Giá Trị Của Sám Hối Và 4 Thức Ăn
PHÁP ĐÀM NIKĀYA
GIÁ TRỊ CỦA SÁM HỐI VÀ 4 THỨC ĂN
Thích Minh Thành
Sự sám hối của chúng ta rất thiện lành, rất tốt, Đức Thế Tôn nói rằng nhận thấy tội lỗi là một tội lỗi, bày tỏ và nhận lỗi để sửa lỗi sẽ được lớn mạnh trong pháp và luật, cho nên sự sám hối này là chân chánh, đúng pháp sẽ làm cho chúng ta lớn mạnh trong giới luật, trong giáo pháp của Đức Phật, sự sám hối này không có gì là không tốt, ngược lại còn rất tốt, đây là một điển hình để chúng ta thực tập. Tất cả chúng ta ai cũng có tham sân si, bản ngã nhưng khi chưa thực tập nhìn nhận thân tâm chính xác, nhận diện năm uẩn thì mình sống chung với nó, ăn chung, ngủ chung, nói chung với nó và mình bị xâm chiếm, áp đảo, bị điều khiển, bị sai khiến, mình hoàn toàn không thấy không biết, lúc nào cũng cho rằng mình đúng, mình phải. Với cái nhìn sai lầm về thân, về tâm, về sự việc, sự vật như vậy sẽ dẫn chúng ta hết cái khổ này đến cái khổ khác, chúng ta cứ quanh quẩn trong tham sân si, sầu bi ưu não rồi chúng ta than khổ, cầu mong thoát khổ nhưng cứ đâm đầu vào khổ. Đó là sự bế tắt, lẩn quẩn không có lối thoát mà Đức Phật gọi là không có sự xuất ly. Cái đau đớn nhất là lấy lửa để dập lửa thì làm sao lửa tắt được, chính vì vậy mà chúng ta càng tìm hạnh phúc thì càng xa vời vì cái thấy không đúng. Sự sám hối này bắt đầu thấy đúng cho nên sám hối là vui, là tiến bộ, là tốt đẹp của người tu chứ không phải sám hối là xấu dở, đó là sự nhìn thấy thân tâm chính xác. Chúng ta có rơi vào trường hợp giống cô ở trên không? Cho nên không có gì để xem thường người ta, khi nghe thì nhìn lại đó cũng là chính mình đã đau khổ, chính mình làm khổ cho những người mình thương. Chúng ta quay trở về để nhìn những ý nghĩ mình đã nghĩ, những lời nói mình đã nói, những hành động mình đã làm, chúng ta thấy hình bóng chúng ta trong đó, chúng ta thấy hành vi chúng ta trong đó, chúng ta thấy ác nghiệp chúng ta trong đó. Những sự gieo nghiệp, tạo nghiệp, tăng trưởng nghiệp là củi lửa, là nhiên liệu tiếp tục đốt cháy chúng ta trong đời này và kiếp sau.
Cho nên điều đầu tiên vui mừng là chúng ta nhìn thấy chính xác và đúng đắn thân tâm mình. Điều thứ hai chưa vui là thấy nhưng chưa đủ lực để làm đúng như cái thấy vì sức còn yếu, đây là điều cần nỗ lực và cần phòng hộ không được buông thả, phóng túng. Vì thói quen, tập khí và những nghiệp lực là sức mạnh của thói quen đã hình thành bao nhiêu đời bao nhiêu kiếp trong thân ngũ uẩn này cho nên làm gì khó chịu là bung ra, chính vì vậy sự phòng hộ, hộ trì căn, cảnh giác là cực kì quan trọng, cần hộ trì tâm đối với các lậu hoặc tức là hộ trì ý căn, hộ trì thọ; tưởng; hành; thức cho nên sự hộ trì đó là dây cương cho mình. Chúng ta chạy xe mà thắng xe bị hư thì cực kì nguy hiểm, cũng vậy, tâm mình từ lâu đời hết sức nhuần nhuyễn trong tham dục ái, rất điêu luyện trong sân si, bản ngã nhưng lại không điêu luyện trong tâm từ nên Đức Phật nói cần tu tập tâm từ thành cỗ xe, thành căn cứ địa.
Này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo nào tu tập từ tâm giải thoát, làm cho sung mãn, thời vị ấy rất khó bị phi nhân não hại.
Do vậy, này các Tỳ-kheo, các Ông cần phải học tập như sau: "Chúng tôi sẽ tu tập từ tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ địa, an trú, tích lũy và khéo thực hiện". (Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương IX. Tương Ưng Thí Dụ, III. Gia Ðình)
An trú vững chắc trong tâm từ, làm sao để tâm từ được nhuần nhuyễn, tự tại, muốn trải tâm từ lúc nào là trải. Đây là lúc mình cần chuyển hướng, sự nhuần nhuyễn của mình là nhuần nhuyễn trong tham sân si, bản ngã còn bây giờ tu là nhuần nhuyễn từ bi hỷ xả, tứ vô lượng tâm, đây là chỗ công đức của chúng ta. Vì thế chúng ta cần ra công hạ thủ, những lúc bình thường cần thực tập tác ý, hộ trì căn, chánh niệm tỉnh giác thường xuyên thì khi có chuyện thì chánh niệm tỉnh giác được hiện hữu, còn mình không thực tập cho quen khi hữu sự nó ập vào xâm chiếm sắc; thọ; tưởng; hành; thức làm mình mất tự chủ nên lúc đó mình sống với thói quen của sân hận, thói quen của dục, nói cho đã miệng rồi sau đó hối hận. Nói trong sự buông lung phóng dật, nói trong sự không hộ trì, phòng hộ và cuối cùng mẹ con phải ly tán, vợ chồng đổ vỡ, anh em tương tàn chỉ vì sự không nhiếp phục các cảm thọ, không tu tập thân, tu tập giới, tu tập tuệ. Cho nên sự tu tập là sự thường trực nhìn lại thân tâm, kiểm tra, rà soát, điều chỉnh, cũng như chiếc xe cần kiểm tra định kì thường xuyên, có hư hỏng phát hiện sửa chữa ngay. Cũng vậy, mình biết tập khí trong tâm mình nặng nề nên cần phải đề phòng kĩ càng, tu tập khéo léo và để tâm cố gắng rất nhiều vào chỗ tập khí đó, không được xem thường vì mình đang mang chứng bệnh ung thư, nếu xem thường là mất mạng, không cẩn thận, không điều trị nghiêm túc nó sẽ hủy hoại sinh mạnh mình. Cho nên chúng ta nhìn thấy được là bước đầu tiên của sự tiến bộ, nếu không hiểu sẽ nghĩ rằng tu theo Nikāya sao thấy tham quá nhiều còn lúc trước không thấy, nhưng không thấy không có nghĩa là không có mà do nó có quá nhiều mà mình lại hòa chung với nó nên không thấy được nó, bây giờ mình tách riêng ra để nhìn lại mới thấy, đó gọi là tiến bộ. Bước thứ hai là bước ra công, dụng công, gắng công. Bước thứ nhất là tri kiến, bước thứ hai là tu tập, mình nghe pháp liên tục để tu tập chánh kiến, thấy đúng thân tâm nhưng sau khi thấy đúng thì sau đó là chánh tư duy, chánh ngữ, chánh tinh tấn, những sự nỗ lực sau đó cần được khởi động, hành trì, phòng hộ.
