Bí quyết tu tập-Hành uẩn là gì-Chánh kiến là gì-Làm sao nhiếp phục cảm thọ.
Soi Sáng Nikāya
BÍ QUYẾT TU TẬP?
HÀNH UẨN LÀ GÌ?
CHÁNH KIẾN LÀ GÌ?
LÀM SAO NHIẾP PHỤC CẢM THỌ?
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Bí quyết tu tập PAGEREF _Toc79156432 \h 1
II.Đạo lộ tu tập trọn vẹn PAGEREF _Toc79156433 \h 3
III.Trí tuệ về hành uẩn PAGEREF _Toc79156434 \h 6
IV.Chánh kiến dẫn đường tất cả PAGEREF _Toc79156435 \h 10
V.Nhiếp phục cảm thọ PAGEREF _Toc79156436 \h 13
VI.Nắm bắt thiện pháp PAGEREF _Toc79156437 \h 16
VII.Đôi lời nhắn nhủ PAGEREF _Toc79156438 \h 19
Bí quyết tu tập
Do đường truyền mạng Internet chập chờn nên làm ngắt quãng bài giảng, lúc này mình phải quay lại xem cảm thọ của mình, điều này rất quan trọng vì mai đây khi chết sẽ dùng được. Nếu từ giờ không tập an tịnh, lắng dịu mà cứ hễ có chuyện không vừa lòng là bực mình, khó chịu, dù cho là chuyện nhỏ nhưng cảm thọ cũng không yên tịnh, không thực tập sự lắng dịu, an tịnh, dễ chịu thì khi chuyện lớn đến làm sao tâm bình an được? Khi tu học dòng pháp này sẽ làm bài tập rất nhiều, tất cả mọi tình huống đều là bài tập và bài thi, có nhiều người nghĩ đến giờ thiền mới thiền còn giờ này là nghe pháp nhưng không phải vậy, tất cả mọi thứ đến với mình xảy ra trong giây phút hiện tại nếu không nhận diện ngũ uẩn, không thấy cảm giác, nghĩ, tưởng, mình bị ngoại cảnh dẫn dắt làm dao động, bấn loạn là mình đã thất bại, sau này khi tai nạn bất thình lình xảy ra thì làm sao mình có sức tự chủ, làm sao mình có định lực?
Cho nên hôm nay mạng Internet bị trục trặc là một bài tập để mình thấy được tâm chính mình, thấy được công phu tu tập. Người biết tu là trong mỗi việc đều xoay lại nhìn tâm mình, đó mới là người khéo tu chứ còn gặp chuyện trái ý là khó chịu, bực mình, sân hận thì làm sao tu? Mình cứ muốn mọi điều phải theo ý mình thì làm sao có được? Mình không cần nhiếp phục ngoại cảnh mà cần nhiếp phục tự thân mình, nếu tự thân mình nhiếp phục được thì ngoại cảnh không có gì quan trọng còn nếu không lo nhiếp phục thân tâm mà cứ đòi ngoại cảnh thuận theo ý nghĩ mình thì mình sẽ khổ hoài, đi đâu cũng khổ. Nếu nhiếp phục được thân tâm thì đi đâu, gặp chuyện gì, có những tai nạn hoặc thậm chí đối diện cái chết chỉ cần quay lại nhiếp phục cảm thọ, nội tâm thì mình mới có sức tự chủ. Còn không ngũ uẩn này là vô chủ, suốt đời làm nô lệ cho ngoại cảnh, sống với tâm nhỏ hẹp, suốt ngày chỉ thích với không thích, vui với buồn, thương với ghét thì mình sẽ bị gió ngoại cảnh thổi mình bay xa, cuốn mình đi.
Vì vậy, sự tu học này rất hay, nhất là sự nhận diện ngũ uẩn để nhiếp phục cảm thọ rất vi diệu. Ngày mà các Ni sư đến thăm con là thân thể con bị sâu bắn đầy người, con ngồi tiếp khách mà phải nhiếp phục cảm thọ nhưng không ai biết gì cả. Cho nên Đức Phật nói "làm cho hiện hành các pháp hữu vi nên gọi là hành" là do khẩu hành con nói ra thì các Ni sư mới biết chứ nếu không nói ra thì mọi người không ai biết. Bên ngoài con đang chia sẻ pháp nhưng bên trong là một sự nhiếp phục các cảm thọ của thân. Vì thế tu học là cả một sự nhiếp phục cảm thọ, cảm giác nhưng mình phải thấy thì mới nhiếp phục, còn không thấy không biết thì làm sao nhiếp phục?
Khi bị sâu bắn, Minh Thành an tịnh, lắng dịu quán chiếu nghiệp quả trong quá khứ, thấy đây là oan gia trái chủ, có thể nghiệp nặng hơn nhưng giờ mình tu nên chuyển biến thành nghiệp nhẹ, cho nên nghiệp tới thì mình trả với tâm an tịnh, lắng dịu. Đương nhiên lúc đầu rất bực bội, sân giận lên, lúc đó mình tác ý "bây giờ mình lên núi rừng ở một mình mà còn nổi sân thì có nhục không? Mình nói mình tu mà có mấy con sâu làm mình ngứa mà sân lên thì nhục nhã, xấu hổ, không xứng đáng. Chỉ có mấy con sâu mà chịu không nổi thì còn làm gì nữa?", tác ý như vậy để hóa giải tâm sân, tâm khó chịu, khổ thọ. Sau đó mới dùng nước muối dội lên và quán chiếu về oan gia trái chủ, nghiệp chướng để trả nghiệp, mình tác ý để tâm nhả ra sự khó chịu: “Tại sao lại sanh ra thân hình để đi bắn người ta làm cho người ta khổ sở như vậy?”. Mình phải biết rằng mỗi người một nỗi khổ, mỗi loài một niềm đau, hãy thông cảm cho nhau, đừng tạo thêm khổ nữa. Lúc đó nghĩ rằng, con người bị chỉ có một chút vậy thôi mà khó chịu, khổ như vậy thì chúng sanh kia mang cái thân lông lá bù xù còn đau khổ đến mức độ nào, vì vô minh, ngu si, nghiệp chướng nên mới sanh ra mang cái thân như vậy chứ nó đâu có muốn làm khổ người ta. Cho nên mỗi người một nỗi khổ, mỗi loài một niềm đau, hãy thấu hiểu cho nhau, đừng tạo thêm đau khổ nữa, đừng tạo thêm oai trái, đừng tạo thêm đắng cay.
Sau khi tác ý thành công về vấn đề nghiệp thì Minh Thành nằm xuống là da đỏ lên, có chỗ máu chảy, toàn thân cứng đờ nên có ý nghĩ muốn về Linh Quy nhưng con nghĩ cứ chạy qua chạy lại hoài thì đến khi nào mới được yên, phải nhiếp phục ý nghĩ đó và ở lại đây. Con nằm xuống tác ý buông xả ngũ uẩn, sắc này là vô thường, khổ, vô ngã nên buông xả; cảm giác này là vô thường, khổ đau nên buông xả; những hình bóng, suy nghĩ này là vô thường, khổ, vô ngã; những nhận thức rõ biết là vô thường, khổ, vô ngã nên buông xả toàn bộ. Con quán tưởng mình đi vào cõi chết, khi tác ý như vậy thì ngũ uẩn được an tịnh, lắng dịu, dễ chịu rồi nằm nghỉ được nửa tiếng đến khi thức dậy đỡ hơn rất nhiều.
