Vua Trời hỏi Phật 1 - Kinh Đế Thích Sở Vấn - Trường Bộ
Kinh Nikāya Giảng Giải
Vua Trời Hỏi Phật 1
Kinh Đế Thích Sở Vấn-Trường Bộ
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Thiên Chủ hầu Phật PAGEREF _Toc114056029 \h 1
II. Thiên chủ kể chuyện PAGEREF _Toc114056030 \h 7
III. Nguồn gốc của hận thù PAGEREF _Toc114056031 \h 17
I. Thiên Chủ hầu Phật
Trước khi chúng ta học bài kinh rất đặc biệt là vua Trời hỏi Phật trong Trường Bộ Kinh, tập II, bài kinh số 21 thì chúng ta có câu hỏi: Tại sao lại có ưa thích và ghét bỏ?
“- Này Thiên chủ, ưa ghét do dục làm nhân duyên, do dục làm tập khởi, dục khiến chúng sanh khởi, dục khiến chúng hiện hữu. Dục có mặt thì ưa ghét có mặt; dục không có mặt thì ưa ghét không có mặt.”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Bài kinh này rất lý thú, rất thú vị tràn đầy kịch tính. Bài kinh này có thể dựng thành phim được, bài kinh có tên Đế-thích sở vấn, tiếng việt là vua Trời hỏi Phật. Đây là vua của 33 tầng trời xuống đảnh lễ và thưa hỏi pháp với Đức Phật.
“Một thời, Thế Tôn trú tại Magadha (Ma-kiệt-đà) phía Ðông thành Vương Xá, tại làng Bà La Môn tên Ambasanda, (Am-bà-la) trên ngọn núi Vediya (Tỳ-đà Sơn) phía Bắc ngôi làng, trong hang Indasàla (Nhơn-đà-sa-la). Lúc bấy giờ, Thiên chủ Sakka (Ðế-thích) náo nức muốn chiêm ngưỡng Thế Tôn.
Rồi Thiên chủ Sakka suy nghĩ: "Nay Thế Tôn ở tại chỗ nào, vị A La Hán, Chánh Ðẳng Giác?" Thiên chủ Sakka thấy Thế Tôn trú tại Magadha, phía Ðông thành Vương Xá tại làng Bà La Môn tên Ambasanda, trên ngọn núi Vediya, phía Bắc ngôi làng trong hang Indasala. Thấy vậy, Thiên chủ Sakka nói với chư Thiên ở Tam thập tam thiên:
- Này Quý vị, Thế Tôn trú ngụ tại Magadha, phía Ðông thành Vương Xá, tại làng Bà La Môn tên Ambasanda, trên ngọn núi Veidya, phía Bắc ngôi làng, trong hang núi Indasala. Này quí vị, chúng ta hãy đến chiêm ngưỡng Thế Tôn, bậc A La Hán, Chánh Ðẳng Giác.
- Xin vâng, mong an lành đến cho Ngài. - Chư Thiên ở Tam thập tam thiên trả lời Thiên chủ Sakka.
Rồi Thiên chủ Sakka, nói với Pancasikha (Ngũ Kế), con của Càn Thát Bà:
- Này Khanh Pancasikha, Thế Tôn nay trú tại Magadha, phía Ðông thành Vương Xá, tại làng Bà La Môn tên Ambasanda, trên ngọn núi Vediya phía Bắc ngôi làng, trong hang núi Indasàla. Này Khanh Pancasikha, chúng ta hãy đến chiêm ngưỡng Thế Tôn, bậc A La Hán, Chánh Ðẳng Giác.
- Xin vâng, mong an lành đến cho Ngài.
Pancasikha, con của Càn Thát Bà, vâng lời Thiên chủ Sakka, cầm cây đàn cầm bằng gỗ vàng Beluva và đi theo Thiên chủ Sakka.
Rồi Thiên chủ Sakka, với chư Thiên ở Tam thập tam thiên tháp tùng xung quanh, với Pancasikha, con của Càn Thát Bà đi trước, như người lực sĩ duỗi cánh tay co lại, hay co lại cánh tay duỗi ra, biến mất ở cõi Tam thập tam thiên, hiện ra ở Magadha, phía Ðông thành Vương Xá, tại làng Bà La Môn Ambasandà và đứng trên núi Vediya, phía Bắc ngôi làng.
Lúc bấy giờ núi Vediya chói hào quang rực rỡ, ngôi làng Bà La Môn Ambasandà cũng vậy, đều nhờ thần lực chư Thiên. Và dân chúng ở những làng xung quanh nói rằng:
- Núi Vediya hôm nay thật sự bị cháy, núi Veidya hôm nay thật sự có lửa đỏ rực, núi Vediya lại chói hào quang rực rỡ, làng Bà La Môn Ambasandà cũng vậy.
Và dân chúng lo âu, lông tóc dựng ngược.”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Khi con ở Linh Quy một mình trong thời kì đầu chỉ mới có thất khai sơn, trong một buổi chiều con đi thiền hành xung quanh núi đến khi trở về thì bất ngờ vì thấy đỏ rực cả một bầu trời, đó là hoàng hôn buổi chiều nhưng là một màu đỏ rực cả một khu vực, ánh Mặt Trời mà còn vậy thì huống hồ gì oai lực của vị vua Trời thống lĩnh chư Thiên của tầng trời 33 xuống yết kiến Đức Phật, người dân nhìn thấy tưởng rằng ngọn núi bị cháy.
“Rồi Thiên chủ Sakka nói với Pancasikha, con của Càn Thát Bà:
- Này Khanh Pancasikha, chư Như Lai thật khó lại gần đối với người như ta. Các Ngài nhập Thiền, hoan hỉ trong Thiền, và với mục đích ấy, an lặng tịnh cư.”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Vua trời nói với con của vị thần âm nhạc: Các Đức Như Lai khó lại gần đối với người như ta, các ngài thường nhập thiền, hoan hỉ trong thiền với mục đích an lặng, tịnh cư nên các ngài thường ở một mình, trú trong thiền định thanh tịnh, an lạc, hoan hỉ, các ngài luôn hỷ lạc trong thiền, trú trong thiền, nhập trong thiền nên những người như ta rất khó lại gần các ngài. Chúng ta có hoan hỉ trong thiền không ạ? Những giờ ngồi thiền có đặt hết tâm ý vào thiền không? Nếu mình không hoan hỉ, không nhập trong thiền, không an lặng tịnh cư thì mình không phải là con của Phật, không phải là con của các Đức Như lai. Mình cứ thích dao động, ưa thích công việc bận rộn mà không thích thiền định thì đó là sự lui sụp và rơi xuống của người tu. Bằng mọi cách phải hỷ lạc, tịnh chỉ, an tịnh, tịch tịnh trong thiền định.
“Vậy Khanh Pancasikha trước tiên làm cho Thế Tôn hoan hỉ, sau sự hoan hỉ do Khanh tác động, chúng ta mới đến yết kiến Thế Tôn, bậc A La Hán, Chánh Ðẳng Giác.
- Xin vâng, mong an lành đến với Ngài.
Pancasikha, con của Càn Thát Bà vâng lời Thiên chủ Sakka, cầm cây đàn cầm bằng gỗ vàng Beluva và đến tại hang núi Indasala. Khi đến xong, Pancasikha đứng lại một bên và suy nghĩ: "Ta đứng đây, không quá xa Thế Tôn, cũng không quá gần. Và tiếng sẽ được Ngài nghe".”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Ở đây cho chúng ta thấy những vị thượng thủ muốn gặp nhau không phải chuyện đơn giản. Vua Trời nói con của vị thần âm nhạc hãy làm cho Thế Tôn hoan hỉ chứ không được đến bất thình lình cho nên Pancasikha đứng không quá gần cũng không quá xa Thế Tôn và đàn cây đàn bằng gỗ vàng rồi đọc lên những bài thi kệ. Pancasikha không phải là người tu nhiều, ông cũng giống như Phật tử sơ cơ cho nên ông đọc những bài tình ái, trong đó có tán dương một chút về Đức Phật, giáo pháp và chư Tăng, nhưng điều đặc biệt là đây là con của vị thần âm nhạc nên ca rất hay, đàn rất giỏi. Khi âm vang du dương, trầm bổng, vang vọng thì Thế Tôn nghe được nên khen:
“Này Pancasikha, huyền âm của Ngươi khéo hòa điệu với giọng ca của Ngươi, và giọng ca của Ngươi khéo hòa điệu với huyền âm của Ngươi. Này Pancasikha, do vậy huyền âm của Ngươi không thêm mầu sắc cho giọng ca, hay giọng ca của Ngươi không thêm màu sắc cho huyền âm của Ngươi. Này Pancasikha, Ngươi học tại chỗ nào những bài kệ liên hệ đến Phật, Pháp, đến A La Hán, đến ái dục như vậy?”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Sau khi Đức Phật hỏi thì Pancasikha đã trả lời. Ở đây chúng ta sẽ lược bỏ những phần không đi vào trọng tâm của giáo pháp, chúng ta chỉ lấy phần cốt lõi khi Đức Phật giảng giải những câu hỏi cho vua Trời. Ngài Pancasikha giống như một vị xứ giả, sau khi Thế Tôn hoan hỉ thì vua Trời đã nói với Pancasikha:
“- Này Khanh Pancasikha, hãy thay mặt ta, đảnh lễ Thế Tôn và nói: "Bạch Thế Tôn, Thiên chủ Sakka cùng với đình thần và thuộc hạ đầu diện tiếp tục đảnh lễ Thế Tôn".”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Sau đó Thế Tôn đã nói với Thiên chủ rằng:
“- Này Pancasikha, mong hạnh phúc đến với Thiên chủ Sakka, với các đình thần và các thuộc hạ! Chư Thiên, loài Người, Asurà, Nàgà, Gandhabba, đều ao ước hạnh phúc. Các loại chúng sanh khác cũng vậy.
Như vậy, các Như Lai chào đón thượng chúng. Ðược chào đón như vậy, Thiên chủ Sakka bước vào hang Indasàla của Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và đứng một bên. Chư Thiên ở Tam thập tam thiên cũng bước vào hang Indasàla, đảnh lễ Thế Tôn và đứng một bên. Pancasikha, con của Càn Thát Bà cũng bước vào hang Indasàla, đảnh lễ Thế Tôn và đứng một bên.
