôi đó là nội thủy giới, vị trí ở khác nhau cũng có sự biểu hiện bứt rứt khác nhau trên mỗi vị trí của thân. Quán chiếu sâu về nó, thấy rõ sự dơ bẩn, sự bất tịnh tiết ra từ chính thân thể này, từ chính cái mà mình nuông chìu, nuôi lớn cho nó, trang sức cho nó, giấu những khiếm khuyết của nó, nhưng thật sự nó vẫn trưng bày cái dơ hôi xấu ra.
Quán chiếu thường xuyên thanh thạo, biết được rõ về thân và tâm. Chỉ cần ‘nó’ biểu hiện thế nào là hành giả rõ biết ngay, sẽ có cách đối trị với những chứng tật của chúng. Còn ngược lại, không rõ biết, chỉ biết mồ hôi làm ngứa ngáy, khó chịu, lau mình cho khô thì hết khó chịu, người không tu cũng am hiểu chuyện này. Chỗ người trí là khéo nắm bắt, nắm giữ cái tướng của tâm; khéo nắm bắt tướng của tâm là trạng thái vận hành và hoạt động của tâm mình khéo nắm bắt được.
Nếu chúng ta không hướng nội cũng chẳng hướng ngoại sẽ chẳng bao giờ thật biết; ngay lúc hành giả đang quán về thủy giới, về nước trong thân, ví như đang ngồi trên xe có máy lạnh, xe dừng lại đón người khách lạ bước lên, mùi lạ bắt đầu hiển lộ, khướu giác thực hiện nhiệm vụ rồi quán sâu và rõ biết sự bất tịnh từ người bốc lên. Mùi khó chịu, mùi khói thuốc, mùi tôm cá, rất nhiều loại mùi hiện ra và ta phân tích một cách chân thật về chúng như bản chất chúng đang hiện hữu.
Dùng sức mạnh trí huệ trong việc quán chiếu năm uẩn, cụ thể ở sắc uẩn như một xạ thủ, phải nhanh chớp nhoáng và trúng đích chính xác ngay hồng tâm của sự vật, sự việc, con người, ngoại cảnh. Bắn hạ khối vô minh uẩn đang trùm lấp cơ thể này. Xử cho nó gục và bật gốc rễ, không còn nơi ẩn nấp, chẳng còn điều gì níu giữ. Chộp một cái là dính ngay con mồi, ngay đối tượng quán chiếu, cũng như con sư tử rình và chộp mồi vậy. Sư tử dung toàn lực bắt mồi dù đó là con vật lớn hay là con vật nhỏ thì nó đều dung tất cả tâm lực, sức lực, tinh lực vào đối tượng đó. Cũng vậy, hành giả phải thật sự dùng toàn tâm lực, sức lực, nguyện lực trên bước đường chuyển hóa thân tâm này.
Phải nhìn cho kỹ nội thủy giới trong từng hành động, ý niệm, lời nói, oai nghi… khi đi tiểu, đổ mồ hôi mình thấy được những chất bất tịnh tuôn chảy. Sự nhờm tởm luôn hiện hữu, đáng nhàm chán với cái thân vô thường bất tịnh này, đào sâu vào chỗ đó; quán chiếu cục ghèn, nước mắt, nước mũi chảy ra, nước tiểu chảy ra, mồ hôi chảy ra, mỡ chảy ra, lúc đứt tay chảy máu… Tất cả thuộc về chất lỏng trong thân. Như vậy, hành giả phải nhìn đó là nước bên trong cơ thể. Bây giờ nước miếng của mình thấy gớm, nước miếng của người khác mình cũng gớm, vậy mà đối tượng bị tham ái mình lại không gớm, mình đam mê cái đó, chỗ này bị cái khổ, bị chấp thủ nên nó bị si ái, một khi tham ái tham dục nó bị si mê, bình thường không ai như vậy, si ái nên vô minh kết hợp với tham ái. Trong tăm tối, si mê bị vô minh che đậy do bị tham ái trói cột, trong kinh Pháp Cú nói rằng:
“Khi nào chưa cắt được
Tham dục giữa gái trai
Vẫn còn buộc ràng
Như bò con vú mẹ.”
Muốn giải thoát mà mình không thoát được dục thì không thể giải thoát được. Khi còn vướng bận với những bộ xương, đống thịt bởi những nhóm bất tịnh hôi hám được khoát lên tấm da trơn láng và màu áo quần đủ sắc làm chói mắt nhau thì khó mà ra khỏi dòng sanh tử. Vì thấy thân này đẹp, muốn tìm thêm một cái thân nữa cho có cặp, có vui buồn bên nhau. Pháp là như vậy, chứ không phải đức Phật bắt đệ tử khi xuất gia, thọ giới Tỳ-kheo cấm dính dáng vào dục. Vì mình như bò con không rời vú mẹ, sự ràng buộc của dục ái là như vậy vĩnh viễn mình không thoát được. Lúc mình nhắm mắt, thức đẩy mình đi tìm một cái than mới qua sự giao hợp của nam nữ, mình nhảy vô mà không biết là gặp tiếp cái bẫy mồi. Do vậy, các bậc A-la-hán tận ái diệt ái dứt sạch ái dục, ly dục thật sự, không hề móng khởi một ý niệm nào, nên sự tu ấy mới đi thẳng, tiến đến bờ giải thoát rốt ráo. Cho nên, cần xác lập sự tu của bản thân ngay từ ý niệm ban đầu muốn xuất gia. Phải luôn tự đặt câu hỏi tu là gì? Tại sao phải tu? Tu để được cái gì? Tu đi đúng con đường thì mới tới sự giác ngộ. Còn không rõ bát chánh đạo, chưa nắm cốt tủy bốn Thánh đế, chưa thật sự nghiền ngẫm vô thường, vô ngã, Niết-bàn và quán bất tịnh trong Như lý tác ý mạnh mẽ thì khó mà vượt qua những chấp thủ, những cám dỗ rất mê li, hấp dẫn.
Hỏa giới là gì? Trung Bộ Kinh - Đại kinh Dụ dấu chân voi đã được đức Phật dạy rõ như sau:
“Chư Hiền, thế nào là hỏa giới? Có nội hỏa giới, có ngoại hỏa giới. Chư Hiền, thế nào là nội hỏa giới? Cái gì thuộc về nội thân, thuộc về cá nhân, thuộc lửa, thuộc chất nóng, bị chấp thủ. Như cái gì khiến cho hâm nóng, khiến cho hủy hoại, khiến cho thiêu cháy; cái gì khiến cho những vật được ăn uống, nhai, nếm, có thể khéo tiêu hóa, hay tất cả những vật gì khác thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thuộc lửa, thuộc chất nóng, bị chấp thủ. Chư Hiền, như vậy gọi là nội hỏa giới. Những gì thuộc nội hỏa giới và những gì thuộc ngoại hỏa giới, đều thuộc về hỏa giới. Cần phải như thật quán sát hỏa giới với chánh trí tuệ như sau: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi". Sau khi như thật quán sát hỏa giới với chánh trí tuệ như vậy, vị ấy sanh yểm ly đối với hỏa giới, tâm từ bỏ hỏa giới.
Chư Hiền, một thời xẩy ra khi hỏa giới dao động. Lửa thiêu cháy làng, thiêu cháy thị trấn, thiêu cháy thành phố, thiêu cháy xứ, thiêu cháy quốc độ. Lửa cháy cho đến cuối hàng cây cối, cho đến cuối hàng đường lớn, cho đến cuối hàng chân núi, cho đến cuối hàng thủy biên, hay cho đến cuối hàng khu đất khả ái, rồi lửa bị tắt vì không nhiên liệu. Chư Hiền, một thời xảy ra khi loài người đi kiếm lửa phải dùng lông gà và dây gân. Chư Hiền, tánh vô thường của ngoại hỏa giới xưa ấy có thể nêu rõ; tánh hủy hoại có thể nêu rõ, tánh đoạn diệt có thể nêu rõ, tánh biến dịch có thể nêu rõ. Như vậy còn nói gì đến thân thể yểu thọ do khát ái chấp thủ này? Ở đây không có gì để có thể nói là tôi, là của tôi, hay tôi là.
Chư Hiền, nếu có những người khác mắng nhiếc, chỉ trích, chọc tức, nhiễu não Tỷ-kheo, vị ấy biết rõ như sau: ...(như trên)... và xả tương ứng với thiện được an trú. Chư Hiền, cho đến mức độ này, vị Tỷ-kheo đã làm thật nhiều.”
Khi chúng ta nóng trong người, sẽ có cảm giác và người khác sẽ thấy hai dái tai mình nó hơi ấm, hơi ấm lòng bàn chân, mặt đỏ, mắt đỏ,… Tất cả là nội hỏa giới trong cơ thể mình, ấm nóng.
Chúng ta ăn uống, thức ăn vào cơ thể tại sao tiêu hóa được, rõ ràng là trong thân này có lửa, lửa đó không giống như lửa mình đốt ở ngoài, đây là một dạng khác vi tế hơn nên mới nói khiến cho hâm nóng, khiến cho hủy hoại, khiến cho thiêu cháy, khiến cho tiêu hóa, nên mình ăn nguyên dĩa rau muống hay một dĩa xà lách, lúc tiêu hóa ra là thứ khác không còn y nguyên, vì được tiêu hóa, hâm nóng, nung đốt làm cho tiêu hóa, thuộc về lửa, chất nóng. Nó bị chấp thủ, vì ta cho cái nóng đó là mình. Chẳng hạn, tôi đang nóng, mình đang nhận cái nóng đó là mình, không thấy cái đó là nội hỏa giới. Ai đó làm mình bực tức, chẳng vừa ý, không đúng yêu cầu công việc nên bắt đầu lửa trong thân bốc lên. Đó là nội hỏa giới, nó thiêu đốt cả ‘rừng công đức’ là vậy! Vì nóng lên mất lý trí, không kềm và rõ biết được cảm xúc lúc bấy giờ, nên than miệng ý đã bắt đầu đi theo chiều hướng vô minh, chấp thủ.
Hành giả quán chiếu sẽ thấy đất nước gió lửa trong thân mình vận động không ngừng. Nếu xúc chạm tùy theo câu nói ở mức độ nào hỏa bốc lên mặt, lên lỗ tai, lên mắt,… nếu không con ngươi mình sẽ đỏ hết, nóng toàn bộ đầu, hoặc mạnh hơn nữa sẽ bị nóng toàn bộ cơ thể, thân nhiệt của mình lên cao theo lửa tham sân si không được dập tắt. Người có bệnh lên tăng xông mạnh quá đứt mạch máu, nhoiồ máu cơ tim, tăng huyết áp là chỗ này đó. Nội hỏa giới liên hệ đến sân, kết hợp với sân, đi chung với sân.
Tham đi chung với thủy giới, tham ái lúc nào cũng là nước, tham dục là nội thủy giới sẽ kết hợp, nên ái liên hệ với nước.
Sân liên hệ với lửa, nội hỏa giới kết hợp với nhau để làm việc rất tích cực, nếu mình không biết tu, trong một ngày chắc phải dùng bình xịt chữa cháy mấy lần. Lúc nào cũng mang theo bình chữa cháy, phát hỏa là dìm dập ngay. Tự mình phải có pháp, từ, nhẫn, quán chiếu để mình đẩy sân đi ra. Tứ đại hoạt động rất sâu xa, không đơn giản như mình học đất nước gió lửa, tứ đại giai không, có gì đâu, đó là nói trên môi không có quán chiếu, chưa thành tựu trí huệ nên khổ với tứ đại. Do chưa thật thấy tứ đại là tứ đại nên mình thấy tứ đại là mình, là tôi, là tự ngã.
Si tương ưng với trì xuống, đất địa đại, trì trệ nặng nề rồi nằm dài không muốn vận động, chẳng ham suy nghĩ tích cực.
Trong sân vừa có lửa, vừa có phong đại đẩy lên, lửa gặp gió mà gió xuôi chiều lan hết cháy hết, phong đại với hỏa đại kết hợp.
Tham ái mình thấy rõ nặng về thủy đại nội thủy giới, si nặng về nội địa giới trì trệ xuống lờ đờ lờ mờ.
Đây là đại quả tái sanh khởi, nó thiêu đốt hết, cháy rụi lại bắt đầu tái thiết sự sống. Con người lại dùng hai viên đá bùi nhùi lông gà để tìm lửa, thế giới đi xoay vòng sinh thành trụ diệt, cứ như vậy thành chu kỳ, tái diễn, không sai khác, chẳng thoát được tù ngục của tham ái, sân si. Chỉ có tu hành mới vượt thoát khỏi chông gai xiềng xích của lửa ái đó.
Từ lửa bên trong đẩy ra thành lửa bên ngoài, tâm sân hận bên trong, đủ nhân duyên giữa hỏa đại với phong đại thành bùng nổ dữ dội. Như vậy tâm can bị đốt sạch, cháy hết nội tạng, hư hoại hết trong người rồi lan sang người khác, nơi khác. Từ nội giới chuyển thành ngoại giới. Kinh khủng lắm!
Lửa sân hận phá vỡ những tình cảm có thể trước đó tốt đẹp, những mối quan hệ làm ăn trước đó có thể rất tốt, lửa hận đó nuốt chửng mạng sống chính mình và người khác. Chiến tranh thế giới cũng từ nội hỏa giới bùng phát lên thành cao trào, mãnh liệt, không thể bức phá nên nó lan thành ngoại hỏa giới. Các nước đánh chiếm nhau, đau thương, chết chóc, máu lửa, sân hận ngập trời. Ngày nay, con người dễ nổi sân, lửa dường như luôn túc trực sẵn trong người chỉ chờ dịp là bùng lên. Do nghiệp sát rất nặng. Chúng ta ăn nuốt các loài động, thực vật đến chỗ tận diệt, không cho đường tái sanh. Bếp lửa bốc cao, mùi tanh dày đặc, nỗi khổ cũng từ đây mà viên thành. Chiêu cảm nghiệp lành, nghiệp dữ cũng từ tâm mà ra. Chỗ này mình quán chiếu nghiệp quả sẽ thấy rất ghê gớm! Tại sao người đó bị chết cháy, người kia chết chìm, người nọ bị chôn sống, người này bị gió bão thổi, người đang chạy xe ngang những cây to bị cây ngã đè chết hoặc bị thương, người khác thì không sao, còn mình bị rất nặng. Tất cả đều là nghiệp quả không thể nghĩ bàn trong quá khứ của mình chứ không phải tự nhiên nó chiêu cảm ra như vậy. Do vậy, luôn cẩn trọng dè dặt với thân, miệng và ý. Vì phước hay tội, thành phàm hoặc thành Thánh cũng từ đây mà ra. Tất cả do mình biểu hiện và sẽ gặt lấy hoa trái một là ngọt hai là đắng cay hoặc phước vui hay tội khổ; biết rõ nhân quả để mình càng sợ với nghiệp quả mà xa lìa sân hận, si cuồn, tham vọng.
Phong giới là gì? Trung Bộ Kinh - Đại kinh Dụ dấu chân voi đã được đức Phật dạy rõ như sau:
“Chư Hiền, thế nào là phong giới? Có nội phong giới, có ngoại phong giới. Chư Hiền, thế nào là nội phong giới? Cái gì thuộc về nội thân, thuộc cá nhân, thuộc gió, thuộc động tánh, bị chấp thủ, như gió thổi lên, gió thổi xuống, gió trong ruột, gió trong bụng dưới, gió thổi ngang các chi tiết (tay chân), hơi thở vô, hơi thở ra, và bất cứ vật gì khác thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thuộc gió, thuộc tánh động, bị chấp thủ. Chư Hiền, như vậy gọi là nội phong giới. Những gì thuộc nội phong giới và những gì thuộc ngoại phong giới đều thuộc về phong giới. Cần phải như thật quán sát phong giới với chánh trí tuệ như sau: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi". Sau khi thấy như thật phong giới với chánh trí tuệ như vậy, vị ấy sanh yểm ly đối với phong giới, tâm từ bỏ phong giới.
Chư Hiền, một thời xẩy ra khi ngoại phong giới dao động, gió thổi bay làng, thổi bay thị trấn, thổi bay thành phố, thổi bay xứ, thổi bay quốc độ. Chư Hiền, một thời xẩy ra khi trong tháng cuối mùa hạ, loài người tìm cầu gió nhờ lá cây ta-la, nhờ cây quạt, và người ta không mong tìm được cỏ tại chỗ có rạch nước chảy. Chư Hiền, tánh vô thường của ngoại phong giới xưa ấy có thể nêu rõ; tánh hủy hoại có thể nêu rõ; tánh đoạn diệt có thể nêu rõ; tánh biến dịch có thể nêu rõ. Như vậy còn nói gì đến thân thể yểu thọ do khát ái chấp thủ này? Ở đây không có gì để có thể nói là tôi, là của tôi, hay tôi là.”
Chúng ta thấy sự chuyển động nuôi sống trong thân là từ mượn gió, mượn ngoại phong giới nuôi nội thân giới, rồi từ nội thân giới giao thoa luân lưu với ngoại phong giới. Tuần tự, điều hòa, liên tục. Nếu ngừng là cái thân giả tạm này chết ngay, hoại diệt liền. Sự vay trả, hấp thụ thuộc về tánh động, chúng ta nói chuyện phải có phong giới mới nói được, mình nói ‘tôi đang nói chuyện’, ‘tôi đang tập thái cực quyền’ nhưng mình không biết đó là nội phong giới, gió bên trong, tim đập, mạch nhảy, máu huyết tuần hoàn, hơi thở vào ra, hơi thở mạnh nhẹ, gấp gáp, ngắt quãng biểu hiện tình cảm cảm xúc, sức khỏe của người đó. Hoặ như ngồi mà lắc chân, nói chuyện nhưng tay cứ xoa nắm và biểu lộ, ánh mắt, mí mắt nheo nhắm mở, nếu không có phong giới làm sao mình nhai nuốt, ăn uống, đi đứng được,… đều nhờ có phong giới nó mới chuyển động được. Thật vậy, tất cả động đều là nội phong giới. Quán chiếu đến khi thấu rõ sự thật không có cái tôi, không có cái gì là của tôi, đó mới là trí quán của Bậc Toàn Giác, Bậc Chánh Đẳng Giác truyền trao cho mình, lúc nào mình cũng nhìn thấy nội phong giới.
“Gió thổi lên, gió thổi xuống, gió trong bụng dưới”
Gió thổi lên lúc đó mình lấy hơi hoặc mình ợ hoặc mình ngáp; còn gió thổi xuống trong luật mình gọi là hạ phong, xuống gió hay gió dưới nội phong giới, mình nhìn thấy rõ được tất cả pháp trong tự thân tự tâm mình, phải thấy rõ hết không được không rõ, được như vậy mới gọi là chánh giác. Hành giả tu cho tới chỗ toàn giác, có sự giác ngộ toàn thiện, toàn thể về tự thân tự tâm của chính mình.
“Gió thổi ngang các chi tiết tay chân”. Nhiều khi tay chân ê ẩm có khi là gió bên trong hoặc bên ngoài làm cho mình mìệt mỏi, đờ người; trúng gió là ngoại phong giới. Gần đây, bên Ấn Độ có bão cát gây ra cái chết mấy chục người đó là ngoại phong giới, cát là ngoại địa giới. Cho nên, bốn thứ đại kết hợp làm cho khổ, chính nó làm nhà cho mình ở nhưng cũng chính nó phá cái nhà giải thoát, xây cái nhà lửa chấp chứa phiền não trong đó.
“Chư Hiền, một thời xẩy ra khi ngoại phong giới dao động, gió thổi bay làng, thổi bay thị trấn, thổi bay thành phố, thổi bay xứ, thổi bay quốc độ. Chư Hiền, một thời xẩy ra khi trong tháng cuối mùa hạ, loài người tìm cầu gió nhờ lá cây ta-la, nhờ cây quạt, và người ta không mong tìm được cỏ tại chỗ có rạch nước chảy.”
Ý đây nói là gió dường như không còn, đầu tiên là phong tai nổi lên vì trong kinh có nói đại tam tai, kiếp hoại đó là phong tai nổi lên, thủy tai nổi lên, hỏa tai nổi lên, lúc nổi lên là nó cuốn hết nhà cửa, làng mạc, thị trấn, xứ sở, đất nước cuốn hết và có lúc không có gió, người ta phải tìm mọi cách để có gió; như mình thiếu gió phải lấy quạt tạo ra gió cho mát, phong giới mạnh mình cũng chết mà không có mình cũng chết, mình lệ thuộc về tứ đại, gió quá cũng chết, không gió sống cũng không nổi, nó làm tiêu tan, bay hết.
“Cần phải như thật quán sát địa giới, thủy giới, quả giới, phong giới với chánh trí huệ như sau, cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi, sau khi như thật quán sát địa giới với chánh trí huệ như vậy vị ấy sanh yểm ly đối với địa giới.”
(Yểm ly là muốn chán nản, muốn rời bỏ nó, thủy giới, hỏa giới, phong giới với tâm từ bỏ, không còn yêu thích, chẳng còn tham luyến, không còn bám chặt nắm chặt nữa, thấy rõ bản chất của nó không phải tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi.)
“Chư Hiền, tánh vô thường của ngoại phong giới xưa ấy có thể nêu rõ; tánh hủy hoại có thể nêu rõ; tánh đoạn diệt có thể nêu rõ; tánh biến dịch có thể nêu rõ. Như vậy còn nói gì đến thân thể yểu thọ do khát ái chấp thủ này? Ở đây không có gì để có thể nói là tôi, là của tôi, hay tôi là.”
Sau khi bằng trí tuệ chân chánh dùng để quán xét, thấy rõ rằng đất nước gió lửa không phải là tôi, không phải là của tôi, tứ đại này không phải vô ngã, của tôi. Hành giả quán chiếu như vậy thường xuyên, thực hành cho đến khi vừa khởi ý niệm là tất cả hình ảnh đều hiện rõ để dễ sanh nhàm chán, xa lìa, vì ta đã thấu rõ bản chất của chúng. Vì chúng luôn vô thường, tánh biến đổi của ngoại địa giới, đất bên ngoài, nước bên ngoài, lửa bên ngoài, gió bên ngoài, tánh hủy hoại của nó, tánh đoạn diệt của nó, tánh biến dịch của nó, là biến đổi và hủy hoại, nó đi đến chỗ hoại diệt, đoạn tận, chấm dứt.
Cả trái đất, khắp vũ trụ này còn sụp đổ, cháy thành tro bụi thì còn nói gì đến thân thể yểu thọ do khát ái chấp thủ này; khối vô minh si mê cho nên thân thể yểu thọ do khát ái chấp thủ mà sanh ra, yểu thọ là sống khoảng trăm tuổi là hết mức, tám mươi tuổi hay bảy mươi tuổi, bốn, ba, hai chục tuổi… Cho nên, thân thể yểu thọ vô thường là do khát ái chấp thủ.
Thật vậy, tứ đại đất - nước- gió - lửa tạo thành sắc uẩn. Chúng ta cần luôn soi rọi lại nội tâm, suy xét cho thật sâu sắc từ những lời dạy của Thế Tôn và hành trì. Muốn vượt qua đau khổ, lên tới bờ giải thoát phải xa lìa, buông xả, đừng nắm níu, phải có cẩm nang đối trị ba con rắn độc luôn sẵn sàng thò đầu ra cắn mình, cắn người ta. Kết thúc bản kinh Dụ dấu chân voi, đức Phật đã dạy rằng:
“Bất cứ sắc gì được hiện khởi như vậy đều quy tụ trong sắc thủ uẩn; bất cứ cảm thọ gì được hiện khởi như vậy đều quy tụ trong thọ thủ uẩn; bất cứ tưởng gì được hiện khởi như vậy đều quy tụ trong tưởng thủ uẩn; bất cứ hành gì được hiện khởi như vậy đều quy tụ trong hành thủ uẩn; bất cứ thức gì được hiện khởi như vậy đều quy tụ trong thức thủ uẩn. Vị ấy tuệ tri như sau: "Như vậy, như người ta nói, có sự quy tụ, sự tập họp, sự hòa hợp của năm thủ uẩn này. Thế Tôn đã nói như sau: "Ai thấy được lý duyên khởi, người ấy thấy được pháp; ai thấy được pháp, người ấy thấy được lý duyên khởi". Những pháp này do duyên khởi lên chính là năm thủ uẩn. Sự tham dục, chấp trước, tham đắm, mê say trong năm thủ uẩn này tức là khổ tập; sự nhiếp phục tham dục, sự từ bỏ tham dục tức là sự khổ diệt".
4. Gội sạch vết nhơ
Tu tập là tự mỗi hành giả thường xuyên và liên tục làm sạch sẽ, tốt đẹp, trọn vẹn thanh tịnh cho thân, miệng, ý của mình; thân và tâm của mình thanh tịnh rồi sau đó dùng thân, miệng và ý thanh tịnh đó hướng đến người và vật khác. Chúng ta đem sự an vui, hạnh phúc, thiện lành, giải thoát, xả li phiền não, khổ đau, bất an đến khắp tất cả, đó mới là thông điệp của sự tu. Như vậy, vết nhơ trong lòng này luôn có và còn, đừng nghĩ rằng nó đang im im là không có gì, chưa hẳn. Do đó, thường soi lại nội tâm, làm sạch, gội rửa cho mới mẻ, tốt tươi không còn cáu bẩn, chẳng chút tì vết. Có như vậy mới chuyển từ phàm sang thánh, từ mê sang ngộ, cần kiên nhẫn và quyết tâm lớn.
Đức Phật nói là “không tu tập là vết nhơ của kinh điển, không siêng năng là vết nhơ của nhà cửa, biếng nhác là vết nhơ của thân thể, còn lơ đãng là vết nhơ của người bảo vệ.”
Kinh điển mà mình được quý thầy cho hoặc mình thỉnh về, sau đó kinh sách nằm im trên kệ, trên bàn mà không được chúng ta giở ra xem coi đọc tụng và làm theo lời Phật dạy. Như vậy, kinh điển bị nhuốm bụi, cho nên không tu tập kinh điển để sẽ nhơ, không siêng năng quét dọn lau chùi thì nhà cửa sẽ dơ, nhà ai cũng sạch, đôi khi có máy hút bụi nhưng đó mới chỉ là nhà ở ngoài, còn phải lau ngôi nhà tâm linh của mình. Xưa chư tổ từng nhắc chúng ta:
“Quét đất quét nhà quét đất tâm
Đất tâm không quét uổng công làm
Người đời nếu biết đem tâm quét
Phiền não còn đâu chốn nảy mầm.”
Quét đất, quét nhà đó là quét ở bên ngoài nhưng mình phải quay lại quét được đất trong tâm mình, quét nhà ở phía trong mới là điều quan trọng.
Đất tâm không quét, ngôi nhà tâm linh chẳng dọn sạch sẽ uổng công làm, tức là ngôi nhà tâm linh không quét chỉ lo quét ở bên ngoài, người ta nhìn thấy bóng ngời gạch cẩn đá nhưng bước và ngôi nhà mới hay là hai người đang gây lộn, thành viên trong gia đình bất hòa, đời sống bất an… như vậy, sự sạch sẽ đẹp đẽ kia chỉ mới ở bên ngoài, là lớp vỏ. Điều cần thiết yếu là bên trong, điều này mới bền chắc, lâu dài. Nếu thường xuyên quét rác trong nội tâm thì đâu còn những nóng giận, buồn phiền, hờn mát, ganh ghét v.v...
Cách hóa giải những lo âu, buồn, thương, giận, ghét, tranh đấu, phiền não trong cuộc sống hàng ngày là siêng quét chùi lau cho sạch thân và tâm này. Dùng cái chổi ý chí, chánh tri kiến quét cho sạch cơn nóng giận, lửa sân; những cái u mê trì trệ của vô minh; những nắm níu, mong cầu, muốn chiếm hữu của lòng tham, ích kỷ, đố kỵ,… một hơi thở vô A-Di một hơi thở ra Đà-Phật là không còn để tâm cho phiền giận hơn thua. Hoặc một hởi thở vô biết là đang ‘mượn’, một hơi thở ra biết rõ là đang ‘trả’, vậy thì còn gì đâu mà tranh đấu, muốn làm đau lòng nhau. Hoặc một hơi thở vô nhiếp tâm niệm danh hiệu đức Bổn Sư Thích-ca Mâu-ni Phật, rồi một hơi thở ra nhớ nghĩ tới một trong mười danh hiệu của bậc Đạo Sư. Biết danh hiệu tôn quý ấy để làm gì? Để nhớ nghĩ tới ân đức, hạnh nguyện của Phật đã thành tựu mà học theo, từ bố thí, nhẫn nhục, trì giới, tinh tấn,… đều dấn than làm hết khả năng, bằng tất cả sự kiên trì đến cõi Phật. Có như vậy mới thấy không hổ thẹn với đàn na tín thí, với mẹ cha, thầy tổ, đất nước, chúng sanh… trên bước đường tu hành.
Biếng nhác là vết nhơ của thân thể.
Ai làm biếng, không tắm gội cho sạch sẽ cái xác than, khi có người khác tiếp xúc, vừa tới gần đã nghe mùi khó chịu, cảm giác không thể thiện cảm với nhau ngay trong cái nhìn hoặc cái gặp gỡ đầu tiên rồi. Nếu người đó ở dơ, không gội sạch thân, có khi đang nói chuyện lại thấy tay người đó hoạt động liên tục cho việc gãi ngứa, ngồi cũng chẳng yên, vậy thì không thể gần nhau bàn việc sâu hơn được, chưa thể tới gần được thì mãi mãi là xa cách. Con đường học đạo cũng vậy, phải rửa sạch, lau chùi kỹ những nhơ uế trong tâm tưởng mình. Phải loại trừ bất thiện pháp, những gì thuộc về trì trệ, thoái đọa, xấu, ác, phạm giới thì cần xa lìa, diệt tận, mạnh mẽ và dứt khoát đoạn tận nó. Nhục thân sạch sẽ, tâm hướng thượng thiện lành thì dễ gần đạo, tinh tấn không ngừng rồi đi đúng con đường Phật dạy thì hang thánh quả sẽ là con đường đi tới, mau hay chậm tùy thuộc vào sự tinh tấn hoặc giãi đãi của chính bạn. Tu trong mọi oai nghi, trong làm việc, trong thân, miệng và ý. Tu cụ thể thiết thực, ngay đây và bây giờ chứ chẳng phải ở đâu xa hoặc một điều gì đó rất mơ hồ, không phải như vậy!
Lơ đãng là vết nhơ của người bảo vệ.
Người gác cổng hay bảo vệ một công ty nào đó lẽ ra hoàn thành nhiệm vụ là luôn mở mắt canh chừng người xấu đột nhập, quan sát cẩn thận, thân, miệng, ý hoạt động một cách rõ rệt hướng về mục đích đối tượng đang làm việc. Nhưng ở đây, người gác cổng đang ngủ gật thì người lạ vào có khi mất đồ mang họa. Như vậy, người bảo vệ, gác cổng phải có bổn phận, trách nhiệm, luôn luôn tỉnh giác, đề phòng cẩn mật mới bảo vệ được công ty, mới tạo uy tín của bản than với cấp trên đã giao phó.
Vậy, hành giả bảo vệ và gác cổng cái gì? Đó là bảo vệ sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý) đừng để cho nó tiếp duyên với sáu trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc và giác) mà sinh khởi phân biệt, ham muốn, dính mắc. Phải phòng hộ và điều phục bản thân, không để sự đắm nhiễm lấn lướt, chuyên chú vào giới - định - tuệ, một lòng niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng không buông lung chẳng phóng dật thì cửa bất tử mới rộng mở đón chào hành giả tinh tấn, xứng là con Phật.
Khéo bảo vệ chính mình là sao? Điều này rất quan trọng, mình biết chánh niệm tỉnh giác, canh chừng mỗi cử chỉ, hành động, lời nói, việc làm của bản thân. Không gây hại đến người khác, chẳng làm người khác đau buồn, khổ não vì mình. Nếu người nào sống được như vậy, hạnh phúc ngay đây và bây giờ. Bởi, đồng nghiệp thương quý, bạn bè quý trọng, người thân thương yêu hơn, cộng đồng, xã hội, đất nước, thế giới biết tới với lòng tôn kính,… nếu chúng ta làm với tấm lòng bao la, làm với hạnh nguyện vì người, vì đời, vì sự giải thoát ràng buộc trong luân hồi sanh tử này, đó là cái tâm vô ngã của sự hiểu thấu vô thường.
Đức Phật nhắc đi nhắc lại rất nhiều lần trong sự khéo phòng hộ, khéo bảo vệ, khi mình muốn làm một điều gì phải có mặt trí huệ kiểm soát; điều đó đúng hay sai, tốt hay xấu có phù hợp với đạo hay không… Khi thường xuyên thực hiện qua trí huệ kiểm soát sẽ có kết quả rất tốt, nên Thế Tôn đã có những pháp gọi là bất cộng, tức là những pháp rất đặc biệt, không có chung với những người khác. Những pháp đó là “tất cả ý niệm là do trí huệ dẫn đường, tất cả lời nói là do trí huệ dẫn đường, tất cả hành động là do trí huệ dẫn đường”.
Khi chúng ta khéo biết kiểm soát, bảo vệ mình và người, như vậy đảm bảo mọi việc làm của mình đều có kết quả rất tốt. Đôi khi chúng ta thấy việc đó rất đơn giản, dễ dàng mà xem thường không trú tâm như thật biết với bản chất của chúng thì vẫn có thể thất bại như thường. Hành giả trú tâm thận trọng không những việc nhỏ, mà việc lớn cũng thành công; từ cư sĩ cho tới người xuất gia, từ người nhỏ cho đến người lớn, từ người mới vào đạo cho đến người đã hành trì đạo lâu năm luôn e dè, quán chiếu sâu sắc thân và tâm trong mọi việc làm, tạo tác đều vì lợi ích cho người, vì hướng thượng, thiện lành, giải thoát thì điều đó mới đem lại hiệu quả thiết rhực, là nụ cười thật sự trên bước đường gột rửa cấu uế.
Bồ-tát Đại Thế Chí dạy chúng ta niệm Phật “niệm niệm tiếp nối, niệm niệm thanh tịnh được vào chánh định”, mỗi niệm thanh tịnh là thâu nhiếp, bảo vệ sáu căn đừng để cho con mắt thấy hình sắc mà phóng chạy, bên ngoài đang có sự nguy hiểm rình rập hoặc đang đi không lo nhìn ngay bước chân mà cứ nhìn đâu đâu, bị vấp té một cái trật chân, bong gân có khi nguy hiểm nhiều hơn. Phải chuyên chú quán chiếu trong từng cái nhỏ nhiệm mới vượt thoát, mới dần xa lìa thói quen tập nhiễm của năm uẩn mê lầm từ bao đời kiếp nay trôi lăn trong dòng sanh tử luân hồi triền miên đau khổ.
“Tùy duyên tiêu nghiệp cũ
Hồn nhiên mặc áo xiêm.”
Bậc Thiện Thệ nhắc thêm chúng ta những vết nhơ, mình cần để ý, tức là “tà hạnh là vết nhơ của người đàn bà, keo kiệt là vết nhơ của người cúng dường, đối với cõi này hay cõi sau là vết nhơ chính là việc ác”.
Tà hạnh là không thủy chung, là có lối tẽ riêng, ngoại tình là vết nhơ của người đàn bà / đàn ông.
“Keo kiệt bỏn sẻn tham lam, không biết bố thí, cúng dường, không biết giúp đỡ những người nghèo, khó khăn, đó là vết nhơ của người tu tập tâm rộng lớn, đối với cõi này hay cõi của đời sau, vết nhơ chính là những việc ác.”
Ở đây đức Phật ví dụ cho chúng ta thấy giống như từ thanh sắt sanh ra sét, sét lại hủy hoại lại thanh sắt, cũng vậy ác nghiệp do mình gây ra rồi trở lại dẫn mình đi vào đường ác. Chúng ta thấy tất cả đều xuất phát từ ý niệm sanh khởi, điều xấu ác dẫn mình đi vào trong cõi dữ, còn tâm ý ai hướng theo chiều lành thiện thì sẽ chiêu cảm vào cõi lành, an vui. Điều này cũng như khách li hương lâu ngày từ xa trở về quê an ổn, được bà con đón mừng, người làm phước cũng vậy, từ đời này sang đời sau phước lành của họ được dồi dào nối tiếp sinh sôi.
Không phải tự dưng mà hành giả vừa phát tâm tu hành liền có nhiều thuận duyên, nhiều huynh đệ đạo hữu quý mến, tương trợ, chia sẻ, sách tấn trên bước đường chuyển hóa. Cũng chẳng phải khi không mà mọi người tự dưng xa lánh mình, chẳng muốn giúp mình, vô cảm với mình, đối xử tệ bạc với mình, thậm chí còn đánh đập, giày vò từ tinh thần đến vật chất.
Như vậy, chúng ta làm phước, tu huệ bằng tất cả tấm lòng vì đạo pháp phụng sự nhân sinh tiến bộ. Tu hành nhiệt tâm, làm bằng tâm vô ngã thì mới thấy sự rộng lớn thiết thực của việc làm đó, điều đó sẽ tương ưng với tình cảm, thái độ của mọi người đối lại với mình. Mình vì tất cả thì đi tới đâu cũng được tất cả đón tiếp như người thân từ xa trở về nhà, dù đó là kẻ lạ, nơi xa…
Đức Phật nói: “Vô minh là nhơ hơn hết, nên mọi người hãy trừ hết vô minh để trở thành thanh tịnh trong sạch.”
Cuối cùng, đức Phật đưa ra cho chúng ta thấy được trong tất cả vết nhơ, vô minh là hơn hết, là không có sang, chẳng biết đường đi, loay hoay không ra khỏi nỗi khổ trong dòng sanh diệt.
Chẳng hạn, muốn thấy đường đi trong đêm tối thì phải có trăng sao, có đèn đường, có đèn pin, hoặc tệ nhất cũng có chiếc bật lửa để soi rõ được một chút đường mình đang đi có bằng phẳng hay trơn trượt, gai góc. Cũng vậy, muốn thoát khỏi vô minh si ám, xa lìa sanh tử buộc phải tận lực tu hành chân chánh, quyết chí tiến tu một mạch dựa trên nền tảng bốn sự thật, tám con đường chân chánh, thực hiện theo vòng luân chuyển xe pháp vô thường, vô ngã, Niết-bàn. Như vậy, chánh tri kiến là điều đầu tiên quyết định cho con đường ra khỏi vô minh, vùng tối của cuộc đời. Có chánh tri kiến và kiên trì thực hành sẽ có trí huệ. Từ trí huệ có là do siêng năng trì giới, an trụ trong định.
Đức Phật nói thân mình nhơ nhớp, còn chúng ta cho thân này đẹp đẽ lắm. Do đó, mình cứ tô bồi cho nó nào phấn son, nào tẩy trắng, nào làm đẹp bằng lụa là vải vóc mới thơm, lo cho cái ăn thức uống và không chấp nhận sự thật là đồ dỏm của thân giả tạm. Huống nữa là nói tới việc quán bất tịnh, chính vì chưa từng hoặc không thể chịu chấp nhận sự thật, nhận diện nó một cách sòng phẳng, đón nhận nó như đón nhận một điều bình thường nên mình khổ, lo, sầu và không thoát vô minh, chưa rời khỏi lưỡi hái thần chết.
Chúng ta vào Viện Dưỡng lão sẽ thấy những cụ già nằm bệnh, tuổi của suy hao, của qua thời thành công rực rỡ, qua thời mạnh khỏe, qua thời săn đón chào mời… Giờ đây là nỗi đau thân xác chuyển mùa, nỗi đau bệnh tật, nỗi cô đơn, không làm chủ được các chi phần trong cơ thể, cái chết đang từng phút giây tiến sâu vào lục phủ ngũ tạng. Tuổi trẻ không tu già hối tiếc là vậy! Tuổi trẻ hoang đàng già lâm nạn là khó tránh! Tuổi trẻ dung sức lực mua công danh sự nghiệp, mua những phiền não, nhiễu hại thân tâm về già không có thứ gì mua hoặc chuộc lại được sức khỏe ngon lành cả. Cuối cùng loay hoay, dở khóc dở cười như tấn trò đời, như một diễn viên tồi trong vở diễn, ta chưa ra vùng sáng, chưa thể tự thân thắp đuốc lên mà đi, vì nương cậy, mong chờ, ỷ lại… rồi lạc pháp trong sự tu. Đau khổ chồng chất, đó là một sự thật cần nhìn sâu cùng tột.
Một hơi thở có thể phá vỡ vô minh, cũng một hơi thở trút một mạng người, nó mong manh, chẳng có gì là bền chắc. Nếu chưa tỉnh táo còn lầm nhận là thường hằng, kệ đi, không sao đâu thì tới lúc có sao là đã chẳng còn kịp làm gì khác ngoài việc sa hầm sụp hố theo nghiệp lành dữ một đời tạo tác, thường là lành ít mà dữ thì nhiều, rất nhiều. Thế Tôn nhắc chúng ta rất tha thiết: “Cứ mỗi buổi sáng mai thức dậy tự biết phản tỉnh hành động không tỳ vết, trí tuệ hiền minh, giới hạnh trong sạch, đó là người đáng được bậc trí tán dương.”
Chúng ta muốn rửa sạch vết dơ vô minh, muốn gột sạch cấu bẩn của mê lầm, điên đảo, thị phi thì mỗi buổi sáng thức dậy mình phải biết phản tỉnh hoặc buổi chiều tối soi xét lại nội tâm. Phản tỉnh là soi xét lại tâm niệm của mình, soi xét lại trong một ngày qua, ta đã làm những gì, ngủ dậy đi làm, đi làm tới tối về nhiều khi không biết tu, chỉ lo mở ti vi xem phim nghe thời sự gì đó hoặc chương trình giải trí cười khóc một chút với đời rồi lại ngủ, quy trình lặp đi lặp lại trong mệt mỏi, không ra khỏi. Nó đều đặn mấy chục năm cho tới già rồi chết đi, mình cũng chưa thật nhận diện rõ ràng sâu sắc mình sống làm gì, sống ý nghĩa ra sao, tại sao ở đây…
Mỗi giây phút sống động là sanh ra bao nhiêu thứ nghiệp, chỉ khi nào nhắm mắt xuôi tay mới dừng nghiệp hiện tại. Lúc này mới thấy sự phân tách, phán xử của nghiệp lành dữ hiện diện, rồi ta tái sanh trong những huân nghiệp đó. Người kịp thời phản tỉnh, xét lại từ giới hạnh và trí huệ sẽ biết ngăn ngừa tội lỗi. Đầu tiên, năm giới đã thọ, cố gắng giữ gìn, tập ăn chay, lan tỏa tình thương đến với người, vật, cảnh; tiếp đến mình giữ giới không những không trộm cắp mà còn biết bố thí, làm tất cả việc lành; ngăn chặn tham dục phát khởi bằng cách mạnh mẽ không tà dâm, bằng cách đem pháp thanh tịnh để chia sẻ đến cho mọi người; không những không nói dối mà nói lời chân thật, nói lời chánh pháp, nói những lời làm cho mọi người đi tới chỗ an lạc ở trong đạo lý đó là giữ giới.
Như vậy, hành giả dù cư sĩ hay xuất gia đều có nhiệm vụ chuyển bánh xe pháp, làm cho chánh pháp thường còn, đem chánh đạo đến cho mọi người, không những người cư sĩ không uống bia, rượu, các loại chất kích thích khác mà thường uống nước pháp tức là một ngày nghe ít nhất là một bài pháp, lâu dần mình thấm nhuần nước pháp đó, rồi mình mới đem chia sẻ mọi người. Còn uống bia, rượu là vô minh, điên đảo, chỉ có uống nước pháp mới sanh ra trí huệ giác ngộ. Ngay khi mình tỉnh táo, không có một giọt bia, rượu nào đôi khi mình còn nhìn lầm lẫn đối với sự thật, đi ngược lại với lời dạy của đức Phật. Trên lý thuyết hiểu mọi sự vật, hiện tượng đều giả dối, tạm bợ nhưng đụng chuyện mới thấy là đều thật. Đang khi tỉnh táo không một giọt rượu, bia vẫn không thấy được sự thật, nếu uống bia rượu vô thì thấy mê lầm chồng thêm mê lầm, tăm tối chất thêm tăm tối, vô minh chồng chất thêm vô minh, đi tới đại vô minh.
Phật thương xót chúng sanh, sợ hàng đệ tử xuất gia lẫn tại gia đi sai, không tới Niết-bàn nên Ngài mới chế ra luật. Đó là cách ngăn ngừa tội lỗi, chỉ cho điểm dừng, ví như chạy xe gặp đèn đỏ lập tức dừng ngay, vượt đèn là bị phạt vì vi phạm lutậ giao thông hoặc có khi vượt đèn đỏ mà gây ra tai nạn cho xe, người khác. Luật thiết lập để cho con người ta từ chưa tốt thành tốt, đã tốt thành tốt hơn, từ phàm sang thánh cũng nhờ tinh chuyên giữ gìn giới luật. Từ Tam quy Ngũ giới tới Thập thiện rồi Bồ-tát giới cho tới luôn giữ thân tâm trong sạch là những nấc thang mà người học Đạo cần noi theo, hành trì.
Đức Phật nhắc chúng ta: “Từ giây phút này cho đến giây phút khác, người trí lo gột trừ dần cấu uế nơi mình, giống như người thợ vàng cần mẫn để gột trừ cặn bã khỏi chất vàng ròng.”
Không phải đợi tới thời khóa công phu: Tụng kinh, niệm Phật, trì chú, tọa thiền,… mà sự hành trì công phu tu tập là không dừng lặng, chẳng ngơi, nó nối tiếp và nghiền ngẫm, quán chiếu từng khoảnh khắc. Chúng ta dùng hơi thở để thanh lọc vết bẩn những cấu uế trong nội tâm.
“Gột rửa trừ dần, loại bỏ những cấu bẩn để mình lấy ra chất vàng ròng”, tâm mình rất quý báu, nên Tổ Bá Trượng nhắc chúng ta:
“Ánh linh viên chiếu vượt thoát căn trần
Thể lộ chân thường chẳng kẹt văn tự
Tâm tánh không nhiễm vốn tự viên thành
Chỉ lìa vọng duyên tức như như Phật.”
‘Ánh linh viên chiếu vượt thoát’, ánh linh là tâm sáng của mình rất linh thiêng, chính cái biết sáng suốt đang nghe pháp hiện giờ của quý vị vượt thoát căn trần, không bị hạn cuộc trong mắt tai mũi lưỡi của mình, không bị hạn cuộc ở cảnh vật bên ngoài. Chẳng hạn, chúng ta ngồi nghe pháp từ chùa ở cạnh phố thị nên tiếng ồn của xe cộ là lẽ đương nhiên, nhưng tai mình không thích, tâm mình phát bực, rồi tiếng động cơ của máy bay, tiếng rao bán bên ngoài, bao nhiêu âm thanh ấy nếu mình không cột chặt nhĩ căn, thâu nhiếp vô thường, như nhiên thì sẽ dấy phiền não liên tục, vì mọi sự việc tiếp nối và liên tục. đây lỗ tai.
Đừng bị bó hẹp, vướng kẹt suy nghĩ trên văn tự. Phải tìm sâu hiểu tận tường mới hiểu lời Phật dạy, chư tổ khuyên nhắc.
Tất cả kinh điển chỉ là ngón tay chỉ cho mình thấy mặt trăng, mặt trăng là tâm giác sáng suốt thanh tịnh của mình.
“Tâm tánh không nhiễm vốn tự viên thành
Chỉ lìa vọng duyên tức như như Phật.”
Chỉ cần giữ tâm đừng bị vết nhơ, chẳng vướng vào ô nhiễm thì tự ngay chỗ đó trí huệ sẵn có như Phật không khác. Khi Thái tử Tất-đạt-đa mới vừa thành Phật tại cội Bồ-đề đã từng thốt lên rằng: “Kỳ lạ thay! Kỳ lạ thay! Tất cả chúng sanh đều có đầy đủ trí huệ đức tướng Như Lai, nhưng bị vọng tưởng, bị vô minh, bị bao nhiêu phiền não che đậy không thấy; nếu như có thể vượt hết khỏi vọng tưởng, vô minh, chấp trước thì trí huệ tự nhiên hiển lộ, trí huệ vô sư hiển lộ, trí huệ thấu biết tất cả sự vật hiển lộ.”.
Thật vậy, chúng ta có của quý báu, đừng để cho các vết nhơ xâm nhập, hằng ngày lau chùi bằng phương pháp rất đơn giản trong từng hơi thở, mình sẽ thấy ngay nơi tâm tánh mình là báu vật thiêng liêng. Mười phương chư Phật ở ngay nơi tự tánh từng giây từng phút đều tỏa rạng, bao nhiêu công đức, bấy nhiêu trí huệ giác ngộ, những diệu dụng đều sẵn ở nơi tâm, chỉ cần quay trở về liền thấy được một kho báu vô cùng vô tận, vô lượng vô biên.
Như Lai nhắc nhở chúng ta phải nhớ lau chùi, đừng để nó dính bụi trần, chớ lơ đãng, phải khéo biết chùi sạch bên ngoài và lau bóng loáng bên trong. Khéo bảo vệ sáu căn, khéo biết làm lành thì sanh ra ở đâu, sống tại chỗ nào cũng được những người thân hữu rất là quý mến, tôn trọng. Cuối cùng, dẹp sạch vết nhơ quan trọng nhất, vết nhơ nặng nề nhất đó là vô minh mê lầm, muốn dẹp trừ vết nhơ vô minh mê lầm này thì phải từng giây từng phút, từng ngày từng giờ mà công phu tu tập, từ trong mỗi hơi thở.
Khi gội sạch vết nhơ, hành giả sẽ thấy thân tứ đại này vốn là sự nhóm hợp của năm uẩn tạo thành, không thật có, chẳng thường còn, rất mong manh, giả tạm, bất tịnh. Thường xuyên quán chiếu, suy xét rõ thật thì bờ giác không xa.
./.
PHÁP HÀNH
Trí tuệ bất tử
Thích Minh Thành
Nhà xuất bản …………….
Thuyết giảng:
Thượng tọa Giảng sư Thích Minh Thành.
Chuyển thành văn bản:
Diệu Quang.
Biên tập, hiệu đính:
Thiện Ngộ.
Sửa bản in:
Thích Pháp Sơn.
Ban Văn hóa Pháp Ấn
Biên tập, hiệu đính từ ngày 17.8.2018 đến ngày 11.11.2018.
MỤC LỤC
Chương 1: NHẬN DIỆN CẢM GIÁC
1. Duyên khởi ……………………………………………………… Trang 5
2. Thực tập tọa thiền ……………………………………………………………… 8
3. Quán chiếu cảm giác …………………………………………………………… 13
4. Hiệu quả cảm giác toàn thân …………………………………………………… 19
Chương 2: SOI LẠI NĂM UẨN
1. Pháp hành năm uẩn ……………………………………………………………26
2. Năm uẩn trong đời sống …………………………………………………………32
3. Soi lại năm uẩn …………………………………………………………………. 39
4. Thực tập soi năm uẩn ……………………………………………………………. 46
5. Năm uẩn vận hành ………………………………………………………………. 50
6. Quán sát sâu sắc về năm uẩn …………………………………………………….. 57
7. Nhìn sâu bên trong năm uẩn ……………………………………………………… 63
7. Gội rửa phiền não …………………………………………………………………. 72
Chương 3: HỔ THẸN VÀ SỢ HÃI
1. Hổ thẹn và sợ hãi ……………………………………………………………………. 80
2. Diệt trừ phiền não …………………………………………………………………… 87
3. Phá trừ hôn trầm, tham, sân ………………………………………………………... 95
4. Quán xét các pháp ………………………………………………………………… 101
Chương 4: QUÁN BẤT TỊNH
1. Quán bất tịnh ……………………………………………………………………….. 109
2. Tầm quan trọng của quán bất tịnh …………………………………………………. 116
3. Trí tuệ bất tử ………………………………………………………………… trang 123
Chương 5: GỘI SẠCH VẾT NHƠ
1. Ơn sâu nghĩa nặng – pháp quán thân ………………………………………………. 134
2. Quán chiếu tứ đại – Ngoại địa giới và nội địa giới ………………………………… 147
3. Quán chiếu tứ đại – Thủy hỏa phong giới ………………………………………….. 153
4. Gội sạch vết nhơ ……………………………………………………………………. 162
Chương 1:
NHẬN DIỆN CẢM GIÁC
1. Duyên khởi
Trong đời tu sĩ, ai cũng không ít lần nhập thất để chiêm nghiệm Phật pháp. Nhập thất để soi rọi lại chính mình còn thiếu sót, chưa trọn vẹn điều gì, sám hối và phát tâm Bồ-đề, kiên cố và tinh tấn đạo hạnh trên bước đường tu hành hơn nữa.
Sau lần nhập thất mới đây, Minh Thành rất xúc động, có thể nói là như vừa xuất gia lại trong đời tu của chính mình. Từ đây trở về sau mới thật sự là hành trình tu chân thật, vì xưa nay chưa hiểu xuất xứ, cội rễ của phiền não ẩn trú nơi nào. Nay đã biết thành trì của phiền não nương gá trong thân tâm này. Khi nhận thấy rồi thì phát khởi cảm giác rất hổ thẹn, nhục nhã! Tại sao phải xấu hổ và nhục nhã như vậy? Bởi, đã thấy được những con giòi trong thân tâm này. Nó ẩn núp, tiềm phục dưới nhiều lớp dạng khác nhau, qua nhiều cách thể hiện. Khi nhìn lại một cách sâu sắc thì thấy rõ chúng, nên có sự đấu tranh quyết liệt với điều xấu hổ tiềm phục ấy.
Trước đây, chúng ta chỉ thấy phiền não trên chữ nghĩa, nay thấy rõ sự vận hành của chúng ở ngay thân tâm này. Phần nhiều tu trên tưởng tượng, nay nhìn rõ chúng bằng con mắt, cảm giác, biết được chúng có khởi điểm, dị biệt và hoại diệt ra làm sao.
Khó khăn nhất của người tu là nhiếp phục tham dục. May mắn gặp được thiện tri thức, nghe thấy được chánh pháp của Phật mà hành trì. Khi có huân tu trong đối trị nhiếp phục con ma tham dục, tham sân si ấy thì có những cảm giác hỷ lạc diệu kỳ. Sự mong mỏi tột cùng của bản thân là muốn đem hết những gì mình hiểu biết chia sẻ với huynh đệ, Phật tử để cùng nhau nếm pháp vị trên bước đường chuyển hóa.
Bây giờ huynh đệ chúng ta cùng nhau tu tập thiền tọa. Lưu ý, không nhắm mắt, chỉ khi nào quán tưởng mới nhắm mắt. Ngồi thiền, lưng thẳng, mắt mở ra một phần ba hoặc phân nửa, nhìn xuống về phía trước khoảng 7, 8 tấc hoặc 1 mét.
Chú ý vào hơi thở, thở vào hơi dài, rõ biết hơi thở dài; thở ra hơi thở dài, rõ biết hơi thở dài. Tiếp tục thở vào hơi ngắn, rõ biết hơi thở ngắn; thở ra hơi thở ngắn, rõ biết hơi thở ngắn. Đưa hơi thở luân chuyển vào thân vài ba hơi cho tâm lắng dịu.
Thở vào lắng dịu thân tâm,
Thở ra lắng dịu thân tâm,
Cảm nhận hơi thở,
Cảm nhận sâu sắc sự vận hành hơi thở trong thân.
*
Chú ý để thấy hơi thở động chuyển ở bụng, ngực và chót mũi,
Mở rộng cảm giác chỗ lồng ngực, lan tỏa ra hai vai, hai tay, hai chân, đầu, cảm giác toàn thân,
Thở vào cảm giác toàn thân,
Thở ra cảm giác toàn thân.
*
Tiếp tục cảm nhận hơi thở đi từ gót chân lên tới đỉnh đầu, hai vai, hai cùi chỏ, hai bàn tay, cảm nhận cảm giác toàn thân đang hiện diện.
Cảm nhận và rõ biết hai đầu gối chạm dưới nền đất, hai bàn chân chạm dưới nền đất có biết sự lạnh.
Từ nay về sau lấy cảm giác toàn thân làm nền tảng cho sự tu tập ở tất cả pháp môn.
Tuyệt đối không nhắm mắt, mở rộng tầm nhìn về phía trước, phía trên, bên phải, bên trái bao quát hết mức để cho cái thấy sáng tỏ. Ở đây, không phải trợn mắt nhìn, mà là mắt nhìn nhưng không trụ vào điểm nào hết. Đó gọi là chánh niệm trước mặt hay còn gọi là đặt niệm trước mặt như trong kinh Tứ niệm xứ đã chỉ dạy.
Như vậy, chánh niệm trước mặt, cảm giác toàn thân và tiến tới nội tâm tỉnh giác.
Hành giả luôn chú tâm nhận biết rõ sáng cái thấy trước mắt, cảm giác toàn thân, nội tâm tỉnh giác, nhớ ba pháp hành.
Chúng ta chú ý nhớ kỹ và thực tập thuần thục trong quá trình hành thiền. Vì khi thực tập pháp này thì lúc nào chúng ta cũng sẽ sống trong thực tại. Ví như, trước đây mình đi kinh hành thì giở chân mình chỉ biết giở chân, co tay mình chỉ biết đang co tay, cầm cái chung nước chỉ biết đang cầm chung nước. Từ cái biết cục bộ trước đây, nay mình nâng lên cái biết toàn diện, cảm giác, chánh niệm luôn đồng hành. Tạo nền tảng cho định trên thân. Đây là nền móng để xây dựng lâu đài về sau trên bước đường tu hành.
Những hình sắc, âm thanh xung quanh có xúc chạm tới mình thì mình cũng đã có trong sự cảm giác toàn thân, rõ biết trước mặt, nội tâm tỉnh giác làm kim chỉ nam. Cho nên nó khó mà chi phối mình, nếu chịu khó luyện tập thì mới được.
Không phải ngồi thiền mới nhận biết những gì đã nói ở trên, mà cả khi đi, đứng, nằm, ngồi, nói, nín, động, tĩnh cũng đều hành trì.
Trước giờ chúng ta thiền tọa dễ đi vào hôn trầm, biết là vậy nhưng lại khó điều trị tận gốc. Vì sao bị hôn trầm? Do nhắm mắt ngồi thiền, dễ khởi tưởng và vọng niệm vì cái thấy lúc này lờ mờ trong nhận biết nhợt nhạt. Do đó, mở mắt để phá cái lờ mờ, lưới tưởng bủa vây, vô minh dẫn lối. Mở mắt giúp chúng ta tỉnh táo, trừ khi pháp quán tưởng mới nhắm mắt.
Ngồi thiền nhiếp tâm theo hơi thở vô, hơi thở ra và thở vào thầm niệm A Di, thở ra thầm niệm Đà Phật cũng chưa đủ sức công phá cái vọng niệm lăng xăng đang chạy trong tâm mình. Do vậy, cần luôn nhận rõ hơi thở vận chuyển, nhớ kỹ ba pháp: Đặt niệm trước mặt, cảm giác toàn thân, nội tâm tỉnh giác.
Vì sao cảm giác toàn thân ? Là đưa tâm trở về thân, những gì đang xảy ra đều rõ biết về chúng.
Những gì đang đau, tê, cấn, nhức trong thực tập thiền tọa, chúng ta áp dụng ngay cảm giác toàn thân để gọi tên chúng đúng như sự thật. Khi ngồi lâu đau nhức sinh khởi cảm giác gì? Khó chịu. Vậy nó thuộc uẩn nào? Thọ uẩn. Trong thọ uẩn thì nó thuộc thọ uẩn gì? Khổ thọ (cảm thọ có ba loại: khổ thọ, lạc thọ, bất lạc thọ bất khổ thọ). Như vậy, cần tác ý rằng, sự đau nhức, mệt mỏi của thân này một chút đã khó chịu, bức bối, nó là đầu mối của khổ đau, phiền não. ‘Thân đau, chân đau nhưng tâm đâu có đau’ – Nói mạnh với nó như vậy. Đừng để vừa đau khi ngồi thiền đã vội bung chân ra mau, tức là ta không làm chủ được cảm thọ vận hành, chi phối.
Ngày nay không chịu khó khổ, hun đúc, trau dồi thì sau này đối diện với chuyện sanh tử, làm sao mình có thể làm chủ được cảm thọ. Muốn làm chủ cảm giác, phải biết cảm giác trước tiên.
2. Thực tập tọa thiền
Chúng ta sẽ gặp vô vàn gian khó, trong thực tập trên bước đường chuyển hóa. Mỗi ngày một chút, chiêm nghiệm và tháo gỡ, làm thường xuyên và liên tục rồi sẽ tuần tự từng nấc thang mà giác ngộ theo lời Phật dạy.
Huynh đệ cùng nhau chia sẻ những vướng mắc, cũng như thành tựu trong lúc công phu để chúng ta dìu nhau sách tấn, hành theo bước Như Lai.
- Trong khi kinh hành thiện niệm từng bước chân, nhưng có lúc nghe như bị ù tai hoặc vọng lại từ tiếng gì đó ở độ cao, không biết do con làm sai hay tự nhiên nó có, Sư phụ chỉ cho con được hiểu chỗ đó?
- Vấn đề mình bị ù tai có nhiều lý do, cần phải xét lại. Có khi cơ thể mình bị bệnh về lỗ tai hoặc ảnh hưởng những âm thanh gì bên ngoài hoặc là tưởng của mình đang phát huy. Vậy nên, cần làm:
Một là, xem lại sức khỏe, chăm sóc về tai;
Hai là, tu tập cần quay lại pháp môn mình đang hành trì, đừng có đi theo âm thanh bên ngoài. Chánh niệm tỉnh giác, trú tâm vào điều mà hành giả đang thực tập.
- Con xin trình bày sự quán chiếu của con. Con thỉnh thoảng ngồi niệm theo hơi thở, khoảng giữa đầu con thấy tâm mình lặng, nhưng khoảng thứ hai tâm mình có những làn at lăn tăn, một hồi lại lặn sâu vào cảnh hôn trầm. Ngay khi đó, con cảm thấy hơi thở trong người bị hụt hẫng. Con bạch trên Thầy chỉ dạy, để có kinh nghiệm trong sự thực tập quán chiếu hơi thở của mình?
- Mình ngồi thiền tuyệt đối không nhắm mắt và mình phải giữ ba pháp.
Thứ nhất, rõ biết trước mặt, mắt mình mở nhìn về phía trước, tầm nhìn mắt hai bên mở ra hết mức, không trụ một điểm nào trước mặt. Vì mình trụ một hồi là sinh ra tưởng, hiện thành hình này hình kia nên mình nhìn xuống về phía trước, mở rộng tầm mắt hết mức tỉnh thức. Đức Phật dạy từ trong kinh A-hàm là đặt niệm trước mặt hoặc trong Pàli, gọi là chánh niệm trước mặt.
Thứ hai, cảm giác toàn thân trong mười sáu hơi thở đức Phật dạy mình khi thở vào thở ra mình xem xét cho thật kỹ rồi dụng công hành trì. Ngồi xuống đặt niệm trước mặt, xem hơi thở động chuyển ở đâu, nhìn xem động chỗ nào trong thân thể mình. Bây giờ mình mở rộng cảm giác hơi thở ra toàn thân, mở bung cảm giác từ hơi thở mở ra, cảm nhận đầu, cảm nhận hai vai, cảm nhận hai tay, cảm nhận hai đầu gối, mông, rồi nhận biết rõ ràng từng cảm giác trong toàn thân.
Thứ ba, nội tâm tỉnh giác, rõ biết nội tâm mình tỉnh táo sáng suốt khi đang ngồi chánh niệm, tức là phối hợp cảm giác toàn thân và nội tâm tỉnh giác.
Giờ đây, huynh đệ chúng ta cùng nhau thực tập ngay đây và bây giờ. Lưu ý kỹ, tuyệt đối không nhắm mắt, mở rộng tầm nhìn ra hai bên, cái nhìn của mình rất sáng tỏ, rất rõ từng hơi thở động chuyển, cảm giác toàn thân, nội tâm tỉnh giác, nhận biết rõ. Vì khi hành giả nhắm mắt, tâm mình lờ mờ không sáng, lọt vào tưởng, đi vào trạng thái hôn trầm nên tuyệt đối không nhắm mắt.
Nếu mình chỉ chú trọng hơi thở thì tâm mình diễn biến trong phạm vi rất nhỏ hẹp, vi tế. Như vậy, có điều kiện soi tỏ rõ sáng cảm giác toàn thân. Lúc đó, cái biết của hành giả rất rộng, tầm nhìn phía trước mở ra hết mức, cái biết toàn thân mình rộng, nội tâm chúng ta tỉnh giác, dáng ngồi của mình như đỉnh đồng ba chân rất vững chắc, hôn trầm khó xâm nhập được.
Đó là ba pháp rất quan trọng trong khi ngồi thiền bất cứ lúc nào. Ngoài lúc ngồi thiền, dụng tâm chánh niệm trước mắt, cảm giác toàn thân, nội tâm tỉnh giác trong bất cứ hành động, cử chỉ,… đi đứng ngồi nằm mình đều chuyên chú vào ba pháp này thực tập. Có như vậy, khi đi thì bước đi của mình rất vững chắc, rõ biết việc đang làm, nhận rõ cảm giác và nội tâm rất rõ.
Lâu nay mình tọa thiền là nhắm mắt, niệm thở một hồi là tâm tưởng đi đâu không biết. Đó là đi vào tâm mê trong mờ tối, còn niệm lăn tăn mình tưởng yên nhưng tất cả việc diễn ra ấy đều là tưởng. Tưởng nhưng lại không rõ sáng chứ không phải là thực pháp. Khi nào tâm mình tỉnh giác, sáng tỏ, nhận biết rõ ràng lúc đó mới là thực pháp hiện thực. Còn ai đang có biểu hiện như vừa nêu thì cách ngồi như vậy là ngồi dưới cái mê. Trước, Minh Thành cũng vậy, gần đây ứng dụng mới thấy được nó thay đổi, có rất nhiều tiến bộ.
Chúng ta cùng lần bước trở về nghe lời dạy đức Từ phụ Thích-ca Mâu-ni từ trong kinh tạng Pàli, năm bộ Nikàya là tiêu biểu, là minh chứng hùng hồn cho lời dạy chân thật và thành tựu mà Thế Tôn đã tuyên bày cho hàng đệ tử từ ngàn xưa cho tới bây giờ. Những pháp bổ khuyết, phát triển về sau, nếu thấy có ích và phù hợp thì chúng ta thực hành, nếu không đem lại lợi lạc thật sự, rườm rà thì cũng nên để sang một bên, chú trọng pháp hành để tâm an định.
Chúng ta chú trọng vào câu niệm thì tâm mình nó nhỏ, chuyên chú một câu đó và sinh tưởng, thực tại mình không thấy. Ví dụ, lúc mình tập trung vào câu niệm Phật, có khi con gì đó đột nhiên xuất hiện rồi bò lên mình, nhưng ta vẫn không quan tâm, chẳng rõ biết có sự xuất hiện của con vật lạ đang tiến sâu vào mình hoặc đang gây chướng ngại, uy hiếp đến sinh mạng,… cần quay trở lại, rõ biết cảm giác toàn thân, đặt niệm trước mặt, quán sát hơi thở, biết rõ sự động chuyển trong thân. Đây là nền tảng, sau này mình bước lên tất cả pháp môn của đức Phật cũng từ nấc thang đầu tiên này. Vì cảm giác toàn thân nhằm giúp hành giả đem tâm quay về thân, nhận biết sự thật ngay giây phút hiện tại nó đang diễn ra trong thân và tâm của mình, bởi vì trong tâm mình có cảm giác gì mình không biết nó đang có suy tưởng nhưng mình không hay, mình chỉ biết cái ở ngoài cái này là chỗ mình phải suy xét sâu sắc.
Chúng ta thường hay nói với nhau rằng, phải nhiếp phục ba con rắn độc là tham sân si, chuyển hóa tham sân si. Vậy, xét thử xem ‘tham’ nằm ở đâu? Nếu mình không thấy, làm sao mình nhiếp phục cái tham sân si. Như vậy, vĩnh viễn mình không thể nhiếp phục được nó.
Tham, sân trong mình ví như lúc nóng giận mình thay đổi, vì lúc đó mình hiện hữu tham và nóng giận đều nằm trong cảm giác. Sự nóng bức ấy tỏa ra toàn thân. Đức Phật nói trong Tăng Chi Bộ Kinh, tất cả pháp hội tụ nơi cảm thọ nên mình nhìn thấy người đó họ tham ăn, họ gắp lia gắp lịa, họ nhai rộn rã, nuốt ào ào. Điều đó giúp ta nhận rõ là người đó đang tham. Mà người đó chỉ biểu hiện bên ngoài, còn thực sự ngay lúc đó cảm giác bên trong thúc đẩy biểu hiện ra tướng tham bên ngoài, nên mình muốn tu điều cần thiết nhất là phải nhận diện được năm uẩn.
Cần nhận diện rõ ba loại cảm giác:
Cảm giác khổ;
Cảm giác vui;
Cảm giác không khổ, không vui.
Sắc là thân tứ đại;
Trong thọ, có ba loại thọ lạc, thọ khổ và thọ bất khổ bất lạc;
Tưởng là những hình ảnh trong nội tâm của mình;
Hành là những lời nói thì thầm đi theo những hình bóng, đó là suy nghĩ.
Nói đơn giản, tưởng là hình bóng và hành là những lời nói lầm thầm đi theo hình bóng đó;
Thức là điều mình rõ biết được thọ tưởng hành đó, nhận diện được cảm giác, rõ biết được hình bóng và lời nói đó là thức.
Chúng ta cùng nhau thực tập nhận diện cảm thọ hiện giờ?
- Bạch Sư phụ, hiện tại con đang tê chân và mỏi lưng. Đó là khổ thọ và có chút xíu không khổ không vui là cảm giác cuối cùng; sắc là hình tướng bên ngoài con đang nhìn Sư phụ; hành là hiện tại đây con nghe tiếng Sư phụ và tiếng chim hót; nhắm mắt, con thấy hình sắc, cảnh, tất cả mọi người, có tiếng nhạc vọng lại vì mới vừa rồi khi đang đi đường con có nghe.
- Đó là thanh tưởng, những hình ảnh, âm thanh mình đã nghe.
- Huynh đệ có thích ăn sầu riêng hay không?
- Trong con lập tức xuất hiện cảm thọ không khổ không lạc, tưởng đến trái sầu riêng đó, hình ảnh từng thấy và đã từng ăn, hành là nói thầm thích ăn sầu riêng, thức là con nhận biết được thọ hành tưởng đó.
Như vậy, chúng ta liên tục nhìn vào cảm giác mình thì tham khởi lên mình sẽ thấy, không những mình thấy được hình ảnh mà còn thấy cảm giác và thấy nó được ở chỗ nào trong tâm mình. Đầu tiên mình phải thấy nó đang đến, sẽ có phương pháp Như lý tác ý và quán chiếu nhiếp phục chuyển hóa nó được. Ngược lại, không thấy, chẳng nhận rõ cảm giác nào đang hiện hữu trong thân và tâm này thì mãi mãi mình tu không có tiến.
Cho nên, cảm giác toàn thân rất quan trọng trong khi mình thực tập ngồi thiền. Hành thiền một khi đã thuần thục, lúc ra ngoài gặp những cảnh sắc,… chúng ta sẽ thực tập được như pháp hành. Từ cảm giác toàn thân, hành giả dần đi vào nhận diện được năm uẩn, từ đó mình mới thấy điều mà ta thường hay cho là ‘tôi’ là ‘ta’ là ‘mình’ lúc đó từ từ được tách ra nhẹ nhàng trong sự buông xả. Vì bản thân luôn thấy năm uẩn vận hành sinh siệt. Sở dĩ hành giả chưa thành tựu được trí quán vô ngã bởi thường nghĩ rằng mình là trọn vẹn, còn nhận diện năm uẩn thường trực sẽ có cảm nhận sắc, thọ, tưởng, hành, thức một cách sâu sắc, cụ thể. Sau đó, chúng ta sẽ tìm thấy được những phiền não bên trong vận hành, diễn biến như thế nào. Lúc đó, mình có những phương pháp nhiếp phục thì sự tu ấy sẽ có thành tựu rất đáng kể, hiệu quả ngay đây, đang là.
Do vậy, bước đầu hành giả thực hành ba pháp: Đặt niệm trước mặt, cảm giác toàn thân và nội tâm tỉnh giác trong khi ngồi thiền. Chúng ta thực hành, vượt qua những thói quen, rồi sẽ quen dần pháp hành này trong mọi sinh hoạt đời sống, song song đó dụng công hành trì cho được việc nhận diện năm uẩn.
Đức Phật từng tuyên bố trong kinh Tương Ưng Bộ rằng: “Ta không bao giờ tuyên bố ta thành tựu Chánh Đẳng Giác khi ta chưa thấu suốt trọn vẹn liễu tri, thắng tri, thức tri tận tường về ngũ thủ uẩn. Ta chỉ tuyên bố ta thành tựu Chánh Đẳng Giác khi ta thấu triệt hoàn toàn liễu tri, thắng tri, sắc, thọ tưởng, hành, thức”. Sắc thọ tưởng hành thức là thân và tâm của chính mình. Nó diễn ra liên tục, vô thường, mà mình không thấy, chỉ lo bên ngoài nên nội tâm đau khổ vẫn hoàn nguyên. Hãy thận trọng và thiết thực hành trì pháp mà Như Lai đã chỉ dạy, thành công sẽ đến với tất cả những ai hành trì đúng pháp.
Nếu tưởng, hành, suy tưởng là thiện pháp tương ưng với trí huệ, ly tham, nhàm chán, là vô thường tưởng, lúc đó mình phát huy nó. Như lý tác ý đúng thật về bản chất thiện pháp ấy. Ngược lại, trong ta đang tuôn chảy dòng tưởng về dục tầm, sân tầm, hại tầm, mờ mịt tăm tối, tật đố, hiềm hận v.v… Cần phải Như lý tác ý quở trách nó, đây là tưởng đưa đến khổ đau, dẫn tới sự ràng buộc, chìm nổi lặn hụp trong luân hồi sanh tử. Dứt khoát từ bỏ, diệt tận chúng để không cho chúng tái sanh nữa. Chặt chúng giống như chặt cây Sala, cây dừa, cây cau rồi từ từ mình đi tới chỗ giảm bớt lậu hoặc, thậm chí diệt tận hết tất cả lậu hoặc.