Trong dòng luân hồi sanh tử này nghiệp quả rất khủng khiếp, nếu không nhìn thấy không quán chiếu thì vừa trả nợ vừa vay, tức là nợ cũ chưa trả hết thì lại vay thêm nợ mới. Con quán chiếu lại bài kinh “Sợ hãi khiếp đảm” của Trung Bộ Kinh, trong bài kinh đó Đức Phật kể lại lúc ngài ở trong rừng thì những cái sợ hãi và khiếp đảm đến với ngài rất khủng khiếp. Đối với Bồ-tát Tất-đạt-đa mình không được một phần ngàn của Ngài nên bị sâu bắn như vậy không là gì hết, cho nên con được an tịnh, lắng dịu, dễ chịu để ngồi đang chia sẻ pháp với mọi người. Nếu mình không biết thì khi nghiệp đến cũng như chủ nợ đến là mình không trả mà còn vay thêm, tất cả chúng sanh vì vô minh che đậy, vì tham ái trói buộc, vì sân hận, bản ngã sẽ tạo ra rất nhiều nghiệp quả, oan trái cho nhau.
Từ chuyện con sâu, con muỗi… con thấy được dòng luân hồi, dòng nghiệp quả và con thấy khiếp sợ nó. Con đang ngồi chia sẻ pháp mà muỗi vẫn bay vào chích liên tục, nhiều khi có những buổi vừa chia sẻ pháp vừa chịu đựng với mấy con sâu. Mình tu từ từ sẽ nhìn thấy ra được thân tâm, thấy ra được những nghiệp quả, nhìn thấy vô minh, tham ái, chấp thủ của mình như thế nào, thấy được những cảm thọ sân hận của mình như thế nào, thấy được cái tâm hơn thua, buông lung phóng dật như thế nào. Khi thấy rồi chúng ta sẽ có cảm giác ngao ngán, ê chề cho dòng sống chết, cho dòng trả vay này. Khi đã biết như vầy thì lúc nhìn lại sẽ thấy vui, hoan hỷ vì trước nay mình không biết, không thấy, còn giờ tu rồi thì các pháp sẽ từ từ hiện rõ ra và từ từ mình sẽ thấy biết.
Đạo lộ tu tập trọn vẹn
Ni sư 1: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Kính bạch trên thầy, kính thưa quý thầy, quý sư cô cùng toàn thể quý Phật tử. Con xin thưa với thầy, đầu tiên khi con chưa nghe rõ lời thầy do đường truyền mạng yếu thì con không có cảm thọ khổ cũng không có cảm thọ lạc nhưng con thấy hơi thở không đều, con an trú trở về, an tịnh hơi thở. Con thấy hơi thở không đều là một sự không hài lòng nhưng vi tế phải không thưa thầy? Khi cái thân không cảm thấy vui hay có sân giận rõ rệt nhưng thấy hơi thở không đều thì thưa thầy đó có phải là sân ở mức vi tế không ạ?
***
Chính chỗ này là chỗ chúng ta cần thực tập cảm giác toàn thân, vì khi thực hành hơi thở quen sẽ không thấy lúc đó mình dễ chịu hay khó chịu nhưng chỉ thấy hơi thở bị biến động, không bình thường. Hơi thở không phải là chỗ hội tụ tất cả pháp mà nó chỉ là một pháp nhỏ thôi, cho nên khi nhìn lại nó mình sẽ không thấy rõ trạng thái của tâm mà chỉ thấy hơi thở có sự biến đổi, đây là lý do tại sao chúng ta phải thực hành cảm giác toàn thân. Khi hơi thở biến đổi tức là đã có vấn đề không còn bình thường nữa, lúc đó biết nó không được tự nhiên nhưng mình không biết trạng thái tâm lúc đó thuộc trạng thái nào, cho nên hơi thở chỉ là một pháp mà Đức Phật cũng rất khen ngợi. Tuy nhiên, khi nhận diện năm uẩn, thực hành cảm giác toàn thân rồi tu hơi thở sẽ khác với tu nhưng không nhận diện năm uẩn, không thực hành cảm giác toàn thân mà chỉ tu hơi thở, chỗ này chúng ta cần phân biệt rõ ràng.
Chúng ta đừng nghĩ rằng người tu quán niệm hơi thở ai cũng giống ai. Người tu nhận diện năm uẩn, thấy rõ được thọ; tưởng; hành; thức và tu quán niệm hơi thở thì có thể chứng đắc quả A-la-hán hoặc là Bất Lai. Vì sự tu quán niệm hơi thở này thuộc về phần niệm thân đặt nền tảng trên chánh tri kiến, cho nên Đức Phật gọi sự tu quán niệm hơi thở là phạm trú, là Như lai trú, tức là chỗ thường trú của các Đức Như Lai và chỗ trú của các bậc Phạm Thiên. Nhiều khi sau ba tháng An cư, được các thầy Tỳ-kheo hỏi thì Đức Phật trả lời trong suốt ba tháng đó Ngài thường trú trong hơi thở nhưng chúng ta phải biết sự an trú của Thế Tôn với các bậc đã có chánh kiến khác với sự tu tập hơi thở của người chưa nhìn thấy ngũ uẩn, vì thế đây là chỗ chúng ta cần phân biệt cho rõ.
Tại sao chúng ta tu thiền? Ngay cả bản thân Minh Thành ngày xưa mỗi ngày cũng ngồi thiền hai thời suốt chục năm nhưng không thấy kết quả rõ rệt, có tâm an lạc nhưng không rõ ràng, cụ thể, không giải quyết được dục, tham, sân si, vô minh, bản ngã. Đó là tại vì chúng ta vừa vào đã nhảy đến tầng thứ tám của Bát Chánh Đạo, chúng ta không đi qua chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm mà chúng ta mới vào đã nhảy lên chánh định, đây là chỗ mà chúng ta tu không được kết quả giống như Thánh đạo của Đức Phật. Muốn đi vào chánh định phải đi vào bảy cái chánh ở phía trước, chúng ta cần nhớ thấy đúng, nghĩ đúng, nói đúng, làm đúng, sống đúng, siêng đúng, quán đúng rồi mới đến định đúng. Cho nên thiền định của Đạo Phật phải được sửa soạn trước bởi bảy sự chân chánh ở bước đầu tiên thì mới có thể đi vào Thánh chánh định, tức là thiền định của bậc Thánh. Đây là chỗ rất quan trọng mà trước nay không ai để ý, mà cứ thích tu thiền là vào ngồi thiền chính, thế nên thiền của mình không đi đến đúng như thiền của Đức Phật thành tựu.
Hơi thở chỉ là một pháp trong sáu pháp của Thân Hành Niệm. Trong kinh Tứ Niệm Xứ dạy chúng ta Niệm Thân có sáu khía cạnh:
Niệm oai nghi.
Niệm hành động.
Niệm tứ đại.
Niệm hơi thở.
Niệm ba mươi hai thể trược.
Niệm chín giai đoạn của một tử thi.
Như vậy, hơi thở chỉ là một phần sáu của niệm thân, tuy nhiên, có nhiều người lấy hơi thở làm chính, chỉ giữ một hơi thở, dù được an lạc, nhẹ nhàng, chú tâm nhưng đó không phải là chánh niệm tỉnh giác toàn diện, không phải là cái thấy biết thân tâm một cách toàn diện, đầy đủ, đồng đều hết tất cả mọi khía cạnh, ngõ ngách, phương diện. Sự tu tập như vậy không thầy đủ, không thấy biết trọn vẹn về thân tâm nên đây là lý do tại sao chúng ta phải tu tập nhận diện ngũ uẩn, tại sao phải quán chiếu cảm giác toàn thân. Khi đó, mình chỉ biết hơi thở có biến động không bình thường nhưng không biết tâm mình lúc đó thuộc trạng thái gì, còn khi an trú cảm giác toàn thân thì chỉ cần dao động một chút là chúng ta biết liền. Cho nên khi đường truyền mạng trục trặc mà chúng ta khó chịu là chuyện bình thường. Còn vẫn bình thường, không khó chịu là chuyện bất ngờ, như vậy chỉ có là hai trường hợp, một là vị đó đã thành tựu định và thứ hai là vị không rõ biết thân tâm mình một cách chính xác. Đây là lý do phải nhận diện ngũ uẩn, thực hành cảm giác toàn thân.