Tiếp theo là khi đã cố gắng ra công thì từ từ sẽ nhiếp phục, điều đặc biệt của chánh kiến, thấy đúng các lậu hoặc, phiền não là mình an trú trong tàm quý, điều này rất tuyệt diệu. Minh Thành đã có bài chia sẻ Từ nhục nhã đi đến Thánh quả, mọi người cần nghe kĩ bài này, nếu không thấy hổ thẹn, xấu hổ, sợ hãi thì không tu được, một khi đã thấy được dục tham ái, bản ngã, sân hận thì nhất định người đó sẽ phát khởi được sự tàm quý. Đây là công đức, là yếu tố của Thánh đạo, nó vận hành một cách tự nhiên và phải đi đến chỗ này, cũng giống như muốn đi đến Bảo Lộc thì phải đi qua Dầu Giây, đó là con đường của Thánh đạo cho nên phải đi đến chỗ tàm quý, tức là hổ thẹn và sợ hãi những ác bất thiện pháp của tự thân tâm, mình sẽ trú trong sự xấu hổ, mỗi khi nổi sân lên thì "Nhục nhã quá, còn cái nhục nào hơn cái nhục này không", mỗi khi bản ngã sanh khởi thì tác ý "Còn cái nhục nào hơn cái nhục này nữa không, còn cái xấu hổ nào hơn xấu hổ này nữa không? Suốt ngày cứ hơn thua, cau có, ta đây để được cái gì? Nhà ngươi bản ngã để được cái gì? Nhà ngươi hơn thua với những người thân thương rồi được cái gì hỡi này cái tâm ngu mê kia". Tác ý thật nhiều và mạnh mẽ để đánh đuổi những cảm giác, suy nghĩ ác bất thiện pháp, quét dọn rác bẩn tích cực, siêng năng, nhìn bên ngoài sạch nhưng trong hốc kẹt vẫn còn rác nên phải để tâm và tích cực quét rác, đó là Tứ Như Ý Túc, muốn quét (Dục Như Ý Túc), cố gắng quét (Tinh Tấn Như Ý Túc), để tâm trong khi quét (Tâm Như Ý Túc) và tìm đủ mọi cách để mau sạch nhất (Tư Duy Như Ý Túc). Mình muốn dẹp hết tham sân si bản ngã, nỗ lực để dẹp, để tâm vào nó dọn dẹp và tìm đủ cách hiệu quả, nhanh nhất để diệt tận nó. "Diệt tận" là từ được Đức Phật dùng trong kinh Nikāya rất nhiều, khi bản ngã sanh khởi lên là diệt tận, tức là làm sạch sẽ không còn lưu lại gì nữa, đó là mình đang vận dụng Tứ Như Ý Túc và Tứ Như Ý Túc là chìa khóa thành công của tất cả các pháp từ thế cho đến xuất thế, Thánh đến phàm. Vì thế khi trú được vào tàm quý, xấu hổ, hổ thẹn, sợ hãi thì bản ngã sẽ được lắng dịu, tự động phải lắng dịu không dám nhìn ai, thấy người ta khinh khi cũng không dám nhìn vì "tâm thức vô minh này đáng bị xem thường", người ta chê bai "Sao chị hôi quá" thì mình nói "đúng rồi, ngày nào em cũng quán bất tịnh", hoặc người ta nói "Sao chị hay sân quá vậy" thì mình "Dạ, đúng rồi, cái sân của em vẫn còn nặng, em đang điều trị bệnh tâm", mọi người thấy tu như vậy có an lạc không? Người ta nói có đúng sự thật không? Người ta nói đúng sự thật nhưng vì bản ngã không chấp nhận nên mình mới khổ, người ngồi kế bên mình nói "Sao hôm nay chị hôi quá vậy?" thì mình nói "Dạ đúng rồi, thân này bất tịnh không có sạch sẽ gì hết", còn người ta nói mình hay nổi giận thì mình cũng cho là đúng "em bị bệnh nặng hơi nặng, chưa điều trị hết". Ví dụ mình nói hay làm một điều gì đó mà mọi người nói "sao bản ngã của bà lớn quá vậy" thì cần quay lại nhiếp phục trong tâm "Đúng rồi, em thấy xấu hổ quá, cái tôi của em lớn quá nên đang nhiếp phục, xin lỗi mọi người" như vậy mọi người sẽ nể mình, đó là người chân chánh tu pháp chân chánh, đó là người trực diện với thân tâm, đó là người chân thật, đó cũng là chánh ngữ, chánh kiến, chánh hạnh. Ngược lai tâm không ngay thẳng nên bị người ta góp ý là nổi sân lên "Tôi sân hồi nào?". Có một câu chuyện nói về anh chàng nọ rất tốt bụng nhưng có tính nóng nảy, một anh khác nói rằng anh này cái gì cũng tốt mà có cái nóng tánh thì anh này nhào đến nắm cổ áo người ta nói "tôi nóng hồi nào", lâu lâu mình có giống anh chàng đó không? Đó là một cái tâm không chân thành, chân chánh, chính trực thừa nhận lỗi lầm của mình, trong kinh Nikāya các thầy Tỳ-kheo có lỗi sẽ được Đức Phật gọi lên hỏi có đúng như vậy không thì các thầy đều thừa nhận lỗi của mình, sau đó Đức Phật giảng pháp cho nghe rồi y cứ vào đó tu tập, sửa chỉnh trở thành Thánh nhân, A-la-hán. Còn bây giờ mà gọi lên là "Không phải con, tại bà kia", tại người này tại người kia chứ không phải tại mình, đó là tâm không chính trực cho nên sám hối là chính trực, nhìn thẳng vào sự thật của lậu hoặc, tham sân si, bản ngã. Đào bới, moi móc nó ra, phải biết tên tuổi, mặt mũi, tánh tình mới xử lý triệt để cho nên phương pháp sám hối cực kì quan trọng, nếu không sám hối thì không tu tiến bộ được nhưng cần sám hối mỗi ngày chứ không phải đợi đến nửa tháng mới lên sám hối. Bất cứ ngày giờ nào có thời gian là lên bàn Phật lôi ra những bệnh nặng nhất để phát lồ trước Tam bảo hoặc trước các bậc thiện tri thức, phơi bày nó ra. Mỗi lần sám hối thì tâm mình nhớ lại chuyện đó, mỗi lần phát khởi sự tàm quý xấu hổ là bắt đầu mình rời xa nó, mỗi lần phát nguyện "Con không muốn làm người như vậy nữa. Con không muốn sân si, bản ngã. Con không muốn xấu hổ như vậy nữa. Con muốn làm người trong sạch, cao thượng, bao dung rộng rãi chứ không muốn làm người thấp hèn, nhỏ mọn", mỗi lần mình nói ra như vậy là mỗi lần mình lánh xa bất thiện pháp một chút.
Người ta sẵn sàng chi rất nhiều tiền để quảng cáo đồ này tốt lắm, đồ kia tốt lắm, nói hoài như vậy thì sẽ đi vô đầu mọi người rồi mọi người sẽ mua món đồ đó. Sự tu của mình là việc đi vào và khắc ghi trong thân tâm, tức là mỗi lần sám hối là khắc ghi "Đây là vết nhơ, cái này là vết nhục, đây là cái xấu hổ, thấp hèn", mỗi ngày đều nhắc nhở bản thân như vậy thì đến khi cái xấu ác bày hiện ra thì mình sẽ chán ngán, ghê tởm, đó gọi là nhàm chán viễn ly, từ từ sẽ xuất ly. Sám hối là tự nhắc bản thân "Cái này là nhục nhã", "cái này là xấu hổ", "cái này là hèn hạ", "cái này là đau khổ", tự nhắc nhở hoài thì khi nó khởi lên sẽ thấy nhục nhã, thấp kém, nó sẽ tự động khắc ghi vào tâm, vào trí tuệ của mình làm mình lánh xa, chấm dứt, đoạn tận, đó là công năng của sám hối và Như lý tác ý. Ví dụ hở tí là la lên, giận dỗi, tức giận thì tác ý với cảm giác sân "Người không muốn làm mà muốn làm chó hả", "người tốt đẹp, tốt lành không muốn làm mà muốn đời sau làm súc sanh phải không? Hỡi này cảm giác sân hận muốn làm súc sanh lắm phải không". Cứ tác ý mạnh mẽ vào thì quý vị sẽ thấy phép màu xuất hiện trong tâm mình nhưng cần tác ý liên tục như quảng cáo trên truyền hình, cứ nhắc nhở tác ý hoài mình sẽ xa lìa nó, đó là công năng của chánh tư duy, của Thánh tư duy, của Như lý tác ý, là sức mạnh của trí tuệ, còn đằng này nó khởi lên là mình để im rồi đi theo nó luôn, như vậy không có sự tu tập, không có tứ chánh cần để diệt ác sanh thiện, cho nên người nào siêng năng tác ý sẽ có bước tiến nhảy vọt nhưng cần điều hòa chỉ quán, khi tâm mệt cần tu chỉ, thực hành ba pháp, lúc nào cần thiết phải triển khai thiền quán mạnh mẽ. Đây là phần Minh Thành chia sẻ về ý nghĩa, nguyên nhân, mục đích, phương pháp thực tập của sám hối, tàm quý, Như lý tác ý.
Phật tử: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Kính thưa sư phụ, kính thưa quý sư cô, kính thưa toàn thể đại chúng. Con xin có một câu hỏi về hộ trì căn, kính thưa thầy trong chánh niệm khi ăn, khi quay về rõ biết các thức ăn, rõ biết hình bóng các thức ăn trong miệng, rõ biết trong khoang miệng, rõ biết các vị nhưng để hộ trì được thì làm thế nào để nắm giữ được ngay chỗ ba pháp gặp nhau, nghĩa là làm sao để an trú được trong căn – trần – thức để thọ; tưởng; hành được lắng dịu. Cũng như khi mắt thấy sắc thì con quay về cảm giác đôi mắt, cảm giác sự rõ biết nhưng làm sao để trú được trong ba pháp đó để không phóng tâm. Mô Phật, con xin hỏi thầy như vậy.