Lúc bấy giờ, trong hang Indasàla, những con đường gồ ghề được làm bằng phẳng, những khoảng chật hẹp được làm cho rộng rãi, trong hang tối tăm có hào quang chiếu sáng, đó là nhờ thần lực của chư Thiên.”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Hang động chật hẹp, tối tăm, gồ ghề nhưng Thiên chủ - vị vua Trời và các vị trong tầng trời 33 xuống thì chỗ nào chật hẹp sẽ tự động rộng ra, chỗ nào tối tăm sẽ được chiếu sáng, đó là phước báo của chư Thiên. Ví dụ trước khi mình lên Linh Quy thì chỗ đó được gọi là đồi 45 còn hoang sơ, hiu quạnh nhưng khi các thầy, các sư cô, các Phật tử về tu thì không còn gọi là đồi 45 nữa mà gọi là Cổng Trời, nghĩa là những người có phước đức đi đến chỗ nào thì chỗ đó được tốt lành, được đẹp đẽ. Phước của chúng ta chưa bằng các vị vua Trời mà còn được như vậy thì huống gì những bậc đã tu hành đến mức thống lãnh tầng trời 33 thì phước đức cỡ nào, cho nên khi những vị này đến thì Thế Tôn nói với vị vua Trời:
“- Thật là hy hữu, Ðại đức Kosiya! Thật là kỳ diệu, Ðại đức Kosiya, tuy có nhiều trách nhiệm phải gánh vác, có nhiều công tác phải làm, mà vẫn đến đây được!”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Đức Thế Tôn gọi vua Trời là "Đại đức", cho nên hai chữ này có ý nghĩa lớn lao. Đại đức nghĩa là công đức lớn lao, Thế Tôn nói rằng thật là hy hữu, Thiên chủ có công đức lớn lao; thật là kì diệu, Thiên chủ có công đức lớn lao, dù có rất nhiều công việc phải gánh vác nhưng vẫn đến đây được. Một vị nguyên thủ quốc gia bận rộn cả ngày, có rất nhiều công việc phải giải quyết nên không dễ để đi thăm các vị tu hành, chính vì vậy khi Thiên chủ đến thì Thế Tôn đã ca ngợi.
“- Bạch Thế Tôn, đã từ lâu con muốn đến để yết kiến Thế Tôn, nhưng bị ngăn trở bởi các công việc này, công việc khác phải làm cho chư Thiên ở Tam thập tam thiên, và do vậy không thể đến yết kiến Thế Tôn được. Bạch Thế Tôn, một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi (Xá Vệ), tại cốc Salala. Bạch Thế Tôn, rồi con đến Sàvatthi để yết kiến Thế Tôn.”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Khi đọc những lời kinh này thọ; tưởng; hành của chúng ta có tưởng tượng ra được quang cảnh con của vị thần âm nhạc dẫn đường phía trước, theo sau là một vị vua Trời thống lĩnh quần thần thuộc hạ, ánh sáng của các vị thần chiếu sáng rực cả ngọn núi mà dân chúng nghĩ rằng ngọn núi đó bị cháy không? Một vị vua Trời lại xuống đảnh lễ một người ở trong hang động trong núi rừng xa vắng, đầu trần chân đất chỉ có tấm vải trên người.
Đây là Pháp Vương cùng với Thiên Vương hội ngộ. Ngài Thiên chủ kể lại thời gian trước muốn gặp Đức Thế Tôn nhưng gặp không được vì lúc đó Thế Tôn đang nhập định.
“ Lúc bấy giờ, Thế Tôn đang ngồi nhập định và Bhunjàti, vợ của Vessavana đang đứng hầu Thế Tôn, đảnh lễ chắp tay. Bạch Thế Tôn, rồi con nói với Bhunjàti:
"- Này Hiền tỷ, hãy thay mặt ta đảnh lễ Thế Tôn và thưa: "Bạch Thế Tôn, Thiên chủ Sakka với đình thần và thuộc hạ đầu diện tiếp tục đảnh lễ Thế Tôn".
Ðược nghe nói vậy, Bhunjàti nói với con:
"- Thiện hữu, nay không phải thời để yết kiến Thế Tôn. Thế Tôn đang an lặng tịnh cư.
"- Này Hiền tỷ, khi nào xuất định, hãy thay mặt ta đảnh lễ Thế Tôn và thưa: "Bạch Thế Tôn, Thiên chủ Sakka cùng đình thần và thuộc hạ đầu diện tiếp tục đảnh lễ Thế Tôn".”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
II. Thiên chủ kể chuyện
Trong kinh ghi là "đầu diện tiếp tục" nhưng thật chất phải là "đầu diện tiếp túc" mới đúng. Tức là đầu với mặt chạm vào chân của Đức Phật, khi đầu và mặt chạm vào chân Đức Phật thì gọi là "đầu diện tiếp túc quy mạng lễ". Ngài kể lại cho Thế Tôn nghe lần trước xuống gặp nhưng không được vì Thế Tôn đang nhập định, sau đó ngài đã hỏi lại Đức Phật vị thần đó có nhắn lại cho Thế Tôn biết không:
“Bạch Thế Tôn, không hiểu Bhunjãti có thay mặt con đảnh lễ Thế Tôn không? Thế Tôn có nhớ lời bà ấy nói không?
- Này Thiên chủ, bà ấy có đảnh lễ Ta. Ta có nhớ lời bà ấy nói. Chính tiếng bánh xe của Ngài đã khiến Ta xuất định.
Bạch Thế Tôn, có chư Thiên được sanh lên Tam thập tam thiên trước chúng con, chính chúng con tận mắt được nghe chư Thiên ấy nói như sau: "Khi Như Lai, bậc A La Hán, Chánh Ðẳng Giác xuất hiện ở đời, Thiên giới được hưng thịnh và Asurà giới bị suy vong".”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
A-tu-la (Asurà) có phước kém hơn chư Thiên, vẫn còn rất nhiều sân hận.
“Bạch Thế Tôn, chính con có thể thấy và xác chứng rằng khi nào Như Lai, bậc A La Hán, Chánh Ðẳng Giác xuất hiện ở đời, thì Thiên giới được hưng thịnh và Asurà giới bị suy vong. Bạch Thế Tôn ở đây, tại Kapilavatthu, có Thích nữ tên là Gopika, có lòng tin Phật, tin Pháp, tin Tăng, và gìn giữ đầy đủ giới luật. Thích nữ này, loại bỏ tâm niệm đàn bà, tu tập tâm niệm đàn ông, khi thân hoại mạng chung được sanh lên Thiên giới, thiện thú, nhập chúng với chư Thiên ở Tam thập tam thiên, sanh ra làm con của chúng con.”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Thích nữ là người phụ nữ của dòng họ "Thích" chứ không phải như bây giờ dùng từ "Thích nữ" là để chỉ một vị sư cô (Tỳ-kheo Ni) nào đó. Trong kinh dùng từ "Thích nữ" là ý nói đến người phụ nữ thuộc dòng họ Thích-ca, người này vẫn là cư sĩ, còn bây giờ nói Thích nữ là người xuất gia.
“Và ở đấy, nàng được gọi là Thiên tử Gopakà. Bạch Thế Tôn, lại có ba Tỷ Kheo khác sống phạm hạnh với Thế Tôn và sanh vào Càn Thát Bà giới hạ đẳng.”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Càn Thát Bà là vị thần âm nhạc, nhưng ba vị Tỳ-kheo tu với Đức Phật lại sinh vào giới hạ đẳng, thấp kém của Càn Thát Bà.
“Họ sống được bao vây thọ hưởng năm món dục tăng thịnh và thường hay đến hầu hạ săn sóc chúng con. Chúng con được họ đến hầu hạ và săn sóc chúng con như vậy, Thiên tử Gopakà mới trách la họ như sau: "Chư Thiện hữu, tai các Người ở đâu mà không nghe Pháp của Thế Tôn. Chính ta xưa là đàn bà, tin Phật, tin Pháp, tin Tăng, gìn giữ giới luật, loại bỏ tâm niệm đàn bà, tu tập tâm niệm đàn ông, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, Thiên giới, nhập chúng với chư Thiên ở Tam thập tam thiên, làm con của Thiên chủ Sakka và được gọi là Thiên tử Gopakà.”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Thiên tử Gopakà là người con gái Thích nữ đã bỏ tâm niệm đàn bà, tu tập tâm niệm đàn ông. Vị thiên tử Gopakà đã quở trách, la mắng ba vị Tỳ-kheo đó.
“Chư Thiện hữu, các Người tu hành phạm hạnh với Thế Tôn, được sanh vào Càn Thát Bà giới hạ đẳng. Thật là điều không mấy tốt đẹp, khi chúng con thấy những vị đồng môn lại phải sanh vào hạ đẳng Càn Thát Bà giới.”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Ba vị này đời trước là các vị Tỳ-kheo ở kế cạnh Đức Thế Tôn. Bây giờ họ quở trách là những người xuất gia được ở gần Đức Như Lai mà tai ở đâu lại không nghe pháp của Thế Tôn, tôi là đàn bà, là người phụ nữ nhưng với lòng tin Tam Bảo, giữ gìn giới luật, loại bỏ tâm nhỏ hẹp, tật đố, ganh tị của đàn bà để tu tập tâm rộng mở, rộng lớn, trượng phu của đàn ông, sau khi thân hoại mạng chung được sanh lên cõi Trời và nhập chúng với chư Thiên của 33 tầng trời tam thập tam thiên.
Còn các ông là người xuất gia lại sanh vào giới hạ đẳng của Càn Thát Bà rồi lại phải hầu hạ, phục vụ lại chúng tôi. Thật là điều không mấy tốt đẹp, khi chúng con thấy những vị đồng môn lại phải sanh vào hạ đẳng Càn Thát Bà giới. Đồng môn nghĩa là cùng là đệ tử của Đức Phật, là tứ chúng: Tỳ-kheo, Tỳ-kheo Ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ.
“Bạch Thế Tôn, trong chư Thiên bị Thiên tử Gopakà trách mắng như vậy, hai vị Thiên, ngay trong hiện tại, chứng được chánh niệm và sanh làm phụ tá cho Phạm thiên. Còn một vị Thiên sống thọ hưởng dục lạc.”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Sau khi ba người bị Thiên tử Gopakà trách mắng thì có hai người chứng được chánh niệm. Khi bị mắng thì thấy xấu hổ, tàm quý nên bắt đầu quay lại lo tu tập nên hai vị được sanh làm phụ tá cho Phạm Thiên. Trên cõi trời chỉ toàn là hóa sanh, vị kia được thăng đẳng cấp, còn lại một vị khi nghe quở trách, la mắng vẫn không thay đổi.
“Ta đệ tử pháp nhãn,
Tên gọi Gopakà,
Ta tin Phật, Pháp, Tăng.
Tâm niệm rất hoan hỉ.