Chúng ta tu theo kinh Nikāya là có cả pháp học lẫn pháp hành. Chúng ta có một thói quen mà chính bản thân Minh Thành ngày xưa cũng bị mà bây giờ hiểu ra mới thấy mình vô minh. Đó là chúng ta thích tu một cái là xong, tu cái gì đơn giản nhất chứ không thích tu nhiều, chính cái này là cái thấy biết của phàm phu. Cái tu không phải dễ hay khó, không phải nhiều hay ít mà cái tu đó có đúng hay không mới quan trọng. Còn nếu chúng ta tìm sự khó dễ thì không phải đi tìm sự thật mà chỉ là tìm khó hay dễ; nếu đi tìm ít với nhiều thì không phải tìm pháp mà chỉ tìm ít hoặc nhiều; nếu chúng ta tìm cao thấp thì không phải tìm đạo lộ con đường tiêu diệt khổ đau mà chỉ đi tìm cao hoặc thấp thôi nên chúng ta không thể thành tựu được pháp học, đây là kinh nghiệm xương máu ba mươi năm của con. Chúng ta nói đi cầu pháp chứ thật ra là đi cầu theo ý mình, cái nào hợp ý thì thích trong khi pháp là pháp, pháp không theo ý ai cả.
Cho nên, chúng ta phải từ bỏ bản ngã, suy nghĩ, sở thích để tiếp nhận pháp, gọi là chấp nhận học pháp thì mình mới thấy được cái pháp thật sự trọn vẹn đúng như pháp là pháp. Còn đem cái tâm thích cái này không thích cái kia, muốn cái này không muốn cái kia, hợp cái này không hợp cái kia thì cái tâm đó không thể nào cầu được Thánh pháp viên mãn, chúng ta cần nhớ chỗ quan trọng này. Cho nên mình chỉ thích những thứ đơn giản đừng có phức tạp, thích cái gì dễ dàng đừng có khó khăn, thích cái gì mau lẹ đừng có chậm chạp thì chết ngay, vì đó là những kiết sử của chúng sanh, là vô minh, tham ái của chúng sanh, chính là thích với không thích, vừa lòng với không vừa lòng, ưa với không ưa.
Chúng ta tu theo đường lối kinh tạng Nikāya thì nhất định mình phải thành tựu căn bản trí, mà căn bản trí nằm trong quyển Nghi thức tu học Nikāya, trong đó có căn bản trí số 1, số 2. Mình cần cố gắng học thuộc những phần rất căn bản: định nghĩa ngũ uẩn, ba loại cảm thọ, chỗ trú ẩn của tham, sân, si và những pháp nhiếp phục, nếu không biết những thứ này thì không thể thực hành được, mình không biết cái pháp đó tức là mình còn vô minh với nó nên khi nó sanh khởi, vận hành mình không biết, mà không biết thì làm sao nhiếp phục nó? Vì thế chữ chánh kiến trong kinh tạng Nikāya rất sâu sắc và rộng lớn.
Trí tuệ về hành uẩn
Ni sư 1: Trong bài kinh định nghĩa ngũ uẩn, kinh “Đáng Được Ăn” thì con chưa hiểu rõ câu nói "làm cho hiện hành sắc với sắc tánh, thọ với thọ tánh", theo con hiểu tánh ở đây giống như tánh của lửa là nóng, tánh của nước là mát, tánh của lửa thì không thể mát lạnh được. Xin thầy giải thích thêm chữ tánh trong câu kinh có ý nghĩa như thế nào, thưa thầy. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
***
"Này các Tỳ-kheo, thế nào gọi là hành? Làm cho hiện hành (pháp) hữu vi nên gọi là hành. Làm cho hiện hành (pháp) hữu vi gì? Làm cho hiện hành sắc với sắc tánh, làm cho hiện hành thọ với thọ tánh, làm cho hiện hành tưởng với tưởng tánh, làm cho hiện hành các hành với hành tánh, làm cho hiện hành thức với thức tánh. Làm cho hiện hành (pháp) hữu vi, này các Tỳ-kheo, nên gọi là các hành". (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (d), III. Phẩm Những Gì Ðược Ăn, VII. Ðáng Ðược Ăn)
Quý vị nên về nghe thêm bài "Thánh trí ngũ uẩn" trên trang linhquyphapan.vn, có khoảng hai mươi bài, ở bài số 2, số 3, số 4 Minh Thành có giải thích những điều này rất kĩ. “Làm cho hiện hành sắc với sắc tánh”, ví dụ khi nãy con nói cho đại chúng nghe là hôm đó con bị sâu bắn nên ngứa đầy mình, phải nhiếp phục cảm thọ trong khi chia sẻ pháp với mọi người. Trong câu nói đó chúng ta sẽ thấy đầy đủ, làm cho hiện hành, làm cho biểu hiện ra, làm cho năm uẩn của mình được thấy rõ. Nếu con nói thân thể con bị sâu bắn ngứa khắp người thì thân thể đó là sắc uẩn, con bị khó chịu do ngứa là thọ uẩn, trong tâm mọi người có hình bóng con hôm đó là tưởng uẩn, mọi người có suy nghĩ là hành uẩn, lúc đó mình rõ biết trong tâm đang có hình bóng, suy nghĩ, cảm giác đó là thức uẩn. Đó là làm cho hiện hành sắc; thọ; tưởng; hành; thức. Sau đó con nói "thân thể này là vô thường, bản chất của nó là bệnh hoạn, phiền não, vô ngã, trống rỗng, không có bền chắc, rồi cũng sẽ tan hoại thành cát bụi", đó là làm cho hiện hành sắc tánh, thọ tánh, tưởng tánh, hành tánh, thức tánh. Tánh là bản chất, bản tánh và bản tánh của nó là vô thường, khổ não, vô ngã. Như vậy trong một câu nói của con làm cho hiện hành sắc với sắc tánh, thọ với thọ tánh, tưởng với tưởng tánh, hành với hành tánh, thức với thức tánh, đó là làm cho hiện hành các pháp hữu vi nên gọi là hành, hành đó là khẩu hành (lời nói). Nếu chúng ta không nắm vững được cái hành này thì chúng ta bị nó lừa gạt rất nhiều.
Chúng ta suy nghĩ "lên Linh Quy kì này thật nhẹ nhàng, thanh thản, mình có cảm giác rất an tịnh, an lạc và thấy được lời dạy của Đức Phật trong kinh tạng Nikāya, nhất là buổi sáng khi quý thầy quý cô và đại chúng đọc lên những lời Đức Phật thì mình có cảm giác được trở về 2600 năm trước. Những lời dạy của Đức Phật giống như vang vọng đâu đây, giống như Thế Tôn đang ở gần bên mình. Thật là an lạc, thật là nhẹ nhàng, thật là bình an, thật là vi diệu cho những lời Đức Phật dạy, đã 26 thế kỷ mà giá trị vẫn còn mãi mãi và vĩnh viễn, tất cả đời sống này đúng theo Đức Phật nói không sai, là vô thường, là khổ đau, là vô ngã, trống rỗng. Hễ còn tham, còn muốn, còn nắm chặt trong đây là còn khổ, hãy viễn ly, rời xa, buông bỏ nó thì mình sẽ được hạnh phúc, an lạc". Mình suy nghĩ như vậy trong tâm chứ không nói ra thì suy nghĩ đó làm cho hiện hành tất cả ngũ uẩn và bản tánh của ngũ uẩn. Mình nghĩ lên Linh Quy chuyến này thấy an lạc thanh tịnh là sắc tưởng, hình bóng của mình trong tâm, cảm giác dễ chịu là thọ, những suy nghĩ là hành, mình rõ biết những cảm giác, nghĩ tưởng nghĩa là thọ; tưởng; hành, đó là thức. Mình thấy năm uẩn là vô thường, khổ đau, vô ngã, trống rỗng, hễ còn nắm giữ, đam mê, dính mắc với nó là còn đau khổ.