Sư Phụ: Mình trú trong cảm giác toàn thân chứ không phải trú trong mắt, các sắc hay nhãn thức. Cô nói trú trong ba pháp tức là cảm giác toàn thân, rõ biết trước mặt, nội tâm tỉnh giác hay là chú trong ba pháp là căn – trần – thức? Mình không cần trú trong căn – trần – thức mà mình trú trong ba pháp được thực tập, nói đơn giản là cảm giác toàn thân vì khi lưỡi chạm vào thức ăn có sự rõ biết hương vị thì chắc chắn phải có thọ, xúc sanh thọ, có những cảm giác nhưng làm sao để hộ trì trong lúc đó, để không buông lung phóng dật thì có bài cho mình tụng là ăn không phải để vui đùa, ăn không phải để đam mê, ăn không phải để ưa thích, ăn không phải để làm đẹp. Tức là khi thấy thích thú, khoan khoái trong khi ăn thì cần tác ý, chỉ có tác ý thì tâm mới ly tham, ly dục, ly ái đối với thức ăn, "không phải ăn để thưởng thức, ăn để đam mê, không phải ăn để vui đùa, khoái khẩu, không phải ăn để làm đẹp mà ăn để bảo dưỡng thân này để thực hành pháp". Tác ý như vậy thì thọ; tưởng; hành về dục tham ái trong khi ăn bị Như lý tác ý nhiếp phục, chế ngự, đánh đuổi. Không phải để thức ăn vào là không biết vị gì hết, vẫn biết ngon hay không ngon vì tiếp xúc phải có cảm giác, mà có cảm giác thì chắc chắn phải rơi vào ba loại cảm thọ và ba cái này đều có tham sân si, thích thì có tham, không thích thì có sân "Nấu gì dở quá vậy", còn si là trơ ra không ngon cũng không dở nhưng có khi lại rơi vào thưởng thức món ăn cho nên tu tập là trú trong cảm giác toàn thân, tức là lúc nào cũng phải thực hành ba pháp, khi tiếp xúc thì thọ sanh khởi nên nội tâm phải tỉnh giác biết trong tâm đang có gì sanh, nếu là thích thú, đam mê thì tác ý "Do ưa thích những thứ này làm mất thời gian tu học, do đam mê những thứ này nên mới tạo ra cái thân này hoài, do say đắm trong cái này nên vòng luân hồi tiếp diễn Do thức ăn tập khởi nên sắc tập khởi, do thức ăn đoạn diệt nên sắc đoạn diệt, nhà người thích sắc tập khởi hay thích sắc đoạn diệt? Nếu muốn giải thoát khỏi sắc uẩn thì đừng đam mê những thứ này nữa". Đó là sự dụng công của mình trong khi ăn là tác ý, mọi người cần nhớ sự tác ý là chánh tư duy, là tuệ lực nhưng trước khi tác ý cần nhìn ngó, kiểm tra nó. Nhìn ngó ở đây gồm ba phần là thân – tâm – cảnh tức là căn – trần – thức, chánh niệm trước mặt tức là chánh niệm đối với ngoại trần, cảm giác toàn thân, bên trong là nội tâm tỉnh giác, lúc đó mười tám giới đều được kiểm soát. Chánh niệm trước mặt là cảnh, cảm giác toàn thân là thân, nội tâm tỉnh giác là xem thọ; tưởng; hành gì đang khởi là thức, ngay đó sự tiếp xúc được kiểm soát trong sáu căn, sáu trần, sáu thức cho nên sự tu học vi tế đến vậy. Vì thế nửa tháng được ăn cơm chánh quán thọ thực thì cũng đừng cảm thấy khó chịu, những người lần đầu tiên tham dự sẽ thấy khó chịu vì ăn lâu nhưng không phải vậy, đó là đang học cách ăn của Đức Phật, của các bậc Thánh Tăng, cách ăn của chư vị Tỳ-kheo thời Đức Phật còn tại thế. Ăn để thấy dục trong thức ăn, sự thúc giục; ăn để nhìn thấy ái, sự khoan khoái, thích thú đối với các vị; ăn để nhìn thấy tham, ham thích, ham mê; ăn để thấy dục tham ái là cái ăn của bậc Thánh, của trí tuệ, cái ăn của sự chánh niệm tỉnh giác, của sự quán chiếu. Một trong bốn nguyên nhân để thân này hình thành là đoàn thực, tức là những thức ăn bốc, nhai, gắp.
Này các Tỳ-kheo, có bốn loại đồ ăn này khiến cho các loại sanh vật hay các loại chúng sanh được tồn tại hay khiến cho các loại sắp sanh thành được thọ sanh. Thế nào là bốn?
Đoàn thực hoặc thô hoặc tế,
Xúc thực,
Tư niệm thực,
Thức thực.
Này các Tỳ-kheo, bốn loại đồ ăn này khiến cho các loại sanh vật hay khiến cho các loại chúng sanh được tồn tại hay khiến cho các loại sắp sanh thành được thọ sanh.
Và này các Tỳ-kheo, bốn loại đồ ăn này do cái gì làm nhân, do cái gì tập khởi, do cái gì tác sanh, do cái gì làm cho hiện hữu? Bốn loại đồ ăn này do ái làm nhân, do ái tập khởi, do ái tác sanh, do ái làm hiện hữu. (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (a), II. Phẩm Đồ Ăn, XI. Các Loại Đồ Ăn)
Yêu thích bốn loại thức ăn này là còn sanh tử, còn đầu thai, cho nên các bậc Thánh Tăng, các bậc A-la-hán được Đức Phật dạy ăn rất kĩ vì các ngài muốn chấm dứt sanh tử. Mình phải biết rằng mình chưa làm được hoặc chưa muốn làm nhưng phải hiểu chính xác chánh kiến về cách ăn mà mình đang tu tập, tức là đoạn ái, dục, tham trong khi ăn của các bậc chân tu. Còn thích thức ăn thì còn mang tấm thân này, nói gọn là còn thích cái nào thì phải trở lại đây để tìm lại nữa, còn thích cái nào thì đời sống tiếp theo của mình sẽ trở lại để đi tìm cái đó, chính vì vậy giải thoát là không còn thích gì nữa để không còn trở lại tìm những thứ đó nữa, cho nên ái tận giải thoát là câu nói trong kinh Nikāya, bài kinh Đoạn tận ái.
(Đoạn tận luân hồi: Giải thoát rốt ráo)
Khi vị ấy thấy sắc bằng mắt, vị ấy không tham ái đối với sắc đẹp, không ghét bỏ đối với sắc xấu, vị ấy sống an trú niệm trên thân, với tâm vô lượng. Vị ấy như thật tuệ tri tâm giải thoát, tuệ giải thoát, chính nhờ chúng mà các ác bất thiện pháp của vị ấy được trừ diệt, không có dư tàn. Như vậy từ bỏ (thuận nghịch), có cảm thọ nào khởi lên: lạc thọ, khổ thọ, hay bất khổ bất lạc thọ; vị ấy không tùy hỷ, không hoan nghênh, không tham trước thọ ấy. Vì vị ấy không tùy hỷ, không hoan nghênh, không tham trước thọ ấy, nếu có dục hỷ nào đối với các cảm thọ, dục hỷ ấy được trừ diệt. Do dục hỷ của vị ấy diệt nên thủ diệt. Do thủ diệt nên hữu diệt. Do hữu diệt nên sanh diệt. Do sanh diệt nên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não diệt. Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này.
Khi vị ấy nghe tiếng bằng tai... khi vị ngửi hương bằng mũi... Khi vị ấy nếm vị bằng lưỡi... Khi vị ấy cảm xúc bằng thân... Khi vị ấy nhận thức pháp bằng ý, vị ấy không tham ái đối với pháp tốt, không ghét bỏ đối với pháp xấu. Vị ấy sống an trú niệm trên thân, với tâm vô lượng. Vị ấy như thật tuệ tri tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Chính nhờ chúng mà các ác, bất thiện pháp của vị ấy được trừ diệt, không có dư tàn. Như vậy, vị ấy đoạn trừ (thuận nghịch) có cảm thọ nào khởi lên: lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ; vị ấy không tùy hỷ, không hoan nghênh, không tham trước thọ ấy. Vì vị ấy không tùy hỷ, không hoan nghênh, không tham trước thọ ấy, nếu có dục hỷ nào đối với các cảm thọ, dục hỷ ấy được trừ diệt. Do dục hỷ của vị ấy diệt nên thủ diệt. Do thủ diệt nên hữu diệt. Do hữu diệt nên sanh diệt. Do sanh diệt nên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não diệt. Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này.