Nhờ Thiện pháp chư Phật,
Sanh con Thần Sakka,
Hào quang, sanh Thiên giới,
Ðược tên Gopakà.
Ta thấy ba Tỷ Kheo,
Hạ sanh Càn Thát Bà!
Ðệ tử Gotama,
Trước sanh làm con Người,
Ta cúng dường ẩm thực,
Hầu hạ trú xứ ta.
Mắt Hiền giả ở đâu?
Không nắm giữ Pháp, Phật,
Chánh pháp tự giác hiểu,
Bậc Pháp nhãn khéo giảng.”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Đệ tử pháp nhãn chính là đệ tử của Đức Phật. Đức Phật còn có thêm một tên khác là bậc pháp nhãn, là con mắt của Chánh Pháp. Con thần Sakka là con của Đế-thích.
“Ta chỉ hầu Quý vị,
Ðược nghe Pháp bậc Thánh.
Ta là con Sakka,
Có thần lực hào quang,
Ðược sanh lên Thiên giới.
Các người hầu Thế Tôn,
Sống phạm hạnh tối thượng,
Nay phải sanh hạ thân,
Mất thượng sanh hạ phẩm.
Ta nhìn thật khó chịu,
Thấy đồng môn hạ sanh
Với thân Càn Thát Bà,
Phải hầu hạ chư Thiên.
Từ địa vị cư sĩ,
Ta thấy rõ khác biệt.
Trước bà, nay đàn ông.
Ta sanh Thiên, hưởng dục.
Bị Gopakà trách mắng,
Ưu phiền đồng phát nguyện,
Phải thăng tiến nỗ lực,
Không nô lệ cho ai!
Hai trong ba vị này,
Bắt đầu hành tinh tấn,
Nhờ Gotama dạy,
Chúng tẩy sạch tâm uế,
Thấy nguy hiểm dục vọng.
hư voi bỏ dây cương,
Các vị vượt Tam thiên,
Vứt bỏ dục kiết sử,
Quỷ triền phược khó vượt,
Cùng Sakka, Pajàpati.
Hội chúng Thiện Pháp đường
Vượt quá vị đang ngồi,
Anh hùng ly dục cấu.
Thấy chúng khỏi lo ngại,
Vasava giữa Thiên chúng,
Xem chúng sinh hạ phẩm,
Nay vượt qua Tam thiên.
Suy tư lời ưu phiền,
Gopaka với Vàsava:
Ðế Thích ở nhân giới,
Ðức Phật gọi Thích Ca
Ðã chinh phục dục vọng.
Chúng là con của Ngài,
Thất niệm khi mệnh chung,
hờ Ta lấy chánh niệm.
Một trong ba vị ấy,
Mang thân Càn Thát Bà.
Hai vị hướng Chánh giác,
Bỏ Thiên giới, nhập thiền.
Ðừng đệ tử nào nghi,
Vị ở đây chứng pháp.
Chúng ta đảnh lễ Phật.
Vị vượt khỏi bộc lưu,
Ðã diệt trừ nghi ngờ,
Bậc chiến thắng muôn loài.
Chính ở đây, chứng pháp,
Tấn bước đạt thù thắng,
Hai vị đạt thắng vị,
Hơn phụ tá Phạm thiên,
Ôi Thiện hữu chúng tôi.
Ðến đây để chứng pháp.
Nếu Thế Tôn cho phép,
Chúng con hỏi Thế Tôn.”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Một vị nữ cư sĩ với lòng tin Tam bảo, giữ gìn giới pháp, loại bỏ tâm đàn bà và tu tập tâm đàn ông. Ở đây con cũng muốn nhắn gửi trong gia đình và các Phật tử nữ, nhất là chị hai về cái tâm đàn bà, cái tâm phụ nữ. Ở đây không phải nói xấu nhưng do nghiệp của người phụ nữ là nhỏ nhặt, dễ ganh tị, tật đố, dễ so đo, hơn thua, đố kị, nhỏ mọn, có rất nhiều bài kinh Đức Phật nói về nghiệp chướng của người phụ nữ làm họ khó tu hơn người đàn ông, chính tâm này làm cho người nữ khổ rất nhiều, phiền não, buồn đau, buồn lo rất nhiều.
Cho nên đừng trách móc người khác mà hãy trách tâm của mình. Tại sao người phụ nữ họ Thích đó lại trở thành Thiên tử Gopakà? Vì ngài loại bỏ tâm niệm đàn bà, tu tập tâm niệm đàn ông, khi thân hoại mạng chung được sanh lên Thiên giới, làm con của vua Trời là còn hơn Thái tử gấp ngàn vạn lần. Có một số sư cô, Ni sinh là học trò của con tâm sự "Thầy ơi, ở bên chùa Ni khổ lắm, khó hơn ở bên chùa Tăng rất nhiều", vì thế cần xem lại tâm của mình, cần tu tập tâm nhiều hơn, đừng nghĩ rằng chồng con hoặc người này người kia làm mình khổ mà hãy xem lại tâm lượng của mình, sự suy nghĩ, cảm thọ của mình.
Nó nhỏ hẹp, nhỏ nhặt, nhỏ nhoi trong từng chút một, khi nói gì thì chỉ nói chuyện đó thôi đừng lôi những chuyện xa xưa ra, chất chứa phiền não trong quá khứ để làm mình khổ rồi người khác cũng khổ, như vậy là tự mình làm khổ mình khổ người, hại mình hại người, làm buồn mình buồn người, làm cho não mình não người, mình không biết tu gì hết. Cho nên trong sự tu của chúng ta, nhất là trong đạo tràng Nikāya phải tu tập tâm hiền, thực tập tâm hiền, trong các thời thiền bắt buộc phải thực tập tâm hiền, thực tập tâm xả, kể cả bên nam cũng phải thực tập tâm rộng mở vô lượng.
Còn tâm nhỏ nhặt, nhỏ mọn mà ở chung với vài người còn ở không nổi thì làm sao mình đến những chỗ khác, chỉ có mấy chị em mà ở với nhau không được thì làm sao làm những việc khác? Cho nên phải diệt những tâm nhỏ hẹp đó.
Sau khi những vị Tỳ-kheo này sanh vào nơi hạ đẳng thì bị vị Thiên tử này quở trách, vì ngày xưa vị này cúng dường cho những vị Tỳ-kheo này mà bây giờ vị này lại trở thành thượng đẳng, là Thiên tử con vua Trời còn những vị Tỳ-kheo phải hầu hạ lại vị này. Ngày xưa người ta quỳ lạy đảnh lễ, cúng dường mình mà bây giờ mình quay lại hầu hạ người ta nhưng cái này vẫn còn đỡ vì được sanh vào Thiên giới, còn sanh vào thế gian có nghiệp nặng còn tệ hơn rất nhiều vì phải làm trâu bò, làm người ở hoặc phải sanh vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.
Chúng ta cần nghe kĩ lại câu "Chư Thiện hữu, tai các Người ở đâu mà không nghe Pháp của Thế Tôn", " Mắt Hiền giả ở đâu? Không nắm giữ Pháp, Phật". Tại sao ông ở gần, kế cạnh Thế Tôn bậc Chánh Đẳng Giác, được tu tập Thánh Pháp tối thượng mà tại sao lại không thành tựu pháp? Chính ta ngày xưa là đàn bà, tin Phật, tin Pháp, tin Tăng, gìn giữ giới luật, loại bỏ tâm niệm đàn bà, tu tập tâm niệm đàn ông, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, Thiên giới, nhập chúng với chư Thiên ở Tam thập tam thiên, làm con của Thiên chủ Sakka, các Người tu hành phạm hạnh với Thế Tôn, được sanh vào Càn Thát Bà giới hạ đẳng. Thật là điều không mấy tốt đẹp, khi chúng con thấy những vị đồng môn lại phải sanh vào hạ đẳng Càn Thát Bà giới. (Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Điều đặc biệt là ba người bị quở trách nhưng có hai vị thấy xấu hổ, nhục nhã, tàm quý rồi cố gắng nỗ lực, tinh tấn tu hành nên chứng được chánh niệm, vị này sẽ hướng đến Chánh Giác, sanh làm phụ tá cho Phạm Thiên, vượt qua những cấp cao hơn. Vị còn lại không hề thay đổi, bị la mắng nhưng vẫn sống thưởng thọ dục lạc. Đây là sự kiện để chúng ta quán chiếu, bài kinh này tràn đầy kịch tính như một bộ phim.
III. Nguồn gốc của hận thù
Bây giờ chính thức đi vào cốt lõi của bài kinh.
“Rồi Thế Tôn suy nghĩ: "Ðã lâu, Sakka này sống đời trong sạch. Câu hỏi gì Sakka hỏi Ta, đều hỏi có lợi ích, không phải không lợi ích. Câu hỏi gì hỏi Ta, Ta sẽ trả lời; và Sakka sẽ hiểu một cách mau chóng".”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Thế Tôn suy nghĩ đã từ lâu rồi Đế-thích sống đời sống trong sạch, không phải dễ để lên làm vua 33 tầng trời, các vị này giới đức rất trong sạch, bốn tâm vô lượng ly dục cho nên những câu hỏi của Đế-thích sẽ có lợi ích lớn và khi Thế Tôn trả lời thì Đế-thích sẽ hiểu mau chóng. Sau đó Thế Tôn nói bài kệ:
“Vàsava hãy hỏi Ta,
Những gì tâm Ngươi muốn!
Mỗi câu hỏi của Ngươi,
Ta làm Ngươi thỏa mãn.”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Đức Phật khuyến khích Đế-thích hỏi cho nên bài kinh này có tựa đề "Vua Trời hỏi Phật", nếu dịch chữ Hán là "Những câu hỏi của Vua Trời", sở vấn là những câu hỏi và Đế-thích là vua Trời.
“Sau khi được phép, Thiên chủ Sakka hỏi Thế Tôn câu hỏi đầu tiên:
- Bạch Thế Tôn, do kiết sử gì, các loài Thiên, Nhân, Asurà, Nàgà, Càn Thát Bà, và tất cả những loài khác, dân chúng ao ước: "Không hận thù, không đả thương, không thù nghịch, không ác ý, chúng ta sống với nhau không hận thù". Thế mà với hận thù, với đả thương, với thù nghịch, với ác ý, họ sống với nhau trong hận thù?
Ðó là hình thức câu hỏi thứ nhất, Thiên chủ Sakka hỏi Thế Tôn.”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Ngài nói tất cả mọi người đều ước ao sống không hận thù, không làm tổn thương, ác ý, thù nghịch nhau nhưng rồi vẫn hận thù, ác ý, đối nghịch nhau. Tại sao con người không sống hòa hợp, hòa bình với nhau?