"Sợ hãi, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với các dục. Ðau khổ, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với các dục. Bệnh tật, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với các dục. Cục bướu, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với các dục. Mũi tên, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với các dục. Trói buộc, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với các dục. Bùn, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với các dục. Thai tạng, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với các dục.". (Tăng Chi Bộ, Chương VIII - Tám Pháp, VI. Phẩm Gotamì, (VI). Sợ Hãi)
Cho đến khi nào mình nhiếp phục được lòng ưa thích, lòng đam mê, lòng ham muốn đối với sắc; thanh; hương; vị; xúc; pháp trên cuộc đời này, đối với thân xác này, đối với đời sống này, đối với tâm thức này thì chúng ta sẽ có sự an lạc, giải thoát, thảnh thơi. Suy nghĩ như vậy là thấy rõ được bản tánh của ngũ uẩn, bản tánh của nó là vô thường, khổ đau, vô ngã. Như vậy trong một suy nghĩ của mình làm hiển lộ ra ngũ uẩn và bản tính của ngũ uẩn, đây là ví dụ thứ hai về ý hành (suy nghĩ). Thân hành cũng giống như vậy, cho nên Đức Phật nói rằng tất cả pháp lấy Như lý tác ý làm sanh khởi, chính vì vậy chúng ta đừng ngại thiền quán.
"Này chư Hiền, các pháp lấy dục làm căn bản. Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi. Tất cả pháp lấy xúc làm tập khởi. Tất cả pháp lấy thọ làm chỗ tụ hội. Tất cả pháp lấy định làm thượng thủ. Tất cả pháp lấy niệm làm tăng thượng. Tất cả pháp lấy tuệ làm tối thượng. Tất cả pháp lấy giải thoát làm lõi cây". (Tăng Chi Bộ, Chương VIII. Tám Pháp, IX. Phẩm Niệm, (III). Cội Rễ Của Sự Vật).
Chính bản thân Minh Thành cũng vậy, chúng ta đã quen với thiền chỉ, chúng ta quen với việc ngồi yên tịnh mà bây giờ bắt mình phải vừa ngồi vừa tác ý thì thấy lạ. Nếu như mình không tác ý thì các pháp không sanh khởi, nếu Minh Thành không ngồi chia sẻ pháp thì lúc đó trong tâm đại chúng không thể có thọ; tưởng; hành như từ nãy giờ. Cho nên “tất cả pháp lấy tác ý sanh khởi”, nếu không tác ý thì thiện pháp không sanh, trí huệ không sanh vì vậy đừng sợ tu thiền quán, đừng sợ tâm bị động. Cái tâm mình phải được Như lý tác ý nuôi dưỡng, Như lý tác ý cũng gọi là chánh tư duy hoặc là Thánh tư duy, là sự suy nghĩ của bậc Thánh. Như vậy, không phải Thánh là không suy nghĩ, họ có suy nghĩ nhưng nghĩ theo minh chứ không phải theo vô minh, suy nghĩ theo chiều ly sân tư duy, ly dục tư duy, bất hại tư duy tức là suy nghĩ như thế nào để tránh xa các dục thì gọi là chánh tư suy, Thánh tư duy, Như lý tác ý (tác động tâm ý đúng như chân lý).
Còn bây giờ cứ ngồi im thì làm sao tâm mình ly dục được? Cái tâm chỉ yên trên mặt nổi, còn sự sâu sắc phía dưới là sự ham thích, dính mắc không được đào xới gốc rễ. Cho nên, cần phải có những tư duy đó mới đào bới, xới lên những gốc rễ, từ rễ cái cho đến rễ con thâm căn cố đế và phá các tầng cảm thọ sâu phía dưới. Vì cái dục, ái, tham ngấm trong vô lượng vô biên kiếp trong cảm thọ mà chúng ta cứ ngồi im thì không thể nào giải quyết được vấn đề.
Ví dụ một người bị mù năm mươi năm, may mắn được gặp thần y nên được cho thần dược trị sáng mắt, khi sáng mắt thì người này nhìn thấy trong nhà có đống rác khủng khiếp năm mươi năm. Nếu người này cứ ngồi im re nhìn đống rác thì chừng nào nhà mới sạch, đống rác mới được dọn dẹp? Muốn sạch thì phải hốt, dọn, đổ rác ngoài ra còn phải lau chùi, rửa, thậm chí dùng thuốc tẩy, bàn chải chà và dùng chất khử mùi….
Chính vì vậy sau khi thấy đúng (chánh kiến) sẽ tới nghĩ đúng (chánh tư duy) thì cái nghĩ đúng này không phải gặp chuyện mới nghĩ mà còn phải chủ động tác ý bằng suy nghĩ của chánh trí, của chánh pháp, của chánh kiến. Các nơi dịch bùng lên, ở thành phố chúng ta chỉ có một ca bây giờ đã lên rất nhiều rồi, chúng ta không phòng ngự nữa mà chuyển sang tấn công virut nghĩa là cho xét nghiệm hết tất cả các bệnh viện, không đợi đến khi dịch bùng lên mới trị mà phải ngăn chặn, tìm kiếm và phát hiện trước khi nó bùng lên, gọi là tấn công virut chủ động, tích cực. Cũng vậy, mình không đợi đến khi tham, dục, sân sanh khởi lên mới tu mà phải tu khi nó chưa sanh khởi, vì thế sự tác ý thiền quán, thiền tư, tư duy rất quan trọng để đánh đuổi suy nghĩ theo chiều tà kiến, sai quấy của vô minh. Minh Thành mời quý vị nghe thêm bài "Trí tuệ về suy nghĩ” và “Tu bằng cách suy nghĩ" trên trang linhquyphapan.vn, nói về chánh tư duy, Thánh tư duy và Như lý tác ý, cũng như bài "Tác ý là cây chổi thần quét rác nội tâm".
Chánh kiến dẫn đường tất cả
Chánh kiến có chuẩn mực rất rõ, Đức Phật nói rất nhiều trong kinh tạng Nikāya.
Đức Phật nói những kẻ vô văn phàm phu không gặp các bậc Thánh, không thấy các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh nên cho rằng sắc là của tôi; thọ này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi; những hình bóng trong tâm là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi; những suy nghĩ, nhận thức rõ biết là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi. Vì họ cho rằng năm uẩn này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi cho nên năm uẩn này bị biến đổi, bị đổi khác, bị vô thường nên họ bị sầu, bi, khổ, ưu, não, đó gọi là thân kiến, tà kiến, chấp ngã. Còn bậc Đa văn Thánh đệ tử gặp các bậc Thánh, học pháp các bậc Thánh, tu tập pháp các bậc Thánh, thuần thục pháp các bậc Thánh sẽ không cho sắc này, thân xác, hình hài này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi; không cho rằng những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ và sự nhận thức rõ biết này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi. Vị Đa văn Thánh đệ tử không cho ngũ uẩn này là tôi, là của tôi nên khi ngũ uẩn có vô thường, có đổi khác, biến đổi thì vị này cũng không sầu, bi, khổ, ưu, não. Đó là sự khác biệt giữa vô văn phàm phu và Đa văn Thánh đệ tử, đó là sự khác biệt giữa tà kiến và chánh kiến, đó là sự khác biệt về thấy đúng và thấy sai về tự thân tâm của chính mình.
Như vậy, tiêu chuẩn rõ ràng của chánh kiến là phải nhìn thấy ngũ uẩn, thường xuyên nhận diện thấy được năm uẩn không có cái tôi, cái của tôi trong đó và cái thấy biết này phải được nghĩ đúng nuôi dưỡng, chứ còn nghe xong, thấy xong để đó là mất đi, giống như trí tuệ bắp vế được Đức Phật ví dụ mình để đồ ăn lên đùi đứng lên là rớt xuống hết.