(Kết luận)
Này các Tỳ-kheo, các Ông hãy thọ trì ái tận giải thoát này, được Ta nói một cách tóm tắt, nhưng (phải nhớ là) Tỳ-kheo Sati, con của người đánh cá, đã bị mắc trong cái lưới lớn của ái, trong sự rối loạn của ái.
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỳ-kheo ấy hoan hỉ, tín thọ lời Thế Tôn dạy. (Trung Bộ Kinh, 38. Đại kinh Đoạn tận ái)
Loại thứ ăn thứ hai là xúc thực. Tại sao lâu lâu mình lại muốn đi chơi, đi đây đi đó để con mắt được tiếp xúc? Tại sao mình phải xem tivi, cần điện thoại hoặc Ipad để lên mạng, đó là xúc thực. Nhưng khi ăn phải chọn lựa, nếu không chọn thì ngộ độc thực phẩm, khi tiếp xúc mà không chọn lựa để xúc với ác bất thiện pháp thì bị ngộ độc tinh thần. Giới trẻ ngày nay bị ngộ độc với cái xúc rất nhiều, tiếp xúc với những trò Games rồi thoát ra không được, trở thành bệnh thậm chí là chết trên bàn chơi Games. Cho nên trí tuệ của Đức Phật giải mã tất cả mọi thứ trên thế giới, mọi người nghe thêm bài Giải mã đau khổ toàn cầu trên toàn thế giới, đây là bài kinh Đại khổ uẩn, Đức Phật giảng giải ra nguyên nhân đau khổ của toàn thế giới này từ đâu mà có, chính là từ dục ái. Tại sao có những người xì ke, đua xe, những người thích nhậu nhẹt đều từ dục ái, dính vào cảm thọ rồi đi ra không được, trở lại vấn đề tại sao phải lựa chọn sự tiếp xúc, mình ngồi nghe pháp từ sáng giờ là mình đang xúc với Thánh đạo, Thánh trí, Thánh Pháp, đây là sự tiếp xúc tối thượng trong tất cả sự tiếp xúc. Trong bài kinh nói về sáu sự vô thượng, Đức Phật đã nói dù cho thấy cảnh gì đẹp nhất trên đời, voi ngựa, xe cộ, thành quách cũng xem như không thấy gì mà thấy được Như Lai và đệ tử của Như Lai là vô thượng kiến, là cái thấy tối thượng. Dù cho có nghe tất cả âm thanh trên đời cũng không gọi là nghe mà nghe được Chánh Pháp mới gọi là vô thượng văn, là cái nghe tối thượng cao tột.
- Này các Tỳ-kheo, có sáu pháp vô thượng này. Thế nào là sáu?
Thấy vô thượng, nghe vô thượng, lợi đắc vô thượng, học tập vô thượng, phục vụ vô thượng, tùy niệm vô thượng. Và này các Tỳ-kheo, thế nào là thấy vô thượng?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, có người đi xem voi báu, đi xem ngựa báu, đi xem châu báu, hay đi xem các vật lớn nhỏ, hay đi xem Sa-môn, hay Bà-la-môn có tà kiến, có tà hạnh. Này các Tỳ-kheo, đây có phải là thấy không? Ta nói rằng: Đây là không thấy". Sự thấy ấy, này các Tỳ-kheo, là hạ liệt, là hèn hạ, là phàm phu, không xứng Thánh hạnh, không liên hệ đến mục đích, không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Này các Tỳ-kheo, ai đi yết kiến Thế Tôn hay đệ tử Thế Tôn, với lòng tin an trú, với lòng ái mộ an trú, nhứt hướng thuần tín, thời này các Tỳ-kheo, đây là thấy vô thượng, đưa đến thanh tịnh cho các loài chúng sanh, vượt qua sầu bi, chấm dứt khổ ưu, đạt được chánh lý, chứng ngộ Niết-bàn, tức là đi yết kiến Như Lai hay đệ tử Như Lai, với lòng tin an trú, với lòng ái mộ an trú, nhứt hướng thuần tín. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là thấy vô thượng, đây là thấy vô thượng. Còn nghe vô thượng là gì?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, có người đi nghe tiếng trống, đi nghe tiếng sáo, đi nghe tiếng ca, hay đi nghe tiếng cao thấp khác nhau, hay đi nghe pháp các Sa-môn hay Bà-la-môn có tà kiến, tà hạnh. Này các Tỳ-kheo, đây có phải là nghe không? Ta nói rằng: "Ðây là không nghe". Sự nghe ấy, này các Tỳ-kheo, là hạ liệt, là hèn hạ, là phàm phu, không xứng Thánh hạnh, không liên hệ đến mục đích, không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Này các Tỳ-kheo, ai đi đến để nghe pháp của Như Lai hay của đệ tử Như Lai, với lòng tin an trú, với lòng ái mộ an trú, nhứt hướng thuần tín, thời này các Tỳ-kheo, đây là sự nghe vô thượng, đưa đến thanh tịnh cho các loài chúng sanh, vượt qua sầu bi, chấm dứt khổ ưu, đạt được chánh lý, chứng ngộ Niết-bàn, tức là đi nghe pháp của Như Lai hay của đệ tử Như Lai, với lòng tin an trú, với lòng ái mộ an trú, nhứt hướng thuần tín. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là nghe vô thượng, đây là thấy vô thượng, nghe vô thượng. (Tăng Chi Bộ, Chương VI - Sáu Pháp, III. Phẩm Trên Tất Cả, (X) Trên Tất Cả)
Sự tu của mình là thay đổi sự tiếp xúc, thay vì xúc với bài bạc, màn hình tivi, với những thú vui thường tình thì bây giờ tiếp xúc với Thánh trí, Thánh đạo.
Loại thức ăn thứ ba là tư niệm thực. Tư niệm là nghĩ nhớ, ngồi đây nhưng nghĩ nhớ chuyện ngày xưa, đó cũng là một loại thức ăn nuôi ngũ uẩn. Khi nhớ thì thọ; tưởng; hành sanh khởi, những cảm giác hiện về, những hình bóng ngày xưa gợi lại, những suy nghĩ tiếp nối. Nếu thọ; tưởng; hành nhớ về một người giận thì lúc đó vận hành theo ngũ uẩn sân, sắc sân, thọ sân, tưởng sân, hành sân, thức sân. Nếu nhớ về người thương yêu thì sắc ái, thọ ái, tưởng ái, hành ái, thức ái. Ngồi một mình cũng tưởng ra những chuyện ngày xưa cho nên quay trở về ba pháp, rõ biết trước mặt là mình trở về thực tại, sự thật trong giây phút hiện tại. Mình biết mình đang ngồi đây chứ không phải trở về những ngày xưa cũ, nếu nghĩ nhớ về ngày xưa là tư niệm thực, là thức ăn nuôi dưỡng ngũ uẩn.
Cuối cùng là thức thực, là thích nhận thức, thích rõ biết, thích đi tìm kiếm những kiến thức, tri thức nhưng chỉ là kiến thức trong tham sân si, bản ngã, nuôi lớn lậu hoặc. Chỗ hay của tu là phải biết diệt thức, khi thấy hoặc nghe mà nổi sân si lên thì "mày mù luôn đi, thấy làm chi để sân si", "mày điếc luôn đi, nghe làm chi để bực mình", diệt tận cái thấy nghe này luôn vì nó thiêu đốt tâm can, hại mình hại người. Phải có chánh niệm tỉnh giác chấm dứt cái thức sanh ra tham sân si, không cho tiếp nối, mỗi lần thấy điều gì mà giận lên là tác ý "Thấy mà giận thì thấy làm gì? Ngươi có muốn trở thành người mù không mà nhìn là giận, nhìn là sân", tác ý như vậy để đánh đuổi cảm giác sân hận, gọi là thọ do nhãn xúc sanh, mình nói với tâm sân hận "Nhìn là sân hận, bản ngã, liếc háy rồi mai đây mù nha". Đó là bốn loại thức ăn, thức ăn cầm nắm, thức ăn của sự tiếp xúc, thức ăn của sự nghĩ nhớ và thức ăn của thức để nuôi ngũ uẩn vì thế phải chánh niệm và tỉnh giác với cả bốn loại thức ăn chứ không chỉ riêng đoàn thực, cần phải kiểm soát dục tham ái, chấp thủ, bản ngã trong bốn loại thức ăn đó. Vẫn là sự quay lại nhìn kĩ, kiểm soát cảm thọ và tác ý, đó là cái tu chánh yếu của mình bây giờ. Con kính chúc đại chúng tinh tấn, nửa tháng chỉ có một ngày sám hối nên cố gắng tinh tấn, về nhà cố gắng nghe pháp, ngồi thiền, sám hối và Như lý tác ý, phải cố gắng đoạt được vé trong chuyến đò của thời mạt pháp này, đừng để trễ chuyến đò.
Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả đệ tử và chúng sanh đều trọn thành Phật đạo./.
GIÁ TRỊ CỦA SÁM HỐI VÀ 4 THỨC ĂN
Thích Minh Thành
Sự sám hối của chúng ta rất thiện lành, rất tốt, Đức Thế Tôn nói rằng nhận thấy tội lỗi là một tội lỗi, bày tỏ và nhận lỗi để sửa lỗi sẽ được lớn mạnh trong pháp và luật, cho nên sự sám hối này là chân chánh, đúng pháp sẽ làm cho chúng ta lớn mạnh trong giới luật, trong giáo pháp của Đức Phật, sự sám hối này không có gì là không tốt, ngược lại còn rất tốt, đây là một điển hình để chúng ta thực tập. Tất cả chúng ta ai cũng có tham sân si, bản ngã nhưng khi chưa thực tập nhìn nhận thân tâm chính xác, nhận diện năm uẩn thì mình sống chung với nó, ăn chung, ngủ chung, nói chung với nó và mình bị xâm chiếm, áp đảo, bị điều khiển, bị sai khiến, mình hoàn toàn không thấy không biết, lúc nào cũng cho rằng mình đúng, mình phải. Với cái nhìn sai lầm về thân, về tâm, về sự việc, sự vật như vậy sẽ dẫn chúng ta hết cái khổ này đến cái khổ khác, chúng ta cứ quanh quẩn trong tham sân si, sầu bi ưu não rồi chúng ta than khổ, cầu mong thoát khổ nhưng cứ đâm đầu vào khổ. Đó là sự bế tắt, lẩn quẩn không có lối thoát mà Đức Phật gọi là không có sự xuất ly. Cái đau đớn nhất là lấy lửa để dập lửa thì làm sao lửa tắt được, chính vì vậy mà chúng ta càng tìm hạnh phúc thì càng xa vời vì cái thấy không đúng. Sự sám hối này bắt đầu thấy đúng cho nên sám hối là vui, là tiến bộ, là tốt đẹp của người tu chứ không phải sám hối là xấu dở, đó là sự nhìn thấy thân tâm chính xác. Chúng ta có rơi vào trường hợp giống cô ở trên không? Cho nên không có gì để xem thường người ta, khi nghe thì nhìn lại đó cũng là chính mình đã đau khổ, chính mình làm khổ cho những người mình thương. Chúng ta quay trở về để nhìn những ý nghĩ mình đã nghĩ, những lời nói mình đã nói, những hành động mình đã làm, chúng ta thấy hình bóng chúng ta trong đó, chúng ta thấy hành vi chúng ta trong đó, chúng ta thấy ác nghiệp chúng ta trong đó. Những sự gieo nghiệp, tạo nghiệp, tăng trưởng nghiệp là củi lửa, là nhiên liệu tiếp tục đốt cháy chúng ta trong đời này và kiếp sau.
Cho nên điều đầu tiên vui mừng là chúng ta nhìn thấy chính xác và đúng đắn thân tâm mình. Điều thứ hai chưa vui là thấy nhưng chưa đủ lực để làm đúng như cái thấy vì sức còn yếu, đây là điều cần nỗ lực và cần phòng hộ không được buông thả, phóng túng. Vì thói quen, tập khí và những nghiệp lực là sức mạnh của thói quen đã hình thành bao nhiêu đời bao nhiêu kiếp trong thân ngũ uẩn này cho nên làm gì khó chịu là bung ra, chính vì vậy sự phòng hộ, hộ trì căn, cảnh giác là cực kì quan trọng, cần hộ trì tâm đối với các lậu hoặc tức là hộ trì ý căn, hộ trì thọ; tưởng; hành; thức cho nên sự hộ trì đó là dây cương cho mình. Chúng ta chạy xe mà thắng xe bị hư thì cực kì nguy hiểm, cũng vậy, tâm mình từ lâu đời hết sức nhuần nhuyễn trong tham dục ái, rất điêu luyện trong sân si, bản ngã nhưng lại không điêu luyện trong tâm từ nên Đức Phật nói cần tu tập tâm từ thành cỗ xe, thành căn cứ địa.
Này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo nào tu tập từ tâm giải thoát, làm cho sung mãn, thời vị ấy rất khó bị phi nhân não hại.
Do vậy, này các Tỳ-kheo, các Ông cần phải học tập như sau: "Chúng tôi sẽ tu tập từ tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ địa, an trú, tích lũy và khéo thực hiện". (Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương IX. Tương Ưng Thí Dụ, III. Gia Ðình)
An trú vững chắc trong tâm từ, làm sao để tâm từ được nhuần nhuyễn, tự tại, muốn trải tâm từ lúc nào là trải. Đây là lúc mình cần chuyển hướng, sự nhuần nhuyễn của mình là nhuần nhuyễn trong tham sân si, bản ngã còn bây giờ tu là nhuần nhuyễn từ bi hỷ xả, tứ vô lượng tâm, đây là chỗ công đức của chúng ta. Vì thế chúng ta cần ra công hạ thủ, những lúc bình thường cần thực tập tác ý, hộ trì căn, chánh niệm tỉnh giác thường xuyên thì khi có chuyện thì chánh niệm tỉnh giác được hiện hữu, còn mình không thực tập cho quen khi hữu sự nó ập vào xâm chiếm sắc; thọ; tưởng; hành; thức làm mình mất tự chủ nên lúc đó mình sống với thói quen của sân hận, thói quen của dục, nói cho đã miệng rồi sau đó hối hận. Nói trong sự buông lung phóng dật, nói trong sự không hộ trì, phòng hộ và cuối cùng mẹ con phải ly tán, vợ chồng đổ vỡ, anh em tương tàn chỉ vì sự không nhiếp phục các cảm thọ, không tu tập thân, tu tập giới, tu tập tuệ. Cho nên sự tu tập là sự thường trực nhìn lại thân tâm, kiểm tra, rà soát, điều chỉnh, cũng như chiếc xe cần kiểm tra định kì thường xuyên, có hư hỏng phát hiện sửa chữa ngay. Cũng vậy, mình biết tập khí trong tâm mình nặng nề nên cần phải đề phòng kĩ càng, tu tập khéo léo và để tâm cố gắng rất nhiều vào chỗ tập khí đó, không được xem thường vì mình đang mang chứng bệnh ung thư, nếu xem thường là mất mạng, không cẩn thận, không điều trị nghiêm túc nó sẽ hủy hoại sinh mạnh mình. Cho nên chúng ta nhìn thấy được là bước đầu tiên của sự tiến bộ, nếu không hiểu sẽ nghĩ rằng tu theo Nikāya sao thấy tham quá nhiều còn lúc trước không thấy, nhưng không thấy không có nghĩa là không có mà do nó có quá nhiều mà mình lại hòa chung với nó nên không thấy được nó, bây giờ mình tách riêng ra để nhìn lại mới thấy, đó gọi là tiến bộ. Bước thứ hai là bước ra công, dụng công, gắng công. Bước thứ nhất là tri kiến, bước thứ hai là tu tập, mình nghe pháp liên tục để tu tập chánh kiến, thấy đúng thân tâm nhưng sau khi thấy đúng thì sau đó là chánh tư duy, chánh ngữ, chánh tinh tấn, những sự nỗ lực sau đó cần được khởi động, hành trì, phòng hộ.