“Và Thế Tôn trả lời câu hỏi ấy như sau:
- Do tật đố và xan tham, các loài Thiên, Nhân Asurà, Nàgà, Càn Thát Bà và tất cả những loài khác, dân chúng ao ước: "Không hận thù, không đả thương, không thù nghịch, không ác ý, chúng ta sống với nhau không hận thù". Thế mà với hận thù, với đả thương, với thù nghịch, với ác ý, họ sống với nhau trong hận thù.”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Không phải chỉ có loài người mà ngay cả chư Thiên, chư Thần, những loài súc sanh, ngạ quỷ và rồng… loài nào cũng ao ước sống không thù nghịch nhưng vẫn sống hận thù là do tật đố và xan tham. Tật đố là ganh tị, đố kị, hơn thua, ganh ghét. Xan tham là tham lam, bủn xỉn. Trong gia đình nhiều khi hai vợ chồng làm khổ nhau suốt đời, trong nhà có người làm kinh doanh nên phải ra ngoài thương lượng, nói chuyện với đối tác nhưng người kia lại có tánh hay ghen, nhìn đâu cũng nghi ngờ, thấy nói chuyện rồi cười với nhau là nghi hoặc rồi nói bóng nói gió, nói xa nói gần rồi cãi nhau, không phải một lần mà suốt đời như vậy, đó là tật đố, ghen tuông.
Người thân của mình nói chuyện với người mình ghét là mình khó chịu, bực tức rồi mình kiếm chuyện… như vậy là gia đình lục đục, bất an liên tục. Buôn bán với nhau mà hàng bên kia bán quá đắt còn mình bị ế thì mình ra sao? Có ganh ghét không? Chính chỗ nào làm cho không hài hòa, người ta có phước nên người ta buôn bán được, mình ít phước bán không được thì mình kiếm việc khác làm thêm, còn đằng này đi đố kị, tật đố. Hoặc là người này được thương mến nhiều còn mình không ai nhìn đến thì mình có ganh ghét, khó chịu không? Cùng là huynh đệ mà ai đến cũng tìm người kia còn mình lại không có ai, thấy có mặt mình cũng như không có thì cảm thọ mình ra sao? Cho nên tu trong từng cái nhỏ nhặt, tật đố và xan tham làm con người không sống an lạc, hòa hình, an vui được, cứ nhìn nhau rồi so đo cao thấp, giàu nghèo, thân sơ. Khi Thế Tôn trả lời thì Thiên chủ vui vẻ:
“Sung sướng, Thiên chủ Sakka hoan hỉ tín thọ lời dạy Thế Tôn và nói:
- Như vậy là phải, bạch Thế Tôn! Như vậy là phải, bạch Thiện Thệ! Khi nghe Thế Tôn trả lời câu hỏi, nghi ngờ của con diệt tận, do dự của con tiêu tan.”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Trong bất cứ chỗ nào mà mình thấy có bất hòa, hận thù, đối nghịch, chống đối, ác ý với nhau thì mình biết nguyên nhân là do tật đố và xan tham.
“Thiên chủ Sakka, sau khi hoan hỉ, tín thọ câu trả lời Thế Tôn, liền hỏi câu hỏi tiếp:
- Bạch Thế Tôn, tật đố, xan tham, do nhân duyên gì, do tập khởi gì, cái gì khiến chúng sanh khởi, cái gì khiến chúng hiện hữu, cái gì có mặt thì tật đố, xan tham có mặt? Cái gì không có mặt, thì tật đố xan tham không có mặt?”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Vua Trời hỏi lý do gì có tật đố và xan tham. Tại sao cứ ganh tị, ganh ghét nhau, tham lam, ích kỉ, keo kiệt, ham muốn hoài?
“- Này Thiên chủ, tật đố và xan tham do ưa ghét làm nhân duyên, do ưa ghét làm tập khởi, ưa ghét khiến chúng sanh khởi, ưa ghét khiến chúng hiện hữu, ưa ghét có mặt thì tật đố, xan tham có mặt; ưa ghét không có mặt thì tật đố, xan tham không có mặt.”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Do ưa và ghét nên xan tham có mặt. Tu mà nhiếp phục và vượt qua được hai cái này thì tâm sẽ được bình an. Vậy ưa và ghét chính là lạc thọ và khổ thọ. Mình ưa thì mình tham mà ghét thì tật đố, cái nào ưa thì cái đó thích, cái nào ghét là mình ganh tị, muốn triệt hạ nó.
“- Bạch Thế Tôn, ưa ghét do nhân duyên gì, do tập khởi gì? Cái gì khiến chúng sanh khởi, cái gì khiến chúng hiện hữu, cái gì có mặt thì ưa ghét có mặt? Cái gì không có mặt thì ưa ghét không có mặt?”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Đây là câu hỏi lúc đầu bài con đã hỏi. Lý do gì có ưa ghét, tại sao mình lại ưa với ghét?
“- Này Thiên chủ, ưa ghét do dục làm nhân duyên, do dục làm tập khởi, dục khiến chúng sanh khởi, dục khiến chúng hiện hữu. Dục có mặt thì ưa ghét có mặt; dục không có mặt thì ưa ghét không có mặt.”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Những điều này có thể dùng làm đề tài thiền quán, tham dục trong người mình có nên mới ưa cái này ghét cái kia, cái nào mình ưa thích thì cái đó có tham dục. Tại sao ưa ghét lại có tham dục? Tại sao ưa ghét lại do dục làm nhân duyên? Mình muốn cái gì mà người ta không cho mình cái muốn đó thì mình ghét phải không? Cái ưa cũng từ cái dục, cái ghét cũng từ cái dục vì không được. Chúng ta sẽ nói vắn tắt hai điều nữa để đại chúng quán chiếu thêm.
“- Bạch Thế Tôn, nhưng dục do nhân duyên gì, do tập khởi gì? Cái gì khiến dục sanh khởi, cái gì khiến dục hiện hữu? Cái gì có mặt thì dục có mặt? Cái gì không có mặt thì dục không có mặt?
- Này Thiên chủ, dục do tầm làm nhân duyên, do tầm làm tập khởi; tầm khiến dục sanh khởi, tầm khiến dục hiện hữu. Tầm có mặt thì dục có mặt; tầm không có mặt thì dục không có mặt.”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Do sự tầm cầu, tìm cầu, suy tầm làm nhân duyên để có ra dục, sự ham muốn.
“- Bạch Thế Tôn, tầm lấy gì làm nhân duyên, lấy gì làm tập khởi? Cái gì khiến tầm sanh khởi, cái gì khiến tầm hiện hữu? Cái gì có mặt thì tầm có mặt? Cái gì không có mặt thì tầm không có mặt?
- Này Thiên chủ, tầm lấy cái loại vọng tưởng hý luận làm nhân duyên, lấy các loại vọng tưởng hý luận làm tập khởi. Các loại vọng tưởng hý luận khiến tầm sanh khởi, các loại vọng tưởng hý luận khiến tầm hiện hữu. Do các loại vọng tưởng hý luận có mặt thì tầm có mặt. Do các loại vọng tưởng hý luận không có mặt thì tầm không có mặt".”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Những sự suy nghĩ lung tung là vọng tưởng, từ những sự suy nghĩ này có sự tầm cầu, từ suy nghĩ về tầm cầu có tham muốn, từ tham muốn có ưa ghét, từ ưa ghét có tật đố và xan tham. Vua Trời hỏi rằng mọi người ai cũng mong cầu sự an lạc, bình an nhưng sự thật lại đối nghịch thì Đức Phật nói do tật đố và xan tham, vua Trời hỏi tại sao có tật đố và xan tham thì Phật nói vì ưa ghét, tại sao có ưa ghét vì có tham muốn, có muốn nên ưa, không muốn nên ghét, muốn nhưng lại bị tước đoạt cái muốn nên ghét, tại sao có tham muốn vì có sự tầm cầu, tại sao có tầm cầu vì những sự nghĩ tưởng lung tung, do không tu thiền định, không phòng hộ, hộ trì, chế ngự, nhiếp phục sáu căn, đặc biệt là ý căn để suy nghĩ lung tung nên mới có ra sự tầm cầu, từ sự tầm cầu mới có sự tham muốn, dục, từ ham muốn, dục mới có sự ưa ghét, từ ưa ghét có ra tật đố và xan tham, từ tật đố và xan tham mới có sự hận thù, đối nghịch, ác ý làm khổ nhau.
Sự tu tập thiền định là để dừng lại các vọng tưởng, kiểm soát các vọng tưởng, thấy rõ các sự suy tầm, để nhiếp phục và chế ngự các dục, để xả bỏ tâm ưa ghét trú trong tâm xả, chánh niệm trú xả, diệt trừ tham ưu ở đời chính là diệt trừ sự ưa ghét để đi đến chỗ bình an. Trong đại chúng không ưa ghét ai hết sẽ hòa hợp, bình an còn trong chúng có người mình thích có người mình không thích thì làm sao bình an được, cái thích và không thích đó là do dục và ái.
Ở đây chúng ta mới học nửa bài về những câu hỏi của vua Trời hỏi Đức Phật. Chúng ta cần chiêm nghiệm thêm tại sao ưa ghét do dục làm nhân duyên và chúng ta kiểm tra lại sự ưa ghét của chúng ta có làm khổ mình khổ người không, có hại mình hại người không. Mọi người luôn phải nhớ hoan hỉ, an lạc trong thiền định và làm dừng lại các sự vọng tưởng, an trú trong nhất hướng Chánh Pháp.
Bằng tình thương, bằng từ tâm, bằng tấm lòng luôn nghĩ đến sự an lạc, an ổn cho chính mình. Cũng vậy, con chân thành cầu nguyện sự an lạc, an ổn này cũng đến với chư vị nơi đây, chư vị nghe hiểu được âm thanh này cùng hữu tình trong trời đất rộng lớn này, trong đó có người thân của con. Mong tất cả đều được tâm thương này thấm nhuần dễ chịu, an lạc và bình yên, tìm được hạnh phúc và an vui cho mình, lòng yêu thương tự thân mình và yêu thương muôn loài. Mong tất cả có được trí tuệ, thấy được sự vô thường của đời sống này, tâm chán ngán từ bỏ những xác thân năm uẩn vô thường này để thể nhập vào tâm an tịnh, trong sạch, trầm lặng, giải thoát khỏi biển sanh tử và chấm dứt hết mọi khổ đau. Lòng tha thiết chân thành cầu nguyện an lạc, bình yên, trí tuệ và giải thoát đến với cùng khắp tất cả.