Ví dụ đơn giản để cho huynh đệ không thấy khó khi mình tu đúng pháp và tinh tấn nỗ lực. Một ngày nọ, trong nhà ta xuất hiện một con rắn, lúc đó mình phải làm sao? Dĩ nhiên, ta phải tự vệ, phải dè chừng và tìm cách xua cây đuổi con rắn lạ ra khỏi nơi trú xứ của mình. Hoặc mình nhìn thấy trong nhà có một đống rác hay đống phân dơ, mình phải hốt quét rồi chùi rửa, lau cho sạch. Sự tu hành cũng vậy, Sơ quả dự lưu là thấy được đống rác, thấy được căn cứ địa của phiền não phát sanh đó là sơ quả. Nhị quả là hốt đống rác đó đổ nhưng còn dính lại. Tam quả là chùi cái dính lại phía dưới cho sạch, khi sạch hết là thành tựu tứ quả A-la-hán.
Hành giả thường trực nhận diện năm uẩn, thấy được cảm giác. Vì cảm giác là chỗ trú của các phiền não. Tất cả pháp hội tụ nơi cảm thọ, nếu thường nhìn lại cảm giác, mỗi khi khởi tham, mình thấy nó động chuyển; tham dục khởi lên là cảm giác thay đổi; sân khởi lên là cảm giác nóng lên; si khởi lên là lờ đờ trì trệ uể oải. Chúng ta phải phấn chấn dùng Như lý tác ý cảnh tỉnh nó, dập tắt những độc cảnh đang xâm lấn thân tâm này sẽ có tịnh lạc. Minh Thành tu gần ba mươi năm mới phát hiện ra! Thật hoan hỷ và vô cùng xúc động chia sẻ cùng quyến thuộc bồ-đề, cốt nhục Linh Sơn.
3. Quán chiếu cảm giác
Chúng ta nhận diện cảm giác toàn thân, chúng ta tiến hành thường xuyên pháp này. Ngay đây ngồi niệm thở, ba nghiệp thanh tịnh, chuyên chú vào hơi thở vào ra nuôi sống mạng mạch. Thở ra làm cho thân tâm yên tịnh, thở vào làm cho thân tâm lắng dịu; thở ra lắng dịu thân tâm, thở vào thân tâm lắng dịu cảm nhận; nhận rõ cảm giác toàn thân; nội tâm tỉnh giác; rõ biết trước mắt, trở về sống trọn vẹn với hơi thở.
Chúng ta tiếp tục sinh trưởng dòng năng lượng được thở vào cảm nhận niềm vui, thở ra cảm nhận sự an lạc, thật là thanh tịnh trong giây phút này. Hơi thở bắt đầu nhẹ dần, cảm giác bắt đầu vơi đi, tâm bắt đầu rỗng rang, toàn thân đều được an tịnh, lắng dịu, thấm nhuần trong cảm giác hỷ lạc ngay giờ phút hiện tại. Vậy, hành giả tiếc gì mà không thể mỉm cười nhẹ? Hạnh phúc thay, chúng ta đã trút bỏ được những thế sự. Hạnh phúc thay, giờ này chúng ta đã buông xuống phiền toái của cuộc đời. Hạnh phúc thay, giờ này chúng ta xả hết tất cả hệ lụy, thật là vui sướng cho thân tâm rỗng lặng. Và như vậy, chúng ta đã lìa tất cả tham muốn về tài sắc, dục lạc của thế gian huyễn ảo. Ngay đây xuất hiện niềm hỷ lạc, hơi thở chuyển động với nụ cười trao tặng người và vật. Nó đang thấm nhuần từ đỉnh đầu xuống hai gò má, lan sang hai vai, tỏa xuống hai chân, đến tận bàn chân, truyền khắp châu thân. Thật là hạnh phúc thay, thật là vui sướng thay để cho niềm hỷ lạc lan tỏa từ mình truyền sang người bên cạnh, rộng khắp giảng đường, trùm quanh chùa Bửu Liên, tỏa rộng hết phường 25, truyền cảm xúc hạnh phúc êm dịu ấy tới nhà mình, tới người thương của mình, rộng cho đến toàn Thành phố Hồ Chí Minh, cho đến khắp đất nước, toàn thế giới, muộn vật từ người đến cỏ cây hoa lá, động vật bậc thấp, cho đến muôn loại chúng sanh hữu hình lẫn vô hình đều thấm nhuần dòng hỷ lạc đó. Hành giả mở tâm và mỉm cười chia sẻ vô biên trú xứ ấy bằng tâm vô ngã. Đẹp làm sao! Vi diệu làm sao! Đó là hành giả đang thực tập Hỷ vô lượng tâm.
Quán tưởng để vào định, Tứ vô lượng tâm đó gọi là Hỷ vô lượng tâm nếu mình tác ý mình làm theo là vào hỷ vô lượng tâm, người thuần thục có thể trú suốt ngày ‘mỉm cười’ an lạc với tất cả người và vật khi mình tiếp xúc, cảm nhận. Trong Phật pháp không có môn khổ vô lượng tâm, người phàm phu không học Phật pháp trở thành vô lượng khổ, thấm nhuần dìm dập sự sống của họ ở trong đó. Phật không dạy như vậy, nhưng chúng ta không khéo học, chẳng chịu hành trì đúng đắn từ lời dạy của Bậc Thầy siêu việt thế gian ấy mà chạy đuổi tìm cầu bên ngoài, thì khổ vẫn là khổ.
Quý vị nhớ ba pháp rõ biết trước mặt, cảm giác toàn thân, nội tâm tỉnh giác, điều này rất quan trọng. Nếu thực hành được, chúng ta đã có chìa khóa mở được kho tàng châu báu của chánh pháp.
Tuyệt đối không nhắm mắt, khi nào chứng A-la-hán quả mới nhắm mắt được. Mặc nhiên vọng tưởng, đừng để hôn trầm. Cảm nhận rõ biết trước mặt là tuyệt vời, nhưng mình không trú vào một điểm, vì sẽ làm cho con mắt mình mỏi, nhìn gà hóa cuốc, thấy nền nhà ra con gà, con vịt… Do an trú một điểm nên sinh tưởng. Chỉ nhìn chung, hết sức sáng tỏ, pháp tu của đức Phật là trí huệ, nên thấy biết phải nhận rõ thật bản chất của chúng, chẳng có lờ mờ. Nếu chỉ biết mơ màng, không rõ rệt điều gì thì cần mạnh dạn đánh đuổi nó ra khỏi tầm nhìn, ra khỏi thân và tâm.
Chẳng hạn, chúng ta đang làm ăn buôn bán mà không rõ vật bán mua là gì thì làm sao có lời, không khéo là sập tiệm. Anh A, chị B nào đó đang coi tiệm vàng hay bán hàng cao cấp mà lờ mờ giá cả lên xuống thị trường không kịp thời nắm bắt thông tin thì sẽ bị thất thoát tài sản. Chỉ có thật sự tỉnh táo, còn tu mà mù mịt không biết đi đâu về đâu thì xa lắm mới đến Đạo.
Chú ý khi ngồi thiền, tướng ngồi gục gật, nghiêng ngả là tướng của khổ, si mê, vô minh chứ không chánh niệm tỉnh giác. Cần nhớ kỹ:
Rõ biết trước mặt;
Cảm nhận cảm giác toàn thân.
Đầu tiên, theo hơi thở ra vào có dịu nhẹ, sáng suốt chưa? Chú ý ở hai mũi, nhìn kỹ thấy dao động chỗ lồng ngực, thấy bụng mình phồng xẹp. Đây là ba chỗ mình thấy rõ nhất khi hơi thở vào ra. Hành giả chú tâm vào hơi thở vô biết hơi thở vô, hơi thở ra biết hơi thở ra rõ như thật. Sau đó, hành giả mở rộng cảm giác ra khắp thân.
Từng phút giây, mình sống sáng rõ trong chánh niệm. Nếu chỉ có hơi thở hoặc chỉ có câu niệm Phật thì cái biết của mình rất nhỏ, còn những điều khác không biết không phải là pháp toàn thể, pháp này đức Phật dạy mình cảm giác toàn thân là cái biết của mình trở thành toàn diện.
- Tại sao đức Phật dạy mình cảm giác toàn thân? Mục đích của nó là gì? Tại sao mình phải làm như vậy?
- Mình là Phật tử, tu theo Phật nhằm nhiếp phục tham sân si, phải trị được dứt điểm ba tên rắn độc tham sân si luôn tìm cách nhập vào thân tâm, ẩn sâu nấp kỹ ấy, đó là mục đích của người tu.
Tham sân si nằm ở cảm giác. Nếu không biết được chỗ ở của phiền não, chỗ ở của tham sân si thì ta không thể nhiếp phục, trị nó được. Chẳng hạn, cầm quân đi đánh giặc, nhưng không biết giặc ở đâu thì làm sao đánh. Đi Đà Lạt mà không biết phương hướng, độ dài ngắn, phương tiện nào phù hợp cho chuyến đi, cần trang bị những gì trong hành trình,… thì làm sao tới được Đà Lạt. Cũng vậy, mình đi dẹp phiền não mà không biết phiền não ở đâu thì không thể xóa nó được. Hoặc như lờ mờ về tham sân si, không biết ở đâu thì phải làm sao? Tham sân si nằm trong cảm giác.
Luôn nhớ ba cảm giác lạc thọ, khổ thọ và bất khổ bất lạc thọ. Cảm thọ là cảm giác. Mình nói dễ hiểu cảm giác dễ chịu, cảm giác khó chịu và cảm giác không dễ chịu không khó chịu.
Thứ nhất, mình ngồi lại nhìn xuống xem mình có cảm giác gì đang hiện hữu. Nó là dễ chịu hay khó chịu hay không dễ chịu không khó chịu?
Thứ hai, xem coi tưởng uẩn có hình bóng gì trong tâm?
Thứ ba, coi có những lời nói thầm gì, tức là hành uẩn, những suy nghĩ. Nhắm mắt nhìn rõ, lắng tâm sâu, soi xét lại nội tâm của mình.
- Kính thưa Thầy và quý đại chúng, trong năm phút tỉnh giác vừa thực tập, con nhận biết sắc uẩn của con là con đang ngồi ở giảng đường; con đang hít thở một cảm giác thật an lạc; tưởng là con nhớ tới những người bạn thỉnh thoảng chủ nhật hay rủ nhau đi Thọ bát và đi tu niệm Phật một ngày, con nghĩ không biết giờ này họ đang làm gì?... Hành của con có một tiếng nói trong đầu ‘nếu như mình rủ bạn mình đến đây họ nghe Thầy giảng như vậy không biết họ có hiểu hay không? Vì tu như vậy chưa nghe bao giờ’; thức con biết con đang ở đây và hoan hỷ, nhận biết được sắc thọ tưởng hành thức.
- Con cảm thấy sự bình an đang lan tỏa khi con đang hiện hữu trong chùa Bửu Liên. Con rõ biết hơi thở từ mũi đến lồng ngực, buồng phổi cho đến bụng và ngược lại theo tuần hoàn. Con sẽ mang pháp hành này để hướng dẫn lại các con trong gia đình, con thấy được sự nhẹ nhàng thân tâm ngay đây trong pháp nhận diện hơi thở và quán tâm sâu sắc về ngũ uẩn. Điều hay này, con sẽ chia sẻ lại với người thân để cùng nhau thực tập.
Ngày xưa, đức Phật còn tại thế đã từng dạy cho các Thầy Tỳ-kheo phương pháp quán chiếu năm uẩn, điều này được lặp lại rất nhiều trong kinh tạng Pàli.
Khi thực tập cảm giác toàn thân thì mỗi hành giả là bác sĩ cho chính mình. Vì những bệnh mới bắt đầu manh nha, ta kịp thời phát hiện và dập tắt chúng bằng những toa thuốc, liều dùng và sử dụng nó một cách hiệu quả triệt để. Có nhiều người bị đau cột sống, đau lưng hay đau vai, nhưng thấy hơi đau nên bỏ qua, tới khi đau nặng mới chịu đi bác sĩ khám, lúc đó nhận diện sự đau ấy đã khá muộn, nó đã mọc mầm, bén rễ nên khó trị hoặc không thể chữa trị được nữa. Bây giờ mình thực tập cảm giác toàn thân, nó vừa biến đổi điều gì hơi khác trong cảm giác là mình phát giác được liền. Có như vậy mới điều trị kịp lúc và phối kết với bác sĩ điều trị cho mình dứt điểm căn nguyên bệnh tật kia. Đó là nói về cơ thể vật chất, thể chất.
Về mặt tinh thần, có rất nhiều điều lợi ích thiết thực. Người nào thường xuyên chú ý về cảm giác toàn thân sẽ dễ bảo vệ được hạnh phúc gia đình. Ngăn che sự sai phạm. Giữ đẹp được tình nghĩa của vợ chồng, gắn kết giữa bạn bè, đồng nghiệp khi mình làm việc. Chẳng hạn, có cảm giác khó chịu sanh khởi trong nội tâm, vì ông xã / bà xã đi làm về trễ, mọi khi năm giờ chiều là ông / bà về tới nhà, nay tám giờ tối mới thấy mặt ông / bà về. Trong khi đó, mình đang mệt, có cảm giác khó chịu, gặp đối tượng xuất hiện đúng lúc phát ra cảm giác khó chịu và bản thân khó dằn lòng nên đã phát ra những lời nói khó nghe, ánh nhìn không dễ chịu, thân tâm lăng xăng. Gặp chuyện đó, những người hằng ngày thực tập cảm giác toàn thân, quán chiếu cảm giác, hoán đổi vị trí mình với người thì sẽ có sự đề phòng lửa sân sắp phựt. Vậy là, quay trở lại tỉnh thức, làm chủ cảm xúc, cảm giác và đề phòng thận trọng. Ngày trước mình không để ý, nên dễ cáu gắt, sân si phát khởi khi gặp chuyện trái ý nghịch lòng, chẳng tìm rõ nguyên nhân họ về trễ, đi muộn… nên gia đình xào xáo, bất hòa làm thương tổn tâm hồn nhau. Nay, có hiểu rõ về cảm giác và suy cùng xét tận nguyên nhân từng sự việc, nên hạnh phúc được thắt chặt hơn, mối quan tâm nhau sẽ không là sự kiểm soát mà là sự sẻ chia, cảm thông, thương yêu thật lòng.
Cách chuyển hóa phiền não trong cảm giác được đức Phật dạy trong bài kinh Đoạn tận:
“Này các Tỷ-kheo, có ba cảm giác này tức là có ba thọ, cảm giác dễ chịu là lạc thọ cảm giác khó chịu là khổ thọ, cảm giác không dễ chịu không khó chịu. Này các Tỷ-kheo tham tùy miên đối với lạc thọ cần phải đoạn tận, sân tùy miên đối với khổ thọ cần phải đoạn tận, vô mình tùy miên đối với bất khổ bất lạc thọ cần phải đoạn tận”.
Thế nào gọi là tham tùy miên đối với lạc thọ? Một khi mình có một cảm giác thích thú, khoan khoái, vui sướng, dễ chịu thì đi theo cảm giác đó là gì? Ví dụ như trưa này nhà bếp đãi bảy món ăn, lúc đó mắt nhìn thấy đó là thọ do nhãn xúc sanh tức là cảm thọ cảm giác từ khi con mắt tiếp xúc phát sanh, cảm giác đó đi kèm, đây là căn cứ địa của phiền não. Tham không phải ăn cắp đồ hay yêu đương trai gái đó là tham của phàm phu, còn người tu trí huệ là biết lúc nào cảm giác thiện hoặc bất thiện có mặt và lúc nào chúng không có mặt trong nội tâm của mình.
Cho nên, ăn một món ngon, nghe một tiếng khen, đang ở ngoài trời nắng nóng 38 độ C hoặc có bước vào trong phòng máy lạnh 21 độ C,… Tất cả cảm giác dễ chịu, thích thú, khoan khoái, ngon miệng, mát mẻ đều có dục và tham đi theo, có mặt của tùy miên (tùy: là đi theo, miên: là miên man bất tận, gọi là tham tùy miên).
Trí huệ Phật mới thấy được tất cả diễn ra ngoài thân, trong tâm mình một cách rõ ràng. Nói như vậy để mình thấy có một cảm giác thích thú, dễ chịu, sung sướng ngay đó mình phải nhìn kỹ liền phát hiện thật tướng trong đó. Đây là con mắt tinh vi, trí huệ, mắt pháp bắt đầu thành tựu.
Ví dụ, gần đến mùa sầu riêng, sầu riêng trên núi rất đặc biệt, hoàn toàn tự nhiên múi sầu riêng này vừa thơm, vừa béo, vừa ngọt, vừa bổ, vừa bùi,… nghe nói như vậy, tâm cảm thọ của mình thì nó hoạt động liên tục. Tưởng hiển bày, trái sầu riêng hiện trong ý nghĩ mình về vẻ ngoài có một lớp gai bao phủ, màu sắc, hình dáng, ở bên trong có bao nhiêu múi, nghe hương vị, lỗ tai nghe mắt thấy,… Tâm mình hoạt động rất tinh vi. Hình ảnh trái sầu riêng là tưởng; nói lầm thầm ‘lần này mình lên Linh Quy Pháp Ấn’, đó là hành; khi mình ăn thấy hình mình ăn; lúc đó thọ mình thấy thơm béo rồi chảy nước miếng chứ không phải tự nhiên chảy nước miếng; mà thọ tưởng hành thức vận hành rõ biết có hình ảnh trái sầu riêng, vọng lại lời nói, có ăn cảm giác đó, thức rõ biết về điều đó. Hoặc như nói tới trái me hay món ăn khác cũng vậy. Những cảm giác dễ chịu khoan khoái thì cái tham đi theo, nếu mình không có chánh niệm.
Đức Phật nói: “Này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu, không nghe được chánh pháp thì khi có một cảm giác vui sướng giống như đang bị trói buộc, khi có một cảm giác khó chịu, khổ giống như đang bị trói buộc, khi có một cảm giác không khó chịu không dễ chịu cũng giống như đang bị trói buộc.”. Vô văn phàm phu tức là kẻ phàm phu không nghe chánh pháp, mình nghe đúng chánh pháp mới phá được tham sân si. Chánh pháp ở đây phải đoạn tận được tham sân si phá được phiền não.
Điều đó cũng ví như chúng ta từng nếm qua món ăn hoặc mình đã từng có những cảm giác khó chịu hay người nào đó, một sự vật, sự việc nào đó. Cho nên, mỗi khi trong tâm mình muốn trở lại cảm giác đó, mình thấy cái muốn không được là khổ, ta bị trói buộc vào cảm giác ấy. Người thích ăn ớt thì đến mâm cơm, bàn tiệc là để ý đến trái ớt đầu tiên. Dù thật nhiều món ngon nhưng không có trái ớt là có cảm giác ăn không ngon, cảm giác mình bị trói cột. Nam nữ yêu thương nhau say đắm là đang bị xích vào trong cảm giác của tham dục chi phối. Có trường hợp, đăng hình lên Facebook và xảy ra án mạng. Do đăng hình bạn gái cũ. Tất cả chỉ là cảm giác si mê làm ta đau khổ dài, bất tận trong đời sống ngắn ngủi này. Mình vẫn tiếp tục khổ đau vì cảm giác, nếu mình không biết tu tập theo chánh pháp. Chúng ta không thấy, tại vì nó bị tham dục trong cảm giác, bị bản ngã muốn chiếm người đó, muốn chiếm cảm giác duy nhất đó của người đó mà không biết rằng không có gì là ‘tôi’, không có gì là ‘của tôi’. Cảm giác đó là vô thường, thân này là vô thường, tất cả sự yêu thích, hờn mát, giận hờn đều biến đổi. Do mình không biết được sự biến đổi đó, mình muốn chiếm hữu, muốn duy nhất một mình mình có, từ chỗ đó làm mình khổ đau, nếu mình không biết tu tập.
Nếu làm chủ cảm giác, hành giả sẽ biết tiết chế, hiểu nên và không nên làm gì khi gặp phải vui – buồn trong đời sống cũng như sinh hoạt và tu tập với bản thân, bạn bè, đồng nghiệp, người thân, đạo hữu… Những gì mình thấy không thể làm với mình thì cũng đừng nên làm cho người khác gặp sự khó chịu, bức ngặt ấy.
Ví như, mình đi ngoài nắng ba mươi tám độ C có cảm giác khó chịu, cảm giác đó là bình thường nhưng trong cảm giác khó chịu ấy mình cộng với cái bực bội, thì bực bội đó mới là cái xấu, sanh khởi sân. Nếu như mình gặp trường hợp khó chịu nóng hay lạnh, cảm giác đó là bình thường, biết rằng cảm giác khó chịu vì nắng nóng, cảm giác khó chịu vì lạnh là đủ, thì không có sanh khởi buồn – vui từ cái nghĩ của mình. Ngược lại, cảm giác at đi qua cảm giác của tâm, phát sinh tâm phân biệt.
Hai loại cảm giác: Cảm giác của thân và cảm giác của tâm, từ cảm giác khó chịu của thân nó đẩy qua cảm giác khó chịu của tâm, sanh ra bực bội đó là sân. Không chịu khó tu tập sẽ luôn có cảm giác khó chịu, sân nó đi theo khi gặp một hoàn cảnh bất như ý. Đức Phật gọi là sân tùy miên, bực bội sẽ đi theo miên viễn trong cảm giác khó chịu nếu mình không biết tu.
Bây giờ làm sao mình chuyển hóa cảm giác phiền não?
Ví dụ, bây giờ khởi sự bực tức, mình nói Như lý tác ý (suy xét đúng chánh pháp, xét đúng sự thật), những lời nói đúng chánh pháp suy xét, nói với tâm rằng ‘bộ giận sướng lắm hả con, giận sướng lắm hả mày? Có biết cái giận này dẫn đi tới đâu không?’… Tất cả tham sân si là một pháp, mình phải đối thoại với nó, nhìn thẳng vào mặt nó, nóng trong lồng ngực mình, để cái tâm vô ngay chỗ nóng nói chuyện với nó, vì nó là một pháp. Tiếp theo là quán chiếu sự nguy hiểm của cơn giận, rồi mình xem cơn giận này đưa tới đâu, đưa tới vợ chồng không nhìn mặt nhau, khó chịu với nhau, rạn nứt tình cảm, ly thân thậm chí ly dị có khi đi tới chỗ giết nhau. Ngay thời đức Phật đã có trường hợp đó. Sự sân hận đó đã gắn chặt với nhau, đều từ cảm giác sân, nguy hiểm của cảm giác sân hận đưa mình tới chỗ khổ của mình và người. Chấm dứt càng sớm càng tốt, đẩy cảm giác sân ra rồi đóng cửa lại không cho vào nhà, trừ bỏ, diệt tận, không chấp nhận nó, bứng gốc rễ để không sân si sanh khởi trong nội tâm mình nữa. Diệu dụng của Như lý tác ý là ở chỗ này!
Đức Phật dạy trong kinh Nikàya đây là pháp lệnh, lúc mình nói như vậy mình đối thoại nó, bắt đầu mình trị nó. Nếu mà tâm lực mạnh thì những bất thiện pháp bắt đầu lắng và tan rã. Chỗ nào trong thân đang nóng mình hướng tâm ngay chỗ đó mình nói. Sau đó, dùng từ bi quán, nói ‘người ta không hiểu đạo, tha thứ cho người ta đi, chấp nhứt làm gì! Tu để cho dễ thương, người ta sân si không hiểu đạo, mình cũng giống như vậy thì có khác gì người ta đâu? Tha thứ đi nhé! Mở rộng tình thương đi!’. Mình nói dỗ ngọt nó nhưng tùy lúc, khi thì uy lực như nắm đấm, lúc tha thiết như mẹ vỗ về con thơ, tất cả bằng lòng chân thành thì mới hiệu nghiệm. Liệu pháp vừa đấm vừa xoa trị tâm bệnh. Như vậy mới gọi là trí huệ, trí giác.
4. Hiệu quả cảm giác toàn thân
Khi chúng ta hít vào là biết đang thở vào, thở ra biết đang thở ra; thở vào làm cho thân tâm của mình được yên tịnh, thở ra làm cho thân tâm mình được nhẹ nhàng và lắng dịu.
Hành giả cảm nhận hơi thở của chính mình trong giây phút hiện tại, cảm nhận hơi thở đang chuyển động ở nơi mũi, hơi thở vào ra ở nơi mũi, cảm nhận sự vào ra của hơi thở.
Tiếp theo, cảm nhận sự động chuyển ở lồng ngực khi hơi thở vào ra, cảm nhận sự chuyển động của hơi thở ở ngay nơi bụng phồng xẹp.
Sau đó, mở rộng cảm nhận hơi thở đi khắp cơ thể, cảm giác được toàn thân. Bắt đầu cảm giác hơi thở từ đỉnh đầu, mặt, rồi dần xuống hai vai, hay tay, cho đến cảm giác hơi thở đi tới mông, đôi chân, rồi trọn vẹn tới hai bàn chân, từng ngón chân. Tỉnh thức trong cảm giác biến đổi, di chuyển trong toàn thân. Chúng ta nhận rõ sự thanh lọc và lắng dịu dần những cảm xúc, thấy biết, nội tâm êm dịu, an tịnh theo hơi thở điều hòa. Ngay giờ phút này đem tâm trở về tâm.
Hành giả mở mắt nhìn xuống về phía trước bằng một tầm tay, mở rộng tầm nhìn ra hai bên toàn diện, rõ biết trước mặt, nhìn rõ sáng tỏ, mỗi hơi thở vào và ra thật nhịp nhàng, điều hòa, không cố tình làm hơi thở khác đi, chẳng ngắn hơn hoặc dài hơn, đừng gò ép, câu thúc, để hơi thở tự nhiên và ta quan sát thật rõ về chúng. Khi thân và tâm đã bắt đầu đi vào sự an tịnh, dễ chịu, hành giả tập nở nụ cười tươi trên đôi môi, gương mặt, ánh nhìn từ ái bao la với muôn vật và người cho tới muôn loại chúng sanh trong khắp pháp giới.
Hiệu quả của cảm giác toàn thân trước mắt và hiện tại đang hạnh phúc ngập tràn, vì mình đã buông xuống tất cả những thói quen của phàm tình, tập làm người thiện lành, mở tâm bồ-đề. Đó là tha thứ, thương yêu, sống trọn vẹn với phút giây đang là. Sự vận hành của thân và tâm, mình đều rõ biết, nhận diện thấu suốt bản chất của chúng.
Hãy nhìn xem mấy bụi trúc ở ngoài đang đón theo con gió nhẹ lay vẫy chào chúng ta, tiếng phong linh rộn ràng chào đón hành giả, tất cả núi đồi này đang dang tay đón người con Phật, khách hành hương, và trong từng chiếc lá, mỗi cánh hoa đều chan chứa yêu thương, dâng tặng. Sự sống diệu kỳ, thiên nhiên tuyệt vời. Vậy là ta có cùng hướng tâm tuyệt vời như thiên nhiên đã làm với mình?
Hãy trở về với tâm, thật sự cảm nhận trong giây phút này. Khổ hiện diện, vì mình sống ngập tràn suy tư, lo lắng, tính toán, tâm mình không trống trải, chẳng trong lành, có khi quên mất sự tuyệt vời của hiện hữu. Điều quan trọng nhất là chúng ta đã không cảm nhận nhiều người ta thương, những điều tốt đẹp đang phủ tràn trước mặt, mình chưa đem nó vào tâm, chưa tẩm ướp những hương vị đẹp của cuộc sống vào tâm, chẳng mở lòng từ ái, bao dung ra hết thảy sẽ khó có những cảm giác thanh lắng yên định. Đó là một sự thiếu sót rất lớn, mình bị những thói quen thị phi, phân biệt, hơn thua… lấn át, nên gặp nhau cứ nói toàn chuyện của người, chê khen và không hài lòng. Cho nên, phiền não cứ như cuộn gió gào làm cho tâm chẳng phút giây được thảnh thơi thật sự, huống nữa là được trọn vẹn. Từ đó dẫn đến sự rạn vỡ tình thương yêu thiêng liêng trong thân tộc, hiểu lầm trong tình nghĩa vợ chồng, tình làng nghĩa sớm bị phai nhạt,… chỉ vì những hiểu lầm, những bức xúc nhất thời thiếu cảm giác toàn than, không nhận diện được tam độc, chẳng thấy vô minh nhấn chìm ta. Nó nguy hại vô cùng, hành giả hãy cẩn thận, thật thận trọng trong việc nhận diện để điều phục thân tâm, làm chủ cảm xúc mới không bị mất những điều cao đẹp, quý mến, thương yêu giữa mình với người, giữa mình với vật, giữa mình với cảnh và ngược lại.
Chúng ta đã cùng nhau trở về ngôi chùa, mỗi người đều rót vào nhau suối nguồn của năng lượng tỉnh thức và yêu thương. Mái nhà Tăng-già đẹp đẽ, cao thượng, tỏa ra từ tinh thần lục hòa, sợi dây Linh Sơn cốt nhục, quyến thuộc Bồ-đề nuôi dưỡng chúng ta ngày một thêm lớn hơn, trưởng thành hơn trên bước đường tu tập giải thoát.
Cần thường xuyên trau dồi việc nhìn lại ngũ uẩn này để khai mở mạch nguồn của sự tỉnh thức, phát khởi trí huệ, dung chứa tình thương của từ bi, của sự cảm thông, thấu hiểu, bao dung, độ lượng nhất là với những người ân tình ân nghĩa với mình.
Từ Tam bảo, mình đã nhận được chiếc chìa khóa vàng, kim cương trân quý đó để mở ra kho tàng bí mật của hạnh phúc, giải thoát khổ đau. Sự an lạc trong tầm tay mà chưa chịu làm, chẳng tiến tới nắm bắt, cứ trông chờ, ỷ lại, mơ tưởng thì chẳng có an lạc thật sự. Chúng ta hãy ‘tự thắp đuốc lên mà đi!’.
Do ta cứ mong cầu tìm mãi nên cứ khó khổ trập trùng, tự mình làm gập ghềnh con đường đi, chính mình làm cho sự tự tại bị thu hẹp, lòng tham làm nhọc mệt đến tận cùng vẫn chưa chịu buông.
Mỗi người tự thân đều có viên kim cương trong ngôi nhà tâm linh của chính bản thân, nhưng vì vọng tưởng phóng tâm ra bên ngoài nên lâu dần quên mất tự tánh mình. Điều này được thấy rõ hình ảnh gã cùng tử bỏ quên viên kim cương trong túi áo, qua bản kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Những giây phút lắng dịu mình sẽ thấy từng chiếc lá xanh, mỗi khóm trúc vàng, những viên sỏi bên đường hay cành trà đung đưa những giọt sương buổi sớm mai… đều là những đại tác phẩm mỹ thuật của tự nhiên.
Trong tâm luôn tỉnh thức chánh niệm, phải cảm giác được toàn thân, nghe rõ sự hạnh phúc đang có mặt khi mình có một thân thể lành lặn và tốt đẹp. Còn rất nhiều người không thể có tấm thân trọn vẹn, bị tật nguyền, xấu xí và bệnh hoạn. Khi chúng ta cảm giác được toàn thân sẽ thương hơn thân này, không thể làm thân này khổ, chẳng muốn bắt nó liên tục vận hành mà không bảo dưỡng. Sử dụng thân theo chiều hướng tích cực và thông minh, làm những điều có ý nghĩa, lợi ích, đúng cách, bắt nó phải phụng sự, phục vụ, nhất là với những người đại ân đại nghĩa như cha mẹ, anh chị em, vợ chồng con cái,… Ta phải làm chủ thân này, không được nô lệ nó bởi sự đòi hỏi và mong cầu không cùng tận của nó.
Sự nguy hiểm của nóng giận, tham, si đã dẫn đến rất nhiều hậu quả nghiêm trọng. Hàng ngày, chúng ta vẫn nghe qua báo đài tin tức đầy dẫy tai nạn từ chủ quan dến khách quan, những buồn giận, tỵ hiềm, đánh nhau đến nỗi phải li tán, chết chóc cũng do sự đố kỵ, lòng tham, không có cái nhìn dễ thương, chẳng chịu mở tâm. Khi nguôi cơn giận, tất cả qua đi, chỉ còn lại là nỗi đau. Cho nên, đức Phật dạy mọi người sống tỉnh thức, để thấy được sự nguy hiểm của nó. Chúng ta kịp thời nhiếp phục chúng khi nó mới vừa manh nha, sinh khởi.
Không ai muốn bệnh, nhưng khi than có chỗ đau yếu, suy kiệt thì nó bệnh. Ngồi đó than thở rên đau cũng không hết bệnh, chỉ có uống thuốc, ngồi dậy tập thể dục, vận động cơ thể điều hòa lại, thả lỏng toàn thân, ngồi thiền hít thở, đừng quá lo lắng và bị ảnh hưởng từ tâm, chỉ có như vậy mới phát huy tâm lực của mình mạnh lên, nó sẽ làm chủ được thân, tâm yếu cũng trở thành bệnh như thường. Do vậy, cảm giác toàn thân rất quan trọng.
Thường xuyên quay lại nội tâm phán xét lỗi mình. Tập nở nụ cười với người và vật.
Ví dụ, mình đi làm từ sáng đến chiều tối, thấy mệt bực trong công ty đủ thứ chuyện, lúc đó bốn năm bảy cảm giác dồn vào một lúc, bốn phương tám hướng bát diện mai phục, thập phương du kích đánh một trận, lúc này mình không tỉnh là chết liền. Cho nên, cái tu này đức Phật gọi là thể nhập bất tử. Ai tu được cái này là không còn chết, đạt tới cảnh giới Niết-bàn. Ngược lại, mình bị sanh tử luân hồi không biết ngày nào thoát ra.
Nhận rõ được cảm giác của mình đang khó chịu, phải tự nhắc cẩn thận phút giây cảnh giác, nhờ đề phòng cẩn trọng nên không xảy ra những điều đáng tiếc, đó là mầu nhiệm của sự tu.
Ví dụ, cảm giác ngủ nướng rất sung sướng, cách đây hai chục năm có chú tiểu lúc đó mười một giờ thức dậy khóc. Minh Thành hỏi tại sao mới ngủ dậy đã khóc? Chú nói hôm nay là ngày thi, mà ngủ quên sẽ ở lại nguyên một năm. Có những việc rất quan trọng, vì một điều nhỏ này mà chỉ vì cảm giác sung sướng một chút làm hư hết đại sự.
Hoặc như chuyến lên núi này lẽ ra sẽ ‘lượm được cục vàng’ nhưng tới giờ mọi người đã xuất phát, còn riêng mình thì ngủ nướng và quên lịch trình nên bị mất ‘cục vàng’, bỏ qua cơ hội thính pháp, học pháp và hành pháp.
Lại nữa, trong chúng ta đang có vấn đề bị trói cột tạo thành nội kết bên trong tâm. Nếu đi coi bói toán cũng không giải quyết được, tâm sự với bạn cũng chẳng giải quyết được, mà nói với ba mẹ không thể nói nên lời. Thế rồi, vào trong chùa thắp nhang cầu nguyện nhưng cũng mơ màng, bất an. Chỉ còn cách là đến gặp Thầy tâm sự để nghe chỉ cách giải những gút thắt tâm tư. Nhưng do bạn bè rủ rê đi Thái Lan chơi, mê tìm cảm giác nên nội kết còn nguyên, mê cảm giác.
Mình nhìn thấy toàn cảm giác, từ đó điều chỉnh cho phù hợp và chuyển hóa nó từ xấu thành tốt, từ mê sang ngộ, thường xuyên như vậy thì mới có ngày thành tựu. Chúng ta trở thành người Phật tử chân chính, thuần hành, gia đình êm ấm, trong ngoài bình an, con hiền dâu thảo, công việc hành trì, hiếu lễ đúng nghĩa đạo làm làm người và tu hành miên mật thì đưa đến bờ giải thoát là điều có thật.
Cho nên, mình phải cẩn thận với cảm giác. Cảm giác vui sướng cần dè dặt và chánh niệm, cảm giác khổ đau phải đề phòng, cảm giác khổ quá mình chết cho xong đó là mờ tối. Ví dụ, nhiều người gặp phải chuyện tình cảm buồn giận, mất mát thì tự xét lại sẽ thấy rõ mất cái này có cái khác. Lúc mình chưa quen người đó mình không đau khổ, đến khi quen nhau mới có sáu tháng thì lại nói là ‘không có anh là em chết’ hoặc ngược lại.
Do chúng ta sống trong ảo giác, tưởng tượng nhiều quá! Bị cảm giác đó trói buộc, nếu như mình nghĩ ngày xưa mình chưa quen thì vẫn sống, bây giờ không quen nữa thì thôi, quen người khác, có gì đâu mà tự tử. Nếu thực tập cảm giác toàn thân, làm chủ chính mình, điều phục cảm giác, chế ngự sự tham muốn thì trên thế giới không bao giờ nghe tin thất tình tự tử, cũng như nhiều điều đau khổ khác dẫn đến… Chẳng hạn, những mối bất hòa từ cha mẹ, anh chị em, đồng nghiệp, nơi công sở, những mối quan hệ trong xã hội,… Thật vậy, phải để ý cảm giác của mình và người đối diện để tự điều chỉnh lại cho hài hòa trong cung cách đối đãi với nhau trong có lý vẹn tình.
Phật dạy, rải tâm từ để giải tỏa tâm sân, Ngài được gọi là Vô Thượng Y Vương, tức là một vị Thầy thuốc siêu việt trên thế giới này không có ai so sánh được. Bệnh nào Phật cũng đều có thuốc trị được hết. Tâm nóng giận, bực bội thì Phật dạy đem tâm thương để chuyển hóa tâm nóng giận này. Đầu tiên là thương mình, sau đó là thương đến người khác. Thương đến người tôn kính, dễ mến, người gần gũi, quyến thuộc cho đến người xa xôi, sau cùng là đến người không dễ thương, người với mình thù nhau cũng tập khởi tình thương mến. Khó, nhưng tập rồi sẽ thành. Còn giận thì còn đau khổ.
Chính hành giả là nạn nhân của cơn giận, ta đã từng bị nó hành hạ bao lâu nay, người kia cũng giống mình đều là tai nạn với cơn giận. Tại sao mình không giận cơn giận, chỗ này là trí huệ sâu xa của Phật, Bồ-tát dạy mình. Ví dụ, có người cầm cây đánh mình, mình giận người, như vậy giận đó là tâm sân giận chứ không phải ta giận. Mà giận người đó giống như mình giận cái cây của người đó, nó chỉ là công cụ của tâm sân.
Có người ngủ mê man hay bị bất tỉnh gây mê, thân xác lúc này không hoạt động, chẳng còn cảm giác, tâm bên trong điều khiển thân chỉ là công cụ. Tâm sân nóng giận bên trong làm cho mình ghét, nếu người đó không có tâm nóng giận mình không có ghét. Nếu người đó thương mình thì mình thương lại. Như vậy, chúng ta muốn ghét là ghét, tâm nóng giận đừng có ghét người đó. Vì người đó là tai nạn của cơn nóng giận. Khi ta giận lên cũng là tai nạn của nóng giận. Giận làm gương mặt khó coi, các dây thần kinh căng cứng, mất kiểm soát hậu quả khôn lường. Một khi nhận rõ vấn đề thì mọi việc đã xong, có hối hận thì đã muộn màng. Quán chiếu cảm giác, quán chiếu cơn giận để làm chủ được mình.
Hành giả thiền định sẽ thấy rõ sự vận hành cảm giác toàn thân. Buồn vui khởi lên phải nhận diện ngay. Bất thiện pháp hiện hữu là chặt dứt, nhổ tận gốc rễ ngay. Còn thiện pháp sinh thì quán xét khởi lên tâm từ nhiều hơn, nhưng đừng bám chặt, nắm níu, hãy như người giữ cửa.
Buồn vừa lên, mình hỏi ‘mày thích buồn lắm phải không? Buồn được cái gì? Tại sao buồn? Nó chỉ đưa ta vào trạng thái và hành động vô nghĩa. Hãy mạnh mẽ lên’.
Buồn là chứng bệnh của nội tâm, mình phải ý thức được nó, chỉ mặt kêu tên, thấy rõ bản chất của nó, vì sơ suất là bị nó làm cho mình chết dần chết mòn dòng năng lượng, nhiệt huyết, hưng phấn, sáng tạo… mà chỉ còn lờ mờ, thụ động, tiêu cực, mất hết khả năng vốn có mạnh mẽ. Nhanh chóng lạy Phật, tụng kinh, nghe pháp, làm từ thiện hoặc bước ra ngoài quét sân, nhổ cỏ, trồng cây, hoặc quét dọn lau chùi nhà cửa cho gọn con mắt, đẹp đẽ thơm tho… Những việc tay chân ấy sẽ làm quên cơn buồn và hành động tinh tấn đến với việc nghe pháp, thực hành pháp qua việc lạy Phật, tụng kinh, bái sám sẽ chặt đứt cội rễ si ám ta trong cơn buồn thăm thẳm của vô minh.
Cho nên, cái buồn này thiêu đốt thời gian, tuổi tác, kiếp người… Con người không chắc chắn sống tám mươi tuổi hay trăm tuổi, nên dẹp nó đi không chơi với nó nữa, tinh tấn mạnh mẽ lên đại hùng đại lực đại từ bi, để mình sống có ý nghĩa, lợi ích hãy đem cái tâm này làm chiếc thuyền đưa mình qua tới bờ bên kia hạnh phúc, an lạc, thiện pháp công đức giúp cho tất cả mọi người đều được niềm vui, hạnh phúc, tự tại thì cuộc sống này có ý nghĩa thiết thực biết bao nhiêu!
Giá trị tu học rất quý, chúng ta đừng nghĩ tưởng rằng mình làm có tiền nhiều, nhà cửa to đẹp là hạnh phúc. Nó chỉ đơn thuần về phần vật chất, mà vật chất không phải là tất cả, có nhiều người ở trên đống tiền, đống vàng mà vẫn khổ đau. Vừa rồi, tai nạn hàng không bên Mỹ, động cơ máy bay va vào vỡ kính và cô này bị hút nửa người ra ngoài. Rất nhiều người nắm kéo, máy bay hạ xuống đưa cô đi cấp cứu mà không kịp. Cô đã qua đời. Cô này là Phó Giám đốc Ngân hàng. Hoặc như những vị có chức quyền, danh phận, giàu sụ nhưng vẫn phải bị khổ nạn khi sa chân lầm lỡ điều chi đó, ngồi tù, hoặc phải lo âu trong việc tranh quyền chức vị, sợ người giàu hơn… Đó là khổ trên giàu sang và quyền thế.
Không phải vật chất quyết định tất cả, khi có phước mình mới có được cái này, do đó cần cố gắng để tâm nghĩ điều tốt, miệng nói lời tốt, thân làm việc tốt. Sau đó, mình chia phước đó cho mọi người. Việc làm đó chỉ giúp mình trồng thêm phước báu, cũng như mình chưa ăn hết cây này đã có cây mới, chưa ăn hết cây mới lại có cây mới. Cứ như vậy, phước báu sinh sôi, do tâm mình rộng mở, lòng mình khoan dung, biết nghĩ đến mọi người, biết làm chủ cảm xúc.
Mỗi chúng ta luôn cần tỉnh thức trước vô thường, tỉnh thức cho sâu sắc hạnh phúc không phải vật chất mà còn có tâm linh quyết định. Ở đây, tâm linh không phải vào chùa lạy Phật rồi cầu xin và được cái này cái kia, đó là mê tín. Mà tâm linh là Phật chỉ cho mình phương pháp để dụng công hành trì. Phương pháp quan trọng nhất của đạo Phật là nhìn lại thân tâm của mình, xét lại tự tâm của mình. Phật không cho La-hầu-la thành Phật được, Phật không có hoàng hậu Ma-ha-Ba-xà-ba-đề thành Phật được mà phải xuất gia tu hành mới thành tựu. Như vậy, mình lạy Phật, cảm ơn Phật mà không biết Phật dạy cái gì thì điều đó rất trái với lời dạy của Thế Tôn.
Ngay bây giờ, chúng ta cùng ngồi thẳng lưng, thả lỏng toàn thân và thực tập quán niệm hơi thở, rõ biết cảm giác toàn thân, nhận diện sâu sắc trước mặt.
Tỉnh táo bên trong nội tâm để nhìn thấy những biến động trong cơ thể của mình. Trong lúc cảm thọ vui sướng, cần đề phòng; cảm giác khó chịu thì cẩn thận; lúc bình thường mình cũng nên luôn tỉnh táo sáng suốt, đừng để cảm giác nhận chìm. Tâm phải làm chủ thân, mình phải làm chủ cảm xúc, điều phục, chế ngự nó để ra ngoài khổ đau.
Phải tập nhìn đến người khác, nhất là cha mẹ, ông bà, vợ chồng, con cái, anh chị em, bà con, cho đến những người bạn, đồng sự, đồng nghiệp. Phải biết cảm nhận sự cảm nhận của người khác, đừng chỉ biết cảm nhận của mình mà quên đi cảm nhận của người khác. Mình luôn luôn hướng tới điều thiện lành, niềm vui, tích cực, vứt bỏ những tư tưởng bi quan, tiêu cực, buồn chán để đóng góp cho cuộc đời này điều hữu dụng. Chúng ta sống một cuộc đời có giá trị, ý nghĩa, tức là mình sống một ngày là một ngày có giá trị, sống một tuần là một tuần có ý nghĩa, sự có mặt của mình là đem lại lợi ích cho nhiều người, sự có mặt của mình là đem lại ánh sáng, niềm tin, tình thương cho cộng đồng, xã hội, thế gian này. Có như vậy mới tạm gọi là chân bước tới đâu thì sen Tháp Mười nở dưới chân tới đó, chỗ nào có mình thì chỗ đó sen đều nở. Thật là lành thay!
Chương 2:
SOI LẠI NĂM UẨN
Pháp hành năm uẩn
Chúng ta mang tâm hướng ngoại rất nhiều, từ chánh pháp đức Phật gọi trong Kinh tạng Pàli là diệu pháp hoảng loạn. Cho nên, pháp hành để thực tập thành tựu thánh đạo thánh quả bây giờ là một điều người ta nghe rất làm lạ, nên giá trị của chánh pháp chỉ có những người thật tâm muốn cầu giác ngộ giải thoát, chấm dứt luân hồi mới biết hết được giá trị của nó.
Chúng ta cùng nhau trao đổi sâu sắc về pháp hành năm uẩn để thấy sự vận hành của thân tâm này từ vi tế đến thô.
- Trong năm pháp hành thì ‘sắc’ và ‘thọ’ dễ nhận diện, nhưng ‘tưởng’ nhận diện không ra, con không hiểu thế nào là ‘tưởng’? Xin Thầy chỉ dạy.
- ‘Tưởng’ là những hình bóng thô, tế trong nội tâm hành giả. Khi mình ngồi thiền nhắm mắt lại mình sẽ dễ thấy những hình bóng đã qua, đã từng biết. Chẳng hạn, ngồi một lát bắt đầu vọng niệm khởi lên nhớ về cha, hình ảnh cha mình hiện ra; mình nhớ mẹ, hình dáng mẹ hiện ra; mình nhớ người bạn ngày xưa mình chưa đi xuất gia, hình ảnh người bạn đó hiện ra… những hình bóng đó là ‘tưởng’. Hình sắc từ thô đến tế hiển bày trong nội tâm của mình gọi là ‘tưởng’.
- Lúc ngồi, con nhận diện con đang ngồi; lúc thở con nhận diện cảm thọ là thấy lạc thọ; con không tưởng được trường hợp con đang ngồi, sắc, thọ, hành, thức, thức con nhận diện được con đang ngồi, con đang thở đang nghe nhưng tưởng trong trường hợp đó con không nhận diện được?
- Thọ là cảm giác; cảm thọ, tưởng là những hình ảnh trong nội tâm của mình, hình ảnh hoặc thô hoặc tế; hành là những lời nói thầm suy nghĩ trong nội tâm, những lời nói thì thầm từ suy nghĩ đó là hành; còn thức là rõ biết được cảm giác của tưởng. Tưởng không phải lúc nào cũng có, khi nào nó có hình sắc lúc đó có mặt của tưởng. Ngược lại, hình bóng chẳng xuất hiện thì không có có tưởng hoặc cái tưởng nó vi tế, tâm mình phải yên định sâu mình mới thấy hết được.
- Qua bài học của Thầy, con hay về ngồi thiền nhắm mắt, cảm giác toàn thân con hít hơi thở vào con biết hơi thở từ mũi tới lồng ngực, tới bụng, xuống hết toàn thân; từ toàn thân thở ra con thấy rõ sắc tướng của con đang ngồi; thọ lúc đó con chỉ theo dõi hơi thở toàn thân mình. Con theo dõi hơi thở khoảng 15, 20 phút sau bỗng nhiên con thấy thân con sao lớn quá, lúc đó con thấy ý hành của con nó sợ vì cái thân mình lớn. Cho nên, con sợ không dám theo dõi nữa, xả thiền. Con thực tập hai, ba ngày liền đều rơi trong tình trạng đó, lúc đó thức con thấy rõ biết rõ. Hiện tượng đó giải thích như thế nào, bạch Thầy?
- Tuyệt đối NGỒI THIỀN KHÔNG NHẮM MẮT, nếu nhắm mắt dễ rơi vào ‘tưởng’. Vì, nhắm mắt sẽ không sáng tỏ, mình không rõ các pháp bên trong với bên ngoài. Lại nữa, nhắm mắt thì chúng ta dễ rơi vào trạng thái lờ mờ, trạng thái vô minh và trạng thái tưởng, mở mắt là hết bị trạng thái đó.
- Quán xét năm uẩn con thực tập nhưng không được thường xuyên. Con ngồi quán sát theo tiến trình Thầy chỉ trên lớp, nhưng tự nhiên có luồng điện trên đỉnh chạy dọc từ trên đầu xuống sau đó nước mắt ứ ra, toàn thân con rõ biết cảm giác đó. Sau đó, thỉnh thoảng con có cảm giác biết được ai có tư tưởng bất thiện với con thì con đều có cảm giác thân mình ớn lạnh, con không biết tại sao?
- Cái này mình phải để ý nhiều trường hợp:
Thứ nhất, có khi do cơ thể của mình;
Thứ hai, có khi do cái tưởng, mình phải sáng tỏ để nhìn nhận chứ không phải mình quyết định cái đó là như vậy. Hành giả phải thật bình tĩnh, tinh tường để coi xem cảm giác đó là cảm giác gì, đừng nghĩ phỏng đoán nó là như vậy;
Thứ ba, thật sự có thật, mà có thật thì bình thường. Vì kinh mạch của mình khai thông, mình biết cảm giác đó mà không bị dính mắc. Hành giả đừng nghĩ bữa nay mình chứng được cái gì, lúc đó tâm mình động. Bởi, sự tham ái bám víu vào chấp ngã phát sanh, chỗ đó thành ra cái sai nếu như có những trạng thái. Mình ngồi thiền có rất nhiều trạng thái, đây là thọ, đây là cảm giác, mắt mình mở ra thật minh mẫn, tỉnh táo, thấy rõ thì không có vấn đề nó diễn ra, nó tự đến rồi cũng tự đi, đừng bận lòng khéo tưởng mà bị nó lôi kéo lúc nào chẳng rõ, bởi tham và si mê.
- Con có thực hành năm uẩn, riêng sắc uẩn quán về vô thường thì dù con xem sách pháp và thực hành rất nhiều nhưng con quán chưa được. Con quán không thấy ghê gớm, Thầy quán thành tựu về vô thường, có thể ngửi được mùi hôi tanh muốn ói, còn con thì làm không được. Mong Thầy chỉ dạy cho con?
- Khi quán về hơi thở, hành giả niệm hơi thở tự nhiên hay mình điều khiển hơi thở?
Quán niệm hơi thở thì để hơi thở tự nhiên, không kéo dài cũng không rút ngắn, mình chỉ nhận biết hơi thở. Hơi thở vào nhận biết hơi thở vào hơi thở ra biết hơi thở ra. Hơi vào dài biết hơi thở ra dài, hơi thở vào ngắn biết hơi thở ra ngắn. Lúc đầu, hơi thở mình hít dài, về sau từ từ ngắn lại, mình nhận biết được đó là tuệ tri. Tuệ tri tức là nó như thế nào mình biết như thế ấy. Chúng ta không nên điều khiển hơi thở, chẳng kéo dài hay rút ngắn hơi thở mà chỉ nhận biết rõ ràng.
Quán về sắc uẩn, cái này nhân duyên của mỗi người, tức là trong quá khứ mình đã tu tập pháp đó, nên bây giờ mình tiếp tục tu tập. Đức Phật dạy trong kinh, nếu như mình dụng công hành trì mà chưa thấy thành công thì càng phải phấn đấu, nỗ lực, tinh tấn, không phải thấy khó để sang bên, nỗ lực thực tập sẽ thành công.
Bài “Tầm quan trọng của quán bất tịnh”, quý huynh đệ mở ra nghe tới nghe lui ít nhất chục lần, mình mở lên rồi ngồi đó nhắm mắt lại quán chiếu theo lời nói đó hoặc kiếm hình bộ xương, hình tai nạn giao thông bị rơi xương thịt bầy nhầy một đống, hình con diều hâu, kên kên rỉa xác chết,… lúc đầu Minh Thành lấy mấy hình đó xem để quán chiếu sự bất tịnh của thân này. Có đoạn video clip quán tưởng bất tịnh kèm theo lời dạy Tứ niệm xứ của đức Phật, video clip đó Minh Thành xem hai trăm lần. Chẳng có điều gì đơn giản cho mình dễ dàng tiến bộ. Tu hành để thành tựu thánh đạo, thánh quả, thánh trí phải nỗ lực, quyết tâm, không ngừng nghỉ. Mỗi hành giả phải tự chiến đấu với cảm giác và tập nhìn trong đây là ba trăm bộ xương, nhìn ai cũng là bộ xương đó là cốt tưởng. Có như vậy mới không bị sắc dục chi phối.
- Buổi tối khi con ngồi thiền được một lúc, mắt bị nhức, nước mắt chảy ra, con có nên nhắm mắt không? Con rất muốn nhắm mắt vì nước mắt cứ chảy hoài? Buổi sáng khi con công phu xong, con ra ngoài tập thể dục nhận diện sắc uẩn là con đang đi con rõ biết được trước mặt là từng miếng gạch; sắc con đang đi; sau đó con nhận được cảm giác mát mẻ lạc thọ; con thường nhận diện năm uẩn, con gọi cái đó là tưởng uẩn, khi con thấy được cái đó thì con không thấy được sắc uẩn của con đang đi, con nói nghĩ những điều đó không nên, không thấy được sắc uẩn, trở về sắc uẩn mình đang làm gì đó là hành uẩn. Con nhận diện như vậy không biết đúng hay không?
- Tuyệt đối không nhắm mắt, chảy nước mắt cũng kệ, phải chiến thắng. Nếu mắt sụp xuống là nó đi vào si, vô minh, đi vô tưởng. Mọi khi mình tỉnh táo như vậy mà còn bị vô minh tham ái, chấp thủ, ngã mạn đủ thứ tấn công si mê, nay nhắm mắt lại chắc chắn sẽ bị sa vào hang quỷ, chỗ tăm tối đó trưởng dưỡng vô minh, ảo tưởng ảo giác. Hãy mở mắt, hành giả mạnh mẽ, quyết liệt chiến thắng tự thân sẽ thành tựu!
Lại nữa, khi đi tập thể dục nhận diện năm uẩn được thì rất hay. Tất cả chỗ, mọi thời khắc, ở các nơi đều thực tập nhận diện năm uẩn. Thực hành năm pháp rõ biết trước mặt, mắt sáng rõ, nên nhãn thức của mình rất tinh minh mở rộng không trú vào một điểm, trú vào là lát sau thành tưởng.
Cho nên, nhớ mở rộng tầm nhìn, nhãn thức tinh minh, cảm giác toàn thân, mở rộng từ hơi thở sau đó nội tâm tỉnh giác gọi là định tâm trên thân, pháp đức Phật dạy rất vững chắc giống như đỉnh bằng đồng ba chân.
Khi mình nhận diện sắc uẩn, mình thấy rõ sắc uẩn; khi mình nhận diện tưởng uẩn, sao lại lo mất sắc uẩn?
Ví dụ, mình lo chuyện nhà bếp thì chuyên chú nhà bếp cho xong. Tuần tự thực tập cái này xong rồi tới cái kia, cái kia xong rồi tới cái nọ. Đại đa số chúng ta trước giờ công phu hoặc chọn pháp hơi thở hoặc hành câu Phật hiệu. Mình thích những điều đơn giản, êm ái, nhẹ nhàng. Có biết đâu rằng chính cái êm ái nhẹ nhàng nó nuôi vô minh, bị cột chặt trong cảm giác lạc thọ êm ái, mình bị mà không biết.
Ngồi yên nhận diện hơi thở thì vọng tưởng khởi, hãy quán chiếu rõ biết từng biến chuyển trong thân tâm. Do đó, hình ảnh nào hiện diện đều được hành giả chỉ mặt từng cái, đây là thọ, đây là tưởng, đây là hành, là thức, tâm vậy có động hay không? Không phải, tại pháp tu đó không toàn vẹn nên không đủ sức công phá phiền não.
Ví dụ, trong ngôi chùa mình là tri sự hay trụ trì, mình có trách nhiệm, tri sự lo việc nhà bếp và những việc khác nữa, chánh điện, phòng khách, giảng đường, xem coi tổng quát hết mới gọi là người tri sự khéo, người trụ trì giỏi.
Cũng vậy, trong tâm mình có thọ, tưởng, hành, thức; thân mình có sắc, cần rõ biết hết mọi ngóc ngách của nó, nên xưa giờ mình biết rất nhỏ, chỉ chuyên chú niệm hơi thở sẽ không đủ đánh phá phiền não.
Cho nên, mình mới bắt đầu mở trí huệ mình ra để thấy một cách toàn diện, lúc đầu hơi vất vả nhưng khi quen rồi thì chỉ cần đặt niệm xuống là thấy rõ từng tên giặc phiền não, từng uẩn vận hành trong thân tâm.
Ví dụ, nhóm bạn của mình năm người. Lúc mới quen biết, bắt đầu tìm hỏi tên, nơi ở, sở thích,… rồi lâu dần không ai phải đi hỏi tỷ tên gì vậy? Chỉ cần thoáng thấy dáng hình là biết ai đang tới. Sự tu hành cũng vậy, giai đoạn đầu mình phải chịu vất vả, chịu cực, tại mình chưa có quen, khi mình đã phân biệt rõ năm uẩn, lúc đó mình chỉ nhìn lại là nhân diện rất rõ tên nào tên nào ra tên ấy, thấy rõ hết.
- Trên đường đi tới trường, ví dụ, đến đèn đỏ con dừng lại, khi con nhìn thấy một người mẹ chở hai con nhỏ không đội nón bảo hiểm. Con tưởng đến ‘nếu trường hợp không đội nón bảo hiểm có những tai nạn gây nguy hiểm cho đứa bé’; sau đó tâm con khởi lên là hành con nói ‘trời ơi sao mẹ không thương con, thương là lo lắng đội nón cho con khi chạy xe’; thức là con biết trạng thái đang nổi lên là tưởng và hành, con nhận biết được nó; nhưng trong giai đoạn đó, con không nhận thấy được thọ. Trong giai đoạn đó thọ của con là như thế nào?
- Lúc đó thấy rõ ‘tưởng’, suy nghĩ là cái ‘hành’, ‘thức’ thấy rõ biết. Như vậy, ‘tưởng’ và ‘hành’ lúc đó nghĩ “có thể xảy ra tai nạn” thì câu đó là ‘hành’; song song câu nói có hình ảnh tai nạn xảy ra ra đó là ‘tưởng’; khi ‘tưởng’ rõ biết, đó là thức; ‘thọ’ lúc đó khổ, khó chịu, cảm giác lo sợ, nghĩ đến hậu quả ở tương lai gần, thuộc về khổ thọ.
Hoặc ví như, thực hành năm uẩn trong lúc đánh chuông, đảnh lễ, hô kệ, tụng kinh, niệm Phật, ngồi thiền, trì chú, kinh hành, quét sân, dâng hoa cúng Phật, nấu bếp, rửa chén,… thì hành giả đều nhận biết một cách rõ rệt từng sự việc diễn ra trong thân và tâm một cách sâu sắc, vi tế, chú tâm trong từng công việc và quán tưởng nghĩ đến lời đức Phật dạy để thực hành cho thật tốt, tinh tấn, chuyên cần, không thoái chuyển. Tiếng chuông ngân lên cùng lời kệ ngân ngân trong đại chúng:
“Tiếng chuông này vang pháp giới
Khắp nơi u tối cũng đều nghe
Những ai lạc bước mau dừng lại
Tỉnh giấc hôn mê thoát nẻo về.”
Hoặc như:
“Nghe chuông phiền não tan mây khói
Ý lặng, thân an, miệng mỉm cười
Hơi thở nương chuông về chánh niệm
Vườn tâm hoa tuệ nở xinh tươi.”
Có nghĩa hành giả đang hành và nhớ lại lời đức Phật dạy, tưởng đến cõi địa ngục là những cánh cửa địa ngục được mở ra giải thoát khó khổ gông cùm, những ai nghe được tiếng chuông đạo vị ấy sẽ dễ dẫn đến cánh cửa giải thoát, bình yên, ngay lúc đó chúng ta cảm nhận sự thấy an lạc, tức cảm thọ vui sướng.
- Khi con thực hành ngồi thở và nhận diện năm uẩn được một lát, sau đó con nhận diện năm uẩn và chỉ nhận diện hơi thở trong khoảng thời gian đó, lúc sau có vọng tưởng có suy nghĩ gì đó đến, con nghĩ là không nghĩ gì hết nó đến rồi tự nó đi. Dạ, bạch Thầy, khi vọng tưởng đến, mình giữ lại hay mình nhận diện năm uẩn?
- Khi vọng tưởng khởi lên, mình hãy nhận diện năm uẩn chứ không nói để nó qua một bên không được. Tại sao?
Vì năm uẩn là tự thân và tự tâm của mình, nếu mình không rõ làm sao mình tu. Ở trong cảm giác của mình là chỗ cư trú của tham sân si, bản ngã vô minh và chấp thủ. Nếu mình không nhìn sâu vào thì mình không thấy nó thì làm sao mình nhiếp phục được nó. Còn như hành giả trốn tránh mà bỏ nó qua một bên, không dám đối diện, chẳng giải quyết được vấn đề.
Ví dụ, bây giờ mình thiếu nợ hay đang giận một ai đó, chịu khó để cái giận qua một bên thì cái buồn không hết hay chuyện nợ bỏ qua một bên nợ đó cũng không hết. Bây giờ nhất định mình sẽ già bệnh chết, nhưng mình nói ‘thôi, đừng nói chuyện kổ sầu, chia ly, đau bệnh chết chóc, ghê quá!’, nhưng đó là một sự thật không hề chối cãi, chẳng thể trốn tránh. Nó hiển nhiên nhưng ta không chấp nhận, chẳng dám đối mặt thì mình còn khổ mãi, điên đảo vọng tưởng là ở chỗ này. Do bám chấp vào ảo tưởng, nghĩ đến cái thường còn, nên vô thường đến, lập tức khổ đau theo sau!
Phải có niềm tin bất động với Phật, với Tam bảo. Niềm tin ấy cùng với sự làm theo một cách đúng đắn, ta sẽ có được lợi ích không thể nghĩ bàn ngay đây và bây giờ, không chờ tới khi hấp hối, chẳng đợi tới kiếp sau mới được cái này cái kia. Hãy sáng suốt và đi trong chánh pháp Như Lai đã chỉ bày!
Tại sao mình tu chưa có kết quả? Vì hành giả chưa thành tựu niềm tin bất động đối với Phật đối với Pháp. Bây giờ tin mình chưa đủ, cho nên nay tìm vị này mai tìm vị kia, cứ tìm cầu mãi mà giáo pháp của Thế Tôn dạy chân xác, nhưng chúng ta lại bỏ qua một bên, uổng lắm thay. Thiếu sót rất lớn và bị chìm vào tư tưởng Tiểu thừa, làm cho mình cách xa với thánh đạo thánh quả. Trong khi đó, năm bộ Nikàya là năm bộ kinh quyền uy của Phật giáo trên thế giới.
Tất cả các nước trên thế giới nghiên cứu về đạo Phật, thường thì họ chọn kinh tạng nghiên cứu đầu tiên là tập trung vào năm bộ kinh Nguyên thủy Nikàya, đứng về phương diện lịch sử nó có sớm nhất. Cho nên, chính vì mình bị hiểu lầm kinh này là của Tiểu thừa, phân biệt Đại với Tiểu, so sánh Tông này Phái kia mà không tìm hiểu rốt ráo chất Phật trong từng pháp báu. Từ nguyên thủy đến phát triển, từ nền tảng đến con đường Bồ-tát đạo, chúng ta cần thận trọng xét nét kẻo bị sai lầm thì hối tiếc đã muộn màng một đời tu hành!
2. Năm uẩn trong đời sống
- Con thường thực hành ngồi thiền quán xét năm uẩn có phối hợp với hơi thở, nên bình thường sau khi ngồi yên không tác ý, tâm con yên lặng một hồi, bắt đầu con theo dõi hơi thở trong ý thức của con nó phát ra một hơi thở vô và ra như vậy là một. Như vậy, mình có nên tiếp thực thực hành hay là mình có phép đối trị hay không?
- Phương pháp đếm hơi thở chỉ là phương pháp ban đầu, nó giúp hành giả cột tâm, không để tâm phóng nhiều, đem tâm trở về. Nhưng về lâu dài, phương pháp đếm hơi thở không đủ sức phá phiền não. Ta cần buông xả nó, nếu như chưa bỏ được vì quen thì cứ để tự nhiên từ từ nó nhả ra, mình cứ thực tập vào ba pháp hoặc mình thực tập quán chiếu cảm giác coi xem cảm giác mình như thế nào. Kế đến, tập nhận diện năm uẩn, mình cứ hành trì nhận diện năm uẩn, cảm giác toàn thân một thời gian thì phương pháp đếm hơi thở sẽ phai nhạt và buông ra, kiên nhẫn hành trì sẽ đạt.
- Con chọn pháp hành quán năm uẩn bằng cách thực tập hành trì trú Đại bi, khi ‘tưởng’ con nghĩ những câu đại bi, từng câu có những vị hộ pháp, những vị Bồ-tát là con biết mình đang trì như vậy, trong lúc đang trì nhưng vẫn quán được, biết mình làm gì, trong tâm tụng thầm hoặc tụng to đều nhớ biết rõ. Cách dụng công như vậy có đúng không, thưa thầy?
- Thứ nhất, đức Phật trong kinh tạng Nikàya không dạy như vậy. Ở đây, Minh Thành muốn giới thiệu đến quý vị phương pháp tu trở về cội gốc của đức Phật, không đi lan man. Trong tạng Nikàya dạy làm sao mình tu y như vậy, trong tạng kinh không dạy mình vừa trì chú đại bi vừa quán chiếu năm uẩn, nên mình không thực hành cái đó.
Thứ hai, mình không thể cùng một lúc làm quá nhiều việc. Chúng ta phải nhất hướng, có sự quyết tâm rõ ràng, còn như pháp nào cũng ham, pháp nào cũng thực hành nhưng không đi tới chỗ trọn vẹn rốt ráo thì nó sẽ có phản ứng ngược, loạn tưởng, vọng niệm. Có thể mình đã quen trì đại bi, bây giờ bước qua phương pháp này sẽ hơi khó, đừng ngại, chuyên tâm thực tập, thói quen ban đầu sẽ còn ảnh hưởng nhiều trong dụng công pháp mới, lâu dần nó sẽ tự buông ra.
Những phương pháp khác trực tiếp để nhìn thấy tự thân tự tâm mà mượn phương tiện, pháp này là pháp nhận diện trực tiếp thân và tâm, nên nó mạnh. Tạm gọi, những giai đoạn trước giống như học tiểu học, trung học, bây giờ mình lên đại học. Cũng như lúc trước mình học sơ cấp, trung cấp, bây giờ mình học lên cao đẳng, mình thấy được như vậy mình sẽ không bị vấn đề chấp thủ trong pháp tu.
Tu hành không khéo cũng dễ bị chấp pháp đó! Vì cứ cho rằng, hồi đó Sư cố dạy vậy, Sư ông dạy vậy và bây giờ Sư phụ dạy vậy nên con cũng tu như vậy, con không chịu đổi.
Đôi khi hành giả niệm tới câu chú nào đó thì cho rằng có một vị hộ pháp, đó là tưởng uẩn. Hoặc khi chiêm bao hay niệm Phật nói ‘tối qua, nằm chiêm bao tôi thấy có Phật tới rờ đầu’, đó là tưởng uẩn, vô thường. Sự quán chiếu này sâu sắc, nhìn khắp sơn hà, đại địa vũ trụ, vạn vật, tất cả nhìn thấy đều là sắc uẩn, không có gì khác, đây là thánh trí.
Mọi sắc tướng sum la vạn tượng, thiên hình vạn trạng nhìn thấy đều là sắc uẩn, nội sắc và ngoại sắc, tất cả những hình ảnh trong nội tâm mình hay hình ảnh nào từ bên ngoài đi tới hoặc những ảo ảnh trong tâm mình tưởng tượng đều là tưởng uẩn. Tất cả cảm giác, dù cảm giác thật là nhẹ nhàng êm ái hoặc khó chịu, bức ngặt cũng đều là thọ uẩn, bao nhiêu lời thì thầm trong tâm là hành uẩn.
Như vậy, sự rõ biết là thức uẩn, năm uẩn này bao trùm khắp vũ trụ thế giới. Cho nên, trí năm uẩn là trí thấu suốt khắp pháp giới chúng sanh. Còn những phương pháp tu lâu nay, không khéo mình vẫn chỉ tu ở trong năm uẩn.
Ví dụ, mình nói bây giờ mình làm thiện rồi giúp người nghèo khổ có phước, để đời sau mình hưởng phước. Đó là tâm mình mong muốn tiếp nối có một sắc uẩn tiếp nối đời sau, đi vào luân hồi sanh tử, dù hưởng phước lành, quả ngọt, nhưng vẫn không thoát khỏi vòng sinh diệt sanh tử, cần nhận diện rõ điều này! Ở đây, pháp Phật chỉ dạy là pháp chấm dứt sanh tử luân hồi. Chỗ này trí huệ trong kinh nói là vị thành tựu trí năm uẩn thấy được rõ vị ngọt của năm uẩn, sự nguy hiểm của năm uẩn và sự xuất ly của năm uẩn, người đó đi vào dòng Dự lưu, Tu-đà-hoàn là điều hoàn toàn có thể, nếu hành trì đúng như pháp.
- Thế nào là vị ngọt của năm uẩn?
- Vị ngọt của năm uẩn là sự khoan khoái thích thú vui sướng trong sắc, trong cảm giác; dục hỷ khởi lên từ những tư tưởng, ở trong nhận thức đó là vị ngọt.
- Thế nào là sự nguy hiểm của năm uẩn?
- Năm uẩn là vô thường, biến hoại, đi đến chỗ đoạn tận đó là sự nguy hiểm của năm uẩn. Chính sự nguy hiểm của năm uẩn, từ những cảm giác sinh ra vọng tưởng mê lầm đã làm cho người ta khổ sở, trộm cướp, đấu tranh, chiến tranh, giết hại lẫn nhau,… đều từ dục sanh ra và tham trong năm uẩn.
Hành giả cần luôn luôn luôn quán chiếu năm uẩn, nó sẽ sinh ra một trí huệ rất đặc biệt. ‘Tưởng’ rất nguy hiểm, người ta có thể chết vì cái ‘tưởng’. Có câu chuyện rất đơn giản, cậu này quen với cô này, sau đó cô này không quen cậu đó nữa mà chuyển sang quen một cậu khác, cậu khác đó mới đưa hình và những bài hát karaoke hai người ca hát chung với nhau lên mạng xã hội. Rồi người bạn trai cũ của cô này sân hận lên, lúc đó lửa sân đốt, thọ, tưởng tượng ra, suy nghĩ thức vận hành trong sân hận không còn biết đúng sai nên đã tiến tới hành động tìm và giết chết người bạn trai mới của cô này. Cuối cùng, anh này phải lãnh án tù chung thân.
Sự nguy hiểm của sắc, thọ, tưởng, hành, thức, nếu mà không biết tu, chưa có trí huệ thì những suy nghĩ nhất thời dẫn tới hành động nông dại đó họ phải trả giá đắc cho việc làm sai trái. Do họ bị năm uẩn lôi kéo trong vô minh, không còn nhìn thấy điều gì khác. Nếu như khi đó anh bạn trai cũ của cô người yêu đã chia tay kia còn tỉnh táo, suy nghĩ kỹ càng thì sẽ không dẫn tới hậu quả giết người rồi tù tội. Biết dừng đúng lúc thì không còn gì để bàn, nhưng do năm uẩn mê mờ, thúc giục vì vọng tưởng điên đảo. Ở đời là vậy, trong chùa cũng có những chuyện tế nhị, không khéo nhẫn, thông cảm, mở lòng với nhau thì cũng sẽ sa vào con đường sai pháp, lạc đường Đạo mà không hay, tới khi hay đã thành người mắc đọa.
Thọ, tưởng, hành cũng làm cho mình phiền não, tại mình không thấy nó, chẳng nhận diện, sự liễu tri về nó không tường tận cho nên mình không thắng tri nó. Nếu hành giả nhận là mình sẽ nói ‘tôi đang suy nghĩ, tôi bực quá’. Chúng ta không thấy lúc đó thọ bực chứ đâu phải mình bực, hành nó vận hành và đang hành hạ mình. Hành uẩn làm chúng ta mệt nhiều, nếu mình không khéo tu. Âm thanh cũng gây sự phân tâm, nhiễu hại tới mình, nên phải quán chiếu sâu sắc sự nguy hiểm trong năm uẩn.