Tiếp theo là khi đã cố gắng ra công thì từ từ sẽ nhiếp phục, điều đặc biệt của chánh kiến, thấy đúng các lậu hoặc, phiền não là mình an trú trong tàm quý, điều này rất tuyệt diệu. Minh Thành đã có bài chia sẻ Từ nhục nhã đi đến Thánh quả, mọi người cần nghe kĩ bài này, nếu không thấy hổ thẹn, xấu hổ, sợ hãi thì không tu được, một khi đã thấy được dục tham ái, bản ngã, sân hận thì nhất định người đó sẽ phát khởi được sự tàm quý. Đây là công đức, là yếu tố của Thánh đạo, nó vận hành một cách tự nhiên và phải đi đến chỗ này, cũng giống như muốn đi đến Bảo Lộc thì phải đi qua Dầu Giây, đó là con đường của Thánh đạo cho nên phải đi đến chỗ tàm quý, tức là hổ thẹn và sợ hãi những ác bất thiện pháp của tự thân tâm, mình sẽ trú trong sự xấu hổ, mỗi khi nổi sân lên thì "Nhục nhã quá, còn cái nhục nào hơn cái nhục này không", mỗi khi bản ngã sanh khởi thì tác ý "Còn cái nhục nào hơn cái nhục này nữa không, còn cái xấu hổ nào hơn xấu hổ này nữa không? Suốt ngày cứ hơn thua, cau có, ta đây để được cái gì? Nhà ngươi bản ngã để được cái gì? Nhà ngươi hơn thua với những người thân thương rồi được cái gì hỡi này cái tâm ngu mê kia". Tác ý thật nhiều và mạnh mẽ để đánh đuổi những cảm giác, suy nghĩ ác bất thiện pháp, quét dọn rác bẩn tích cực, siêng năng, nhìn bên ngoài sạch nhưng trong hốc kẹt vẫn còn rác nên phải để tâm và tích cực quét rác, đó là Tứ Như Ý Túc, muốn quét (Dục Như Ý Túc), cố gắng quét (Tinh Tấn Như Ý Túc), để tâm trong khi quét (Tâm Như Ý Túc) và tìm đủ mọi cách để mau sạch nhất (Tư Duy Như Ý Túc). Mình muốn dẹp hết tham sân si bản ngã, nỗ lực để dẹp, để tâm vào nó dọn dẹp và tìm đủ cách hiệu quả, nhanh nhất để diệt tận nó. "Diệt tận" là từ được Đức Phật dùng trong kinh Nikāya rất nhiều, khi bản ngã sanh khởi lên là diệt tận, tức là làm sạch sẽ không còn lưu lại gì nữa, đó là mình đang vận dụng Tứ Như Ý Túc và Tứ Như Ý Túc là chìa khóa thành công của tất cả các pháp từ thế cho đến xuất thế, Thánh đến phàm. Vì thế khi trú được vào tàm quý, xấu hổ, hổ thẹn, sợ hãi thì bản ngã sẽ được lắng dịu, tự động phải lắng dịu không dám nhìn ai, thấy người ta khinh khi cũng không dám nhìn vì "tâm thức vô minh này đáng bị xem thường", người ta chê bai "Sao chị hôi quá" thì mình nói "đúng rồi, ngày nào em cũng quán bất tịnh", hoặc người ta nói "Sao chị hay sân quá vậy" thì mình "Dạ, đúng rồi, cái sân của em vẫn còn nặng, em đang điều trị bệnh tâm", mọi người thấy tu như vậy có an lạc không? Người ta nói có đúng sự thật không? Người ta nói đúng sự thật nhưng vì bản ngã không chấp nhận nên mình mới khổ, người ngồi kế bên mình nói "Sao hôm nay chị hôi quá vậy?" thì mình nói "Dạ đúng rồi, thân này bất tịnh không có sạch sẽ gì hết", còn người ta nói mình hay nổi giận thì mình cũng cho là đúng "em bị bệnh nặng hơi nặng, chưa điều trị hết". Ví dụ mình nói hay làm một điều gì đó mà mọi người nói "sao bản ngã của bà lớn quá vậy" thì cần quay lại nhiếp phục trong tâm "Đúng rồi, em thấy xấu hổ quá, cái tôi của em lớn quá nên đang nhiếp phục, xin lỗi mọi người" như vậy mọi người sẽ nể mình, đó là người chân chánh tu pháp chân chánh, đó là người trực diện với thân tâm, đó là người chân thật, đó cũng là chánh ngữ, chánh kiến, chánh hạnh. Ngược lai tâm không ngay thẳng nên bị người ta góp ý là nổi sân lên "Tôi sân hồi nào?". Có một câu chuyện nói về anh chàng nọ rất tốt bụng nhưng có tính nóng nảy, một anh khác nói rằng anh này cái gì cũng tốt mà có cái nóng tánh thì anh này nhào đến nắm cổ áo người ta nói "tôi nóng hồi nào", lâu lâu mình có giống anh chàng đó không? Đó là một cái tâm không chân thành, chân chánh, chính trực thừa nhận lỗi lầm của mình, trong kinh Nikāya các thầy Tỳ-kheo có lỗi sẽ được Đức Phật gọi lên hỏi có đúng như vậy không thì các thầy đều thừa nhận lỗi của mình, sau đó Đức Phật giảng pháp cho nghe rồi y cứ vào đó tu tập, sửa chỉnh trở thành Thánh nhân, A-la-hán. Còn bây giờ mà gọi lên là "Không phải con, tại bà kia", tại người này tại người kia chứ không phải tại mình, đó là tâm không chính trực cho nên sám hối là chính trực, nhìn thẳng vào sự thật của lậu hoặc, tham sân si, bản ngã. Đào bới, moi móc nó ra, phải biết tên tuổi, mặt mũi, tánh tình mới xử lý triệt để cho nên phương pháp sám hối cực kì quan trọng, nếu không sám hối thì không tu tiến bộ được nhưng cần sám hối mỗi ngày chứ không phải đợi đến nửa tháng mới lên sám hối. Bất cứ ngày giờ nào có thời gian là lên bàn Phật lôi ra những bệnh nặng nhất để phát lồ trước Tam bảo hoặc trước các bậc thiện tri thức, phơi bày nó ra. Mỗi lần sám hối thì tâm mình nhớ lại chuyện đó, mỗi lần phát khởi sự tàm quý xấu hổ là bắt đầu mình rời xa nó, mỗi lần phát nguyện "Con không muốn làm người như vậy nữa. Con không muốn sân si, bản ngã. Con không muốn xấu hổ như vậy nữa. Con muốn làm người trong sạch, cao thượng, bao dung rộng rãi chứ không muốn làm người thấp hèn, nhỏ mọn", mỗi lần mình nói ra như vậy là mỗi lần mình lánh xa bất thiện pháp một chút.
Người ta sẵn sàng chi rất nhiều tiền để quảng cáo đồ này tốt lắm, đồ kia tốt lắm, nói hoài như vậy thì sẽ đi vô đầu mọi người rồi mọi người sẽ mua món đồ đó. Sự tu của mình là việc đi vào và khắc ghi trong thân tâm, tức là mỗi lần sám hối là khắc ghi "Đây là vết nhơ, cái này là vết nhục, đây là cái xấu hổ, thấp hèn", mỗi ngày đều nhắc nhở bản thân như vậy thì đến khi cái xấu ác bày hiện ra thì mình sẽ chán ngán, ghê tởm, đó gọi là nhàm chán viễn ly, từ từ sẽ xuất ly. Sám hối là tự nhắc bản thân "Cái này là nhục nhã", "cái này là xấu hổ", "cái này là hèn hạ", "cái này là đau khổ", tự nhắc nhở hoài thì khi nó khởi lên sẽ thấy nhục nhã, thấp kém, nó sẽ tự động khắc ghi vào tâm, vào trí tuệ của mình làm mình lánh xa, chấm dứt, đoạn tận, đó là công năng của sám hối và Như lý tác ý. Ví dụ hở tí là la lên, giận dỗi, tức giận thì tác ý với cảm giác sân "Người không muốn làm mà muốn làm chó hả", "người tốt đẹp, tốt lành không muốn làm mà muốn đời sau làm súc sanh phải không? Hỡi này cảm giác sân hận muốn làm súc sanh lắm phải không". Cứ tác ý mạnh mẽ vào thì quý vị sẽ thấy phép màu xuất hiện trong tâm mình nhưng cần tác ý liên tục như quảng cáo trên truyền hình, cứ nhắc nhở tác ý hoài mình sẽ xa lìa nó, đó là công năng của chánh tư duy, của Thánh tư duy, của Như lý tác ý, là sức mạnh của trí tuệ, còn đằng này nó khởi lên là mình để im rồi đi theo nó luôn, như vậy không có sự tu tập, không có tứ chánh cần để diệt ác sanh thiện, cho nên người nào siêng năng tác ý sẽ có bước tiến nhảy vọt nhưng cần điều hòa chỉ quán, khi tâm mệt cần tu chỉ, thực hành ba pháp, lúc nào cần thiết phải triển khai thiền quán mạnh mẽ. Đây là phần Minh Thành chia sẻ về ý nghĩa, nguyên nhân, mục đích, phương pháp thực tập của sám hối, tàm quý, Như lý tác ý.
Phật tử: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Kính thưa sư phụ, kính thưa quý sư cô, kính thưa toàn thể đại chúng. Con xin có một câu hỏi về hộ trì căn, kính thưa thầy trong chánh niệm khi ăn, khi quay về rõ biết các thức ăn, rõ biết hình bóng các thức ăn trong miệng, rõ biết trong khoang miệng, rõ biết các vị nhưng để hộ trì được thì làm thế nào để nắm giữ được ngay chỗ ba pháp gặp nhau, nghĩa là làm sao để an trú được trong căn – trần – thức để thọ; tưởng; hành được lắng dịu. Cũng như khi mắt thấy sắc thì con quay về cảm giác đôi mắt, cảm giác sự rõ biết nhưng làm sao để trú được trong ba pháp đó để không phóng tâm. Mô Phật, con xin hỏi thầy như vậy.