./.
Vua Trời Hỏi Phật 1
Kinh Đế Thích Sở Vấn-Trường Bộ
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Thiên Chủ hầu Phật PAGEREF _Toc114056029 \h 1
II. Thiên chủ kể chuyện PAGEREF _Toc114056030 \h 7
III. Nguồn gốc của hận thù PAGEREF _Toc114056031 \h 17
I. Thiên Chủ hầu Phật
Trước khi chúng ta học bài kinh rất đặc biệt là vua Trời hỏi Phật trong Trường Bộ Kinh, tập II, bài kinh số 21 thì chúng ta có câu hỏi: Tại sao lại có ưa thích và ghét bỏ?
“- Này Thiên chủ, ưa ghét do dục làm nhân duyên, do dục làm tập khởi, dục khiến chúng sanh khởi, dục khiến chúng hiện hữu. Dục có mặt thì ưa ghét có mặt; dục không có mặt thì ưa ghét không có mặt.”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Bài kinh này rất lý thú, rất thú vị tràn đầy kịch tính. Bài kinh này có thể dựng thành phim được, bài kinh có tên Đế-thích sở vấn, tiếng việt là vua Trời hỏi Phật. Đây là vua của 33 tầng trời xuống đảnh lễ và thưa hỏi pháp với Đức Phật.
“Một thời, Thế Tôn trú tại Magadha (Ma-kiệt-đà) phía Ðông thành Vương Xá, tại làng Bà La Môn tên Ambasanda, (Am-bà-la) trên ngọn núi Vediya (Tỳ-đà Sơn) phía Bắc ngôi làng, trong hang Indasàla (Nhơn-đà-sa-la). Lúc bấy giờ, Thiên chủ Sakka (Ðế-thích) náo nức muốn chiêm ngưỡng Thế Tôn.
Rồi Thiên chủ Sakka suy nghĩ: "Nay Thế Tôn ở tại chỗ nào, vị A La Hán, Chánh Ðẳng Giác?" Thiên chủ Sakka thấy Thế Tôn trú tại Magadha, phía Ðông thành Vương Xá tại làng Bà La Môn tên Ambasanda, trên ngọn núi Vediya, phía Bắc ngôi làng trong hang Indasala. Thấy vậy, Thiên chủ Sakka nói với chư Thiên ở Tam thập tam thiên:
- Này Quý vị, Thế Tôn trú ngụ tại Magadha, phía Ðông thành Vương Xá, tại làng Bà La Môn tên Ambasanda, trên ngọn núi Veidya, phía Bắc ngôi làng, trong hang núi Indasala. Này quí vị, chúng ta hãy đến chiêm ngưỡng Thế Tôn, bậc A La Hán, Chánh Ðẳng Giác.
- Xin vâng, mong an lành đến cho Ngài. - Chư Thiên ở Tam thập tam thiên trả lời Thiên chủ Sakka.
Rồi Thiên chủ Sakka, nói với Pancasikha (Ngũ Kế), con của Càn Thát Bà:
- Này Khanh Pancasikha, Thế Tôn nay trú tại Magadha, phía Ðông thành Vương Xá, tại làng Bà La Môn tên Ambasanda, trên ngọn núi Vediya phía Bắc ngôi làng, trong hang núi Indasàla. Này Khanh Pancasikha, chúng ta hãy đến chiêm ngưỡng Thế Tôn, bậc A La Hán, Chánh Ðẳng Giác.
- Xin vâng, mong an lành đến cho Ngài.
Pancasikha, con của Càn Thát Bà, vâng lời Thiên chủ Sakka, cầm cây đàn cầm bằng gỗ vàng Beluva và đi theo Thiên chủ Sakka.
Rồi Thiên chủ Sakka, với chư Thiên ở Tam thập tam thiên tháp tùng xung quanh, với Pancasikha, con của Càn Thát Bà đi trước, như người lực sĩ duỗi cánh tay co lại, hay co lại cánh tay duỗi ra, biến mất ở cõi Tam thập tam thiên, hiện ra ở Magadha, phía Ðông thành Vương Xá, tại làng Bà La Môn Ambasandà và đứng trên núi Vediya, phía Bắc ngôi làng.
Lúc bấy giờ núi Vediya chói hào quang rực rỡ, ngôi làng Bà La Môn Ambasandà cũng vậy, đều nhờ thần lực chư Thiên. Và dân chúng ở những làng xung quanh nói rằng:
- Núi Vediya hôm nay thật sự bị cháy, núi Veidya hôm nay thật sự có lửa đỏ rực, núi Vediya lại chói hào quang rực rỡ, làng Bà La Môn Ambasandà cũng vậy.
Và dân chúng lo âu, lông tóc dựng ngược.”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Khi con ở Linh Quy một mình trong thời kì đầu chỉ mới có thất khai sơn, trong một buổi chiều con đi thiền hành xung quanh núi đến khi trở về thì bất ngờ vì thấy đỏ rực cả một bầu trời, đó là hoàng hôn buổi chiều nhưng là một màu đỏ rực cả một khu vực, ánh Mặt Trời mà còn vậy thì huống hồ gì oai lực của vị vua Trời thống lĩnh chư Thiên của tầng trời 33 xuống yết kiến Đức Phật, người dân nhìn thấy tưởng rằng ngọn núi bị cháy.
“Rồi Thiên chủ Sakka nói với Pancasikha, con của Càn Thát Bà:
- Này Khanh Pancasikha, chư Như Lai thật khó lại gần đối với người như ta. Các Ngài nhập Thiền, hoan hỉ trong Thiền, và với mục đích ấy, an lặng tịnh cư.”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Vua trời nói với con của vị thần âm nhạc: Các Đức Như Lai khó lại gần đối với người như ta, các ngài thường nhập thiền, hoan hỉ trong thiền với mục đích an lặng, tịnh cư nên các ngài thường ở một mình, trú trong thiền định thanh tịnh, an lạc, hoan hỉ, các ngài luôn hỷ lạc trong thiền, trú trong thiền, nhập trong thiền nên những người như ta rất khó lại gần các ngài. Chúng ta có hoan hỉ trong thiền không ạ? Những giờ ngồi thiền có đặt hết tâm ý vào thiền không? Nếu mình không hoan hỉ, không nhập trong thiền, không an lặng tịnh cư thì mình không phải là con của Phật, không phải là con của các Đức Như lai. Mình cứ thích dao động, ưa thích công việc bận rộn mà không thích thiền định thì đó là sự lui sụp và rơi xuống của người tu. Bằng mọi cách phải hỷ lạc, tịnh chỉ, an tịnh, tịch tịnh trong thiền định.
“Vậy Khanh Pancasikha trước tiên làm cho Thế Tôn hoan hỉ, sau sự hoan hỉ do Khanh tác động, chúng ta mới đến yết kiến Thế Tôn, bậc A La Hán, Chánh Ðẳng Giác.
- Xin vâng, mong an lành đến với Ngài.
Pancasikha, con của Càn Thát Bà vâng lời Thiên chủ Sakka, cầm cây đàn cầm bằng gỗ vàng Beluva và đến tại hang núi Indasala. Khi đến xong, Pancasikha đứng lại một bên và suy nghĩ: "Ta đứng đây, không quá xa Thế Tôn, cũng không quá gần. Và tiếng sẽ được Ngài nghe".”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Ở đây cho chúng ta thấy những vị thượng thủ muốn gặp nhau không phải chuyện đơn giản. Vua Trời nói con của vị thần âm nhạc hãy làm cho Thế Tôn hoan hỉ chứ không được đến bất thình lình cho nên Pancasikha đứng không quá gần cũng không quá xa Thế Tôn và đàn cây đàn bằng gỗ vàng rồi đọc lên những bài thi kệ. Pancasikha không phải là người tu nhiều, ông cũng giống như Phật tử sơ cơ cho nên ông đọc những bài tình ái, trong đó có tán dương một chút về Đức Phật, giáo pháp và chư Tăng, nhưng điều đặc biệt là đây là con của vị thần âm nhạc nên ca rất hay, đàn rất giỏi. Khi âm vang du dương, trầm bổng, vang vọng thì Thế Tôn nghe được nên khen:
“Này Pancasikha, huyền âm của Ngươi khéo hòa điệu với giọng ca của Ngươi, và giọng ca của Ngươi khéo hòa điệu với huyền âm của Ngươi. Này Pancasikha, do vậy huyền âm của Ngươi không thêm mầu sắc cho giọng ca, hay giọng ca của Ngươi không thêm màu sắc cho huyền âm của Ngươi. Này Pancasikha, Ngươi học tại chỗ nào những bài kệ liên hệ đến Phật, Pháp, đến A La Hán, đến ái dục như vậy?”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Sau khi Đức Phật hỏi thì Pancasikha đã trả lời. Ở đây chúng ta sẽ lược bỏ những phần không đi vào trọng tâm của giáo pháp, chúng ta chỉ lấy phần cốt lõi khi Đức Phật giảng giải những câu hỏi cho vua Trời. Ngài Pancasikha giống như một vị xứ giả, sau khi Thế Tôn hoan hỉ thì vua Trời đã nói với Pancasikha:
“- Này Khanh Pancasikha, hãy thay mặt ta, đảnh lễ Thế Tôn và nói: "Bạch Thế Tôn, Thiên chủ Sakka cùng với đình thần và thuộc hạ đầu diện tiếp tục đảnh lễ Thế Tôn".”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Sau đó Thế Tôn đã nói với Thiên chủ rằng:
“- Này Pancasikha, mong hạnh phúc đến với Thiên chủ Sakka, với các đình thần và các thuộc hạ! Chư Thiên, loài Người, Asurà, Nàgà, Gandhabba, đều ao ước hạnh phúc. Các loại chúng sanh khác cũng vậy.
Như vậy, các Như Lai chào đón thượng chúng. Ðược chào đón như vậy, Thiên chủ Sakka bước vào hang Indasàla của Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và đứng một bên. Chư Thiên ở Tam thập tam thiên cũng bước vào hang Indasàla, đảnh lễ Thế Tôn và đứng một bên. Pancasikha, con của Càn Thát Bà cũng bước vào hang Indasàla, đảnh lễ Thế Tôn và đứng một bên.