"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là người với trí tuệ bắp vế? Ở đây, này các Tỳ-kheo, có hạng người đi đến khu vườn (tinh xá). Người ấy, tại chỗ ngồi ấy, đối với bài thuyết giảng ấy, có tác ý đến đoạn đầu, có tác ý đến đoạn giữa, có tác ý đến đoạn cuối. Nhưng khi người ấy từ chỗ ngồi ấy đứng dậy, đối với bài thuyết giảng ấy, người ấy không có tác ý đến đoạn đầu, không có tác ý đến đoạn giữa, không có tác ý đến đoạn cuối. Ví như này các Tỳ-kheo, trên bắp vế của một người, các loại đồ ăn được chồng lên như hạt mè, hột gạo, các loại kẹo và trái táo. Khi từ chỗ ngồi đứng dậy, vì vô ý, người ấy làm đổ vãi tất cả. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, ở đây, có hạng người đi đến khu vườn ... Người ấy, tại chỗ ngồi ấy ... có tác ý đoạn cuối. Nhưng khi người ấy tại chỗ ngồi ấy đứng dậy ... không có tác ý đoạn cuối. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là hạng người với trí tuệ bắp vế". (Tăng Chi Bộ, Chương III - Ba Pháp, III. Phẩm Người, 30 - Lộn Ngược)
Cái thấy đúng, cái chánh kiến này phải được tưới tẩm, nuôi dưỡng, tăng trưởng, phát triển, tu tập quảng đại lớn mạnh thành cỗ xe, thành căn cứ địa, việc tu tập này phải được thường nghe và Như lý tác ý. Đây cũng là nhân duyên để làm cho chánh kiến sanh khởi, tức là nghe Chánh Pháp. Ai được nghe vị đã thành tựu chánh kiến nói và người này tác động tâm ý đúng theo lời dạy đó để suy tư, quán chiếu, thực tập thì chánh kiến sẽ được nuôi lớn từ từ. Từ sự thấy đúng đó sẽ dẫn người này đến suy nghĩ đúng, tác ý, tư duy, quán chiếu theo lời dạy đúng và nói theo điều đó thì trở thành chánh ngữ. Người này sống theo lời đó, làm nghề nuôi mạng phù hợp với giới luật cư sĩ hay xuất gia. Người này sống đời sống phù hợp với đức hạnh của một người tu, siêng năng, thường xuyên quán sát về lời dạy đó trong mọi lúc mọi nơi, sống với nó, suy tư với nó, thức với nó, nói năng với nó. Người này đi đứng nằm ngồi, co duỗi cúi ngước đều trú trong cái thấy biết đó thường xuyên và liên tục, không rời xa cái thấy biết đó. Từ sự quán đúng của người này sẽ từ từ dẫn đến bảy Thánh đạo cho đến khi chín muồi thì người này thành tựu được Thánh chánh định, đây là cái định của bậc Thánh.
Chính vì vậy, khi vào dòng pháp này không vội để ngồi thiền, không vội để đi vào sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền mà làm sao để thành tựu chánh kiến trước. Nếu không thành tựu chánh kiến dù cho có thiền định thì cái định đó cũng không phải là Thánh chánh định, không phải chánh định của bậc Thánh vì cái thiền đó là cái thiền của một bản ngã, của một cái tôi, cái ta, "mình định chứ người ta không có định", "mình tu người ta không có tu". Vì thế nếu không bước qua cánh cửa chánh kiến thì tất cả sự tu hành của mình đều ở trong hữu vi sanh diệt, trong vô thường, khổ vô ngã, trong tham, sân, si và cái tôi.
Thế nên, khi bước vào cửa đầu tiên của Bát Chánh Đạo là Nhập Lưu Tu-đà-hoàn, chưa thiền định gì cả mà chỉ cần thành tựu chánh tri kiến thôi thì vị đó đã Nhập Lưu. Còn người hướng đến chánh kiến với cả tấm lòng dù chưa trọn vẹn nhưng tha thiết học hỏi, chân thành học tập, luôn nghiêng về chánh kiến, nhập về chánh kiến, sống với chánh kiến thì người này là hướng Dự Lưu quả dù chưa thiền định gì cả. Vì thế chánh kiến quyết định mọi thứ, nó rất quan trọng, muốn có chánh kiến thì phải nghe pháp và phải có Như lý tác ý và phải nghe pháp đúng người đã thành tựu chánh kiến chứ còn nghe theo tà kiến thì làm sao thành tựu chánh kiến được?
Vì thế, chỗ khó khăn là phải gặp được bậc chánh kiến và sau đó phần của mình chính là Như lý tác ý, suy tư, quán chiếu, nghiền ngẫm, sống với nó, không bỏ cái thấy biết đó vì cái thấy bản ngã ăn sâu thâm căn cố đế trong vô thỉ kiếp mà bây giờ mình mới gặp chánh kiến thì chắc chắn cái tà kiến, vô minh kia sẽ lôi kéo. Cho nên, người này phải nỗ lực rất nhiều để thể nhập cái thấy biết đó. Điều này trong kinh dùng từ "thượng nhân pháp, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh", tức là cái pháp thấy được ngũ uẩn không phải là tôi, không phải của tôi là pháp của bậc thượng nhân, cái thấy biết đó gọi là tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh. Đó là lý do tại sao chúng ta phải nhận diện ngũ uẩn và luôn cảm giác toàn thân, vì nếu không thấy ngũ uẩn thì lúc đó có tôi, ta, tự ngã, còn nếu không an trú cảm giác toàn thân thì không biết không thấy tham, sân, si và nhập cuộc với nó. Ví dụ, nếu mình nói "tôi đang giận" là thua nó rồi, vì mình không thấy nó là cảm thọ sân mà chỉ thấy có cái tôi đang giận thì đó là tà kiến, vô minh. Lúc thấy vui sướng thì chỉ biết cảm thọ lạc đang có mặt, mình tách cái tôi ra khỏi suy nghĩ của mình, nếu còn gắn cái tôi chung với suy nghĩ là còn vô minh, còn kiến chấp về thân, cho nên đây là điều rất tuyệt diệu.
Học kinh Nikāya rồi sẽ thấy một chuẩn mực rõ ràng, nhất quán hết toàn bộ đại tạng, chánh kiến được Đức Phật giải thích nhất quán với nhau xuyên suốt từ Trường Bộ, Trung Bộ, Tăng Chi Bộ cho đến Tương Ưng Bộ, không phải chỗ này nói vậy qua kia lại nói khác. Lúc nào mình còn thấy có cái tôi thì lúc đó còn tà kiến, còn khi nào thấy đây là năm uẩn, năm nhóm thì đó là chánh kiến.
Nhiếp phục cảm thọ
Ni sư 1: Thưa thầy, khi mình nhận diện ra ngũ uẩn, nhận diện cảm giác, có những cái đau nhẹ thì mình còn tác ý được, còn có những cơn đau khủng khiếp, dữ dội thì lúc đó làm sao mình có thể tách tâm với thân ra làm hai được? Vì con thấy khi đau quá thì chỉ thấy mỗi cơn đau thôi, không thể an tịnh, bình thản được với cái đau
***.
Chính vì vậy nên bây giờ mình mới bắt đầu tập cảm giác toàn thân, tập từ những cái nhỏ. Chẳng hạn như khi đang nghe pháp mà đường truyền chập chờn, không nghe được thì mình phải xem lại cảm thọ có khó chịu không, nếu có khó chịu thì mình tác ý yên tịnh, lắng dịu, dễ chịu. Hoặc nghe lời nói trái tai thì bực mình, khó chịu sanh khởi lên thì mình cũng tác ý an tịnh, lắng dịu, dễ chịu. Chúng ta tập từ những cái nhỏ như vậy từ từ cho thuần thục, rồi đi đến những cảm giác vừa vừa như đau bụng, nhức đầu. Vì thế, chúng ta phải tập nhìn cảm giác là một đối tượng, còn ngày xưa mình và cảm giác nhập làm một, đến khi nhận diện được ngũ uẩn thì cảm thọ mới mở dần ra. Cho nên, khi chúng ta nhận diện đến mức thọ là thọ thì mình và ngũ uẩn sẽ được thả lỏng nhau ra.