Chính từ năm uẩn này, dục – tham – vô minh – chấp ngã cái ta đây, rồi bám chặt trong đó. Ví dụ, trong chùa hiện có 20 huynh đệ, sư phụ dặn đại chúng chiều nay tổng vệ sinh chùa cho sạch sẽ, gọn gàng, ngăn nắp lại, chuẩn bị Lễ… Đại chúng đang lao động vất vả, trưa nắng nóng, chợt có Phật tử đem tới cúng dường một quầy dừa xiêm, mọi người lấy dao chặt dừa và rót nước ra uống tuần tự. Nhưng tới lượt mình thì quầy dừa xiêm ấy đã hết, lúc đó mình thấy được rõ nhất về thọ. Lúc này thọ khổ vận hành trong tư tưởng, tùy the sự định tĩnh ở mỗi hành giả, nếu ai còn bám chấp vào cái ngã thì còn nhớ hoài hình ảnh quầy dừa xiêm đã hết khi tới lượt mình. Chuyện đã qua nhưng còn neo mắc vào, nhớ hoài nên khổ, tọa thiền không lạc thọ mà toàn khổ thọ sinh khởi, hãy xem lại và quán xét sâu sắc về lẽ vô thường. Đó là một chuyện nhỏ, vi tế, nếu không để ý sẽ còn nhiều chuyện phức tạp hơn mà mình sẽ bị lôi kéo vào trong đó. Khổ trong năm uẩn.
Hoặc như chúng ta đang ngồi trong chùa, một lát có việc Phật sự cần ra ngoài nhưng không còn thấy chiếc xe máy nữa, đã bị mất cắp rồi. Lập tức thọ tưởng hành thức vận hành, do nó bám vào ngoại sắc. Ngoại địa giới cho rằng chiếc xe đó là của nó, quán sự nguy hiểm của năm uẩn, suy nghĩ diễn biến làm cho mình khổ.
Hoặc gặp một chuyện bất như ý làm cho mình ăn không ngon ngủ không yên, nghe kể ra mới biết là do bị sư tỷ nói nặng nên đã ba đêm nay không ngủ được, thần trí mê mờ. Từ đó sinh ra bệnh phải ăn cháo, đó là hành uẩn. Thọ uẩn, suy nghĩ cảm giác nhớ lại sắc tưởng, những lời nói, hành động trong suy tưởng được hiện lại, nên mỗi lần tưởng là nó tô lên, giống như vẽ cho đậm, đậm tới lúc nó hiện rõ ra, thậm chí đi vào ngõ cụt vô phương cứu chữa. Chính nó tạo thành nghiệp và dẫn dắt mình sang đời sau, điều này chúng ta thấy rất rõ và nhiều trong nhiều mẩu chuyện kể về tiền thân của đức Phật Thích-ca Mâu-ni và chuyện Trưởng Lão Tăng Ni Kệ ở Tiểu Bộ Kinh thuộc bộ Đại tạng Kinh Nguyên thủy Nikàya. Cần xem xét, nghiền ngẫm để thấy rõ sự vận hành của năm uẩn trong đời sống cũng như quá trình tu hành của mỗi người.
Có những chuyện đi theo mình năm trăm kiếp hoặc xa lâu hơn nữa, đừng nghĩ nó chỉ xuất hiện trong một kiếp này là xong. Đường đi của nghiệp, nhân duyên quả là vô cùng công bằng, không chối cãi, tránh né, chỉ có sớm hoặc muộn thôi! Cũng như vợ chồng không phải một kiếp này thành mà nó đã hội tụ từ nhiều nhân duyên khác mà tác ý, đủ duyên thì thành trong đời kiếp hiện tại. Bởi những hình bóng, suy nghĩ, thân tướng đó gắn liền với ngũ uẩn. Chúng đã trải qua bao nhiêu đời kiếp có buồn vui khổ sướng trong dòng lục đạo luân hồi. Nhưng thường là đọa trong nẻo khổ đường mê, lắm nỗi đau thương thân tâm. Vậy mà đã mấy ai còn nhớ, mấy ai chịu quay đầu là bờ, mấy ai đã chịu vượt lên con đường sanh tử để đến thánh đạo. Cứ gặp tia sét ái tình là dính vào con đường xưa của thọ uẩn. Nguy hiểm lắm! Cho nên, cần quán xét, trí huệ năm uẩn để khởi ý niệm trong ba nghiệp thân, miệng ý thật tốt đẹp, làm hành trang cho con đường tươi sáng ngày mai. Vì, năm uẩn này thâu tóm toàn bộ vũ trụ vạn vật, do mình thấy, nghe rồi sinh tâm phân biệt, tưởng tượng, mong muốn nên mới chuyện tham – sân – si khởi lên.
Đức Thế Tôn nói: “Này các Tỳ-kheo, ta không tuyên bố ta được Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác khi nào ta chưa thấu triệt được trọn vẹn, rốt ráo hoàn toàn về năm uẩn. Ta chỉ tuyên bố ta thành tựu trí huệ Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác khi đã thấu suốt tận cùng năm uẩn” (Chương ‘Thiên Uẩn’ trong Tương Ưng Bộ Kinh).
Hành giả thường xuyên trau dồi quán chiếu sự nguy hiểm của năm uẩn rất có ích và tạo thành thói quen ngăn ngừa những lỗi lầm. Minh Thành hay đọc những tin tức tai nạn giao thông, cháy nhà hỏa tai hay đọc những tin hình sự,… Tại sao phải đọc, nghe, xem những tin tức rùng rợn như vậy? Nó phản tỉnh, giúp mình giữ chánh niệm trong mọi việc làm, lời nói, ý nghĩ đúng với chánh pháp. Từ đó suy sâu xét kỹ để thấy sự nguy hiểm của năm uẩn. Nó là đồ dỏm, phối hợp nương nhờ nhau mà thành, vô thường, biến đổi, mau chóng lụn tàn và dễ vỡ vô cùng. Do đó, quý trọng từng phút giây sống để làm gì có ích lợi cho mình và cho người, có ý nghĩa trong cuộc đời này.
Có câu chuyện về ông tài xế lái xe tải chạy đường dài như sau:
Ông đang lái xe nhưng có điện thoại, đầu dây bên kia là bạn gái, hai người mải mê nói câu chuyện hẹn hò và tình yêu nên ông quên việc lái xe là chính, việc đang chở hàng hóa cồng kềnh và vài người đi chung xe là điều trọng yếu, việc bảo vệ tánh mạng này là vô cùng quan trọng. Như vậy, trong khoảnh khắc mất chánh niệm, không sáng suốt, ông đã không làm chủ tay lái, xe ông đã tông vào xe ngược chiều. Người chết, kẻ bị thương, xe hư hoại, hàng hóa hư hao.
Câu chuyện trên cho ta biết ông tài xế đó bị vướng kẹt vào uẩn nào mà gây ra tai hại nghiêm trọng như vậy? Lúc đó ông bị thọ uẩn, cảm giác lạc thọ; sau đó là cảm giác khổ thọ; trong đó hành uẩn là ý hành; khẩu hành trong lúc ý ông suy nghĩ, miệng ông nói; rồi tưởng uẩn, vì khi nói, ông thấy hình bóng người yêu hiện ra, ông không thấy chiếc xe phía trước đang chạy với tốc độ kinh hoàng, làn đường bé nhỏ, xe chạy nhộn nhịp, tay lái chểnh mảng. Lúc đó thức uẩn chỉ biết cảm giác sung sướng khoan khoái do nghe lời của người yêu từ đầu dây bên kia, những lời nỉ non, ngon ngọt làm mê mờ hiện tại, do sinh ra tưởng tượng và sắc dục sinh khởi mãnh liệt. Ông đã không còn biết gì tới những thứ xung quanh, nếu biết những thứ xung quanh thì lúc đó đã không bị tan nạn.
Dùng trí năm uẩn chúng ta sẽ nhận diện một cách rõ ràng, cụ thể, sâu sắc nhất. Thường xuyên thực tập để khi nghe giọng nói điện thoại của bất kỳ ai đó, dù ở đâu thì chúng ta cũng lập tức quay trở về chánh niệm, tập trung việc nào là chính yếu. Huynh đệ nhìn những người xung quanh biểu hiện là mình thấy được năm uẩn của họ ra sao và bản thân mình cũng như thế nào. Rõ biết về năm uẩn để điều chỉnh, điều phục, ditệ cái sai trái, lỗi lầm, tăng cường những thiện pháp. Hành trì liên tục sẽ đạt thành tựu trí huệ.
- Khi con ngồi thiền ở tư thế kiết già hoặc những lúc ngồi yên, sau một khoảng thời gian khá lâu con có cảm giác đau trên thân mình. Dạ thưa Thầy, khi đau như vậy có cần đổi tư thế? Theo con hiểu, nếu mình đổi tư thế để hết đau thì khi thân mình chuyển động như vậy nó sẽ bị dao động, thân tâm cũng dao động theo. Nếu mình không đổi mà để nguyên tư thế như vậy thì mình vẫn chấp vào trạng thái mình muốn ngồi yên. Xin Thầy chỉ dạy để con thông suốt?
- Tùy theo sức chịu đựng của mình, cũng như ý chí ở mỗi người. Có người ngồi thiền là lên kế hoạch, ý định sẽ là ngồi một giờ đồng hồ, dù đau tê nhức gì cũng cố gắng và vượt qua, đúng hạn định mới chịu xả thiền. Đây là người có ý chí mạnh mẽ, huấn luyện tâm người ta làm chủ được cảm thọ. Hơn nữa, còn có những vị tọa thiền đến hai giờ đồng hồ là chuyện thường ngày. Tất cả do luyện tập, sức mạnh của lòng quyết tâm.
Ngày trước, Minh Thành ở Thiền Viện Trúc Lâm, năm 1994, lúc đó tu quyết tử. Nhớ lại ngày đó có một số Thầy lên ngồi thiền giống như ra chiến trường đánh giặc. Bởi một ngày ngồi thiền sáu giờ đồng hồ, mỗi lần ngồi hai giờ. Tối nằm nghỉ mới thấm thía, ê ẩm khắp người vì sáng và trưa công phu tọa thiền, tối và khuya ngồi thêm hai thời, đau chân lắm! Quý Thầy ở đây chuẩn bị rất kỹ! Dạo đó có một Thầy tu hành rất tinh tấn, có những trưa không ngủ, vào tolet ngồi thiền.
Hoặc như Thầy Minh Quang xin ra Trúc Lâm tu học, mà khi đó thầy còn rất trẻ, mà Thiền Viện chỉ nhận những ai đã tốt nghiệp Phật học Phật giáo và ở Thiền viện Thường Chiếu mười năm mới được lên Trúc Lâm. Hòa thượng xét thấy thầy Minh Quang chưa đủ điều kiện đã nêu nên không cho ra Trúc Lâm tu hành. Thầy Minh Quang hạ quyết tâm cho việc chọn nơi công phu tu hành và đã có hành động chặt ngón tay, máu văng phun đỏ, để nói lên tinh thần cầu pháp của thầy là bất động. Cuối cùng thầy Minh Quang đã thỏa ước nguyện.
Bây giờ, chúng ta tu hành có phần dễ dãi quá! Cần phải vượt qua cái bình thường, thói quen, tập nghiệp, cầu pháp tự thân chuyển hóa cho thật mạnh mẽ, không gián đoạn thì mới thấy sự tu hành là rất quý, đời tăng sĩ là rất tuyệt vời, trăm muôn ngàn kiếp đâu dễ được.
Cho nên, vừa có cảm giác hơi đau chân, còn chịu được, mình nhìn ngay vào chỗ thọ là nó lên ngay chỗ đó thôi! Nó đau tê ngay chỗ cấn chân ống quyển nhưng cái tưởng của mình phóng đại cảm thọ, phải trấn an nó bằng câu ‘không được đau, cái gì đang đau’. Nhưng trong tâm bắt đầu rì rầm câu nói ‘đau chân quá, mai mốt chắc không đi được’, đó là hành uẩn, nó chính là cái nhận mình là mình. Thọ một chút xíu chỗ đau đó nhưng tưởng uẩn làm cho lan tỏa cảm giác toàn thân, nó chiếm ngự tâm của mình. Ngay đó hành giả phải thật sự tỉnh thức, đưa tâm trở về cùng thân hòa hiệp trong sự chánh niệm. Phải ra pháp lệnh để cho thân tứ đại giả huyễn hợp thành này biết tất cả là sự vay mượn, nương tựa vào nhau nên gọi là chân, là đau nhức, nhưng phân tích kỹ thì chẳng có cái gì là một, nghĩ thông suốt thì lập tức mạnh mẽ lên liền.
Hoặc chúng ta nói với cái thân đang đau nhức ở một vị trí là chân: “Đau chân chứ có đau vai, đau tay gì đâu, các bộ phận còn lại đều mạnh khỏe mà!”. Chúng ta dễ bị nổi sân trong khổ thọ, ngũ uẩn trong thân tứ đại này mà mình không nhận dạng được, là vô minh. Thỉnh thoảng ta tự sân với chính mình mà không thấy.
Hành giả nên làm chủ mọi cảm giác, tưởng, hành, thức đang vận hành. Tham ái nó tinh vi xảo quyệt lắm, cẩn trọng kẻo bị sa hầm sụp hố vì nó. Tu phải biết ‘thắng’, đừng để nó ‘tuột thắng’ (thắng xe đạp, xe máy hay còn gọi là phanh), tuột thắng đó là cảm thọ. Rất quan trọng sự quán chiếu bất tịnh, Vô thường, Khổ, Không, Vô ngã, ba mươi hai thể trược, chín lổ rò rỉ chảy ra những nước dơ bẩn trong xác phàm này, rồi từ đó hành giả nâng lên bước nữa, quán chiếu chín giai đoạn của một tử thi sình ra.
Bệnh của mình được ít cho là đủ, mới nghe hiểu được một chút, ngồi quán được mười phút nửa tiếng cho là xong, biết rồi, cái gì cũng biết, cuối cùng không biết gì. Chính vậy mà ta phải hạ thủ công phu, ráo riết hành trì trong chốn già lam để mau chóng thoát cảnh trôi lăn xoay vần trong dục tham ái, lửa sân đốt luôn bản ngã, thiêu rụi ngã mạng, hủy diệt chấp thủ. Đi thẳng một đường tu đến chứng quả A-la-hán, muốn vậy không phải là điều đơn giản, thường xuyên quán bất tịnh để không còn nắm níu, ham muốn, mong cầu trở lại thân ngũ uẩn, không bị kẹt trong cái thọ.
- Trước con cũng tinh tấn ngồi thiền, chiêm nghiệm những suy nghĩ về chuyện ngày xưa hoặc là sân giận con biết kéo nó về tỉnh thức. Con ngồi niệm Phật tiếp thì con vẫn thấy cảm giác mát lạnh cả người, con rất thích. Cho nên, con ngồi rất lâu nhưng có an lạc, đến lúc ngủ con tưởng thọ gì con không rành, con lại ngồi dậy niệm Phật, tự nhiên co sợ, không dám nói với ai. Xin Thầy từ bi cho con biết cái đó là cái thọ hay hành tưởng của con?
- Có cảm giác ngồi thiền được an lạc mà sau đó biết lo sợ cảm giác đó là tốt. Đừng chấp vào, không phải mình tu mà trơ trơ. Hành giả mà tu không có pháp hỷ, chẳng được pháp lạc, chưa từng nếm thiền vị là chưa thể tiến bộ được. Mình ngồi thiền an lạc là tốt, đừng có chấp, cho rằng như vậy là hay rồi, đã giỏi, có lẽ đã chứng được cái gì đó. Ngay suy nghĩ ấy là sai lạc, cần điểu chỉnh ngay. Nếu mình tu có lạc thọ, mình biết đó là lạc thọ, khổ thọ mình biết đó là khổ thọ. Còn như cái đó không khổ không lạc (không buồn không vui) thì mình phải cần nhận rõ về cảm thọ đó. Chúng ta phải luôn đề phòng, nâng cao cảnh giác, tỉnh thức, chánh niệm, chuyên chú trên bước đường tu hành.
- Dạ, con có nghe một giảng sư nào đó nói, người nữ không thể ngồi kiết già được. Có một chị ưa ngồi thiền hay bị ngửa về phía sau, chị hỏi nên ngồi kiết già hay bán già? Trạng thái ngửa ra phía sau là bị gì?
- Trong thể trạng của mỗi người tự mình biết. Nếu mình thấy ngồi bán già mà nó thoải mái thì mình ngồi bán già; nếu ngồi kiết già được, đó là tuyệt vời, không còn gì tuyệt vời hơn. Khi ngồi mà có tư thế bị ngửa về phía sau thì ngay lúc đó mình phải điều chỉnh tư thế lại, có thể do bồ đoàn thấp hoặc mình không ngồi bồ đoàn nên nó dễ nghiêng về phía sau.
- Con ngồi nhận diện năm uẩn, nhưng khi nhắm mắt để nhận diện thì dễ hơn là mở mắt. Xin Thầy chỉ dạy cho con?
- Có thể lúc đầu chúng ta nhận diện năm uẩn nhắm mắt cho thấy rõ được, nhưng từ từ mình phải mở mắt, không được nhắm. Vì nhắm mắt một hồi là rơi lọt vào mộng tưởng, si mê, vô minh, hôn trầm nên phải mở mắt ra. Tuy vậy, trừ lúc nào mình thấy cần thiết lắm thì có thể nhắm mắt lại một chút xíu, sau đó phải mở mắt. Trong thời gian duy trì ngồi thiền là thật tỉnh táo. Như vậy, công phu đó mới có giá trị, sẽ thành công, gọi là thiền tuệ chứ không phải thiền si. Vì thiền si là ngủ gục, hôn trầm, trạo cử. Như vậy uổng lắm thời công phu, cần khéo léo và mạnh mẽ diệt tận si mê, trừ ngay những thói quen tập nghiệp đã kết dính từ lâu xa, phải thay đổi một cách táo bạo, mạnh mẽ và chắc chắn.
- Dạ thưa Thầy, có một chị bạn hỏi rằng: Khi ngồi thiền nhắm mắt, chị thấy trạng thái rất tỉnh nhưng cơ thể cứ gục gật hoài, vậy chị đó rơi vào tình trạng nào?
- Tuyệt đối không nhắm mắt, vì nhắm mắt nó rơi vào đủ thứ trạng thái. Có lúc nó rơi vào chỗ lờ mờ, si mê, hôn trầm; có khi nó bị tưởng ảo, tưởng loạn, hoang tưởng; có nhiều người ngồi thiền một lát sau hơi nghiêng sang một bên mà không biết, vì bản thân người đó đã không trú trong cảm giác toàn thân. Cho nên, hành giả không phát hiện ra những biểu hiện ấy lúc tọa thiền. Nếu mình tỉnh thức ở cảm giác toàn thân là mình biết liền, đó là công năng.
3. Soi lại năm uẩn
Đức Thế Tôn nói rằng có một pháp làm cho người xuất gia đi tới chánh trí giải thoát Niết-bàn, pháp đó là pháp không phóng dật. Ngày trước, Minh Thành đọc qua chỉ hiểu nghĩa nôm na, nghĩ rằng buông lung phóng dật là cười nói, nói lớn, đi đứng không oai nghi… Nhưng bây giờ có dịp tìm hiểu sâu sắc trong Tạng kinh Nguyên thủy Pàli, cùng với sự thực tập nỗ lực pháp hành thì bản thân nhận ra ‘phóng dật’ là không phải như vậy. Phóng dật là một trong những kiết sử trói buộc nội tâm của mình. Lúc nào người tu không trú trong pháp, tức là phóng dật.
Ví dụ, phương pháp niệm Phật, tức là người đang thực tập niệm hơi thở. Nhưng vì có việc phải theo duyên bên ngoài, nên trong khoảng thời gian đó mình đã tạm ngưng niệm hơi thở, gọi là phóng dật, buông lung. Trong Tạng kinh, đức Phật nói: “Tỳ-kheo luôn luôn sống với giới bổn, luôn luôn tinh tấn, chánh niệm, thiền định không gián đoạn thì mới đạt tới chánh trí giải thoát”.
Ba chữ ‘không phóng dật’ lần này hiện lên trong tâm trí mình, nhắc nhở cho bản thân một bài học rất sâu sắc, chính mình phải biết tự hổ thẹn. Ngay khi ở trong thất, một ngày ngồi thiền bốn, năm thời công phu chúng ta vẫn thấy mình còn phóng dật. Dù có ngồi thiền rồi đi kinh hành, nghe pháp liên tục, thậm chí ngày ăn một bữa mà vẫn thấy phóng dật rất nhiều, tâm ý rượt chạy miên man vi tế. Có chú ý lắm mới thấy tâm ý nó lừa mình một cách lão luyện. Do vậy, hành giả cần phòng hộ thân tâm, nhớ biết một cảm giác xấu hổ vì tâm mình chưa thật sự trụ vào pháp, để cho ‘tưởng’ dẫn đi, phóng tâm không thâu nhiếp lại liền, lúc đó là mình đang buông lung phóng dật.
Tại sao tu hành chưa thành tựu là vì mình không có nhiệt tâm tinh cần. Điều này đức Phật từng dạy trong Kinh Pháp cú số 280:
“Khi cần không nỗ lực
Tuy trẻ mạnh nhưng lười
Trí nhu nhược biếng nhác
Với trí tuệ thụ động
Sao tìm được chánh đạo”
Hoặc:
“Việc cần làm nên làm
Làm cùng tận khả năng
Xuất gia sống phóng đãng
Chỉ tăng loạn bụi đời”.
Khi ở trong thất tĩnh tọa, mình mới chiêm nghiệm lại câu này, tuy tuổi trẻ mạnh nhưng mà lười. Mọi việc đều mạnh mẽ, sung mãn nhưng với thiện pháp thì rất chay lười, nhất là việc hộ trì các căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Phòng hộ căn là phương pháp rất quan trọng, nếu người tu không có phương pháp này sẽ không thể nào vào định và có chánh niệm được. Do đó, phải hộ trì lục căn luôn thanh tịnh, tỉnh thức thì sự tu của mình sẽ thấy tiến không thể ngờ được.
Nếu tuổi trẻ mạnh mẽ sức vóc mà lười, chí nhu nhược thụ động làm sao đạt được chánh đạo! Thật sự soi xét sâu sắc mới thấy, rồi mình đau xót thương cho mình, tủi nhục cho bản thân. Vì chuyện thế gian rất chăm chỉ và có vẻ như thông suốt lắm, nhưng giữ gìn và phát huy thiện pháp, đưa chánh niệm tỉnh giác soi rọi nội tâm, quán chiếu thiền định thường xuyên tu tập thì lại rất dễ dãi bỏ qua, hẹn nay hẹn mai.
Ví dụ, nghe pháp thực hành cái này thực hành cái kia, tâm ý nó nói ‘khó quá sao làm được’ chính điều này nó giết mình chết! Tâm ý khởi lên, mình không diệt tận, tẩy sạch, từ bỏ, chẳng cho tái sanh lên nữa thì lúc đó nó sẽ quay trở lại giết mình chết. Như vậy, con đường tu hành khó thành tựu.
Cho nên, một ý niệm khởi lên khi đang nghe pháp mà nó nói ‘nhiều vậy, sao thực hành được’, hành giả phải lập tức diệt tận ý niệm đó. Ta quay lại nói nó ‘chí nhu nhược, biếng nhác sao tìm được chánh đạo?’, đó gọi là Như lý tác ý, phương pháp này rất quan trọng.
Hãy nói mạnh pháp lệnh với tâm rằng: “Tâm tham dục đưa ta vào dòng luân hồi sanh tử khổ đau, chính ngươi là ác ma, là rắn độc, kẻ đã lôi đầu ta vào con đường vô minh khổ đau triền miên. Bây giờ ta thấy được ngươi rồi, đừng hòng dẫn dắt ta nữa, ta sẽ tẩy sạch mi, ta sẽ đập cho mi tan nát thành tro bụi”. Những lời tác ý mạnh mẽ đó lúc đầu nó yếu, có thể cái kia nó thắng nhưng lần lần hai cái cân bằng, 50/50 sau này mình hơn nó được chút xíu 70/30, cuối cùng mình hoàn toàn chiến thắng thì thành tựu quả vị A-la-hán. Vì hành giả đã diệt tận tham sân si.
Đức Phật thương chúng sanh nên đã chỉ dạy rõ pháp xa lìa luân hồi, khổ đau. Hành giả có nhận lãnh mới thấy thấm thía và trân quý ngọc báu mà Thế Tôn đã truyền trao ba mươi bảy phẩm trợ đạo, Bát chánh đạo, rồi khi chúng ta lạy Phật nước mắt tuôn ra vì mình đã thấy được căn bệnh phiền não của bản thân. Lúc nào chúng ta thật sự yên tĩnh, nhìn vào sâu trong đó sẽ thấy nỗi khổ niềm đau, vô minh, tham sân si chất đầy trong nội tâm.
Hình ảnh thiên thủ thiên nhãn với mười tám tay, mỗi tay cầm một bảo bối là những pháp khí để trị sáu căn sáu trần sáu thức. Tu hành là rõ biết những gì đang khởi lên, cái gì đang lầm thầm trong tâm, nó có yêu sách, tham luyến, si mê, cuồng vọng gì thì mình phải nắm chặt, rõ biết để mà chặt nó, cắt bỏ từ gốc rễ. Diệt bất thiện pháp, trổ hoa thiện pháp, tu tinh tấn lực, đó mới là công phu hướng về của người Phật tử.
Trong bài kinh Song Tầm, đức Phật kể lại quá trình tu chứng, Ngài chia ra những niệm nào thuộc về tham, sân si, tật đố, bất thiện qua một bên, những niệm nào khởi lên không tham, không sân, không si qua một bên. Rồi từ đó, những niệm nào bất thiện Ngài diệt trừ, tẩy sạch tận gốc rễ phiền não, vô minh. Còn niệm thiện lành, Ngài phát huy. Ví dụ, những ý niệm tương ưng với trí huệ thấy cuộc đời là vô thường, ảo mộng, các pháp là vô ngã, đó là phát huy vô thường tưởng, vô ngã tưởng. Ngược lại, những niệm sân si, hiềm hận thì phải diệt tận nó lập tức, không để nó trà trộn và bén rễ trong nội tâm mình.
- Như vậy, niệm của mình khởi lên Như lý tác ý để diệt tận, muốn đốt cháy hay muốn công phá bất thiện niệm thì những niệm đó có chống cự lại những phiền não ở hiện tại hay không? Đứng trên lý trí, tức là một tâm sân khác hay là đứng ở trên trung đạo tức là chánh kiến để mình thấy ra được những cái tâm niệm đó và mình chuyển hóa nó?
- Nếu vậy, hành giả đang công phu trong am thất, sau đó chuẩn bị ngủ nhưng hành giả thấy con rắn đã có mặt trong am thất, nó trườn qua bò lại chưa chịu đi. Nó lăm le đến gần, sự nguy hiểm đang tràn ngập. Lúc đó, chúng ta phải làm sao?
- Nếu trong thất xuất hiện con rắn thì trước tiên mình phải nhận biết đó là con rắn thật; xem con rắn đó thuộc dạng độc hay hiền; nếu con rắn hiền, mình có thể trực tiếp bắt nó hoặc lấy cây đuổi ra, còn nếu rắn độc chắc chắn mình không trực tiếp lấy tay bắt được và mình lấy cây để đuổi ra. Trong lúc đuổi rắn độc khỏi am thất, hành động đuổi có tham sân với nó hay không?
- Trí huệ nhận thấy được phiền não. Hành động cầm cây đuổi lẹ con rắn đi ra khỏi am thất là hành động của trí khôn. Ta nhận thức được nó là rắn độc, nên đuổi n ra khỏi nơi cư trú của mình, khỏi còn phân tâm, phiền não. Đuổi con rắn chứ không có tâm ý xâm hại nó hoặc vì hận thù với nó thì hành động đó không sai, vì bảo vệ mình.
Hoặc, ông A, chị B nào đó đang ngồi trong nhà, biết có người ăn trộm là ăn trộm vậy thôi chứ không đuổi không rượt. Cũng như khi thấy lửa cháy, mình nhìn thấy biết lửa cháy nhưng không làm gì hết. Hành động cấp tốc khi thấy lửa cháy phải tìm đủ mọi cách dập tắt liền tức khắc, đó mới là nhiệt tâm tinh cần, tinh tấn quyết liệt trong tu hành. Chỉ có thấy biết, cảm nhận rồi ngồi đứng im thì cũng chẳng ăn thua gì, phải diệt tận những sai trái, những cái làm cho mình và người khác đau khổ, chìm ngập trong biển mê lầm. Như lý tác ý của mình càng mạnh sẽ đập tan hoại những bất thiện niệm khởi lên càng nhanh.
Ta đập tan bất thiện niệm không bằng tâm sân hận mà bằng trí huệ tỉnh thức trong một sức mạnh, gọi là tinh tấn lực của chánh niệm, niệm lực sức mạnh của chánh niệm chứ không phải bằng tâm sân. Bởi, có gì đâu mà sân, nó là pháp vô thường, sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Đó là những suy tưởng không có gì phải sân, nếu cần sân với nó cũng sân được, sân này gọi là phẫn nộ kim cương, tức là sự phẫn nộ của trí huệ. Cho nên, Bồ-tát Tịch Thiên nói tại sao mình lại giận người họ đánh mình mà mình không giận cơn giận, giận cơn giận là mình dùng sân trị sân. Bây giờ, có người cầm cây gậy đánh chúng ta, lúc này mình sẽ trách cây gậy, nhưng cơn giận đó mới chính là thủ phạm sâu xa.
Không người nào có tâm yếu đuối có thể thành tựu được, đó là cả một sự quyết tâm rất vĩ đại. Chúng ta thấy được điều đó, để mình đem cả tâm cung kính, chân thành, tôn trọng, tâm mạnh mẽ, nhiệt thành để mình thực tập liên tục. Ngoài đời, mấy người giàu có, làm ăn lớn do người ta nỗ lực, gắng sức chứ không đơn giản người ta trở thành tỉ phú. Hoặc như người muốn trở thành một nhà khoa học, bác học, nhà nghiên cứu, thợ giỏi phải dốc hết tất cả sức lực, thậm chí quên ăn bỏ ngủ để tìm tòi, học hỏi, sáng tạo, phát minh ra những định lý, định luật đóng góp cho cuộc đời này.
“Vui thích không phóng dật
Tỳ-kheo sợ phóng dật
Bước tới như lửa hừng
Thiêu kiết sử lớn nhỏ”
Vui thích trong sự tinh tấn, hoan hỷ ở trong sự nhiệt tâm, sợ sự buông lung, sợ sự phóng túng, sợ sự phóng dật. Vì:
Bước tới như lửa hừng
Thiêu kiết sử lớn nhỏ.
Bước tới là sự tu của mình phải đi tới, không thể đứng một chỗ, càng không thể lùi. Bước tới ở mỗi ngày, mỗi tuần, mỗi tháng trong sự tu. Hành giả cứ ngồi than thở tôi xuất gia mấy năm trời mà không thấy gì hết. Tại sao lại không thấy gì hết? Đó là do chính mình không nỗ lực. Người xuất gia mười năm mà không thấy gì hết là do chính mình không có tinh cần, chẳng nhiệt tâm, chưa gắng sức nên cứ hay đổ lỗi cho cái này, đổ thừa cho cái kia… Tất cả đều không thấy được sự thật, chính điều đó làm cho mình càng tăng lậu hoặc, mê lầm, vô minh.
Niệm định huệ của mình phải liên tục trong thực hành niệm, luôn luôn niệm bất tịnh, thường xuyên quán chiếu sự vô thường, không ngừng suy niệm về cái chết, mọi lúc nhìn thấy rõ tính chất tạm bợ, mong manh của cuộc đời này. Có như vậy, mình mới đang từng bước tới bờ giải thoát giác ngộ. Như vậy, tuệ quán giống như đống lửa được mất, hơn thua, danh lợi đến với mình không hề hấn gì.
Bây giờ đang lúc cường tráng, khỏe mạnh cố gắng tu, lúc bệnh hoạn sao mà tu mạnh được. Tận dụng hoàn cảnh thuận lợi, điều kiện tốt đẹp để làm hành trang vững chí tu hành trên bước đường chuyển hóa diệt tận khổ đau. Giữ vững chí nguyện như buổi đầu cạo tóc xuất gia, độ mình, độ người, cùng nhau tiến tới Thánh quả. Nhưng chỉ ngồi mơ hoặc niệm lực suông thì không ai cứu giúp được mình, kết quả chẳng thể tự dưng mà có được. Hành giả cẩn trọng, phải Như lý tác ý quán xét nỗ lực.
Các pháp hội tụ nơi cảm thọ, chúng ta khổ não đều vì cảm giác sinh ra. Chẳng hạn, nhiều cặp vợ chồng cự cãi cho đến đánh đập, tuy đánh nhau và không thuận thảo nhưng vẫn sống với nhau, không thể li dị được, họ vẫn vợ chồng mấy chục năm. Đời người dốc hết sức lực để có được cái nhà, chiếc xe, đồ hay ăn ngon, quần áo đẹp, rồi danh vị, chức tước,… toàn là xoay vần trong cảm giác.
Hành giả thường xuyên thực tập nhận diện cảm giác toàn thân, thấy được sự vận hành của cảm giác đều các chỗ. Khi mình giận, chỗ lồng ngực nóng lên, hai tai mình nóng lên, phát hiện sẽ chuyển hóa ngay chỗ đó để thân và tâm liên hệ điều hòa với nhau. Có những vị quán ly dục, điều đó làm giảm dục, mình quán chấp về thân, về tham muốn dục vọng đối với người khác, quán để buông ra chứ không phải quán cái đó để tự tử thì không nên quán làm gì.
- Con đang phân vân giữa từ quán, pháp đức Phật dạy có thực tại hiện tiền. Trên thực tế, những đối tượng mình quán chiếu phải có thực tánh, tức là thực thấy đối tượng thật khi trong tâm mình ngồi yên quán đối tượng đó, có phải là thực hay do tưởng của mình ra?
- Đó gọi là quán tưởng, là một trong những phương pháp định mà đức Phật dạy, thánh chánh định đó là quán tưởng.
- Quán tưởng đưa đến định. Ví dụ, định của mình đúng đưa đến chánh định, nhưng nếu quán tưởng dựa trên chánh định đó thì cái quán tưởng đó đưa đến chánh trí tuệ, gọi là thấy các pháp như thật, đối với bản chất của nó hay không hay dựa trên trí tuệ ở trên tưởng?
- Tất cả pháp tu của đạo Phật lấy chánh kiến làm căn cứ địa. Phải thành tựu được chánh kiến, từ chỗ đó mình mới tu. Tất cả sự hành trì ở mỗi hành giả đều đúng theo chánh đạo. Ngược lại, tu không chánh kiến rất nguy hiểm, sai đường lạc nẻo, chẳng đi về đâu hết.
Ví dụ, hành giả đạt tới tứ thiền, cửu định, bát định thì vẫn là tà định vì nó không có chánh kiến của Phật giáo. Chánh kiến thực thấy bằng trí của mình chứ không phải giống như lúc trước mình tưởng giống như vô thường, vô thường là chết, không phải như vậy. Mà mình thấy vô thường trong thân tâm mình đang hiện diện, trong thọ tưởng hành thức của mình, trong cảm giác suy tưởng và nhận thức, thấy được rõ trong rừng giây từng phút ngay lúc này ngồi thực tập thấy được.
Cảm giác tưởng là hình ảnh trong nội tâm của mình phản chiếu từ những hình ảnh được ghi lại khi đã từng thấy biết về chúng. Ví dụ, ai đó nói lâu quá mình không đi ngang quán phở Hội Ngộ, quán đó ăn rất ngon. Khi người đó nói như vậy, trong tâm mình khởi lên điều gì?
- Nghe xong, tưởng xuất hiện ra, trước thấy bảng hiệu hiện lên chữ Hội Ngộ, rồi khung cảnh quán đó ẩn hiện trong cái tưởng; hành là những lời nói âm thầm bên trong quán đó nó như vậy và mình đã từng tới đó; thức của con biết rõ hai pháp đó còn cảm thọ hiện tại chưa thấy cảm giác lạc hay khổ, con thấy con nhận biết đó là cảm giác xả.
Hoặc như huynh đệ đang thể hiện điều nhận diện thọ, tưởng, hành xuất hiện trong than tâm. Chẳng hạn, ba mình ở quê hiện giờ đang làm gì ở nhà? Khi thấy nghĩ trong tưởng, tâm mình giờ này ở dưới quê có mưa hay nắng, đó là hành; khi nói như vậy nhận biết được đây là cái tưởng của mình; lúc đó bản thân ta cũng có bị chạy theo cái tưởng, có cảm giác lo và ba đang khỏe hay bệnh, đó là cảm giác lạc thọ…
Tại sao có lạc thọ đó? Trước đó lo không biết ba bệnh hay khỏe, đó là cảm giác khổ thọ, từ cảm giác khổ thọ chuyển sang lo ba hiện tại đang bệnh hay khỏe thì tư tưởng khác khởi lên, ba ở nhà rất khỏe, nên trong tâm cảm giác sinh lạc thọ, sinh khởi cái thức nhận biết được suy nghĩ đó.
Hoặc như ở một huynh đệ khác có nhận biết sự chuyển động của thọ tưởng hành thức về hình ảnh ba mẹ mình đang ở quê nhà ra sao? Ngay đó xuất hiện hình ảnh của mẹ. Khi hình ảnh mẹ hiện lên trong tâm, tưởng khởi lên chữ mẹ, hình ảnh của mẹ hiện rõ trong tâm thì một sự gắn kết rất nhanh gồm có hành thức đi cùng một lúc, thấy hình ảnh của mẹ rõ là do lưu lại trong thức của mình.
Tưởng là khi nghe về hình ảnh mẹ, hành là lời nói thực hành gì đó giờ này mẹ như thế nào, thức là về sự rõ biết của tưởng và hành đó.
Trong giây phút hiện tại này, có hành giả nhận diện cảm thọ, đó là cảm giác khổ thọ. Vì chân đang đau và tưởng mong được đứng lên và đi, hành là đứng lên đi kinh hành, thức là thấy rõ được cái thọ tưởng hành đó nó đang vận hành.
Còn một huynh đệ khác cho biết rằng, hiện tại đang mỏi mông và lưng, bị ngứa muốn xả chân xoa bóp cho đỡ đau trong cảm giác khổ thọ, muốn được duỗi chân xoa cho đỡ, trong tâm nói là duỗi chân xoa bóp cho đỡ là hành, thức là nhận rõ được sự vận hành chuyển biến của thọ và hành trong tâm đang diễn ra, tưởng là đang nghĩ hình at tưởng tượng duỗi chân ra.
Như vậy, chúng ta thường xuyên công phu quán chiếu về cảm giác toàn than, xem xét thật kỹ sự vận hành của năm uẩn trong đời sống này, sẽ thấy được thật pháp thật tướng pháp của Phật.
4. Thực tập soi năm uẩn
Chúng ta cùng nghe huynh đệ trao đổi về quá trình thực hành soi xét năm uẩn ở mỗi hành giả trên bước đường tu hành.
Thầy Pháp Thi: “Lúc đi kinh hành con thấy ‘sắc’, biết là mình đang đi, có ‘cảm thọ’ thích và vui, ‘tưởng’ nghe thấy mấy con ễnh ương kêu, ‘hành’ đang nói ‘không biết mấy con này bự hay nhỏ’, ‘thức’ là biết và nhận rõ.
Huynh Trần Tiến: “Lúc con đi thiền hành tự nhiên nhớ lại câu Lục tổ nói ‘Đối cảnh tâm thường sanh, Bồ-đề làm gì lớn’. Con đối chiếu với pháp Như lý tác ý vừa mới học, nó là ‘hành’ mạnh, ý thức nhận rõ được hành đó, hành đó là ý hành, còn tưởng nói về hình ảnh không hẳn là về hình ảnh mà chủ yếu là ý niệm mạnh hơn, ‘tưởng’ lúc đi nhìn phía trước, nhận thức được cái mảng sân phía trước.
Thầy Pháp Minh: “Vừa rồi con đi kinh hành, ‘sắc’ đang đi, chân bước theo hơi thở, ‘thọ’ là cảm giác ở bàn chân đối với nền nhà, một bàn chân lạnh còn một bàn chân ấm, mình cảm giác rõ được sự chuyển đổi cơ thể dưới chân khi bàn chân được đặt xuống nền nhà. Lúc này, có hai cảm thọ lạnh nóng, khi đổi từ bên mặt ra đàng sau ra đàng trước thì cái tưởng sinh.
“Ví dụ, khi mình đi tới giảng đường, cái tâm bắt đầu nghĩ về Thầy, nói pin có đầy đủ buổi giảng hay không, thì cái tưởng nó nghĩ, cái hành âm thầm nói chắc không sao chắc đủ, hành của con nghĩ đến câu Thầy nói pin có đủ hay không, con nghĩ chắc đủ, tưởng con nhớ tới cái miệng nói đó là tưởng, lúc đó hình bóng là miệng Thầy nói, thức của con biết vừa cảm giác bàn chân đang đi, hơi thở và suy tưởng hành trong tâm. Lúc biết bàn chân lạnh ấm cũng là nhận biết toàn thân.”
Huynh Hoàng: “Ngũ uẩn lúc con đi kinh hành, sắc đang đi, con nhìn xuống dưới sàn, đang nhận rõ khổ thọ vì đang khát nước, tưởng là một ca nước, hành là lời nói của con ‘nếu có một ca nước uống chắc rất đã’, thức là nhận diện được những lời nói những tưởng tượng có hình ảnh.”
Một vị khác: “Trong lúc đi kinh hành, con thấy chân mình đang đi và mắt nhìn xuống sàn nhà; cảm giác chân phát ra tiếng động, đi theo sau gót chân người đi trước, cảm thọ mỗi bước chân bước, gót chạm trước sau đó tới bàn chân rồi tới ngón chân; trong đầu lúc đó tưởng tượng bước chân trái đi thì người mình nghiêng về bên trái, khi bước bên phải thì người nghiêng về bên phải, tay đung đưa nhè nhẹ; con thấy trong tâm thức mình nhìn thấy được hành động đang bước đi; thức con nhận thấy trong cơ thể đang tiến hành đi như vậy; trong tâm không nghĩ gì chỉ thấy mình đang đi; đang cảm thọ sự nóng lạnh của lòng bàn chân và tưởng tượng mình đi hơi nghiêng qua nghiêng lại.”
Thầy Pháp Từ: “Khi đi kinh hành giai đoạn đầu con tập trung vào ba pháp như Sư phụ chỉ dạy, tức là đặt niệm trước mặt, cảm giác toàn thân và nội tâm tỉnh giác. Khi con thấy được mình trú tâm tỉnh giác trong ba pháp đó thì thân hành niệm của con có sự vững chãi được một lúc. Con an trú vào oai nghi nhận biết rõ những cảm giác, đặt hai bàn chân xuống nhận biết rõ, sau đó khoảng một lúc tưởng hành thức nó hoạt động trở lại. Chẳng hạn, con tưởng tới lúc mọi người đi ngủ thì chỗ ngủ như thế nào, mọi người ngủ có thoải mái, đầy đủ mền chiếu gối hay không?... Những hình ảnh đó hiện ra ở thất, mọi người ẩn hiện trong con, lời nói hành uẩn cũng xuất phát, nói thầm mọi người ngủ có thoải mái hay không, mền gối có đủ hay không? Sau đó, con nhận biết con tác ý, cái hành con tác ý thất niệm, mình đang bị hành chi phối phải quay về với pháp. Lập tức con quay trở về, được một lúc thì nghe câu hỏi của Sư huynh, Sư phụ ngay lúc đó con nhận thức rõ cái tưởng, cái hành nó đang hoạt động, thức của con nhận rõ hai pháp đó hành uẩn, cũng tác ý không đúng. Như vậy, buông lung phóng dật không tốt, phải quay lại pháp, an trú trong ba pháp.”
Trong tâm Minh Thành biết ơn sâu sắc đối với tất cả huynh đệ! Vì các huynh đệ đã xa cha lìa mẹ, để lại chuyện gia đình của mình qua một bên, bỏ hết những gì thân thương nhất trong đời sống này, cùng nhau trở về chỗ hiu quạnh của núi rừng để tu tập, cũng như hỗ trợ đạo tràng với một niềm tin tưởng đối với Phật, Pháp, Tăng và Minh Thành. Bản thân tự thấy mình rất hổ thẹn nên cố gắng nỗ lực tu học, làm công quả. Khi sự tu học có những thành quả tốt, Minh Thành muốn đem pháp ấy chia sẻ mong đáp lại tấm lòng của huynh đệ đã quý mến Minh Thành! Mong rằng chúng ta cùng nhau trân trọng những giây phút này, để biết được giá trị quý báu của sự tu học chánh pháp, nhất là trong thời đại này. Hồi trước đến nay, mình hay nói Vô thường, Vô ngã là nói trên lý thuyết, trên sự giải thích bây giờ Minh Thành muốn cho các huynh đệ chứng minh thấy bằng mắt bằng tâm của mình, chứ không phải nói bằng ngôn ngữ, bằng giải thích suông trên môi.
Huynh đệ nhìn lại nội tâm của mình trong khi đi thiền hành, mỗi người đã đều phát biểu, mọi người nhìn lại thấy sắc thọ tưởng hành thức của mình, có thấy biến đổi vô thường hay không?
Đây là thật pháp của đức Phật mà ngày nào chúng ta cũng tụng ‘Quán Tự Tại Bồ-tát hành thâm Bát-nhã ba-la-mật đa chiếu kiến ngũ uẩn giai không’, vậy mà mình không thấy ngũ uẩn là gì? Bây giờ mình đang thực tập để thấy rõ chính mình, tự thân và tự tâm của chính mình. Đó là đến để mà thấy, mong rằng huynh đệ hãy nỗ lực trong sự thực tập này để chúng ta nếm được, cảm nhận được pháp vị.
Chúng ta cùng nhau ngồi mười lăm phút rồi xem lại ngũ uẩn của mình sắc, thọ, tưởng, hành, thức trú trong ba pháp.
Thầy Pháp Nhân: “Con ngồi tĩnh tọa mười lăm phút, con đặt niệm trước mặt, trước mặt con là bức hình họa của một chú chim công trên tấm chiếu, nhận diện đó là sắc; khi con nhìn chú chim công trên chiếc chiếu trước mặt con có cảm thọ không dễ chịu cũng không khó chịu; tưởng của con lúc này hướng đến hình ảnh một chú chim công; hành của con là lời nói phải chi có một chú chim công thật trên khóa tu lần này thì hay biết mấy; thức là sự rõ biết của sắc thọ tưởng và của hành. Cảm giác toàn thân cảm thọ của mình không khó chịu cũng không dễ chịu.”
Huynh Cường: “Con nói về cảm nhận, sắc con đang ngồi thiền; con có cảm thọ ngồi cảm giác mông với chiếu và con cảm giác thân con với áo; con ngồi tưởng tượng thế ngồi có bị méo, có bị nghiêng để con điều chỉnh; thức là con nhận thức được sự nhận biết của sắc thọ tưởng hành thức trong con để con chuyển hóa nó.”
Một vị khác: “Trong lúc ngồi thiền, con thấy trước mặt mình ngồi xếp bằng kiểu bán già, nghe hơi thở của mình đi theo, đồng thời cảm giác về thân, cảm giác chân trái đau nhức, con đổi chân qua lại và đổi thế ngồi của Ngài Quán Tự Tại, làm như vậy gọi là hành, thức là nhận biết được thân tướng đang ngồi đó và cảm tưởng khổ thọ, đó tưởng tượng như thế này như thế kia đó là thức.”
Một vị khác: “Trong lúc ngồi thiền, sắc là con đang ngồi thiền, thọ là cảm giác khổ thọ vì buồn ngủ, tưởng là được đi ngủ, còn hành của con được đi ngủ rất sướng, thức của con nhận biết được những lời nói và tưởng đang vận hành.”
Một hành giả đặt câu hỏi: “Con đang băn khoăn nhìn chánh niệm trước mặt, cảm nhận toàn thân và cảm nhận trong tâm giống như khi nhận rõ vấn đề, con thấy trong tâm mình diễn biến song song theo một cái nào hay bình thường theo nó? Trong ba pháp giống như con quán xét ba pháp đó có một pháp hành, ba pháp đó con cảm nhận như bị mỏi, mình tập trung hay điều hòa hết cả ba?”
Huynh tập trung điều hòa hết cả ba pháp, nếu mình làm một cái không đủ sức, mình chánh niệm tỉnh giác, điều hòa chia đều ra, mình tập nhận diện từ từ mình sẽ thấy được sự trú ẩn của phiền não tham sân si. Ta sẽ nhận diện rõ sự trú ẩn của chúng trong sắc thân ngũ uẩn này.
Thật vậy, đức Phật dạy hàng đệ tử thường xuyên nên tập quán chiếu sâu xa xét kỹ tận tường về năm uẩn đang vận hành. Vì trong nhận thức, mình là nguyên khối, mình là trọn vẹn, còn đức Phật nhìn bằng trí huệ, Ngài đã bóc tách cho chúng ta thấy rõ sự tập hợp của năm nhóm. Trong năm nhóm đó không có cái nào là chắc thật, thay đổi liên tục, mình thấy thọ tưởng hành thức không có cái nào cố định. Ví như, trái quít đem ra lột vỏ, rồi tách ra từng múi, không có cái nào là chắc thật. Phân tích năm uẩn nhằm giúp hành giả phá được thân kiến, tức là kiến chấp sai lầm về thân và tâm. Là người con Phật, nên thường thực tập quán chiếu như vậy thì từ từ mình thật sự tách khỏi ý niệm cho rằng cái sắc thọ tưởng hành thức là mình. Phải thấy rõ nó là năm uẩn, người thấy rõ được như vậy thành tựu trí đó là đoạn được thân kiến hoài nghi của giới cấm thủ, dự vào thánh quả thứ nhất tu-đà-hoàn.
Chúng ta thật tâm hành trì để phá được thân kiến thấy đó là sắc thọ hành thức không phải mình, chính mình thấy, hoài nghi là mình, nghĩ hồi xưa mình ra làm sao, sau này mình sẽ ra làm sao?... Giới cấm thủ là giới đi không đúng chánh pháp hoặc là tuy mình giữ giới đúng chánh pháp hoặc mình sợ phạm Phật bắt tội mình. Đó cũng là giới cấm thủ, mình ý thức giới đây là nhân quả đem những điều tốt đẹp đến với mình. Cũng giống như người lớn ý thức được bờ vực thẳm là nguy hiểm, người ta không bước ra còn con nít phải la rầy làm hàng rào để nó không tới nơi nguy hiểm được. Ý thức nhân quả để mình giữ giới, không phải mình sợ Phật phạt la rầy có tội, là mình phá hoài nghi, giới cấm thủ dự vào dòng thứ nhất trong bốn thánh quả.
Trước, mình nghe vô thường, tưởng mai mốt mình sẽ chết được vãng sanh hoặc sẽ thành cái này cái kia. Đó là mượn phép quán tưởng để dẹp bớt cái chấp quá nặng. Bây giờ từ việc quán thân hành niệm nhìn thấy thọ tưởng hành nó liên tục vận hành. Mình mang sắc uẩn thấy khổ, chỉ có một bệnh đã khó chịu huống nữa là chất chồng bao thứ khác đến với thân tâm này, nhưng ta tưởng đâu là vui, nên chìm ngập trong si mê sai lầm. Đừng nghĩ rằng tới lúc bệnh mình mới khổ, ngay khi không bệnh vẫn có khổ, nó túc trực nhưng vì ít để ý nên chưa nhận diện. Chẳng hạn, ngồi lâu thì đau mông, tê chân, mỏi gối; đi hoài thì nhức chân, mệt; nghe pháp mới có chút ít đã thấy nản, buồn ngủ; ngồi thiền một ít đã nản vì chân đau, mông tê, lưng mỏi, không vượt qua khó khổ hiện tại thì làm sao đến bờ giải thoát an nhiên?! Đó là sắc uẩn, sự tập hợp của sắc chất cho nên mình nhìn thấy sự nỗ lực, nhìn trí huệ soi thấu nó được rồi, sẽ được an lạc, diệu kỳ sẽ xuất hiện.
5. Năm uẩn vận hành
Chúng ta tiếp tục chiêm nghiệm trong quá trình tu tập tọa thiền, kinh hành, oai nghi đi đứng ngồi nằm, nói nín động tĩnh, từ cuộc sống cho tới tâm linh, từ thân miệng ý mọi lúc mọi nơi để nhận rõ về sự vận hành, biến chuyển trong khoảnh khắc hiện tiền của năm uẩn.
Thầy Pháp Minh: “Từ khi nghe được lời chia sẻ của Thầy sau những ngày nhập thất vừa qua, riêng bản thân con thấy sự vận hành của ngũ uẩn và thân tâm rất rõ hơn so với thời gian trước, nhờ ba pháp mà Thầy đã truyền trao cho. Cho nên, mình luôn cảm nhận được sự tỉnh giác hơn và sự vận hành của ngũ uẩn trong nội tâm, cũng như biểu hiện trên thân thể rõ ràng hơn rất nhiều.
Trong giờ ngồi thiền lúc sáng nay vì thời tiết rất lạnh, đầu tiên thân thể con cảm thấy lạnh, con thấy khổ thọ; sắc thọ là cơ thể con đang ngồi thiền xếp bằng lưng thẳng; cảm thọ khổ vì trời lạnh, cảm giác tay chân tê cóng cảm thọ khổ; tưởng là mình được ngủ một chút nữa; hành, thời tiết lạnh như vậy nằm chút không sao; thức là biết đang ngồi, tay chân đang lạnh, tư tưởng vận hành.”
Một vị khác: “Ngày hôm qua, trước khi đi ngủ con đã lên gác nhìn thấy bộ xương bằng nhựa, trước khi ngủ con có ngồi tĩnh tọa ít phút để quán chiếu về thân ngũ uẩn. Con quán xét thấy được tưởng của mình là bộ xương và hành nói là sau này mình sẽ đến chỗ đó, vì sắc thân này là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi tánh chất đó. Nó nói thầm, trong tâm quán chiếu quán tưởng một hồi con thấy được an lạc và có ý thức trong sự tu tập nhiều hơn. Con ngồi nhìn bộ xương, nhớ lại những lời dạy của Sư phụ và lời dạy của đức Phật dạy.
Buổi sáng sau khi thức dậy, cảm giác khổ xuất hiện đó là thời tiết lạnh và tưởng của con cũng xuất hiện từ đó. Mình lạnh, không đủ áo mặc sợ bệnh, sau đó hành nói chuyện trong tâm, thức là con nhận biết được những ý niệm tư tưởng, hành uẩn đang hoạt động, con có khởi lên tác ý rằng những ý niệm đó là những ý niệm nhu nhược không phải là một người đệ tử chân chánh của đức Phật. Do vậy, mình gắng sự kham nhẫn, vì còn có tịnh thất để ngồi trú lạnh, trong khi thời xưa các vị Thánh tăng chỉ có những gốc cây, mình có mền, gối, tịnh thất có đầy đủ như vậy mà mình vẫn còn tham trong đó, còn mến tiếc thân này sợ bệnh sợ khổ, nghĩ đến thấy xấu hổ có những ý niệm tác ý trong hành uẩn khởi lên, con thấy được khởi sanh ra tâm xấu hổ.”
Một vị khác: “Sáng, ngồi thiền con nhận diện năm uẩn như sau: Sắc thân của mình đang ngồi trong tư thế xếp bằng lưng thẳng; còn thọ hơi khó chịu, đầu hơi nặng, mắt hơi sụp; tưởng, sắc thân nằm trên mền chắc là rất ấm; hành nói ‘phải chi thân này nằm trên mềm ấm rất tuyệt vời’; thức là sự rõ biết của sắc, thọ, tưởng, hành.”
Một vị khác: “Hiện tại bây giờ sắc con đang ngồi thẳng, thọ của con đang cảm thấy thọ lạc, tưởng của con thấy một hình bóng tưởng tượng mình đang ngồi thiền cầm micro nói chuyện, hành cầm micro nói chuyện, thức biết là đang nói, nó nói nghe tim đập tiếng gió thổi, nhắm mắt nhìn trong nội tâm nghe tiếng A-di-đà Phật đó là ý hành, nhắm mắt kỹ có cái tưởng Phật.”
Một vị khác: “Sắc con có một thân đang ngồi đây, thọ cảm giác không khí rất mát mẻ cảm giác lạc thọ, tưởng con có hình dung nghĩ bình minh sắp lên có hình bóng mặt trời trong tâm, hành con thấy hơi mờ, hành không rõ ràng, về thức biết được hành niệm con thấy chưa rõ.”
Một vị khác: “Hiện tại bây giờ con nhận diện được rằng sắc của con đang ngồi bán già còn thọ của con đang cảm giác khổ thọ, khổ thọ của con là do đau lưng, còn tưởng của con tưởng tượng ra có dựa lên một bức tường, hành là nếu có một vách tường dựa chắc rất đã, thức của con nhận diện được mấy thọ tưởng hành đang vận hành.”
Trước giờ mình học trên lý thuyết, ngôn từ nhiều thuộc về tưởng uẩn. Nay, mình vừa học vừa thực tập tại chỗ, lý thuyết kết hợp thực hành ngay trong hiện tại để nhận thấy rõ rệt sự vận hành của thân và tâm trong mỗi hành giả. Đây là pháp chỉ thẳng thân tâm của đức Phật khi Ngài còn tại thế, chứ không phải nói suông hay tưởng tượng mà bằng con mắt tâm của mình nhìn thấy rõ chính mình.
Nếu huynh đệ siêng năng nỗ lực nhận diện liên tục năm uẩn, huynh đệ sẽ còn phát hiện ra những điều rất đặc biết, nếu bước này không thực tập được, những bước sau khó thành tựu, vì chính mình còn không hiểu rõ bản chất của chúng thì làm sao tu tập được. Thử nghĩ, tư tưởng mình ra làm sao mình cũng không biết, những suy nghĩ của mình như thế nào mình chẳng rõ, cảm giác gì cũng chưa tường, nhận thức trong nội tâm mãi lờ mờ thì làm sao mình tu. Cho nên, bước này là bước quyết định là bước thứ hai sau bước ba pháp.
Như vậy, chúng ta cùng nhau chất vấn, tại sao phải nhìn lại nội tâm mình? Mình đã học pháp vạch mặt thọ tưởng hành thức. Mình phải thấy rõ thọ tưởng hành thức là thọ tưởng hành thức không phải là mình. Từ đó, chúng ta mới có thể mạnh dạn nhìn sâu vào bản chất. Ví dụ, ta đang ngồi nghe pháp mà tư tưởng suy nghĩ của mình chạy về nhà, chạy xe đi chơi lúc đó là tưởng với hành.
Từ đâu mà có tư tưởng suy nghĩ đó? Suy là suy nghĩ tưởng là những hình ảnh, nói gọn là tưởng với hành.
Rồi từ đâu nó phát sanh ra suy tưởng đó? Từ cảm giác. Cho nên, cảm giác phía dưới nung nấu, đẩy lên rồi thọ tức là cảm thọ cùng lúc tương tác và vận hành, mong muốn một cảm giác sướng vui nên mới suy tưởng, tức là sâu thẳm trong cảm giác là nghĩ tưởng, có mặt của tham dục và tham chỉ vì sự ham muốn của cảm giác tức là từ phía cảm thọ mà thành tưởng, hành. Đó là trú xứ của phiền não, căn cứ địa của tham ái, khi thấy được chỗ xuất phát của nó rồi, mình trị rất dễ, trước đây mình không thấy nên khổ còn đeo bám.
Một nhận diện khác của huynh đệ. Ví dụ, ai đó đang nói về cha, còn mình thì có tình cảm sâu sắc với mẹ, mà mẹ đã mất, nên lúc đó thọ, tưởng, hành sẽ suy tưởng về hình ảnh của mẹ. Những lời nói xung quanh, cảm giác lo lắng. Đức Phật gọi là thọ ưa cái cảm thọ là lo lắng nhìn sâu xuống đó là ái.
Hoặc như, trong tỉnh Lâm Đồng mình nghe tin có người bị tai nạn giao thông chết hoặc trong huyện Bảo Lâm có người gặp tai nạn thê thảm lắm. Đó là nghe hoặc biết về tin tức buồn, nhưng chúng ta chỉ thoáng buồn, hoặc biết thở dài, cảm xúc cho nhân thế gặp chuyện đau khổ hoặc có người cũng nghĩ là bình thường vì nó không liên quan đến ốc đảo của bản thân họ. Nhưng nếu người bị tai nạn đó là người thân thương nhất của mình chết thì mình sẽ đau thương tột cùng, đó là ái. Cho nên, chỗ này mình nhìn sâu xuống thọ tưởng hành thức, bình thường mình nghĩ đây là suy tưởng tôi nhớ vậy thôi, chuyện đó rất bình thường, nhưng nhìn sâu vào sẽ có cảm giác rất xót thương. Chúng ta cùng trao đổi về điều này.
Thầy Pháp Nhân: “Lúc đó cảm giác niềm vui hân hoan hay xúc động buồn vui mà trước đây có với mẹ, cảm xúc trào dâng rất mãnh liệt, khi trào dâng tình cảm như vậy thì cảm giác toàn thân lúc đó nằm chính diện là ở trong lồng ngực.”
Như vậy, phiền não có chỗ biểu lộ ở thân mình. Do vậy, tất cả đều nằm trên thân, trú trong cảm giác, nếu mình nói nghĩ nhớ về mẹ, chuyện đó rất bình thường. Nhưng nhìn sâu sẽ thấy trong đó là ái. Trong cảm giác này nó làm cho mình rất xót xa, nhớ nhung, có khi tiếc thương, hối hận những gì mình chưa làm được cho mẹ. Tất cả những cung bậc cảm xúc cũng từ luyến ái phát sanh cảm giác. Rồi từ cảm giác đẩy lên những suy tưởng, tưởng và hành làm mình không dứt khổ, vậy mà chúng ta vẫn mải mê, không biết tại sao mình có cảm giác này.
Thầy Thường Tín: “Con có nhận biết được mấu chốt vấn đề. Bây giờ muốn phá dẹp được ái này, mình phải Như lý tác ý và quán chiếu.”
Nhận diện thứ hai của huynh đệ là buồn ngủ muốn được ngủ, còn huynh khác thì đau muốn bung chân ra khỏi tư thế kiết già cho khỏi đau. Nếu nhìn sâu đó là dục và tham đang vận hành. Vì giờ đó không phải giờ ngủ mà là giờ tu, mình nhìn sâu vào điều mong muốn của mình tuy thấy rất bình thường nhưng cảm giác, suy tưởng, hình bong, lời nói, cảm giác đó là động lực của tham đẩy tới sanh ra sự suy tưởng mong muốn có được cảm giác đó. Nếu giờ đó là giờ ngủ thì đúng nhưng giờ đó là giờ tu, giờ đó là giờ mình nghe pháp để hành trì cho đúng, tức là sự mong cầu của mình không đúng thời, phải dùng Như lý tác ý dẹp phá, tẩy sạch nó chính là tinh tấn.
Khi hành giả đang đi, đứng, nằm lúc đó có dục tầm (tầm là suy tầm, suy tư), suy tư về tham dục khởi lên, nghĩ về sân hận, hoặc về hại khởi lên lập tức nhận biết rõ và thấy đó là bất thiện pháp, ta phải nhanh chóng diệt tận ý niệm ấy, còn mình nuôi dưỡng tiếp tục tư tưởng đó là lười biếng, giải đãi, thấp hèn, nhu nhược trong giáo pháp.
Một huynh đệ khác nhận diện, đang đi thiền hành nghe mấy con ễnh ương kêu, không biết hình tướng nó nhỏ hay lớn, màu sắc ra làm sao, thì đó là hướng ngoại, phóng tâm. Nếu nói sâu là hữu lậu, tức là sự nhiễm của tâm mình muốn suy nghĩ, không muốn yên, thà làm cái này cái kia cái nọ chứ ngồi yên là không chịu được.
Tâm chúng ta vi tế và xảo quyệt lắm! Phải chiến đấu không buông. Chẳng hạn, hành giả đang ngồi thiền nó kêu mình đi nghe pháp, đi kinh hành hay kêu đi nằm ngủ đó là trạng thái hữu lậu. Nó len lỏi, luôn luôn tiềm phục trong ngóc ngách tâm mình mà mình không thấy. Điều này không phải thường! Nếu thấy được tham sân si một cách rõ ràng, trọn vẹn người đó bước vào thánh quả tu-đà-hoàn. Vì hành giả ấy đã diệt tận được tham sân si giai đoạn thứ nhất, quả vị thứ nhất là nhất lai, dẹp nó tới giai đoạn thứ hai gần sạch hết là bất lai, giai đoạn thứ ba thánh quả, dẹp sạch hết không còn gì nữa hoàn toàn trong sạch là quả thứ tư thành A-la-hán.
Trong thất Minh Thành đang ở có rất nhiều kiến. Cái thau mình rửa chén có dính chút dầu hay còn sót chút đồ ăn là kiến bám, trong nhà mình rớt chút xíu đồ ăn là kiến bu đầy. Lúc đó, Minh Thành mới rửa sạch để không còn một cái gì dính dầu hay có nước rơi vãi thì kiến không có vào. Vì có lần còn đồ ăn kiến bu vào nên mình lượm miếng đồ ăn sót ấy bỏ ra ngoài. Lát sau, kiến vẫn bu quanh chỗ còn dính nước. Cho nên, mình phải lấy nước rửa cái dính cho sạch, không còn mùi lúc đó kiến không còn bu nữa. Cũng như vậy, sự tu tập là tẩy rửa tâm của mình thường xuyên và liên tục.
Tạm phác thảo sơ đồ:
Phát hiện miếng đồ ăn rớt ra ngoài nền nhà, thau chậu rửa chén, ví như thành tựu trí thứ nhất, thánh quả thứ nhất;
Lập tức đem bỏ miếng đồ ăn đó ra ngoài nhà, khỏi thau chậu trong nhà, ví như thành tựu quả thứ hai;
Chịu khó, kiên trì công việc rửa sạch chỗ từng bị dính miếng thức ăn còn bám trên nền nhà, trong thau chậu, ví như bước vào quả vị thứ ba;
Vẫn tiếp tục lau chùi, trong nhà, ngoài ngõ, thau chậu thật cẩn thận trên dưới trong ngoài cho sạch sẽ, không còn mùi ô nhiễm để kiến không thể bắt mùi tìm tới. Ví như vậy là bước vào thánh quả thứ tư A-la-hán.
Trước nay mình thấy tham sân si ở chỗ nào, huynh đệ nhìn sâu vào thọ tưởng hành thức mình sẽ thấy được nó cư trú chỗ nào trong thân mình. Một khi ta thấy rõ năm uẩn vận hành, sự tu tập rõ ràng theo lời Thế Tôn dạy thì sẽ thành tựu những thánh quả mà đức Phật đã tuyên bố. Điều chánh yếu là tu đúng chánh kiến, chọn nơi tu hành ở a lan nhã núi rừng, độc cư thiền định có khả năng thành tựu nhiều hơn ở chốn lao xao dễ phân tâm. Tuy vậy, thành hay bại, chiến thắng hay quy hang là do ở ý chí của mỗi hành giả trên bước đường tu. Còn nơi trú xứ chỉ mang tính trợ duyên, xét sâu soi kỹ để phá trừ dục và tham, ở giai đoạn thô mình thấy hạnh phúc lạ kỳ!
Làm sao nhiếp phục dục và tham? Muốn nhiếp phục được dục và tham, chỉ khi nào mình không còn suy nghĩ muốn được sở hữu, muốn là của riêng mình, phải thật sự buông xuống ý niệm ấy thì mới thoát ra vòng vây của dục tham quấy phá. Tánh tham muốn này chỉ nói ở bên ngoài. Dục tham trong nội tâm của mình làm sao có thể bỏ được? Ví như, dứt khoát dứt áo ra đi lìa ái từ thân, xa vợ bỏ con để đi xuất gia phải làm thế nào?
Sâu xa là muốn dứt phiền não, nên huynh đệ chúng ta đã tìm con đường để giải thoát, diệt tận tham sân si, khởi từ bi hỷ xả, học theo Phật để thành Phật. tham pháp cầu đạo, không thể tham danh lợi dính mắc như ở thế gian nữa, cần tự soi rọi lại chính mình mới khéo tu để tránh dục tham dấy khởi.
Trở về vấn đề là mình phải quán thân, theo bản kinh Tứ niệm xứ, để nhận ra ba mươi hai thể trược giúp ta ngăn che móng khởi tham. Rồi quán chín giai đoạn của một tử thi để thấy có gì đáng để tham. Hành giả thường quán niệm tử, luôn nghĩ nhớ đến cái chết để lìa dục tham.
Con rắn có thể làm cho ta chết, cơn gió độc cũng có thể làm cho ta suy yếu hoặc chết, con rết, bò cạp mang tới sự nguy hiểm mạng sống của mình. Những điều vừa nêu chỉ là tạm ví dụ trong hằng hà sa số điều ta thấy thiết thực hàng ngày để quán sát. Ngày nay, cái chết thường trực, lơ lửng, nguy hiểm, hiện ra nhan nhản khắp bản tin trên báo nói, báo hình, báo giấy dễ thấy nhất là mục điểm tin tai nạn giao thông. Ngày nào cũng có tai nạn chết chóc cho tới thương tật, một năm chết gần chục ngàn người, hơn cả chiến tranh. Trước vô lăng là tính mạng của nhiều người trên xe và trên đường lưu thông, tài xế chỉ sơ sẩy tay lái một chút không phải chết một người mà là chết cả bảy người mười người, hai mươi mấy người, thậm chí xe bị cháy không nhận dạng ra ai cả. Nguy hiểm khôn lường! Ngoài ra còn có vô vàn thứ chiến tranh đang diễn ra như chiến tranh với bệnh tật, những tên bệnh mang tên thần chết treo lơ lửng và cái nghèo khó khổ hiện ra trong sự vô vọng. Nước mắt, nỗi khổ niềm đau chìm ngập trong phận người.
Chúng ta hãy hoán chuyển mình ở vị trí của họ sẽ thấy vô thường hiện diện thường trực. Lúc đó nếu như mình chết thì sao? Nếu như mình đi buổi tối trên con đường núi vắng vẻ này bất chợt có con rắn trườn ngang và mổ mình chết thì sao? Nghĩ như vậy không phải yếm thế, bi quan mà là nghĩ rằng sự sống này mong manh, tạm bợ nên cái chết luôn diễn ra bất cứ lúc nào. Cho nên, khoảnh khắc đang sống là phút giây hạnh phúc, tuyệt vời, cần sống có ý nghĩa, vượt thoát khỏi tầm thường phàm phu để học và đi theo bước thánh nhân đã đi. Có như vậy mới ra khỏi nhà lửa, đi vào con đường Như Lai đã chỉ dạy.
Nghĩ sâu xét kỹ để buông xuống phóng dật, nhiệt tâm tinh cần, hung tâm dũng trũng trên con đường giải thoát. Chúng ta cùng nhau trao đổi về suy nghĩ này, cảm nhận qua phương pháp đức Phật dạy để làm sao hành trì giảm dần cho tới dứt được dục và tham. Nhìn lại ngũ uẩn để nhìn rõ chính mình, thân tâm của mình chỗ cư trú của phiền não của dục tham.
Một hành giả chia sẻ rằng: “Thời gian qua con nhìn thấy được sự tham dục, biết được ngũ uẩn nhưng không biết phương pháp nhận diện nó như Thầy nói. Thiền định nhìn thấy hoạt động của ngũ uẩn, chỉ biết ngũ uẩn như vậy là như vậy nhưng không biết sự vận hành của nó, bây giờ mình mới nhận ra, thấy được nó nắm rõ nguồn gốc dục trú trong mình, tham muốn do đâu. Lúc trước, con tu tập chỉ biết cảm thọ, bỏ đi phiền não. Con chỉ muốn từ bỏ được phiền não để mình không còn vương vấn, tìm con đường giải thoát, bây giờ mới thấy chính phiền não do cảm xúc sanh ra, trong cảm xúc mình thấy được sự tham muốn lăn tăn và luôn muốn sở hữu, con may mắn hôm nay biết được căn cội của phiền não.”
- Suy tầm, suy tư con hiểu, còn tầm và tứ trong kinh nói, ‘tầm’ con hiểu mà ‘tứ’ con chưa hiểu rõ?
- ‘Tầm’ ví như con ong hướng về cái hoa, còn ‘tứ’ là đi tới bông hoa đó vờn quanh quanh nó, tức là hướng tâm và bám vào đối tượng. Mình quán về bất tịnh, tâm mình bắt đầu hướng về quán đó gọi là ‘tầm’ khi đề mục hiện rõ lên mình bám chặt vào nó gọi là ‘tứ’, con ong bay quanh hoa là ‘tầm’ hướng tới đối tượng, khi nó bay tới hoa rồi lượn quanh và đậu vào hoa đó là ‘tứ’. Như vậy, ‘tầm’ là hướng vào đối tượng, ‘tứ’ là bám sát vào đối tượng.
Một huynh đệ khác chia sẻ: “Trước đây con nghe những bài pháp của Thầy giảng trên trường Phật học, khi con nghe về ngũ uẩn trong tâm của con có một ý nghĩ là ngũ uẩn với bản ngã của mình nó có liên quan gì nhau chăng? Rồi khi thực hành nhận diện rõ sắc, thọ, tưởng, hành, thức lúc đầu con chưa có được rõ lắm. Nhưng giờ thì đã dần hiểu ra, thấy rõ hơn về năm uẩn để mình phá bản ngã, bắt đầu con mấp mé thấy được cánh cửa để mình đi đến vô ngã. Vì con đường tu một khi bước vào cánh cửa vô ngã thì con đường an lạc thảnh thơi sẽ tiếp đón.”
Một huynh đệ chia sẻ: “Trước nay, hôm nào con cũng tụng kinh Bát-nhã, đến bây giờ khi đào sâu quan sát ngũ uẩn này, con thấy mình thật may mắn được tu tập theo pháp hành giống như Ngài Quán Tự Tại Bồ-tát ngày xưa.
Quán chiếu ngũ uẩn giai không
Vượt qua tất cả khổ ách
Theo con hiểu cái khổ về tâm quan trọng hơn, mục tiêu mình tu tập về tâm linh, khổ do u minh nghiêm trọng hơn về tâm, qua hết thảy khổ ách theo con hiểu là giải quyết cả khổ u minh lẫn nỗi khổ bệnh tật về thân xác.”