Lúc bấy giờ, trong hang Indasàla, những con đường gồ ghề được làm bằng phẳng, những khoảng chật hẹp được làm cho rộng rãi, trong hang tối tăm có hào quang chiếu sáng, đó là nhờ thần lực của chư Thiên.”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Hang động chật hẹp, tối tăm, gồ ghề nhưng Thiên chủ - vị vua Trời và các vị trong tầng trời 33 xuống thì chỗ nào chật hẹp sẽ tự động rộng ra, chỗ nào tối tăm sẽ được chiếu sáng, đó là phước báo của chư Thiên. Ví dụ trước khi mình lên Linh Quy thì chỗ đó được gọi là đồi 45 còn hoang sơ, hiu quạnh nhưng khi các thầy, các sư cô, các Phật tử về tu thì không còn gọi là đồi 45 nữa mà gọi là Cổng Trời, nghĩa là những người có phước đức đi đến chỗ nào thì chỗ đó được tốt lành, được đẹp đẽ. Phước của chúng ta chưa bằng các vị vua Trời mà còn được như vậy thì huống gì những bậc đã tu hành đến mức thống lãnh tầng trời 33 thì phước đức cỡ nào, cho nên khi những vị này đến thì Thế Tôn nói với vị vua Trời:
“- Thật là hy hữu, Ðại đức Kosiya! Thật là kỳ diệu, Ðại đức Kosiya, tuy có nhiều trách nhiệm phải gánh vác, có nhiều công tác phải làm, mà vẫn đến đây được!”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Đức Thế Tôn gọi vua Trời là "Đại đức", cho nên hai chữ này có ý nghĩa lớn lao. Đại đức nghĩa là công đức lớn lao, Thế Tôn nói rằng thật là hy hữu, Thiên chủ có công đức lớn lao; thật là kì diệu, Thiên chủ có công đức lớn lao, dù có rất nhiều công việc phải gánh vác nhưng vẫn đến đây được. Một vị nguyên thủ quốc gia bận rộn cả ngày, có rất nhiều công việc phải giải quyết nên không dễ để đi thăm các vị tu hành, chính vì vậy khi Thiên chủ đến thì Thế Tôn đã ca ngợi.
“- Bạch Thế Tôn, đã từ lâu con muốn đến để yết kiến Thế Tôn, nhưng bị ngăn trở bởi các công việc này, công việc khác phải làm cho chư Thiên ở Tam thập tam thiên, và do vậy không thể đến yết kiến Thế Tôn được. Bạch Thế Tôn, một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi (Xá Vệ), tại cốc Salala. Bạch Thế Tôn, rồi con đến Sàvatthi để yết kiến Thế Tôn.”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Khi đọc những lời kinh này thọ; tưởng; hành của chúng ta có tưởng tượng ra được quang cảnh con của vị thần âm nhạc dẫn đường phía trước, theo sau là một vị vua Trời thống lĩnh quần thần thuộc hạ, ánh sáng của các vị thần chiếu sáng rực cả ngọn núi mà dân chúng nghĩ rằng ngọn núi đó bị cháy không? Một vị vua Trời lại xuống đảnh lễ một người ở trong hang động trong núi rừng xa vắng, đầu trần chân đất chỉ có tấm vải trên người.
Đây là Pháp Vương cùng với Thiên Vương hội ngộ. Ngài Thiên chủ kể lại thời gian trước muốn gặp Đức Thế Tôn nhưng gặp không được vì lúc đó Thế Tôn đang nhập định.
“ Lúc bấy giờ, Thế Tôn đang ngồi nhập định và Bhunjàti, vợ của Vessavana đang đứng hầu Thế Tôn, đảnh lễ chắp tay. Bạch Thế Tôn, rồi con nói với Bhunjàti:
"- Này Hiền tỷ, hãy thay mặt ta đảnh lễ Thế Tôn và thưa: "Bạch Thế Tôn, Thiên chủ Sakka với đình thần và thuộc hạ đầu diện tiếp tục đảnh lễ Thế Tôn".
Ðược nghe nói vậy, Bhunjàti nói với con:
"- Thiện hữu, nay không phải thời để yết kiến Thế Tôn. Thế Tôn đang an lặng tịnh cư.
"- Này Hiền tỷ, khi nào xuất định, hãy thay mặt ta đảnh lễ Thế Tôn và thưa: "Bạch Thế Tôn, Thiên chủ Sakka cùng đình thần và thuộc hạ đầu diện tiếp tục đảnh lễ Thế Tôn".”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
II. Thiên chủ kể chuyện
Trong kinh ghi là "đầu diện tiếp tục" nhưng thật chất phải là "đầu diện tiếp túc" mới đúng. Tức là đầu với mặt chạm vào chân của Đức Phật, khi đầu và mặt chạm vào chân Đức Phật thì gọi là "đầu diện tiếp túc quy mạng lễ". Ngài kể lại cho Thế Tôn nghe lần trước xuống gặp nhưng không được vì Thế Tôn đang nhập định, sau đó ngài đã hỏi lại Đức Phật vị thần đó có nhắn lại cho Thế Tôn biết không:
“Bạch Thế Tôn, không hiểu Bhunjãti có thay mặt con đảnh lễ Thế Tôn không? Thế Tôn có nhớ lời bà ấy nói không?
- Này Thiên chủ, bà ấy có đảnh lễ Ta. Ta có nhớ lời bà ấy nói. Chính tiếng bánh xe của Ngài đã khiến Ta xuất định.
Bạch Thế Tôn, có chư Thiên được sanh lên Tam thập tam thiên trước chúng con, chính chúng con tận mắt được nghe chư Thiên ấy nói như sau: "Khi Như Lai, bậc A La Hán, Chánh Ðẳng Giác xuất hiện ở đời, Thiên giới được hưng thịnh và Asurà giới bị suy vong".”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
A-tu-la (Asurà) có phước kém hơn chư Thiên, vẫn còn rất nhiều sân hận.
“Bạch Thế Tôn, chính con có thể thấy và xác chứng rằng khi nào Như Lai, bậc A La Hán, Chánh Ðẳng Giác xuất hiện ở đời, thì Thiên giới được hưng thịnh và Asurà giới bị suy vong. Bạch Thế Tôn ở đây, tại Kapilavatthu, có Thích nữ tên là Gopika, có lòng tin Phật, tin Pháp, tin Tăng, và gìn giữ đầy đủ giới luật. Thích nữ này, loại bỏ tâm niệm đàn bà, tu tập tâm niệm đàn ông, khi thân hoại mạng chung được sanh lên Thiên giới, thiện thú, nhập chúng với chư Thiên ở Tam thập tam thiên, sanh ra làm con của chúng con.”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Thích nữ là người phụ nữ của dòng họ "Thích" chứ không phải như bây giờ dùng từ "Thích nữ" là để chỉ một vị sư cô (Tỳ-kheo Ni) nào đó. Trong kinh dùng từ "Thích nữ" là ý nói đến người phụ nữ thuộc dòng họ Thích-ca, người này vẫn là cư sĩ, còn bây giờ nói Thích nữ là người xuất gia.
“Và ở đấy, nàng được gọi là Thiên tử Gopakà. Bạch Thế Tôn, lại có ba Tỷ Kheo khác sống phạm hạnh với Thế Tôn và sanh vào Càn Thát Bà giới hạ đẳng.”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Càn Thát Bà là vị thần âm nhạc, nhưng ba vị Tỳ-kheo tu với Đức Phật lại sinh vào giới hạ đẳng, thấp kém của Càn Thát Bà.
“Họ sống được bao vây thọ hưởng năm món dục tăng thịnh và thường hay đến hầu hạ săn sóc chúng con. Chúng con được họ đến hầu hạ và săn sóc chúng con như vậy, Thiên tử Gopakà mới trách la họ như sau: "Chư Thiện hữu, tai các Người ở đâu mà không nghe Pháp của Thế Tôn. Chính ta xưa là đàn bà, tin Phật, tin Pháp, tin Tăng, gìn giữ giới luật, loại bỏ tâm niệm đàn bà, tu tập tâm niệm đàn ông, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, Thiên giới, nhập chúng với chư Thiên ở Tam thập tam thiên, làm con của Thiên chủ Sakka và được gọi là Thiên tử Gopakà.”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Thiên tử Gopakà là người con gái Thích nữ đã bỏ tâm niệm đàn bà, tu tập tâm niệm đàn ông. Vị thiên tử Gopakà đã quở trách, la mắng ba vị Tỳ-kheo đó.
“Chư Thiện hữu, các Người tu hành phạm hạnh với Thế Tôn, được sanh vào Càn Thát Bà giới hạ đẳng. Thật là điều không mấy tốt đẹp, khi chúng con thấy những vị đồng môn lại phải sanh vào hạ đẳng Càn Thát Bà giới.”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Ba vị này đời trước là các vị Tỳ-kheo ở kế cạnh Đức Thế Tôn. Bây giờ họ quở trách là những người xuất gia được ở gần Đức Như Lai mà tai ở đâu lại không nghe pháp của Thế Tôn, tôi là đàn bà, là người phụ nữ nhưng với lòng tin Tam Bảo, giữ gìn giới luật, loại bỏ tâm nhỏ hẹp, tật đố, ganh tị của đàn bà để tu tập tâm rộng mở, rộng lớn, trượng phu của đàn ông, sau khi thân hoại mạng chung được sanh lên cõi Trời và nhập chúng với chư Thiên của 33 tầng trời tam thập tam thiên.
Còn các ông là người xuất gia lại sanh vào giới hạ đẳng của Càn Thát Bà rồi lại phải hầu hạ, phục vụ lại chúng tôi. Thật là điều không mấy tốt đẹp, khi chúng con thấy những vị đồng môn lại phải sanh vào hạ đẳng Càn Thát Bà giới. Đồng môn nghĩa là cùng là đệ tử của Đức Phật, là tứ chúng: Tỳ-kheo, Tỳ-kheo Ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ.
“Bạch Thế Tôn, trong chư Thiên bị Thiên tử Gopakà trách mắng như vậy, hai vị Thiên, ngay trong hiện tại, chứng được chánh niệm và sanh làm phụ tá cho Phạm thiên. Còn một vị Thiên sống thọ hưởng dục lạc.”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Sau khi ba người bị Thiên tử Gopakà trách mắng thì có hai người chứng được chánh niệm. Khi bị mắng thì thấy xấu hổ, tàm quý nên bắt đầu quay lại lo tu tập nên hai vị được sanh làm phụ tá cho Phạm Thiên. Trên cõi trời chỉ toàn là hóa sanh, vị kia được thăng đẳng cấp, còn lại một vị khi nghe quở trách, la mắng vẫn không thay đổi.
“Ta đệ tử pháp nhãn,
Tên gọi Gopakà,
Ta tin Phật, Pháp, Tăng.
Tâm niệm rất hoan hỉ.