Như vậy nếu không nhận diện năm uẩn, không quán chiếu cảm giác toàn thân thì cảm thọ nào sanh khởi ra mình cũng nói đó là tôi. Còn bây giờ nhận diện được ngũ uẩn, quán chiếu được cảm giác toàn thân thì khi cảm thọ sanh khởi lên thì mình nhìn lại cảm thọ, tưởng, hành hoặc sắc đó sẽ trở thành đối tượng để mình nhìn nó. Trước đây mình chưa nhận diện ngũ uẩn, chưa thấy ngũ uẩn, chưa có trí tuệ về ngũ uẩn thì mình và nó là một, còn khi quán chiếu ngũ uẩn, nhận diện ngũ uẩn thì mình tách ra khỏi nó và nhìn lại sắc; thọ; tưởng; hành; thức, điều này rất tuyệt diệu.
Ngày xưa mình nhập cuộc chung với nó còn bây giờ mình thấy sắc là sắc, thọ là thọ, tưởng là tưởng, hành là hành, thức là thức. Nếu mình có cảm thọ đau khổ thì cảm thọ này thuộc về duyên sanh, mình vẫn phải dùng Như lý tác ý, còn nếu không tác ý thì đành chịu chứ không có cách nào quét rác được nó, chúng ta tác ý như sau "cảm thọ này là pháp duyên sanh, có tiếp tục mới sanh ra thọ". Ví dụ, mình vô tình đá trúng cục đá nên chảy máu chân, lúc trước chưa biết quán chiếu cảm thọ thì mình thấy đau quá do mình nhập cuộc với nó, còn bây giờ tác ý "thân xác tứ đại vô thường này, do đụng chạm cục đá nên mới sanh ra cảm giác này, cảm giác này do tiếp xúc sanh ra. Hễ có thân là có khổ, hễ có thân là có bệnh, bao máu mủ bây giờ đổ ra rồi đó. Nhìn cho kĩ đi, có ai ở trong này, có cái tôi nào ở trong này? Cảm thọ này vô thường, sanh ra rồi hoại diệt, vì có thân nên mới có thọ, có thọ nên phải chịu khổ, vì vô thường nên khổ, vì khổ nên vô ngã, không có ai ở trong này". Tách ra khỏi cảm thọ này, thoát ra khỏi cảm thọ này và an trú trong tâm rộng lớn, rộng mở, không trú trong tâm nhỏ hẹp ngay chỗ vết thương đó mà mở cái tâm rộng mở vô lượng, những điều này cần có một sự thực tập lâu ngày, công phu thuần thục thì sẽ tách được.
Có một vị Tỳ-kheo bị rắn độc cắn sắp chết đã nhờ những vị Tỳ-kheo khác đến khiêng cái gường Ngài đang nằm ra ngoài trời vì chút nữa thân này sẽ rã rời ra như nắm rơm. Ngài Xá-lợi-phất đến thăm đã hỏi vị Tỳ-kheo thân bị rắn độc cắn sẽ rã ra mà sao sắc mặt không thay đổi. Vị Tỳ-kheo trả lời từ lâu ngài đã an trú trong tư tưởng sắc, thọ, tưởng, hành, thức này không phải là tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi, như vậy thì làm sao có thể đổi sắc mặt được. Sau đó toàn thân của Ngài bị nọc độc của rắn thấm vào, lan tỏa ra và Ngài chết nhưng Ngài bất động tâm giải thoát, không bị dao động vì đã tách tâm ra khỏi thọ, trú trong trạng thái vô lượng bất động. Đó là các bậc thành tựu các Thánh quả, có những vị thành tựu quả thứ ba, có những vị thành tựu tứ thánh quả.
"Một thời Tôn giả Sàriputta và Tôn giả Upasena trú ở Ràjagaha (Vương Xá), rừng Sitavana (Hàn Lâm), tại hang Ðầu Con Rắn (Sappapon-dikapabbàra).
Tôn giả Upasena gọi các Tỳ-kheo:
-- Chư Hiền, hãy đến và nhấc cái giường cùng với cái thân này của tôi đưa ra ngoài, trước khi thân này ở đây phân tán như một nắm rơm.
Ðược nói vậy, Tôn giả Sàriputta nói với Tôn giả Upasena:
-- Nhưng chúng tôi không thấy thân Tôn giả Upasena đổi khác hay các căn bị biến hoại.
Nhưng Tôn giả Upasena nói như sau:
Này Hiền giả Sàriputta, đối với ai nghĩ rằng: 'Tôi là con mắt', hay: 'Con mắt là của tôi'... 'Tôi là cái lưỡi', hay: 'Cái lưỡi là của tôi'... 'Tôi là ý', hay: 'Ý là của tôi', thời đối với các người ấy, này Hiền giả Sàriputta, thân có thể bị đổi khác, hay các căn bị biến hoại. Và này Hiền giả Sàriputta, tôi không nghĩ như sau: 'Tôi là con mắt', hay: 'Con mắt là của tôi'... 'Tôi là cái lưỡi', hay: 'Cái lưỡi là của tôi'... hay: 'Tôi là ý', hay: 'Ý là của tôi', thời này Hiền giả Sàriputta, làm sao thân ấy của tôi lại có thể đổi khác, hay các căn có thể biến hoại.
Vì rằng trong một thời gian dài, Tôn giả Upasena đã khéo nhổ tận gốc ngã kiến, ngã sở kiến, ngã mạn tùy miên, cho nên Tôn giả Upasena không có những tư tưởng như: 'Tôi là con mắt', hay: 'Con mắt là của tôi'... hay: 'Tôi là cái lưỡi', hay: 'Lưỡi là của tôi'... hay: 'Tôi là ý', hay: 'Ý là của tôi'.
Rồi các Tỳ-kheo ấy nhắc cái giường cùng với Tôn giả Upasena ra ngoài.
Rồi thân của Tôn giả Upasena, ngay tại chỗ ấy phân tán như một nắm rơm". (Tương Ưng Bộ, Tập IV. Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (b), Phần Hai - Năm Mươi Kinh Thứ Hai, II. Phẩm Migajàla, VII. Upasena)
Nói lại như vậy để chúng ta thấy công phu thực hành cảm giác toàn thân là cực kì quan trọng, phải thực tập từ những thứ nhỏ nhặt trong các sinh hoạt hằng ngày nhưng những điều này phải để ý mới thấy để thực tập, còn nếu không thực tập thì mình sẽ chết với nó, cảm thọ nào sanh ra mình cũng dính với nó.
Ni sư 2: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính bạch trên sư phụ, kính thưa quý thầy, quý sư cô và tất cả Phật tử. Đầu giờ nghe pháp vì lý do kĩ thuật thì con cảm nhận tâm bị sốt ruột do phải chờ đợi nên không được an tịnh, con không biết đó có phải là tâm sân nhẹ không. Sau khi nghe thầy hỏi cảm nhận của mọi người như thế nào và thầy nói nếu luôn hướng tâm ra ngoài sẽ bị dao động, tâm chúng ta không được an tịnh cho nên lúc nào cũng phải quay trở lại bên trong để nhận diện ngũ uẩn, quán chiếu toàn thân thì lúc đó con cảm nhận trong cuộc sống hằng ngày nếu không thường xuyên nhận diện ngũ uẩn và rõ biết toàn thân sẽ rất khổ sở, tâm bất an, điên đảo. Khi con nhận diện được như vậy thì con thấy bài giảng về ngũ uẩn của thầy giảng rất có ít lợi trong cuộc sống chúng con nhất là những người tu hành. Con xin luôn ghi nhớ sống quay trở lại mình để nhận diện ngũ uẩn, rõ biết toàn thân để tâm luôn được an tịnh, an lạc. Mô Phật.