Thầy Pháp Bảo: “Thật sự cảm xúc của con bây giờ rất vui! Trong những năm vừa qua, riêng bản thân con trong khoảng năm năm trở lại hay chạy theo hình sắc, những đối tượng vì không kiểm soát tham dục, tham ái, dục tưởng bên ngoài. Khi chúng con được hướng dẫn tu tập quán pháp bất tịnh, hành theo kinh Tứ niệm xứ. Lúc đó trong thân tâm con đã tìm lại được con đường gọi là chuyển hóa nội tâm những gì mình đã rượt đuổi chạy theo. Pháp Bảo năm rồi đã chết, Pháp Bảo năm nay mới chính là Pháp Bảo!”
Thầy Pháp Minh: “Đức Phật đã nói ra ba nguyên lý vĩ đại, toàn thể vũ trụ này là Vô thường, Khổ và Vô ngã. Ngày trước chúng ta nói Vô thường nhưng khi mình thực hành quán xét về năm uẩn này mới thấy rõ sự Vô thường. Nó hiện diện trong từng tâm niệm, chính ngay nơi thân thể của mình, sự vận hành của danh và sắc. Khi mình thực hành nhiều như Thầy nói, sẽ thấy rõ thân tâm vô thường và hoàn cảnh vô thường để chứng ngộ được vô thường này không có cái gì nhanh hơn là mình quán chiếu chính cái ngũ uẩn. Sâu sắc hơn nữa, ta cảm thấy vô thường đến đi rất nhanh, ban đầu chánh niệm của mình chưa được mạnh, nó cảm nhận rất từ từ nhưng càng ngày mình càng phát hiện sâu hơn những dòng tư tưởng của mình đến đi rất nhiều. Chẳng hạn, lúc ngồi thiền có khi đến hai chục đến trăm tư tưởng rồi cảm thọ, cảm thọ khổ, cảm thọ lạc, cảm thọ không khổ không lạc đến đi một cách nhanh chóng, nên con thấy rằng con đường này mình đi rất khả quan, cốt lõi ở bản thân phải chịu ra sức trau dồi, luôn tinh tấn.”
Thầy Pháp Thi: “Sắc của con đang ngồi nghe Thầy giảng pháp, thọ thì rất lạc thọ hạnh phúc, tưởng rất nhiều hình bóng. Ví dụ, ‘tưởng’ tim của con đập mạnh nhiều; ‘hành’ nói quả tim đập cái biết mình là nó đang biết chim kêu gió thổi. Con đang thực hành trên bước đường tu tập, để biết nguyên nhân tại sao là mình không có, vô ngã của mình ảo tưởng nhưng không biết nguyên nhân tại sao mình lại có ngã đó, không biết cách phá như thế nào? Bao nhiêu câu hỏi chập chờn về tôi, ngã, có và không… Hôm nay, con cũng đã biết cách nhận diện được nó. Con cảm ơn thầy đã chỉ dạy, hé mở cho con thấy cánh cửa chánh pháp bất tử, con cố gắng áp dụng thực hành những bài học được tinh tấn tu hành thoát khỏi phiền não, khổ đau.”
6. Quán sát sâu sắc về năm uẩn
Nguyên nhân của khổ vì chạy theo sắc, để tự ngã của mình nằm trong sắc. Nếu mình muốn an lạc phải lìa sự dính mắc từ sắc. Đối với thọ, tưởng hành, thức cũng vậy. Nếu hành giả luôn nhận thấy một cách sâu sắc và hành trì theo từng tầng bậc pháp hành mà Thế Tôn đã chỉ dạy thì con đường đạt đạo quả là có thật.
Thầy Pháp Minh: “Con có cảm nghĩ, sở dĩ chúng ta đau khổ đều không nhìn nhận được sự vận hành của năm uẩn. Do không thấy được sự vận hành của năm uẩn nên dễ bị đồng hóa với sắc, thọ, tưởng, hành, thức là ta, của ta. Vì thấy sắc, thọ, tưởng, hành thức là ngã, còn trong phàm phu, vô văn phàm phu. Còn bậc thánh đệ tử thấy rõ rằng năm uẩn này không phải là ta cũng không phải của ta. Nó không phải là tự ngã, không nằm trong tự ngã và tự ngã không nằm trong nó. Nếu tách năm uẩn ra khỏi thân tâm này tức là mình nhìn và quán chiếu nó, để thấy một cách chân thật rằng đó chỉ là duyên hợp giả tạm. Đức Phật dạy về mười hai nhân duyên, nói đến duyên khởi từ vô minh sinh ra hành với thức, hành sở dĩ tại sao chúng ta sanh tử luân hồi, chúng ta còn cái hành sinh ra thức mới đi tái sinh. Khi chúng ta đồng hóa, tự ngã, không nhìn nhận sắc này là năm uẩn tiến trình duyên sinh, chúng ta mãi mãi không thể nào thoát được sự trói buộc chấp thủ trong nội tâm đối với thọ, tưởng, hành thức.”
Một vị thầy khác: “Sau khoảng gần một giờ thiền hành, bên cạnh đó Sư phụ cho nghe Đại tạng kinh Thiên uẩn, con thấy những lời đức Phật nhắn đi nhắn lại rất nhiều lần là sắc thọ tưởng hành thức này không phải là ta, của ta, chẳng phải tự ngã của ta. Nếu ai cho rằng đây là ta, đây là tự tự ngã của ta thì sẽ dẫn đến sầu bi khổ ưu não. Ai cho rằng mang thân này mà không có bị bệnh, thật người đó chính là người ngu. Khi con nghe đến những lời nói đó, thân tâm có chấn động, cũng có suy nghĩ rất nhiều khi mình mang tâm trạng lo lắng, sợ hãi suốt cả ngày, mình không có cách đối trị. Bây giờ biết được chánh pháp, nghe được những lời dạy từ chính kim khẩu của đức Phật, cảm thấy rất hoan hỷ và con cũng xin cảm ơn trên Sư phụ đã tạo điều kiện nhân duyên cho huynh đệ chúng con tận mắt thấy tai nghe và chiêm nghiệm những lời của đức Phật dạy.”
Một vị thầy khác nêu cảm nghĩ: “Vừa qua có đi kinh hành và nghe kinh Tương Ưng Bộ, con nghe được những lời đức Phật chỉ dạy về năm uẩn và sự tập hợp của chúng, xưa nay không biết, tưởng đó là mình, hôm nay chúng ta thấu rõ về cách thức vận hành hoạt động của năm uẩn, nhìn thấy rõ để buông xả, không bám chấp vào nó sẽ được tự tại giải thoát.”
Chúng ta thấy được giá trị của chánh pháp nhưng thật sự chánh pháp khó nghe. Điều này có khi người ta không chấp nhận được, thậm chí mình tu nhiều năm nếu mình không có tâm tha thiết chân thành cầu giải thoát thì cũng chỉ nghe hiểu nhưng không trân trọng tôn quý đây là sự thật tối thượng. Người tu cần thường xuyên văn tư tu suy sâu xét kỹ mới thành tựu. Còn nghe để đó, chẳng chịu chiêm nghiệm, không thực hành thì chỉ là thuộc lòng và biết trên mặt ngôn ngữ. Đó là dưỡng chất, nếu mình không tiêu hóa được thì làm sao nuôi được trí huệ than. Cho nên, nghe pháp, thực tập pháp, quán chiếu pháp và hành trì pháp không đứt đoạn thì sẽ có những bước tiến bộ càng ngày càng rõ rệt. Chúng ta nghe tới đâu chúng ta chia sẻ những điểm quan trọng tới đó cho huynh đệ, đạo tràng.
Trong Phật giáo, điểm quan trọng quyết định đầu tiên là chánh kiến, sự nhìn nhận phải chính xác, từ nhận định chính xác sẽ làm cho suy tư, ngôn ngữ, hành động của mình dẫn đến đúng đắn. Bát chánh đạo là con đường Phật đã đi, con đường của hàng Thánh nhân đã qua, huống nữa là Sa môn càng phải học và hành theo con đường Bát chánh đạo, tứ diệu đế.
Nghe được pháp là đã khó, nghe chánh pháp càng khó hơn, người nghe chánh pháp kiên trì và thực hành đúng theo lời Phật dạy đó là đa văn thánh đệ tử. Người không chịu nghe chánh pháp, chẳng chuyên chú học pháp và hành trì đúng lời Như Lai đã chỉ bày thì cũng như kẻ vô văn phàm phu. Chúng ta cảm niệm công ơn sâu dày của đức Phật, nhờ Ngài ra đời mà có bánh xe chánh pháp luân chuyển gần 26 thế kỷ nay và mãi về sau vẫn như vậy! Bức màn vô minh, tăm tối được vén cao lên cho ánh sáng ngập tràn, pháp vị tỏ rạng khắp muôn nơi. Phàm phu không được nghe pháp thì quán sắc như tự ngã hay tự ngã như quán sắc, quán cho rằng xác thân này là tôi, tôi chính là xác thân này hay là sắc này ở trong tôi, tôi ở trong sắc này vị ấy bị ám ảnh, sắc này của tôi, sắc này là của ta. Do bị ám ảnh như vậy, nên khi sắc này biến hoại đổi khác vị ấy khởi lên sầu bi khổ ưu não.
Hai chữ ‘ám ảnh’ rất sâu sắc, mình bị ám ảnh trong nội tâm của mình. Mỗi khi mình nói về mình, ví dụ, chút xíu nữa tôi đi ăn cơm, lúc đó trong nội tâm mình có cái gì? Có cái tưởng cái hành ra làm sao?
Thầy Minh Nhân chia sẻ: “Khi con nghe câu nói chút xíu đi ăn cơm, ‘tưởng’ có hình bóng là không biết món ăn gì đây, món này mình có thích ăn hay không, có hình bóng, có chén cơm và món ăn ưa thích trong tâm mình, những hình ảnh món ăn đó để giúp cho sắc thân này khỏe.”
Thầy Pháp Từ nói lên cảm nhận: “Bản thân con có khởi lên ý hành, chút nữa tôi đi ăn cơm, hình ảnh trước tiên là bát cơm và những món ăn, nếu trên thất con sẽ tưởng ra rau củ gạo và hình bóng của con sẽ có.”
Khi mình nói rằng ‘ngày mai tôi sẽ đi Đà Lạt’ lúc đó chúng ta nhìn thấy hình dáng lờ mờ của mình trong nội tâm, có một hình bóng về mình. Nó là sự ám ảnh của một bản ngã, cái tôi, đây là điều rất quan trọng, tất cả phàm phu không nghe chánh pháp đều là như vậy. Huynh đệ nói ‘việc này là tôi làm’ hay ‘tôi thấy được điều này’ hoặc ‘tuần sau tôi sẽ được về thăm nhà’,… tất cả những điều mình nói được hiện ra, nó đầy đủ thọ tưởng hành thức, nói một câu lên là đầy đủ hết. Điều gì thúc đẩy cho mình nói lên? Chính là cảm giác mong muốn được về nhà, từ cảm giác nung lên bắt đầu nó có hình ảnh lờ mờ của mình, về tới nhà mình thấy cha mẹ hay ai đó, nói chuyện gì đó, ‘thức’ rõ biết điều đó, sâu thẳm bên trong cảm giác được tưới tẩm bởi thọ tưởng hành thức vận hành theo. Sự chuyển động về cái tôi, ảo ảnh về một cái tôi được diễn ra cùng lúc.
Có vị thầy ngồi thiền lúc rạng sáng, ngồi trong mùng, do ánh đèn rọi vào nên nhìn vào cái mùng thấy sắc thân của vị hành giả ấy chiếu lên vách mùng. Vị ấy khởi niệm ‘mặt mình hơi tròn, đầu cũng tròn, khởi lên một lạc thọ cảm giác vui, bữa nay tướng hảo à!’. Ngay lúc đó, nếu vị hành giả kia chịu nhìn lại thân tâm hiện tại, liền thấy đây là cái gì? Có một cái thân mà cũng dễ làm chúng ta bám chấp vào cái ngã. Từ cái thân nhìn rộng ra ngoài đời rồi soi lại trong nội tâm sẽ thấy do chấp về tự ngã. Sắc dính chặt trong đó, lập tức quán chiếu lại liền, tất cả pháp là vô thường, có gì đâu mà thích thú, còn ở trong ngôi nhà lửa mà hoan hỷ gì… đây là dục, tham, vô minh hãy từ bỏ ý niệm về tôi. Vì thân tứ đại vô thường, lúc đó phải quay về với Như lý tác ý để dập tan tư tưởng hỷ tham ở trong tự ngã. Quán chiếu tường tận, liên tục tới lúc mình già, bệnh, chết, quán tới bộ xương, quán tới xương nát thành bụi, quán như vậy sẽ phát sanh một cảm giác sâu sắc về vô ngã.
Tập khí nhiều đời nhiều kiếp đã ăn sâu, nếu tuệ quán của mình yếu sẽ không đủ sức chống cự, diệt tận nó. Muốn chuyển hóa thân tâm này, không gì bằng thường xuyên quán chiếu năm uẩn, soi thấu sự vận hành của nó mới biết tất cả là giả huyễn hợp thành, đều là đồ dỏm. Có như vậy, chúng ta mới không tham đắm, mê lầm, chịu sự sai khiến của chúng. Công phu chỗ đó là chánh kiến, chánh tư duy, Như lý tác ý chứ không phải mình nhìn cái thân mình biết cái này vô ngã rồi thôi! Phải quán cho chắc chắn cảm giác hỷ lạc, ưa thích tướng hảo, quán làm sao cho cảm giác tan hết, đó là chân thực tập.
Vị ấy bị ám ảnh thọ là ta, của ta; do bị ám ảnh cảm giác này là ta, của ta nên cảm giác này biến hoại, đổi khác thì vị ấy sẽ sanh khởi sầu bi khổ ưu não. Cảm giác cổ thụ ngàn năm đó, cái kho a lại da thức tỉ kiếp tạo thành tập nghiệp, tập khí, bám chấp của mình hội tụ trong kho của cảm thọ. Cho nên, ta thấy người người luôn đi tìm cảm giác.
Ví dụ, anh A chạy xích lô, anh B chạy xe ôm từ sáng cho tới tối về, đi nhậu, vui vẻ với vợ con được một chút rồi lại tiếp tục cuộc mưu sinh. Chỉ vì một ít cảm giác đó mà tất cả hoạt động đi làm quần quật cả ngày.
Ở đây, hành giả học bài kinh Tiểu khổ uẩn và Đại khổ uẩn sẽ thấy rất khiếp đảm. Dùng từ khổ uẩn là sự tích tập hội tụ của tất cả khổ do dục tham, muốn có cảm giác vui sướng có khi người ta đánh đổi hết cả cuộc đời, thậm chí đánh đổi cả sinh mạng, sự nghiệp.
Dục ái ở ngoài đời rất rõ, bạn bè với nhau bỗng chốc trở thành kẻ thù; cha với con cũng hiềm hận nhau, thậm chí giết hại nhau; vợ chồng ganh ghét vì hiểu lầm hoặc không kềm chế cơn tức giận cũng nảy sinh giết một cách thê thảm dã man,… Tất cả đều từ cảm giác. Lúc đầu là cảm giác yêu thương, sau này chỉ còn cảm giác oán hận, nên sự đau khổ của con người, chúng sanh điệp trùng bất tận. Cũng vì cho rằng cảm giác này là tôi, của tôi mà không thấy cảm giác chỉ là cảm giác.
Bây giờ ngồi thiền, chân nó đau, mình buông chân ra là hết đau, đói thấy khó chịu nhưng ăn vào là hết đói, buồn ngủ thì ngủ một giấc sẽ tỉnh táo trở lại. Đó là bình thường, thói quen, nhưng nếu hành giả chịu khó, kiên trì quán chiếu tới vô thường, khổ, vô ngã, nghĩ nhớ tới công ơn cha mẹ, Thầy Tổ, nhớ tới người thân, nhớ tới những người đã đặt niềm tin hy vọng vào sự xuất gia thoát ly ngôi nhà lửa của mình thì lúc này hành giả sẽ hạ thủ công phu, ráo riết tinh cần, tinh tấn lực. Ngay chỗ đó ochúng ta đã đánh tan cảm giác buồn ngủ, cảm giác lờ đờ, uể oải. Tu tập từ từ mình sẽ làm chủ cảm giác chứ không cho cảm giác làm chủ, quan trọng phải thấy cảm giác chỉ là cảm giác không phải là mình. Đó là pháp vô thường, nên vị ngọt của thọ là sự nguy hiểm luôn rình rập, chực chờ sự chểnh mảng của chúng ta. Ta mạnh dạn xuất ly thọ, vị ngọt của cảm giác, sự nguy hiểm của cảm giác sẽ thoát ra cảm giác này.
Thế nào là vị ngọt của cảm giác?
Những gì vui sướng, thích thú, hấp dẫn tức là vị ngọt của cảm giác, nó diễn ra giây lát tạm có rồi biến mất. Chẳng hạn, để làm cho buổi tiệc thành công tốt đẹp, người ta đã chuẩn bị hai ba ngày trước đó, từ việc nấu nướng đến việc trang trí, sắp xếp,… nhưng lên ăn được chừng một tiếng đồng hồ là xong. Cũng vì một chút cảm giác đó mà họ phải làm cả ngày hoặc nhiều ngày, có nhiều người nặng về vị giác, cảm giác của lưỡi. Nhưng cảm giác nguy hiểm nhất là cảm giác thân xác, nhục dục, cảm giác đó nhận chìm tất cả chúng sanh ở trong trầm luân biển khổ.
Do sợ mất tất cả những gì mình yêu thích, đây là ác ma trong tâm, nên nó sẽ chống cự. Vì mình tu như vậy không còn cảm giác mong muốn gì, nhưng tham dục muốn cảm giác, mình chuyên cần sẽ vượt qua.
Không quán cảm giác, chỉ thẳng tên chống đối sự tu tập, xét trong tâm mình sẽ có phát sanh vì sợ bị mất những gì trước giờ đang hưởng thụ. Điều đó ngăn che ám dụ mình trên bước đường tu hành, nó không cho mình tiến sâu vào trí huệ, tuệ giác. Thật tâm soi chiếu sâu vào trong mới thấy là ác ma trú ẩn trong nội tâm, là tên vô minh, tham dục, tham ái. Hành giả càng lưu luyến, bịn rịn thì nó càng có dịp bùng phát sinh trưởng lôi kéo mình, đẩy mình xa lìa chỗ giải thoát.
Hương vị rất nguy hiểm, phải thấy rõ bộ mặt của nó, tưởng cũng vậy, vị ấy cho rằng những suy tưởng nói chung tưởng hành, hành là những suy ghĩ, tưởng là những hình bóng, vị ấy cho rằng suy tưởng là mình, của mình; do bị ám ảnh suy tưởng của ta nên suy tưởng biến hoại, đổi khác vị ấy khởi lên sầu khổ buồn đau.
Suy tưởng này là tôi cho nên chấp chặt vào suy tưởng đó. Ai nói không phải sanh ra tranh đấu, gây gổ thậm chí đi tới chỗ tù tội hay án mạng xảy ra, nên trong kinh Đại ngũ uẩn đức Phật nói nước này đấu với nhau, vua này đấu với nhau, người này cầm dao cầm mác đâm người kia, tất cả đều từ tham dục. Mà tham dục được nuôi dưỡng bởi suy tưởng, dục tưởng nuôi dưỡng nó, chấp nhận nó, không chịu từ bỏ nó, chẳng đoạn sạch nó vì thế nó sẽ tiếp diễn trong nội tâm của mình hoài.
Ví dụ, nghe nói ngày mai có phái đoàn lên viếng chùa ta bảy chục người, mình tưởng họ lên đây lễ Phật, tham quan đồi núi, và nhiều thứ tưởng khác đồng lúc phát sinh làm xa rời thực tại.
Hoặc nghe điện thoại biết là có ba mẹ, người thân lên thăm, bắt đầu ta tưởng. Nhưng sự thật thường khác xa với tưởng tượng, nó đã làm mình buồn, thậm chí phiền vì tưởng chuyến này gia đình giúp chút tài vật để có điều kiện mua thêm sách vở, lộ phí để tu học khoảng năm bảy trăm ngàn nhưng người thân chỉ cho khoảng một hai trăm ngàn thì sự tưởng phong phú trong việc mua sắm chi tiêu tu học đã bị xì hơi, hụt hẫng. Ngoài đời, tưởng còn ‘lộng hành’ hơn, chi phối điên đảo người hơn nữa. Tưởng đã đẩy họ vào vòng luẩn quẩn không ra khỏi luân hồi lục đạo.
Chúng ta đang ngồi đây, thầm nói có khi mưa nhưng thật sự khác. Tuy thấy trời chuyển mây đen nhưng rồi sự vận hành nó khác, nói mưa sẽ ướt, thức rõ biết ngay lúc đó tâm diễn biến rất nhiều thứ. Ngồi nhưng nhìn hoài lên trời, xem mây từ chỗ vận hành bên trong biểu hiện ra bên ngoài hữu lậu sanh khởi liên miên. Chính vậy mà nó đẩy mình đi tạo nghiệp, nên suy nghĩ, miệng nói, thân hành động đều từ ý hành, khẩu hành đưa tới nghiệp khổ.
Sống với thực tại, tưởng mình biết tưởng nhưng tưởng đó chỉ là tưởng; tưởng này vô thường, luôn biến đổi, không phải mình. Suy nghĩ này không phải mình, nó chỉ là suy nghĩ, là pháp duyên sanh. Tưởng là những cái đã qua, những gì đã thấy của hồi xưa, không phải của hiện tiền, đang là.
Ví dụ, mình nghe người ta phê bình, chỉ trích được hai ba phút lúc đó, nhưng trở về sau năm ngày một tuần câu đó vẫn còn câu chê chỉ trích mình, ngồi thiền vẫn còn nhớ. Nếu như mình không như lý tác ý, chẳng quán chiếu để tẩy trừ nó thì phiền não vẫn đồng hành. Có khi những câu đó làm cho mình nhiều năm, nhiều chục năm, thậm chí cả một cuộc đời còn ghim trong tâm.
Như vậy, đầu tiên, hành giả cần lưu ý thật kỹ trong quá trình công phu là luôn thực hành ba pháp khi tọa thiền: Rõ biết trước mặt, cảm giác toàn thân, nội tâm tỉnh giác.
Bước thứ hai nhận diện năm uẩn, nhìn rõ bản chất của từng uẩn, nhận biết đâu là thọ, đâu là thức, cái nào là cảm giác, cái nào là hình sắc, chỗ nào là những lời nói thì thầm và có rõ biết về chúng. Sắc pháp và sắc thân này, sắc thọ tưởng hành thức dịch chuyển tới đâu hành giả chuyên chú quán xét nhận diện chúng một cách tường tận đến đó, gọi đúng tên, không nói chung chung được.
Sự tu học sâu sắc ở chỗ chúng ta chịu quay trở lại để nhận rõ tự tánh tự tâm của mình. Chỉ khi nào nhận rõ rồi mới thấy rất thú vị, phát hiện bên trong nó nhiều vấn đề. Ở đó, mình thấy đầy dẫy dục tham, vô minh, chấp ngã, cống cao ngã mạn đủ thứ trong đó. Lúc nào mình thấy được như vậy tức là mình đã thành tựu trí huệ tự tâm.
Mỗi phút giây trong ngày, huynh đệ chúng ta cùng nhau tắm gội chánh pháp của Như Lai cho thuần tịnh để tẩy trừ nghiệp chướng sâu dầy nhiều đời kiếp, cần chuyên tâm trì chí, tinh tấn, nhiệt tâm tinh cần, chánh niệm tỉnh giác. Mỗi khi có bất thiện pháp sanh khởi, dùng Như lý tác ý kế đến quán chiếu về sự bất tịnh, về cái chết, lẽ vô thường, những biến hoại, tan vỡ của các pháp. Rồi từ từ mình sẽ tách ra được những dính mắc của năm uẩn sẽ thành tựu trí huệ năm uẩn, điều đó tùy thuộc tự mỗi người trên bước đường tu hành chuyển hóa.
7. Nhìn sâu bên trong năm uẩn
Thầy Pháp Từ chia sẻ cảm nhận về năm uẩn: “Con ngồi thiền được khoảng mười phút, sắc thọ tưởng hoạt động liên tục, nhất là về cảm thọ dễ nhận ra nhất. Cảm nhận hiện tại bên vai trái dường như có con gì bò nãy giờ mà hành nói ‘phải kham nhẫn, chịu đựng’; tưởng của con không biết là con gì đang bò trên vai trái; hình bóng nghĩ là con bọ vì con cảm thấy nó lớn hơn con kiến; ngồi lâu cảm thọ khó chịu, vì nó cắn con nhưng khi ngưng được giây lát, con thấy rằng do cảm thọ khó chịu mất đi nhờ đó mình có được cảm giác dễ chịu. Từ đây, ngẫm rằng đời sống chúng ta khó chịu hay dễ chịu đều xoay quanh cảm giác. Sở dĩ con cảm thấy hạnh phúc là do cảm giác khó chịu tạm lắng, con biết rằng cái thức con biết rõ là con đó đang bò ở vai trái, chưa ra được, tạm thời ngưng một lát sau khi nó bò sẽ tiếp tục khởi lên khó chịu; hành lại nói ‘để chờ tới dịp cầm micro pháp đàm xong xin phép Sư phụ cho con bắt nó ra, vì nó ở trong thân cũng khó chịu. Con thấy mình thực tập được sự kham nhẫn, mặc dù phải trải qua sự chịu đựng không dễ dàng gì. Nhưng tưởng uẩn vận hành nhiều, cần nhận diện rõ và khắc chế bằng cách kham nhẫn. Năm uẩn đi dọc hành trình tu tập ở mỗi người.”
Thầy Pháp Minh chia sẻ cảm nhận về năm uẩn trên bước đường tu hành thiền tọa: “Thật sự trong tâm con còn rất nhiều vọng động, phóng tâm không ngừng. Đang ngồi với toàn thể đại chúng nhưng tự nhiên con chợt nhớ tới thời sinh viên ở nhà trọ. Những hình ảnh, kỷ niệm xa xưa hiện về, đó là tưởng trong con. Sau cái tưởng này lại tới cái tưởng khác. Chẳng hạn, có người bạn mới tốt nghiệp đại học nhưng gia đình bắt ép lấy một người mới học hết cấp hai, trong tâm con nghĩ sự chênh lệch học thức, như vậy lấy nhau có được hạnh phúc hay không? Đó là tưởng và hành của con, nghĩa là mình cho người bạn lời khuyên; tác ý của con là mỗi người có một duyên nghiệp, là vợ chồng nhiều khi người ta có nhân duyên, thôi cứ để nhân duyên tiến hành một cách tự nhiên, chứ mình không xen vào, biết đâu người ta sẽ học được gì trong đó rồi cuộc sống tự nó trải qua, họ sẽ cảm thấy hạnh phúc thì sao; thức của con nhận thức được hành tưởng đó; thọ của con bây giờ cảm thấy lạc thọ, vì không khí mát, vừa rồi thì có chút khổ thọ vì lưng hơi đau và trước khi cầm micro phát biểu, con an trú vào hơi thở để nhận biết hơi thở ra vào.”
Huynh Cường cảm nhận: “Cảm thọ con hiện là lạc thọ; tưởng của con là tưởng tượng tư thế con đang bị đau lưng; hành là con đang chỉnh thư thế, là con cảm nhận hơi thở; thức là con cảm nhận được thọ, tưởng, hành.”
Những thọ, tưởng, hành nào phù hợp với thiện pháp đưa chúng ta tới thiện, càng xích lại gần với trí huệ, giúp tăng trưởng tinh tấn, tỉnh thức thì mình nuôi dưỡng nó. Nếu cảm giác, hình ảnh, những suy tưởng nào phát triển theo chiều bất thiện, tương ưng với tham muốn, nóng giận, hơn thua, si mê lúc đó mình phải như lý tác ý, quán chiếu sâu sắc và diệt tận.
Như lý tác ý là suy xét đúng sự thật. Ví dụ, mình thấy hình dáng sư huynh nói câu gì đó không được hoan hỷ, lúc đó mình phải suy xét như thế nào về Như lý tác ý?
Suy xét là mình có làm cái gì sai hay không? Xem lại coi mình có thực hiện đúng như lời sư huynh nói hay không? Đặt câu hỏi trong tâm tại sao sư huynh nói như vậy? Tìm lại nguyên nhân sâu xa. Đặt mình vào trường hợp là sư huynh,… cứ đặt câu hỏi cho bản thân rồi sẽ có quyết định đúng đắn, không vội trả lời đúng sai hoặc có thái độ hơn thua. Nếu mình sai phải sám hối, sửa lỗi một cách chân thành. Nếu mình đúng, lựa lời và phù hợp thời điểm trình bày. Mọi hành động cần đặt trong chánh niệm sẽ không làm buồn nhau.
Nếu ta lơ đểnh bị thất niệm sẽ có cảm giác khó chịu trong hình ảnh, lời nói đó thì mình phải quán chiếu. Cần biết rằng hình ảnh, lời nói đó đã đi qua rồi, chỉ là những ảo ảnh; hành và tưởng này là vô thường, biến đổi. Những lời nói đó tức là ý hành, nếu nói kỹ đó là thanh tưởng. Bởi, chúng có sắc tưởng, thanh tưởng, hương tưởng, vị tưởng, xúc tưởng, pháp tưởng, tức là có sáu tưởng khi mình nghe một âm thanh. Dù cho âm thanh đi qua nhưng ta nhớ lại âm thanh đó, gọi là thanh tưởng. Chúng ta bị thanh tưởng hành hạ rất nhiều, chỉ có một lời nói nhưng làm cho mình có nhiều cảm giác, mỗi khi mình nhớ lại. Thật sự soi rọi tâm để quán chiếu nhằm giải tỏa cảm giác đang bức bách, vận hành, dẫn mình, lôi kéo mình vào sự hơn thua, muốn tranh đấu. Do mình không chấp nhận hình bóng, lời nói đó, chẳng phải mình không chấp nhận người thật bên ngoài, tức là mình không nuôi dưỡng và tiếp tục để cho cái tưởng hành thọ này lưu trú trong nội tâm.
Dùng Như lý tác ý để hóa giải những lăn tăn gợn trong đầu mình, bằng cách hình ảnh, tưởng này là vô thường; những tiếng nói này là hư ảo, đã qua rồi tại sao mình cứ lưu giữ hoài làm gì cho thêm phiền toái. Như vậy có khác gì ta đang sống với cái ảo. Thực pháp ngay trước mắt mà ta không thấy rõ, chẳng cảm nhận được giữa tình đạo chốn già lam, giữa đại chúng thì mình cần mở lòng, đừng sống với hình ảnh đã chết, âm thanh đã qua, cần trở về với chánh niệm tỉnh thức trong hơi thở, cảm giác toàn than, sống trọn vẹn với hiện tại, nếu tưởng hành phát sanh mình phải quán chiếu.
Thầy Pháp Đạo trình bày cảm nhận: “Bạch Thầy! Xin Thầy chỉ dạy, con có một điều thắc mắc trong sự thực tập tọa thiền quán chiếu cảm giác toàn thân, theo dõi sự vận hành năm uẩn, nhận diện ngay hiện thực, sự soi chiếu thì con vẫn có cảm nhận, tuy vậy để trở về sống trong thực tại thì vẫn bị chi phối, vọng niệm liên tục. Vậy làm sao nhận diện năm uẩn, cảm nhận năm uẩn một cách sâu sắc, thiết thực?”
Ngay giây phút này, huynh nhìn lại trong thân tâm đang diễn ra thọ gì? Có cảm giác gì? Ngay giờ phút này theo dõi hơi thở, chú ý sự chuyển động cảm giác và từng cảm giác diễn ra rồi phân tích kỹ về chúng.
Có câu chuyện Minh Thành xin kể lại cho huynh đệ nghe.
Nếu như chúng ta thường xuyên thực tập nhận diện năm uẩn sẽ thấy đường đi nước bước của chúng làm ta điên đảo, dìm ta trong chốn vô minh từ bao đời kiếp này. Nhìn lại để biết hổ thẹn, e dè và dứt trừ sai lầm trong thân, miệng, ý hôm nay và mãi về sau.
Hôm đó, cô Ứng Phổ gửi đồ ăn, trong đó có bịch bắp, Minh Thành lấy một trái bắp ra lột ăn, lúc lột trái bắp thấy quá non, lúc đó mình thấy được ý hành nói ‘tại sao lại bẻ vội trái bắp còn non, uổng quá, sao không để cho chín?’, cảm giác chuyển biến khó chịu. Đó là tập khí của mình.
Nhìn lại, mình thấy đây là một cái tâm vô ơn, vong ân. Vì người ta thương quý, lo lắng cho mình, thậm chí chưa kịp chín vẫn hái bắp đem lên cúng dường cho Thầy. Còn bản thân lại quay ngược trở lại với tình cảm tốt đẹp ấy. Sâu trong cảm giác này là bản ngã to tướng, bản ngã của một người Thầy, một người Sư phụ, bản ngã của một người trụ trì. Cảm giác khó chịu là những ý hành, Như lý tác ý quán chiếu, đây là sự nhục nhã của người xuất gia, đây là một vết nhơ của một tu sĩ, đây là điều đáng hổ thẹn của một người tu. Vì người tu không nên có những ý nghĩ, cách nhìn nhận vong ơn bội nghĩa và bản ngã to đùng Sư phụ như vậy. Ngay đó Minh Thành Như lý tác ý tẩy sạch cảm giác vừa sinh khởi ấy, làm cho ý hành dập tắt, xong rồi mình thấy rất hoan hỷ. Cũng giống như mình vừa bắn được tên giặc mà nó ẩn nấp trong nội tâm, bình thường mình không thấy.
Thật sự những ngày trong thất, Minh Thành quay nhìn lại nội tâm mới thấy hổ thẹn. Trước đây, cứ kêu người ta tu tập vô ngã, hạ thấp cái tôi xuống mà mình không biết cái ngã của mình càng ngày càng cao. Nó trá hình qua những hình thức là Thầy, bổn phận, trách nhiệm, công việc. Khi nhận ra điều đó Minh Thành vô cùng tàm quý nhục nhã của người tu. Đây là vết nhơ cho Tam bảo, không xứng đáng với Thánh hạnh, chưa phải đời sống thanh cao của một người xuất sĩ. Sau đó, quán chiếu tới cái chết của mình, rồi quán chiếu tới chín trạng thái tử thi, thậm chí quán chiếu tới bộ xương. Lúc nào mình thấy bản ngã lớn, hành động tiếp duyên xuất cảnh vì cái tôi thì lúc đó Minh Thành nhớ lại cách trong kinh có nói vị lực sĩ cầm chày kim cang đập cho nát bộ xương ra thành bụi để diệt ngay bản ngã trong nội tâm đang hiện hữu.
Có lần mình đang bận nói chuyện điện thoại với một vị Pháp sư thảo luận về giáo pháp. Chợt, bên ngoài có tiếng nói ‘Sư phụ ơi con đem sầu riêng…’. Vậy là khi đang bên trong nghe điện thoại nhưng tâm mình nhảy ra một tin nhắn cảm giác khó chịu. Ngay lúc đó, nhận diện ra tên giặc cảm giác hiển bày, tai nghe, miệng nói chuyện nhưng tâm phải Như lý tác ý để quán tẩy cảm giác khó chịu đó. Đến một lúc sau, công phu tọa thiền thì cảm giác khi nãy trở lại. Tâm nó nói với nhau rằng ‘sao cứ lo đồ ăn hoài vậy, mất thời gian’, đây là tâm vong ơn bội nghĩa, bất thiện pháp. Người tu không thể có tâm này, phải từ bỏ tâm này, thay bằng tâm cảm ơn, nhớ ơn, biết ơn những người đã lo lắng cho mình, đánh tan cảm giác khó chịu đó, phát sanh cảm giác biết ơn, nhớ ơn, cảm ơn dào dạt. Lúc đó niềm vui trở lại, như vậy mình bắn được tên giặc thứ hai.
Khi chúng ta tĩnh tâm sẽ nhìn ra được năm uẩn, thấy rằng những gì ẩn nấp, bị lấp vùi sẽ được phơi bày trong năm uẩn, nhất là trong cảm thọ. Chúng ta chuyên chú nhìn ra căn cứ địa của tất cả phiền não nằm trong cảm giác. Ví dụ, ham muốn của mình khởi lên, phải nhận biết và tìm mọi cách chặn đứng xa lìa diệt tận nó.
Chẳng hạn, bữa đó đám giỗ nhà cô Diệu Hằng nên cô mang đồ ăn qua chùa cúng dường ba bốn món, khi dọn thức ăn lên mình nhìn lại cảm giác, thọ thấy khác với buổi ăn bình thường; thọ này háo hức muốn gắp ăn cho nhanh, nhìn cảm thọ đó và mình không ăn cứ để cảm thọ đó xem thế nào. Vậy là mình quán chiếu về thức ăn, thức ăn này để nuôi mạng sống, nuôi sinh mạng vô thường, nuôi sắc thân tứ đại ảo mộng, để duy trì, tu tập cho mình đến bờ kia.
Hoặc có lần, nhờ chú Cường dọn dẹp vệ sinh trong tủ bếp mới phát hiện ra mấy củ cà rốt còn sót, cất kỹ nên quên, khi lấy ra mấy củ cà rốt đã héo khô quắt queo và có hai ba con giòi lúc nhúc trong đó. Thật tướng của các món ăn mà mình đam mê vẫn luôn có chứa giòi, bất tịnh ở trong đó. Nó nhắc nhở để mình dừng lại sự ham thích ăn uống, mong cầu ngon, cảm giác một chút vì cái miệng, những con giòi trú trong củ cà rốt giúp chúng ta nhận diện lại sự ham thích và độc hại của cảm giác, sâu sắc quán chiếu sẽ thấy lý thú.
Lại có lần huynh đệ chia sẻ với Minh Thành rằng, thầy Thiện Hóa kêu mấy huynh đệ tu dưới thất là ‘Thầy dạy nhưng mình cứ làm theo cách của mình, mình tu theo cách của mình, chứ không nhất thiết theo cách của Thầy dạy. Vì mỗi người có kỹ thuật riêng’. Lúc đó, Minh Thành nghe câu đó có cảm giác khó chịu khởi lên. Lập tức bản thân nhận diện ngay năm uẩn nó trương bảng hiệu tôi là, của tôi, vậy là ý hành diễn ra, nó nói ‘mình là trụ trì, Thầy là vị khách đến đây tu, ở đây cất thất cho ở, lo cho nhập thất nhưng tại sao lại kêu đệ tử của mình không tu theo cách mình hướng dẫn? Có cảm giác khó chịu. Ngay đó, nhìn kỹ quán chiếu đây là cái gì? Là bản ngã của trụ trì, cái tôi của một vị Thầy, cái phân biệt chủ khách, thật là cay đắng, xấu hổ, đáng nhờm tởm cho một người xuất gia mấy mươi năm mà không thấy rõ được thực tính vô ngã của năm uẩn này. Lúc đó, bản thân tự nhắc nhở và thực hành một việc sám hối ngay. Mình đã đắp y hậu đàng hoàng rồi quỳ xuống lạy thầy Thiện Hóa. Lạy ba lạy chưa đủ, lạy mười lạy. Quán chiếu như vậy, quỳ xuống lạy mười lạy đánh tan cảm giác khó chịu, ý hành mình là trụ trì, là chủ, là của mình. Dùng thật tâm và thấy rõ như thật năm uẩn dắt mình đi trong luân hồi.
Sau đó, có những lúc Minh Thành ngồi một mình nhớ những việc mình làm sai lúc trước, Minh Thành quỳ xuống lạy Pháp Minh, lạy Pháp Từ, lạy Thầy Thạnh Văn, lạy Pháp Trường, lạy Pháp Thanh, lạy hết mấy chú mới xuất gia, lạy luôn những chú tập sự, lạy cư sĩ. Mình ngồi đó và bắt tâm mình lạy, sám hối, nghĩ về điều thiện lành tốt đẹp ở tất cả người đã gặp. Cúi đầu thấp xuống để diệt tận bản ngã, tự cao tự đại cho là mình. Rèn luyện thường xuyên và thành tâm thì mới thấy chuyển hóa chính mình. Lúc đó, mình bắt tâm nó phải quỳ xuống lạy cô Ấn Phổ mười lạy để mình nhiếp phục bản ngã cái tôi.
Hôm đó, mình đã lạy Pháp Từ trong lúc thiền quán. Sự lạy đó đó ở trong quán chiếu hay ngoài cũng không khác. Ngày trước, hở ra là hay rầy quở đệ tử, bây giờ mình bắt đầu tẩy từ từ, quán chiếu vì bản ngã quá thâm sâu. Kế đó, Minh Thành phát tâm cảm ơn thầy Thiện Hóa, nhờ thầy tới nơi am vắng này để mình có một người bạn tu hành, tinh thần của Tăng, có cái gì không đúng như pháp mình mời lại chia sẻ một cách rõ rang, tình nghĩa huynh đệ chứ không có một cảm giác ta đây chủ trụ trì, Sư phụ. Cần đánh tan ngay tư tưởng chủ - khách, đập tan nó không thầy không đệ tử, nhìn sâu vào năm uẩn trống rỗng, sanh diệt liên tục.
“Người luôn luôn chánh niệm,
Sự sanh diệt các uẩn,
Được hoan hỷ, hân hoan,
Chỉ Bậc Bất Tử biết.”
Kinh Pháp Cú – câu 374
Chỉ có Bậc Bất Tử là đức Phật và các bậc A-la-hán mới biết rõ và làm chủ được niềm hân hoan, hoan hỷ.
Công phu để đối diện với nội tâm mình là sự tu hành đúng theo lời đức Phật dạy, không phải ở ngoài tụng niệm mà tâm đi du lịch. Nhận diện năm uẩn, diệt đi bản ngã, kiên trì và chuyên chú thì trên bước đường tu mới trổ hoa trái. Tu là bỏ xuống chứ không phải ôm vào, mang theo.
“Bỏ quá, hiện, vị lai,
Đến bờ kia cuộc đời,
Ý giải thoát tất cả
Chớ vướng lại sanh già.”
Trích truyện Pháp Cú – kệ 348
Lúc trước, Minh Thành chia sẻ an trú trong hiện tại, bây giờ bỏ hiện tại nhưng không có nghĩa chúng ta không biết hiện tại, mà mình làm sao vượt thoát vướng mắc trong hiện tại. Chuyên chú để thấy được sự an trú, sanh khởi và diệt uẩn của các uẩn, nhất là cảm thọ.
Đức Phật nói trong Tăng Chi Bộ Kinh, thế nào là chánh niệm? Là vị Tỳ-kheo đó biết cảm thọ sanh khởi, an trú và chấm dứt. Đó là vị Tỳ-kheo chánh hiệm tỉnh thức. Cũng như vậy, cái tưởng chúng ta ngỡ rằng cứ việc nói thẳng là mình thấy được trí huệ, còn trước mình không thấy đó là mình, là tôi nghĩ, là chấp nhận của mình, nuôi dưỡng bản ngã, thậm chí mình phát huy tà tư duy, phi như lý tác ý.
Không ai có gương mặt giống nhau, cảm giác mỗi người một khác, hình sắc trong nội tâm với những suy nghĩ khác, chính vậy, đưa mình đi tới dị thục quả, dị là biến dị, biến đổi, thục là chín muồi. Sau này, mình chết những cái đó nó đẩy mình đi cộng với nghiệp thành thọ sanh. Người tu tinh tấn, chánh niệm thấy rõ được ngũ uẩn thì làm chủ được ngũ uẩn, cảm thọ không chi phối được; tu thuần thục tưởng không ảnh hưởng; thấy nó là hình dáng như trên màn hình chiếu những lời nói, đó làm làm chủ sanh tử.
Mình còn trong quá khứ, hiện tại, vị lai là còn lòng vòng mãi. Chỉ thật sự buông xuống, chẳng nắm níu tam độc không chấp vào có không, biết rõ về năm uẩn vận hành sanh diệt để mau đến bờ kia cuộc đời, là chỗ thấy được năm uẩn và không chấp chỗ đó là bờ kia.
Có đôi khi, lòng chùng xuống, ý buông lung kịp giật mình và nhớ tới bài kệ của vị A-la-hán trong Tương Ưng Bộ Kinh:
“Hãy đứng dậy, lên đường,
Hãy dấn thân Phật giáo,
Hãy đánh bại Ma quân,
Như voi phá chòi lá.
Ai trong pháp luật này,
An trú không phóng dật,
Đoạn tận vòng sống chết,
Sẽ chấm dứt khổ đau.”
Những câu này trở thành pháp lệnh, làm cho mình phấn chấn trở lại. Chúng ta cùng nhau đứng dậy, mạnh mẽ lên đường tới bờ giải thoát. Nhẩm đọc để tinh tấn, dũng mãnh vượt qua ma chường trên đường tu, phút giây thiền tọa vững vàng như chuông úp. Dấn thân trọn vẹn với Phật giáo bằng cả thân xác và tâm hồn để mình thực hành lời dạy của đức Phật.
“Hãy đánh bại ma quân,
Như voi phá tròi lá.”
Khi hành giả thành tựu được trí sâu sắc năm uẩn, cũng như việc đánh ma quân khác gì con voi phá chòi lá. Cho nên, thành tựu trí huệ về tứ đế, hiểu rõ năm uẩn thì có sức mạnh nhiếp phục được tham sân si, sức mạnh giống như voi phá chòi lá. Nếu mình không có trí huệ năm uẩn, không có chánh kiến thành tựu thì khó, cực khổ.
Ví dụ, tức quá mình kềm lại, nén mãi cũng khổ, kềm không được cũng khổ còn như mình biết ngay cảm thọ, vị trí, tên gọi cụ thể chỗ nào trong xác này, chẳng hạn, ngay ngực hay chỗ đầu hay tham dục nằm ở đâu,… Chúng ta biết chỗ nào thì nhiếp phục ngay chỗ đó, chuyển hóa và mình thấy nó lắng dịu, tan ra từ từ. Cần trị nó tận gốc, còn mình càng kềm thọ tưởng hành thức trong sự vận hành sanh diệt, dù kềm nhưng cảm giác vẫn thôi thúc, tưởng vẫn tiếp tục bao nhiêu hình ảnh, hành vẫn cứ nói tại mình không biết được căn cứ địa của phiền não, thành ra tâm mình rất sáng mạnh, năng lực tiềm tàng vô cùng vô tận nếu chúng ta khéo tu rồi sẽ khai thác nó một cách triệt để theo chiều hướng tích cực.
Bữa đó, Minh Thành đi tắm buổi trưa, khi xối nước vào người gọi là xúc, sự xúc chạm của thân; xối nước vào có ý niệm thích thú, cảm giác lạc thọ, trong cảm giác đó mình phát hiện ra dục và tham. Sao vậy? Chuyện xối nước vào người mát mẻ, sạch sẽ là chuyện bình thường nhưng ở trong cảm giác đó mình có dục tham. Chỗ này rất tinh vi, vi tế, cảm giác mát mẻ dễ chịu là đương nhiên nhưng trong cảm giác đó mình muốn duy trì nhiều hơn, mong muốn kéo dài tăng cảm giác này thêm, đó là dục tham.
Hoặc, ba giờ sáng thời tiết trên núi rất lạnh, lẽ ra phải ngồi dậy công phu thiền tọa, nhưng nướng thêm, ủ mình trong chăn ấm, đây là dục và tham, cộng với sự lười biếng, nó không đâu xa, mà ở ngay trong giấc ngủ, ngay trong miếng ăn, thức uống, đi tắm, sinh hoạt hàng ngày của chúng ta, chỉ cần không nhiếp tâm, chẳng kịp chánh niệm là tham dục nó len lỏi vào, nó ngự trị và xoay mình theo nó.
Người ta khen, mình có cảm giác thích thú, vậy là ta đã mở rộng chỗ cho sự thích thú ẩn nấp ngay ‘thính giác’ – sự nghe của mình. Nhĩ thức rõ biết về âm thanh, sâu trong đó có dục và tham, nên sáu căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý chỗ nào cũng có dục tham, nếu không khéo tiếp xúc với sáu trần là sinh ra đủ thứ nghiệp. Người tu cần cẩn trọng mỗi ý niệm và phải làm chủ năm uẩn này, đừng để nó lôi kéo đưa mình vào thành trì của vô minh, tâm ta hãy dũng mãnh như voi chúa xô ngã chòi lá phiền não này, kiến tạo chánh tín, đi thẳng tới bờ giác theo lời Thế Tôn chỉ dạy.
Thầy Pháp Nhân cảm xúc về năm uẩn: “Cảm ơn Thầy đã cho huynh đệ chúng con ôn lại nhận diện ngũ uẩn. Trong buổi pháp thoại hôm nay, Thầy chia sẻ đang thực hành loại trừ bản ngã của mình, đứng ở vai trò một người đệ tử cũng là một người học trò, con không giảm đi sự cung kính của con đối với Thầy. Bởi vì con vẫn nhớ trong một bài pháp Thầy có nói về tâm bồ-đề, người phát tâm bồ-đề có ba hạng người.
Người thứ nhất, phát tâm bồ-đề như một vị vua;
Người thứ hai, phát tâm bồ-đề như người chăn cừu;
Người thứ ba, phát tâm bồ-đề như ông lái đò.
Ở đây, con thấy tâm bồ-đề của Thầy như một người lái đò. Trong quá trình Thầy chia sẻ cho huynh đệ chúng con, con cảm thấy con cũng giống như người đang trên chuyến đò đó được Thầy lèo lái để đi đến bờ giải thoát. Con cũng mong trên Thầy và huynh đệ hiện tại bây giờ và về sau khi gia nhập vào Tăng đoàn Linh Quy Pháp Ấn này thì nguyện cho các huynh đệ đều được thành tựu đi tới con đường giải thoát rốt ráo.”
Thầy Pháp Đạo chia sẻ: “Bản thân con cảm thấy từ ngày đến đây tính cho tới thời điểm hiện tại, con cảm nhận được điều quý giá tình cảm trên Thầy, huynh đệ có tình có nghĩa, ở mức trọn tình trọn nghĩa thì chưa, vì mỗi người còn đang trên đường để loại trừ bản ngã. Cảm ơn thầy đã tận tình chia sẻ kinh nghiệm chỉ dạy cho chúng con, khi chúng con còn lầm lỗi, tâm còn cứng cỏi chưa nhu nhuyến Thầy chịu khó, cần mẫn giúp mỗi người từng chút một để vượt qua mê lầm.”
Thầy Pháp Bảo chia sẻ: “Thật sự từ hôm qua cho tới hôm nay, trong thâm tâm con có một niềm hoan hỷ! Trên nhờ Thầy, dưới có huynh đệ cùng nhau san sẻ pháp hành trên bước đường tu tập, nên chính mình đã chuyển hóa một phần nho nhỏ trong vô biên phiền não, nhờ vào sự quán chiếu năm uẩn về niệm tử thi để diệt trừ những tâm tham dục tham ái.”
Thầy Pháp Minh chia sẻ: “Thật sự qua lời bộc bạch của Thầy, con cũng nhìn lại nội tâm của mình, đúng như đức Phật nói khi hiểu được tâm của mình thì sẽ hiểu được tâm của người. Con nhìn lại nội tâm rất hổ thẹn, từ khi con được xuất gia đối với bản thân con ngày đầu tiên gặp Thầy để lại hình ảnh rất tốt đẹp. Hình ảnh đó đến bây giờ nhiều lúc con vẫn nhớ lại. Dưới sự hướng dẫn của Thầy, mọi chuyện con đều cảm thấy nó là nhân duyên, mọi thứ đều là nhân duyên, mình sống trong cuộc đời này đến đi đều do nghiệp nhân duyên của mình đã tạo ra cùng với mọi người. Có thể ở quá khứ, rồi hiện tại, vị lai nhưng để có trí quán xét nhìn sâu về ngũ ẩn mình mới phá vỡ được chấp thủ về quá khứ rồi hiện tại và tương lai, mình không còn bám víu vào nữa.
Hiện tại cũng chỉ là ảo, là sự vận hành của ngũ uẩn trôi chảy không ngừng của danh và sắc, nên người tu chúng ta thấu hiểu được vấn đề này quả là bước tiến rất lớn trên đường giác ngộ giải thoát. Nếu chúng ta hiểu được ngũ uẩn vô thường thì sẽ không còn trách ai giận ai. Tu hành là nhìn lại nội tâm của mình, thuận duyên quá sẽ làm mình say mê ở những lời khen, vẻ bên ngoài vinh hoa phú quý. Nghịch duyên quá cũng chẳng nên nản lòng sờn chí. Học hành tu tập bên huynh đệ cùng nhau sách tấn cho nhau để vượt qua những sơ suất, điểm yếu của bản thân, học lẫn nhau và không ngừng nỗ lực thì bờ giác sẽ là điều có thật cho tất cả người thật tu.”
8. Gội rửa phiền não
Tâm mình do sinh diệt năm uẩn, không có quá khứ, hiện tại, vị lai mà nó là sự vận hành liên tục của năm uẩn vô thường, không phải trên hình tướng. Tu hành cần soi rọi kỹ về mình.
Ví dụ, Pháp Minh muốn xuất gia thì bản thân phải kiên trì vượt qua mọi trở ngại, nỗ lực bên trong lẫn bên ngoài, bỏ qua những thú vui thế gian để một lòng hướng về Tam bảo, đi tới mục đích lý tưởng sống trong cõi người là được xuất gia.
Bước vào đời sống tu hành điều thiết yếu là phải trạch pháp, đừng để nhầm lẫn và loanh quanh sẽ dễ nản lòng, nhục chí. Chúng ta đừng nhầm lẫn dục như ý túc với tham dục. Vì tham dục dễ đưa mình vào chỗ bất thiện pháp.
Ví dụ, mình tham ngủ, tham sắc đẹp, tham hưởng thụ, tham những tiếng khen,… đó là những tham dục cần trừ dẹp. Chúng sẽ đưa hành giả tới chỗ khổ. Thật vậy, không ai khen mình hoài nên mình khổ, chấp làm chi với những lời gió thoảng mây trôi đó, trong kinh Pháp cú đức Phật đã từng dạy rồi. Do mong cầu, tham muốn không ngừng cho nên khổ, tám cái khổ trong bát chánh đạo mà Phật đã dạy nhưng ta không để tâm, chỉ chú tâm tới cái cao siêu, chưa học nền tảng đã muốn làm Bồ-tát, Phật. Khó lắm!
Thiện pháp cần luôn được nuôi dưỡng, tu hành và mong mỏi sự chứng đắc dĩ nhiên là có ngã, chưa hết cái ngã nên mới tu. Dụng tâm mãnh liệt của người tu có chỗ người ta nói là mong cầu duy nhất, tức là mong cầu đạt tới chỗ mong muốn duy nhất của người tu là không còn mong muốn gì. Hành giả lúc này tiến đến ly dục, nếu mình không có cái muốn đó làm sao mình thành, nên chỗ này phải phân biệt cho kỹ.
Tứ như ý túc là chìa khóa vàng đưa mình đến thành công, gồm: Dục như ý túc, tinh tấn như ý túc, tâm như ý túc, tư duy như ý túc, tức là khi mình muốn phát khởi làm một điều gì đó, kế đó mình phải nỗ lực để làm, sau đó để tâm vào công việc đó và quán xét về nó một cách sâu sắc.
Ngồi quán xét không phải là tọa thiền thẳng lưng mắt lim dim và ngủ, mà là nhìn sâu bên trong những tư tưởng nào là những tư tưởng tham dục, sân hận, không biết ơn, chẳng tôn trọng, thiếu cung kính, chưa khiêm hạ… và đâu là điều đưa ta vào chỗ phát huy cái tôi, bản ngã. Như vậy, phải thật sự dụng tâm mình mới thấy, thấy rồi mới đoạn trừ được. Cũng giống khi mình soi gương phải để ý kỹ chỗ nào sạch dơ, sau đó lau chùi hoặc như cạo tóc, nhất là tóc chưa dài, nếu không để ý thì sót, đó là tâm như ý túc, để tâm vào công việc mình đang làm. Cuối cùng là tư duy, tư duy mình phải suy tư, suy xét coi cách nào làm cho nhanh gọn lẹ, hiệu quả nhất, gọi là tư duy như ý túc, cánh cửa giác ngộ sẽ được mở tung, nếu hành giả chú ý đến.
Chúng ta cùng trao đổi lại ‘hiện pháp lạc trú’ trong quá trình thiền tọa.
Thầy Pháp Từ trình bày: “Lúc trước, hiện pháp lạc trú là mình an trú ở giây phút hiện tại, ‘hiện pháp’ là những gì đang diễn ra, ‘lạc trú’ là sự an lạc trong giây phút hiện tại đó.
Hiện pháp lạc trú còn gọi là chánh niệm trong hiện tại, ngay đây và bây giờ, thực tại hiện tiền, chánh niệm tỉnh giác. Có một số từ như vậy nhưng mình phải hiểu chính xác về những từ này.”
Vậy, khi nói hiện pháp lạc trú, mình nghĩ rằng tâm mình đặt ngay giây phút hiện tại hay thực tại hiện tiền?
Thầy Pháp Minh chia sẻ: “Thực tại hiện tiền, theo bản thân con nghĩ đó là thực tại của thân và tâm sắc, còn ngay trong khoảnh khắc đó quán thân trên thân, thọ trên thọ, tâm trên tâm, pháp trên pháp như thế nào thì mình nhìn nó y như vậy. Khi mình có cảm xúc xảy ra, nhìn nó đúng như bản chất của nó.”
Hiện tại lạc trú hay hiện tại hiện tiền, lúc trước chúng ta dừng lại ở ba môn tức là niệm theo hơi thở, đi đứng ngồi nằm ngủ nghỉ đều biết. An trú ở giây phút hiện tại là an trú theo hơi thở, đi biết đi, đứng biết đứng, ngồi biết ngồi, nằm biết nằm, co duỗi rõ biết về hành động mình đang thực hiện. Chúng ta hiểu ‘hiện pháp lạc trú’ như vậy chưa đủ.
Ví dụ, đang là bây giờ và ở đây có cảm giác sung sướng, nhưng nghe tin cha mẹ mình qua đời thì làm sao mình an trú được bây giờ và ở đây? Khó mà an trụ ngay giây phút hiện tại an lạc, chỗ này mình phải suy xét kỹ. Lúc mình bệnh nặng trong bệnh viện hay lúc mình đau đớn oằn oại, tai nạn bất ngờ xảy ra với chính tự thân của mình, ngay khoảnh khắc đó khó mà ‘hiện pháp lạc trú’. Rồi những lúc dục vọng trong nội tâm mình mạnh lên, không an lạc được ngay giây phút đó. Người thân bị bệnh hiểm nghèo cũng khó mà an vui nội tâm. Còn rất nhiều những sự thật diễn ra quanh ta, cho nên con đường đến chỗ tự tại, thảnh thơi không phải lúc nào cũng dễ dàng, buông xuống vô tâm được. Do đó mới ra sức công phu tu hành ngày đêm sáu thời không lơi lỏng, cột tâm vọng niệm, giữ thân yên bình.
Thiền sư nói, nhà nghèo mới biết con hiếu, nước loạn mới biết trung thần. Gia cảnh khó khăn, thiếu trước hụt sau, có con chịu đựng được, có con thì không thể chịu đựng được, có khi bỏ nhà mà đi phương xa tìm cách lo cho bản thân. Có con ở lại chịu khó chăm sóc mẹ cha, phụng dưỡng lúc ốm đau, tảo tần lo các em nhỏ, xứng đáng là anh giỏi, chị hiền. Hiếu chân thật là ở chỗ đó. Bình thường quân tướng ai cũng đều như nhau, có người hứa hẹn điều to tát, có kẻ âm thầm phụng sự, lắm người khua môi múa mép nhưng khi xảy ra chiến tranh mới rõ biết ai là người dám chết để bảo vệ sự an nguy cho hoàng đế, tướng trung thần, tướng gian thần… đứng ra bảo vệ giang sơn xã tắc.
Người tu, ngay lúc bình thường cần chú ý rõ biết về tham dục, sân, si, kiêu mạn nó ngủ ngầm. Tinh cần điều phục, trị liệu một cách cụ thể những chỗ nào mà bản thân hay dấy khởi, khi có chuyện là biết ngay năm uẩn vận hành, gột rửa ngay những bất thiện pháp khởi lên. Thường ngày không chịu quán bất tịnh, chẳng chuyên chú quán vô thường, vô ngã đến khi đối mặt với sự ăn uống, vui mắt, sướng tai, khỏe thân quên mất câu chuyện lục căn bị lục trần dắt bỏ vào bao mất rồi. Quay trở lại thì đã qua một đời. Uổng lắm thay!
Bây giờ, mình phải chiến đấu với nội tâm. Ra sắc lệnh mạnh mẽ ‘buông bỏ’, buông cái gì và bỏ cái gì? Buông xuống tham chấp là của mình, là tôi, của tôi, bản ngã to đùng. Dặn thân luôn nhớ sâu sắc đây là tứ đại giã huyễn hợp thành, đồ dỏm thôi! Còn bỏ là bỏ cái gì? Bỏ xuống cái gọi là chùa phố, am thất trên núi, những việc đang làm với Tăng Ni, trường lớp, sở thích giảng dạy, những Phật tử, danh vọng, lợi dưỡng, cung kính,… phải chiến đấu quyết liệt trong sự buông xả này. Muốn vậy, dụng tâm sâu sắc trong Như lý tác ý, rồi quán chiếu chứ không phải mình nói chuyện nhẹ nhàng như mình nghĩ.
Chúng ta sợ nhất điều gì? Đối diện với chính mình và đối diện với cái chết. Đó là sự thật hiển bày nhưng mình thường né tránh, chạy đuổi cái khác, càng vượt nó càng khó thoát, bởi đó là chỗ cuối cùng ai cũng trở về. Đau khổ hoặc an lạc do mỗi hành giả!
Có lần, Minh Thành đi qua Úc Phật sự, nhận tiện có tới thăm một Phật tử gia đình rất thành đạt, người nào cũng mặt mày thanh tú, đẹp, giàu sang, nhưng họ đang không thật hạnh phúc vì những bàn tay con cái ấy đang cố nắm chặt, giữ lấy chút hi vọng dù chỉ le lói, miễn là mẹ họ được khỏe mạnh, được bình yên sống lâu, phục hồi sức khỏe lại. Vì mẹ họ đang lâm vào căn bệnh ung thư giai đoạn cuối, thân gầy còm chỉ còn 25kg, xanh xao, hốc hác, thật là tội nghiệp!
Trước tình cảnh đó, người ngoài chứng kiến cũng khó mà dửng dưng huống nữa mình là người xuất gia. Cần chia sẻ, giúp họ nguôi ngoai nỗi đau chia lìa, bệnh tật và hiểu rõ lẽ vô thường. Mình đặt vào hoàn cảnh đó thì làm sao? Nếu không có niệm định tuệ một cách vững chắc, sâu thẳm tình cảm đó làm sao mình có thể điềm nhiên bất động. Chính vì thế sức tuệ quán phải thật sâu.
Lợi dưỡng cúng dường là điều cần cẩn trọng, thật cẩn thận đối với người tu. Lời dạy của Bậc Đạo sư đã chỉ rất rõ trong kinh Tương Ưng Bộ, ở chương lợi đắc cung kính cúng dường. Người xuất gia khi được lợi ích cúng dường cung kính tài vật phải thật là thận trọng, không khéo mình bị sa đọa mà không hay. Đức Phật đưa ra rất nhiều hình ảnh, trong đó có một hình ảnh đầy ấn tượng, giống như con giòi ăn đống phân mà nó nói ‘ta có đống phân lớn nhiều, còn tụi bay có đống nhỏ hay không có’ đó là một sự xót xa.
Chỉ khi nào xem danh văn lợi dưỡng cúng dường giống như đống phân, không tham đắm trong đó giống như con giòi ăn phân thì mới có tự tại, mới nhẹ nhàng đường tu. Lúc đó, nhắc Pháp Tuệ mà cũng là răn nhắc bản thân.
Pháp Tuệ nói ‘dạ, con thường quán hình ảnh này, quán danh lợi tiền bạc giống như đống phân’. Không chỉ vậy, mà phải quán chiếu soi rọi cho tới điểm cùng tận. Từ tâm tham dục, mong cầu, muốn được, chiếm hữu, nên mới chạy theo danh lợi. Do tâm tham muốn ở trong mới chạy theo danh lợi cung kính, quán sâu hơn nữa tham muốn cho cái gì? Tham muốn cho tôi, bản ngã là cái tôi. Từ đâu mà có bản ngã đó? Vì vô minh. Chỗ không sáng suốt chẳng thấy rõ pháp, không thấy rõ bản chất của sự thật. Vậy tại sao có vô minh? Do không thấy rõ năm uẩn là vô thường, bản tính của nó là vô ngã, khổ.
Cho nên, chúng ta thường xuyên nhận diện năm uẩn. Bước vào con đường đức Phật dạy, mỗi hành giả hành trì mới thấy toàn phép quán chiếu, nó giúp chúng ta thành tựu chánh kiến, cũng như mình thấy con nít nhà ở gần dòng song, chúng còn nhỏ nên không biết dòng sông nguy hiểm nên cứ chạy ra chơi, nhưng mẹ la cha rầy, người lớn bắt vào sân gần nhà chơi, không được tới gần bờ sông, chẳng nên vượt qua khỏi hàng rào. Sông là nguy hiểm, hàng rào là giới, nhờ giới che chắn nên ta không dám vượt qua, không tới chỗ nguy hiểm.
Đức Phật muốn mình nhận thức được vấn đề sắc là nguy hiểm, tham dục là nguy hiểm. Vì nó sẽ đưa mình tới vực thẳm, nên bậc Đạo Sư đã dùng rất nhiều từ như rắn độc, mũi nhọn, gươm dao, kẻ sát nhân, hố lửa hừng, lò than hừng đốt cháy mình. Ngài đưa ra rất nhiều hình ảnh minh họa để những người con Phật soi rọi lấy làm sợ hãi, dè chừng, tránh xa những điều dễ mắc lỗi, đi theo con đường Phật dạy để tới bến bờ giác ngộ.
Dùng pháp quán làm cho thức tỉnh, phá vỡ lớp giáp sắt vô minh nhiều đời kiếp trùm lên chúng ta, nay hội đủ duyên lành, hiểu được và hành trì nghiêm cẩn để ra sức phá vỡ tham dục, bởi nó mạnh mẽ hẫy hừng, khát ái tức là khao khát, ham muốn, nôn nao, rạo rực. Tại sao người ta không muốn ở một mình? Khó nhập thất được? Vì phải đối diện với những cái đó bên trong, một mình thì sợ hãi bao trùm, do thiếu kiên định, chưa chịu phản tỉnh.
Bước đầu nhiếp phục dục lậu, muốn nhiếp phục phải quán chiếu tứ đại, ba mươi hai thể trược, tử thi qua chín giai đoạn. Có thật sự quán chiếu sâu sắc tỏ rạng thì hành giả mới dẹp bớt cái dục, mặt khác đi sâu vào pháp cái tôi, cái ngã, thân kiến, chấp kiến là mình. Cho nên, dục thô dễ thấy nhưng thật, tức là có mình thấy còn không thấy là hết, nhưng bản ngã tinh vi ghê gớm, trá hình đủ kiểu. Còn dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu cần nhận thức rõ về nó mới phát hiện và loại rừ dần ra khỏi phiền não.
Lúc đó, mình nhập cuộc với ngũ uẩn, trừ khi người nào sức tu vững chắc lắm mới làm chủ được. Bởi, chúng ta còn thân hành, khẩu hành, ý hành và thọ, tưởng, sắc bao trùm cũng như bó chỉ rối cần tìm đầu mối chính xác để cuộn lại cho thẳng đường thẳng lối. Chỗ đó giúp ta cố gắng, nỗ lực trên bước đường tu. Thiện xảo trong quán chiếu, suy xét đúng bản chất là mình phải rất khéo léo mới được, nếu không sẽ khó phân biệt được pháp thiện đi dập còn pháp ác để nó sanh là lâm nguy.
Do vậy, đức Phật nói những phương pháp đoạn trừ lậu hoặc trong kinh ‘điều không đáng không nên như lý tác ý vị ấy lại tác ý, chuyện nên Như lý tác ý vị ấy lại không tác ý’, tức là điều gì đáng suy xét lại không suy xét mà cái không đáng suy xét lại suy xét. Các lậu hoặc của vị ấy tăng trưởng phát triển không thể nào đi tới diệt tận.
Khi chưa thấy pháp, chúng ta hay phân biệt, khởi tâm khen chê, nay khen vị này giảng hay, mai chê vị nọ giảng chưa hay, mốt lại bình luận vị này vị khác… thật ra mình chưa thấy pháp thì tất cả nhận định của mình hoàn toàn không đúng sự thật. Cần có niềm tin bất động đối với đức Thế Tôn. Chúng ta mãi loay hoay khen chê Thầy này, Tổ kia, thầy nọ, cuối cùng chỉ là con rối giữa biển đời khổ ải. Dù cho Tổ sư, Hòa thượng, các tông môn đi chăng nữa thì cũng là những hành giả trên bước đường chuyển hóa từ phàm sang thánh, từ những điều khó biết, khó thông các vị ấy chỉ dẫn cho người sau dễ hiểu, dọn đường cho quang đãng để đi thuận lợi, chứ chưa hẳn các vị ấy đã là bậc A-la-hán. Cần thận trọng bình luận, suy sâu xét kỹ và thật sự tin vào Phật để hành theo lời Phật chỉ dạy mới thật là con Phật.
Chúng ta chạy kiếm pháp này pháp kia, tất cả là là mình chạy theo năm uẩn. Ví dụ, ông Thầy giảng vui, nên quá thích, nhĩ căn lệch lạc. Hôm nay, ông thầy này tướng hảo quá! Đang chạy theo sắc. Rồi mình nghĩ ông Thầy tu hay, phước đức đó là tưởng hành. Sự rõ biết tức là thức. Đừng để đường tu chạy lòng vòng trong cây cột. Phật dạy mình pháp ngũ uẩn để soi rọi thật kỹ năm uẩn của mình hoạt động như thế nào? Thánh trí vô thượng, trí huệ của bậc thánh, thánh đệ tử mới được trí huệ này. Hành giả đang thừa hưởng gia tài vĩ đại của Bổn Sư Thích-ca Mâu-ni Phật, quan trọng lật chúng ta có chịu biết không, có biết trân quý giá trị đó hay không. Nay, chúng ta lắng tâm sâu sắc, đem hết thân tâm cung kính Phật, cung kính Pháp, cung kính Tăng, cung kính Giới, cung kính Thiền Định. Như vậy, huynh đệ sẽ thấy được giá trị siêu việt hơn hết tất cả trên đời này, đó là thế gian trí bảo của trí huệ năm uẩn này.
Minh Thành nghe bài kinh Thiên uẩn trong Tương Ưng Bộ Kinh rung động toàn thân. Đức Phật cho chúng ta thấy hình ảnh chúng sanh giống như mấy đứa bé chơi nhà chòi, nhà bằng đất khi nào tâm ham thích, ưa muốn, dính mắc trong nhà bằng đất đó thì nó sẽ không rời ra được nhà bằng đất, cứ loay hoay ôm giữ nhà đất đó hoài. Nhà bằng đất đó là gì? Là sắc, cảm giác, những tư tưởng, những suy nghĩ, nhận thức hay rõ biết này. Hãy đập tan nhà bằng đất ngũ uẩn đó sẽ được giải thoát khỏi sự trói cột vào nhà bằng đất đó. Do tham dục luyến ái, dính mắc trong năm uẩn, lúc nào cũng nghĩ của tôi là hay là đúng, tràn ngập trong tưởng uẩn, hành uẩn.
Đức Phật định nghĩa một vị pháp sư, một vị hành giả và một vị chứng đắc trong Phật giáo.
Lúc đó, đức Phật ở Sa-va-thi, có một Thầy Tỳ-kheo bạch với đức Phật:
- Bạch đức Thế Tôn! Con nghe nói đến vị thuyết pháp, thế nào là vị thuyết pháp?
- Này Tỳ-kheo, thuyết pháp về sự nhàm chán, lìa tham, đoạn diệt đối với sắc như vậy là vừa đủ để được gọi là vị Tỳ-kheo thuyết pháp. Nếu vị Tỳ-kheo đi vào sự thực hành nhàm chán, sự lìa tham, đoạn diệt đối với sắc như vậy vừa đủ được vị Tỳ-kheo thực hành pháp, tùy pháp. Nếu như Tỳ-kheo do nhàm chán, lìa tham, đoạn diệt đối với sắc không chấp thủ như vậy là vừa đủ để được gọi vị Tỳ-kheo đạt được Niết-bàn ngay trong hiện tại, đối với thọ tưởng hành thức cũng vậy”.
Một vị Tỳ-kheo đến bạch đức Thế Tôn nói ‘con nghe nói một vị thuyết pháp? Như thế nào mới được gọi là một vị pháp sư?’. Phật nói: “Này Tỳ-kheo, nói pháp về sự nhàm chán, xa lìa, không còn tham muốn, chấm dứt đối với sắc như vậy là vừa đủ gọi là pháp sư. Nói làm sao để cho người nghe nhàm chán, họ không còn tham muốn, muốn chấm dứt, không chạy đuổi theo sắc đó là đại pháp sư, là chân thật của pháp sư.”
Mình cứ căn cứ trên kinh tu hành, mà không thấy cảm giác, chưa thấy sự vận hành những vọng tưởng, suy nghĩ, nhận thức rõ biết bên trong, vô thường luôn hiện hữu mà chẳng chịu giật mình tỉnh thức.
Hành pháp, tùy pháp là người thực hành pháp của Như Lai, tùy pháp bất cứ lúc nào người đó thực hành được pháp là người đó tùy pháp. Thực hành pháp theo tự thân tâm, bằng trí huệ tâm yên định tĩnh nhìn thấy rõ bản chất biến đổi của sắc, tư tưởng, suy nghĩ. Phật xác nhận, nếu vị Tỳ-kheo nào do nhàm chán, ly tham, đoạn diệt với sắc thọ hành thức đó, do nhàm chán ly tham đó dẫn đến sự đoạn diệt, được giải thoát không chấp thủ đối với năm uẩn, như vậy gọi là vừa đủ để vị Tỳ-kheo đạt được Niết-bàn ngay trong hiện tại.
Đạt được Niết-bàn ngay trong hiện tại sẽ chấm dứt tất cả khổ, vượt qua hết tất cả khổ ách, thành tựu chánh trí thánh trí thành tựu vô thượng Niết-bàn giải thoát ngay trong hiện tại. Đây mới thực tại hiện tiền, ‘hiện pháp lạc trú’ cứu cánh, cảnh giới này sẽ thấy chỉ thấy, nghe chỉ nghe, ngồi chỉ ngồi, nhìn chỉ nhìn, tới chỗ bất động. Bởi, tâm giải thoát, tuệ giải thoát.