Sư Phụ: Mình trú trong cảm giác toàn thân chứ không phải trú trong mắt, các sắc hay nhãn thức. Cô nói trú trong ba pháp tức là cảm giác toàn thân, rõ biết trước mặt, nội tâm tỉnh giác hay là chú trong ba pháp là căn – trần – thức? Mình không cần trú trong căn – trần – thức mà mình trú trong ba pháp được thực tập, nói đơn giản là cảm giác toàn thân vì khi lưỡi chạm vào thức ăn có sự rõ biết hương vị thì chắc chắn phải có thọ, xúc sanh thọ, có những cảm giác nhưng làm sao để hộ trì trong lúc đó, để không buông lung phóng dật thì có bài cho mình tụng là ăn không phải để vui đùa, ăn không phải để đam mê, ăn không phải để ưa thích, ăn không phải để làm đẹp. Tức là khi thấy thích thú, khoan khoái trong khi ăn thì cần tác ý, chỉ có tác ý thì tâm mới ly tham, ly dục, ly ái đối với thức ăn, "không phải ăn để thưởng thức, ăn để đam mê, không phải ăn để vui đùa, khoái khẩu, không phải ăn để làm đẹp mà ăn để bảo dưỡng thân này để thực hành pháp". Tác ý như vậy thì thọ; tưởng; hành về dục tham ái trong khi ăn bị Như lý tác ý nhiếp phục, chế ngự, đánh đuổi. Không phải để thức ăn vào là không biết vị gì hết, vẫn biết ngon hay không ngon vì tiếp xúc phải có cảm giác, mà có cảm giác thì chắc chắn phải rơi vào ba loại cảm thọ và ba cái này đều có tham sân si, thích thì có tham, không thích thì có sân "Nấu gì dở quá vậy", còn si là trơ ra không ngon cũng không dở nhưng có khi lại rơi vào thưởng thức món ăn cho nên tu tập là trú trong cảm giác toàn thân, tức là lúc nào cũng phải thực hành ba pháp, khi tiếp xúc thì thọ sanh khởi nên nội tâm phải tỉnh giác biết trong tâm đang có gì sanh, nếu là thích thú, đam mê thì tác ý "Do ưa thích những thứ này làm mất thời gian tu học, do đam mê những thứ này nên mới tạo ra cái thân này hoài, do say đắm trong cái này nên vòng luân hồi tiếp diễn Do thức ăn tập khởi nên sắc tập khởi, do thức ăn đoạn diệt nên sắc đoạn diệt, nhà người thích sắc tập khởi hay thích sắc đoạn diệt? Nếu muốn giải thoát khỏi sắc uẩn thì đừng đam mê những thứ này nữa". Đó là sự dụng công của mình trong khi ăn là tác ý, mọi người cần nhớ sự tác ý là chánh tư duy, là tuệ lực nhưng trước khi tác ý cần nhìn ngó, kiểm tra nó. Nhìn ngó ở đây gồm ba phần là thân – tâm – cảnh tức là căn – trần – thức, chánh niệm trước mặt tức là chánh niệm đối với ngoại trần, cảm giác toàn thân, bên trong là nội tâm tỉnh giác, lúc đó mười tám giới đều được kiểm soát. Chánh niệm trước mặt là cảnh, cảm giác toàn thân là thân, nội tâm tỉnh giác là xem thọ; tưởng; hành gì đang khởi là thức, ngay đó sự tiếp xúc được kiểm soát trong sáu căn, sáu trần, sáu thức cho nên sự tu học vi tế đến vậy. Vì thế nửa tháng được ăn cơm chánh quán thọ thực thì cũng đừng cảm thấy khó chịu, những người lần đầu tiên tham dự sẽ thấy khó chịu vì ăn lâu nhưng không phải vậy, đó là đang học cách ăn của Đức Phật, của các bậc Thánh Tăng, cách ăn của chư vị Tỳ-kheo thời Đức Phật còn tại thế. Ăn để thấy dục trong thức ăn, sự thúc giục; ăn để nhìn thấy ái, sự khoan khoái, thích thú đối với các vị; ăn để nhìn thấy tham, ham thích, ham mê; ăn để thấy dục tham ái là cái ăn của bậc Thánh, của trí tuệ, cái ăn của sự chánh niệm tỉnh giác, của sự quán chiếu. Một trong bốn nguyên nhân để thân này hình thành là đoàn thực, tức là những thức ăn bốc, nhai, gắp.
Này các Tỳ-kheo, có bốn loại đồ ăn này khiến cho các loại sanh vật hay các loại chúng sanh được tồn tại hay khiến cho các loại sắp sanh thành được thọ sanh. Thế nào là bốn?
Đoàn thực hoặc thô hoặc tế,
Xúc thực,
Tư niệm thực,
Thức thực.
Này các Tỳ-kheo, bốn loại đồ ăn này khiến cho các loại sanh vật hay khiến cho các loại chúng sanh được tồn tại hay khiến cho các loại sắp sanh thành được thọ sanh.
Và này các Tỳ-kheo, bốn loại đồ ăn này do cái gì làm nhân, do cái gì tập khởi, do cái gì tác sanh, do cái gì làm cho hiện hữu? Bốn loại đồ ăn này do ái làm nhân, do ái tập khởi, do ái tác sanh, do ái làm hiện hữu. (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (a), II. Phẩm Đồ Ăn, XI. Các Loại Đồ Ăn)
Yêu thích bốn loại thức ăn này là còn sanh tử, còn đầu thai, cho nên các bậc Thánh Tăng, các bậc A-la-hán được Đức Phật dạy ăn rất kĩ vì các ngài muốn chấm dứt sanh tử. Mình phải biết rằng mình chưa làm được hoặc chưa muốn làm nhưng phải hiểu chính xác chánh kiến về cách ăn mà mình đang tu tập, tức là đoạn ái, dục, tham trong khi ăn của các bậc chân tu. Còn thích thức ăn thì còn mang tấm thân này, nói gọn là còn thích cái nào thì phải trở lại đây để tìm lại nữa, còn thích cái nào thì đời sống tiếp theo của mình sẽ trở lại để đi tìm cái đó, chính vì vậy giải thoát là không còn thích gì nữa để không còn trở lại tìm những thứ đó nữa, cho nên ái tận giải thoát là câu nói trong kinh Nikāya, bài kinh Đoạn tận ái.
(Đoạn tận luân hồi: Giải thoát rốt ráo)
Khi vị ấy thấy sắc bằng mắt, vị ấy không tham ái đối với sắc đẹp, không ghét bỏ đối với sắc xấu, vị ấy sống an trú niệm trên thân, với tâm vô lượng. Vị ấy như thật tuệ tri tâm giải thoát, tuệ giải thoát, chính nhờ chúng mà các ác bất thiện pháp của vị ấy được trừ diệt, không có dư tàn. Như vậy từ bỏ (thuận nghịch), có cảm thọ nào khởi lên: lạc thọ, khổ thọ, hay bất khổ bất lạc thọ; vị ấy không tùy hỷ, không hoan nghênh, không tham trước thọ ấy. Vì vị ấy không tùy hỷ, không hoan nghênh, không tham trước thọ ấy, nếu có dục hỷ nào đối với các cảm thọ, dục hỷ ấy được trừ diệt. Do dục hỷ của vị ấy diệt nên thủ diệt. Do thủ diệt nên hữu diệt. Do hữu diệt nên sanh diệt. Do sanh diệt nên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não diệt. Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này.
Khi vị ấy nghe tiếng bằng tai... khi vị ngửi hương bằng mũi... Khi vị ấy nếm vị bằng lưỡi... Khi vị ấy cảm xúc bằng thân... Khi vị ấy nhận thức pháp bằng ý, vị ấy không tham ái đối với pháp tốt, không ghét bỏ đối với pháp xấu. Vị ấy sống an trú niệm trên thân, với tâm vô lượng. Vị ấy như thật tuệ tri tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Chính nhờ chúng mà các ác, bất thiện pháp của vị ấy được trừ diệt, không có dư tàn. Như vậy, vị ấy đoạn trừ (thuận nghịch) có cảm thọ nào khởi lên: lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ; vị ấy không tùy hỷ, không hoan nghênh, không tham trước thọ ấy. Vì vị ấy không tùy hỷ, không hoan nghênh, không tham trước thọ ấy, nếu có dục hỷ nào đối với các cảm thọ, dục hỷ ấy được trừ diệt. Do dục hỷ của vị ấy diệt nên thủ diệt. Do thủ diệt nên hữu diệt. Do hữu diệt nên sanh diệt. Do sanh diệt nên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não diệt. Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này.
(Kết luận)
Này các Tỳ-kheo, các Ông hãy thọ trì ái tận giải thoát này, được Ta nói một cách tóm tắt, nhưng (phải nhớ là) Tỳ-kheo Sati, con của người đánh cá, đã bị mắc trong cái lưới lớn của ái, trong sự rối loạn của ái.