Nắm bắt thiện pháp
Phật tử 1: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính bạch trên sư phụ, kính bạch quý thầy, quý sư cô và tất cả đại chúng. Con lên đây gần một tuần, con được sư phụ giảng pháp nên rất hoan hỉ, xúc động, sư phụ đã nhập thất nhưng vẫn truyền pháp cho chúng con nên con rất xúc động và luôn nghe lời sư phụ dạy. Khi về nhà sau khi lên đây tu học thì con thấy mình tinh tấn hơn, con có động viên chồng con hãy lên đây và anh cũng hứa sẽ sắp xếp công việc rồi lên sau. Con có đọc một bài về bố thí nên cho con xin hỏi trong kinh “Phân Biệt Cúng Dường” có bà Mahapajapati Gotami cúng dường cho Thế Tôn một cặp y thì bà đã nói "cặp y mới này do con cắt và dệt đặc biệt cho Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn vì lòng từ mẫn hãy nhận lấy cho con", sau đó Đức Phật đã đáp lại " Này Gotami, hãy cúng dường Tăng chúng. Bà cúng dường Tăng chúng, thời Ta sẽ được cung kính, và cả Tăng chúng cũng vậy". Xin sư phụ giảng thích thêm cho con câu này. Con cảm tạ sư phụ.
***
Bà Ma-ha-ba-xà-ba-đề là mẹ nuôi của Thái tử Tất-đạt-đa cho nên sau khi bà xuất gia thì tình thương của bà đối với Đức Phật vẫn rất mặn nồng của một người mẹ. Tuy nhiên, ở đây mình không biết lúc đó bà đã thành tựu Thánh quả A-la-hán chưa, Đức Phật nói bà hãy đem y cúng dường cho chúng Tăng thì chúng Tăng được tôn kính mà Đức Thế Tôn cũng được tôn kính, phước đức của bà sẽ được rộng lớn. Đức Phật khuyến khích bà cúng dường với một cái tâm rộng lớn, bình đẳng để công đức, phước báo của bà được rộng lớn chứ không phải chỉ là tình thương mẹ con.
Trong bài kinh “Phân Biệt Cúng Dường” được Đức Phật chia ra rất nhiều đối tượng để cúng dường và với tâm rộng lớn cúng dường thì phước báo sẽ tương xứng. Cũng như cô với tấm lòng rất chân thành, cung kính Tam bảo dành dụm những tịnh tài để cúng dường lên Tam bảo với tâm nguyện cầu mong cho Chánh Pháp được tồn, cầu mong có nhiều bậc chân tu thành tựu để làm cho ngọn đèn Thánh trí huệ này được tỏ sáng cho tất cả hữu tình, muôn loại chúng sanh được nương nhờ Chánh Pháp này mà dứt khổ cũng như cho tự thân mình. Tâm nguyện cúng dường này là tâm nguyện rộng lớn, còn mình cúng mà nghĩ chỉ cúng cho sư phụ hoặc cúng vì quý kính thầy nào đó thì cái đó không bằng việc cúng với cái tâm cúng vì Tam bảo, vì Chánh Pháp, tâm này rộng lớn và có công đức rộng lớn hơn.
***
Phật tử 1: Sư phụ cho con hỏi thêm về việc cúng dường, con sợ tâm của chúng sanh hay thay đổi cho nên con lên đây sám hối, con sợ ở nhà con thay đổi. Mỗi lần lên đây sư phụ đều ấn tống kinh sách Phật pháp cho Phật tử rất nhiều, con phát nguyện cúng dường Tam bảo để sư phụ lấy số tiền này ấn tống cho kinh sách để mọi người tiếp cận được giáo pháp để bớt khổ, cho nên con liều lên đây vì con sợ con sẽ thay đổi làm mất dịp cúng dường. Con cảm tạ ơn sư phụ, con cảm tạ ơn quý thầy, con đã sám hối rất nhiều để mọi người trên đây được bình an vì con lên đây trong thời điểm dịch bùng lên nên con sợ con mang dịch đến đây.
***
Thứ tự thuyết pháp của chư Phật được Đức Phật dạy cho người Phật tử. Đầu tiên Đức Phật dạy về bố thí, lòng tin, kế đó Đức Phật nói về nhân quả nghiệp báo của cõi trời và ba đường ác. Sau đó, khi thấy tâm của người này thuần thục thì Đức Phật nói về vị ngọt của các dục, sự nguy hiểm và tác hại của các dục và sự thoát ra khỏi các dục.Đức Phật thấy người đó tâm thuần thục rồi ngài mới nói cái pháp mà tất cả chư Phật quá khứ tuyên dương và ca ngợi là Tứ Thánh Đế, đó là thuận thứ thuyết pháp của tất cả chư Phật trong quá khứ.
Cho nên cô với tấm lòng tin tưởng Tam bảo, tha thiết trong việc làm những việc lành bố thí cúng dường bằng tâm chân lành vì hiểu pháp, vì ý thức sâu sắc được nỗi khổ, ý thức được sự nguy hiểm và tác hại của vô thường trong cuộc đời khổ đau đầy biến động. Với một cái tâm tha thiết chân thành cung kính hiểu pháp như vậy thì chắc chắn những phúc lạc này sẽ thấm nhuần tự thân cô và người thân, mang lợi lạc cho những chúng sanh muốn hướng về cầu Chánh Pháp.
Ngoài ra cô còn biết nghĩ sợ tâm mình đổi ý, cái này là một cái rất khéo léo trong sự tác ý vì đây là chỗ tu rất hay. Tâm chúng ta rất hay đổi ý, ví dụ lúc phát tâm thì rất mạnh mẽ nhưng lúc sau lại đổi ý cúng một nửa thôi hoặc là có những người đổi ý không cúng luôn. Hoặc mình hứa quyết liệt tinh tấn ngồi thiền một tiếng vậy mà mới ngồi được nửa tiếng là bỏ cuộc. Cho nên chúng ta phải biết ngăn chặn, phòng ngừa, cẩn thận để không đổi ý thiện pháp thì đây là một sự tác ý rất khéo léo, thiện xảo trong việc làm.
Thiện pháp sanh ra rất dễ bị thối thất còn ác pháp sanh khởi rất dễ tăng trưởng cho nên người tu chúng ta trong Tứ Chánh Cần phải rất để ý. Có nhiều người xin lên núi tu năm ngày, bảy ngày nhưng cuối cùng mới hai ngày đã bỏ về viện lý do nhà có việc này việc kia, nhiều khi cũng có công việc thật nhưng cái chính là sự đổi ý cho nên không thể tin tưởng vào cái ý được. Khi chúng ta phát thiện tâm là ngay lập tức phải làm liền, trong việc bố thí cúng dường, hay trong việc học hỏi kinh sách, hay trong việc làm công quả tạo phước, hay trong việc tu tập, học pháp hoặc nhập thất mà thấy thiện pháp khởi lên là phải nắm bắt liền, để qua là rất dễ thay đổi theo chiều tiêu cực. Vì vậy khi phát khởi thiện tâm, thiện pháp là phải làm liền, để qua rồi là mất đi hoặc bị thay đổi.
Bản thân Minh Thành cũng vậy, nhiều khi con thấy được là nhập thất thôi chứ không hề dự định trước. Chúng ta phải thường thực tập cái chết sẽ đến bất ngờ, đột ngột cho nên mình đừng hẹn tuần sau tu, tháng sau tu hoặc đợi sắp xếp xong mới tu, cứ được là tu lập tức vì con quỷ giết người vô thường không hẹn mà đến. Cũng vậy, những việc làm thiện, công đức, phước báo trong sự tu học phải được thực hiện ngay chứ không được đợi chờ.
Đôi lời nhắn nhủ
Những người mới vào dòng pháp này cần cố gắng nhận diện năm uẩn, nhất là trong những lúc buồn ngủ thì còn mù mờ hơn nữa, cho nên bây giờ cần thực tập nhiều nhất có thể. Các vị huynh đệ tỉ muội giúp nhau nhận diện năm uẩn, một ngày nhận diện ba bốn lần, làm bài tập với nhau thường xuyên mới quen được. Điểm thứ hai là phải Như lý tác ý hoặc là câu kinh, câu pháp nào có liên hệ thì đọc lên, ví dụ như bài kinh Pháp Cú sau:
"Tinh cần giữa phóng dật,
Tỉnh thức giữa quần mê.