Tùy tín hành là mình theo tin và thực hành giáo pháp, gọi là địa vị tùy tín hành, tùy tín hành đã nhập chánh tánh, chân nhân địa, đã vượt phàm phu địa. Chánh tánh là đã vào được bản tánh chân chánh của người đệ tử Phật. Đã nhập chân nhân địa là trở thành một con người chân thật trong giáo pháp của đức Phật. Đã vượt phàm phu địa là đã vượt qua phàm phu, tuy chưa thành chánh quả nhưng không còn giống kẻ phàm phu. Khi thấy ngũ uẩn là vô thường, vị ấy không làm những điều tội lỗi để đi xuống ba đường ác và vị ấy mệnh chung chứng quả dự lưu, tức là vị này chậm nhất tới lúc chết sẽ chứng quả dự lưu đây là địa vị tùy tín hành.
Tùy tín hành là bước vào đạo bằng niềm tin, còn tùy pháp hành là bước vào đạo bằng sự thực hành và trí huệ.
“Với ai, này các Tỳ-kheo, kham nhẫn một ít thiền quán như vậy, giới trí huệ những pháp này vị ấy được gọi là tùy pháp hành.”
Kham nhẫn một ít thiền quán là sao? Là cố gắng chịu đựng để tu tập, vượt qua chính mình, nỗ lực chịu khó một ít thiền quán, tức là không phải quán sâu quán nhiều mà được một ít thiền quán để thấy năm uẩn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân là vô thường, biến hoại, đổi khác nên vị này kham nhẫn một ít thiền quán như vậy với trí huệ và những pháp này vị ấy được gọi là tùy pháp hành, là theo sự thực hành pháp là theo pháp đó mà thực hành bằng trí huệ thiền quán.
“Vị này cũng là bậc chân nhân vượt qua vị phàm phu và vị ấy không thể làm rơi vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Một vị không có thể mệnh chung mà không chứng quả dự lưu”.
Vị này nếu siêng năng, tinh tấn trong thời gian ngắn, nhập vào thánh quả dự lưu thành tựu trí về năm uẩn; nếu chậm nhất không có thể mệnh chung mà chứng quả dự lưu, tức là nhất định chậm nhất vị này chết sẽ vào dòng thánh tại vì thấy rõ ngũ uẩn. Hồi xưa thì chấp nhận nó, đi theo nó, bám chặt nó, bây giờ thấy nó không phải mình, nhìn riết thấy nó vô thường, đòi hỏi suy nghĩ hoài, cứ chạy theo cảm giác nên mình thấy và thường xuyên quán chiếu nó tự nhiên mình thành tựu tùy pháp hành, chắc chắn trong một đời vào trí huệ thứ nhất, trí huệ thứ nhất là mình thấy được phiền não rõ tham sân si cội gốc nó.
“Đối với những pháp này với ai biết rõ như vậy, thấy như vậy vị ấy đã chứng dự lưu không bị thối đọa, quyết chắc chứng giác ngộ.”
Mình còn lờ mờ, lúc tin lúc không tin. Khi mình tin được gọi là tùy tín hành, nếu bản thân mỗi hành giả chịu khó nỗ lực tu tập để thấy như vậy bằng thiền quán, bằng tuệ quán thì đó là thùy pháp hành; cho tới mức độ không còn thấy tham sân si, đó là dự lưu vào dòng trí huệ bậc nhất của thánh nhân, dự vào thánh chúng của đức Phật.
Chương 3:
HỔ THẸN VÀ SỢ HÃI
1. Hổ thẹn và sợ hãi
Chúng ta học để thâm nhập trọn vẹn giáo pháp Vô thường, Khổ, Vô ngã để thành người vô úy, bất khuất, mãnh liệt chứ không phải trở thành người gặp việc, gặp sự gì đến cũng bó tay, buông xuôi, yếu hèn. Đức Phật từ trong kinh để dạy chúng ta là ‘thể nhập cảnh giới bất tử’. Như vậy, hành giả học cái chết để mình đi tới chỗ không chết.
Con Phật thì tinh cần học Phật, giảm ăn, bớt ngủ, xa lìa những cám dỗ để chuyên tâm trì chí vào kinh tạng, hành trì miên mật. Thật sự gắn kết cuộc đời mình cùng với Tăng-già, tin Phật, học Pháp không lay động. Điều đó làm cho cuộc đời mình đổi thay, chuyển biến, hun đúc tinh thần trở thành trở thành bất tử. Muốn vậy, ngay đây và bây giờ cần luôn mạnh mẽ, hùng dũng, nỗ lực, quyết tâm trên con đường xuất gia.
Bản thân luôn soi rọi mình và để tâm hổ thẹn. Mỗi khi nhìn lên dung nhan đức Phật, hình ảnh đại hùng, đại lực, đại từ, đại bi của Ngài trải khắp chúng sanh làm ấm lòng và tiếp tục nhen lên ngọn lửa nhiệt thành cầu đạo. Lại nhớ về Ngài đại trí Xá-lợi-Phất, Ngài Mục-kiền-Liên, Ngài A-nan, La-hầu-la dũng tâm tinh cần trên con đường giải thoát. Chẳng những tự độ mà lại độ tha một cách tuyệt vời triệt để, rốt ráo. Những Thánh đệ tử ấy trưởng dưỡng đường tu mình mạnh bước, nhưng cũng thật thẹn, cảm giác tệ hại len lỏi và tủi nhục cho mình. Sao mình tu hoài mà không tiến, cứ lòng vòng trong năm triền cái [Tham dục (Kamacchanda); Sân hận (Vyapada); Hôn trầm (Thina-middha); Trạo cử (Uddhacca-kukkucca); Hoài nghi (Vicikiccha)] không thoát ra được, tối ngày cứ loay hoay trong chiếc bánh vẽ của dục tham, sân, hôn trầm, thùy miên, trạo cử lăng xăng, còn nghi pháp, không đi vào được thấy xấu hổ, lại tiếp tục mở kinh ra nghe lời Phật để trau dồi thực tập.
Tăng Chi Bộ Kinh, tập 3, Kinh Xấu hổ, trang 63:
“Này các Tỳ-kheo khi tàm quý không có, với người thiếu hổ thẹn, xấu hổ thì chế ngự các căn đi đến hủy diệt.”
Nếu người nào không biết xấu hổ, người đó không chế ngự được các căn. Giờ thiền hành hay giờ nghe pháp mà chúng ta ngồi đơ ra muốn ngủ muốn rã rượi, trì trệ, đờ đẫn nhưng mình không biết tàm quý, chẳng biết xấu hổ, không cung kính khi nghe Pháp thì mãi còn xa pháp.
Nếu có tâm hổ thẹn, mình sẽ chế ngự được các căn, khi chế ngự các căn bị hủy diệt thì giới sẽ đi đến hủy diệt. Đây là dòng chảy của pháp, tức là pháp duyên khởi ‘cái này có nên cái kia có’. Khéo quán chiếu thân tâm, giữ gìn oai nghi tế hạnh để không bị phạm giới. Có huynh nọ ngồi thiền một tiếng rưỡi vẫn tinh tấn, khi chân đau quá thì huynh ấy quạt hai cái chân lên xuống để đỡ đau nhưng không bung chân ra. Còn giờ nghỉ trưa thì huynh ấy váo trong nhà vệ sinh ngồi thiền. Cứ nghĩ là tinh tấn dũng mãnh sẽ thành tựu trên bước đường tu, nhưng không hẳn, sau này huynh ấy đã hoàn tục. Tu hành không phải quá căng trong việc tập trung tinh cần quá sức hoaặc buông lơi, cho qua ngày. Hai thái cực ấy đều dễ phạm, giữ được thăng bằng, bền chí mới là điều quý.
Tinh tấn niệm định huệ gọi là vừa, vừa là chế ngự các căn, tinh cần chế ngự, đoạn tận bất thiện pháp và hộ trì thiện pháp, gọi là vừa, chứ không phải vừa là im re. Vì chúng ta hiểu chưa đúng tinh thần kinh Phật, không đi vào hành pháp chân thật sâu sắc nên dễ lầm lộn. Mình hiểu theo kiểu tham ái, vì bị cảm thọ dẫn dắt hành, tưởng mà không biết.
Nhiếp phục năm triền cái, thành tựu chánh tri kiến mới hiểu tương đối chính xác kinh, còn mình chưa hiểu năm triền cái đa số mình bị thọ, tưởng, hành, thức kéo lôi trong đó. Hiểu pháp không chính xác nên khó chế ngự các căn, hiểu đúng như thật mới mở cánh cửa giới pháp chánh định. Luôn giữ gìn mắt tai mũi lưỡi thân ý đừng để nó xúc chạm với sáu trần mà sinh ra vọng niệm. Khi ngồi thiền, tâm mình khó định, vì một ngày ngồi thiền có hai ba giờ, còn lại lăng xăng chuyện này chuyện nọ gần như cả ngày. Luôn giữ ý niệm rõ ràng, chế ngự các căn, nếu những giới lớn mình không giữ, khi mình ngồi thiền định nó sẽ làm cho mình hối hận. Lúc sắp vào định, có những sai phạm trước đó, nó hiển bày làm cho tâm mình bị ray rứt, khó vào định. Tam vô lậu học rất tuyệt vời, không phải tự nhiên đức Phật làm ra, đó là trình tự của pháp giải thoát, nó phải vậy, nếu không vậy, nó không thành như vậy.
“Người không có giới, người thiếu giới chánh định đi đến hủy diệt, chánh định đi đến hủy diệt, khi chánh định không có với người không chánh định tri kiến như thật, đi đến hủy diệt.”
Tâm không yên định chẳng thể thấy rõ các pháp, ở đây là pháp trong tự thân tâm do mình thọ, tưởng, hành, thức luân chuyển và dục tham, sân bản ngã trỗi dậy như thế nào dẫn tới vô minh. Dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu mình không thấy, làm sao mình nhiếp phục nó được. Khi tâm không có định tri kiến như thật, nó bị hủy diệt. Tri kiến như thật không có với người tri kiến như thật cái nhàm chán, lìa tham, đi đến chỗ hủy diệt, khi không thấy biết được sự thật. Làm sao mình nhàm chán, không tham muốn nếu như chưa thấy sự thật của sắc, thọ, tưởng, hành thức là vô thường, khổ, vô ngã. Người thiếu tri kiến như thật nhàm chán ly tham đi đến hủy diệt, khi nhàm chán ly tham không có thiếu nhàm chán ly tham giải thoát tri kiến đi đến hủy diệt. Sự thấy biết về giải thoát đó sẽ không còn không thành tựu được. Do mình đâu có nhàm chán mà giải thoát, mình còn ham muốn, tức là mình còn buộc vào không chịu mở ra.
Nếu thật sự hiểu mới thấy thánh quả. Vì thánh quả phá vỡ hết sắc thọ tưởng hành thức, đây là những cái người ta yêu dấu, say đắm, bám chặt, vun bồi, điểm trang. Khi nào nhìn thấy rõ bản chất của nó là hư ảo thì thành tựu thánh trí. Phải hành trì quyết liệt đúng pháp thì mới đi tới con đường chấm dứt sanh tử. Đức Phật nói: “Trong pháp của ta, sự thành tựu chánh trí, thành tựu Niết-bàn không phải cầu may, không phải đột ngột mà đến” từ từ đi vào, từ từ thể nhập đó là một sự thật. Chẳng phải hoát nhiên khai ngộ.
“Này các Tỳ-kheo, ví như một cái cây không có cành và lá, các mầm non của cây ấy không đi đến chỗ thành mảnh gỗ trong giác cây, lõi cây không đi đến chỗ thành mãn.”
Cây không có cành, lá thì mầm non của cây đó làm sao phát triển được. Vỏ ngoài, vỏ trong rồi sau đó mới có giác cây, cuối cùng tới lõi cây, giác cây là thịt của cây ở trong lõi cây là ngay chính giữa như vậy làm sao đi đến chỗ hoàn thành, thành tựu cũng vậy.
“Này các Tỳ-kheo, khi tàm quý không có xấu hổ người không xấu hổ chế ngự các căn đi đến hủy diệt v.v… cho đến chỗ giải thoát tri kiến đi đến hủy diệt”.
Đức Phật nói ngược lại: Khi có xấu hổ thì có sự chế ngự các căn; khi có chế ngự các căn, giới đầy đủ chánh định đầy đủ; chánh định đầy đủ thì tri kiến như thật được đầy đủ; tri kiến như thật được đầy đủ rồi thì nhàm chán, lìa tham đầy đủ; nhàm chán lìa tham đầy đủ thì tri kiến đầy đủ. Ví dụ, ngược lại một cây có cành, có lá, các mầm non của cây đó tốt tươi thì vỏ trong giác cây, lõi cây đi đến chỗ thành mãn.
Nuôi dưỡng tàm quý, xấu hổ để ngăn che lỗi lầm làm cho thiện pháp sinh khởi mạnh mẽ. Thời gian gần đây, mình chiêm nghiệm thấy được từ ‘hổ thẹn’ ‘xấu hổ’. Ví dụ, mình tham ăn, phát hiện được nên dừng là mình có chế ngự. Hoặc như, mình nói hồi nào đến giờ sao mình ham hố nói vậy, phát hiện ra mình có sự xấu hổ trong khẩu nghiệp, dừng lại khẩu hành, rồi đang ngồi thiền mà trong dục khởi thấy xấu hổ, tự nhiên đang ngồi trước Phật điện, trước Tam bảo xấu hổ nhục nhã. Như vậy, phải triệt tiêu dục tham này, từ cái xấu hổ, nhục nhã, tàm quý này nó đưa mình đến gần con đường Thánh. Khi biết xấu hổ như vậy, hôn trầm tan, thùy miên ngủ nghỉ bớt lại, dục tham giảm, sân hận sẽ tiêu trừ. Nuôi lớn hai pháp này lên tàm quý, ăn ngủ mình cũng thấy xấu hổ. Vì đức Thế Tôn ngủ hai ba tiếng trong ngày còn mình ngủ sáu bảy tiếng còn chưa đủ, tới giờ thiền không phải giờ ngủ sao nó ngủ hoài, xấu hổ nhục nhã quá, đánh tan nó, mỗi khi mình buông lung phóng dật, cười nói, giỡn, chuyện tầm phào lúc đó mình nhìn thấy nhục nhã quá, xấu hổ quá. Vì bản thân thiếu tinh cần, chưa tinh tấn, không chánh niệm tỉnh giác. Trong tâm dấy lên bao câu hỏi ‘tại sao mình để cho thân khẩu ý không chế ngự, không tinh cần, chẳng điều phục nó’. Thế rồi, lúc nào mình cũng nhớ hai chữ hổ thẹn. Dục khởi lên mình thấy xấu hổ, sân vừa có, lập tức biết xấu hổ, tham vừa niệm phải thấy rõ nỗi xấu hổ này. Bản tâm luôn để trong chánh niệm thì sẽ chế ngự, diệt tận được những lệch lạc, sai trái, dễ mắc lỗi về giới hạnh.
Bát Chánh đạo là kim chỉ nam của đường tu. Khi làm việc cũng vậy, nếu làm một cách qua loa cẩu thả, hãy biết xấu hổ vì gian dối. Thường quán chiếu sâu sắc, có khi mình ăn đâu có qua loa ăn mà ăn là cho no, nhưng làm lại cẩu thả. Có người thì mình dễ dãi, buông lung, lại có người thì mình khó khăn quá mức. Vậy mà quên đi cái xét nét cho chính bản thân. Mình tu cho người ta nhìn hay tu cho mình, phải đặt câu hỏi này trong đầu thường xuyên để nhắc nhở nó, đánh thức nó, làm cho nó không ngã mạn.
Luôn xoay lại những ác niệm thành thiện niệm, ngày một ngày hai nó lơi dần, giảm bớt và sẽ tan ra để cuối cùng thuần khiết là thiện niệm. Đã xuất gia mà còn ác niệm thì mọi người xung quanh nhìn thấy sẽ rất nhục, ngồi một mình soi tâm thấy tệ hại, đau đớn biết mấy cho những ý niệm tà vạy, sai lầm, mê muội. Hạ thủ công phu để tà nghiệp ấy không thể sinh khởi, chẳng nên có mặt, phải lau sạch, xóa hết để tư tưởng, thân tâm này trong trẻo trở lại như xưa (xưa nay không một vật – Lục Tổ Huệ Năng). Thiện pháp không đâu xa, từ chuyện đi đứng ngồi nằm, ăn mặc ngủ nghỉ, nói nín động tĩnh, học hiểu hành trì và phụng sự.
Chẳng những biết hổ thẹn, xấu hổ mà còn biết nghĩ tới điều sợ hãi. Tại sao phải sợ hãi? Ở đây, sợ hãi từ những lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận học pháp, giữ gìn trong giới bổn. Bài kinh hữu học là tuần tự tu trì của người xuất gia. Người tu nên luôn sợ tội, sợ nghiệp, sợ quả báu, sợ làm cho tâm mình phát ra sợ mỗi khi người khác nghĩ gì, nói gì sai chánh pháp, sai với giới, sai với hạnh của người tu. Do vậy, bản thân tự làm cho mình phát sanh cảm giác sợ hãi. Ví dụ, giờ ngồi thiền mình ngủ gục, điều đó vừa xấu hổ lại nhục nhã và sợ hãi vì điều bất thiện pháp này, nó khởi lên sân là bao nhiêu cái ngã mạn, bản ngã, quán chiếu mạnh lên, pháp sợ hãi rất hiệu quả.
Quán chiếu sợ hãi phải sợ chết, sợ bệnh, sợ mình xảy ra tai nạn, sợ những bất thiện pháp, sợ phiền não, vô minh, dục ái, sân, luôn phòng ngừa nó, thấy nó manh nha là lạy Phật, lạy khóc lên làm phát sanh cảm giác nhục nhã xấu hổ, tội lỗi, làm cho kinh tởm ác pháp trong người mình. Quán chiếu đẩy ra những bất thiện pháp, cảm thọ cảm giác tội lỗi, không dung chứa, chẳng tiếp tục tăng trưởng, kế đó là cung kính.
Kinh Không cung kính, Tăng Chi Bộ Kinh, tập 2, trang 325:
“Này các Tỳ-kheo, không cung kính, không thận trọng, không sống trong tương hòa với các vị đồng phạm hạnh sẽ làm cho viên mãn thắng hạnh pháp, sự kiện này không có xảy ra”.
Cung kính đem lại rất nhiều sự lợi lạc. Có cung kính thì thiện pháp thường còn, người không cung kính mất hết thiện pháp. “Nếu Tỳ-kheo không cung kính, không thận trọng, không sống tương hòa, tức là hài hòa với bạn đồng tu, làm cho viên mãn thắng hạnh pháp là sự kiện không thể xảy ra viên mãn”, thắng hạnh pháp là hạnh lành, thù thắng, tốt đẹp được tròn đầy, không bao giờ có người không có cung kính.
Đối với một người cư sĩ, tăng sĩ mình cũng không dám xem thường, thỉnh thoảng mình cũng bị thất niệm, nhưng thường nhanh chóng quay trở lại chánh niệm, xấu hổ vô cùng! Vì từ ông già bà cả cho đến đứa con nít thích mến, quý đạo tràng, chùa mình ở nên họ tới, cũng đều có nguyên do, nhân duyên cả. Tôn trọng người, là chuyện bên ngoài, còn trong đây là thắng hạnh pháp làm cho mình tròn đầy hạnh tốt đẹp.
Người không thận trọng làm sao viên mãn được thắng hạnh pháp, thận trọng là một trong những điều kiện rất quan trọng của Thiên chủ (Vua Trời). Trong kinh ví dụ con sư tử bắt con thỏ hay bắt con hươu giống hệt nhau, thậm chí nó bắt con voi vừa tầm. Nó ra sức y hệt nhau chứ không xem thường con thỏ, nó muốn bắt con gì là nó dùng toàn lực. Vậy chúng ta có toàn lực trong thận trọng và công phu tu tập hay chưa?
Trong kinh ví dụ, người tu trí huệ nhạy bén tinh tấn lực phải giống như vậy. Hành giả không thận trọng không được, dù cho đó là pháp thế gian. Vừa thận trọng lại vừa cung kính thì rất tuyệt vời.
Tại sao vợ chồng người ta không có hạnh phúc? Khi chưa về ở với nhau thì đối đãi rất vui, tử tế, giữ mình nhưng về ở chung nhà thì bắt đầu không còn thận trọng nữa. Ngày trước nói chuyện dè dặt từng câu, từng chữ; mỗi hành động, cử chỉ đều rất cung kính, thận trọng, nhưng bây giờ thì muốn nói thì nói, muốn làm cứ làm chẳng còn cung kính hay là thận trọng gì nữa. Trong khi đó, ra ngoài đường đối xử với mọi người rất tốt, khi về tới nhà, mình đối xử người thân, vợ / chồng / con cái không có tốt như vậy. Thậm chí với cha mẹ mình hay bà con cô bác, mình nói năng hay hành động thiếu sự thận trọng, cung kính. Ở ngoài mình thận trọng nhưng về nhà không thận trọng, tập khí, thói quen xấu bung ra với người trong gia đình.
Ví dụ, mình gặp người đó lần đầu tiên hay khách thì mình nói chuyện rất thận trọng nhưng cha mẹ, người thân ruột thịt lại không thận trọng, cứ thoải mái nói. Cho nên, trong gia đình là chỗ để cho chúng ta phát ra tập khí nghiệp của mình. Chỗ này rất sâu sắc, cần lưu ý. Nên trong kinh đức Phật có ví dụ một hình ảnh tuyệt vời vô cùng, cô dâu mới về nhà chồng rất rụt rè, e thẹn, xấu hổ với cha mẹ chồng, xấu hổ với cô chú anh chị em nhà chồng, thậm chí xấu hổ với người làm vườn giúp việc trong nhà, từng câu nói hành động rất cẩn thận. Sau một thời gian, cô dâu này đã quen với môi trường mới và những tập khí, bất thiện pháp có từ lâu trỗi dậy và bung ra. Cô dâu ấy bắt đầu nói những lời xúc phạm tới cha mẹ chồng, buông thả thậm chí chửi mắng chồng. Đức Phật nói cũng giống vậy, vị Tỳ-kheo mới tu rất cẩn thận, rất xấu hổ khi nhìn đức Thế Tôn, quan sát các bậc trưởng thượng, những bạn đồng học rất cẩn thận, ở trong đó một thời gian không còn cẩn trọng, quên mất cung kính đối với Thầy, bậc huynh trưởng, huynh đệ hay đối với người cư sĩ. Sự buông thả ấy rất nguy hiểm, nếu không quán chiếu lại mình thì lạc nẻo khi nào không hay, trôi về đâu chẳng biết. Giữ được tinh thần đi tu mười năm cũng giống như ngày mình mới đi tu, lúc nào cũng có sự vui sướng, thích thú học pháp, hiểu pháp, hành pháp, không rời pháp.
Nhân viên mới tới công ty làm ngày đầu tiên, tháng thử việc người này rất cẩn thận từng chút một, từ lời ăn tiếng nói, từng cử chỉ. Nhưng nhân viên ấy được nhận vào làm chính thức thì mấy năm sau bắt đầu người này sỗ sàng, thậm chí phản ảnh sếp, nói xấu sau lưng sếp.
Chính bản thân Minh Thành ở trong chùa lâu năm nhìn thấy những người xuất gia không tu hành, thiếu chánh niệm tỉnh giác, chẳng thực tập pháp này, còn tệ hơn lúc chưa đi tu còn là cư sĩ hiền thiện, dễ thương, dễ mến, dễ dạy, dễ nói, dễ bảo. Do vậy, cẩn thận và cung kính không chỉ là buổi đầu, chẳng phải là với người ngoài, đối tác, công sở, trưởng thượng, chốn già lam mà với người thân trong gia đình, ông bà cha mẹ, anh chị em càng phải cung kính, thận trọng. Sự đối đãi giữa mình với người lúc nào cũng như buổi ban đầu thì mới hun đúc, tôi rèn thiện pháp trong mỗi hành giả ngày một tươi tốt. Vườn hoa chánh pháp ngày một nở rộ.
Sống không tương hòa với các bạn tu của mình thì không được, nếu như vậy vị ấy làm cho viên mãn hữu học pháp thì sự kiện này không thể xảy ra. Viên mãn hữu học pháp, hữu học pháp là tứ niệm xứ, tứ chánh cần, tứ như ý túc, ngũ căn, ngũ lực, thất bồ-đề phần. Tứ thánh đế đó là pháp hữu học, pháp cần phải học để hành trì đúng như vậy rồi sẽ đi tới chỗ vô học A-la-hán. Bây giờ chúng ta trong địa vị hữu học, cần phải chăm bồi đạo làm người, đạo xuất thế gian, giữ gìn oai nghi tế hạnh, luôn biết xấu hổ hổ, sợ hãi để rèn giũa cho viên mãn ba mươi bảy phẩm trợ đạo.
Không làm cho viên mãn các giới luật, mà vị ấy sẽ làm cho viên mãn chánh tri kiến, sự kiện này không thể xảy ra.
Không có chánh tri kiến thì không thể nào làm viên mãn chánh định được, tại vì không có chánh tri kiến sẽ không thấy rõ ngũ uẩn, Vô thường, Khổ, Không, Vô ngã. Không thấy được năm uẩn là không phải mình, làm sao mình định viên mãn được. Nếu bên trong còn dục, còn tham, vô minh, chấp ngã làm sao có sự viên mãn chánh định được. Do vậy, cần cung kính.
Đừng nghĩ rằng người xuất gia thì không phải quỳ với cha mẹ, ông bà cô bác. Đó là hiếu, là chân thành pháp môn, là cung kính để dung chân tâm mời gọi mọi người quay về nương tựa Phật, quay về nương tựa Pháp, quay về nương tựa Tăng. Cho nên, Minh Thành quỳ với người thân để báo đáp ơn tình cao trọng của sinh thành dưỡng dục. Phải chịu khó bỏ những tiểu tiết để làm những chuyện lớn về sau. Dần dà đưa họ vào dòng pháp, đó là báo ân, tại vì những người đó là ân sâu nghĩa nặng với mình, chuyện đó mình làm rất xứng đáng không có gì sai, đó là cung kính. Chúng ta thực tập từ trong kinh ra.
Hiện nay, có một số chú tập sự xuất gia nhưng chưa chú ý tập luyện pháp cung kính, cần chú ý để học cho thuần thục, đốn ngã cái cao ngạo, ngã mạn của bản thân. Từ đó mới sanh ra phước đức trí huệ. Thường xuyên chiêm nghiệm và quán chiếu pháp cung kính với mọi người từ người lớn đến con nít, không phân biệt, để phá bản ngã. Muốn vậy, mình quán chiếu bất tịnh quán, quán bộ xương xong tan ra thành tro bụi, sau khởi ý niệm về cái tôi để quán tưởng, sử dụng Như lý tác ý đập vỡ nó, bắt nó phải quỳ lạy đối tượng trong tâm, mình cho là ta đây bất kính, lạy mười lạy, lạy mười tám lạy, lạy cho tan sáu căn sáu trần sáu thức, lạy để phá hết mười hai xứ, mười tám giới, lạy làm tiêu hết tham sân si mạn nghi ác kiến, biên kiến, tà kiến, chấp kiến, kiến thủ.
Chúng ta lạy Phật năm vóc sát đất, lạy bằng tâm cung kính, niệm thường xuyên câu xin lỗi, nên bên trong trí huệ ngút trời, bên ngoài sự khiêm cung tận cùng với mặt đất. Nhưng sự nhu thuận, nhu nhuyến bên ngoài mềm mại như dòng suối thì mới được, chứ không phải mềm mà yếu xìu, cũng không phải cứng như đá, tùy lúc uyển chuyển theo hạnh, pháp thiện xảo để mình tu tập quán chiếu.
Như vậy, trong hành giả luôn có đủ sắc thái, bước tới như lửa hừng thiêu kiết sự lớn nhỏ, có lúc mình như ngọn lửa rực cháy tất cả phiền não mình đốt hết, luôn luôn bước tới tuyệt đối không dừng lại. Bước tới thiêu bản ngã, vì nó là khốn khổ và hoạn nạn, cản đường tu, không tiến được, chẳng thể thành tựu đạo nghiệp. Vì nó nói nó biết rồi, nó hiểu rồi, nó không cần biết thêm, mình phải phát hiện ra lúc nó vừa khởi lên, dù đang nghe pháp nó cũng khởi lên, đang làm việc nó cũng khởi lên, đang ăn cơm nó cũng khởi lên, đang ngủ nó cũng khởi lên, nằm chiêm bao nó cũng khởi, vô ngồi thiền nó cũng khởi. Sự xuất hiện của nó dày đặc, bao trùm nếu thiếu chánh niệm lập tức sập bẫy mồi của nó ngay.
Dùng chày kim cang lực sĩ đập nó nát ra thành bụi, bắt nó quỳ lạy, lạy ai vậy? Lạy Phật, lạy Tổ, Hiền Thánh, lạy Thầy, huynh đệ, chúng sanh,… lúc nào mình nghĩ hình ảnh mình cũng thấy nó gục đầu xuống thật tâm lễ lạy, cung kính. Mỗi khi nó hiện hình bóng tự ngã, sắc tưởng về cái tôi, đừng cho nó ngẩng mặt lên tự đắc, bản ngã này rất ghê, nó còn dữ dội hơn dục tham. Vì dục tham thiệt thà, có là mình thấy hết cắt là thôi, còn bản ngã nó ma mãnh, tinh ranh, mưu mô xảo quyệt ẩn trú trong thân tâm này. Nhưng thất niệm là quên, bị đọa ngay. Do đó luôn tinh cần, tỉnh thức, giữ được bình thường là pháp.
2. Diệt trừ phiền não
“Chén trà trong hai tay
Chánh niệm nâng tròn đầy
Thân và tâm an trú
Bây giờ và ở đây.”
Mỉm cười nhè nhẹ, cảm nhận được sự an tịnh thở vào thở ra, cảm giác toàn thân thật là an tịnh, giây phút này rất mầu nhiệm, trang nghiêm, vì mình đang quay trở lại soi rọi bên trong tâm. Sống trọn vẹn ngay đây như đang là. Mặc cho ngoài kia xôn xao, dưới phố đang rộn ràng, chúng ta từ bỏ tất cả phiền lụy đi vào cảnh giới thanh tịnh, gần với thiên nhiên, nghe pháp vị ngập tràn trong mỗi hơi thở huynh đệ tương ưng với Tam bảo trong giờ phút hiện hữu giữa núi đồi này.
Chúng ta bị thói quen đi tìm thú vui ở ngoại cảnh, dễ bị lệ thuộc vào ngoại cảnh, sự tu tập là trở về nhìn lại thân tâm của mình ngay trong giây phút hiện tại, nhìn nhận trở lại, cảm nhận lại.
Làm thế nào diệt trừ được phiền não?
Tất cả chúng ta tu học Phật pháp để mong cầu an lạc giải thoát và không phiền não. Đầu tiên, mình phải biết phiền não là gì? Ở chỗ nào? Nếu mình không biết nó, làm sao nhiếp phục, chuyển hóa để chấm dứt nó được.
Phiền não là làm cho mình buồn phiền, lo lắng, đau khổ, mình không muốn mấy cái đó, phải giải thoát ra khỏi nó. Cũng giống như mình bị trói, nay được tháo mở được gọi là giải thoát. Cái gì buộc, cột ta? Cái buồn nó buộc, cái giận nó buộc, cái tức nó cột, cái tham muốn làm cho mình khổ, cái si mê tăm tối làm cho mình lo lắng sầu đau. Bây giờ mình mở ra được những tên ma phiền não đó, tức là thoát ngục, thấy khỏe nhưng quý vị phải biết phiền não nằm ở chỗ nào mới là điều quan trọng.
Nóng giận nằm ở đâu?
Khi có ai làm cho chúng ta bực mình, lúc đó cảm giác mình thay đổi, sân giận nằm trong cảm giác. Nếu mình tu mà chưa thấy sự thật bản chất phiền não ở chỗ nào thì mình không thể trị nó được. Nếu đã phát hiện nó thì phải trị tận gốc nó mới không phát sanh khi có dịp.
Ví dụ, giữa đám đông, khoảng năm mươi người mà nói ‘tôi đi kiếm bà Xoài đòi tiền’, nhưng lại không biết bà ở đâu, mặt mũi ra làm sao thì không thể đòi tiền được. Phải biết những thông tin cơ bản, chính xác về bà Xoài, tên tuổi, địa chỉ nhà, số điện thoại, làm việc, thường hay lui tới những đâu, mối quan hệ xã hội,… Cũng vậy, ta cứ nói đánh giặc phiền não, diệt tận tham sân si nhưng lại chẳng biết mặt mũi, hình dáng, biểu hiện của chúng thế nào thì khó mà chiến đấu với chúng được. Cuối cùng là mình đánh vào không khí, đánh vào cái bóng vô minh, đen tối, điên đảo, mê lầm.
Nổi giận thì cảm giác bị biến động, chuyển đổi tùy theo mức độ giận. Nếu giận vừa phải thì ở lồng ngực trước ấm nóng lên khi vừa khởi lên cơn giận. Có thường trực xoay lại nhìn nhìn cảm giác mới rõ biết điều này. Vì lúc giận thì chúng ta đang hướng ra ngoài, có ai kịp nhìn lại bên trong, quán chiếu vì nó đang bung trào ra mà. Giận mạnh hơn,ấp độ cao thì nó bừng bừng đỏ trên gương mặt, lỗ tai đỏ, cả hai mắt đỏ. Tất cả sự giận dữ đó là một chuỗi dài của cảm giác ngay trong thân của mình. Hành giả chú ý, nhìn thấy kỹ nó phát tán ra chỗ nào mình thấy rõ, mình nhận biết cảm giác toàn thân để một khi mình có nóng giận hay tham muốn, ganh tỵ mà có thay đổi cảm thọ là thấy được liền. Khi thấy rõ về cảm thọ thì điều phục ngay cơn giận ấy. Nó sẽ không có cơ hội chiếm ngự, làm mệt thân tâm mình.
Người tham ăn, cảm giác nằm trong chỗ thức ăn, hương vị món ăn, nhìn thấy món ăn và ăn nhanh, gắp lia lịa, húp cho mau để còn ăn tiếp, húp tiếp món súp khác… Cảm giác đánh lừa tất cả. Đức Phật không phải vô duyên vô cớ dạy mười sáu hơi thở trong kinh Niệm hơi thở hay kinh Tứ niệm xứ, cảm giác toàn thân rất quan trọng, luôn luôn nhìn lại cảm giác của mình để biết hiện tại đang diễn ra sao và sống trọn vẹn tỉnh thức như đang là.
Có ba loại cảm giác, dễ chịu, khó chịu, không khó chịu không dễ chịu, mỗi ngày chúng ta thường xuyên gặp gỡ chúng, sống với chúng, bị chúng áp đảo mà quên, vô tâm chẳng chủ động xoay trở nên thành thói quen, đó là điều nguy hiểm, nó tạo thành nghiệp dẫn mình đi trong luân hồi sanh tử mà mình không hay. Chẳng hạn, mưa thì dễ chịu với người này nhưng khó chịu với người kia; nắng thì khó chịu với chỗ này nhưng lại dễ chịu với chỗ khác; phòng máy ạnh thì thoải mái với người này nhưng dị ứng với người kia và người nọ thì thấy không vui không buồn. Mọi hiện tượng, sự vật nó diễn biến đều đặn bình thường nhưng do cơ thể, cảm giác và thói quen hằng hữu của sự cố chấp, chúng ta dễ bị chết trong cảm giác. Khắp người trong thiên hạ đều đi tìm cảm giác, chỉ vì một chút cảm giác vui thích kia mà đánh đổi rất nhiều thứ, từ tiền tài, danh vọng đến thân mạng,… người đời là vậy còn người tu cũng không khác, nếu không khéo nhiếp tâm, điều phục cơn nóng giận, rõ biết cảm giác đang dấy khởi vì một yêu thích, nắm níu thì chết.
Bình thường 4 giờ sáng thức dậy tụng kinh hay ngồi thiền, hôm nay 3 giờ 45 phút thức dậy, cảm giác lạnh trong tâm mình bắt đầu nói, ‘thôi, nằm thêm chút nữa, hồi hôm thức khuya’ đó là tiếng nói của nó, vậy là ngủ quên thời công phu tới sáng bét mới dậy nổi. Ma ngủ đánh sập rồi. Hoặc như, mình làm điều gì sai mình biết là sai, nhưng trong đó nói cái này chút chút không sao đâu cái lớn mới có sao nhưng tại cái chút chút đó đưa mình tới cảm giác dễ chịu. Ví như, một tháng ăn chay sáu ngày, mình nhớ rõ ngày đó là ngày ăn chay nhưng bạn mời tiệc nhiều món ngon. Ngay đó không nhìn lại cảm giác sẽ dễ dàng thỏa hiệp trong việc xả chay, ăn mặn trong ngày ăn chay mà mình đã quy định. Cũng vì cảm giác mà ngày xưa hai người để ý rồi đến với nhau thành vợ thành chồng, sau này lại cũng cảm giác mà nảy sinh hờn ghen, giận và muốn bỏ nhau. Hoặc như, ngày trước thường đền chùa công phu cùng quý thầy, mến cảnh, tôn kính Tam bảo rồi quyết định xả bỏ ngôi nhà lửa đến với ngôi nhà xất trần, lập chí xuất gia dõng mãnh. Một thời gian vì cảm giảm của tuổi trẻ, của nhưng mắt xanh môi đỏ bên ngoài, lời ngon tiếng ngọt rồi lại bỏ chùa, bỏ thầy mà đi theo tiếng gọi của cảm giác dục khởi. Đường đời không xong, đường tu cũng chẳng trọn, thành ngư đứng giữa ngã ba đường mặc tình cho gió bụi cuốn vào. Sự tu tập là luôn soi sâu xét kỹ lại thân và tâm của mình không có gì khác. Bởi, tất cả sự tu hành hiểu thân tâm mình tới tận cùng thì thành Chánh Đẳng Chánh Giác, A-la-hán chứ không phải tu là hướng ra ngoài.
Thực tập ngũ uẩn, phần sắc quý vị dễ nhìn thấy, còn phần thọ tưởng hành thức thì có khó hơn. Chúng ta đào sâu suy nghiệm để hành trì về ngũ uẩn sẽ phá dần bản ngã, đánh sập những tà kiến để đi đến bước đường thong dong tự tại của không có cái gì là tôi, của tôi.
Chẳng hạn, đi đường vắng ban ngày không sao nhưng đi đêm lại bắt đầu sợ này sợ kia, nghe âm thanh của chiếc lá, tiếng lao xao của cành cây, bóng sáng nhòe nhoẹt của đêm trăng khuyết cũng làm mình sinh khởi bao nhiêu vọng niệm, tưởng tượng đủ thứ nên sợ. Chính mình đang nhát ma mình. Tưởng làm cho chúng ta đau khổ nhiều.
Ví dụ, mọi khi chị A này thân thiện vui cười khi tiếp xúc với mình, nhưng hôm nay mình đi ngang chị A không nhìn, chẳng thèm quay lưng cười xã giao. Vậy là mình dấy khởi bao nhiêu tư tưởng, rồi từ đó giận, hành trong tâm nó nói ‘nay sao chị A kỳ quá ta, không biế có điều gì buồn giận hay hiểu lầm mà không nói với mình câu nào’. Tâm khởi bao nhiêu thứ trong đó, lăng xăng tưởng tượng tuôn trào, nó đang dệt vẽ làm cho mình khổ đau.
Chẳng hạn, ông xã mình mọi ngày sáu giờ chiều đã về tới nhà, nhưng hôm nay tới chín giờ tối mới về. Lúc đó, cái tưởng mình hoạt động đủ thứ chuyện. Nếu không tỉnh giác với cái tưởng này rồi dệt ra, liên tưởng mộng ảo thì tình cảm vợ chồng bị rạn nứt, hao mòn, hoài nghi, thậm chí đổ vỡ. Khi hiểu ra chuyện là do bữa nay trong công ty có người bị đột quỵ, ông đưa người ta vào bệnh viện, lo thủ tục, chăm sóc sức khỏe đồng nghiệp nên về trễ. Vợ chồng cần cảm thông, tìm hiểu mọi nguyên nhân rồi mới quyết định đúng sai, đừng vội quyết định là cho mình đúng vì lúc đó chỉ là chạy theo tưởng tượng mà nó không phải là sự thật đã và đang diễn tiến.
Hoặc như, từ xa đã thấy bạn gái mình đang vỗ vai cười nói tay nắm mặt mừng vui vẻ với một thanh niêm lạ, mình đã đùng đùng nổi giận, tưởng tượng chắc là bạn trai mới hay là bồ cũ của cô ta, chạy nhanh tới định làm những chuyện cho ra lẽ, khi tới nơi, cô bạn vui vẻ chỉ với mình là đó là em trai ở quê mới lên chơi. Bao nhiêu suy nghĩ sai, biến mất và mình kịp dừng chứ không thì đã sai lầm, mê muội chạy theo tưởng uẩn. Cũng vậy, trên bước đường tu cẩn thận, học, hiểu, hành trì và hoằng dương chánh pháp là điều không phải dễ, phải thực tri liễu pháp. Đức Phật nói khác nhau giữa tưởng tri, tuệ tri và thức tri. Ba cái này khác nhau, đó là biết bằng tưởng, biết bằng thức và cái biết bằng tuệ.
Chúng sanh biết bằng cái tưởng, không có sự thật, thức là sự nhận thức tri thức, kiến thức, học thức, thức này cũng không đúng. Vì có trường hợp nó đúng, có trường hợp nó khác nên học thức nó cũng chưa đúng mà biết bằng trí tuệ là biết đúng sự thật bản chất, hiện tượng của sự vật, sự việc đó, gọi là tuệ tri (biết bằng trí tuệ).
Có lần, Minh Thành đi xe từ Thành phố Hồ Chí Minh lên núi Linh Quy Pháp Ấn. Trên đường đi mưa rất to, mấy chú đi chung xe mới nói ‘chết rồi!’. Minh Thành nói ‘sao chết?’. Mấy chú đang tập tu mới nói ‘mình đi về núi tối không có đèn pin, không có đèn đường, không có dù hay áo mưa, đường sình bùn trơn trượt lại nửa đêm’. Mình mới nói rằng ‘chưa có chết, mưa đang ở Thành phố chứ chưa mưa tới núi Linh Quy, mà chúng ta cũng chưa đi tới núi làm sao biết là mưa ở đó có hay không’. Khi tới núi Linh Quy không có mưa, thành ra chỗ mình khổ một phần rất lớn là do cái tưởng của mình. Thiếu phút giây tỉnh thức chánh niệm, cảnh giác tự thân, sẽ khó thấy rõ được thực tế, nên không có bình tâm, thiếu định lực, chưa sinh ra tuệ giác. Do tưởng vận hành và mình mình nó lôi đi.
‘Hành’ là những suy nghĩ của mình làm cho nó loạn hết, một chuyện gì mình rối loạn lên lúc đó không bình tĩnh, thiếu sáng suốt, chẳng còn thấy rõ. Việc rõ biết hiện thực ngay trong hiện tại nó đang diễn ra rất quan trọng. Phải sống trọn vẹn, tự nhiên và chánh niệm tỉnh giác. Chuyện đâu còn có đó, bình tĩnh thì thấy rõ vấn đề, còn loạn động tâm trí thiếu tập trung, suy nghĩ sai lệch, làm theo cái hành không đúng thì mọi việc cũng trở thành dã tràng sẽ cát biển đông nhọc lòng mà chẳng nên công cán gì.
Trọng vụ cháy nổ nếu như chúng ta chưa từng tập dượt về cháy nổ, cũng như thiếu để tâm quán xét tập rèn bình tĩnh trước mọi biến cố thì lúc gặp chuyện sẽ chạy nhảy mất phương hướng, tất cả đều loạn lên và cái chết dẫn đến mau nhất, ngắn nhất. Hoặc, nhiều khi mới chuẩn bị làm công chuyện nhưng lại khởi tâm ý ‘chắc là chuyện này khó, việc này mình không thể làm được, cho qua đi’, đó là tưởng, cứ làm có khi được. Ta biết việc đó là tốt, ý nghĩa thì cứ dấn thân làm.
Chúng ta bình tĩnh, đưa tâm trở về hơi thở, nhìn lại rõ cảm giác của mình, nhìn rõ cái tưởng trong tâm của mình đừng có để cho nó dẫn mình đi tới chỗ mê đạo, mê là con đường lờ mờ.
Hành giả tụng Tâm kinh bát-nhã thấy biết Ngài ‘Quán Tự Tại Bồ-tát chiếu kiến ngũ uẩn giai không độ nhất thiết khổ ách’ thuộc lòng nhưng không có chiếu. Chúng ta hành trên văn nghĩa chưa thật sự đi vào hành trì tự thân tâm nên dễ hý luận, rất nguy hiểm!.
Hành là những lời nói thì thầm suy nghĩ trong nội tâm, những lời này rất nguy hiểm, nó cũng đưa mình tới thiện pháp hoặc đưa mình tới bất thiện pháp, cũng có khi đưa mình tới bát chánh đạo hoặc bát tà đạo, phước đức hoặc tội lỗi tạo nghiệp cũng do hành này mà thành.
Ở núi, có một loại trái cây rất đặc biệt, sầu riêng ở đây không thuốc không phân không tưới, khi khui ra đúng mùa để múi sầu riêng vào miệng vừa thơm, vừa ngon, vừa béo, vừa bổ. Vậy trái sầu riêng này có dính dáng tới việc chúng ta đang nói? Có. Khi Minh Thành nói về trái sầu riêng, trong tâm quý vị có hình bóng trái sầu riêng đó là sắc tưởng, sắc tưởng là những sự vật mình thấy rồi, căn cứ trên cái thấy biết nên khi nói về chúng thì mình tưởng trở lại, nó là những hình bóng thuộc về sắc; khi nói trái sầu riêng chẳng những thấy trái sầu riêng mà còn khui từng múi ra làm sao, tâm mình hoạt động rất siêu, mình không để ý nên không biết, lúc đó sắc tưởng này hiện lên trong tâm.
Tại sao có hình bóng trái sầu riêng? Đó là thanh tưởng, gọi là thanh trần, ví dụ chúng ta nói ‘me chua’, những ai từng biết cây me, trái me, ăn me thì sẽ cảm nhận như là đang ê hàm răng, nhăn mặt, hai tay ôm mặt và có tuyến nước bọt tiết ra, đó là thanh tưởng.
Âm thanh là thanh trần, âm thanh nói ‘có sự rõ biết âm thanh’, đó là nhĩ thức. Ba pháp giao thoa lại với nhau gọi là xúc, sự tiếp xúc, xúc chạm, giao thoa từ lỗ tai, tiếng rồi có sự rõ biết âm thanh sanh ra một cảm thọ mới. Có ba loại cảm giác, một cảm giác dễ chịu, một cảm giác khó chịu, một cảm giác không dễ chịu không khó chịu. Cảm giác dễ chịu là tham, chẳng hạn khi nói sầu riêng me, lỗ tai, âm thanh, sự rõ biết ba cái này giao thoa với nhau gọi là xúc, xúc này sanh ra thọ, cảm thọ khó chịu thì sân, cảm giác dễ chịu thì tham, cảm giác không dễ chịu không khó chịu thì si, vì si này mình không biết, phải đa văn thánh đệ tử mới biết, thường ngày mình ở trong trạng thái si rất nhiều mà mình không biết, mình tưởng tôi giờ cũng tỉnh táo mà giờ tôi không có cảm giác nhưng thật ra mình đang si.
Vậy phá tham sân si, chuyển hóa phiền não như thế nào? Làm sao để mình phá được cảm giác giận?
Thứ nhất, muốn nhổ luôn gốc phiền não, sân giận phải chịu khó thường xuyên thực tập nhìn lại cảm giác, luôn để ý xem hiện tại mình đang thuộc loại cảm giác nào.
Thứ hai, khi phát hiện phiền não trong cảm giác, tham, sân khởi lên mình biết, cái si hiện hữu mình cũng biết, nhận ra căn cứ địa của phiền não ở trong cảm giác trong cảm thọ.
Thứ ba, dùng Như lý tác ý, tức là mình lấy roi quất con trâu, con trâu ăn lúa mạ người ta, mình lấy roi mình quất tức là mình dùng những lời lẽ trị nó, chuẩn bị giận lên mình nói ‘bộ giận khỏe lắm hả, giận sướng lắm sao mà hở ra là giận?’, chúng ta mạnh dạn đối thoại với cơn giận vì cơn giận nó không phải mình, nó chỉ là cảm giác, nó là một pháp trong thân tâm mình.
Giận rồi đưa tới đâu? Tới khổ đau cho mình, cho người, đưa đến đổ vỡ, ly tán, nước mắt tù tội,… Vậy thì giận này đâu có đáng để nuôi dưỡng. Đức Phật dạy ‘hãy từ bỏ chúng, hãy diệt tận chúng’, bứng gốc rễ nó giống như chặt cây, cau cây dừa không cho mọc lại nữa, chặt cây sa la không cho nó mọc lại nữa. Không chấp nhận nó, vì không phải là mình. Tập luyện thường xuyên rồi nó sẽ từ từ tách mình ra, mình không bị nó làm chủ, sai khiến sẽ dần thành tựu trí huệ.
Lúc trước, mình nói ‘tôi đang giận, đừng chọc tôi’ là mình chấp nhận cái giận đó là mình, nhận giặc làm con. Bây giờ có trí huệ, không nhận giặc làm con nữa, mà lúc giận lên mình nói chuyện với nó, quán chiếu sự nguy hiểm của cơn giận.
Ví dụ, bây giờ có người cầm cái cây đánh mình, mình giận người đánh là không đúng, phải là giận cơn giận, nó mới là thủ phạm thật sự chứ không phải người đánh.
Tham dục cần luôn dè dặt và quán chiếu. Ai đã có gia đình bỗng nhiên một ngày đẹp trời sanh tâm tham dục muốn đi thêm lối tẻ, cảm giác đó mình quán chiếu sự nguy hiểm của nó đưa đến hậu quả, khổ đau, hệ lụy về sau như thế nào? Dùng cây roi đánh nó, dung ý chí lời nói mạnh với nó mới giải quyết được.
Si khó rất khó phá, quán chiếu thấy được rõ sắc thân này là pháp duyên hợp, cảm giác đó là do kết hợp, từ con mắt nhìn hình sắc mới có cái biết, xự xúc chạm này thành cảm giác, cảm giác này không tự có mà do kết hợp. Chẳng hạn, mình đang có cảm giác không khổ không vui nhưng cảm giác đó không phải là mình, mà là cảm giác do phối hợp, lát sau nó chuyển sang cảm giác khác khi gặp trần cảnh. Nó hoạt động liên tục, nên chú tâm theo dõi và điều phục nó, lâu dần sẽ thành thói quen tốt chuyển hóa nỗi khổ niềm đau.
- Dạ, thưa thầy! Con thường ngày tụng Kinh Cầu an nhưng con nghe pháp nói mình không nên mong cầu, tự mình tu mình chứng không mong cầu nguyện; sự thật khi con đọc kinh, niệm Phật con lại xin ân trên Phật Pháp Tăng hoan hỷ, hỷ xả cho con xin thêm phần tha lực để con tu học tinh tấn không giãi đãi, như vậy có đúng trong Phật pháp hay không?
- Bản thân của cầu nguyện không phải là sai, nhưng cầu nguyện như thế nào mới là chánh tín, nếu không mình cầu nguyện trong mê tín mà mình không biết. Chẳng hạn, mình không lo làm ăn, chẳng chịu siêng năng, cố gắng làm ăn mà cứ thắp nhang lễ lạy cầu cho con trúng mánh trúng mối, đó là không chánh tín. Vì không lo nỗ lực làm việc, cầu xin như vậy là mê tín.
Bây giờ mình không tu tập tâm, tâm mình không thường quay lại, để ý nhiếp niệm tịnh tâm mà cầu xin Phật độ cho con nhất tâm bất loạn nhưng lại không chịu niệm Phật chẳng thiền hành. Mong cầu như vậy là mê tín. Cầu nguyện chánh tín là mình muốn có trí huệ thì phải nghe pháp, nghiền ngẫm quán chiếu, mong Phật phù hộ cho con trí huệ sáng suốt đó là đúng. Cầu nguyện là tâm nguyện, ước muốn trong đạo Phật gọi là dục như ý túc, là chìa khóa vàng để mở ra cánh cửa chánh pháp gọi là dục như ý túc, có muốn mình mới tu.
Có người hiểu lầm là dục trong tham dục, không phải, dục mà đưa mình vào tài sắc danh thực lợi là đam mê sa đọa, đó là phiền não khổ đau. Còn ở đây là mong muốn, có khởi ý niệm muốn đó mới đưa mình tới con đường học và hành theo đạo lộ giác ngộ giải thoát. Từ đây mới có phút giây thăng hoa thánh thiện, cho nên cần cắt đứt hết mọi phiền não, những nắm níu, tham chấp, ngã mạn, si mê, ám chướng thì mới phát sinh thăng hoa trí huệ, cái muốn đó phải phát huy. Cho nên, những tư tưởng nghĩ về thiện, về tốt phát huy lớn mạnh lên đừng có sợ, những tư tưởng về ác, về xấu mình dập tắt diệt trừ nó. Phát huy tư tưởng thiện lành đó là tứ chánh cần, sự chuyên cần, nên mình tu phải biết là thế nào là tha lực, tha lực là sức mạnh của Phật của Pháp của Tăng.
Phật chỉ cho mình giáo pháp, con đường, phương cách, Chư tăng là cầu nối giữa Phật Pháp với chúng sanh. Chư tăng thực tập có kết quả, nắm được phương pháp, chia sẻ lại cho mình đó là tha lực, sức mạnh lớn chỉ cho mình thấy biết đường rồi mình phải đi. Khi đã có bản đồ Tam bảo trong tay thì cần nhất là chuyên cần trì chí thực hành cho đúng với phương pháp để chuyển hóa phiền não. Nếu mình không làm cứ ngồi đó lạy hoài cầu hoài cũng không được. Đức Phật có một ví dụ, có người đem hòn đá quăng xuống sông, kêu hàng trăm người đi xung quanh chắp tay cầu nguyện đá ơi đá ơi đừng có chìm hãy nổi lên đi, nguyện như vậy thật là lớn từ sáng tới tối đá vẫn không nổi lên, vì đá nặng nên phải chìm. Do mình tạo nghiệp xấu nghiệp ác đương nhiên nó sẽ rơi xuống. Bây giờ mình đổ dầu hay bơ xuống nước, có nguyên ghè bằng sành đổ dầu để bơ trong đó mình đập ghè sành cho bể đổ xuống song, cái sành thì chìm xuống, dầu nổi, cả trăm cả ngàn người xunh quanh cầu dầu ơi chìm đi đừng có nổi, lạy cầu ngày này qua ngày kia dầu không chìm vì nó nhẹ. Cũng vậy, nhẹ là cái thiện lành, phước báu của mình nó sẽ được đi lên, còn cái nặng là ác cái nghiệp, tội thì đi xuống. Đức Phật chủ trương phải thấy đúng, nghĩ đúng, nói đúng, làm đúng, siêng năng sẽ có kết quả tốt đẹp.
- Có một số cô khi tập thiền bị đau khớp, không ngồi ở tư thế kiết già hoặc bán già được, các cô ngồi trên ghế. Con muốn xin Thầy giải thích cho chúng con ở tư thế nào khi mình thiền đạt hiệu quả nhất?
- Cách ngồi thiền kiết già là tốt nhất, phải tùy theo sức khỏe của mình nữa. Ví dụ, người đó không ngồi kiết già được thì họ không ngồi thiền được sao? Nếu không ngồi kiết già được thì ngồi bán già, bán già ngồi không nổi thì ngồi sao được thì ngồi. Vì bệnh đau nhức nó làm khó mình trong tọa thiền. Cố gắng thôi! Đương nhiên ngồi kiết già là thù thắng nhất, đó là thế ngồi của đức Phật.
Khi mình ngồi được kiết già, thấy thân mình giống như đại hồng chung úp ngược, tư thế này rất vững chắc. Khi ngồi kiết già hàng ma tọa, kiết thường tọa, thế ngồi của hoa sen, liên hoa tọa rất vững chắc nên các bạn trẻ ngồi kiết già rất hay, thế hàng ma rất vững chắc. Do thế ngồi vững chắc mạnh mẽ nên thân ảnh hưởng đến tâm. Lúc này tâm cũng vững mạnh, rất kiên cố, chính vậy mới có sức nhiếp phục phiền não, tham sân si.
Mình dễ bị kẹt trong hình tướng, nghĩ rằng tu phải ngồi cho ra dáng vẻ như vậy như vậy mới là người tu, Phật tử mà không biết ngồi như vậy đang nghĩ cái gì. Cho nên, bây giờ mình không những có hình thức mà phải có nội dung, có số lượng và chất lượng, nếu như hình thức không được thì nội dung vẫn quan trọng hơn. Tu đừng tính giờ, ngồi đừng lo chuyện đông tây mà hãy sống trọn vẹn bằng tâm tỉnh thức và chánh niệm.
3. Trao đổi về việc phá trừ hôn trầm, tham, sân
Trong quá trình tọa thiền thực hành quán chiếu năm uẩn để phá trừ hôn trầm, tham, sân, gần đây một vài hành giả có những thắc mắc như sau:
Một là, khi ngồi thiền và theo dõi hơi thở sẽ có cảm giác khó chịu, gò bó; nếu như mình không để ý vấn đề đó, hơi thở sẽ nhẹ nhàng hơn?
Hai là, khi mình ngồi yên thực tập dễ, còn khi tổ chức khóa tu hay công việc nhiều, sự thực tập của mình rất khó; do mình không có bình tĩnh hoặc là do bề bộn việc rồi mình quan trọng hóa vấn đề, chạy tới chạy lui làm mình cứ nghĩ mình là quan trọng, nên đổ xô vào như người chỉ đạo. Con xin Thầy chỉ cho con phương pháp thực tập?
Ba là, con có nghe được một bản kinh trong Đại tạng kinh Nikàya, để thực tập ngồi thiền cho có kết quả tốt thì vị hành giả đó phải xa lìa được lợi dưỡng, sự cung kính, sự tán thán; nếu như ngồi thiền mà còn bị vướng ba vấn đề vật chất, danh lợi và cung kính của trần thế và sự giao tiếp của trần thế, con nghĩ là mình không thể nào ngồi thiền được; nếu có ngồi đi chăng nữa, cũng là ngồi với sự gò bó ép buộc, còn thực tập không có được. Con có nghe Hòa thượng thượng Trí hạ Quảng nói mình thành tựu được giới định tuệ, từ đó có oai nghi, mình thực tập thiền mới có kết quả?
Bốn là, khi thực tập hơi thở được một chút xíu là con ngủ, nếu những người tu theo pháp môn Tịnh độ, họ vừa niệm Phật, niệm miên man hết một thời khóa được; con thực tập như vậy. Sau thời gian con nghe pháp, Ngài dạy cách nhìn nhận vào tâm hành, là những suy nghĩ của mình, như vậy mình biết khởi lên cái gì mình nhận diện cái đó thì tự nhiên nó tan biến. Sau khi con học xong mười hai món tâm sở, món tâm sở nào khởi lên mình ghi nhận điều đó, không phân biệt, vì mình tác ý nhiều là phân biệt mà phân biệt là còn vô minh. Xin thầy chỉ dạy?
Chúng ta cùng giải quyết những hoài nghi trên.
Mình để ý hơi thở thấy hơi khó chịu, nếu mình không để ý thấy thoải mái là tại vì tâm của mình nó không có chịu sự điều phục, nó muốn cho thoải mái, đó là chúng ta đang bị rơi vào cảm thọ. Huynh đệ nắm vững trí năm uẩn này sẽ thấy rằng mình quanh quẩn trong năm uẩn không ra khỏi.
Bài kinh Dây thừng, đức Phật ví dụ giống như con chó bị buộc vào dây cột, con chó đi đứng ngồi nằm nó sủa, làm cái gì cũng chỉ loanh quanh cây cột mà không thể nào đi ra khỏi. Cũng vậy, tất cả chúng sanh bị chấp thủ trong năm uẩn, toàn bộ thế giới này sống trong năm uẩn. Chính là thế giới của sắc, cảm giác, các tưởng, những sự suy nghĩ và của nhận thức rõ biết. Năm uẩn bao trùm cả thế giới thân tâm nên chúng ta cần thường xuyên quán chiếu trí năm uẩn. Khi nào thành tựu trí năm uẩn, huynh đệ thành tựu được trí khắp thế giới. Lúc đó, hành giả mới thấy được giá trị của bài bài Tâm kinh. Tại sao ‘chiếu kiến ngũ uẩn độ nhất thiết khổ ách’, có thực tập mới thấy; đại đa số chúng ta bị rơi vào trong cảm giác, mình muốn cảm giác thoải mái, rồi bị cuộn vào trong cảm giác mà mình không biết.
Chúng ta đừng có khởi ý rằng cảm giác sung sướng được ăn ngon, được ở nhà đẹp, khách sạn, máy điều hòa cao cấp hay là được đi chơi, mặc sức mua sắm… mà đâu hay ta đang châm ngòi, làm nền tảng sâu dày thêm cho năm dục tăng trưởng, bén rễ sâu chắc khỏe. Vì năm dục trưởng dưỡng mình mới thấy tham, nếu không tham, chẳng mong cầu thì không có chỗ nương náu của năm món dục này.
Ngũ dục là năm sự ham muốn, là năm thứ dục lạc của trần cảnh nên cũng gọi là Ngũ Trần.
1. Sắc dục: Ham muốn sắc đẹp, ưa thích tướng tốt.
2. Thinh dục: Ham muốn tiếng hay, dịu ngọt….
3. Hương dục: Ham muốn mùi thơm ngạt ngào….
4. Vị dục: Ham muốn đồ ăn, thức uống ngon ngọt…
5. Xúc dục: Ham muốn sự đụng chạm mềm dịu….
Lại nữa, ngũ dục còn có năm thứ sau :
1. Tài dục: Ham muốn của, vàng ngọc.
2. Sắc dục: Tham sắc đẹp mỹ miều.
3. Danh dục: Tham muốn địa vị cao sang, tiếng tốt.
4. Thực dục: Tham muốn thức ăn ngon nhiều.
5. Thùy dục: Tham muốn ngủ nghỉ nhiều.
Huynh đệ nhìn sâu vào cảm giác mới thấy rằng tham, sân và si liên tục vận hành, không có lúc nào ngừng lắng. Để lòng nhìn ra ngoài thì nó bao vây, cột tâm soi lại bên trong thì nó cũng chẳng chừa.
Do nghiệp mà chiêu cảm các tùy miên. Vì tham nên có tham tùy miên, vì sân nên có sân tùy miên, vì vô minh nên có vô minh tùy miên. Tùy này là đi theo, miên là miên man, miên man là lúc nào cũng có mà mình không thấy. Bởi, chúng ta chưa thành tựu trí huệ nên chưa thể thấy được. Tưởng đâu lúc phát ra đỏ mặt tía tai mới sân, đó là của phàm phu, vô văn phàm phu, cái sân đó không tu cũng thấy; nếu sân giống vậy cần gì mình tu. Chẳng hạn, mình thấy nóng nực một chút trong lòng đã thấy bực, khi mình đi ngoài nắng 39 độ C, lúc đó mình thấy khó chịu, đó là bình thường, lẽ đương nhiên, đức Phật hay các bậc A-la-hán cũng giống vậy, tức là biết rõ sự nóng bức ngoài trời, có sự không thoải mái trong cơ thể nhưng họ không sinh tâm bực tức hoặc phiền não, chỉ trích, vì họ biết đó là lẽ tự nhiên. Ngược lại, chúng ta sẽ sanh tâm không vui, nắng mưa cũng làm ảnh hưởng tâm tánh, tiếng ồn cũng làm cảm giác khó chịu, tất cả tác động đến mình thì mình đều muốn phản kháng, triệt tiêu nên sanh ra bao lụy phiền, đó là sân tùy miên, sân nó đi theo miên man trong thọ tưởng hành thức, trong cảm giác.
Khi hành giả ngồi thiền bị ngủ gục do mình trong cảm thọ êm ái, cảm thọ buông xuôi bó buộc khi nào không hay, sự tinh tấn, nỗ lực, nhiệt tâm, tinh cần tỉnh giác đã biến mất. Phải thường xuyên chú tâm thực tập Tứ chánh cần, đừng chỉ học qua lý thuyết rồi thôi. Pháp của Phật là để hành trì. Nếu không kiên trì vượt qua những cảm giác trì trệ, lờ đờ sẽ khó có những bước ngoặt trên bước đường tu hành. Vì mình nhắm mắt, nên sinh ra trạng thái lờ đờ; tuyệt đối không nhắm mắt, cảm giác thật mạnh ở vùng mắt, nhận biết thật rõ trước mặt, mở rộng sự thấy biết ở trước mặt hết mức có thể được, nhãn thức mở rộng sáng tỏ thì mình trị được bệnh ngủ gục. Có bài kinh Hôn trầm thùy miên đức Phật dạy cho Ngài Mục-kiền-liên, do Ngài ngồi thiền bị hôn trầm, Thế Tôn dạy cách hành trì đối trị hôn trầm và Tôn giả Mục-kiền-liên tinh tấn tu hành đã vượt qua, sau cùng đạt tới Thánh quả cứu cánh.
Tâm chúng ta quen ở trạng thái buông lung phóng dật, nên bây giờ bắt nó vào một khuôn phép chặt chẽ thì nó không chịu, nó chống cự. Do đó, mỗi hành giả phải tự thân mạnh dạn, quyết liệt đấu với nó, chiến đấu để thắng được sự dễ dãi, phóng dật đó, để không cho tâm nó muốn làm gì thì làm, đó là một kiết sử (Tăng Chi Bộ Kinh, tập 2, trang 711) “Này các Tỳ-kheo, có năm cái tâm triền phược này, ở đây Tỳ-kheo, đối với các dục không dục không phải không tham ái, không phải không dục cầu, không phải không ái luyến, không phải không khao khát, không phải không nhiệt não, không phải không khát ái.
Này các Tỳ-kheo, Tỳ kheo đối với các dục như vậy, tâm vị ấy không hướng về nỗ lực, không hướng về chuyên cần, kiên trì tinh tấn nếu tâm của ai không hướng về nỗ lực chuyên cần, kiên trì tinh tấn như vậy là tâm triền phược thứ nhất.”
Đó là tâm trói buộc thứ nhất. Như vậy, mình đối với các dục còn sống trong tham ái, mong cầu, luyến ái trong đó; nhiệt não là mình bị nóng bức, khát ái trong đó; nếu như vị ấy không nỗ lực, chẳng chuyên cần, thiếu kiên trì, chưa tinh tấn chắc chắn chúng ta mãi bị trói cột.
Hành giả vướng trong tưởng không, bị nó trói buộc, mình vào kiến chấp hồi nào không hay. Vì mình nghĩ rằng trước sau gì mình cũng thành, cái gì cũng không, Tứ đế không, Bát chánh đạo rỗng, Địa ngục chẳng có, nhưng khi thật sự gặp phút giây dầu sôi cột đồng cháy đỏ thì gọi đất không thấu kêu trời không hay, trễ rồi, quả báu trổ ra theo nghiệp, lúc đó có hay không thì cũng đều nhận lãnh. Mình bị thiên lệch rất nặng về tư tưởng không. Đức Phật dạy đệ tử phải nỗ lực, luôn tinh tấn, cần kiên trì, quyết tâm đoạn tận cái dục, cái tham, cái luyến ái, sự khao khát trong đó, nếu không mình bị tâm trói cột.
Tâm thứ hai, đối với thân thể.
Tâm thứ ba, đối với sắc với các sắc.
Tâm thứ tư là Tỳ-kheo nào ăn cho đến thỏa thích, bụng chứa đầy, sống thiên nặng về khoái lạc sàng tòa, khoái lạc về ngủ nghỉ, khoái lạc về thùy miên, đó là trói buộc vào vật chất.
Đối với thân thể này yêu thích nó, say sưa vì nó, đam mê phục vụ cho nó, khao khát cũng vì nó sai khiến. Thật vậy, chúng ta không chỉ khao khát tham ái trên thân, thử xét lại xem một ngày ngắm gương bao nhiêu lần, tắm giặt mấy lần, ăn bữa chính bữa phụ và ăn vặt, rồi đi ngủ bao nhiêu lần, tham ái trong thân này. Chính vậy mà ta cứ châm ngòi cho nhiệt não, nóng bức đối với nó, sân khởi lên hòa trộn với tham tạo thành mù mịt bức ngặt của lửa hừng, sự trói cột vẫn không buông tha mình nếu mình chưa thấy tận cội rễ và đối trị chúng bằng cách nhìn vào sự thật và chiến đấu dũng mãnh bằng tinh thần chánh pháp.
Kinh Sợ hãi trong tương lai, đức Phật nói ‘Tỳ-kheo của ta trong tương lai ngủ cho tới mặt trời đứng bóng, thiên nặng về khoái lạc của năm dục trưởng dưỡng, tới lúc đó diệu pháp bị hỗn loạn, chánh pháp mai một không còn nữa’. Như vậy, người con Phật không chịu học hành tăng trưởng thiện pháp, buông lung, phóng dật, một lúc nào đó xa rời chánh pháp làm việc ma không hay, chẳng biết, đến lúc giật mình thì đã qua một đời kiếp khác. Vì hành giả đã từ bỏ cuộc sống độc cư thiền tịnh, xa lìa thiện pháp, không chịu xoay trở lại để nhìn tự thân tự tâm của mình để tu tập, đó là nguyên nhân làm cho diệu pháp bị hỗn loạn, chánh pháp diệt mất. Trước những lời răn nhắc mạnh mẽ, chỉ rõ căn bệnh của chúng sanh tương lai, Phật đã cho chúng ta nhìn thấy phải khiếp sợ, nên sanh tâm khiếp sợ, rúng động, phát ra tàm quý hổ thẹn, những lời dạy sách tấn ấy giúp mình đánh ngã gục những cảm giác trơ lì, làm cho cảm giác yếu hèn chảy tan, những xúc gợi đến sự tham ái bị đẩy bật ra, bứng lên hết những tâm tư chấp kiến, sai lầm, vô minh để ánh sáng trí huệ phát khởi trong quá trình thực hành lời dạy của Như Lai.
Tu hành với mục đích mong cầu để sanh lên cõi Trời, cõi nào đó được phước báu, thiện lành thì cũng là sự tiếp nói hiện hữu dục và ái trong năm uẩn, đều chưa thấy rõ pháp; giáo pháp của Phật là chấm dứt luân hồi sanh tử, mình không biết lại đi tuyên dương con đường tiếp nối ngũ uẩn sanh tử.
Hành giả ngồi thiền, tác ý nhiều phân biệt là chưa đúng, chính cách này hồi xưa Minh Thành đã đi qua trong sự tác ý như vậy mười năm dài. Không phải thiền là yên hết, yên lắng im im là ở trong vô minh; yên mà mình không phân biệt được thiện, bất thiện; yên nhưng chưa thấy rõ đâu là cội gốc của bản ngã, tham dục, si mê thì sự yên lắng đó không có giá trị. Ví dụ, mình nghĩ không nghĩ thiện không nghĩ ác, mình đi theo con đường đó, đức Phật không dạy như vậy.
Trạch pháp trong Thất giác chi, Niệm giác chi, Trạch pháp giác chi và quyết định của Bát chánh đạo là chánh kiến, chánh tư duy; chánh tư duy là sự suy xét đúng lý, suy xét đúng chánh pháp. Chúng ta chưa thiết lập tư duy chuẩn xác, chân thật như pháp thì làm sao có chánh tư duy.
Ví dụ, mình muốn làm một công việc, trước lúc mình đi xuất gia, mình có suy tư cặn kẽ đủ điều, chiến đấu rất mãnh liệt trong nội tâm, phải suy tư rất kỹ mới đưa tới quyết định đi xuất gia. Hoặc như ở ngoài đời, người ta muốn kết hôn, trước tiên phải tìm hiểu bạn đời, suy nghĩ rất là kỹ về nhau, sau cùng mới đi đến quyết định cưới. Hoặc là người kia muốn mua một căn nhà, trước hết cũng coi xem vị trí nơi ở, giá cả phải chăng, chất lượng, thẩm mỹ của ngôi nhà cũng phải tìm hiểu rất kỹ, suy xét rất sâu sắc rồi thấy hợp mới quyết định mua ngôi nhà ấy.
Sự tu cũng vậy, nếu bất thiện pháp thuộc về tham sân si, là tham tầm hay si tầm (tầm tức là cái tâm mình hướng tới, mình phải đoạn tận nó, chấm dứt nó), nếu tâm này tương ưng với trí huệ, tương ưng tới chỗ đưa mình tới chỗ ly tham lìa sân, đi đến chỗ chấm dứt vô minh, tâm này cần được phát huy mạnh lên. Cho nên, tu tập không phải im bặt hết tất cả suy nghĩ, không phải đâu! Như lý tác ý một pháp rất quan trọng, nên đức Phật nói: “Này các Tỳ-kheo, ta không thấy một pháp nào có lợi ích có quả báo lớn, có lợi ích lớn đem đến chánh trí, đem đến thanh tịnh đạt đến Niết-bàn như là Như lý tác ý”. Như lý tác ý rất là quan trọng, nếu không có cái đó mình không có thành tựu được.
Như lý tác ý như thế nào? Lúc đó mình thấy trạng thái lờ mờ muốn buồn ngủ, lập tức mình mở mắt ra, nói chuyện với ‘nó’, ‘ngủ mấy chục năm rồi chưa đã hay sao, đã ngủ bây giờ, đang ngủ và sẽ ngủ, ngủ giấc ngủ ngàn năm không nghe chân diệu pháp, ngủ từ vô thỉ kiếp cho đến giờ, bây giờ tỉnh lại đi đừng có si mê vô minh nữa’. Tác ý mạnh, dùng búa tạ đập vào si ám, hôn trầm miên man đó. Ngay lúc ấy, cảm giác buồn ngủ, gục gật, lờ đờ, mơ mơ màng màng kia chạy mất, bị đánh thức, vươn vai đón chào ngày mới bằng sự thúc giục tinh tấn, cầu pháp vô thượng, kiên cố thân tâm bất thoái chuyển, đó là Như lý tác ý.