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỳ-kheo ấy hoan hỉ, tín thọ lời Thế Tôn dạy. (Trung Bộ Kinh, 38. Đại kinh Đoạn tận ái)
Loại thứ ăn thứ hai là xúc thực. Tại sao lâu lâu mình lại muốn đi chơi, đi đây đi đó để con mắt được tiếp xúc? Tại sao mình phải xem tivi, cần điện thoại hoặc Ipad để lên mạng, đó là xúc thực. Nhưng khi ăn phải chọn lựa, nếu không chọn thì ngộ độc thực phẩm, khi tiếp xúc mà không chọn lựa để xúc với ác bất thiện pháp thì bị ngộ độc tinh thần. Giới trẻ ngày nay bị ngộ độc với cái xúc rất nhiều, tiếp xúc với những trò Games rồi thoát ra không được, trở thành bệnh thậm chí là chết trên bàn chơi Games. Cho nên trí tuệ của Đức Phật giải mã tất cả mọi thứ trên thế giới, mọi người nghe thêm bài Giải mã đau khổ toàn cầu trên toàn thế giới, đây là bài kinh Đại khổ uẩn, Đức Phật giảng giải ra nguyên nhân đau khổ của toàn thế giới này từ đâu mà có, chính là từ dục ái. Tại sao có những người xì ke, đua xe, những người thích nhậu nhẹt đều từ dục ái, dính vào cảm thọ rồi đi ra không được, trở lại vấn đề tại sao phải lựa chọn sự tiếp xúc, mình ngồi nghe pháp từ sáng giờ là mình đang xúc với Thánh đạo, Thánh trí, Thánh Pháp, đây là sự tiếp xúc tối thượng trong tất cả sự tiếp xúc. Trong bài kinh nói về sáu sự vô thượng, Đức Phật đã nói dù cho thấy cảnh gì đẹp nhất trên đời, voi ngựa, xe cộ, thành quách cũng xem như không thấy gì mà thấy được Như Lai và đệ tử của Như Lai là vô thượng kiến, là cái thấy tối thượng. Dù cho có nghe tất cả âm thanh trên đời cũng không gọi là nghe mà nghe được Chánh Pháp mới gọi là vô thượng văn, là cái nghe tối thượng cao tột.
- Này các Tỳ-kheo, có sáu pháp vô thượng này. Thế nào là sáu?
Thấy vô thượng, nghe vô thượng, lợi đắc vô thượng, học tập vô thượng, phục vụ vô thượng, tùy niệm vô thượng. Và này các Tỳ-kheo, thế nào là thấy vô thượng?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, có người đi xem voi báu, đi xem ngựa báu, đi xem châu báu, hay đi xem các vật lớn nhỏ, hay đi xem Sa-môn, hay Bà-la-môn có tà kiến, có tà hạnh. Này các Tỳ-kheo, đây có phải là thấy không? Ta nói rằng: Đây là không thấy". Sự thấy ấy, này các Tỳ-kheo, là hạ liệt, là hèn hạ, là phàm phu, không xứng Thánh hạnh, không liên hệ đến mục đích, không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Này các Tỳ-kheo, ai đi yết kiến Thế Tôn hay đệ tử Thế Tôn, với lòng tin an trú, với lòng ái mộ an trú, nhứt hướng thuần tín, thời này các Tỳ-kheo, đây là thấy vô thượng, đưa đến thanh tịnh cho các loài chúng sanh, vượt qua sầu bi, chấm dứt khổ ưu, đạt được chánh lý, chứng ngộ Niết-bàn, tức là đi yết kiến Như Lai hay đệ tử Như Lai, với lòng tin an trú, với lòng ái mộ an trú, nhứt hướng thuần tín. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là thấy vô thượng, đây là thấy vô thượng. Còn nghe vô thượng là gì?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, có người đi nghe tiếng trống, đi nghe tiếng sáo, đi nghe tiếng ca, hay đi nghe tiếng cao thấp khác nhau, hay đi nghe pháp các Sa-môn hay Bà-la-môn có tà kiến, tà hạnh. Này các Tỳ-kheo, đây có phải là nghe không? Ta nói rằng: "Ðây là không nghe". Sự nghe ấy, này các Tỳ-kheo, là hạ liệt, là hèn hạ, là phàm phu, không xứng Thánh hạnh, không liên hệ đến mục đích, không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Này các Tỳ-kheo, ai đi đến để nghe pháp của Như Lai hay của đệ tử Như Lai, với lòng tin an trú, với lòng ái mộ an trú, nhứt hướng thuần tín, thời này các Tỳ-kheo, đây là sự nghe vô thượng, đưa đến thanh tịnh cho các loài chúng sanh, vượt qua sầu bi, chấm dứt khổ ưu, đạt được chánh lý, chứng ngộ Niết-bàn, tức là đi nghe pháp của Như Lai hay của đệ tử Như Lai, với lòng tin an trú, với lòng ái mộ an trú, nhứt hướng thuần tín. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là nghe vô thượng, đây là thấy vô thượng, nghe vô thượng. (Tăng Chi Bộ, Chương VI - Sáu Pháp, III. Phẩm Trên Tất Cả, (X) Trên Tất Cả)
Sự tu của mình là thay đổi sự tiếp xúc, thay vì xúc với bài bạc, màn hình tivi, với những thú vui thường tình thì bây giờ tiếp xúc với Thánh trí, Thánh đạo.
Loại thức ăn thứ ba là tư niệm thực. Tư niệm là nghĩ nhớ, ngồi đây nhưng nghĩ nhớ chuyện ngày xưa, đó cũng là một loại thức ăn nuôi ngũ uẩn. Khi nhớ thì thọ; tưởng; hành sanh khởi, những cảm giác hiện về, những hình bóng ngày xưa gợi lại, những suy nghĩ tiếp nối. Nếu thọ; tưởng; hành nhớ về một người giận thì lúc đó vận hành theo ngũ uẩn sân, sắc sân, thọ sân, tưởng sân, hành sân, thức sân. Nếu nhớ về người thương yêu thì sắc ái, thọ ái, tưởng ái, hành ái, thức ái. Ngồi một mình cũng tưởng ra những chuyện ngày xưa cho nên quay trở về ba pháp, rõ biết trước mặt là mình trở về thực tại, sự thật trong giây phút hiện tại. Mình biết mình đang ngồi đây chứ không phải trở về những ngày xưa cũ, nếu nghĩ nhớ về ngày xưa là tư niệm thực, là thức ăn nuôi dưỡng ngũ uẩn.
Cuối cùng là thức thực, là thích nhận thức, thích rõ biết, thích đi tìm kiếm những kiến thức, tri thức nhưng chỉ là kiến thức trong tham sân si, bản ngã, nuôi lớn lậu hoặc. Chỗ hay của tu là phải biết diệt thức, khi thấy hoặc nghe mà nổi sân si lên thì "mày mù luôn đi, thấy làm chi để sân si", "mày điếc luôn đi, nghe làm chi để bực mình", diệt tận cái thấy nghe này luôn vì nó thiêu đốt tâm can, hại mình hại người. Phải có chánh niệm tỉnh giác chấm dứt cái thức sanh ra tham sân si, không cho tiếp nối, mỗi lần thấy điều gì mà giận lên là tác ý "Thấy mà giận thì thấy làm gì? Ngươi có muốn trở thành người mù không mà nhìn là giận, nhìn là sân", tác ý như vậy để đánh đuổi cảm giác sân hận, gọi là thọ do nhãn xúc sanh, mình nói với tâm sân hận "Nhìn là sân hận, bản ngã, liếc háy rồi mai đây mù nha". Đó là bốn loại thức ăn, thức ăn cầm nắm, thức ăn của sự tiếp xúc, thức ăn của sự nghĩ nhớ và thức ăn của thức để nuôi ngũ uẩn vì thế phải chánh niệm và tỉnh giác với cả bốn loại thức ăn chứ không chỉ riêng đoàn thực, cần phải kiểm soát dục tham ái, chấp thủ, bản ngã trong bốn loại thức ăn đó. Vẫn là sự quay lại nhìn kĩ, kiểm soát cảm thọ và tác ý, đó là cái tu chánh yếu của mình bây giờ. Con kính chúc đại chúng tinh tấn, nửa tháng chỉ có một ngày sám hối nên cố gắng tinh tấn, về nhà cố gắng nghe pháp, ngồi thiền, sám hối và Như lý tác ý, phải cố gắng đoạt được vé trong chuyến đò của thời mạt pháp này, đừng để trễ chuyến đò.
Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả đệ tử và chúng sanh đều trọn thành Phật đạo./.