Nhờ Thiện pháp chư Phật,
Sanh con Thần Sakka,
Hào quang, sanh Thiên giới,
Ðược tên Gopakà.
Ta thấy ba Tỷ Kheo,
Hạ sanh Càn Thát Bà!
Ðệ tử Gotama,
Trước sanh làm con Người,
Ta cúng dường ẩm thực,
Hầu hạ trú xứ ta.
Mắt Hiền giả ở đâu?
Không nắm giữ Pháp, Phật,
Chánh pháp tự giác hiểu,
Bậc Pháp nhãn khéo giảng.”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Đệ tử pháp nhãn chính là đệ tử của Đức Phật. Đức Phật còn có thêm một tên khác là bậc pháp nhãn, là con mắt của Chánh Pháp. Con thần Sakka là con của Đế-thích.
“Ta chỉ hầu Quý vị,
Ðược nghe Pháp bậc Thánh.
Ta là con Sakka,
Có thần lực hào quang,
Ðược sanh lên Thiên giới.
Các người hầu Thế Tôn,
Sống phạm hạnh tối thượng,
Nay phải sanh hạ thân,
Mất thượng sanh hạ phẩm.
Ta nhìn thật khó chịu,
Thấy đồng môn hạ sanh
Với thân Càn Thát Bà,
Phải hầu hạ chư Thiên.
Từ địa vị cư sĩ,
Ta thấy rõ khác biệt.
Trước bà, nay đàn ông.
Ta sanh Thiên, hưởng dục.
Bị Gopakà trách mắng,
Ưu phiền đồng phát nguyện,
Phải thăng tiến nỗ lực,
Không nô lệ cho ai!
Hai trong ba vị này,
Bắt đầu hành tinh tấn,
Nhờ Gotama dạy,
Chúng tẩy sạch tâm uế,
Thấy nguy hiểm dục vọng.
hư voi bỏ dây cương,
Các vị vượt Tam thiên,
Vứt bỏ dục kiết sử,
Quỷ triền phược khó vượt,
Cùng Sakka, Pajàpati.
Hội chúng Thiện Pháp đường
Vượt quá vị đang ngồi,
Anh hùng ly dục cấu.
Thấy chúng khỏi lo ngại,
Vasava giữa Thiên chúng,
Xem chúng sinh hạ phẩm,
Nay vượt qua Tam thiên.
Suy tư lời ưu phiền,
Gopaka với Vàsava:
Ðế Thích ở nhân giới,
Ðức Phật gọi Thích Ca
Ðã chinh phục dục vọng.
Chúng là con của Ngài,
Thất niệm khi mệnh chung,
hờ Ta lấy chánh niệm.
Một trong ba vị ấy,
Mang thân Càn Thát Bà.
Hai vị hướng Chánh giác,
Bỏ Thiên giới, nhập thiền.
Ðừng đệ tử nào nghi,
Vị ở đây chứng pháp.
Chúng ta đảnh lễ Phật.
Vị vượt khỏi bộc lưu,
Ðã diệt trừ nghi ngờ,
Bậc chiến thắng muôn loài.
Chính ở đây, chứng pháp,
Tấn bước đạt thù thắng,
Hai vị đạt thắng vị,
Hơn phụ tá Phạm thiên,
Ôi Thiện hữu chúng tôi.
Ðến đây để chứng pháp.
Nếu Thế Tôn cho phép,
Chúng con hỏi Thế Tôn.”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Một vị nữ cư sĩ với lòng tin Tam bảo, giữ gìn giới pháp, loại bỏ tâm đàn bà và tu tập tâm đàn ông. Ở đây con cũng muốn nhắn gửi trong gia đình và các Phật tử nữ, nhất là chị hai về cái tâm đàn bà, cái tâm phụ nữ. Ở đây không phải nói xấu nhưng do nghiệp của người phụ nữ là nhỏ nhặt, dễ ganh tị, tật đố, dễ so đo, hơn thua, đố kị, nhỏ mọn, có rất nhiều bài kinh Đức Phật nói về nghiệp chướng của người phụ nữ làm họ khó tu hơn người đàn ông, chính tâm này làm cho người nữ khổ rất nhiều, phiền não, buồn đau, buồn lo rất nhiều.
Cho nên đừng trách móc người khác mà hãy trách tâm của mình. Tại sao người phụ nữ họ Thích đó lại trở thành Thiên tử Gopakà? Vì ngài loại bỏ tâm niệm đàn bà, tu tập tâm niệm đàn ông, khi thân hoại mạng chung được sanh lên Thiên giới, làm con của vua Trời là còn hơn Thái tử gấp ngàn vạn lần. Có một số sư cô, Ni sinh là học trò của con tâm sự "Thầy ơi, ở bên chùa Ni khổ lắm, khó hơn ở bên chùa Tăng rất nhiều", vì thế cần xem lại tâm của mình, cần tu tập tâm nhiều hơn, đừng nghĩ rằng chồng con hoặc người này người kia làm mình khổ mà hãy xem lại tâm lượng của mình, sự suy nghĩ, cảm thọ của mình.
Nó nhỏ hẹp, nhỏ nhặt, nhỏ nhoi trong từng chút một, khi nói gì thì chỉ nói chuyện đó thôi đừng lôi những chuyện xa xưa ra, chất chứa phiền não trong quá khứ để làm mình khổ rồi người khác cũng khổ, như vậy là tự mình làm khổ mình khổ người, hại mình hại người, làm buồn mình buồn người, làm cho não mình não người, mình không biết tu gì hết. Cho nên trong sự tu của chúng ta, nhất là trong đạo tràng Nikāya phải tu tập tâm hiền, thực tập tâm hiền, trong các thời thiền bắt buộc phải thực tập tâm hiền, thực tập tâm xả, kể cả bên nam cũng phải thực tập tâm rộng mở vô lượng.
Còn tâm nhỏ nhặt, nhỏ mọn mà ở chung với vài người còn ở không nổi thì làm sao mình đến những chỗ khác, chỉ có mấy chị em mà ở với nhau không được thì làm sao làm những việc khác? Cho nên phải diệt những tâm nhỏ hẹp đó.
Sau khi những vị Tỳ-kheo này sanh vào nơi hạ đẳng thì bị vị Thiên tử này quở trách, vì ngày xưa vị này cúng dường cho những vị Tỳ-kheo này mà bây giờ vị này lại trở thành thượng đẳng, là Thiên tử con vua Trời còn những vị Tỳ-kheo phải hầu hạ lại vị này. Ngày xưa người ta quỳ lạy đảnh lễ, cúng dường mình mà bây giờ mình quay lại hầu hạ người ta nhưng cái này vẫn còn đỡ vì được sanh vào Thiên giới, còn sanh vào thế gian có nghiệp nặng còn tệ hơn rất nhiều vì phải làm trâu bò, làm người ở hoặc phải sanh vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.
Chúng ta cần nghe kĩ lại câu "Chư Thiện hữu, tai các Người ở đâu mà không nghe Pháp của Thế Tôn", " Mắt Hiền giả ở đâu? Không nắm giữ Pháp, Phật". Tại sao ông ở gần, kế cạnh Thế Tôn bậc Chánh Đẳng Giác, được tu tập Thánh Pháp tối thượng mà tại sao lại không thành tựu pháp? Chính ta ngày xưa là đàn bà, tin Phật, tin Pháp, tin Tăng, gìn giữ giới luật, loại bỏ tâm niệm đàn bà, tu tập tâm niệm đàn ông, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, Thiên giới, nhập chúng với chư Thiên ở Tam thập tam thiên, làm con của Thiên chủ Sakka, các Người tu hành phạm hạnh với Thế Tôn, được sanh vào Càn Thát Bà giới hạ đẳng. Thật là điều không mấy tốt đẹp, khi chúng con thấy những vị đồng môn lại phải sanh vào hạ đẳng Càn Thát Bà giới. (Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Điều đặc biệt là ba người bị quở trách nhưng có hai vị thấy xấu hổ, nhục nhã, tàm quý rồi cố gắng nỗ lực, tinh tấn tu hành nên chứng được chánh niệm, vị này sẽ hướng đến Chánh Giác, sanh làm phụ tá cho Phạm Thiên, vượt qua những cấp cao hơn. Vị còn lại không hề thay đổi, bị la mắng nhưng vẫn sống thưởng thọ dục lạc. Đây là sự kiện để chúng ta quán chiếu, bài kinh này tràn đầy kịch tính như một bộ phim.
III. Nguồn gốc của hận thù
Bây giờ chính thức đi vào cốt lõi của bài kinh.
“Rồi Thế Tôn suy nghĩ: "Ðã lâu, Sakka này sống đời trong sạch. Câu hỏi gì Sakka hỏi Ta, đều hỏi có lợi ích, không phải không lợi ích. Câu hỏi gì hỏi Ta, Ta sẽ trả lời; và Sakka sẽ hiểu một cách mau chóng".”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Thế Tôn suy nghĩ đã từ lâu rồi Đế-thích sống đời sống trong sạch, không phải dễ để lên làm vua 33 tầng trời, các vị này giới đức rất trong sạch, bốn tâm vô lượng ly dục cho nên những câu hỏi của Đế-thích sẽ có lợi ích lớn và khi Thế Tôn trả lời thì Đế-thích sẽ hiểu mau chóng. Sau đó Thế Tôn nói bài kệ:
“Vàsava hãy hỏi Ta,
Những gì tâm Ngươi muốn!
Mỗi câu hỏi của Ngươi,
Ta làm Ngươi thỏa mãn.”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Đức Phật khuyến khích Đế-thích hỏi cho nên bài kinh này có tựa đề "Vua Trời hỏi Phật", nếu dịch chữ Hán là "Những câu hỏi của Vua Trời", sở vấn là những câu hỏi và Đế-thích là vua Trời.
“Sau khi được phép, Thiên chủ Sakka hỏi Thế Tôn câu hỏi đầu tiên:
- Bạch Thế Tôn, do kiết sử gì, các loài Thiên, Nhân, Asurà, Nàgà, Càn Thát Bà, và tất cả những loài khác, dân chúng ao ước: "Không hận thù, không đả thương, không thù nghịch, không ác ý, chúng ta sống với nhau không hận thù". Thế mà với hận thù, với đả thương, với thù nghịch, với ác ý, họ sống với nhau trong hận thù?
Ðó là hình thức câu hỏi thứ nhất, Thiên chủ Sakka hỏi Thế Tôn.”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Ngài nói tất cả mọi người đều ước ao sống không hận thù, không làm tổn thương, ác ý, thù nghịch nhau nhưng rồi vẫn hận thù, ác ý, đối nghịch nhau. Tại sao con người không sống hòa hợp, hòa bình với nhau?