Diệu dụng của Như lý tác ý là tuệ lực, sức mạnh của trí tuệ, mình nói ‘thôi khởi tâm này lên, lúc đó tâm nó động, thôi đừng khởi im luôn thì đi theo nó ngủ gục mê muội. Đây là sức mạnh của trí huệ, tinh tấn niệm định huệ. Bây giờ tham dục khởi lên mình cũng nói, ‘từ hồi nhỏ mười mấy tuổi cho đến bây giờ mày vẫn cứ đam mê, mày ngu si, ngủ lì tham đắm trong đãi da hôi thúi, trong phân, trong nước tiểu, ở trong nước miếng, trong bộ xương giòi ăn này hay sao hả?’ Mình tác ý quyết liệt, không nhân nhượng, chỉ thẳng vào nó, đập mạnh vào đầu nó, có như vậy cái dục bị đẩy ra vì hoảng sợ, lắng dịu xuống.
Trí huệ chưa thông suốt chẳng thấy được vô minh, không nhận diện được bản ngã, chưa thấy hoạt động lăng xăng liên tục của dục tham trong tâm mình. Nếu mình thấy được là có trí huệ, sau đó dùng sức mạnh trí huệ đó dập tắt nó. Cho nên, chữ tham thùy miên rất sâu, lúc nào dục tham cũng ở trong con người mình.
Đức Phật nói các Ngài có biết dục tham nằm ở đâu hay không? Dục tham nấp trong con mắt mình, dục tham ở trong sắc, dục tham ở trong nhãn thức của mình; dục tham trong xúc căn trần thức, tiếp xúc dục tham trong đó; dục tham trong cảm giác trong cảm thọ; dục tham trong cái tưởng, hình bóng tưởng ra cảnh vật đó là dục tưởng; từ dục tưởng đó nó mới làm cho dục tư, bắt đầu mình suy nghĩ những hình bóng hiện ra, mình suy nghĩ dục tư; tiếp tục là ý hành, nói theo ý đó, những hình ảnh, âm thanh; thức mình rõ biết nó quay cuồng trong khát ái, trong dục, lúc đó mình không còn biết gì nữa. Nếu mình không có trí huệ để phát hiện ra, nên khi mình thấy được cuộc vận hành như vậy huynh đệ mới kinh khiếp chính mình. Do trước kia chúng ta không thật thấy, mình sẽ phát hiện dục vận hành như thế nào, sân vận hành như thế nào, cái bản ngã kinh khiếp trá hình, nên mình phải có một sự nỗ lực rất nhiều chứ không dễ. Ví dụ, nếu như mình đang ngủ trong phòng, có con rắn hổ mang vào, lúc đó mình chỉ nhận biết nó vậy thôi hay làm sao? Phải xua đuổi nó ra khỏi phòng ngủ lúc đó mới yên tâm mà ngủ. Hoặc như, cái sân nó không phải là dòng sông để cho mình đứng mình ngắm, chính nó sẽ giết mình, đẩy lôi mình vào dòng luân hồi sanh tử vô minh, si mê và mình đau khổ với nó, sân của mình giống như rắn hổ mang, rắn độc cắn là chết cấp cứu không kịp.
4. Quán xét các pháp
“Việc đáng làm nên làm
Làm cùng tận khả năng
Xuất gia sống phóng đãng
Chỉ tăng loạn bụi đời.”
Có lần, Minh Thành có chia sẻ ba điều mình phải nắm vững, đó là:
Thứ nhất, mình phải biết tên tuổi,
Thứ hai, mình phải biết mặt,
Thứ ba, mình phải biết tính tình.
Khi đã biết được ba vấn đề của đối tượng thì chúng ta sẽ có cách đối trị, điều khiển, nhiếp phục được phiền não, cũng như các pháp trong tự thân tự tâm của mình. Ngược lại, không biết đó là cái gì làm sao mình nhiếp phục nó được. Vì nó là một mớ bòng bong như tổ kén rối ren, từ đầu mối chỗ nào làm sao mình biết mà rút ra, nên không vô cớ đức Thế Tôn nói ra bao nhiêu pháp số, rất nhiều tên gọi, những đặc tính của tâm, tâm sở hay những phiền não. Cho nên, sự tu học của mình có kết quả nhiều hay ít là do có tâm tôn kính Phật, tôn kính Pháp, tôn kính Tăng. Sở dĩ bậc Đế Thích được làm Vua Trời là có hai đặc tính quan trọng, một là cẩn thận, hai là tôn kính mọi người. Các vị được làm Đế Thích có hai tính chính yếu ngoài Tứ Vô lượng tâm. Sự học Phật, điều cẩn trọng rất là thiết yếu, nhỏ nhiệm, từng chút một mà đi.
Trong lúc đi kinh hành, quán về pháp, ngoài ba pháp rõ biết trước mặt, cảm giác toàn thân và nội tâm tỉnh giác, sự xúc chạm bàn chân mình đối với mặt đất, ánh nhìn của con mắt đối với cảnh sách, cảm thọ dễ chịu hay khó chịu,… những điều đó cần thực tập thì tới một lúc tự động nó vẫn thực hiện thuần thục. Đi kinh hành do mình có thân, thân mới tiếp xúc với sự vật bên ngoài gọi là thân xúc, thân tiếp xúc với nền xi măng hay nền gạch hay đất; chân tiếp xúc với nền gạch, nền xi măng lúc đó có sự rõ biết bàn chân của mình với đôi dép với nền xi măng, cái rõ biết ngay chỗ chân và nền xi măng đó gọi là cảm xúc của thân thức, rõ biết của thân thức; chân hay thân tiếp xúc với nền xi măng, sau đó rõ biết tiếp xúc, ba pháp này hội tụ lại giao thoa với nhau thành xúc; xúc sanh thọ là phát sanh ra một cảm giác mới; sau cảm giác thọ thì tới tưởng, hành, thức.
Khi phát sanh một cảm giác, sau cảm giác hiện tại sẽ có những hình bóng của cảm giác đó, chẳng hạn, đi thấy lạnh lạnh bàn chân, thì trong tâm hiển thị bóng dáng bàn chân của mình; cảm nhận được hơi lạnh hoặc ấm tức là tưởng; cảm giác được bàn chân là thân thức; từ ba pháp giao thoa với nhau sanh ra cảm thọ dễ chịu hoặc khó chịu hoặc không dễ chịu không khó chịu, cảm thọ đó lại có hình bóng của cảm thọ đó trong nội tâm của mình, thọ đó sanh ra cái tưởng như mình liên hệ mình nói ‘giờ này lạnh quá, phải chi có đôi vớ dày mang chắc sẽ ấm chân’, đó là ý hành có tưởng ngay chỗ đó có cảm thọ, thức rõ biết.
Bây giờ chặn ngang chỗ xúc sanh ra thọ, thọ chia ba làm ba nhánh nếu cảm thọ lạc sẽ nói ‘ồ, đôi vớ của Mỹ làm bằng nỉ gì mà êm’, cảm thọ lạc vì có sự xuất hiện của ấm và êm, cảm thọ lạc hay cảm thọ khổ của thân là bình thường nhưng phía sau cảm thọ đó có dục tham, đối tượng của nó nằm trong đôi vớ êm ấm và mong cầu chiếm hữu qua suy tưởng ‘mai mốt kiếm hiệu đó mua đôi vớ này’. Vì dục tham muốn tìm thêm, nếu chánh niệm sâu sắc sẽ thấy ngay lúc mình đi kinh hành, ngay chỗ đó biết rồi chúng ta phải tẩy sạch, nói với nó ‘đam mê gì với sắc thân ảo mộng vô thường này, có gì trong đây để cho mình thích thú, có gì trong đây để cho mình đắm say; bàn chân này chính là bàn chân mà từng khớp xương gắn kết; cảm giác này là cảm giác của vô thường, đổi thay; nếu mình về xứ nóng đôi vớ này không có điều kiện sử dụng’. Như vậy, tác ý mạnh mẽ với tâm ý mình, dù cho đó là điều nhỏ nhặt nhất, vì từ cái nhỏ nó sẽ sinh ra nhiều điều phức tạp về sau.
Ngược lại, với cảm thọ khổ thọ, ví dụ đi kinh hành không vớ, bị Sư phụ rầy là tại sao không mang đôi vớ, vì thời tiết núi rừng thì đang lạnh, ngay đó phiền não, ngay chỗ đó nhìn lại là bản ngã, nhìn sâu hơn nữa là vô minh, không thấy được ngũ uẩn, có cái gì để mà giận, vì ai là Sư phụ hay đệ tử. Cho nên, quán phải đi sâu vào sự vận hành của năm uẩn nó chiếm ngự, chen lấn, dày đặc, cẩn trọng kẻo bị nhấn chìm trong một chút hỷ lạc mà mất đi những cơ hội tinh tấn, trưởng dưỡng đạo tâm kiên cố.
Thọ không khổ không vui thì chưa sanh tưởng khác, dù không sanh ra tưởng nhưng lúc đó vẫn ở trong trạng thái si mê, bởi không thấy rõ năm uẩn.
Kinh Tương Ưng Bộ, có nói rằng, có một vị Tỳ-kheo đi tới bạch đức Thế Tôn, thế nào gọi là minh? Thế nào một người được gọi là minh, là sáng suốt? Ở đây bậc đa văn thánh đệ tử biết rõ sắc tập khởi, biết rõ sắc đoạn diệt, biết rõ con đường đưa đến sắc đoạn diệt, biết rõ con đường thọ tưởng, hành, thức giống như vậy.
Vô minh là gì? Là kẻ vô văn phàm phu không biết rõ sắc, không biết rõ sắc tập khởi, không biết đoạn diệt, không biết rõ con đường đi đến sắc đoạn diệt, thọ tưởng hành thức cũng vậy.
Sắc sanh, sắc diệt, sắc diệt đạo.
Bốn đại chủng về sắc do bốn đại chủng tạo thành, gồm có đất, nước, gió, lửa. Dù cho đẹp, xấu, cao, thấp, trắng, đen, sang, hèn, cũng do bốn đại chủng tạo thành; nếu hành giả quán về tứ đại giả huyễn tụ lại thì chúng ta ít bị tâm phân biệt dính mắc. Vì lúc này đây, quý vị nhìn thấy khắp mọi nơi từ thân thể này cho tới khắp sơn hà vũ trụ, khắp pháp giới chúng sanh đều là tứ đại. Như vậy, có gặp gỗ đẹp mắt cũng là tứ đại, đối diện với gỗ rẻ cũng là tứ đại, cần phải thấy rõ bản chất của tứ đại mới triệt tiêu tâm phân biệt, đam mê. Thực tập cho đến thuần thục thì lớp chấp thủ ngày càng mỏng dần cho đến không còn bóng dáng của nắm níu về thân này (sắc), chẳng phải cung phụng, phục vụ cho thân này đắm nhiễm. Trí quán tứ đại này là một trong thân hành niệm, nhìn thấy tất cả đều là tứ địa đất nước gió lửa thì không còn tham sân si.
Kinh Đáng được ăn, định nghĩa rằng: “Bị thay đổi được gọi là sắc, bị thay đổi bởi lạnh nắng đói khát, xúc chạm của ruồi muỗi, gió, sức nóng mặt trời, các loài bò sát chỉ với mục đích che….”
Cho nên, tin tức về một vụ tai nạn giao thông, hoặc là nhà cháy, sóng thần, động đất, người chết vì bệnh hiểm nghèo,… khi chúng ta nghe thấy hoặc nhìn thấy thì trong tâm khởi lên bao nỗi niềm đau khổ, rùng rợn, sợ hãi. Hoán đổi vị trí và thường quán như vậy bị thay đổi nên gọi là sắc; cũng như lúc cố Hòa thượng thượng Thiện hạ Bình xả bỏ thân này, khi Minh Thành đưa vào lò thiêu lúc sang đẩy nguyên hòm vào lò, khi chiều lại nhận thùng nhựa đựng tro cốt vào một hủ có để tên Hòa thượng Thích Thiện Bình. Nói vậy, để chúng ta nhìn rõ ràng vào sự thật nhưng sao giống một giấc mơ. Tại sao mới mấy ngày trước còn đi đứng nói năng chỉ dạy mình trong đạo nghĩa Thầy trò; mấy bữa sau chỉ là sanh tử, là bất động.
Quán niệm về niệm tử, quán về ba mươi hai thể trược, chín giai đoạn của một tử thi, không những quán bản thân mình chết mà quán luôn cha mẹ chết các đệ tử chết, từ người than tới bạn bè huynh đệ,… chỉ còn trơ lại bộ xương, bộ xương nát hết, còn đó cái đầu lâu xương sọ, xương sườn, xương vai, xương ống chân nằm khắp nơi trên ngọn núi này, biến đổi như vậy gọi là sắc, bị đổi thay gọi là sắc. Quán như vậy để không còn dính mắc vào thân, ái thân, tham muốn, chết là không còn làm gì cho ý nghĩa, chết là chẳng thể mang theo cái gì trừ nghiệp thiện ác. Có nhận thức sâu sắc mới dám xả thân để cầu đạo, quên mình vì pháp, đem cả sinh mạng hy sinh để đạt được giáo lý vô thượng, chân lý tột cùng của đức Phật.
Sắc sanh là nói nguyên lý sanh khởi rất sâu, thức ăn tập khởi (tập là tập hợp, khởi là sanh khởi) thức ăn nuôi dưỡng, vun bồi sắc thân này mới sanh ra được.
Thức ăn có thức ăn vật chất và tinh thần, sắc diệt do thức ăn đoạn diệt nên sắc đoạn diệt. Chúng ta đã, đang từng thấy, nghe, xem hoặc biết qua kể lại chuyện đói thì chết trong những thời chiến tranh hoặc có chứng bệnh ăn không được, phải đút cái ống đổ thức ăn nấu nhuyễn thành nước cho vào. Sắc diệt đạo là phương pháp Bát chánh đạo.
Vị ngọt của sắc, sự xuất ly của sắc.
Vị ngọt của sắc là do duyên sắc khởi lên lạc hỷ, tức là do vì ở nơi sắc đó mà tâm mình sanh khởi lên sự ưa thích, vui sướng, khoan khoái, đam mê trong đó. Bất cứ sắc nào làm cho mình đam mê, thích thú, khoan khoái, lưu luyến, khao khát, đợi chờ mong muốn… đó là vị ngọt của sắc. Phải thấy cho rõ trong tâm mình bị cái đó bao trùm phủ vây, đây là vị ngọt của sắc, mình điểm danh điểm tên đó, mặt mũi của nó, tính tình của nó, đó là tên vị ngọt; chiếc xe đời mới là vị ngọt của sắc, đồng hồ hàng hiệu là vị ngọt của sắc nhưng nếu đồng hồ cũ hư cho không lấy đó là sự nguy hại của sắc, vô thường, khổ, sự biến hoại, nguy hại của sắc, vị ngọt rất ít nhưng nguy hại rất nhiều.
Sự xuất ly của sắc là nhiếp phục dục và tham, sự đoạn tận dứt hết dục và tham đối với sắc đó gọi là thoát ra khỏi sắc.
Thế nào là con đường giải thoát?
Con đường giải thoát là con đường nhiếp phục ái, vì ái làm cho mình tham muốn, thoát ra khỏi nó, nhiếp phục được tham muốn đó đối với món đồ có giá trị thì ý chí và quyết tâm mạnh mẽ mới giải thoát được món đồ đó. Sắc gồm chung tất cả mọi sự vật có hình tướng là sắc chất, mình nhiếp phục được dục và tham, thấy rõ nó là tứ đại, thoát ra khỏi nó, phải nhiếp phục được dục và tham.
Làm sao nhiếp phục được dục và tham?
Thấy được sự nguy hại, tai họa của nó, dẫn mình đi tới chỗ hiểm họa, quán sâu vào sự nguy hiểm đừng quán vị ngọt; quán vị ngọt thường sẽ làm mình bị bám vào vị ngọt; quán vào sự nguy hại của nó rồi mình xuất ly khỏi nó, vượt ra nó nhiếp phục được tham.
Bốn thức ăn.
Thức ăn thường gọi là đoàn thực bốc, nắm, múc, gắp.
Xúc thực là sự gặp gỡ nhau, thức ăn tinh thần, nói chuyện, trao đổi Phật pháp, đi du ngoạn sơn thủy, nghe nhạc thiền,… nếu mình phân tích bao nhiêu thứ trong đó, sáu căn, sáu trần, sáu thọ, sáu ái, sáu tưởng, sáu xúc, sáu tư, sáu thức nhân lên rất nhiều; nên lúc đó mình đâu biết nó đang xúc cái gì, đó là vô minh.
Ví dụ, tai mình nghe tiếng nam nữ dẫn nhau đi chơi bên ngoài nói những câu nghiêng về tình cảm, tự nhiên nghe tiếng đó trong đây nếu không có chánh niệm tỉnh giác bắt đầu mình thọ do nhĩ xúc sanh, thọ do nhĩ xúc sanh tức là cảm thọ do sự tiếp xúc của lỗ tai mà nó phát sanh ra.
Hôm đó Minh Thành đang trên thất, Pháp Sơn gửi một tin nhắn vô Viber bấm ra thấy hình mặt mình, có ghi thêm dòng chữ ‘sự thật vĩ đại’ đang cầm hoa lài, mình nhìn vào có ý niệm lạc thọ, thích trong này. Thọ do nhãn xúc sanh, lạc thọ và dục tham ưa thích nó tan giống như mình bỏ viên thuốc sủi bọt vào nước, mình thấy rõ ràng cảm giác bị tan ra khi gọi đúng tên nó bằng pháp lệnh ‘thọ do nhãn xúc sanh có gì trong này mà ưa thích, đây là ảo ảnh; chính cái thân thể này còn vô thường biến hoại, huống chi cái bóng giả dối, có gì đâu mà thích thú đam mê’, giống như mình thấy ai đó mà kêu đúng tên người đó mới quay lại, pháp cũng giống như vậy, khi mình biết đúng tên gọi, nhận dạng rõ mặt mũi, nói chính xác tính tình với ‘nó’, vậy là hiệu lệnh, pháp lệnh có thực thi.
Thọ do nhĩ xúc sanh một ngày không biết bao nhiêu lần nếu mình không có chánh niệm tu tập.
Ví dụ, huynh đệ đang ngồi trong thiền thất, đằng kia có hai người đang ngồi cắt cỏ và giỡn chơi, nếu mình không biết chánh niệm, chẳng biết thọ do nhĩ xúc sanh nên mình dễ đi theo, thọ sanh ra tưởng, hành, thức; từ đây, thức này lại tiếp tục sanh ra thọ tưởng hành, cứ liên tục như vậy gọi là chúng sanh. Chúng ngũ uẩn sanh liên tục như vậy gọi là luân hồi vô tận, mà chúng ta trầm luân không thấy được, nên đức Phật gọi mình là vô minh đang diễn ra trong tâm mình mà không thấy.
Muốn nghe được cảm thọ, trước hết phải có lỗ tai, mình phân tích mới thấy được chỗ giả của nó. Nếu mình thấy là tôi nghe, đó là vô văn phàm phu, còn mình nghe là do có lỗ tai, có âm thanh có tiếng nói, có sự rõ biết ba pháp này giao thoa hội tụ tạo thành một sự xúc; từ xúc này sanh ra một cảm giác; chính cảm giác này dẫn chúng ta vào chỗ chết. Cho nên, nhận biết cảm giác toàn thân liên tục, hễ nó rục rịch có ý niệm ái (thích) hay sân hận nổi lên ngay trong thân, biến chuyển trong thân là chúng ta biết vị trí nào trong thân đang xuất hiện cảm giác.
Sự tập hợp của tất cả tư tưởng, hình bóng, hành khởi lên nói những chuyện ngày xưa hay nói chuyện sắp tới; thức nhận biết tiếp tục sanh thọ tưởng hành thức, lôi kéo ta không biết đó là chỗ vận hành sâu sắc của tâm, thọ do nhĩ xúc sanh.
Vận hành của ý căn là sâu xa nhất trong sáu căn. Từ đâu nó phát sanh vọng tưởng? Vọng tưởng sanh khởi làm sao?
Ví dụ, tâm mình muốn hướng về thăm ba mẹ, xét ra từ dục tham, do cái muốn đó nó đẩy lên thành cảm thọ, cảm thọ nó sanh ra bao nhiêu cảm xúc cứ nung lên giống như nồi nước chưa sôi, có những bong bóng ở dưới đáy ấm nhẹ nhẹ nung ở dưới lên từ từ sôi lên 100 độ C, tất cả thọ ham muốn, sanh ra tưởng. Hành giả đang ngồi thiền, nhưng tưởng mình đi về nhà gặp ba mẹ, người thân hay bạn bè chứ không tự nhiên có vọng tưởng. Cho nên tầm hướng tới chỗ nào gọi đó là dục tầm hay là sanh tầm hay si tầm. Tâm nó hướng tới sự rũ rượi, lười biếng, uể oải đó là tâm si tầm, tâm hướng tới sự si. Từ chỗ thọ nung lên tới sự tưởng in ra hình bóng, rồi hình bóng nung đẩy từ cảm thọ phía dưới, nung đẩy lên, biểu hiện ra hình bóng, hình bóng đó suy nghĩ, chạy loanh quanh về nhà làm gì, nói gì với người than, bạn bè… thức rõ biết ngay những ý niệm đang khởi đó. Một lát sau, ý căn để ý xoay trở lại thân tâm, bắt đầu ‘nó’ sự nhớ là vừa rồi vọng tưởng, tức là lúc đó cái đèn pin tâm sáng rọi ngay trên chỗ gặp cha mẹ hay gặp bạn, tới chừng để ý mới giật mình, ý căn chú tâm, ý thức soi sáng giống như luồng ánh sáng của đèn pin sáng ngay chỗ đó, bởi ta không rõ nên vô mình tái diễn dài nhưng chúng ta mê lầm, nhận giặc làm con nên không thấy, chẳng rõ biết. Chỉ khi nào thật sự xoay trở lại tâm ý thật thấu đáo nhận ra năm uẩn giả huyển hợp thành thì lúc đó mới tỉnh táo nhận ra vấn đề, gọi đúng tên từng căn và biết được sự vận hành của chúng.
Sự tu của chúng ta nằm sâu ở chỗ ý căn, mắt-tai-mũi-lưỡi-thân đối với sắc có sự rõ biết, nhưng ý căn tiếp xúc với pháp trần, nội trần trong những sắc tưởng, thanh tưởng, hương tưởng, vị tưởng, xúc tưởng, pháp tưởng. Tư duy sâu sắc về ý căn để thấy đường đi của nó vô cùng vi tế, phức tạp.
Sắc tưởng là bóng dáng của người, cảnh tứ đại hiện khởi trong tâm; thanh tưởng là lời nói, âm thanh, tiếng động hiện khởi trong tâm; hương tưởng là bóng dáng có mùi thơm, mùi hôi hiện khởi trong tâm; vị tưởng là bóng dáng vị mặn, vị ngọt, chua chat; xúc tưởng là bóng dáng xúc chạm giữa thân này và người, vật hay tứ đại bên ngoài hiện khởi trong tâm; pháp tưởng là bóng dáng của thọ tưởng hành hiện khởi trong tâm pháp tưởng.
Bóng dáng của thọ tưởng hành.
Ví dụ, cảm thọ khi mình được khen, ‘Thầy tướng hảo, tu hành tinh tấn, phước đức công đức vô lượng’, nghe khen là thọ do nhĩ xúc sanh nhưng khi thọ đó là thọ lạc cảm giác vui sướng. Bởi, người ta khen có năm phút nhưng ba ngày sau, một tuần lễ sau nếu thọ còn dính mắc trong sự vui sướng của lời khen kia thì rất nguy hiểm. Thọ nhận là chấp nhận, thâu vô, để vào, tại mình quên hoặc không biết tiếng đó là vô thường, trống rỗng, chẳng thật còn nên mình thu vào. Đây là thọ lạc và mình ái thọ này nên mình thâu vào, tối ngồi thiền, ba ngày sau hay tuần sau mà lời khen vẫn còn đậm đà in sâu trong trí nhớ thì câu khen đó trở thành thanh tưởng, có người nói là sắc tưởng, có xúc tưởng, pháp tưởng.
Nhớ lại cảm giác lúc mình được nghe tiếng khen, chỉ là bóng dáng của cảm thọ chứ không phải ngay lúc mình ngồi đây có cảm thọ của cái đã qua. Chấp vào thọ giúp cho tăng trưởng niềm đam mê, mờ ám và con đường xa tít khi đến với Đạo. Tình cảm ở ngoài cũng vậy, lời nói mà buộc suốt cuộc đời là xúc tưởng, hoặc như một cái nắm tay, ánh mắt nhìn cười cũng có thể ‘giết người’ đó là xúc tưởng, thọ tưởng, hành tưởng. Vì sau những cái mà nghe, thấy, biết, gặp gỡ thì tư tưởng bắt đầu suy nghĩ, vọng niệm sanh khởi liên miên năm uẩn một cách siêu tốc. Chỉ là đang sống với thức tưởng, ảo mộng, nhưng chấp vào nên luân hồi kéo mãi chưa thoát được! Bản chất của tứ đại là ảo, vô thường nhưng ảo ở trong cái ảo, thành ra chúng ta chìm đắm sống ảo ở trong cái ảo, rồi mình chế tác thêm cái ảo nữa, sinh sôi bất tận của ảo giác, nó nằm thâm sâu trong tâm thức mình.
Đức Phật dạy Phật tử phải học sắc tưởng, thanh tưởng, xúc tưởng, pháp tưởng vì ngày nào hành giả cũng giao thiệp với nó, bị nó lừa gạt, lôi kéo, trìu mến, chi phối, sai khiến đến khốn cùng mà mình không biết nó tên gì, chẳng rõ được mặt mũi, tính tình của chúng. Như vậy, tới bao giờ mình mới thoát khỏi nó, khi nào thì xuất ly được sáu tưởng này, nên lúc ngồi thiền mình vọng tưởng, toàn chạy lòng vòng sáu tưởng.
Hương tưởng, Bồ-tát Tịch Thiên nói nếu như không xúc miệng, không cắt tóc không uốn tóc gội đầu để tóc dài hôi hám ai cũng chạy, còn xoa dầu thơm như mài dao để tự giết mình, xoa dầu thơm hàng hiệu của Pháp đi ngang phớt qua ai đó cũng đủ làm chao đảo lòng người khác, mê hoặc người khác là hương tưởng. Người đi qua, mùi hưng cũng tan loãng theo không khí nhưng cái cảm giác đó lưu dấu lại trong tư tưởng. Thâu nhận nó là thọ, cho nên lúc thâu nhận rất quan trọng, nếu không chánh niệm, xúc sanh thọ thì cẩn trọng ngay cảm giác, nhận diện cảm giác toàn thân, đưa tâm về thân.
Ý tiếp xúc rất sâu vì pháp tưởng là bóng dáng của thọ, của tưởng, của hành, là khi ý căn tiếp xúc với bóng dáng của thọ, cảm giác còn lưu lại, tiếp xúc với bóng dáng của cảm giác, tiếp xúc với những tưởng, tiếp xúc bóng dáng của những suy nghĩ lời nói thầm thì, tiếp xúc lúc đó có ý thức, ý thức rõ biết được hai cái này, ý tiếp xúc với pháp sau đó thức rõ biết thọ, tưởng thì chúng tạo thành sự giao thoa, sanh ra xúc trong nội tâm. Sự tiếp xúc của nội pháp và pháp trần lại tiếp tục sanh ra cảm giác mới.
Ví dụ, đang ngồi thiền nhớ ăn sầu riêng, lúc đó là ý; thuộc sắc tưởng trong đó có hương tưởng, vì có vị tưởng mùi thơm; xúc tưởng để trong lưỡi, xúc đó sanh ra thọ; sẽ có cảm giác ngon béo, thọ sanh ra tưởng vì có hình bóng sầu riêng; ăn nói ngon béo ra sao ý thức rõ biết, chỉ có hình bóng sầu riêng vận hành như vậy. Tham hoặc sân hoặc si còn thì mãi chìm trong năm uẩn.
Con quán mình chính là bộ xương tử thi, quán mình như vậy rồi nghĩ tới cảnh mình sẽ vào lò thiêu, nhưng con ngồi suy nghĩ lại mới nói là quý thầy từng dạy đừng có nghĩ về quá khứ, đừng có nghĩ tướng lai mà hãy sống với hiện tại, nên con nói mình đang nghĩ về tương lai thì con muốn hỏi như vậy là sao? Trong khi tương lai chưa đến, mình đang sống ở đây cảnh rất đẹp và người rất hiền hòa, có Thầy có bạn rất vui. Tại sao mình đi nghĩ lúc mình chết mình đi vào lò thiêu để cho mình khổ tâm? Xin Thầy chỉ dạy ạ?!
Đức Phật dạy ở bài kinh Song tầm, lúc Ngài chưa chứng Chánh Đẳng Giác còn là Bồ-tát. Khi ngồi ở cội Bồ-đề, tâm Ngài phân làm hai nhóm, một nhóm là nhóm bất thiện tức là tương ưng với dục với tham với sân si; còn một nhóm tương ưng với không tham, không sân, không si tức là không có dục. Như vậy, cái nào tương ưng với tham với sân với si là loại trừ, diệt bỏ nó; cái nào tương ưng không tham, không sân, không si tương ưng với trí huệ, tương ưng với giải thoát thiện pháp, công đức thì phát triển lên.
Ví dụ, làm cỏ chỉ chặt sạch cỏ, nhổ hết gốc rễ của cỏ dại chứ không thể nhổ sạch, chặt luôn cây cảnh, cây che bóng mát, cây ăn trái. Cũng vậy, khi tâm sanh khởi bất thiện pháp lập tức loại trừ, chấm dứt không cho nó phát triển. Ngược lại, những suy nghĩ giúp tăng trưởng trí huệ, phát huy về thực tánh của thân này, thân này sẽ già và chết, thân này sẽ tan thành bộ xương, đó là tương ưng với trí, tương ưng với sự thật, tương ưng với tuệ đưa mình tới chỗ yểm ly, nhàm chán, lìa tham, nó đưa mình tới chỗ giải thoát, tháo gỡ tất cả sự trói buộc, kiết sử đó là giải thoát pháp.
Bình thường mình nghĩ an vui ngay hiện tiền, an vui nhưng dục tham mình không thấy, sự vướng mắc chẳng biết, sự luyến ái còn, chưa kịp tu nhiều, chưa thành tựu trí huệ mà mãi rong ruổi trên con đường ngộ nhận thì cần chấn chỉnh, học, hiểu, hành trì và đem tâm thành tha thiết để Phật có trọn trong lòng ta. Mỗi người sẽ có duyên với pháp nào đó thì từ từ mình tu, tu pháp nào có duyên và thực tập cho thành tựu rốt ráo. Đừng chạy đông chạy tây rồi chẳng đạt được gì, không đem lại sự lợi lạc thảnh thơi trong tu hành làm sao hóa độ chúng sanh.
Chương 4:
QUÁN BẤT TỊNH
1. Quán bất tịnh
Đầu tiên, quán xét về thân có chín lỗ rỉ chảy.
Chúng ta nhìn lại thân thể chính mình sẽ thấy có chín lỗ thường chảy ra rất không sạch sẽ, bên ngoài được lớp da mỏng bao bọc che đậy, những thứ nhơ uế bên trong không kể xiết. Nhưng vì mê lầm sâu dày, chấp chặt thân này của mình, của tôi, là tôi, phải chiếm hữu nó, phải lo lắng, làm đẹp cho nó, giữ gìn nó cứng chắc dài lâu theo năm tháng, cho nên từ đây hội tụ khổ theo về.
Muốn chuyển mê khai ngộ, tỏ suốt được sự thật thì hành giả nắm yếu chỉ Bốn Sự thật vĩ đại của đức Phật và Bát Chánh đạo mà Thế Tôn soi đường dẫn lối tỏ tường. Dùng tất cả tình cảm và lý trí mạnh mẽ, trau dồi, huấn luyện thân tâm, đập và nghiền nát nó ra những ngã chấp, những hư vọng chứ không thể nói nhẹ nhẹ, vì nó đã sâu dầy nắm níu, trú ẩn trong lớp vỏ vô minh từ vô thỉ đến nay rồi. Nhìn thẳng sự thật, mình thấy miệng chảy ra nước miếng, lỗ mũi chảy ra nước mũi đều không sạch sẽ, hai con mắt chảy ra ghèn, hai lỗ tai lâu lâu lọt ra cục cứt ráy, hai chỗ đại tiểu tiện vừa bài tiết vừa bịt mũi.
Trong Kinh Tăng Chi Bộ: “Ví như một ung nhọt đã chảy ra nhiều năm, nó có chín miệng vết thương, nó có chín miệng nứt rạn, từ đấy có gì chảy ra chắc chắn là bất tịnh rỉ chảy, chắc chắn là hôi thúi rỉ chảy, chắc chắn nhàm chán rỉ chảy, có cái gì nứt chảy chắc chắn bất tịnh nứt chảy, chắc chắn hôi thúi nứt chảy, chắc chắn nhàm chán nứt chảy. Này các Tỳ-kheo ung nhọt là đồng nghĩa với cái thân này, do bốn đại tác thành, do cha mẹ sinh ra, do cơm cháo chất chứa nuôi dưỡng, thân này là vô thường biến hoại, tan nát hủy hoại, hoại diệt, chín miệng vết thương, có chín miệng nứt rạn do vậy này các Tỳ-kheo các Thầy hãy nhàm chán cái thân này”.
Thân này giống như một ung nhọt được nuôi lớn từ thân này, sau đó nó chảy ra chín lỗ thoát hiểm những chất hôi dơ, thế mà mình si mê, bám chấp, ai chê chị hôi là sân bực giận lên nhưng đó là sự thật; chẳng phải lúc bài tiết nó mới hôi dơ, ngay khi không bài tiết bản chất nó cũng hôi dơ. Hành giả quán chiếu, nghiền ngẫm, đừng có nhìn người ta, nhìn chính mình mỗi khi nó bài tiết ra. Ví dụ, ba ngày không xúc miệng mà khà một cái là ôi thôi mùi hôi, đó là sự thật cần mình phải nhìn, phải quán tại mình che đậy rồi, tâm tham ái, mê lầm che đậy hết, nên mình không thấy, bây giờ Phật chỉ cho mình, cần khéo tác ý nhận lãnh để hành trì từ kinh tạng.
Thật vậy, thân này không chỗ nào sạch sẽ.
Ba mươi hai thể trược
Bây giờ chúng ta thực hành trong sự nhắm mắt và quán tưởng. Từng lời nói kết hợp hành động sẽ đưa tâm mình trú trong pháp soi rọi ba mươi hai thể trược.
Quán tưởng tay này đang bức từng cọng tóc trên đầu rồi để xuống trước mặt, sau đó nhổ hết lông trên cơ thể để trước mặt, rồi rứt từng móng tay móng chân, nhổ từng cái răng máu chảy ròng ròng một mớ hỗn độn răng và máu trộn lẫn; tiếp tục hành giả làm cuộc đại phẩu lấy dao rạch giữa trán dọc dài xuống, rọc hai tay máu chảy ròng ròng, lột da tay, lột da bụng, lột da lưng, lột hết da toàn thân để một đống da trước mặt; tiếp theo cắt từng miếng thịt, tất cả được 300 miếng thịt, rồi tim, phổi, thận, mật lấy ra; bao tử để riêng lá lách, dạ dày ruột non, ruột già, tỳ, phế, thận, màng ruột, gân, xương, tủy, hoành cách mô, lá lách lấy ra hết để trước mặt một bên; sau đó là phân, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, mỡ da, nước mắt, nước miếng, nước khớp xương, nước tiểu lấy ra từng phần thành ra ba mươi hai thể trược. Lúc này, hành giả nhìn kỹ những chất đống trước mặt, những thứ trong người được lấy ra, lột sạch và phân tích cái gì là mình, là của mình, là tôi, là của tôi, cái gì là tên tôi… không có cái gì thật có, chỉ là tổng hợp, là nương dựa, là hôi hám, vì nhận lầm tên tham ái, cố chấp và lầm rằng tứ đại này là mình, nên khổ dài dài.
Mình nhìn kỹ xem gan, mật, mỡ hay nước miếng có phải là mình không? Nó ở trong thân tứ đại này và chảy ra, luân chuyển, mạnh yếu vô thường. Có gì là sạch, có gì là thơm, có cái gì là đẹp trong đây mà tại sao cứ bám chấp vào thân duyên hợp vô thường tạm bợ này.
Nhìn thật tướng của thân này để thấy bản tánh là ba mươi hai thể trược. Tất cả chất cứng thuộc về đất, tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, lá lách, ruột non, ruột giàtim, gan, tỳ, phế, thận, hoành cách mô, ruột, màn ruột v.v... Tất cả những chất ướt thuộc về thể nước, như mủ, máu, mồ hôi, nước mắt, nước miếng, dịch, nước tiểu v.v... Tất cả những gì động chuyển trong cơ thể của mình thuộc về gió; nhiệt độ hơi ấm trong cơ thể mình thuộc về lửa. Quán xét cho kỹ để thấy rõ tính chất tứ đại này, ngay bây giờ mình nhìn thấy mỗi hơi thở là phong đại; tim đập, mạch nhảy, máu huyết lưu thông, tê chân chích như kim châm đó là phong đại đang động chuyển trong cơ thể của mình. Ngồi thấy ấm dưới chân là hỏa đại, bao nhiêu chất ướt trong cơ thể mình tươm ra, mồ hôi của mình tươm ra, nước miếng mình tươm ra, tất cả những chất ướt từ hai tay mình là mồ hôi đó là thủy đại, hãy quán xét cho sâu sắc thân này là tứ đại, thân này là sắc uẩn. Cái gì là mình? Tóc là mình hay răng, móng, da, thịt, xương, tủy… là mình? Nhìn kỹ vào thân tâm và quán chiếu cho sâu sắc sẽ xa lìa, nhàm chán thân này.
Quán tới cửu tưởng, chín giai đoạn của một tử thi.
Nhắm mắt lại tưởng ngay giây phút này, khoảnh khắc này, đang là, hiện giờ mình đang nằm trên giường bệnh hấp hối, lấy hơi lên tìm chút oxy rồi đứt hơi, nằm bất động, giống như khúc cây nằm bất động. Cả cơ thể này im lặng đơ ra và bắt đầu từ chân lạnh dần dần lên, lạnh lên nửa người, lạnh hết hai tay, lạnh lên tới phần trên, người cứng đơ, lạnh ngắt. Như vậy, thân này đã vẫy tay chào cái túi da hôi thúi, vẫy tay chào tháng ngày tạm gọi là sanh, già, bệnh, chết, vẫy tay chào những hỷ nộ ái ố, vẫy tay chào tất cả.
Lúc này, trong gia đình đưa lên bảng cáo phó Nguyễn Thị Xoài (Trần Văn Ổi,…) sinh, ngày, tháng, năm, tử ngày tháng năm, hưởng dương / thọ bao nhiêu tuổi, con cháu khóc lóc, mọi người đang tiếc nuối, kể về mình, thương xót, trách móc,… và thân mình nằm dài bất động.
Một ngày, hai ngày, ba ngày sau thân thể của mình từ từ phình trương lên, xanh đen lại, rồi bắt đầu nó nứt nẻ, chảy những chất lỏng thể nước bên trong ra từ những chỗ nứt nẻ, chảy mủ, chảy máu, dịch nhầy,… thân đó nằm trong nghĩa địa bốc mùi và các loài chim ăn thịt hoặc muông thú ăn thịt bắt được tín hiệu xác chết kéo tới, nào là quạ, diều hâu, kên kên, chó rừng đến mổ, rỉa, cắn rứt thân xác của mình, tiếp theo nó ăn, nó gặm nhấm, nó giành giật, nó cào cấu gầm gừ.
Bên ngoài là vậy, còn bên trong thì thân xác đó bị giòi từ trong bụng mình nó ăn ra, ăn những phần nội tạng bên trong rồi ăn trên hai con mắt, hai lỗ tai, giòi tuôn đầy mặt, tràn hai hốc mắt, ăn xuống phần thân, ăn chân, tay; cuối cùng còn lại bộ xương dính một ít thịt và máu khô bê bết, còn được các đường gân cột lại, chúng vẫn tiếp tục ăn riết đến khi chỉ còn chút thịt và máu không thể cạp được nữa, chúng ngửi và bỏ đi.
Ngày tháng trôi qua, các cây quanh đó lá xanh rồi vàng cứ tuôn xuống, lấp và bay đi… Bấy giờ than thể mình chỉ còn là những lóng xương khô quánh, gân khô lại giống như những sợi dây cũng dần dà từ giã những khớp xương, lóng xương rã rời kia. Vì gió và di chuyển của những loài ăn thịt nên xương sọ một chỗ, xương tay một chỗ, xương chân một chỗ, xương sườn một nơi, xương bàn chân một chỗ, xương bắp vế, xương mông, xương ống, toàn xương màu trắng giống như vỏ ốc. Sau cùng, những phần xương này bị thối nát theo năm tháng nó rã ra thành bột, mịn đến nỗi gió thổi rắc đi đó đây, chúng trở về hư vô, không còn gì là xác thân của Nguyễn Thị Mít, Trần Văn Xoài cả! Hãy quán chiếu thân này tính chất là như thế, bản tánh là như thế, không vượt khỏi tính chất ấy đó chính là thực tướng của thân này. Cuối cùng, nó thân tứ đại mà mình tạm gọi là của mình, là thân mình tan hoại trở về tro bụi.
Bây giờ, chúng ta lại từ từ mở mắt ra, hít sâu thở đều và thấy rõ đó là thực tướng của thân này.
Bệnh nặng của tất cả chúng ta trong cõi dục là chỉ đắm chìm vào tham dục, tham ái. Yêu thích tự thân, mong cầu và muốn chiếm hữu thân của người khác, tham ái mê lầm tài sắc danh thực thùy lộn lạo đúng sai, hơn thua, tranh đấu, thị phi không chịu buông. Chẳng chịu thấu tường tận thân này là tứ đại kết hợp, là ba mươi hai thể trược, là đồ dỏm, cuối cùng đi đến một bộ xương, biến dị rồi tan hoại. Chúng ta cứ nghĩ nó sống hoài, nó đi đến một chỗ sạch sẽ tốt đẹp, đáng yêu quý. Nghĩ là thường mà quên là vô thường; cho là đẹp mà quên là nhờm tởm… do vậy nên khổ và luân hồi còn. Đức Phật chỉ cho mình soi lại ánh sáng trí huệ, nếu chịu tu hành chân thật vào đạo thì sẽ thấy sự thật của thân này là giả huyễn hợp thành.
Tu tập cốt tưởng
Kinh Tương Ưng Bộ (Quyển 5): “Này các Tỳ-kheo, làm cho sung mãn được lợi ích lớn, thành tựu được một trong hai quả được chờ đợi ngay trong hiện tại, được chánh trí hay nếu có dư ý chứng được quả hoàn bất hoàn”.
Tu tập về quán tưởng bộ xương này làm cho sung mãn tròn đầy, tức là trong tâm khởi lên nhìn ai cũng thấy là bộ xương, chính điều đó giúp ta ngăn che sai lầm, bị sắc dục mê hoặc, bị những thứ bên ngoài thổi lọt vào tai thích nghe, mắt ưa nhìn, mũi ngửi thơm, lưỡi ưa vị ngọt rồi xúc chạm mềm mại mà ngủ quên trong vô minh. Thực tập được như vậy, lúc đó mình sẽ được quả báu lớn, lợi ích lớn, một trong hai thánh quả một là ngay trong đời này mình đốt cháy sạch hết tham sân si, chấm dứt hết tất cả đau khổ thành bậc A-la-hán, thánh quả tối cao trong Phật giáo đó là lợi ích thứ nhất.
Lợi ích thứ hai, nếu như mình còn hữu dư y là còn sót lại, chứng quả bất hoàn thì không còn ở nhân gian mà lên tận tứ thiên, rồi lên quả thứ ba gần kề quả thứ tư A-la-hán, pháp này rất rõ ràng, thâm thúy. Đức Phật nói ‘Thành này làm bằng xương, quét tô bằng thịt máu, ở trong ấy già chết, mạng lừa đảo chất chứa, như trái bầu mùa thu giống như xương trắng bồ câu’ thấy thân khô giống như trái chuối, cau khô, miếng cau khô còn da bọc xương, sân hận rất khổ.
Lợi ích của sự tu để trí huệ mình đốt cháy hết phiền não, nên mình cứ thường nhớ tưởng đây là bộ xương, mình sẽ thấy được công năng dẹp phiền não không thể tưởng tượng.
Hồi xưa, có một vị Tỳ-kheo, tu tập rất lâu năm gọi là Trưởng lão, vị này đang đi trên đường khất thực, tình cờ gặp một phụ nữ, người nữ ấy đang giận cãi cự với nhà chồng, cô mới đi về nhà cha mẹ đẻ ở, lúc cô đi về trang sức rất đẹp, cô đi ngang gặp một vị Tỳ-kheo trưởng lão, cô cười khiếm nhã, lúc đó vị Tỳ-kheo này đang quán chiếu cốt tưởng bộ xương nên vị này quán chiếu thấy cô này đưa nguyên hàm răng, ngay lúc đó Ngài đang quán về bộ xương, đốt sạch phiền não chứng A-la-hán đọc bài kệ:
“Thấy xương hàm răng
Duy trì cốt tưởng
Chưa dời chân bước
Quả chứng vô sanh.”
Tu đúng chánh pháp nên Ngài chứng quả A-la-hán. Lúc đó, ông chồng chạy tìm bà vợ, gặp ông trưởng lão và hỏi ‘có thấy vợ con đi ngang đây không?’, vị trưởng lão nói ‘tôi không thấy nam nữ, tôi chỉ thấy có đống xương di động’.
Bài kệ Ngài đáp:
“Không rõ ông hay bà
Vì ta không để ý
Nhưng trên đường cái này
Có đống xương di động”
Tu như vậy mới thành thánh quả.
Quán chiếu sâu sắc, trú trong sự quán tưởng liên tục không gián đoạn mới thuần thục pháp hành. Trong Trưởng lão Tăng kệ có thuật lại các vị Tăng tu chứng Thánh quả. Vị kia có gia đình rồi mới đi xuất gia, sau đó vị này gặp đức Thế Tôn thuyết pháp, vì quý kính quá nên ông đã xin Phật được xuất gia. Vị này xuất gia rất tinh tấn tu tập. Một hôm, trên đường đi cùng Tăng đoàn đi về ngang gia đình vị Tăng đó, lúc đó mẹ của vị Tăng đã bày mưu cho con dâu dụ chồng về sống lại, đừng xuất gia nữa, bằng cách kêu con dâu trang điểm thật đẹp, quần là áo lụa, son phấn, đeo vàng vòng, hương thơm quyến rũ đi tới dụ vị Tăng. Ngay lúc đó, Ngài quán bất tịnh tướng, quán ba mươi hai thể trược, quán cô vợ này là một thân giòi ăn, Ngài phát khởi thiền quán, Ngài quán cho tới mức độ tột đỉnh trí huệ đốt hết tham sân si chứng quả A-la-hán ngay tại chỗ.
Pháp đức Phật dạy quán chiếu rất tuyệt vời, không phải mình chỉ ngồi im re thở, rồi đọc vài câu pháp là thành tựu. Mà phải đốt phiền não, dập tắt tham sân si, phá mê lầm. Bây giờ tham sân si luôn dấy khởi, phiền não không dẹp thì không thể thành tựu tâm thanh tịnh.
Một cái mê lầm cứng chắc của mình là cái gì? Cái mê lầm cứng chắc của mình nghĩ thân này là bền chắc, nó như vậy hoài, nếu mình không có trí huệ quán chiếu sẽ nghĩ than là thường hằng, bất biến.
Chúng ta từng ngày đều có thấy, có nghe, có chứng kiến cảnh tai nạn giao thông, nghe tin báo đài từ tai nạn giao thông đến thiên tai chỗ này chỗ kia, nước này nước nọ. Nhưng vì không sâu sắc quán chiếu, chẳng để tâm nghiền ngẫm nên cứ nghĩ nó ở xa, không dính dáng tới mình đâu. Thật ra, nó luôn túc trực, kề cận bên ta. Mở con mắt trí huệ nhìn sâu thấy chấp ngã cái tôi, cái ta, của mình là dễ đưa vào tử nạn mà không hay. Cái tôi dìm ta sanh tử luân hồi, vô minh, tham ái, bị cái tôi mà nó đấu đá đánh đấm đưa tới khổ lụy tù tội, tam đồ ác tội. Chịu khó dung chày kim cang đập vỡ cái tôi này ra, trí huệ bát-nhã của đức Phật trao cho mình quán chiếu, thấy rõ đó là một đống thịt bầy nhầy khi bị tai nạn giao thông, khi bị chết, chấm dứt mạng sống, ổ chứa nhóm tật bệnh, bệnh hành mình khổ biết bao nhiêu, chết là chấm dứt mạng sống.
Minh Thành thường quán chiếu khi đang ngồi xe, máy bay, thuyền tàu, đi bộ,… có khi sẽ không còn tồn tại, có lúc sẽ im thở, mọi bức ngặt, khó chịu, vô thường sẵn sàng ập đến, cho nên cần dụng công, quán chiếu sâu sắc vô thường. Vì sao phải suy nghĩ như vậy? Có nghĩ vậy mới dễ dàng tha thứ, thương yêu, hiểu và thông cảm cho người cho vật. Nghĩ như vậy để nhẹ nhàng, thảnh thơi trên bước đường tầm cầu học Đạo giải thoát, phải tự độ rồi mới độ tha.
Đức Phật dạy tinh tấn có bốn cách tinh tấn
Tinh tấn thứ nhất là hộ trì căn. Mình phải luôn luôn đề phòng mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Đừng để nó phan duyên theo trần cảnh. Luôn giữ gìn nó trong chánh niệm.
Ví dụ, đang ngồi ở đây có ai đó quên tắt chuông điện thoại, tự nhiên có tiếng động reo lên inh ỏi từ chuông điện thoại thì âm thanh ấy làm cho nghe dễ khó chịu. Đó là không hộ trì lỗ tai, nhĩ thức, rõ biết của lỗ tai là mình bị phiền não.
Tinh tấn thứ hai là diệt tận tham, diệt tận sân, diệt tận si. Bất cứ lúc nào mình đi đứng ngồi nằm mà lúc đó trong tâm mình khởi lên nóng giận bực tức ai, diệt tận nó bằng cách là mình quán bộ xương, quán thân nằm dài chết, quán mấy người đang chuẩn bị chôn hay đưa vào lò thiêu, lúc đó cái sân dập tắt, cái tham cũng vậy.
Tinh tấn thứ ba là tinh tấn tu tập Tứ Niệm xứ (niệm thân).
Niệm thân có sáu phần, gồm:
Thứ nhất, niệm hơi thở;
Thứ hai, niệm bốn oai nghi;
Thứ ba, niệm hành động;
Thứ tư, niệm tứ đại (đất, nước, gió, lửa);
Thứ năm, niệm ba mươi hai thể trược;
Thứ sáu, niệm cửu tưởng (chín giai đoạn của một tử thi).
Thế Tôn nói rằng: “Này các Tỳ-kheo, ai mà thực hành thân hành niệm, người đó đang nếm hương vị của bất tử, ai mà không thực hành thân hành niệm người đó chưa có nếm hương vị bất tử”.
Xin chúc cho tất cả quý vị đang nếm hương vị bất tử!
Nhìn thấy cái tử để mình không bị dính mắc trong sanh tử, kiên trì, nỗ lực tu hành vượt thoát sanh tử, vào cửa bất tử. Ngược lại, thấy là thật, còn hoài thì mình đam mê trong sanh tử nên tử sanh, sanh tử, tử tử sanh sanh, sanh sanh tử tử, nhìn sâu xuyên thủng tấm thân vô thường này, xuyên thủng tấm thân bất tịnh này, xuyên thủng tấm thân vô ngã này, xuyên thủng tấm thân giống như một cái máy ráp những bộ phận không có gì là tôi, không có gì là của tôi, đó là mình quán thân niệm xứ, quán niệm thân, quán xét sự thật về thân này để đừng có chấp, đừng có tham luyến, buộc chặt vào nó nữa, mình sẽ được giải thoát.
Câu thần chú mà Minh Thành hay nhắc tự chính bản thân là: “Này cư sĩ, mắt không phải là mình, mắt là vô thường. Này cư sĩ, tai không phải là mình, tai là vô thường. Này cư sĩ, lỗ mũi này không phải là mình, lỗ mũi này là vô thường. Này cư sĩ, lưỡi này không phải là mình, chiếc lưỡi này là vô thường, sắp sửa rã rồi. Này cư sĩ, thân này không phải là mình, thân này là vô thường, nó sắp vào lò thiêu rồi. Này cư sĩ, ý này không phải là mình, ý này là vô thường, nó sắp sửa theo nghiệp luân chuyển rồi. Cư sĩ hãy tỉnh ngộ đi, hãy thấu triệt, hãy nhàm chán, hãy lìa tham, hãy giải thoát”.
Tu mà mười năm, hai chục năm nhìn mặt cũng khổ, không đi sâu vào chánh pháp, tu phớt phớt ngoài da, tu lờ mờ, là nguy lắm thay! Bây giờ chúng ta cùng nhau sách tấn tu hành, nói mạnh, làm căng, nhiệt tâm tinh cần, sáng suốt, thời gian không còn dài, tu thẳng, tu sâu vào, đó là niệm thân.
Tinh tấn thư tư là hộ trì thiện pháp.
Tinh tấn hộ trì thiện pháp là giữ những thiện pháp lành mà trí huệ hành giả có được. Mình thường tu siêng năng, tinh tấn trong tinh thần Bát chánh đạo. Chánh kiến là thấy thân này là vô thường, tứ đại kết hợp; thường xuyên chiêm nghiệm, nghiền ngẫm điều này mà không cho đi ngược, đó là chánh tư duy; mình nói lời chân thật, không nói lời gian dối, nói lời phù hợp với đạo lý, đó là chánh ngữ; mọi hành động, mình thực hiện theo đúng như pháp mình học đó là chánh nghiệp; mình nuôi mạng sống của mình một cách chân chánh, đúng với giới pháp đức Phật dạy, đó là chánh mạng; siêng năng, tinh tấn nỗ lực làm những điều mình học, đã thấy, đã chiêm nghiệm, đó là chánh tinh tấn; chánh tinh tấn như vậy sẽ thành tựu được chánh niệm, siêng năng nhớ nghĩ hoài đó là chánh niệm, chánh niệm rồi đưa mình tới chánh định, viên mãn Bát thánh đạo.
Ví dụ, bữa nay mình thành tựu được phương pháp quán chiếu về bộ xương, hay quán chiếu về con giòi hay thân nằm chết. Khi được pháp này, mình phải hộ trì, giữ gìn nó không cho nó mất, thường nhớ nghĩ, nhiếp tâm khéo quán chiếu về điều đó, phát huy cho nó lớn mạnh, cao rộng hơn thêm, sâu hơn nữa, gọi là mình tinh tấn hộ trì giữ gìn thiện pháp.
Hoặc như, hôm nay làm ăn có lời được mười triệu, mười triệu đó để dành làm ăn nữa, lấy vốn để làm ăn đẻ thêm lời, sự tu hành cũng giống vậy. Khi những thiện lành mình đã có thì phải giữ cho kỹ, giữ cho chắc, giữ cho chặt, đừng để nó rớt và sau đó càng phát huy them để nó lớn mạnh, tăng trưởng trí huệ sáng tỏ. Như vậy, hành giả đánh phá tất cả phiền não thành tựu tuệ giác tối thượng.
2. Tầm quan trọng của quán bất tịnh
Nếu hành giả mãi loay hoay đi tìm vị Thầy này, vị Thầy kia để thu thập hết tất cả kinh nghiệm hoặc đi hết nước này nước kia để tìm pháp hành thì hoàng hôn đã phủ, pháp hành vẫn chưa thông. Cần y cứ lời Thế Tôn dạy và quay trở lại tự thân tự tâm này sẽ thấy rõ con đường của chánh pháp không phải bên ngoài.
“Đức Thế Tôn là bậc Pháp chủ, Pháp nhãn và Pháp bổn, Thế Tôn là chủ của pháp, Thế Tôn là con mắt của pháp, Thế Tôn là cội gốc tất cả pháp, tất cả Pháp lấy Thế Tôn làm chủ, tất cả pháp lấy Thế Tôn làm y cứ, chúng con thỉnh đức Thế Tôn sau khi đúng, lắng nghe và khéo suy xét và y theo đó thọ trì tu tập”. Các Thầy Tỳ-kheo lúc nào cũng nói như vậy sau khi nghe Bậc Đạo Sư truyền pháp. Chúng ta lần trở về Tứ niệm xứ, quán xét thân tâm mình bao trùm hết tất cả giáo pháp, Tứ niệm xứ là một phần trong Bát chánh đạo.
Chúng ta tiếp cận kinh điển Nguyên thủy trên tinh thần cũ như giấc mộng nhưng mới hiện giờ.
Khi nhập thất lặng yên tu tập, huynh đệ nghĩ tại sao chúng ta không thể ở một mình được? Trong bài kinh Khiếp đảm và sợ hãi, Bậc Thiện Thệ dạy rằng: “Người có tham dục mạnh mẽ không độc cư thiền định được, người sợ hãi không độc cư thiền định được, người thích giao thiệp, giao du không thể độc cư thiền định được, người thích danh văn, lợi dưỡng cúng dường, cung kính không thể độc cư thiền định được.”
Thân nhập thất, tâm ở ngoài, lo nghĩ ngược xuôi bao thứ chuyện chẳng thật đạo. Hết nhớ Phật tử, đệ tử lại nghĩ tới huynh đệ, tỷ muội hoặc suy tính công việc bộn bề chưa xong, việc này còn, việc kia sắp phải làm,… Trong thất ăn uống kham khổ quá, không được tự do đi đó đây và quan trọng nhất là chẳng dám đối diện với chính mình. Bao nhiêu ý nghĩ ấy là cạm bẫy làm cho mình thối chí, dễ dàng buông bỏ ý niệm nhập thất, xa lìa nơi tịnh tu mà đi vào nơi chốn an nhàn, đông chúng, gặp gỡ huynh đệ, có nơi hý luận. Người mà như vậy, khó mong vào thiền định được.
Chế ngự dục lậu, hạ thủ công phu đòi hỏi mình phải có thời gian yên tịnh để nhìn lại thân tâm, đóng lại sáu căn để soi lại bên trong, tìm lỗi mà sám hối, để soi chiếu cho nó sạch lại thiện pháp như hôm nào. Vì ở ngoài thì dễ mở sáu căn tiếp xúc với sáu trần sanh ra thị phi, khởi niệm tham sân si, lăng xăng có khác gì ngoài đời.
Tiếng xe ồn ào nghe riết thành quen nhưng có những người ở quê lên thành phố, có dịp nghỉ lại tới sang hôm sau vẻ mặt uể oải, thần sắc bợt bạc vì khó ngủ, không ngủ được vì tiếng ồn của xe cộ. Do không quen chế ngự nhĩ căn, âm thanh làm cho mình bực bội, khó chịu. Họ quen tĩnh lặng nên khó tiếp nhận cái động, còn mình thì quen trong cảnh động nên sợ tiếp cận cảnh tĩnh lặng. Đều phân biệt và chưa thật dụng tâm tu hành!
Trong một bài kinh đức Phật có nói, người kia đứng trước gương soi và nhìn thấy gương mặt dính bẩn, nhờ soi gương mới phát hiện gương mặt mình dơ, khi phát hiện mặt mình dơ mới chùi lau rửa, tẩy, làm đủ mọi cách cho nó sạch; sự tu hành cũng vậy. Đối diện với chính mình rất cần thiết, tất cả chúng ta thường trốn tránh, khỏa lấp nhằm che đi sự thật, cố tìm cái khác lấp lên cho lãng quên, nhưng đó là sai lầm.
Vào thất không dám đối diện với mình, bằng cách tụng kinh, niệm Phật, trì chú liên tục, không dám ngồi yên nhìn lại tâm; tuy vào thất nhưng vẫn là chưa phải đối diện với chính mình, tâm vẫn còn bên ngoài. Vậy, phải đối trị, nhiếp phục cho được dục tham, dục ái, chính chỗ này là chỗ chúng ta phát hiện ra sự thiếu sót không thể thiếu mà mình thiếu, đó là thời đức Phật còn tại thế, thân niệm xứ nhất định phải có quán bất tịnh, quán ba mươi hai thể trược và quán chín giai đoạn của một tử thi; tu tập pháp này sẽ nhiếp phục được tham dục, đây là phương pháp của Bậc Chánh Đẳng giác.
Hòa thượng Luật sư thượng Minh hạ Thông có dạy rằng ‘chỉ cần giữ một giới này (tham dục) đủ để nhận sự cung kính, cúng dường, đó là giới quan trọng nhất của người tu mình’. Bây giờ mình tu mà không động đậy đến vấn đề đó, né tránh nó, sợ nó thì bị nó nhiếp phục mình rồi! Để tẩy sạch tham dục, diệt tận tham dục cần soi lại thật kỹ trong bản kinh Tứ niệm xứ, thân hành niệm, quán tướng bất tịnh. Từ lý thuyết tường tận rồi gia công hành trì, nhiệt tâm tinh tấn, bồi đắp tài đức, dụng công miên mật mới không thẹn với đời sống xuất gia.
Thật lòng tâm sự cùng huynh đệ, mình đã quán như thế nào khi nhập thất? Lúc đó, một sự chuẩn bị rất chu đáo tựa như là lần chót, lần không thể ra ngoài nữa, lần này quyết tử như cái ngày mới đi xuất gia vậy! Mình đã ghi những dòng chữ sau đây trên bảng:
Đại đức Thích Minh Thành tân viên tịch
Thế danh: Hồ Ngọc Hiếu
Sinh ngày: 30.12.1975
Mất ngày: 01.04.2018
Hưởng dương: 43 tuổi
Quê quán: Thị xã Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp
Viên tịch tại thất Linh Quy Pháp Ấn (thôn Tà Ngào, xã Lộc Thành, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng).
Bắt đầu mình ngồi đối diện với cái bảng ghi những dòng chữ trên, cạnh đó là bộ xương người bằng nhựa. Sự quán tưởng đi vào từng ngóc ngách trong cơ thể, tâm tư này. Lúc đó, Minh Thành thấy cha mẹ khóc, đệ tử trong chùa khóc, Phật tử gần xa biết tin kéo về núi viếng tang. Còn cái gọi là Thích Minh Thành kia thì đang nằm bất động, không còn móng niệm gì, chẳng phải nói gì nữa, như một cái cây vô dụng nằm đó!
Huynh đệ, đệ tử tụng kinh siêu độ, khói nhang rợp trời. Sau đó là sáu người khiêng cái xác bất động được bó lại bao lớp vải... Họ để mình lại trên đỉnh núi. Một cuộc sanh tử, một sự ra đi bất tận. Bỏ lại sau lưng chùa chiền, bổn đạo, trường học, khát vọng, ấp ủ trên bước đường hoằng pháp lợi sanh,… đều sựng lại, nghẽn mạch, im lìm và không thể tiếp tục, bỗng chốc trở thành vô dụng.
Sự mong nhớ, khóc buồn của mọi người rồi cũng qua đi.
Thân xác mình nằm trong quan tài lúc này bắt đầu, không phải lúc này, mà thật sự là nó chuyển động thay đổi từng khoảnh khắc một. Mình ghi nhận như một thước phim quay chậm lại về xác thân giả huyễn này.
Bên trong nội tạng bắt đầu hư thối; bên ngoài sau vài ngày bắt đầu nó trương phình lên gấp hai, ba lần lúc còn sống. Toàn thân chỗ nào cũng như được bơm hơi. Mặt to lên, hai tay phình lên, hai chân cũng trương sình và cái bụng cứ như bự lên mãi. Sau đó, chúng bắt đầu rạn da nứt nẻ dần, lớp da ngoài cơ thể này bắt đầu tím tái xanh xao bầm lại, mùi hôi thối trong xác chết bắt đầu hực lên. Nước trong nội tạng rỉ ra, chảy ra, bùng nổ, tuôn trào và vỡ như vỡ đê vậy. Bộ đồ lòng bị giòi lúc nhúc thi nhau rúc rỉa, từ trong hai con mắt giòi đổ ra, giòi đầy hai lỗ tai bò ra cùng khắp, những bộ phận phía dưới giòi ăn hết, chúng bu đen và hút, ăn, nhai, nuốt những gì là mềm, nhẹ, bên trong.
Kế đó loài kên kên, quạ, diều hâu, chó rừng tới gặm, cắn xé, giành nhau, gầm gừ, từng miếng thịt bị chúng nó giật ra khỏi thân nghe phựt phựt, mỡ, máu chảy tanh hôi, bốc mùi kêu gọi những con thú khác tìm tới tử thi để ăn. Từ loài lớn cho tới loài nhỏ, chúng ăn lần, ăn mãi cho đến không còn thứ gì có thể ăn, cắn, nuốt được thì chúng bỏ đi.
Lúc này, chỉ còn lại một bộ xương vương vãi đó đây, những miếng thịt khô quánh lại còn sót trong những khúc cong, khe xương nên muông thú không ăn được. Gió, mưa, nắng làm héo khô bộ xương kia, nó nằm trơ trọi một năm, hai năm, ba năm và sau đó bị phân hủy dần, những lóng xương, khúc xương, khớp xương giòn mục rã ra, một số bám sâu vào đất, một số thành bụi bay lên hư không về với bao la vũ trụ. Xương sọ to nên còn nằm đó, hai hốc mắt sâu thăm thẳm kiếp người! Xương ống chân, ống tay, xương sườn, xương bàn chân, xương vai, xương khuỷu tay nằm trộn lẫn và giờ thì không còn phân biệt được cái nào là cái nào nữa.
Tất cả đều tan hoại, nước mắt rồi khô, xương tan thành bụi, đó chính là bản tánh thân này là như thế không thể khác, tánh chất thân này là như thế không thể khác. Và thân này cuối cùng cũng đi tới đó không có gì khác hơn nữa, dù cho có khóc than ly biệt. Ai rồi cũng trải qua một cuộc sanh trụ dị diệt, sanh già bệnh chết. Do đó mà tìm cầu đạo giải thoát xa lìa phiền não, bỏ mê tìm giác, đi tới giải thoát hoàn toàn, rốt ráo chân thật, tịch tỉnh Niết-bàn, không còn sanh tử luân hồi.
Quán tới tột cùng như vậy, lông tóc dựng ngược, thân nổi da gà và chấn động hết thân tâm. Minh Thành thực tập như vậy không chỉ một lần mà cả chục lần. Mỗi lần quán đều nghe nồng nặc mùi hôi tanh xác người, muốn ói mửa ra.
Minh Thành quán như vậy xuyên suốt bốn tuần lễ, hiệu quả là nhiếp phục được dục tham, suốt thời gian đó thân không có sanh khởi, mình mới thấy và tin được lời đức Phật. Một vài huynh đệ quán theo cách ấy nhưng chưa thật dốc hết toàn tâm ý nên nói rằng, ‘con quán thân bất tịnh mà toàn quán thấy tịnh’, đó là một suy nghĩ tiêu cực. Do chúng ta không thật tin chánh pháp của đức Phật, chẳng thật tôn trọng pháp nên thực hành chưa sâu sắc, dụng công chưa thấu triệt, nên hiếm có kết quả. Nói như vậy không có nghĩa là mình đã được gì, là gì, chỉ là tiếp tục công phu, nỗ lực hành trì, đường đi còn xa vạn dặm! Hãy cùng nhau chí thành nỗ lực, không ngừng đắp bồi đạo hạnh tu hành chân chánh.
Bản thân thấy xấu hổ, ngã chấp còn đó, tham dục còn kia, chỉ là bước đầu thấy được mạch nguồn của sự si ám đó, diệt tận nó, bứng cội rễ nó lên để cho ánh quang minh rọi vào. Ngày nào trong thất cũng quán tới quán lui liên tục, quán rằng bộ xương này đang ngồi đây, quán tình ái của nam nữ là do sự tham dục sanh khởi mà không hay rằng chúng chỉ là bộ xương này ôm bộ xương kia và bộ xương này khao khát bộ xương kia. Mình mới nói với tâm ‘một bộ xương hôi hám dơ bẩn chưa đủ hay sao mà còn muốn tìm thêm bộ xương khác để cùng với nhau hôi dơ, bất tịnh và đau khổ; tham cầu cho tới chết luôn hay sao, có được cái gì đâu, đừng tham nữa, đừng sân nữa’.
“Thành này làm bằng xương
Quét tô bằng thịt máu
Trong ấy già và chết
Mạng lừa đảo chất chứa.”
Đọc lại và ngẫm cho thấu để thấy thân này không thật có. Lớp da bọc bên ngoài che đậy sự nhơ nhớp bất tịnh này, tấm thân này lừa dối mình không phải kiếp này, đời này mà trải qua bao nhiêu đời bấy nhiêu kiếp rồi. Vậy mà, than ôi! Mình vẫn bị nó lừa dối, còn đắm đuối, mê say, si mê, ảo mộng trong tấm thân vô thường hư ảo này. Đúng là ngu si điên đảo cho một tên Thích Minh Thành, mê muội cho một cái tên là Thích Minh Thành, tỉnh ra chưa? Hãy mở mắt to lên để nhìn thấy thực tướng bản chất của thân này, nhìn đi, nhìn cho kỹ đi… Khi quán xét nói chuyện với tâm mình, lúc đó nước mắt Minh Thành ràn rụa giống như người ta đang đánh mình nên mình mới tin lời của Phật.
Pháp quán bất tịnh là một phương pháp tuyệt diệu giúp cho mình nhiếp phục những ngã mạn, sai lầm, tham dục. Nhưng không phải mình thực hành một lần là sạch hết, không phải trong một giai đoạn là được, nếu mình bỏ dở không tu nữa thì tập khí, chướng duyên tiếp tục trở lại. Trong sự tinh tấn, đức Phật dạy, gọi là tinh cần hộ trì thiện pháp, tức là mình được pháp quán rồi cần phải giữ không cho mất.
Tại thất Linh Quy Pháp Ấn huynh đệ, đại chúng cùng nhau thực hành bất tịnh quán, qua việc xem video xem những hình giòi ăn trơ xương, thú ăn xác người, chín giai đoạn của một tử thi… Sau đó, cùng nhau thiền quán, bước đầu có một vài chú trẻ có được sự hỷ lạc thân tâm.
Bốn Thánh quả là bốn thành quả của một người xuất gia chân chánh theo Phật giáo, được đức Phật xác nhận. Bốn thành quả giống như mình làm thì có tiền, mình học thì tốt nghiệp cái đó đương nhiên, Thánh quả là thành quả của con đường Thánh đạo. Chúng ta tu hành là dịp để soi lại nội tâm của mình, luôn làm bác sĩ phẫu thuật chính mình; đừng nhìn người, đừng chê người mà hãy chê mình, chỉ trích những sai phạm, chưa giải thoát được của chính bản thân. Từ đó, thấy được tham dục di chuyển, sân hận vận hành, vô minh trú nơi nào trong thân tâm này. Đầu tiên phải thấy được dục lậu, sự nhiễm dục ở trong tâm của mình, nếu mình không nhìn lại sẽ không thấy. Huynh đệ biết rằng từ đỉnh đầu xuống tới gót chân chỗ nào cũng nhiễm dục, mình tưởng đâu tôi tu ngày nay tôi không thấy tôi giận, ai không thấy phiền não thì thật là chưa thấy pháp.
Phiền não ở trong cảm giác cảm thọ, phải biết mình đang ở cảm giác nào, nếu không nhận diện được cảm giác cảm thọ thì không biết được trú xứ của phiền não. Ví dụ, lúc mình nổi nóng lên thì cảm giác có thay đổi nóng trên mặt, nóng hai lỗ tai, hai con mắt nóng đỏ lên đó là hình tướng của sân. Thường nhìn quán chiếu khổ thọ, khi nó cục cựa tát cho nó mấy cái, đánh cho nó tơi tả tan tành. Chỉ khi nào thấy được trú xứ của phiền não, căn cứ địa của tham sân si, hành giả mới đoạn diệt được những bất thiện pháp ấy. Trú xứ căn cứ địa là cảm thọ, nó liên hệ tới tưởng, hành, thức mình phải nhận diện năm uẩn, cảm giác của mình.
Mình cứ tưởng sống hàng ngày như vậy là tốt, nếu không nhìn sâu cảm giác, chẳng hay quán chiếu sẽ không thể biết được tâm cảm mình như thế nào. Lúc mình lên ngồi Quả đường, đại chúng dọn lên cúng trai Tăng bảy món, trong đó có món ruột của mình. Ngay khoảnh khắc đó, bản than soi chiếu liền, như đang dùng kính chiếu yêu vậy! Chiếu coi gương mặt mình đang tham, sân, si như thế nào về món ăn đó. Về phần sinh lý tự nhiên nước miếng tươm ra, bên trong rạo rực mong muốn lẹ mau gắp nhanh thức ăn mình thích, muốn món ăn đó được đặt ngay vị trí mình ngồi, đó là dục tham trỗi dậy, cảm giác ham ăn. Không chánh niệm là mình đang nuôi dưỡng dục và tham mà mình không biết. Hoặc như, nếu lúc đó trong mâm của mình có một món mình thích nhất tự dưng bị người khác đẩy qua mâm kia, lúc đó cái gì nổi lên? Tu ngay chỗ miếng ăn đó. Chú ý tham và sân khởi trong tâm. Điều đó có khi nó trỗi dậy hoặc chìm khuất đâu đó, nhưng được dịp nó tái hiện và sự tham cầu, sân hận lại tiếp tục nung nấu, dù cho qua việc đó hai ba ngày cho tới một tuần, nửa tháng sau. Như vậy, dài ngắn, chậm hay mau là do công phu tu của bản thân hành gỉ có khéo kiểm soát cảm giác chính mình hay không. Mình bị ý hành, những lời nói thầm thì trong tâm và khi nói những lời nói đó, có những hình ảnh người bưng thức ăn trong ngày cúng trai Tăng tái hiện, đó là tưởng và cảm giác lúc bị bưng tô thức ăn mình thích đi chỗ khác, đó là cảm thọ. Tất cả là sắc tưởng, thanh tưởng, hương tưởng, vị tưởng, pháp tưởng tức là những gì của quá khứ nhưng hồi tưởng trở lại. Như vậy, hình bóng người đó trở lại là sắc tưởng, tiếng nói của người đó hiện lên là thanh tưởng, mùi hương của món ăn đó hiện lên là hương tưởng, vị tưởng là cảm giác của món ăn đó ngon. Chúng ta bị đau khổ dìm tận, do mình chưa thực hành chế ngực, đoạn tận năm uẩn.
Hãy nghĩ tới món ăn bằng việc ngon biết là ngon, dở biết là dở, nhưng không khởi tâm chê khen, mong cầu hoặc khó chịu… Cảm giác ngon, dễ chịu đó là bình thường nhưng trong đó nó có dục tham; dục tham muốn món này được châm thêm hay muốn gắp thêm món này nhiều nữa hoặc là có cơ hội ăn xong mình xuống bếp hỏi món này cách làm ra sao để khi về mình làm tiếp món đó ăn, như vậy là dục tham.
Cảm giác khó chịu là bình thường, như mình đi ngoài nắng ba mươi tám độ C, lập tức khởi tâm ý bực bội, đây là bóng dáng của sân rất vi tế. Cho nên, cảm giác khó chịu kia là cảm giác của thân, còn cảm giác khó chịu, bực bội là của tâm sân. Còn không khó chịu không dễ chịu đó là si, tức là mình không thấy được thân hành niệm, mình không biết thân này là pháp duyên khởi kết hợp vô thường, nó phải tồn tại do ăn mặc tắm gội, do tinh cha huyết mẹ bao nhiêu thứ hỗ trợ mới được sinh tồn. Vì nó không tự có, không quán chiếu về vô thường tưởng, vô ngã tưởng nên khổ, nếu mình nhìn thấy được như vậy sẽ phá được si ám.
Hoặc như trời nóng nực, chúng ta đi tắm cho mát, đương nhiên mình có cảm giác dễ chịu, trưa nắng mình được xối nước (nhìn thấy ở trong xúc trần, thân mình tiếp xúc với nước là xúc, thân căn tiếp xúc với nước là sắc trần bên ngoài), phát sanh rõ biết gọi là thân thức, thân thức rõ biết của thân về sự xúc chạm, ba pháp này giao thoa với nhau tạo ra xúc sanh ra thọ, sanh ra một cảm giác. Thọ sanh ra tưởng, hành, nên mình xúc, cảm giác sanh ra dễ chịu, nếu mình không biết chánh niệm do có nước xối vào người, thức rõ biết sự tiếp xúc của nước này đó là pháp duyên hợp, xúc mới sanh ra cảm giác cảm thọ mình nhìn thấy được pháp như vậy, mình không có bị cái xúc nó nhận chìm, lúc đó xúc sanh thọ, thọ sanh tưởng rồi những cảnh liên hệ tới dục, liên hệ tới sự êm ái, liên hệ tới tham tiếp tục thọ, tưởng, hành, thức, xúc sanh thọ ngũ uẩn vận hành liên tục suốt ngày suốt đêm. Chúng ta thấy được chỗ dục tham ẩn nấp trong việc tắm nước mát, thích thú, tất cả những gì hỷ tham, ưa thích trong sắc đó gọi là vị ngọt của sắc.
Thế nào là sự nguy hiểm của sắc? Là vô thường, biến đổi, tan hoại, đi tới chỗ chấm dứt, diệt tận, đấy là chỗ nguy hiểm của sắc.
Thế nào là sự xuất ly của sắc? Là sự nhiếp phục của tham ở trong sắc. Đòi hỏi tinh cần, nỗ lực, quyết chí của mình chứ không phải tu phớt phớt, chỉ an ổn trong sinh hoạt của mình hai thời khóa tụng cùng Tăng-già. Tu theo lời đức Phật sẽ thành tựu con đường Như Lai đã đi. Con đường đó khai mở, sáng tỏ, cụ thể. Học kỹ rồi hành trì, có niềm tin bất động với Bậc Đại Giác ngộ, hành giả sẽ thành tựu.
Hữu lậu là gì? Tâm mình muốn làm cái này cái kia không có yên, muốn suy nghĩ, kiếm chuyện này chuyện kia để làm, là hữu lậu; còn nghĩa sâu, luôn luôn bên trong mình có sự khao khát hiện hữu là muốn mình còn tiếp tục những đời sau. Nội tâm mình luôn luôn có sắc tưởng về mình, mình nói chiều này tôi đi qua chùa bên kia dự lễ, khi mình nói vậy là trong tâm mình có hình bóng mờ mờ của mình trong đó, là sắc tưởng về mình. Tu để nhìn cho thấu được những phiền não này đang tiêm nhiễm trong tâm. Những gì đang khao khát hiện hữu tiếp tục hiện hữu, phải có cái mình, có cái tôi mới được, không có cái tôi là không được, do vậy chìm đắm trong vô minh, khổ sầu hoài chưa thoát.
Luôn ghi nhớ trong tâm niệm, cảm giác toàn than, nhận diện năm uẩn, quán bất tịnh và sẽ cảm nhận được ý nghĩa nhiệm mầu trong quá trình hành trì quán bất tịnh. Nó giúp hành giả xa lìa tham muốn, chấp chặt, mê lầm, thị phi, điên đảo. Không có cái gì là mình, của mình. Quán sâu xét kỹ pháp Vô thường, Vô ngã, Niết-bàn tịch tỉnh đang là.
3. Trí tuệ bất tử
Tất cả đại chúng cùng nhau quay về thực hành ba pháp trong khi tĩnh tọa, mắt mở ra nhìn về phía trước, cảm nhận sự sự động chuyển ở ba chỗ chóp mũi, lồng ngực và bụng; mở rộng cảm giác toàn thân, cảm nhận sự di chuyển của hơi thở đi từ đỉnh đầu, mặt, cổ, vai, cánh tay, bàn tay, mình, mông, bàn chân, đến tận các ngón chân. Toàn bộ cơ thể cảm nhận được sự có mặt của hơi thở di chuyển qua từng bộ phận, nội tâm tĩnh giác tỏ sáng. Ba pháp này thực tập mọi lúc mọi nơi, lúc đi đứng ngồi nằm, không phải đợi lúc ngồi thiền mới thực tập, rõ biết trước mặt, trở về hơi thở.
Thực tập cảm giác toàn thân để phát hiện tham sân si ở trong cảm giác, nhìn lại cảm giác để thấy được tham trong đó, sân trong đó, si mê chấp ngã trong đó cái trì trệ hôn trầm lờ đờ nó là si. Sau đó, nhiếp phục cảm hóa nó mới cảm thấy an lạc được. Vì, con rắn trong nhà làm sao mình ngủ yên, đó là bốn con rắn độc!
Thế Tôn nói rằng, nếu trong cuộc đời này mà không có già, không có bệnh, không có chết đức Phật không xuất hiện trên thế gian. Do mình luôn luôn sống trong sự lãng quên, không nhớ mình đã già, đang già và sẽ già, chẳng nhớ mình đang bệnh, đã bệnh và sẽ bệnh, quên rằng một lúc nào đo mình sẽ chết, đang chết và đã chết. Như vậy, cái chết trong tế bào từng bộ phận đang tiến dần tới chỗ hủy hoại, hoại diệt, biến diệt đó là mình đang chết, đã chết trong vòng luân hồi sanh tử.
Tương Ưng Bộ Kinh có dạy rằng: “Này các Tỳ-kheo, này các đệ tử, nước mắt của các ông khóc vì cha chết, mẹ chết, vợ chết, chồng chết, con chết, anh chết, em chết, cô chú, ông bà chết nhiều hơn nước mắt của bốn biển”. Nước mắt của chúng ta đã rơi vì những người thân thương trong vòng luân hồi này rất nhiều. Nếu không có trí huệ quán chiếu, chúng ta sẽ không thấy, cứ ngỡ rằng mình mới sanh ra đây. Không phải đâu, mình đã sanh sanh tử tử muôn ngàn vạn kiếp rồi. Thật vậy, ta đã chết, đang chết và sẽ chết. Luân hồi, mê lầm, vọng tưởng, điên đảo nên giờ đây mình quên nỗi đau đó. Tiếp tục tái sanh trong sự luẩn quẩn của tham sân si nên chưa ra khỏi năm uẩn lẫy lừng mê muội. Vì chúng ta ‘quên hết’, nên giờ đây tiếp tục mạnh mẽ trong dục cầu, nối tiếp sự tranh đấu, bị ràng buộc phiền não với nhau; nếu mình nhớ những điều đã từng vô minh, tất cả phiền não tự động rơi rụng, như nước đổ lá sen, như hạt cải đầu kim.
Chúng ta từng đi dự những đám tang của Phật tử, của người thân, huynh đệ tỷ muội,… Nhưng có bao giờ giật mình và nghĩ rằng cái chết đang xâm chiếm, bủa vây lấy chính mình hay không? Bí mật pháp môn là luôn luôn nhớ mình sẽ chết, đó là pháp môn bí mật, nhớ nó rồi suy xét kỹ thì tham sân si, phiền não tự động rơi rụng. Có như vậy mới buông xả, không để giành thời gian cho thị phi, sân giận với mọi người, nói xấu với người. Vì không có nhiều thời gian cho sự sống, nên sống tốt, sống thiện lành là cách hữu hiệu kéo dài tuổi thọ, cách làm cho mình tự tại, mình với người cùng an vui. Đây là tuệ lực, sức mạnh của trí huệ, sức mạnh của Bậc Chánh Đẳng Giác truyền trao cho Phật tử. Hành giả ơi! Cùng nhớ nhé!
Đa phần gặp gỡ nhau là chúng ta sau màn chào hỏi thăm nhau, bắt đầu kể chuyện tốt mình xấu người. Hoặc than vãn, tham sân si dấy đầy trong câu chuyện. Nhưng lại vui vẻ trò chuyện từ sớm mai tới tối mịt bên tách trà, ly rượu, phiếm luận đó đây. Vậy mà nghe kinh, đọc tụng, đi chùa, gặp thiện tri thức lại e dè, né tránh, bận bịu, trốn tránh. Đặc biệt, hễ ngồi một mình, yên tĩnh cho tâm lắng đọng, để thân và tâm cùng trao đổi chuyện trò thì không thể lâu hơn năm, mười phút. Vì ta sợ đối diện với chính mình, đối diện với sự sợ hãi, cô đơn, nên né tránh, chạy tìm người, nhằm khỏa lấp, mà càng làm vậy thì sự xa rời con đường vào Đạo, con đường giải thoát phiền não càng thêm xa cách với mình.
Bài kinh ‘Già’, Tương Ưng Bộ Kinh, tập 5, trang 338: “Tôi nghe như vậy, một thời đức Thế Tôn ở Sa-va-thi, lúc bấy giờ Thế Tôn vào buổi chiều từ chỗ độc cư đứng dậy, ngồi sưởi ấm lưng trong ánh nắng của phương tây, Ngài Tôn giả A-nan-đa đi đến bên đức Thế Tôn, sau khi đi đến đảnh lễ Thế Tôn với tay xoa bóp chân tay cho Thế tôn và thưa rằng: ‘Thật là kinh hoàng thay, bạch Thế Tôn, thật là kỳ dị thay bạch Thế Tôn; bạch Thế Tôn, màu da Thế Tôn nay không có còn thanh tịnh trong sáng, tay chân rã rời nhăn nheo, thân được thấy còng về phía trước, các căn đang bị đổi khác, mắt, tai, mũi, lưỡi, than…’”.
Đức Phật dạy: “Sự thể là vậy, này A-nan-đa, sự thể là vậy, tánh già nằm trong tuổi trẻ, tánh bệnh ở trong sức khỏe, tánh chết ở trong sự sống. Như vậy màu da không còn thanh tịnh trong sáng, tay chân rã rời nhăn nheo, thân còng về phía trước, các căn đang bị đổi khác, nhãn căn, nhĩ căn, thiệt căn, thân căn, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, Thế Tôn thuyết như vậy, Thiện Thệ nói như vậy”. Bậc Đạo Sư lại nói: “Bất hạnh thay tuổi già, đáng sợ thay cuộc sống, tuổi già làm phai nhạt sắc diện của màu da, hình bóng trước đáng yêu, vừa lòng nay già đã phá tan, ai sống được trăm tuổi cuối cùng cũng phải chết, không bỏ sót ai, tất cả pháp bị phá sập”.
Minh Thành nghe tới bài kinh này rúng động chảy nước mắt, cảm xúc rất sâu sắc chảy nước mắt.
Thông điệp đức Thế Tôn truyền tới chúng ta rất quan trọng, phải biết sự thật của vô thường, khổ là điều hằng hữu. Ngài đã giúp chúng ta phá vỡ lớp mê tín sâu dầy từ trước đến giờ, cứ tưởng tượng đức Phật là một vị giống như trong phim, không lột tả được hết chân lý của đạo Phật muốn nói là già bệnh và chết là cốt lõi của đạo Phật, là sự chỉ bày cặn kẽ để bớt khổ thêm vui, tinh tấn chuyên cần sẽ lên bờ giải thoát. Già, chính đức Phật da nhăn nheo, lưng còng về phía trước khom lưng, tay chân giống như rã rời, mắt mũi đổi khác hết, cho nên mình tu tới giờ này mà cứ ghi tên cầu an, chứng tỏ mình chưa có trí huệ, thân thể làm gì có an ổn trong này, làm gì có sự an toàn trong đây.
Kinh Bất an, không an toàn làm gì có thân cứng chắc bong bóng này:
“Hãy nhìn bong bóng đẹp
Chỗ chất chứa vết thương
Bệnh hoạn và suy tư
Thật không gì trường cửu.”
Đó là sự thật của thân này, thân này giống như bong bóng đẹp nhưng nó nát vỡ, tan ra bất cứ lúc nào, mình đừng tưởng còn trẻ mà cứng chắc. Mọi vật luôn biến đổi. Chúng ta nghiền ngẫm sẽ thấy sự bất an, không có gì là an toàn, vững chãi cả. Đi bộ sát lề cũng có khi bị xe tông vào. Vô tình đi ngoài đường gặp ngya vùng bị nhiễm đường hô hấp, về bị bệnh, lây cả nhà. Đi tàu, xe, máy bay cũng vậy… không biết được sự trọn vẹn của bình an. Không phải nói để chúng ta thấy sao mà yếm thế, khổ đau quá vậy! Mà để vạch ra cho mình cách sống tốt hơn, ý nghĩa thiết thực, ngay đây và bây giờ có ích lợi cho mình, cho người. Đừng lãng phí tuổi trẻ làm chuyện không hay, đừng lãng phí tuổi trẻ vào những cuộc đua thị phi, tham sân si trong biển vô minh. Đừng chờ già mới tu. Tu ngay khi còn trẻ và lúc nào có dịp, chớp lấy cơ hội để mang lại sự quân bình tỉnh táo và sáng suốt trong công việc, đời sống bản thân và gia đình...
Đức Từ phụ thị hiện thân già, bệnh, chết để cho chúng ga thấy rõ sự vận hành của vô thường là như vậy, không thoát ra. Muốn thoát chỉ còn cách tu hành cho chân chánh thì cái chết kia là rũ bỏ túu da hôi thối để đi vào cõi sống bất tử thường hằng, còn gọi là Thường Tịch Quang Tịnh Độ.
Tánh bệnh ở trong sức khỏe.
Dù cho cơ thể chúng ta đang rất khỏe mạnh, bình thường, lành lặn, nhưng tánh bệnh nó tiềm ẩn, phục kích chờ khi tứ đại tiêu hao nguyên khí, chờ khi mình sục sịch cơn ho cảm, uể oải gì đó là nó xông lên đánh một trận cho mình ngã gục. Người ta hỏi mình khỏe không, mình cứ luôn miệng nói là tôi khỏe lắm à, rất khỏe, rồi thờ ơ với thân thể, làm việc lao lực tới khi sơ sẩy thì nguy hại cái thân, còn đâu phương tiện để mà hành trì công phu trên bước đường giải thoát.
Bất hạnh thay tuổi già.
Bất hạnh là không may mắn khi tuổi về già, tuổi của hư suy, bệnh tật, không làm chủ được cơ thể. Nhưng tuổi già mà mình còn đi chùa nghe pháp, tụng kinh, lạy Phật được thì coi như còn chút may mắn. ai mà có tuổi già phải nằm một chỗ, đại tiểu tiện một chỗ, ngồi xe lăn, sống dở chết dở thì đó thật là điều bất hạnh của kiếp người khi ở tuổi xế chiều. Có trường hợp, người mẹ kia bị hỏa hoạn cháy nằm một chỗ bỏ lại đứa con mười mấy tuổi, đứa con gào khóc xót xa khi chứng kiến mẹ nó rớt ra từng miếng thịt và bị hoại tử.
Có những người tuy đã già, đã mang nhiều chứng bệnh vậy mà cũng không thể nán lại một chút cho biết niệm Phật, nghe kinh, nghe pháp. Cứ xem ti vi coi phim, nói chuyện đông tây suốt ngày thì được, cho nên khổ hoành hành thân tứ đại. Có cô kia chân bị sưng phù, ăn không được, tiểu cũng khó khăn, người nhà là Phật tử mới nói lên núi cho thay đổi không khí, thuốc thang điều trị cũng đã hết cách, vậy mà cũng không thể lên núi ngắm cảnh, nghe kinh một đôi ngày. Cảnh già đó rất đáng thương! Tâm chúng ta bị chấp, vướng mắc, khó tháo gỡ, tới một ngày nào đó mình không thể nhúc nhích nổi cái than này, muốn làm gì cũng không được, muốn nhấc cánh tay lấy li nước uống, cầm chén ăn cơm không xong thì chao ôi! Sầu khổ đó mới não nề. Bây giờ quán chiếu sâu như vậy, thấy cho được não hại, bức ngặt của thân tứ đại nương gá mà thành này, để ra công tu hành, buông xả ganh tỵ, muốn hơn nhau, giành giật, chiếm đoạt, cưỡng cầu,… tất cả chỉ mang lại khổ và nuối tiếc. Chỉ có buông xuống, bỏ đi và quán cho sâu vào ngày mình ra đi về với cõi chết có mang theo cái gì đâu, có chăng chỉ là nghiệp như bóng với hình theo mình. Nó chẳng rời mình. Nghiệp thiện ác lúc đó xâm chiếm lien tục, não hại vô cùng. Nghe, thấy và ngẫm để mà sợ hãi, nhằm diệt tận tham sân si, đoạn trừ những móng khởi của tôi, là tôi, của mình, bản ngã cao kia phải đốn nó, làm cho nó gãy đổ thì mới an vui, nhẹ nhàng.
Phật dạy các pháp vô thường, thân này già, bệnh, chết để tâm mình thoát ly; khi nhắm mắt đi một cách nhẹ nhàng. Những điều này đều là giả, không có thật thì mình mới siêu thoát. Đức Phật tròn đầy trí huệ, chỉ dạy tỏ tường cho mình mà mình càng bám chấp nặng chỉ càng thêm khổ. Hoặc như, có ông vua nọ, hoàng hậu chết nên ông đã đau khổ, buồn thương, tiếc nuối, không tin đó là sự thật nên cứ ôm xác chết mãi, chẳng lo việc triều chính, quốc sự để đó…. Cuối cùng, các vị quan năn nỉ mãi, ông mới đi tới đức Phật để nghe thuyết bài pháp về vô thường, tham ái,… Ông vua tỉnh ngộ, về hỏa táng hoàng hậu liền, ái dục nó sâu sắc, mạnh lắm, có thể nhấn chìm, dìm cho mình chết, cho tất cả điên đảo.
Tuổi già làm phai nhạt sắc diện của màu da.
Hình bóng đáng yêu thời tuổi trẻ đã bị tuổi già tước đoạt, nó xâm chiếm có khi rất nhanh chóng với người này, có khi rất chậm chạp với người kia nhưng diễn biến của già là không ai có thể trốn tránh, phải chấp nhận nó và biết đó là một sự thật của vòng xoay sanh, già, bệnh, chết. Chúng ta thấy bà cụ tám chục tuổi lưng còng, má hóp, răng rụng, mặt mày nhăn nheo, mắt mờ, tai điếc, đi lại chậm chạp phải có gậy chống đỡ, ăn uống rất chậm và nhai nuốt khó khăn,… bao nhiêu hình ảnh đó đủ cho lòng ta phải xót xa cho người và nhìn lại xót xa cho mình càng nhiều hơn. Bởi, đó là tương lai của mình. Nếu không chánh niệm, tu hành ngay đây và bây giờ thì sẽ không có một tuổi già an vui, hạnh phúc, mà nó sẽ là của bệnh tật, khổ đau… Hoặc những em bé, người tàn tật phải đội nắng, mưa gian khó mà mưu sinh bên những xấp vé xố may rủi cho cuộc đời. Thấy tội lắm, thương lắm, xót xa lắm…
Dù cho sống trăm tuổi, cuối cùng cũng chết, cái chết không bỏ xót một ai, tất cả đều bị phá sập. Do đó, đừng để tâm nhiều đến thế sự, đến phiền não sự, đến thị phi sự. Vì nó không đem lại lợi lạc cho mình và người, chẳng phải là pháp cứu cánh vượt thoát ngục tù luân hồi sanh diệt, phải buông xuống mạnh mẽ, nghiền ngẫm nghe pháp, học kỹ xét sâu lại thân tâm năm uẩn này để hành trì. Rõ biết sáng suốt tất cả là sự nương gá vào nhau, là nhân duyên hợp thành, có cái gì để mà yêu quý, nuối tiếc gìn giữ mãi vì thân, cần lo tâm nhiều hơn. Từ đó, trí huệ sáng soi trong tuổi già, pháp thế gian khi mà mình nằm bệnh thì nó chẳng giải quyết được gì, chỉ có nuôi sáng huệ mạng này, may ra lúc gặp nguy khốn còn chút định tâm mà suy xét, nghĩ điều chân chánh đúng như thật. Còn không, chúng ta mãi loanh quanh, nhiều khi mình làm ra vật chất rất nhiều, giàu có của cải nhưng chính tài sản của cải đó đang ngày đêm thắt chặt, xiết lại, trói buộc mình trong đó, không thể cục cựa gì hơn. Như vậy, cái đó chẳng có ích thiết thực lâu dài, nó chỉ tạm nuôi thân mạng hoặc thỏa mãn cho sự tham, sân của mình ở thời tuổi trẻ, ngay khi lên đến hang bảy chục cũng không bỏ công việc được, tiếc việc, sợ mất của, nắm níu. Chỉ có biết Phật pháp mới mở những thắt gút trói buộc kia ra được.
Tăng Chi Bộ Kinh, tập 1, trang 247, kinh Diêm Vương:
Đức Phật nói có ba Thiên sứ, Thiên sứ là sứ giả của Trời.
- Có người thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác, sau khi chết, người đó rơi vào cõi dữ, địa ngục. Những lính địa ngục bắt người đó dẫn đến Diêm Vương và ‘thưa đại vương, người này không kính mẹ, không kính cha, không kính sa môn, không kính những người tu hành, không tôn kính các bậc lớn tuổi trong gia đình, đại vương hãy trừng phạt nó’.
Vua Diêm Vương mới chất vấn người phạm tội đó rằng:
- Này Người kia, người có thấy thiên sứ thứ nhất hiện ra giữa loài người hay không?
Người đó trả lời:
- Con không thấy, thưa Ngài.
- Ngươi có bao giờ thấy giữa loài người có người đàn bà hay đàn ông tám, chín chục tuổi, một trăm tuổi già yếu, người cong như nóc nhà, lưng còng chống gậy, vừa đi vừa run rẩy bệnh hoạn, tuổi trẻ đã tận, răng rụng tóc bạc, hư rụng xói đầu, da nhăn, người khô đét, Ngươi có thấy người đó không?
- Dạ thưa con thấy.
Rồi này các Tỳ-kheo, vua Diêm ma nói với các người ấy như sau:
- Này người kia, với ngươi là người có trí và lớn tuổi, ngươi có nghĩ rằng ta rồi cũng bị già, ta không vượt qua được tuổi già, vậy ta hãy làm điều lành về thân về lời nói và về ý.
- Người đó thưa rằng, không thưa Ngài, con không có làm, con buông lung phóng dật.
Đây là thiên sứ thứ nhất, tức là già.
Hồi đó, chúng ta còn trẻ, khi đi ngang ai đó sẽ có biết bao ánh mắt nhìn dõi theo, bây giờ đi ngang không ai nhìn, bất hạnh thay tuổi già. Đã như vậy, đức Phật nói, người có trí cũng bị già, ta không vượt qua tuổi già, ta hãy làm điều lành về thân, về khẩu, về hành, về ý, nhưng ở đây con không có làm, con buông lung phóng dật, con ham chơi, con mê ngủ, thích ăn. Cần phải mạnh mẽ lên để chiến thắng nó. Phải luôn nhớ kỹ, tất cả rồi chúng ta sẽ già, bệnh, chết. Thường xuyên quán niệm già, bệnh, chết, ngay khoảnh khắc ấy chúng ta đang trở về tự thân của mình, trí huệ của mình để nỗ lực tu hành. Mình không nhiếp thân, khẩu, ý, chẳng quản thúc nó, không có bảo hộ thì nó chạy bậy giống như chăn trâu không cho giẫm đạp lên lúa; cũng như lái xe phải rà thắng chân, lúc nào cũng phải rà, cần phải đạp lại liền, mình chạy xe thắng đứt thì nguy to. Chớ có buông lung, đừng phóng dật, hàng ngày tu niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm Giới tinh tấn nỗ lực. Bởi, tu không phải dễ, được gặp bậc thiện tri thức khó lắm, nên mình phải trau dồi, không ngừng học hỏi và rèn luyện.
“Này người kia chính vì do buông lung, phóng dật, người đã không làm các điều lành về than, về lời, về ý. Thật vậy, này người kia, chúng ta sẽ làm cho người đúng theo như buông lung, phóng dật của ngươi, ác nghiệp ấy của ngươi không phải mẹ làm, không phải cha làm, không phải anh bà con huyết thống làm, không phải trời làm, không phải sa môn, người tu hành nào làm, ác nghiệp ấy chính do ngươi làm và ngươi sẽ lãnh quả dị thục của ác nghiệp ấy”.
Ác nghiệp của mình làm, sự buông lung phóng dật co mình gây ra thì tự mình mang lấy tất cả hậu quả đó, chẳng ai giúp mình nhận lãnh, cũng chẳng thể đổ thừa, né tránh được. Không nên đi chùa đổ thừa tại ông Thầy, tại bà kia, mà không phải tại mình, tại tâm mình, tại mình không biết tu, chẳng biết nhẫn, không biết hiểu mình không biết bao dung tha thứ, độ lượng. Có trí huệ để mình thấy được vấn đề, sự việc đó không nên đổ thừa cho người ta; trong gia đình mình cũng vậy. Chính mình gây ra nghiệp ác, mình sẽ thọ lãnh quả dị thục ác nghiệp đó, quả dị thục là quả chín mùi. Khi quả chín là mình phải nhận lấy, nhiều khi quả còn sống, còn non, mình chưa nhận nhưng quả chín là mình phải nhận, quả đó là mình gieo trồng thì tự gặt hái. Do đó, cẩn thận đối với nghiệp, không nên xem thường, nghiệp quả thật là đáng sợ. Dù cho là suy nghĩ xấu về người khác cũng không được, tuyệt đối bỏ. Xưa từng nói lời nói không tốt về người khác, nay phải chấm dứt liền. Một hành động bất thiện là tâm ý phải kịp thời ngăn chặn, diệt trừ, thay đổi liền. Nếu không, chính mình nhận lấy hoa trái của nghiệp quả đó.
Những đất nước liên miên chiến tranh không tự nhiên bị, mà là do nghiệp quả trong quá khứ gây ra. Hay những nước có nhiệt độ nóng lên một cách dữ dội gây ra hàng loạt người chết, nhiều nơi toàn là người nghiện hút chích xì ke ma túy, ăn chơi trác tang, hoặc là có chỗ toàn người mù, trại tâm thần toàn điên loạn,… tất cả đều là nghiệp quả đáng sợ. Trong quá khứ người ta gieo nghiệp tạo nên quả mù lòa, câm ngọng, điếc, sanh ra đã bệnh, những bệnh lạ, dị tật, có khi chưa sanh đã chết hoặc sanh ra rồi bỏ trước cổng chùa, sanh ra rồi bỏ ngay bệnh viện…. Đều là tạo nghiệp, gieo nghiệp rồi nhận lấy nghiệp cả!
Trong bốn sự chẳng thể nghĩ bàn có một nghiệp quả dị thục bất khả tư nghì, tức là khi nghiệp quả chín muồi, không thể nào tưởng tượng được nếu mình suy nghĩ, mình cố gắng suy nghĩ mình sẽ điên loạn và đi tới chỗ chết. Nên mình thấy có những người tại sao làm những chuyện như vậy,… đó là nghiệp quả chín muồi trổ ra, có những người thấy tự nhiên chết hay có những người bị thương, có những người mới lên đỉnh cao của danh vọng chợt sập xuống ở tù hay tự tử, điên loạn, thất tình, phá sản… Tất cả đều do quả chín muồi của nghiệp biểu hiện ra.
Thiện nghiệp gieo trồng thì đời nay vui, đời sau vui, tiếp tục bao nhiêu đời vui. Do vậy, mình làm những việc thiện, công đức nên nghiệp lành sẽ gắn kết với mình, nó đồng hành với mình hết đời này đến kiếp khác, trừ khi nào mình chấm dứt tất cả nghiệp để mình vào Niết-bàn, lúc đó mình thoát khỏi luân hồi sanh tử. Còn bây giờ vẫn trong luân hồi sanh tử, nên nghiệp rất quan trọng, phước rất quan trọng, công đức rất quan trọng.
- Này người kia, ngươi có thấy vị thiên sứ thứ hai hiện ra giữa loài người không?
- Dạ con không thấy, thưa Ngài.
- Này người kia, người có bao giờ thấy giữa loài người có một người đàn bà hay đàn ông bệnh hoạn, khổ não, nguy kịch rơi nằm trong tiểu tiện và đại tiện của mình, phải cần người khác nâng dậy, phải cần người khác dìu cho nằm xuống?
- Thưa Ngài, con có thấy.
- Ngươi có nghĩ rằng ta đây rồi sẽ bệnh, ta sẽ không vượt ra khỏi bệnh hoạn, vậy ta hãy làm các điều lành về than, về miệng, về ý không?
- Dạ không, thưa Ngài, con không có làm, con buông lung, phóng dật thưa Ngài.
Bệnh hoạn khổ não nguy kịch rơi nằm trong tiểu tiện và đại tiện, cảnh này tưởng thôi cũng thảm rồi, đừng nói chi mình vướng trong cảnh đó.
Cần người khác nâng dậy cần người khác dìu cho nằm xuống, muốn ngồi lên hay nằm xuống phải có người đỡ.
- Này người kia, ngươi có thấy thiên sứ thứ ba hiện ra giữa loài người hay không?
- Dạ con không thấy, thưa Ngài.
- Này người kia, ngươi có bao giờ thấy giữa loài người có một người đàn bà hay người đàn ông chết, đã được một ngày hay chết được hai ngày hay chết được ba ngày, sưng phù lên, xanh xám lại rồi nát rữa ra hay không?
- Ngươi có nghĩ rằng, ta rồi cũng bị chết, ta không vượt qua cái chết, nên ta hãy làm điều lành?
- Dạ không, con buông lung, phóng dật, con ham chơi thưa Ngài.
- Này các Tỳ-kheo, những người lính địa ngục bắt người ấy chịu hình phạt gọi là năm cọc, họ lấy cọc sắt nung đỏ đóng vào một bàn chân, cốp, họ lấy một cục sắt nung đỏ đóng vào bàn tay thứ hai, cộp, họ lấy một cục sắt nung đỏ đóng vào một bàn chân thứ hai, đóng vào giữa ngực, cộp, cộp. Ở đấy, người ấy lãnh thọ các cảm giác đau đớn cực khổ, thống khổ khốc liệt, nhưng người ấy không thể mệnh chung, không có chết được cho đến khi ác nghiệp của người ấy chưa được tiêu trừ.
Đó là cứu cánh bất tịnh, sự không sạch sẽ nhơ nhớp tới tột cùng là chỗ này, sình ra thối rữa, xì ra.
Ngày nào, hành giả cũng hành trì pháp quán bất tịnh, bản chất thân thể.
Vì nghiệp chưa hết nên phải sống để trả nghiệp. Vì xưa kia sân hận, chém giết người ta nên bị hình phạt như vậy.
- Này các Tỳ-kheo, các người lính địa ngục bắt người đó nằm xuống, rồi lấy rìu chặt người ấy; dựng ngược người ấy lên, chân lên trên, đầu xuống dưới; lấy dao sắc chặt người ấy; cột người ấy vào chiếc xe kéo chạy tới chạy lui trên đất, đốt cháy đỏ cháy thành ngọn, cháy đỏ rực;lính địa ngục đẩy người ấy lên, kéo người ấy xuống một sườn núi đầy than hồng cháy đỏ, cháy thành ngọn, cháy đỏ rực, không chết được; nắm ngược người đó, chân phía trên đầu, phía dưới quăng người đó vào vạt dầu bằng đồng nung đỏ, cháy đỏ cháy thành ngọn, cháy đỏ rực, người ấy ở đây bị nấu bởi bọt nước sôi sùng sục, khi trôi nổi lên trên khi thì chìm xuống dưới đáy, khi trôi dạt ngang người ấy lãnh thọ cảm giác đau đớn cực khổ, thống khổ, khốc liệt nhưng người đó không thể mệnh mạng chung cho đến khi ác nghiệp người đó được tiêu trừ.
- Có bốn góc bốn cửa chia thành bằng nhau xung quanh có tường sắt, mái sắt lợp lên trên, nền địa ngục bằng sắt nóng đỏ cháy đỏ rực, đứng thẳng luôn có mặt rộng một trăm do tuần, một do tuần là mười tám cây số, mười tám cây số nhân lên một trăm lần, bất hiếu với cha mẹ, bất kính với bậc sa môn phạm hạnh giới đức, tham sân si lẫy lừng rơi vào cảnh đó.
- Một thời xưa lắm, này các Tỳ-kheo, vua Diêm Vương mới suy nghĩ như sau, những ai làm ác nghiệp ở đời phải lãnh thọ những hình phạt sai khác như vậy, mong rằng ta được làm người và Như Lai bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác xuất hiện ở đời, ta có thể hầu hạ đức Thế Tôn, đức Thế Tôn thuyết pháp cho ta và ta có thể thông hiểu pháp do Thế Tôn thuyết giảng.
Ông vua Diêm Vương suy nghĩ, ông mong rằng ông được gặp đức Như Lai ra đời, bậc Chánh Đẳng Giác, ông được hầu hạ đức Phật và được nghe đức Phật thuyết pháp để hiểu được diệu pháp.
- Này các Tỳ-kheo, điều ta đang nói, không phải ta nghe từ một sa môn hay một bà-la-môn nào khác, những điều ta đang nói chỉ được ta biết, chỉ được ta thấy, chỉ được ta hiểu.
Đức Phật nói những điều trên đây không phải do nghe từ chỗ nào, người khác mà chính sự thấy biết tột cùng của Ngài. Do chúng ta chưa thành tựu được thiên nhãn, nên không thấy được những bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác, cho nên bây giờ nghe người nào nói không có địa ngục coi chừng đi vào tà kiến. Vì đức Phật nói rõ ràng trong kinh tạng Nikàya, phải tin lời của Phật nói để mình tu.
Đức Phật nói bài kệ kết thúc:
“Dầu Thiên sứ báo động
Thanh niên vẫn phóng dật
Họ ưu buồn lâu dài
Sanh làm người hạ liệt”.
Phóng dật, buông lung sẽ ưu buồn lâu dài sanh làm người hạ liệt thấp hèn, bị đọa địa ngục, súc sanh khổ não vô biên.
“Đây bậc chân nhân
Được thiên xsứ báo động
Không bao giờ phóng dật
Trong diệu pháp bậc Thánh
Thấy sợ trong chấp thủ
Trong hiện hữu sanh tử
Được giải thoát khỏi thủ
Sanh tử được đoạn trừ
Được yên ổn an lạc
Ngay hiện tại tịch tĩnh
Mọi oán hận sợ hãi
Các vị ấy vượt qua
Mọi đau đớn khổ sầu
Thảy đều được siêu thoát.”
Bậc chân nhân là bậc thật sự tu hành gọi là bậc chân nhân, đệ tử chân chánh của Phật, thấy được Thiên sứ báo động là họ không buông lung, phóng dật, tinh tấn tu tập để chấm dứt tất cả sanh tử, thành tựu yên ổn, an lạc.
Chương 5:
GỘI SẠCH VẾT NHƠ
1. Ơn sâu nghĩa nặng – pháp quán thân
Một trong bốn trọng ân của người con Phật hằng nhớ là ơn cha mẹ, gia đình quyến thuộc. Nhắc nhở bản thân, nói với người thân cũng là lời chia sẻ sách tấn cùng huynh đệ trước đường tu hành.
Khi bước vào tuổi già sẽ luôn trong tình trạng bệnh tật, đau ốm liên miên, khó ăn, khó ngủ,… tuổi của nghiệp chướng và mong manh như tim đèn sắp tàn lụn. Nhìn cảnh người già để nhắc nhở mình rồi cũng sẽ như vậy, nếu bây giờ không khéo tu hành, về sau sẽ khổ lụy rất nhiều! Có lần Minh Thành nhân chuyến chia sẻ pháp tại chùa quê, đã ghé thăm cô Sáu và cô Út, cô Đồng Tâm là những người thân, nhắc nhở quý cô chú của mình nên dụng tâm cho thời gian tu hành để mai này làm hành trang nghiệp lành ra đi nhẹ nhàng hơn.
Đời sống cư sĩ luôn có nhiều chướng duyên hơn trên bước đường tu tập. Bởi, họ phải mưu sinh, lo toan nhiều việc khác, thời gian công phu không dễ gì được thường xuyên, liên tục… có chứng kiến những nỗi khổ trong gia đình, hàng xóm, đó đây mới thấy đời sống xuất gia là một điều kỳ diệu, phước báu rất lớn, không dễ gì người cư sĩ có được.
Chúng ta nghe lời Phật dạy về Vô thường, Khổ, Vô ngã rất nhiều lần, tuy vậy mình vẫn chưa thấm pháp, chưa thấy rõ lẽ thật, vì cứ nghĩ là Phật đang dạy ai khác, nói người nào đó chứ không phải nói với mình, chỉ cho mình… Vậy là ngày tháng mặc sức rong chơi, thỏa sức tiêu pha phước đức có được trong cõi người. Khi nào kiệt cùng, giật mình thì cũng là lúc hấp hối, không thể đi đâu, làm gì khác, mọi hoài bão, đam mê, phóng túng đành im trôi theo dòng nước. Lúc này, nghiệp chướng, oan gia trái chủ công phá lại mình. Khổ lắm!
Thấy người già, người bệnh, người bị tàn tật,… đều là những tướng khổ, hoại diệt hiện ra cảnh tỉnh cho mình biết, cần chiêm nghiệm sâu sắc. Mỗi khi đi vào bệnh viện thăm ai đó, có khi phải kềm chế nước mắt tràn ra, dù người đó là người dưng. Vì cảnh đau đớn thân bệnh và giày vò tâm bệnh của những bệnh nhân nơi bệnh viện là một bài pháp lớn cho mỗi hành giả thực tập pháp Vô thường, Vô ngã, Khổ, Không, quán bất tịnh.
Cách đây ba ngày, sau khi tọa thiền Minh Thành nằm ngả lưng ‘thấy’ bà Út nằm chết miệng méo, rất không tốt lành. Còn bà Sáu thì oằn oại trên giường bệnh, nước mắt ràn rụa, lúc đó Minh Thành rơi lệ, thức giấc. Ngay sau đó, gọi điện thoại cho cô Út, lúc đó cô đang tụng kinh, báo cho cô hay mới thấy một giấc chiêm bao như vậy, tùy mấy cô suy nghĩ, chỉ cho biết vậy thôi!
Thế rồi, cô Út mới hỏa tốc đưa bà Sáu với bà Út lên núi Linh Quy Pháp Ấn tịnh tâm tu học. Không phải xuất gia rồi là buông bỏ hết người thân, gia đình, mà tùy duyên phương tiện khéo đưa họ trở về nương tựa tinh thần trong giáo pháp đức Phật. Minh Thành nói việc nằm chiêm bao về cảnh xấu của hai người bà và kể cho cô Út nghe đó là trách nhiệm. Vì muốn báo ơn các bà, các cô. Chỉ sợ rằng mình thấy như vậy mà không nói ra, chia sẻ cho người thân, cảnh tỉnh Vô thường để họ biết mà giữ giới, tinh tấn tu hành, giữ đúng và trọn vẹn pháp của người cư sĩ thì thấy lòng nhẫn tâm, tội nghiệp cho họ.
Bà Sáu và bà Út đã không quản ngại tuổi cao sức yếu, nghe lời nhắc nhở đã đi lên núi Linh Quy Pháp Ấn, tu tập cùng đại chúng, bòn phước tuổi xế chiều. Minh Thành mừng nhưng cũng lo, mừng vì họ cũng có tỉnh giác, cũng biết quay về chánh pháp. Còn lo là họ mới lên núi tu học được hai ba ngày đã hỏi ‘cho tôi ở mấy ngày rồi được về quê nhà lại’. Thân trên núi mà tâm dưới đồng bằng, thân khoác áo tràng mà tâm lao xao chốn thị phi, nguy lắm thay!
Chúng ta phải chuyên tâm nghiền ngẫm kinh kệ để thực hành. Mình tâm đắc Phẩm Già của kinh Pháp cú:
“Cười gì, hân hoan gì,
Khi đời mãi bị thiêu,
Bị tối tăm bao trùm,
Sao không tìm ngọn đèn.”
Chúng ta mãi lo cười vui, ham ăn, mê chơi, thích ngủ, không biết rằng tấm thân này đang bị thiêu đốt, tuổi già đã tới, sự suy hại xuất hiện trên thân và tinh thnầ khôn sáng suốt như xưa nữa, sao không đi tìm ngọn đèn? Nếu như vô thường, bất thình lình đến biết mình sẽ đi về đâu. Được sống làm người, thân căn đầy đủ, có nhân duyên với đạo Phật, biết được giáo pháp để hành trì là phước đức lớn lắm. Nếu lo vui chơi hưởng phước, khi phước tận, đức tàn thì biết đến bao lâu mới được có duyên lành gặp lại chánh pháp, hết phước đó rồi mình sẽ rơi trong đọa lạc.
“Sắc này bị suy già
Ổ tật bệnh mỏng manh
Nhóm bất tịnh đổ vỡ
Chết chấm dứt mạng sống.”
Thật vậy, thân này là nhóm chứa tật bệnh. Chẳng hạn, nói về cái răng bị bệnh. Nó bệnh là do thức ăn nhét vào kẽ răng nhiều quá! Hôm đó, bác sĩ nha nói ‘cái răng này’ phải bọc sứ, Minh Thành đã bọc sứ răng lại. Lần trước ở trong thất, tháo răng bọc sứ ra cho dễ chịu rồi quên gắn vào, cái răng giả đó nằm yên trong thất hai tháng liền. Hôm rồi răng bị nhức và sưng, ngay đó mình đã quán chiếu ‘mới nhức răng chút xíu mà thân thể đã không thoải mái’.
Hoặc như chúng ta có Phật sự phải đi ra ngoài nhiều giờ trong ngày, có khi ngồi xe lâu, đến chiều tối nghỉ ngơi mới cảm nhận sự đau nhức, mệt mỏi của cơ thể này. Nó đau lưng mình biết thân này nó đang đau lưng, thân này là nhóm chứa ổ bệnh hoạn, đủ thứ vi trùng xâm nhập và sanh trưởng. Cho nên, chúng ta không khổ cái bệnh đó mà mình thấy rõ ở thực tướng thân này, nhằm giúp thêm tinh tấn hơn nữa. Vì sợ vô thường tới, chết chấm dứt mạng sống, lúc đó thiện pháp chưa có viên mãn, trí huệ mình chưa thành tựu cứu cánh nên mình phải dốc sức.
Hành giả thường xuyên tinh cần việc quán chiếu ổ tật bệnh luôn chực chờ cơ hội nảy nở trong thân này. Tấm thân này mỏng manh và quả thật rất bất tịnh. Đừng nghĩ chỉ có người già mới quán chiếu điều này mà người càng trẻ càng nên quán chiếu sâu sắc về nó. Từ đó, biết trân quý cuộc sống hữu hạn, để ra công, nỗ lực trên bước đường hành trì cho bản thân và mọi người cùng nhau chuyển hóa từ sông mê sớm sang bờ giác.
Không dễ gì được làm người biết được Phật pháp, có nhân duyên tu hành xuất gia. Vậy nên cùng nhau nhắc nhở, dìu dắt nhau ra khỏi bóng tối vô minh, chấp ngã. Trong kinh kể, một trăm năm con rùa mù dưới đáy biển mới nổi lên, ngay đó nó nổi lên trúng ngay bọng cây đang trôi trên mặt biển rồi con rùa mù đó chui vào trong bọng cây và bọng cây này theo con song đưa cả hai vào đất liền. Điều đó rất khó, vô cùng khó, cũng ví như mình được làm người và được nghe, gặp chánh pháp thì còn khó gấp trăm ngàn lần, gặp bậc thiện tri thức cho mình thoát khỏi luân hồi sanh tử khó hơn gấp ngàn lần. Bây giờ, chúng ta có được Tam bảo, có thiện tri thức dẫn đường để hành trì tu tập mà không chịu trân quý, chẳng ra công sức nuôi huệ mạng, góp phước, tích đức thì một khi than hoại mạng chung sẽ chẳng biết đi về nơi nào.
Cái thân này đúng là ổ bệnh tật mỏng manh, hôm rồi, nghe đài báo tin bên Campuchia nhiều người dân phải nhập viện do đường nước bị ô nhiễm. Bất cứ chuyện gì cũng có thể làm cho mình bệnh được. Ví như, ăn thức ăn không hợp thể trạng hoặc mất vệ sinh trong thức ăn, bị ngộ độc; hít không khí độc, bị ngạt hơi, ngất xỉu, chết; bệnh từ nhẹ tới nặng, từ có thuốc trị liệu được cho tới Y học chưa tìm ra cách chữa trị.
Bệnh nhiều là do lòng tham của con người. Vì ham lời mà bất chấp mạng sống người khác, chỉ cần người bán được, còn người mua bị gì cũng mặc kệ. Tham sân si trùng trùng, lửa hiềm hận dâng cao, đạo đức suy thoái, nhân nghĩa hiếm có, con người dễ dàng bị kích động và sẵn sàng đâm chém nhau cho tới chết dù việc đó chẳng đáng. Có những điều không tưởng tượng nổi con người bây giờ.
Khi tham sân si lên tới cực độ, nghiệp xấu ác giăng bủa khắp nơi thì thọ mạng bắt đầu giảm xuống rất nhiều. Bây giờ nghe đủ thứ chuyện không thể không tin, cứ nghĩ như không bao giờ có, vậy mà nó nhan nhản. Nào lào cướp, giết, hiếp, nào là suy thoái đạo đức và nhiều thứ khác nữa. Con người ta dễ nổi nóng, mau bực tức, bị áp lực sinh ra nhiều đổ vỡ, dậy sóng… Thân tâm bất an. Lửa dục nó lên nhưng không kiểm soát, chẳng làm chủ được hành vi nữa, nên mới sanh ra đủ thứ rắc rối cho mình, cho người… Năm uẩn vận hành bất tận, đi lên Thánh quả hoặc xuống Địa ngục là do mỗi người tự thân nỗ lực tinh cần.
“Thân này làm bằng xương
Quét tô bằng thịt máu
Ở đây già và chết
Mạn lừa đảo chất chứa.”
Khung sườn của thân này là bộ xương, da bọc thịt, thịt bọc gân, gân bọc xương, xương bọc tủy, quét tô bên ngoài bằng thịt với máu, màu da giống như lớp sơn tường, sơn màu trắng hay sơn màu đen, nâu hay sơn màu vàng, màu xanh, già và chết mạn lừa đảo chất chứa, mạn là sự kiêu mạn, ngã mạn, mà mình không biết. Rồi ý thức cùng với hàng loạt thọ, tưởng, hành, thức lừa dối mình, tham dục dấy khởi miên man, bản ngã đánh tráo khái niệm, lật ngược sự thật, che đậy chân thật, trốn tránh sự thật, sân hận bao phen làm mình mê muội, mất hết rừng công đức. Tất cả vì thiếu trí huệ nên không thấy sự thật. Mình cứ tưởng là mình nhưng thật ra năm uẩn điều khiển hết.
“Lúc trẻ không phạm hạnh
Không tìm kiếm bạc tiền
Như cây cung bị gãy
Thở than những ngày qua.”
Lúc trẻ không giữ gìn thân trong sạch, tâm thiện lành, chẳng chịu nỗ lực làm điều có ý nghĩa, ích lợi, chưa thật tâm cố gắng tu hành giống như khi mình còn trẻ không chịu đi làm ăn có tiền để dành, tới lúc già như cây cung bị gãy, thở than tháng ngày qua, cây cung bị gãy nằm một đống, vô dụng cũng như con người lúc đó đại tiểu tiện tại chỗ, sống không xong, chết cũng chẳng được.
Ngay khoảnh khắc này trở về sau, Minh Thành muốn tất cả thành viên trong gia đình mình huân tu nhiệt thành hơn nữa, buông xuống việc đời, sống trong đạo pháp để rõ biết rằng mắt tai mũi lưỡi thân ý này là Vô thường, Khổ, Vô ngã. Hạnh phúc thay, ngày nào đó mọi người đều vào dòng pháp trong cuộc tao ngộ chốn an lành. Như vậy, kiếp luân hồi này con trả ơn xong tình quyến thuộc, các cô lo cho con từ nhỏ tới bây giờ, các cô phải nhận thì con mới trao được! Phải chịu khó vượt qua những cảm giác không thoải mái, thọ trói cột. Vì mình ở nhà cảm giác thoải mái hơn, đó là cảm giác chứ không phải mình; ở nhà muốn ăn uống, ngủ nghỉ tùy theo cảm tính. Còn ở am tự thì cần khắt khe giờ giấc sinh hoạt. Tôi rèn lại là điều không phải một ngày, hai ngày là xong, các cô cần kiên trì, trong kiếp này phải nỗ lực, không dễ gùi gặp được chánh pháp, tri kiến thiện tri thức không phải dễ.
“Hãy xem bong bóng đẹp
Chỗ chất chứa vết thương
Bệnh hoạn nhiều suy tư
Thật không gì trường cửu.”
Minh Thành ở trong thất nghiền ngẫm và đọc ít nhất trăm lần, đi kinh hành, ngồi nhìn bộ xương rồi quán chiếu:
Hãy nhìn bong bóng đẹp
Chỗ chất chứa vết thương
Thân mình là bong bóng, nhìn xa xa lấp lánh đủ màu, bong bóng đẹp nhưng chút xíu nát, cái gì chạm tới đó nó bể; quán chiếu thân này là bong bóng, sáu bảy mươi tuổi giống bong bóng vào nhà tắm trơn trượt, té không ngồi dậy được nằm luôn một chỗ, mình được cái phước kéo dài tuổi thọ, ít bệnh nhưng cuối cùng cũng chết, điều quan trọng trong cái kéo dài thọ mạng chúng ta đã làm gì có ý nghĩa trong việc tu hành để tăng phước đức, huệ mạng.
Đừng để sống một trăm năm cũng không được cái gì, sống cho qua ngày, không biết ý nghĩa đích thực của sự sống. Do vậy, gặp được chánh pháp, diện kiến chân nhân, được thiện tri thức chỉ bày cho mình pháp tu chân chánh, đó mới là tối thượng, tối tôn, tối quý trọng nhất trong dòng luân hồi này. Pải biết pháp quý hơn vàng bạc châu báu, tài sản trên đời này không thể so sánh được. Khi thân hoại mạng chung, không mang theo của báu thế gian mà chỉ mang theo nghiệp lành dữ mà mình đã tạo ra lúc sinh thời. Cho nên, trong kinh Pháp Cú đức Phật nói:
“Hơn thống trị quả đất
Hơn được sanh cõi Trời
Hơn trụ trì vũ trụ
Quả Dự lưu tối thắng.”
Muốn được như vậy, đòi hỏi hành giả phải có lòng tin chắc thật vào Phật, Pháp, Tăng; nên, tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn, tuệ căn, năm pháp này là năm pháp chủ, khi mình có lòng tin thì mình phải tinh tấn dũng mãnh lòng tin đó, chứ bây giờ nghe hiểu rồi để đó xét lại, như vậy không đủ tín căn, chẳng thể thành tựu, chưa đưa đến tấn, có chăng cũng rất nhẹ, không đủ sức, niềm tin nỗ lực chánh niệm quán chiếu năm uẩn. Tâm mình sẽ tập trung vào chỗ quán chiếu trong đó là định, rồi tuệ sẽ sáng tỏ. Như vậy, năm căn trở thành năm lực, năm sức mạnh. Phải Như lý tác ý sâu sắc về tuệ lực, sức mạnh của trí huệ, khi trí huệ phát giác thấy được vô minh, tham ái, chấp ngã lập tức dùng lực đó để đập tan những cái vô minh, si ám lúc đó là tuệ lực.
Hãy nhìn bong bóng đẹp
Chỗ chất chưa vết thương
Thân này chỗ chất chứa vết thương, nhưng cưng chìu nó để tiếp tục đi vào sanh tử, cõi thống khổ lần lượt mở ra, dòng luân hồi quay mãi, bao nhiêu đau đớn xoay vần, nhưng chẳng hay, không tỏ, đắm nhiễm thì tiếp tục chết không có ‘nhà’ để về, chỗ chứa đống bệnh hoạn, chỗ chất chứa vết thương.
“Như trái bầu mùa thu
Bị vứt bỏ, quăng đi
Nhóm xương trắng bồ câu
Thấy chúng còn vui gì.”
Chúng ta nhìn thấy đống xương của mình lúc đó còn vui gì, mỗi lần mình phóng tâm theo đời, nên tập dừng lại và quán chiếu đống xương đó. Bởi, chẳng có vui gì trong đống xương, khi tới nhà hỏa thiêu nhận hũ cốt của cha mẹ, ông bà, người thân, bạn bè,… có ai trong chúng ta cất lên tiếng cười không? Dĩ nhiên chẳng bao giờ. Đống xương đau khổ lụn tàn kiếp người đã qua. Thật lòng quán quán chiếu hũ cốt chứa đống xương đó là mình sẽ thấy trân quý từng phút giây sống hiện tại có ý nghĩa, ích lợi hơn.
“Lúc trẻ không phạm hạnh
Không tìm kiếm bạc tiền
Như cò già bên ao
Ủ rũ không tôm cá.”
Khi còn trẻ đầy sung mãn, từ tinh thần đến cơ thể lại không chịu học điều tốt, làm điều hay, tìm hiểu con đường thánh nhân đã hành trì mà kham nhẫn tu trì, lúc đó chỉ ưa thích chơi đùa, hoài phí sức thanh niên, phóng dật, ỷ vào sức chịu đựng dẻo dai của thời thanh xuân nên làm việc không điều độ, ăn chơi không điều tiết. Tuổi trẻ chẳng lo làm ăn, dành dụm, nghĩ tới mai sau, đến khi già bệnh, và bao thứ chướng ngại khác từ sức khỏe, tuổi tác chỉ còn cách ủ rũ, sầu muộn và chờ chết trong nỗi đau không ai cứu được. Trẻ không tu phước đức trí huệ, lúc già một khối tham, sân, si, vô minh, nghiệp quả từ thọ tưởng hành thức biểu hiện toàn phiền não dấy khởi.
Có câu chuyện kể từ thời đức Phật rằng, một hôm ông Cấp-cô-độc bị bệnh nặng, cho người đến gặp đức Thế Tôn đảnh lễ và báo tin, sau đó cũng đến gặp Trưởng lão Xá-lợi-phất cũng báo tin như vậy. Nội dung bài kinh giáo giới vượt qua bệnh tật bằng chính bản than như thế nào, chúng ta cùng đọc lại và nghiền ngẫm từ toàn văn bài kinh dưới đây:
Đại Tạng Kinh Việt Nam
KINH TRUNG BỘ
Majjhima Nikàya
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt từ tiếng PÀLI
143. Kinh Giáo giới Cấp Cô Độc
(Anàthapindikovàda sutta)
Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú ở Savatthi (Xá-vệ), Jetavana, (Kỳ-đà Lâm), tại tinh xá ông Anathapindika (Cấp Cô Độc).
Lúc bấy giờ, cư sĩ Cấp Cô Độc bị bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh. Rồi cư sĩ Cấp Cô Độc gọi một người:
- Hãy đến đây, này Bạn. Hãy đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nhân danh ta, cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn và bạch như sau: "Bạch Thế Tôn, cư sĩ Cấp Cô Độc bị bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh. Cấp Cô Độc xin cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn". Rồi đi đến Tôn giả Sariputta (Xá-lợi-phất), sau khi đến, nhân danh ta cúi đầu đảnh lễTôn giả Sariputta và thưa như sau: "Thưa Tôn giả, cư sĩ Cấp Cô Độc bị bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh. Cấp Cô Độc xin cúi đầu đảnh lễ Tôn giả Sariputta và thưa như sau: "Thưa Tôn giả, lành thay, nếu Tôn giả Sariputta vì lòng từ mẫn, đi đến trú xứ của cư sĩ Cấp Cô Độc".
- Thưa vâng, Tôn giả.
Người ấy vâng đáp cư sĩ Cấp Cô Độc, đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ chân Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, người ấy bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, cư sĩ Cấp Cô Độc bị bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh. Xin cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn.
Rồi người ấy đi đến Tôn giả Sariputta, sau khi đến đảnh lễ Tôn giả Sariputta rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, người ấy thưa với Tôn giả Sariputta:
- Thưa Tôn giả, cư sĩ Cấp Cô Độc bị bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh, xin cúi đầu đảnh lễ Tôn giả Sariputta và thưa như sau: "Thưa Tôn giả, tốt lành thay, nếu Tôn giả Sariputta vì lòng từ mẫn đi đến trú xứ của cư sĩ Cấp Cô Độc".
Tôn giả Sariputta im lặng nhận lời. Rồi Tôn giả Sariputta đắp y, cầm y bát, cùng với Tôn giả Ananda là thị giả, đi đến trú xứ của cư sĩ Cấp Cô Độc, sau khi đến liền ngồi lên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Tôn giả Sariputta nói với cư sĩ Cấp Cô Độc.
- Này Cư sĩ, ta mong rằng Ông có thể kham nhẫn; Ta mong rằng Ông có thể chịu đựng. Ta mong rằng khổ thọ được giảm thiểu, không gia tăng, sự giảm thiểu được rõ rệt, không có gia tăng.
- Thưa Tôn giả Sariputta, con không có thể kham nhẫn, con không có thể chịu đựng. Sự khổ thống của con gia tăng, không có giảm thiểu; sự gia tăng rõ rệt, không có giảm thiểu. Thưa Tôn giả Sariputta, ví như một người lực sĩ chém đầu (một người khác) với một thanh kiếm sắc bén; cũng vậy, thưa Tôn giảSariputta, những ngọn gió kinh khủng thổi lên đau nhói trong đầu con. Thưa Tôn giả Sariputta, con không có thể kham nhẫn, con không có thể chịu đựng. Những khổ thống của con gia tăng, không có giảm thiểu; sự gia tăng rõ rệt, không có giảm thiểu. Thưa Tôn giả Sariputta, như một người lực sĩ lấy một dây nịt bằng da cứng quấn tròn quanh đầu rồi xiết chặt; cũng vậy, thưa Tôn giả Sariputta, con cảm thấy bị đau đầu một cách kinh khủng. Thưa Tôn giả Sariputta, con không có thể kham nhẫn, con không có thể chịu đựng. Những khổ thống của con gia tăng, không có giảm thiểu; sự gia tăng rõ rệt, không có giảm thiểu. Thưa Tôn giảSariputta, như một người đồ tể thiện xảo hay đệ tử người đồ tể cắt ngang bụng với một con dao cắt thịt bò sắc bén; cũng vậy, thưa Tôn giả Sariputta, một ngọn gió kinh khủng cắt ngang bụng của con. Thưa Tôn giả Sariputta, con không có thể kham nhẫn, con không có thể chịu đựng. Những khổ thống của con gia tăng, không có giảm thiểu; sự gia tăng rõ rệt, không có giảm thiểu. Thưa Tôn giả Sariputta, ví như hai người lực sĩ, sau khi nắm cánh tay của một người yếu hơn, nướng người ấy, đốt người ấy trên một hố than hừng; cũng vậy, thưa Tôn giả Sariputta, một sức nóng kinh khủng khởi lên trong thân con. Thưa Tôn giảSariputta, con không có thể kham nhẫn, con không có thể chịu đựng. Những thống khổ của con gia tăng, không có giảm thiểu; sự gia tăng rõ rệt, không có giảm thiểu.
- Do vậy, này Cư sĩ hãy học tập như sau: "Tôi sẽ không chấp thủ con mắt, và tôi sẽ không có thức y cứ vào con mắt". Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy. Do vậy, này Cư sĩ, hãy học tập như sau: "Tôi sẽ không chấp thủ tai, và tôi sẽ không có thức y cứ vào tai". Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy. Do vậy... không chấp thủ mũi... y cứ vào mũi... hãy học tập như vậy. Do vậy... không chấp thủ lưỡi... y cứ vào lưỡi.... hãy học tập như vậy. Do vậy... không chấp thủ thân... y cứ vào thân... hãy học tập như vậy. Do vậy... không chấp thủ ý... y cứ vào ý... hãy học tập như vậy.
Do vậy, này Cư sĩ, hãy học tập như sau: "Tôi sẽ không chấp thủ hình dạng, và tôi sẽ không có thức y cứ vào hình dạng". Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy. Do vậy... không chấp thủ tiếng... y cứvào tiếng... hãy học tập như vậy. Do vậy... không chấp thủ hương... y cứ vào hương... hãy học tập như vậy. Do vậy.... không chấp thủ vị... y cứ vào vị... hãy học tập như vậy. Do vậy... không chấp thủ xúc... y cứ vào xúc... hãy học tập như vậy. Do vậy, này Cư sĩ, hãy học tập như sau: "Tôi sẽ không chấp thủ pháp, và tôi sẽ không có thức y cứ vào pháp". Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy.
Do vậy, này Cư sĩ, hãy học tập như sau: "Tôi sẽ không chấp thủ nhãn thức, và tôi sẽ không có thức y cứ vào nhãn thức". Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy. Do vậy... "Tôi sẽ không chấp thủ nhĩ thức... Tôi sẽ không chấp thủ tỷ thức... Tôi sẽ không chấp thủ thiệt thức... Tôi sẽ không chấp thủ thân thức... Tôi sẽ không chấpthủ ý thức, và tôi sẽ không có thức y cứ vào ý thức". Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy.
Do vậy, này Cư sĩ, hãy học tập như sau: "Tôi sẽ không chấp thủ nhãn xúc, và tôi sẽ không có thức y cứ vào nhãn xúc". Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy. Do vậy... "Tôi sẽ không chấp thủ nhĩ xúc... Tôi sẽ không chấp thủ tỷ xúc... Tôi sẽ không chấp thủ thiệt xúc... Tôi sẽ không chấp thủ thân xúc.. Tôi sẽ không chấp thủ ý xúc, và tôi sẽ không có thức y cứ vào ý xúc". Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy.
Do vậy, này Cư sĩ, hãy học tập như sau: "Tôi sẽ không chấp thủ thọ do nhãn xúc sanh khởi, và tôi sẽ không có thức y cứ vào thọ do nhãn xúc sanh khởi". Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy. Do vậy... "Tôi sẽ không chấp thủ thọ do nhĩ xúc sanh khởi... Tôi sẽkhông chấp thủ thọ do tỷ xúc sanh khởi... Tôi sẽ không chấp thủ thọ do thiệt xúc sanh khởi... Tôi sẽ không chấp thủ thọ do thân xúc sanh khởi... Tôi sẽ không chấp thủ thọ do ý xúc sanh khởi và tôi sẽ không có thức y cứ vào thọ do ý xúc sanh khởi". Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy.
Do vậy, này Cư sĩ, hãy học tập như sau: "Tôi sẽ không chấp thủ địa giới, và tôi sẽ không có thức y cứ vào địa giới". Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy. Do vậy... "Tôi sẽ không chấp thủ thủy giới... Tôi sẽ không chấp thủ hỏa giới... Tôi sẽ không chấp thủ phong giới... Tôi sẽ không chấp thủ hư không giới... Tôi sẽ không chấpthủ thức giới và tôi sẽ không có thức y cứ vào thức giới". Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy.
Do vậy, này Cư sĩ, hãy học tập như sau: "Tôi sẽ không chấp thủ sắc, và tôi sẽ không có thức y cứ vào sắc". Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy. Do vậy... "Tôi sẽ không chấp thủ thọ... Tôi sẽ không chấp thủ tưởng... Tôi sẽ không chấp thủ hành... Tôi sẽ không chấp thủ thức và tôi sẽ không có thức y cứ vào thức giới". Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy.
Do vậy, này Cư sĩ, hãy học tập như sau: "Tôi sẽ không chấp thủ Hư không vô biên xứ, và tôi sẽ không có thức y cứ vào Hư khôngvô biên xứ". Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy. Do vậy... "Tôi sẽ không chấp thủ Thức vô biên xứ... Tôi sẽ không chấp thủ Vô sở hữu xứ... Tôi sẽ không chấp thủ Phi tưởng phi phi tưởng xứ, và tôi sẽ không có thức y cứ vào Phi tưởng phi phi tưởng xứ". Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy.
Do vậy, này Cư sĩ, hãy học tập như sau: "Tôi sẽ không chấp thủ thế giới ở đây và tôi sẽ không có thức y cứ vào thế giới ở đây". Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy. Do vậy... "Tôi sẽ không chấpthủ thế giới khác, và tôi sẽ không có thức y cứ vào thế giới khác". Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy.
Do vậy, này Cư sĩ, hãy học tập như sau: "Tôi sẽ không chấp thủ những gì được thấy, được nghe, được cảm thọ, được nhận thức, được hy cầu, được tư sát với ý, và tôi sẽ không có thức y cứ vào các pháp (nói trên)". Này Cư sĩ, hãy học tập như vậy.
Khi nghe nói vậy, cư sĩ Cấp Cô Độc khóc và chảy nước mắt. Rồi Tôn giả Ananda nói với cư sĩ Cấp Cô Độc:
- Này Cư sĩ, Ông đang gượng lên mà sống, hay chìm xuống (cõi chết)?
- Thưa Tôn giả Ananda, con không gượng lên mà sống, con đang chìm xuống cõi chết. Dầu cho bậc Đạo sư được con hầu hạ đã lâu và dầu các vị Tỷ-kheo, tu tập ý lực con chưa từng được nghe một thời thuyết pháp như vậy.
- Này Cư sĩ, thuyết pháp như vậy không nói cho các hàng cư sĩ mặc áo trắng. Này Cư sĩ, thuyết phápnhư vậy nói cho các hàng xuất gia.
- Vậy thưa Tôn giả Sariputta, hãy thuyết pháp như vậy cho hàng cư sĩ mặc áo trắng. Thưa Tôn giảSariputta, có những Thiện gia nam tử sanh ra với cấu uế không nhiều, nếu không được nghe pháp, sẽ bị đọa lạc; nhưng họ không thể biết được (Chánh) pháp.
Rồi Tôn giả Sariputta và Tôn giả Ananda sau khi giảng dạy cho cư sĩ Cấp Cô Độc với bài thuyết giảng, từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi. Rồi cư sĩ Cấp Cô Độc, sau khi Tôn giả Sariputta và Tôn giả Ananda ra đi không bao lâu, sau khi thân hoại mạng chung liền sanh lên cõi Tusita (Đâu-suất thiên).
Rồi Thiên tử Cấp Cô Độc, khi đêm đã gần mãn, sau khi chói sáng toàn cảnh Jetavana (Kỳ-đà-Lâm) với dung sắc thù thắng đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn và đứng một bên. Đứng một bên, Thiên tử Cấp Cô Độc nói lên với Thế Tôn bài kệ sau đây:
Rừng Jetavana,
Tốt đẹp phước lành này,
Được chư Thiên, chúng Tăng,
Thường lui tới an trú,
Được Pháp Vương trú trì,
Ban hoan hỷ cho ta.
Nghiệp, minh và Chánh pháp,
Giới, tối thượng sanh mạng,
Chính nhờ các pháp trên,
Khiến chúng sanh thanh tịnh,
Không phải do giai cấp,
Không phải do tài sản.
Do vậy bậc Hiền giả,
Thấy rõ mục đích mình,
Suy tư pháp chân chánh,
Được thanh tịnh ở đây.
Như Sariputta,
Về tuệ, giới, tịch tịnh,
Bất luận Tỷ-kheo nào,
Đã tới bờ bên kia,
Hãy đạt được tối thắng
Trong những pháp kể trên.
Thiên tử Cấp Cô Độc nói như vậy. Bậc Đạo sư tán đồng. Rồi Thiên tử Cấp Cô Độc suy nghĩ: "Bậc Đạo sư tán đồng ta." Sau khi đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài rồi biến mất tại chỗ.
Rồi Thế Tôn, khi đêm ấy đã mãn, gọi các Tỷ-kheo:
- Này các Tỷ-kheo, đêm nay, một vị Thiên tử, khi đêm đã gần mãn, chiếu sáng toàn cảnh Jetavana với dung sắc thù thắng đã đi đến Ta, sau khi đến đảnh lễ Ta rồi đứng một bên. Đứng một bên, vị Thiên tử ấy nói lên với Ta bài kệ sau đây:
Rừng Jetavana,
Tốt đẹp phước lành này,
Được chư Thiên, chúng Tăng,
Thường lui tới an trú,
Được Pháp Vương trú trì,
Ban hoan hỷ cho ta.
Nghiệp, minh và Chánh pháp,
Giới, tối thượng sanh mạng,
Chính nhờ các pháp trên,
Khiến chúng sanh thanh tịnh,
Không phải do giai cấp,
Không phải do tài sản.
Do vậy bậc Hiền giả,
Thấy rõ mục đích mình,
Suy tư pháp chân chánh,
Được thanh tịnh ở đây.
Như Sariputta,
Về tuệ, giới, tịch tịnh,
Bất luận Tỷ-kheo nào,
Đã tới bờ bên kia,
Hãy đạt được tối thắng
Trong những pháp kể trên.
Nói vậy xong, này các Tỷ-kheo, vị Thiên tử ấy suy nghĩ: "Bậc Đạo sư tán đồng ta" sau khi đảnh lễ thân phía hữu hướng về Ta, rồi biến mất tại chỗ.
Khi được nghe nói vậy, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, có phải vị ấy là Thiên tử Cấp Cô Độc chăng? Bạch Thế Tôn, cư sĩ Cấp Cô Độc có lòng tịnh tín bất động đối với Tôn giả Sariputta.
- Lành thay, lành thay, Ananda! Những gì có thể thành đạt được bởi suy tư đã được đạt đến, này Ananda. Chính Cấp Cô Độc là vị Thiên tử ấy, không một ai khác.
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả Ananda hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.
[Hết trích]
Qua bài kinh này, chúng ta thấy một vị cư sĩ như ông Cấp-cô-độc hầu hạ đức Thế Tôn rất lâu, nhưng chưa được nghe bài pháp thâm sâu như vậy, ông lại mong cầu cho những người cư sĩ, ai có tâm uế nhiễm, ít có thể thâm nhập được chánh pháp này được nghe thấy để chiêm nghiệm vượt qua. Như vậy, hiện tại chúng ta rất may mắn, rất hạnh phúc khi đã nghe đã thấy được lời Phật dạy rõ ràng, mình cần soi xét cho tường tận để hành trì. Cần thấy rõ được vô thường, khổ, không, vô ngã, không cái gì là tôi, không cái gì là của tôi, thì mới may ra có vào dòng Thánh. Nhưng phải thật sự có chánh tri kiến, thấy được pháp.
Sau khi nghe lời chia sẻ này những người than quyến với Minh Thành đã hoan hỷ nghe pháp, chịu ở lại núi đồi Linh Quy Pháp Ấn ra công tu tập. Họ đã chịu vượt qua ổ bệnh tật, những trì trệ của tuổi già mà chịu khó niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng; sự vô thường đã và đang diễn ra ngày càng rõ rệt trong sự hiểu của họ. Vậy là, dù 4 giờ khuya trên núi đầy sương mù, nhưng họ đã bắt đầu chịu thức dậy và thực tập lạy Phật, tọa thiền, nghe pháp, theo dõi hơi thở trong sự sanh diệt bất tận. Minh Thành xúc động trong khoảnh khắc này, xin chia sẻ cùng quý thiện hữu!
2. Quán chiếu tứ đại – Ngoại địa giới và nội địa giới
Quán chiếu tứ đại giúp chúng ta có một cái nhìn thấu đáo, trọn vẹn về tự thân và tự tâm. Lời dạy của Bậc Chánh Đẳng Giác đặc biệt ở chỗ bất kỳ pháp nào đức Phật cũng nói rốt ráo, triệt để, toàn diện nên trong tứ đại mà không phải chỉ là tứ đại, hành giả sẽ thấy được sự giác ngộ tứ đại của đức Phật như thế nào? Vị ngọt của tứ đại, sự nguy hiểm của tứ đại, cũng như sự xuất ly vượt thoát của tứ đại như thế nào?
Nguyên nhân đưa đến sự nhập thai của chúng sanh, cũng như quá trình tu tập kiên trì, tinh cần dẫn đến thành tựu mục đích của sa-môn hạnh và quán chiếu tứ đại theo tinh thần Tứ Thánh Đế. Tuy nói soi rọi rõ biết về tứ đại là phá về sự bám chấp vào sắc uẩn, gọi là ngũ thủ uẫn. Kinh Tứ Thánh Đế từng liệt kê sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ v.v... ở phần định nghĩa về bốn đại. Cuối cùng, đức Phật nói tóm lại năm thủ uẩn là khổ, tức là sự bám chấp, kiến chấp, vọng chấp, mê chấp, lầm chấp về năm uẩn này là tôi, là của tôi. Chính điều đó là Tập Đế, nguyên nhân của đau khổ và chúng ta đang học theo tên gọi, danh từ là chúng ta đang phá cái chấp về sắc uẩn. Bởi vì lầm chấp bám chặt vào sắc thân này, từ chỗ đó thọ tưởng hành thức được dịp phát sanh, nó có chỗ y cứ, nương tựa. Như vậy, thọ tưởng hành thức và sự rõ biết nhận thức của mình bám vào trong thân sắc chất này để sanh ra các thứ tham dục, sân hận, si mê, vô minh, chấp ngã.