“Và Thế Tôn trả lời câu hỏi ấy như sau:
- Do tật đố và xan tham, các loài Thiên, Nhân Asurà, Nàgà, Càn Thát Bà và tất cả những loài khác, dân chúng ao ước: "Không hận thù, không đả thương, không thù nghịch, không ác ý, chúng ta sống với nhau không hận thù". Thế mà với hận thù, với đả thương, với thù nghịch, với ác ý, họ sống với nhau trong hận thù.”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Không phải chỉ có loài người mà ngay cả chư Thiên, chư Thần, những loài súc sanh, ngạ quỷ và rồng… loài nào cũng ao ước sống không thù nghịch nhưng vẫn sống hận thù là do tật đố và xan tham. Tật đố là ganh tị, đố kị, hơn thua, ganh ghét. Xan tham là tham lam, bủn xỉn. Trong gia đình nhiều khi hai vợ chồng làm khổ nhau suốt đời, trong nhà có người làm kinh doanh nên phải ra ngoài thương lượng, nói chuyện với đối tác nhưng người kia lại có tánh hay ghen, nhìn đâu cũng nghi ngờ, thấy nói chuyện rồi cười với nhau là nghi hoặc rồi nói bóng nói gió, nói xa nói gần rồi cãi nhau, không phải một lần mà suốt đời như vậy, đó là tật đố, ghen tuông.
Người thân của mình nói chuyện với người mình ghét là mình khó chịu, bực tức rồi mình kiếm chuyện… như vậy là gia đình lục đục, bất an liên tục. Buôn bán với nhau mà hàng bên kia bán quá đắt còn mình bị ế thì mình ra sao? Có ganh ghét không? Chính chỗ nào làm cho không hài hòa, người ta có phước nên người ta buôn bán được, mình ít phước bán không được thì mình kiếm việc khác làm thêm, còn đằng này đi đố kị, tật đố. Hoặc là người này được thương mến nhiều còn mình không ai nhìn đến thì mình có ganh ghét, khó chịu không? Cùng là huynh đệ mà ai đến cũng tìm người kia còn mình lại không có ai, thấy có mặt mình cũng như không có thì cảm thọ mình ra sao? Cho nên tu trong từng cái nhỏ nhặt, tật đố và xan tham làm con người không sống an lạc, hòa hình, an vui được, cứ nhìn nhau rồi so đo cao thấp, giàu nghèo, thân sơ. Khi Thế Tôn trả lời thì Thiên chủ vui vẻ:
“Sung sướng, Thiên chủ Sakka hoan hỉ tín thọ lời dạy Thế Tôn và nói:
- Như vậy là phải, bạch Thế Tôn! Như vậy là phải, bạch Thiện Thệ! Khi nghe Thế Tôn trả lời câu hỏi, nghi ngờ của con diệt tận, do dự của con tiêu tan.”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Trong bất cứ chỗ nào mà mình thấy có bất hòa, hận thù, đối nghịch, chống đối, ác ý với nhau thì mình biết nguyên nhân là do tật đố và xan tham.
“Thiên chủ Sakka, sau khi hoan hỉ, tín thọ câu trả lời Thế Tôn, liền hỏi câu hỏi tiếp:
- Bạch Thế Tôn, tật đố, xan tham, do nhân duyên gì, do tập khởi gì, cái gì khiến chúng sanh khởi, cái gì khiến chúng hiện hữu, cái gì có mặt thì tật đố, xan tham có mặt? Cái gì không có mặt, thì tật đố xan tham không có mặt?”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Vua Trời hỏi lý do gì có tật đố và xan tham. Tại sao cứ ganh tị, ganh ghét nhau, tham lam, ích kỉ, keo kiệt, ham muốn hoài?
“- Này Thiên chủ, tật đố và xan tham do ưa ghét làm nhân duyên, do ưa ghét làm tập khởi, ưa ghét khiến chúng sanh khởi, ưa ghét khiến chúng hiện hữu, ưa ghét có mặt thì tật đố, xan tham có mặt; ưa ghét không có mặt thì tật đố, xan tham không có mặt.”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Do ưa và ghét nên xan tham có mặt. Tu mà nhiếp phục và vượt qua được hai cái này thì tâm sẽ được bình an. Vậy ưa và ghét chính là lạc thọ và khổ thọ. Mình ưa thì mình tham mà ghét thì tật đố, cái nào ưa thì cái đó thích, cái nào ghét là mình ganh tị, muốn triệt hạ nó.
“- Bạch Thế Tôn, ưa ghét do nhân duyên gì, do tập khởi gì? Cái gì khiến chúng sanh khởi, cái gì khiến chúng hiện hữu, cái gì có mặt thì ưa ghét có mặt? Cái gì không có mặt thì ưa ghét không có mặt?”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Đây là câu hỏi lúc đầu bài con đã hỏi. Lý do gì có ưa ghét, tại sao mình lại ưa với ghét?
“- Này Thiên chủ, ưa ghét do dục làm nhân duyên, do dục làm tập khởi, dục khiến chúng sanh khởi, dục khiến chúng hiện hữu. Dục có mặt thì ưa ghét có mặt; dục không có mặt thì ưa ghét không có mặt.”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Những điều này có thể dùng làm đề tài thiền quán, tham dục trong người mình có nên mới ưa cái này ghét cái kia, cái nào mình ưa thích thì cái đó có tham dục. Tại sao ưa ghét lại có tham dục? Tại sao ưa ghét lại do dục làm nhân duyên? Mình muốn cái gì mà người ta không cho mình cái muốn đó thì mình ghét phải không? Cái ưa cũng từ cái dục, cái ghét cũng từ cái dục vì không được. Chúng ta sẽ nói vắn tắt hai điều nữa để đại chúng quán chiếu thêm.
“- Bạch Thế Tôn, nhưng dục do nhân duyên gì, do tập khởi gì? Cái gì khiến dục sanh khởi, cái gì khiến dục hiện hữu? Cái gì có mặt thì dục có mặt? Cái gì không có mặt thì dục không có mặt?
- Này Thiên chủ, dục do tầm làm nhân duyên, do tầm làm tập khởi; tầm khiến dục sanh khởi, tầm khiến dục hiện hữu. Tầm có mặt thì dục có mặt; tầm không có mặt thì dục không có mặt.”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Do sự tầm cầu, tìm cầu, suy tầm làm nhân duyên để có ra dục, sự ham muốn.
“- Bạch Thế Tôn, tầm lấy gì làm nhân duyên, lấy gì làm tập khởi? Cái gì khiến tầm sanh khởi, cái gì khiến tầm hiện hữu? Cái gì có mặt thì tầm có mặt? Cái gì không có mặt thì tầm không có mặt?
- Này Thiên chủ, tầm lấy cái loại vọng tưởng hý luận làm nhân duyên, lấy các loại vọng tưởng hý luận làm tập khởi. Các loại vọng tưởng hý luận khiến tầm sanh khởi, các loại vọng tưởng hý luận khiến tầm hiện hữu. Do các loại vọng tưởng hý luận có mặt thì tầm có mặt. Do các loại vọng tưởng hý luận không có mặt thì tầm không có mặt".”
(Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Những sự suy nghĩ lung tung là vọng tưởng, từ những sự suy nghĩ này có sự tầm cầu, từ suy nghĩ về tầm cầu có tham muốn, từ tham muốn có ưa ghét, từ ưa ghét có tật đố và xan tham. Vua Trời hỏi rằng mọi người ai cũng mong cầu sự an lạc, bình an nhưng sự thật lại đối nghịch thì Đức Phật nói do tật đố và xan tham, vua Trời hỏi tại sao có tật đố và xan tham thì Phật nói vì ưa ghét, tại sao có ưa ghét vì có tham muốn, có muốn nên ưa, không muốn nên ghét, muốn nhưng lại bị tước đoạt cái muốn nên ghét, tại sao có tham muốn vì có sự tầm cầu, tại sao có tầm cầu vì những sự nghĩ tưởng lung tung, do không tu thiền định, không phòng hộ, hộ trì, chế ngự, nhiếp phục sáu căn, đặc biệt là ý căn để suy nghĩ lung tung nên mới có ra sự tầm cầu, từ sự tầm cầu mới có sự tham muốn, dục, từ ham muốn, dục mới có sự ưa ghét, từ ưa ghét có ra tật đố và xan tham, từ tật đố và xan tham mới có sự hận thù, đối nghịch, ác ý làm khổ nhau.
Sự tu tập thiền định là để dừng lại các vọng tưởng, kiểm soát các vọng tưởng, thấy rõ các sự suy tầm, để nhiếp phục và chế ngự các dục, để xả bỏ tâm ưa ghét trú trong tâm xả, chánh niệm trú xả, diệt trừ tham ưu ở đời chính là diệt trừ sự ưa ghét để đi đến chỗ bình an. Trong đại chúng không ưa ghét ai hết sẽ hòa hợp, bình an còn trong chúng có người mình thích có người mình không thích thì làm sao bình an được, cái thích và không thích đó là do dục và ái.
Ở đây chúng ta mới học nửa bài về những câu hỏi của vua Trời hỏi Đức Phật. Chúng ta cần chiêm nghiệm thêm tại sao ưa ghét do dục làm nhân duyên và chúng ta kiểm tra lại sự ưa ghét của chúng ta có làm khổ mình khổ người không, có hại mình hại người không. Mọi người luôn phải nhớ hoan hỉ, an lạc trong thiền định và làm dừng lại các sự vọng tưởng, an trú trong nhất hướng Chánh Pháp.
Bằng tình thương, bằng từ tâm, bằng tấm lòng luôn nghĩ đến sự an lạc, an ổn cho chính mình. Cũng vậy, con chân thành cầu nguyện sự an lạc, an ổn này cũng đến với chư vị nơi đây, chư vị nghe hiểu được âm thanh này cùng hữu tình trong trời đất rộng lớn này, trong đó có người thân của con. Mong tất cả đều được tâm thương này thấm nhuần dễ chịu, an lạc và bình yên, tìm được hạnh phúc và an vui cho mình, lòng yêu thương tự thân mình và yêu thương muôn loài. Mong tất cả có được trí tuệ, thấy được sự vô thường của đời sống này, tâm chán ngán từ bỏ những xác thân năm uẩn vô thường này để thể nhập vào tâm an tịnh, trong sạch, trầm lặng, giải thoát khỏi biển sanh tử và chấm dứt hết mọi khổ đau. Lòng tha thiết chân thành cầu nguyện an lạc, bình yên, trí tuệ và giải thoát đến với cùng khắp tất cả.
./.