Chúng ta thường cho thân xác này là mình, của mình, là tôi, của tôi rồi nâng niu, chìu chuộng, lo cho tới mãn đường cũng vì cái ‘xác phàm’ này, mệt với nó rồi nó cũng bỏ mình đi không lời thưa hỏi.
Bốn đại được định nghĩa như Trung Bộ Kinh (Majjhima Nikaya), bài kinh số 28. Ðại kinh Dụ dấu chân voi (Mahàhatthipadopama sutta). Tôn giả Xá-lợi-phất đã nói với các Hiền giả rằng:
“Ví như tất cả dấu chân của mọi loại động vật đều thâu nhiếp trong dấu chân voi, vì dấu chân này được xem là lớn nhất trong tất cả dấu chân về phương diện to lớn. Cũng vậy, chư Hiền giả, tất cả các Thiện pháp đều tập trung trong Bốn Thánh Đế.Thế nào là trong Bốn Thánh đế? Trong Khổ Thánh đế, trong Khổ tập Thánh đế, trong Khổ diệt Thánh đế, trong Khổ diệt đạo Thánh đế.
Chư Hiền, thế nào là Khổ Thánh đế? Sanh là khổ, già là khổ, chết là khổ, sầu, bi, khổ, ưu, não là khổ, điều gì cầu không được là khổ, tóm lại Năm thủ uẩn là khổ.
Chư Hiền, thế nào là Năm thủ uẩn? Chính là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn.
Chư Hiền, thế nào là sắc thủ uẩn? Bốn đại và sắc khởi lên từ bốn đại. Chư Hiền, thế nào là bốn đại? Chính là địa giới, thủy giới, hỏa giới, phong giới.”
Thiện pháp ở đây không phải thiện tốt lành bình thường, Thiện pháp trong kinh Nikàya đức Phật nói là pháp xuất thế gian, thiện cứu cánh tức là giác ngộ giải thoát chứ không phải thiện đối với ác theo nghĩa thông thường, nên tất cả các thiện pháp đưa mình tới giác ngộ giải thoát đều lấy Bốn Thánh Đế làm chỗ quy tụ, hướng về, dung nhiếp trọn vẹn.
Thế nào là Bốn Thánh Đế? Khổ Thánh Đế, Tập Thánh Đế, Khổ Diệt Thánh Đế và Khổ Diệt Đạo Thánh Đế. Chữ khổ là một sự thật mà chỉ có Bậc Thánh mới thấy biết được một cách chân chánh như thật trong sự giác ngộ, không phải nghĩa của khổ thông thường.
Bốn Thánh Đế nghĩa là gì? Đế là chân đế, chân lý, bốn chân lý của Bậc Thánh Giác ngộ, Thánh ở đây chỉ đức Phật.
“Chư Hiền, thế nào là Khổ Thánh đế? Sanh là khổ, già là khổ, chết là khổ, sầu, bi, khổ, ưu, não là khổ, điều gì cầu không được là khổ, tóm lại Năm thủ uẩn là khổ.
Chư Hiền, thế nào là Năm thủ uẩn? Chính là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn.”
Cuộc đời là khổ, nên gọi là:
“Biển cả mênh mông sóng ngập trời
Khách trần chèo một chiếc thuyền chơi
Thuyền ai ngược gió, ai xuôi gió
Ngoảnh lại cùng trông bể khổ thôi.”
Khách trần chèo một chiếc thuyền khơi mới đúng. Khơi là đưa mình ra khơi, mình hiểu chữ khổ theo nghĩa thông thường là nghèo bệnh hay ốm đau tai nạn là không phải, cái đó là khổ của phàm phu, khổ như vậy không cần học cũng quá rõ biết, khổ đó không cần mình tu mình cũng biết.
Do sự bám chấp của chúng ta quá sâu dầy, khó mà lột sạch ra hết ngay một lúc, phải kiên trì, thật nhẫn nại, mỗi ngày một chút cạo bỏ lớp vô minh kia, từ từ mới bớt khổ và thoát phiền não. Vô minh là mình không biết sắc uẩn, cho đó là mình, đây là một kẻ vô văn phàm phu, không gặp bậc Thánh, chẳng gặp bậc chân nhân, chưa từng tu tập pháp mà các bậc chân nhân đã hành trì, như vậy làm sao thuần thục pháp các bậc chân nhân đã tu hành. Cho nên, sắc đó cho là mình chứ không thấy đó là sắc uẩn, một sự nhóm hợp của năm uẩn mà thành cái gọi là tôi hay bạn, chỗ này khéo xét, kẻo bị lầm lộn mãi. Ngay cả bây giờ đi tu, mình nói thân này là của mình thì mình vẫn là vô minh, khi nào nhận thức bên trong nhận thức thân này là sắc uẩn, lúc đó mới bắt đầu vén màn vô minh ra, đó là trí của Tu-đà-hoàn, trí này thời đức Phật cư sĩ đạt được rất nhiều, còn bây giờ chúng ta nghe Tu-đà-hoàn lại sợ, vì mình sống trong vô minh đã quen, mình thích mình là phàm không thích mình là thánh.
Tại sao mình trồng cây nhưng khi nghe nói cây có trái lại lo sợ? Rõ ràng là vô minh, nếu mình tu đúng chánh pháp thì hệ quả tất yếu phải có, tức là mình phải thấy pháp, rõ biết sáng tỏ để được vào dòng pháp.
Tại sao chúng ta tu mãi mà chưa thấy pháp? Vì mình tu chưa ngay mạch, chưa đúng, chẳng trọn vẹn chánh pháp. Bởi Phật nói một đường hành giả làm một ngã, mình thấy cảm giác là mình chứ không phải thọ uẩn, thấy những tư tưởng suy nghĩ đó là mình tôi, suy nghĩ chứ không phải tưởng uẩn, rõ biết trong nội tâm của mình nói tôi biết chứ không biết đó là thức uẩn. Chính vì vậy nói một đàng, tụng một đàng, sống một nẻo, vĩnh viễn mình và pháp là hai thái cực. Nếu mình thật sự thực tập theo lời Phật dạy, luôn nghe suy xét quán chiếu sâu sắc thật như vậy, rồi thực hành nhiều nhất định mình thấy được pháp. Trí thấy rõ đó là thánh trí, tỏ sáng nơi mình, đây là bước rất quan trọng, nếu mình không thấy mãi mãi mình tu trong vô minh, bản ngã mà không tự biết, chẳng ra khỏi vòng luân hồi sanh diệt, loay hoay thọ lại trong năm uẩn.
Ngay bản thân và cả những người xung quanh mình là một minh chứng sống động cho sự hăng say tu tập nhưng gặt hái kết quả thiết thực thì chẳng có bao nhiêu. Thật lấy làm tiếc! Thậm chí tu tới già thì ‘tôi vẫn là tôi’, chưa dứt lìa cái ngã, cái tôi, của tôi, là mình. Vì chúng ta cho năm uẩn này thật có, là mãi mãi, là của mình mà không thấu rõ nó chỉ là giả hợp, nương gá trong hữu hạn, là vô thường, rất dễ đổ vỡ. Cho nên, ai mà chạm tới thì cục lửa sân hận, tham, si nó phát khởi, phựt lên ào ào.
Chúng ta thực hành rất là nhiều. Tụng kinh, niệm Phật, trì chú, sám hối, tọa thiền, từ thiện,… nhưng tâm lăng xăng, thân vọng động, chứa chấp hữu ngã, chứa chất danh, chứa chất mình, tôi, phải quấy đúng sai… cho nên khổ, những phiền não ấy dìm mình xuống. Cho nên thủ uẩn là vậy! Hàng ngày, hành giả nhìn thấy cái tưởng vận hành, ý di chuyển, cảm giác luôn thay đổi, nhận thức trong tâm phát khởi liên tục; nếu đào sâu bằng trí tuệ vô thường, vô ngã, khổ, không để thấy bằng khách quan của hiện diện năm uẩn tạm gọi tạo thành tôi - bạn, ta - người, đều bị những cảm giác, những mắt xích của năm uẩn đan xen làm cho mình mệt. Chúng từ vi tế cho tới thô phù hiện diện, nhưng mình không kịp nhận hoặc để cho qua thì một lúc nào đó mình tự đi vào vùng ‘rốn lũ’ của sự vận hành si mê điên đảo ấy mà chẳng thật biết. Đó là vô minh. Chỉ vì một chút cảm giác mà thích thú, khoan khoái thì tham dục, tham ái trỗi dậy… lúc đó có ai làm ngược lại chắc hẳn sẽ khó chịu, muốn triệt phá, đoạn tận đây là đối ngại tưởng. Nó làm phát khởi một tư tưởng đối lập, chống đối, đó là sân; nếu cảm giác trơ trơ không khổ, chẳng vui, chưa từng thích thú, cũng chẳng sinh khởi sự chán và tối ngày lơ lửng, trơ trơ đó là si. Do mình không thấy, nhiều khi nghĩ, mỗi ngày tôi lên tụng kinh hai thời, công phu khuya cũng có mặt rồi chiều tối cũng có mặt như vậy là được, là tốt rồi, chắc là không dính dáng cái tưởng. Nghĩ vậy là sai lầm. Những hình bóng trong nội tâm nếu bản thân hành giả không trau dồi tu tập, thiếu quán chiếu, nhìn kỹ lại ‘mình’ thì những tưởng này, những lời nói thì thầm kia, bao lớp sóng suy nghĩ nọ làm cho mình càng thêm khổ. Phải thấy sâu xa ngũ thủ uẩn này là khổ, nếu không có tu tập.
Thời đức Phật còn tại thế, có nhiều câu chuyện về đệ tử của Thế Tôn được minh chứng cho hang đệ tử hôm nay thấy được ma chướng trên đường tu, thấy được sự quyết chí tiến tu không phải ai cũng vượt qua, nhưng người nào thắng được chính mình trong tham dục, đoạn tận tham – sân – si là vào dòng Thánh. Có những vị Tỳ-kheo còn trẻ, đẹp trai, học giỏi, xuất thân là nhà giàu,… ôm bình bát đi khất thực và hành trì pháp mà Bậc Đạo sư đã chỉ dạy. Thế nhưng, đâu đó trên bước đường hoằng hóa, các vị Tỳ-kheo lại gặp những phụ tử nữ mặc đồ hở hang, gợi cảm khiến vị Tỳ-kheo khởi tâm động dục; thậm chí có những vị nói lại các bạn đồng tu, đồng phạm hạnh rằng dục đang xâm chiếm tâm tôi, chế ngự tâm tôi, bây giờ tôi đau khổ, chắc tôi không thể sống đời sống phạm hạnh nữa, tôi muốn hoàn tục,… Lúc đó, các huynh đệ đã khéo khuyên bảo vị Tỳ-kheo kia phải gặp đức Thế Tôn, để được vị Cha lành nhắc nhở, chỉ cho phương cách chiến thắng, khéo vượt qua tham dục. Thật vậy, có rất nhiều vị Tỳ-kheo sau khi gặp Phật, nghe dạy, rồi thực hành theo lời Thế Tôn đã thu hái kết quả rất cao, thành tựu ngay trong hiện đời. Do vậy mới nói rằng pháp cảu Phật “đến để mà thấy, không trải qua thời gian”.
Ngày nay, tham dục chế ngự, xâm chiếm mình mà mình không biết bị xâm chiếm. Vì chúng ta chấp nhận tư tưởng đó, do mình thấy một đối tượng nào đó là đối tượng tham ái của mình, hình ảnh đã bắt gặp kia sẽ tái hiện khi mình về lại chùa hoặc lúc ngồi thiền hay nằm thiền hay là mình ở một mình trong phòng. Những hình bóng đó xuất hiện trở lại và câu nói đó, nụ cười hàm răng như ngọc kia đang hiện ra, làm cho mình nhớ lại ánh mắt, nhớ lại gương mặt, nhớ lại nụ cười đó là tưởng, sắc tưởng, là những hình bóng về sắc mà nó hiển hiện lại trong nội tâm của mình gọi là sắc tưởng. Không dừng lại ở sác tưởng, lúc đó có những âm thanh hoặc âm thanh của người đó nói, gọi là thanh tưởng hoặc âm thanh của mình nói lên là hành uẩn, là những lời nói thì thầm của chính mình hoặc cảnh trần xuất hiện. Người ta nói một là ngoại trần hai là nội trần, ngoại trần là sắc thọ tưởng hành thức những hình bóng sắc thọ tưởng hành thức ở bên ngoài. Đừng để sáu căn bị sáu trần tác động, chi phối, giăng lưới bẫy mồi. Một khi lọt vào bẫy thì khó mà thoát nổi. Cái lưới vô minh đó dìm tận mình không biết đã bao nhiêu đời kiếp, chẳng biết khổ đau đã trải qua bao nhiêu lần… sao còn ham, sao còn mê, sao còn chưa chịu buông xuống, xa lìa…
Sắc ngũ uẩn từ bốn đại khởi lên thì nguy hiểm vô cùng tận. Phải thật sự quán chiếu suy tư thường xuyên. Địa giới được Thế Tôn dạy như sau: “Chư Hiền, thế nào là địa giới? Có nội địa giới, có ngoại địa giới. Chư Hiền, thế nào là nội địa giới? Cái gì thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thô phù, kiên cứng, bị chấp thủ, như tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, thận, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, bao tử, phân, và bất cứ vật gì khác thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thô phù, kiên cứng, bị chấp thủ. Chư Hiền, như vậy gọi là nội địa giới. Những gì thuộc nội địa giới và những gì thuộc ngoại địa giới đều thuộc về địa giới. Cần phải như thật quán sát địa giới với chánh trí tuệ như sau: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi". Sau khi như thật quán sát địa giới với chánh trí tuệ như vậy, vị ấy sanh yểm ly đối với địa giới, tâm từ bỏ địa giới.”
Bị chấp thủ là mình cho cái đó là mình, ví như cho rằng hàm răng đẹp này là của mình, yêu quý nó, muốn nó sáng bóng, cứng cáp, vô tình bị gãy hoặc bị ai đó đánh nhầm làm rụng hai, ba cái rặng đẹp kia. Khi những chiếc răng rụng xuống, ra khỏi cơ thể, chúng ta không còn gọi là mình, của mình, chẳng còn cảm giác yêu thích hoặc đau xót. Nếu ai đó đạp lên, đập vào thì mình cũng không có cảm giác đau đớn, vì sự chấp thủ không có mặt. Do đó khổ im bặt.
Trần cảnh có nóng lạnh, có bức ngặt bất thường, sáu căn hành giả nhận rõ nhưng chúng ta dần tách ra khỏi những cảm giác của buồn, vui, lăng xăng chạy theo cảnh trần, vì cho vui buồn kia là thật của mình, là một phần của sự sống này. Nếu thực hành tách ra, làm một phân tích cho thật kỹ, thì thấy rõ là đồ láp ráp của sắc thọ tưởng hành và thức tạo nên sắc trần này, làm nên chấp thủ. Mà còn chấp thủ nắm níu ghì chặt là còn đau khổ, mê lầm. Dùng trí tuệ tách dần năm uẩn mới sanh ra thánh trí là chỗ đó. Lúc trước, hoàn toàn tôi đang khó chịu, tôi bực mình, đó là sắc đang khó chịu, thân đang bức ngặt, nó đang mong cầu, nó bị cảm giác sai khiến chứ không phải mình khó chịu. Nếu hành giả kiên trì tập tách suy nghĩ, đừng để mình hòa vào đó, mà sắc thân hay thọ tưởng hành thức chứ không phải mình thì dần dà sẽ thanh tựu rõ biết, chắc thật là như vậy.
“Những gì thuộc nội địa giới và những gì thuộc ngoại địa giới đều thuộc về địa giới”.
Nội địa giới là những cái thuộc về thân của mình, những cái thô phù kiên cứng, bị chấp thủ đó là nội địa giới trong thân; còn ngoại địa giới là những cái thô phù, kiên cứng cũng bị chấp thủ mà ở bên ngoài. Ví dụ, chiếc xe của mình là bị chấp thủ, mắt kiếng của mình, căn phòng của mình, cái áo cái quần của mình, món đồ của mình, tủ đồ của mình, tiền của mình, đồng hồ của mình… đó là ngoại địa giới, bị chấp thủ; mở rộng ra là quê hương của mình, làng xóm của mình, bà con của mình anh em của mình, cha mẹ của mình; mở rộng ra là trái đất này là của chúng mình, đất nước con người của mình… đó là ngoại địa giới, pháp này bị chấp thủ nên pháp của đức Phật là pháp ly dục, ly tham, diệt tận ái đó là pháp thanh lương của Niết-bàn, chấm dứt tất cả thống khổ. Một khi chúng ta thật sự hiểu được ý nghĩa này, mới thấy rõ giá trị của Phật pháp, chứ không phải vô chùa thờ cúng lạy, cầu xin hoài, đó là tín ngưỡng; không khéo là mình đi vào mê tín, chẳng có chánh kiến, chánh tín thì không thể thành tựu trí huệ. Như vậy, hành giả mãi đang trong tối tăm mù mịt, vậy sao dẫn người ta đi?! Quan trọng đạo Phật thành tựu được chánh kiến, thấy cho rõ vấn đề xuất phát từ đâu? Nguyên nhân phát ra từ đâu? Tại sao dẫn ra kết quả này? Cuối cùng, làm sao cho nó chấm dứt đau khổ? Có con đường chấm dứt, phải nắm vững pháp đó mới thành tựu trí huệ.
3. Quán chiếu tứ đại – Thủy hỏa phong giới
Thủy giới là gì? Trung Bộ Kinh - Đại kinh Dụ dấu chân voi đã được đức Phật dạy rõ như sau:
“Chư Hiền, thế nào là thủy giới? Có nội thủy giới, có ngoại thủy giới. Chư Hiền thế nào là nội thủy giới? Cái gì thuộc về nội thân, thuộc cá nhân, thuộc nước, thuộc chất lỏng, bị chấp thủ, như mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, niêm dịch, nước ở khớp xương, nước tiểu, và bất cứ vật gì khác thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thuộc nước, thuộc chất lỏng, bị chấp thủ. Chư Hiền, như vậy gọi là nội thủy giới. Những gì thuộc nội thủy giới và những gì thuộc ngoại thủy giới, đều thuộc về thủy giới. Cần phải như thật quán sát thủy giới với chánh trí tuệ như sau: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi". Sau khi như thật quán sát thủy giới với chánh trí tuệ như vậy, vị ấy sanh yểm ly đối với thủy giới, tâm từ bỏ thủy giới.
Chư Hiền, một thời xảy ra khi ngoại thủy giới dao động, nước cuốn trôi làng, cuốn trôi thị trấn, cuốn trôi thành phố, cuốn trôi xứ, cuốn trôi quốc độ. Chư Hiền, một thời xẩy ra khi nước biển đại dương hạ thấp một trăm do-tuần, hạ thấp hai trăm do-tuần, hạ thấp ba trăm do-tuần, hạ thấp bốn trăm do-tuần, hạ thấp năm trăm do-tuần, hạ thấp sáu trăm do-tuần, hạ thấp bảy trăm do-tuần. Chư Hiền, một thời xẩy ra khi nước biển đại dương dâng cao đến bảy cây ta-la, dâng cao đến sáu cây ta-la, dâng cao đến năm cây ta-la, dâng cao đến bốn cây ta-la, dâng cao đến ba cây ta-la, dâng cao đến hai cây ta-la, dâng cao chỉ đến một cây ta-la. Chư Hiền, một thời xẩy ra khi nước biển đại dương cao đến bảy đầu người, dâng cao đến sáu đầu người, dâng cao đến năm đầu người, dâng cao đến bốn đầu người, dâng cao đến ba đầu người, dâng cao đến hai đầu người, dâng cao chỉ đến một đầu người. Chư Hiền, một thời xẩy ra khi nước biển đại dương dâng cao đến nửa thân người, dâng cao chỉ đến hông, dâng cao chỉ đến đầu gối, dâng cao chỉ đến gót chân. Chư Hiền, một thời xẩy ra khi nước biển đại dương không có để thấm ướt đốt ngón chân. Chư Hiền, tánh vô thường của ngoại thủy giới xưa ấy có thể nêu rõ, tánh hủy hoại có thể nêu rõ, tánh đoạn diệt có thể nêu rõ, tánh biến dịch có thể nêu rõ. Như vậy còn nói gì đến thân thể yểu thọ do khát ái chấp thủ này? Ở đây không có gì để có thể nói là tôi, là của tôi, hay tôi là.
Chư Hiền, nếu có những người khác mắng nhiếc, chỉ trích, chọc tức, nhiễu não Tỷ-kheo, vị ấy biết rõ như sau: ...(như trên)... và xả tương ứng với thiện được an trú. Chư Hiền, cho đến mức độ này, vị Tỷ-kheo đã làm thật nhiều.”
Như vậy, thủy giới có nội thủy giới và ngoại thủy giới, tức là nước bên trong và nước ở bên ngoài thân này. Ở đây, chúng ta quán chiếu sâu về sắc uẩn, do vậy cần nghiệm kỹ về tứ đại. Qua những dẫn chứng thật cụ thể, xác chứng từ bản kinh, hành giả đã hình dung và theo dõi nội, ngoại thủy giới vận hành.
Không thể ngồi yên mà thành tựu, chỉ có yên tịnh rồi sau đó quán chiếu sâu sắc, tột cùng soi rọi lại đến từng chân tơ kẻ tóc, cho ra vấn đề, cho hiểu lẽ chân thật của nguyên nhân sanh khởi và diệt tận. Còn ngồi yên mà mong trí huệ phát khởi là điều không bao giờ có.
Vậy chúng ta quán chiếu cái gì? Chánh tư duy trong suy nghĩ. Nhận diện trước mặt, theo dõi cảm giác của hơi thở chuyển động toàn thân, thấy rõ sự sanh diệt bất tận, cảm nhận sự bức ngặt của sắc uẩn này. Dùng Như lý tác ý chân chánh phản tỉnh chính mình.
Ví dụ, chúng ta đang quán tưởng về thủy giới trong lúc hành thiền. Chẳng hạn, thủy nội giới, bắt đầu là nước bọt trong miệng đang tiết ra trong vòm họng; hoặc như bị sổ mũi, tức là nước trong mũi bắt đầu chảy rỉ, sụt sịt, khó chịu trong thân; hoặc khi tắm, vô tình bị nước bên ngoài lọt vào lỗ tai gây cảm giác lùng bùng, ù ù, ngứa ngáy, khó chịu; hoặc mồ hôi đổ ra do thời tiết nóng nực, cũng có khi cơ thể vận động sinh nhiệt, bốc hơi thành nước… Rồi nước mắt, nước đại tiểu tiện, bao nhiêu chất dịch nhầy từ cơ thể tiết ra.
Nhìn sâu xét kỹ như vậy thì trí huệ mới phát sanh. Hành giả sau khi phân biệt nội thủy giới và ngoại thủy giới, rồi bóc tách nó ra, về nội thủy giới mình mổ xẻ nó từng phần và như vậy chúng ta đã loại cái tôi, của tôi, là tôi, là mình rồi. Chỉ là những thành tố tổng hợp tạo thành sắc uẩn, tạo thành dòng chảy trong thân. Phải nhấn mạnh với chính bản thân rằng, đây không phải nước mũi của mình, đây không phải nước mắt của mình, đây không phải mồ hôi của mình mà đây là nước của một phần trong tứ đại, đó là thủy đại, cụ thể hơn chính là thủy nội địa giới. Như vậy, mình tách dần trong tư tưởng, cách nhìn không còn sự gắn kết giống như keo với sơn, chấp thủ, nắm chặt cho là mình, sợ mất, sợ tan hoại vì nghĩ thường còn, thật ra nó rất vô thường, phải quán chiếu vô thường, thấy được bản chất hư dối đó bằng tâm vô ngã, rỗng không, tịch lặng thì Niết-bàn mới rộng cửa chào đón hành giả.
Vừa soi rọi nội thủy giới, chẳng hạn về mồ hôi, lại kết hợp quán bất tịnh thì sẽ thấu triệt hơn sự nhàm chán, xa lìa xác phàm giả tạm này. Nói về mồ hôi cũng phân ra có rất nhiều loại mồ hôi, mồ hôi trên da mặt, trên cổ, dưới nách, trên lưng, trên bụng, dưới háng, chân, bàn chân,… tất cả mồ hôi đó là nội thủy giới, vị trí ở khác nhau cũng có sự biểu hiện bứt rứt khác nhau trên mỗi vị trí của thân. Quán chiếu sâu về nó, thấy rõ sự dơ bẩn, sự bất tịnh tiết ra từ chính thân thể này, từ chính cái mà mình nuông chìu, nuôi lớn cho nó, trang sức cho nó, giấu những khiếm khuyết của nó, nhưng thật sự nó vẫn trưng bày cái dơ hôi xấu ra.
Quán chiếu thường xuyên thanh thạo, biết được rõ về thân và tâm. Chỉ cần ‘nó’ biểu hiện thế nào là hành giả rõ biết ngay, sẽ có cách đối trị với những chứng tật của chúng. Còn ngược lại, không rõ biết, chỉ biết mồ hôi làm ngứa ngáy, khó chịu, lau mình cho khô thì hết khó chịu, người không tu cũng am hiểu chuyện này. Chỗ người trí là khéo nắm bắt, nắm giữ cái tướng của tâm; khéo nắm bắt tướng của tâm là trạng thái vận hành và hoạt động của tâm mình khéo nắm bắt được.
Nếu chúng ta không hướng nội cũng chẳng hướng ngoại sẽ chẳng bao giờ thật biết; ngay lúc hành giả đang quán về thủy giới, về nước trong thân, ví như đang ngồi trên xe có máy lạnh, xe dừng lại đón người khách lạ bước lên, mùi lạ bắt đầu hiển lộ, khướu giác thực hiện nhiệm vụ rồi quán sâu và rõ biết sự bất tịnh từ người bốc lên. Mùi khó chịu, mùi khói thuốc, mùi tôm cá, rất nhiều loại mùi hiện ra và ta phân tích một cách chân thật về chúng như bản chất chúng đang hiện hữu.
Dùng sức mạnh trí huệ trong việc quán chiếu năm uẩn, cụ thể ở sắc uẩn như một xạ thủ, phải nhanh chớp nhoáng và trúng đích chính xác ngay hồng tâm của sự vật, sự việc, con người, ngoại cảnh. Bắn hạ khối vô minh uẩn đang trùm lấp cơ thể này. Xử cho nó gục và bật gốc rễ, không còn nơi ẩn nấp, chẳng còn điều gì níu giữ. Chộp một cái là dính ngay con mồi, ngay đối tượng quán chiếu, cũng như con sư tử rình và chộp mồi vậy. Sư tử dung toàn lực bắt mồi dù đó là con vật lớn hay là con vật nhỏ thì nó đều dung tất cả tâm lực, sức lực, tinh lực vào đối tượng đó. Cũng vậy, hành giả phải thật sự dùng toàn tâm lực, sức lực, nguyện lực trên bước đường chuyển hóa thân tâm này.
Phải nhìn cho kỹ nội thủy giới trong từng hành động, ý niệm, lời nói, oai nghi… khi đi tiểu, đổ mồ hôi mình thấy được những chất bất tịnh tuôn chảy. Sự nhờm tởm luôn hiện hữu, đáng nhàm chán với cái thân vô thường bất tịnh này, đào sâu vào chỗ đó; quán chiếu cục ghèn, nước mắt, nước mũi chảy ra, nước tiểu chảy ra, mồ hôi chảy ra, mỡ chảy ra, lúc đứt tay chảy máu… Tất cả thuộc về chất lỏng trong thân. Như vậy, hành giả phải nhìn đó là nước bên trong cơ thể. Bây giờ nước miếng của mình thấy gớm, nước miếng của người khác mình cũng gớm, vậy mà đối tượng bị tham ái mình lại không gớm, mình đam mê cái đó, chỗ này bị cái khổ, bị chấp thủ nên nó bị si ái, một khi tham ái tham dục nó bị si mê, bình thường không ai như vậy, si ái nên vô minh kết hợp với tham ái. Trong tăm tối, si mê bị vô minh che đậy do bị tham ái trói cột, trong kinh Pháp Cú nói rằng:
“Khi nào chưa cắt được
Tham dục giữa gái trai
Vẫn còn buộc ràng
Như bò con vú mẹ.”
Muốn giải thoát mà mình không thoát được dục thì không thể giải thoát được. Khi còn vướng bận với những bộ xương, đống thịt bởi những nhóm bất tịnh hôi hám được khoát lên tấm da trơn láng và màu áo quần đủ sắc làm chói mắt nhau thì khó mà ra khỏi dòng sanh tử. Vì thấy thân này đẹp, muốn tìm thêm một cái thân nữa cho có cặp, có vui buồn bên nhau. Pháp là như vậy, chứ không phải đức Phật bắt đệ tử khi xuất gia, thọ giới Tỳ-kheo cấm dính dáng vào dục. Vì mình như bò con không rời vú mẹ, sự ràng buộc của dục ái là như vậy vĩnh viễn mình không thoát được. Lúc mình nhắm mắt, thức đẩy mình đi tìm một cái than mới qua sự giao hợp của nam nữ, mình nhảy vô mà không biết là gặp tiếp cái bẫy mồi. Do vậy, các bậc A-la-hán tận ái diệt ái dứt sạch ái dục, ly dục thật sự, không hề móng khởi một ý niệm nào, nên sự tu ấy mới đi thẳng, tiến đến bờ giải thoát rốt ráo. Cho nên, cần xác lập sự tu của bản thân ngay từ ý niệm ban đầu muốn xuất gia. Phải luôn tự đặt câu hỏi tu là gì? Tại sao phải tu? Tu để được cái gì? Tu đi đúng con đường thì mới tới sự giác ngộ. Còn không rõ bát chánh đạo, chưa nắm cốt tủy bốn Thánh đế, chưa thật sự nghiền ngẫm vô thường, vô ngã, Niết-bàn và quán bất tịnh trong Như lý tác ý mạnh mẽ thì khó mà vượt qua những chấp thủ, những cám dỗ rất mê li, hấp dẫn.
Hỏa giới là gì? Trung Bộ Kinh - Đại kinh Dụ dấu chân voi đã được đức Phật dạy rõ như sau:
“Chư Hiền, thế nào là hỏa giới? Có nội hỏa giới, có ngoại hỏa giới. Chư Hiền, thế nào là nội hỏa giới? Cái gì thuộc về nội thân, thuộc về cá nhân, thuộc lửa, thuộc chất nóng, bị chấp thủ. Như cái gì khiến cho hâm nóng, khiến cho hủy hoại, khiến cho thiêu cháy; cái gì khiến cho những vật được ăn uống, nhai, nếm, có thể khéo tiêu hóa, hay tất cả những vật gì khác thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thuộc lửa, thuộc chất nóng, bị chấp thủ. Chư Hiền, như vậy gọi là nội hỏa giới. Những gì thuộc nội hỏa giới và những gì thuộc ngoại hỏa giới, đều thuộc về hỏa giới. Cần phải như thật quán sát hỏa giới với chánh trí tuệ như sau: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi". Sau khi như thật quán sát hỏa giới với chánh trí tuệ như vậy, vị ấy sanh yểm ly đối với hỏa giới, tâm từ bỏ hỏa giới.
Chư Hiền, một thời xẩy ra khi hỏa giới dao động. Lửa thiêu cháy làng, thiêu cháy thị trấn, thiêu cháy thành phố, thiêu cháy xứ, thiêu cháy quốc độ. Lửa cháy cho đến cuối hàng cây cối, cho đến cuối hàng đường lớn, cho đến cuối hàng chân núi, cho đến cuối hàng thủy biên, hay cho đến cuối hàng khu đất khả ái, rồi lửa bị tắt vì không nhiên liệu. Chư Hiền, một thời xảy ra khi loài người đi kiếm lửa phải dùng lông gà và dây gân. Chư Hiền, tánh vô thường của ngoại hỏa giới xưa ấy có thể nêu rõ; tánh hủy hoại có thể nêu rõ, tánh đoạn diệt có thể nêu rõ, tánh biến dịch có thể nêu rõ. Như vậy còn nói gì đến thân thể yểu thọ do khát ái chấp thủ này? Ở đây không có gì để có thể nói là tôi, là của tôi, hay tôi là.
Chư Hiền, nếu có những người khác mắng nhiếc, chỉ trích, chọc tức, nhiễu não Tỷ-kheo, vị ấy biết rõ như sau: ...(như trên)... và xả tương ứng với thiện được an trú. Chư Hiền, cho đến mức độ này, vị Tỷ-kheo đã làm thật nhiều.”
Khi chúng ta nóng trong người, sẽ có cảm giác và người khác sẽ thấy hai dái tai mình nó hơi ấm, hơi ấm lòng bàn chân, mặt đỏ, mắt đỏ,… Tất cả là nội hỏa giới trong cơ thể mình, ấm nóng.
Chúng ta ăn uống, thức ăn vào cơ thể tại sao tiêu hóa được, rõ ràng là trong thân này có lửa, lửa đó không giống như lửa mình đốt ở ngoài, đây là một dạng khác vi tế hơn nên mới nói khiến cho hâm nóng, khiến cho hủy hoại, khiến cho thiêu cháy, khiến cho tiêu hóa, nên mình ăn nguyên dĩa rau muống hay một dĩa xà lách, lúc tiêu hóa ra là thứ khác không còn y nguyên, vì được tiêu hóa, hâm nóng, nung đốt làm cho tiêu hóa, thuộc về lửa, chất nóng. Nó bị chấp thủ, vì ta cho cái nóng đó là mình. Chẳng hạn, tôi đang nóng, mình đang nhận cái nóng đó là mình, không thấy cái đó là nội hỏa giới. Ai đó làm mình bực tức, chẳng vừa ý, không đúng yêu cầu công việc nên bắt đầu lửa trong thân bốc lên. Đó là nội hỏa giới, nó thiêu đốt cả ‘rừng công đức’ là vậy! Vì nóng lên mất lý trí, không kềm và rõ biết được cảm xúc lúc bấy giờ, nên than miệng ý đã bắt đầu đi theo chiều hướng vô minh, chấp thủ.
Hành giả quán chiếu sẽ thấy đất nước gió lửa trong thân mình vận động không ngừng. Nếu xúc chạm tùy theo câu nói ở mức độ nào hỏa bốc lên mặt, lên lỗ tai, lên mắt,… nếu không con ngươi mình sẽ đỏ hết, nóng toàn bộ đầu, hoặc mạnh hơn nữa sẽ bị nóng toàn bộ cơ thể, thân nhiệt của mình lên cao theo lửa tham sân si không được dập tắt. Người có bệnh lên tăng xông mạnh quá đứt mạch máu, nhoiồ máu cơ tim, tăng huyết áp là chỗ này đó. Nội hỏa giới liên hệ đến sân, kết hợp với sân, đi chung với sân.
Tham đi chung với thủy giới, tham ái lúc nào cũng là nước, tham dục là nội thủy giới sẽ kết hợp, nên ái liên hệ với nước.
Sân liên hệ với lửa, nội hỏa giới kết hợp với nhau để làm việc rất tích cực, nếu mình không biết tu, trong một ngày chắc phải dùng bình xịt chữa cháy mấy lần. Lúc nào cũng mang theo bình chữa cháy, phát hỏa là dìm dập ngay. Tự mình phải có pháp, từ, nhẫn, quán chiếu để mình đẩy sân đi ra. Tứ đại hoạt động rất sâu xa, không đơn giản như mình học đất nước gió lửa, tứ đại giai không, có gì đâu, đó là nói trên môi không có quán chiếu, chưa thành tựu trí huệ nên khổ với tứ đại. Do chưa thật thấy tứ đại là tứ đại nên mình thấy tứ đại là mình, là tôi, là tự ngã.
Si tương ưng với trì xuống, đất địa đại, trì trệ nặng nề rồi nằm dài không muốn vận động, chẳng ham suy nghĩ tích cực.
Trong sân vừa có lửa, vừa có phong đại đẩy lên, lửa gặp gió mà gió xuôi chiều lan hết cháy hết, phong đại với hỏa đại kết hợp.
Tham ái mình thấy rõ nặng về thủy đại nội thủy giới, si nặng về nội địa giới trì trệ xuống lờ đờ lờ mờ.
Đây là đại quả tái sanh khởi, nó thiêu đốt hết, cháy rụi lại bắt đầu tái thiết sự sống. Con người lại dùng hai viên đá bùi nhùi lông gà để tìm lửa, thế giới đi xoay vòng sinh thành trụ diệt, cứ như vậy thành chu kỳ, tái diễn, không sai khác, chẳng thoát được tù ngục của tham ái, sân si. Chỉ có tu hành mới vượt thoát khỏi chông gai xiềng xích của lửa ái đó.
Từ lửa bên trong đẩy ra thành lửa bên ngoài, tâm sân hận bên trong, đủ nhân duyên giữa hỏa đại với phong đại thành bùng nổ dữ dội. Như vậy tâm can bị đốt sạch, cháy hết nội tạng, hư hoại hết trong người rồi lan sang người khác, nơi khác. Từ nội giới chuyển thành ngoại giới. Kinh khủng lắm!
Lửa sân hận phá vỡ những tình cảm có thể trước đó tốt đẹp, những mối quan hệ làm ăn trước đó có thể rất tốt, lửa hận đó nuốt chửng mạng sống chính mình và người khác. Chiến tranh thế giới cũng từ nội hỏa giới bùng phát lên thành cao trào, mãnh liệt, không thể bức phá nên nó lan thành ngoại hỏa giới. Các nước đánh chiếm nhau, đau thương, chết chóc, máu lửa, sân hận ngập trời. Ngày nay, con người dễ nổi sân, lửa dường như luôn túc trực sẵn trong người chỉ chờ dịp là bùng lên. Do nghiệp sát rất nặng. Chúng ta ăn nuốt các loài động, thực vật đến chỗ tận diệt, không cho đường tái sanh. Bếp lửa bốc cao, mùi tanh dày đặc, nỗi khổ cũng từ đây mà viên thành. Chiêu cảm nghiệp lành, nghiệp dữ cũng từ tâm mà ra. Chỗ này mình quán chiếu nghiệp quả sẽ thấy rất ghê gớm! Tại sao người đó bị chết cháy, người kia chết chìm, người nọ bị chôn sống, người này bị gió bão thổi, người đang chạy xe ngang những cây to bị cây ngã đè chết hoặc bị thương, người khác thì không sao, còn mình bị rất nặng. Tất cả đều là nghiệp quả không thể nghĩ bàn trong quá khứ của mình chứ không phải tự nhiên nó chiêu cảm ra như vậy. Do vậy, luôn cẩn trọng dè dặt với thân, miệng và ý. Vì phước hay tội, thành phàm hoặc thành Thánh cũng từ đây mà ra. Tất cả do mình biểu hiện và sẽ gặt lấy hoa trái một là ngọt hai là đắng cay hoặc phước vui hay tội khổ; biết rõ nhân quả để mình càng sợ với nghiệp quả mà xa lìa sân hận, si cuồn, tham vọng.
Phong giới là gì? Trung Bộ Kinh - Đại kinh Dụ dấu chân voi đã được đức Phật dạy rõ như sau:
“Chư Hiền, thế nào là phong giới? Có nội phong giới, có ngoại phong giới. Chư Hiền, thế nào là nội phong giới? Cái gì thuộc về nội thân, thuộc cá nhân, thuộc gió, thuộc động tánh, bị chấp thủ, như gió thổi lên, gió thổi xuống, gió trong ruột, gió trong bụng dưới, gió thổi ngang các chi tiết (tay chân), hơi thở vô, hơi thở ra, và bất cứ vật gì khác thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thuộc gió, thuộc tánh động, bị chấp thủ. Chư Hiền, như vậy gọi là nội phong giới. Những gì thuộc nội phong giới và những gì thuộc ngoại phong giới đều thuộc về phong giới. Cần phải như thật quán sát phong giới với chánh trí tuệ như sau: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi". Sau khi thấy như thật phong giới với chánh trí tuệ như vậy, vị ấy sanh yểm ly đối với phong giới, tâm từ bỏ phong giới.
Chư Hiền, một thời xẩy ra khi ngoại phong giới dao động, gió thổi bay làng, thổi bay thị trấn, thổi bay thành phố, thổi bay xứ, thổi bay quốc độ. Chư Hiền, một thời xẩy ra khi trong tháng cuối mùa hạ, loài người tìm cầu gió nhờ lá cây ta-la, nhờ cây quạt, và người ta không mong tìm được cỏ tại chỗ có rạch nước chảy. Chư Hiền, tánh vô thường của ngoại phong giới xưa ấy có thể nêu rõ; tánh hủy hoại có thể nêu rõ; tánh đoạn diệt có thể nêu rõ; tánh biến dịch có thể nêu rõ. Như vậy còn nói gì đến thân thể yểu thọ do khát ái chấp thủ này? Ở đây không có gì để có thể nói là tôi, là của tôi, hay tôi là.”
Chúng ta thấy sự chuyển động nuôi sống trong thân là từ mượn gió, mượn ngoại phong giới nuôi nội thân giới, rồi từ nội thân giới giao thoa luân lưu với ngoại phong giới. Tuần tự, điều hòa, liên tục. Nếu ngừng là cái thân giả tạm này chết ngay, hoại diệt liền. Sự vay trả, hấp thụ thuộc về tánh động, chúng ta nói chuyện phải có phong giới mới nói được, mình nói ‘tôi đang nói chuyện’, ‘tôi đang tập thái cực quyền’ nhưng mình không biết đó là nội phong giới, gió bên trong, tim đập, mạch nhảy, máu huyết tuần hoàn, hơi thở vào ra, hơi thở mạnh nhẹ, gấp gáp, ngắt quãng biểu hiện tình cảm cảm xúc, sức khỏe của người đó. Hoặ như ngồi mà lắc chân, nói chuyện nhưng tay cứ xoa nắm và biểu lộ, ánh mắt, mí mắt nheo nhắm mở, nếu không có phong giới làm sao mình nhai nuốt, ăn uống, đi đứng được,… đều nhờ có phong giới nó mới chuyển động được. Thật vậy, tất cả động đều là nội phong giới. Quán chiếu đến khi thấu rõ sự thật không có cái tôi, không có cái gì là của tôi, đó mới là trí quán của Bậc Toàn Giác, Bậc Chánh Đẳng Giác truyền trao cho mình, lúc nào mình cũng nhìn thấy nội phong giới.
“Gió thổi lên, gió thổi xuống, gió trong bụng dưới”
Gió thổi lên lúc đó mình lấy hơi hoặc mình ợ hoặc mình ngáp; còn gió thổi xuống trong luật mình gọi là hạ phong, xuống gió hay gió dưới nội phong giới, mình nhìn thấy rõ được tất cả pháp trong tự thân tự tâm mình, phải thấy rõ hết không được không rõ, được như vậy mới gọi là chánh giác. Hành giả tu cho tới chỗ toàn giác, có sự giác ngộ toàn thiện, toàn thể về tự thân tự tâm của chính mình.
“Gió thổi ngang các chi tiết tay chân”. Nhiều khi tay chân ê ẩm có khi là gió bên trong hoặc bên ngoài làm cho mình mìệt mỏi, đờ người; trúng gió là ngoại phong giới. Gần đây, bên Ấn Độ có bão cát gây ra cái chết mấy chục người đó là ngoại phong giới, cát là ngoại địa giới. Cho nên, bốn thứ đại kết hợp làm cho khổ, chính nó làm nhà cho mình ở nhưng cũng chính nó phá cái nhà giải thoát, xây cái nhà lửa chấp chứa phiền não trong đó.
“Chư Hiền, một thời xẩy ra khi ngoại phong giới dao động, gió thổi bay làng, thổi bay thị trấn, thổi bay thành phố, thổi bay xứ, thổi bay quốc độ. Chư Hiền, một thời xẩy ra khi trong tháng cuối mùa hạ, loài người tìm cầu gió nhờ lá cây ta-la, nhờ cây quạt, và người ta không mong tìm được cỏ tại chỗ có rạch nước chảy.”
Ý đây nói là gió dường như không còn, đầu tiên là phong tai nổi lên vì trong kinh có nói đại tam tai, kiếp hoại đó là phong tai nổi lên, thủy tai nổi lên, hỏa tai nổi lên, lúc nổi lên là nó cuốn hết nhà cửa, làng mạc, thị trấn, xứ sở, đất nước cuốn hết và có lúc không có gió, người ta phải tìm mọi cách để có gió; như mình thiếu gió phải lấy quạt tạo ra gió cho mát, phong giới mạnh mình cũng chết mà không có mình cũng chết, mình lệ thuộc về tứ đại, gió quá cũng chết, không gió sống cũng không nổi, nó làm tiêu tan, bay hết.
“Cần phải như thật quán sát địa giới, thủy giới, quả giới, phong giới với chánh trí huệ như sau, cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi, sau khi như thật quán sát địa giới với chánh trí huệ như vậy vị ấy sanh yểm ly đối với địa giới.”
(Yểm ly là muốn chán nản, muốn rời bỏ nó, thủy giới, hỏa giới, phong giới với tâm từ bỏ, không còn yêu thích, chẳng còn tham luyến, không còn bám chặt nắm chặt nữa, thấy rõ bản chất của nó không phải tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi.)
“Chư Hiền, tánh vô thường của ngoại phong giới xưa ấy có thể nêu rõ; tánh hủy hoại có thể nêu rõ; tánh đoạn diệt có thể nêu rõ; tánh biến dịch có thể nêu rõ. Như vậy còn nói gì đến thân thể yểu thọ do khát ái chấp thủ này? Ở đây không có gì để có thể nói là tôi, là của tôi, hay tôi là.”
Sau khi bằng trí tuệ chân chánh dùng để quán xét, thấy rõ rằng đất nước gió lửa không phải là tôi, không phải là của tôi, tứ đại này không phải vô ngã, của tôi. Hành giả quán chiếu như vậy thường xuyên, thực hành cho đến khi vừa khởi ý niệm là tất cả hình ảnh đều hiện rõ để dễ sanh nhàm chán, xa lìa, vì ta đã thấu rõ bản chất của chúng. Vì chúng luôn vô thường, tánh biến đổi của ngoại địa giới, đất bên ngoài, nước bên ngoài, lửa bên ngoài, gió bên ngoài, tánh hủy hoại của nó, tánh đoạn diệt của nó, tánh biến dịch của nó, là biến đổi và hủy hoại, nó đi đến chỗ hoại diệt, đoạn tận, chấm dứt.
Cả trái đất, khắp vũ trụ này còn sụp đổ, cháy thành tro bụi thì còn nói gì đến thân thể yểu thọ do khát ái chấp thủ này; khối vô minh si mê cho nên thân thể yểu thọ do khát ái chấp thủ mà sanh ra, yểu thọ là sống khoảng trăm tuổi là hết mức, tám mươi tuổi hay bảy mươi tuổi, bốn, ba, hai chục tuổi… Cho nên, thân thể yểu thọ vô thường là do khát ái chấp thủ.
Thật vậy, tứ đại đất - nước- gió - lửa tạo thành sắc uẩn. Chúng ta cần luôn soi rọi lại nội tâm, suy xét cho thật sâu sắc từ những lời dạy của Thế Tôn và hành trì. Muốn vượt qua đau khổ, lên tới bờ giải thoát phải xa lìa, buông xả, đừng nắm níu, phải có cẩm nang đối trị ba con rắn độc luôn sẵn sàng thò đầu ra cắn mình, cắn người ta. Kết thúc bản kinh Dụ dấu chân voi, đức Phật đã dạy rằng:
“Bất cứ sắc gì được hiện khởi như vậy đều quy tụ trong sắc thủ uẩn; bất cứ cảm thọ gì được hiện khởi như vậy đều quy tụ trong thọ thủ uẩn; bất cứ tưởng gì được hiện khởi như vậy đều quy tụ trong tưởng thủ uẩn; bất cứ hành gì được hiện khởi như vậy đều quy tụ trong hành thủ uẩn; bất cứ thức gì được hiện khởi như vậy đều quy tụ trong thức thủ uẩn. Vị ấy tuệ tri như sau: "Như vậy, như người ta nói, có sự quy tụ, sự tập họp, sự hòa hợp của năm thủ uẩn này. Thế Tôn đã nói như sau: "Ai thấy được lý duyên khởi, người ấy thấy được pháp; ai thấy được pháp, người ấy thấy được lý duyên khởi". Những pháp này do duyên khởi lên chính là năm thủ uẩn. Sự tham dục, chấp trước, tham đắm, mê say trong năm thủ uẩn này tức là khổ tập; sự nhiếp phục tham dục, sự từ bỏ tham dục tức là sự khổ diệt".
4. Gội sạch vết nhơ
Tu tập là tự mỗi hành giả thường xuyên và liên tục làm sạch sẽ, tốt đẹp, trọn vẹn thanh tịnh cho thân, miệng, ý của mình; thân và tâm của mình thanh tịnh rồi sau đó dùng thân, miệng và ý thanh tịnh đó hướng đến người và vật khác. Chúng ta đem sự an vui, hạnh phúc, thiện lành, giải thoát, xả li phiền não, khổ đau, bất an đến khắp tất cả, đó mới là thông điệp của sự tu. Như vậy, vết nhơ trong lòng này luôn có và còn, đừng nghĩ rằng nó đang im im là không có gì, chưa hẳn. Do đó, thường soi lại nội tâm, làm sạch, gội rửa cho mới mẻ, tốt tươi không còn cáu bẩn, chẳng chút tì vết. Có như vậy mới chuyển từ phàm sang thánh, từ mê sang ngộ, cần kiên nhẫn và quyết tâm lớn.
Đức Phật nói là “không tu tập là vết nhơ của kinh điển, không siêng năng là vết nhơ của nhà cửa, biếng nhác là vết nhơ của thân thể, còn lơ đãng là vết nhơ của người bảo vệ.”
Kinh điển mà mình được quý thầy cho hoặc mình thỉnh về, sau đó kinh sách nằm im trên kệ, trên bàn mà không được chúng ta giở ra xem coi đọc tụng và làm theo lời Phật dạy. Như vậy, kinh điển bị nhuốm bụi, cho nên không tu tập kinh điển để sẽ nhơ, không siêng năng quét dọn lau chùi thì nhà cửa sẽ dơ, nhà ai cũng sạch, đôi khi có máy hút bụi nhưng đó mới chỉ là nhà ở ngoài, còn phải lau ngôi nhà tâm linh của mình. Xưa chư tổ từng nhắc chúng ta:
“Quét đất quét nhà quét đất tâm
Đất tâm không quét uổng công làm
Người đời nếu biết đem tâm quét
Phiền não còn đâu chốn nảy mầm.”
Quét đất, quét nhà đó là quét ở bên ngoài nhưng mình phải quay lại quét được đất trong tâm mình, quét nhà ở phía trong mới là điều quan trọng.
Đất tâm không quét, ngôi nhà tâm linh chẳng dọn sạch sẽ uổng công làm, tức là ngôi nhà tâm linh không quét chỉ lo quét ở bên ngoài, người ta nhìn thấy bóng ngời gạch cẩn đá nhưng bước và ngôi nhà mới hay là hai người đang gây lộn, thành viên trong gia đình bất hòa, đời sống bất an… như vậy, sự sạch sẽ đẹp đẽ kia chỉ mới ở bên ngoài, là lớp vỏ. Điều cần thiết yếu là bên trong, điều này mới bền chắc, lâu dài. Nếu thường xuyên quét rác trong nội tâm thì đâu còn những nóng giận, buồn phiền, hờn mát, ganh ghét v.v...
Cách hóa giải những lo âu, buồn, thương, giận, ghét, tranh đấu, phiền não trong cuộc sống hàng ngày là siêng quét chùi lau cho sạch thân và tâm này. Dùng cái chổi ý chí, chánh tri kiến quét cho sạch cơn nóng giận, lửa sân; những cái u mê trì trệ của vô minh; những nắm níu, mong cầu, muốn chiếm hữu của lòng tham, ích kỷ, đố kỵ,… một hơi thở vô A-Di một hơi thở ra Đà-Phật là không còn để tâm cho phiền giận hơn thua. Hoặc một hởi thở vô biết là đang ‘mượn’, một hơi thở ra biết rõ là đang ‘trả’, vậy thì còn gì đâu mà tranh đấu, muốn làm đau lòng nhau. Hoặc một hơi thở vô nhiếp tâm niệm danh hiệu đức Bổn Sư Thích-ca Mâu-ni Phật, rồi một hơi thở ra nhớ nghĩ tới một trong mười danh hiệu của bậc Đạo Sư. Biết danh hiệu tôn quý ấy để làm gì? Để nhớ nghĩ tới ân đức, hạnh nguyện của Phật đã thành tựu mà học theo, từ bố thí, nhẫn nhục, trì giới, tinh tấn,… đều dấn than làm hết khả năng, bằng tất cả sự kiên trì đến cõi Phật. Có như vậy mới thấy không hổ thẹn với đàn na tín thí, với mẹ cha, thầy tổ, đất nước, chúng sanh… trên bước đường tu hành.
Biếng nhác là vết nhơ của thân thể.
Ai làm biếng, không tắm gội cho sạch sẽ cái xác than, khi có người khác tiếp xúc, vừa tới gần đã nghe mùi khó chịu, cảm giác không thể thiện cảm với nhau ngay trong cái nhìn hoặc cái gặp gỡ đầu tiên rồi. Nếu người đó ở dơ, không gội sạch thân, có khi đang nói chuyện lại thấy tay người đó hoạt động liên tục cho việc gãi ngứa, ngồi cũng chẳng yên, vậy thì không thể gần nhau bàn việc sâu hơn được, chưa thể tới gần được thì mãi mãi là xa cách. Con đường học đạo cũng vậy, phải rửa sạch, lau chùi kỹ những nhơ uế trong tâm tưởng mình. Phải loại trừ bất thiện pháp, những gì thuộc về trì trệ, thoái đọa, xấu, ác, phạm giới thì cần xa lìa, diệt tận, mạnh mẽ và dứt khoát đoạn tận nó. Nhục thân sạch sẽ, tâm hướng thượng thiện lành thì dễ gần đạo, tinh tấn không ngừng rồi đi đúng con đường Phật dạy thì hang thánh quả sẽ là con đường đi tới, mau hay chậm tùy thuộc vào sự tinh tấn hoặc giãi đãi của chính bạn. Tu trong mọi oai nghi, trong làm việc, trong thân, miệng và ý. Tu cụ thể thiết thực, ngay đây và bây giờ chứ chẳng phải ở đâu xa hoặc một điều gì đó rất mơ hồ, không phải như vậy!
Lơ đãng là vết nhơ của người bảo vệ.
Người gác cổng hay bảo vệ một công ty nào đó lẽ ra hoàn thành nhiệm vụ là luôn mở mắt canh chừng người xấu đột nhập, quan sát cẩn thận, thân, miệng, ý hoạt động một cách rõ rệt hướng về mục đích đối tượng đang làm việc. Nhưng ở đây, người gác cổng đang ngủ gật thì người lạ vào có khi mất đồ mang họa. Như vậy, người bảo vệ, gác cổng phải có bổn phận, trách nhiệm, luôn luôn tỉnh giác, đề phòng cẩn mật mới bảo vệ được công ty, mới tạo uy tín của bản than với cấp trên đã giao phó.
Vậy, hành giả bảo vệ và gác cổng cái gì? Đó là bảo vệ sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý) đừng để cho nó tiếp duyên với sáu trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc và giác) mà sinh khởi phân biệt, ham muốn, dính mắc. Phải phòng hộ và điều phục bản thân, không để sự đắm nhiễm lấn lướt, chuyên chú vào giới - định - tuệ, một lòng niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng không buông lung chẳng phóng dật thì cửa bất tử mới rộng mở đón chào hành giả tinh tấn, xứng là con Phật.
Khéo bảo vệ chính mình là sao? Điều này rất quan trọng, mình biết chánh niệm tỉnh giác, canh chừng mỗi cử chỉ, hành động, lời nói, việc làm của bản thân. Không gây hại đến người khác, chẳng làm người khác đau buồn, khổ não vì mình. Nếu người nào sống được như vậy, hạnh phúc ngay đây và bây giờ. Bởi, đồng nghiệp thương quý, bạn bè quý trọng, người thân thương yêu hơn, cộng đồng, xã hội, đất nước, thế giới biết tới với lòng tôn kính,… nếu chúng ta làm với tấm lòng bao la, làm với hạnh nguyện vì người, vì đời, vì sự giải thoát ràng buộc trong luân hồi sanh tử này, đó là cái tâm vô ngã của sự hiểu thấu vô thường.
Đức Phật nhắc đi nhắc lại rất nhiều lần trong sự khéo phòng hộ, khéo bảo vệ, khi mình muốn làm một điều gì phải có mặt trí huệ kiểm soát; điều đó đúng hay sai, tốt hay xấu có phù hợp với đạo hay không… Khi thường xuyên thực hiện qua trí huệ kiểm soát sẽ có kết quả rất tốt, nên Thế Tôn đã có những pháp gọi là bất cộng, tức là những pháp rất đặc biệt, không có chung với những người khác. Những pháp đó là “tất cả ý niệm là do trí huệ dẫn đường, tất cả lời nói là do trí huệ dẫn đường, tất cả hành động là do trí huệ dẫn đường”.
Khi chúng ta khéo biết kiểm soát, bảo vệ mình và người, như vậy đảm bảo mọi việc làm của mình đều có kết quả rất tốt. Đôi khi chúng ta thấy việc đó rất đơn giản, dễ dàng mà xem thường không trú tâm như thật biết với bản chất của chúng thì vẫn có thể thất bại như thường. Hành giả trú tâm thận trọng không những việc nhỏ, mà việc lớn cũng thành công; từ cư sĩ cho tới người xuất gia, từ người nhỏ cho đến người lớn, từ người mới vào đạo cho đến người đã hành trì đạo lâu năm luôn e dè, quán chiếu sâu sắc thân và tâm trong mọi việc làm, tạo tác đều vì lợi ích cho người, vì hướng thượng, thiện lành, giải thoát thì điều đó mới đem lại hiệu quả thiết rhực, là nụ cười thật sự trên bước đường gột rửa cấu uế.
Bồ-tát Đại Thế Chí dạy chúng ta niệm Phật “niệm niệm tiếp nối, niệm niệm thanh tịnh được vào chánh định”, mỗi niệm thanh tịnh là thâu nhiếp, bảo vệ sáu căn đừng để cho con mắt thấy hình sắc mà phóng chạy, bên ngoài đang có sự nguy hiểm rình rập hoặc đang đi không lo nhìn ngay bước chân mà cứ nhìn đâu đâu, bị vấp té một cái trật chân, bong gân có khi nguy hiểm nhiều hơn. Phải chuyên chú quán chiếu trong từng cái nhỏ nhiệm mới vượt thoát, mới dần xa lìa thói quen tập nhiễm của năm uẩn mê lầm từ bao đời kiếp nay trôi lăn trong dòng sanh tử luân hồi triền miên đau khổ.
“Tùy duyên tiêu nghiệp cũ
Hồn nhiên mặc áo xiêm.”
Bậc Thiện Thệ nhắc thêm chúng ta những vết nhơ, mình cần để ý, tức là “tà hạnh là vết nhơ của người đàn bà, keo kiệt là vết nhơ của người cúng dường, đối với cõi này hay cõi sau là vết nhơ chính là việc ác”.
Tà hạnh là không thủy chung, là có lối tẽ riêng, ngoại tình là vết nhơ của người đàn bà / đàn ông.
“Keo kiệt bỏn sẻn tham lam, không biết bố thí, cúng dường, không biết giúp đỡ những người nghèo, khó khăn, đó là vết nhơ của người tu tập tâm rộng lớn, đối với cõi này hay cõi của đời sau, vết nhơ chính là những việc ác.”
Ở đây đức Phật ví dụ cho chúng ta thấy giống như từ thanh sắt sanh ra sét, sét lại hủy hoại lại thanh sắt, cũng vậy ác nghiệp do mình gây ra rồi trở lại dẫn mình đi vào đường ác. Chúng ta thấy tất cả đều xuất phát từ ý niệm sanh khởi, điều xấu ác dẫn mình đi vào trong cõi dữ, còn tâm ý ai hướng theo chiều lành thiện thì sẽ chiêu cảm vào cõi lành, an vui. Điều này cũng như khách li hương lâu ngày từ xa trở về quê an ổn, được bà con đón mừng, người làm phước cũng vậy, từ đời này sang đời sau phước lành của họ được dồi dào nối tiếp sinh sôi.
Không phải tự dưng mà hành giả vừa phát tâm tu hành liền có nhiều thuận duyên, nhiều huynh đệ đạo hữu quý mến, tương trợ, chia sẻ, sách tấn trên bước đường chuyển hóa. Cũng chẳng phải khi không mà mọi người tự dưng xa lánh mình, chẳng muốn giúp mình, vô cảm với mình, đối xử tệ bạc với mình, thậm chí còn đánh đập, giày vò từ tinh thần đến vật chất.
Như vậy, chúng ta làm phước, tu huệ bằng tất cả tấm lòng vì đạo pháp phụng sự nhân sinh tiến bộ. Tu hành nhiệt tâm, làm bằng tâm vô ngã thì mới thấy sự rộng lớn thiết thực của việc làm đó, điều đó sẽ tương ưng với tình cảm, thái độ của mọi người đối lại với mình. Mình vì tất cả thì đi tới đâu cũng được tất cả đón tiếp như người thân từ xa trở về nhà, dù đó là kẻ lạ, nơi xa…
Đức Phật nói: “Vô minh là nhơ hơn hết, nên mọi người hãy trừ hết vô minh để trở thành thanh tịnh trong sạch.”
Cuối cùng, đức Phật đưa ra cho chúng ta thấy được trong tất cả vết nhơ, vô minh là hơn hết, là không có sang, chẳng biết đường đi, loay hoay không ra khỏi nỗi khổ trong dòng sanh diệt.
Chẳng hạn, muốn thấy đường đi trong đêm tối thì phải có trăng sao, có đèn đường, có đèn pin, hoặc tệ nhất cũng có chiếc bật lửa để soi rõ được một chút đường mình đang đi có bằng phẳng hay trơn trượt, gai góc. Cũng vậy, muốn thoát khỏi vô minh si ám, xa lìa sanh tử buộc phải tận lực tu hành chân chánh, quyết chí tiến tu một mạch dựa trên nền tảng bốn sự thật, tám con đường chân chánh, thực hiện theo vòng luân chuyển xe pháp vô thường, vô ngã, Niết-bàn. Như vậy, chánh tri kiến là điều đầu tiên quyết định cho con đường ra khỏi vô minh, vùng tối của cuộc đời. Có chánh tri kiến và kiên trì thực hành sẽ có trí huệ. Từ trí huệ có là do siêng năng trì giới, an trụ trong định.
Đức Phật nói thân mình nhơ nhớp, còn chúng ta cho thân này đẹp đẽ lắm. Do đó, mình cứ tô bồi cho nó nào phấn son, nào tẩy trắng, nào làm đẹp bằng lụa là vải vóc mới thơm, lo cho cái ăn thức uống và không chấp nhận sự thật là đồ dỏm của thân giả tạm. Huống nữa là nói tới việc quán bất tịnh, chính vì chưa từng hoặc không thể chịu chấp nhận sự thật, nhận diện nó một cách sòng phẳng, đón nhận nó như đón nhận một điều bình thường nên mình khổ, lo, sầu và không thoát vô minh, chưa rời khỏi lưỡi hái thần chết.
Chúng ta vào Viện Dưỡng lão sẽ thấy những cụ già nằm bệnh, tuổi của suy hao, của qua thời thành công rực rỡ, qua thời mạnh khỏe, qua thời săn đón chào mời… Giờ đây là nỗi đau thân xác chuyển mùa, nỗi đau bệnh tật, nỗi cô đơn, không làm chủ được các chi phần trong cơ thể, cái chết đang từng phút giây tiến sâu vào lục phủ ngũ tạng. Tuổi trẻ không tu già hối tiếc là vậy! Tuổi trẻ hoang đàng già lâm nạn là khó tránh! Tuổi trẻ dung sức lực mua công danh sự nghiệp, mua những phiền não, nhiễu hại thân tâm về già không có thứ gì mua hoặc chuộc lại được sức khỏe ngon lành cả. Cuối cùng loay hoay, dở khóc dở cười như tấn trò đời, như một diễn viên tồi trong vở diễn, ta chưa ra vùng sáng, chưa thể tự thân thắp đuốc lên mà đi, vì nương cậy, mong chờ, ỷ lại… rồi lạc pháp trong sự tu. Đau khổ chồng chất, đó là một sự thật cần nhìn sâu cùng tột.
Một hơi thở có thể phá vỡ vô minh, cũng một hơi thở trút một mạng người, nó mong manh, chẳng có gì là bền chắc. Nếu chưa tỉnh táo còn lầm nhận là thường hằng, kệ đi, không sao đâu thì tới lúc có sao là đã chẳng còn kịp làm gì khác ngoài việc sa hầm sụp hố theo nghiệp lành dữ một đời tạo tác, thường là lành ít mà dữ thì nhiều, rất nhiều. Thế Tôn nhắc chúng ta rất tha thiết: “Cứ mỗi buổi sáng mai thức dậy tự biết phản tỉnh hành động không tỳ vết, trí tuệ hiền minh, giới hạnh trong sạch, đó là người đáng được bậc trí tán dương.”
Chúng ta muốn rửa sạch vết dơ vô minh, muốn gột sạch cấu bẩn của mê lầm, điên đảo, thị phi thì mỗi buổi sáng thức dậy mình phải biết phản tỉnh hoặc buổi chiều tối soi xét lại nội tâm. Phản tỉnh là soi xét lại tâm niệm của mình, soi xét lại trong một ngày qua, ta đã làm những gì, ngủ dậy đi làm, đi làm tới tối về nhiều khi không biết tu, chỉ lo mở ti vi xem phim nghe thời sự gì đó hoặc chương trình giải trí cười khóc một chút với đời rồi lại ngủ, quy trình lặp đi lặp lại trong mệt mỏi, không ra khỏi. Nó đều đặn mấy chục năm cho tới già rồi chết đi, mình cũng chưa thật nhận diện rõ ràng sâu sắc mình sống làm gì, sống ý nghĩa ra sao, tại sao ở đây…
Mỗi giây phút sống động là sanh ra bao nhiêu thứ nghiệp, chỉ khi nào nhắm mắt xuôi tay mới dừng nghiệp hiện tại. Lúc này mới thấy sự phân tách, phán xử của nghiệp lành dữ hiện diện, rồi ta tái sanh trong những huân nghiệp đó. Người kịp thời phản tỉnh, xét lại từ giới hạnh và trí huệ sẽ biết ngăn ngừa tội lỗi. Đầu tiên, năm giới đã thọ, cố gắng giữ gìn, tập ăn chay, lan tỏa tình thương đến với người, vật, cảnh; tiếp đến mình giữ giới không những không trộm cắp mà còn biết bố thí, làm tất cả việc lành; ngăn chặn tham dục phát khởi bằng cách mạnh mẽ không tà dâm, bằng cách đem pháp thanh tịnh để chia sẻ đến cho mọi người; không những không nói dối mà nói lời chân thật, nói lời chánh pháp, nói những lời làm cho mọi người đi tới chỗ an lạc ở trong đạo lý đó là giữ giới.
Như vậy, hành giả dù cư sĩ hay xuất gia đều có nhiệm vụ chuyển bánh xe pháp, làm cho chánh pháp thường còn, đem chánh đạo đến cho mọi người, không những người cư sĩ không uống bia, rượu, các loại chất kích thích khác mà thường uống nước pháp tức là một ngày nghe ít nhất là một bài pháp, lâu dần mình thấm nhuần nước pháp đó, rồi mình mới đem chia sẻ mọi người. Còn uống bia, rượu là vô minh, điên đảo, chỉ có uống nước pháp mới sanh ra trí huệ giác ngộ. Ngay khi mình tỉnh táo, không có một giọt bia, rượu nào đôi khi mình còn nhìn lầm lẫn đối với sự thật, đi ngược lại với lời dạy của đức Phật. Trên lý thuyết hiểu mọi sự vật, hiện tượng đều giả dối, tạm bợ nhưng đụng chuyện mới thấy là đều thật. Đang khi tỉnh táo không một giọt rượu, bia vẫn không thấy được sự thật, nếu uống bia rượu vô thì thấy mê lầm chồng thêm mê lầm, tăm tối chất thêm tăm tối, vô minh chồng chất thêm vô minh, đi tới đại vô minh.
Phật thương xót chúng sanh, sợ hàng đệ tử xuất gia lẫn tại gia đi sai, không tới Niết-bàn nên Ngài mới chế ra luật. Đó là cách ngăn ngừa tội lỗi, chỉ cho điểm dừng, ví như chạy xe gặp đèn đỏ lập tức dừng ngay, vượt đèn là bị phạt vì vi phạm lutậ giao thông hoặc có khi vượt đèn đỏ mà gây ra tai nạn cho xe, người khác. Luật thiết lập để cho con người ta từ chưa tốt thành tốt, đã tốt thành tốt hơn, từ phàm sang thánh cũng nhờ tinh chuyên giữ gìn giới luật. Từ Tam quy Ngũ giới tới Thập thiện rồi Bồ-tát giới cho tới luôn giữ thân tâm trong sạch là những nấc thang mà người học Đạo cần noi theo, hành trì.
Đức Phật nhắc chúng ta: “Từ giây phút này cho đến giây phút khác, người trí lo gột trừ dần cấu uế nơi mình, giống như người thợ vàng cần mẫn để gột trừ cặn bã khỏi chất vàng ròng.”
Không phải đợi tới thời khóa công phu: Tụng kinh, niệm Phật, trì chú, tọa thiền,… mà sự hành trì công phu tu tập là không dừng lặng, chẳng ngơi, nó nối tiếp và nghiền ngẫm, quán chiếu từng khoảnh khắc. Chúng ta dùng hơi thở để thanh lọc vết bẩn những cấu uế trong nội tâm.
“Gột rửa trừ dần, loại bỏ những cấu bẩn để mình lấy ra chất vàng ròng”, tâm mình rất quý báu, nên Tổ Bá Trượng nhắc chúng ta:
“Ánh linh viên chiếu vượt thoát căn trần
Thể lộ chân thường chẳng kẹt văn tự
Tâm tánh không nhiễm vốn tự viên thành
Chỉ lìa vọng duyên tức như như Phật.”
‘Ánh linh viên chiếu vượt thoát’, ánh linh là tâm sáng của mình rất linh thiêng, chính cái biết sáng suốt đang nghe pháp hiện giờ của quý vị vượt thoát căn trần, không bị hạn cuộc trong mắt tai mũi lưỡi của mình, không bị hạn cuộc ở cảnh vật bên ngoài. Chẳng hạn, chúng ta ngồi nghe pháp từ chùa ở cạnh phố thị nên tiếng ồn của xe cộ là lẽ đương nhiên, nhưng tai mình không thích, tâm mình phát bực, rồi tiếng động cơ của máy bay, tiếng rao bán bên ngoài, bao nhiêu âm thanh ấy nếu mình không cột chặt nhĩ căn, thâu nhiếp vô thường, như nhiên thì sẽ dấy phiền não liên tục, vì mọi sự việc tiếp nối và liên tục. đây lỗ tai.
Đừng bị bó hẹp, vướng kẹt suy nghĩ trên văn tự. Phải tìm sâu hiểu tận tường mới hiểu lời Phật dạy, chư tổ khuyên nhắc.
Tất cả kinh điển chỉ là ngón tay chỉ cho mình thấy mặt trăng, mặt trăng là tâm giác sáng suốt thanh tịnh của mình.
“Tâm tánh không nhiễm vốn tự viên thành
Chỉ lìa vọng duyên tức như như Phật.”
Chỉ cần giữ tâm đừng bị vết nhơ, chẳng vướng vào ô nhiễm thì tự ngay chỗ đó trí huệ sẵn có như Phật không khác. Khi Thái tử Tất-đạt-đa mới vừa thành Phật tại cội Bồ-đề đã từng thốt lên rằng: “Kỳ lạ thay! Kỳ lạ thay! Tất cả chúng sanh đều có đầy đủ trí huệ đức tướng Như Lai, nhưng bị vọng tưởng, bị vô minh, bị bao nhiêu phiền não che đậy không thấy; nếu như có thể vượt hết khỏi vọng tưởng, vô minh, chấp trước thì trí huệ tự nhiên hiển lộ, trí huệ vô sư hiển lộ, trí huệ thấu biết tất cả sự vật hiển lộ.”.
Thật vậy, chúng ta có của quý báu, đừng để cho các vết nhơ xâm nhập, hằng ngày lau chùi bằng phương pháp rất đơn giản trong từng hơi thở, mình sẽ thấy ngay nơi tâm tánh mình là báu vật thiêng liêng. Mười phương chư Phật ở ngay nơi tự tánh từng giây từng phút đều tỏa rạng, bao nhiêu công đức, bấy nhiêu trí huệ giác ngộ, những diệu dụng đều sẵn ở nơi tâm, chỉ cần quay trở về liền thấy được một kho báu vô cùng vô tận, vô lượng vô biên.
Như Lai nhắc nhở chúng ta phải nhớ lau chùi, đừng để nó dính bụi trần, chớ lơ đãng, phải khéo biết chùi sạch bên ngoài và lau bóng loáng bên trong. Khéo bảo vệ sáu căn, khéo biết làm lành thì sanh ra ở đâu, sống tại chỗ nào cũng được những người thân hữu rất là quý mến, tôn trọng. Cuối cùng, dẹp sạch vết nhơ quan trọng nhất, vết nhơ nặng nề nhất đó là vô minh mê lầm, muốn dẹp trừ vết nhơ vô minh mê lầm này thì phải từng giây từng phút, từng ngày từng giờ mà công phu tu tập, từ trong mỗi hơi thở.
Khi gội sạch vết nhơ, hành giả sẽ thấy thân tứ đại này vốn là sự nhóm hợp của năm uẩn tạo thành, không thật có, chẳng thường còn, rất mong manh, giả tạm, bất tịnh. Thường xuyên quán chiếu, suy xét rõ thật thì bờ giác không xa.
./.