Người trí như ngựa phi,
Bỏ sau con ngựa hèn".
(Kinh Pháp Cú 02 – Phẩm Không Phóng Dật, kệ 29)
Mình đọc những câu kinh có liên hệ đến sự việc đang xảy ra để mình tự nhắc nhở bản thân hoặc tác ý thật mạnh để đánh đuổi cơn buồn ngủ. Câu kinh "nhất hướng, nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn" nghĩa là khi học kinh Nikāya thì phải chuyên nhất vào kinh Nikāya chứ đừng lấy tư tưởng khác để vào, lấy cái này so với cái kia cái nọ là không học được và mình học thì cần chọn lựa người hướng dẫn, tìm hiểu kĩ vị đó có đúng chánh pháp không. Đức Phật đã dạy:
"Tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một điều gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa vào một gì khác". (Tương Ưng Bộ, Tập V. Thiên Đại Phẩm, Chương III. Tương Ưng Niệm Xứ (a), I. Phẩm Ambapàli, IX. Bệnh)
Chúng ta chưa biết Chánh Pháp là gì cho nên mình phải học, phải tìm hiểu Chánh Pháp là gì, người nào hướng dẫn đúng Chánh Pháp thì cần nhất hướng theo người đó. Bây giờ, chúng ta thường học theo thói quen, vài bữa học thầy này, hôm sau học thầy khác rồi cuối cùng mỗi người nói một kiểu làm mình không biết đường nào tu như đứng giữa ngã sáu, ngã bảy. Đức Phật nói người không có cái thấy biết rõ ràng giống như bông gòn thả ra cho gió bay trong ngã sáu, ngã bảy. Còn người thấy biết đúng, có niềm tin vững chắc được Đức Phật ví dụ như trụ đá bảy tám thước, được chôn xuống hai ba thước không bị gió làm chao đảo.
"Ví như, này các Tỳ-kheo, một hột bông hay một hột bông kappàsa bị gió nhẹ thổi lên, rơi xuống đất bằng, và gió phía Ðông thổi nó qua phía Tây; gió phía Tây thổi nó qua phía Ðông; gió phía Bắc thổi nó qua phía Nam; gió phía Nam thổi nó qua phía Bắc. Vì sao? Vì hột bông kappàsa rất nhẹ, này các Tỳ-kheo.
Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào không như thật rõ biết: 'Ðây là Khổ'... không như thật rõ biết: 'Ðây là Con Ðường đưa đến khổ diệt'. Họ ngước nhìn mặt một Sa-môn hay Bà-la-môn khác và nhận xét: 'Vị Tôn giả này biết điều đáng biết, thấy điều đáng thấy'. Vì sao? Vì không chánh kiến bốn Thánh đế, này các Tỳ-kheo.
Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào như thật rõ biết: 'Ðây là Khổ'... như thật rõ biết: 'Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt'. Họ không ngước nhìn mặt một Sa-môn hay Bà-la-môn khác và nhận xét: 'Vị Tôn giả này biết điều đáng biết, thấy điều đáng thấy'.
Ví như, này các Tỳ-kheo, một cây cột sắt hay cây cột trụ, bàn tọa được đóng sâu (gambhiiranemo), khéo chôn sâu, bất động, không có lay chuyển; nếu từ phương Ðông có gió và mưa lớn đến, cột trụ ấy không rung chuyển, không lay chuyển, không động chuyển...; nếu từ phương Tây... nếu từ phương Bắc... nếu từ phương Nam có gió và mưa lớn đến, cột trụ ấy không có rung chuyển, không lay chuyển, không động chuyển. Vì sao? Vì bàn tọa được đóng sâu, khéo chôn sâu, này các Tỳ-kheo'. (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), IV. Phẩm Rừng Simsapà, IX. Cột Trụ)
Vì vậy, Minh Thành mong các vị để tâm vào pháp nhiều hơn, nghe nhiều hơn để thấy được lời dạy nguyên chất của Đức Phật chứ mình không đi theo tông phái nào. Mọi người nhớ rằng, kinh Nikāya không có tông phái nào cả mà chỉ có lời dạy nguyên chất của Đức Phật mà thôi./.
BÍ QUYẾT TU TẬP?
HÀNH UẨN LÀ GÌ?
CHÁNH KIẾN LÀ GÌ?
LÀM SAO NHIẾP PHỤC CẢM THỌ?
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Bí quyết tu tập PAGEREF _Toc79156432 \h 1
II.Đạo lộ tu tập trọn vẹn PAGEREF _Toc79156433 \h 3
III.Trí tuệ về hành uẩn PAGEREF _Toc79156434 \h 6
IV.Chánh kiến dẫn đường tất cả PAGEREF _Toc79156435 \h 10
V.Nhiếp phục cảm thọ PAGEREF _Toc79156436 \h 13
VI.Nắm bắt thiện pháp PAGEREF _Toc79156437 \h 16
VII.Đôi lời nhắn nhủ PAGEREF _Toc79156438 \h 19
Bí quyết tu tập
Do đường truyền mạng Internet chập chờn nên làm ngắt quãng bài giảng, lúc này mình phải quay lại xem cảm thọ của mình, điều này rất quan trọng vì mai đây khi chết sẽ dùng được. Nếu từ giờ không tập an tịnh, lắng dịu mà cứ hễ có chuyện không vừa lòng là bực mình, khó chịu, dù cho là chuyện nhỏ nhưng cảm thọ cũng không yên tịnh, không thực tập sự lắng dịu, an tịnh, dễ chịu thì khi chuyện lớn đến làm sao tâm bình an được? Khi tu học dòng pháp này sẽ làm bài tập rất nhiều, tất cả mọi tình huống đều là bài tập và bài thi, có nhiều người nghĩ đến giờ thiền mới thiền còn giờ này là nghe pháp nhưng không phải vậy, tất cả mọi thứ đến với mình xảy ra trong giây phút hiện tại nếu không nhận diện ngũ uẩn, không thấy cảm giác, nghĩ, tưởng, mình bị ngoại cảnh dẫn dắt làm dao động, bấn loạn là mình đã thất bại, sau này khi tai nạn bất thình lình xảy ra thì làm sao mình có sức tự chủ, làm sao mình có định lực?
Cho nên hôm nay mạng Internet bị trục trặc là một bài tập để mình thấy được tâm chính mình, thấy được công phu tu tập. Người biết tu là trong mỗi việc đều xoay lại nhìn tâm mình, đó mới là người khéo tu chứ còn gặp chuyện trái ý là khó chịu, bực mình, sân hận thì làm sao tu? Mình cứ muốn mọi điều phải theo ý mình thì làm sao có được? Mình không cần nhiếp phục ngoại cảnh mà cần nhiếp phục tự thân mình, nếu tự thân mình nhiếp phục được thì ngoại cảnh không có gì quan trọng còn nếu không lo nhiếp phục thân tâm mà cứ đòi ngoại cảnh thuận theo ý nghĩ mình thì mình sẽ khổ hoài, đi đâu cũng khổ. Nếu nhiếp phục được thân tâm thì đi đâu, gặp chuyện gì, có những tai nạn hoặc thậm chí đối diện cái chết chỉ cần quay lại nhiếp phục cảm thọ, nội tâm thì mình mới có sức tự chủ. Còn không ngũ uẩn này là vô chủ, suốt đời làm nô lệ cho ngoại cảnh, sống với tâm nhỏ hẹp, suốt ngày chỉ thích với không thích, vui với buồn, thương với ghét thì mình sẽ bị gió ngoại cảnh thổi mình bay xa, cuốn mình đi.
Vì vậy, sự tu học này rất hay, nhất là sự nhận diện ngũ uẩn để nhiếp phục cảm thọ rất vi diệu. Ngày mà các Ni sư đến thăm con là thân thể con bị sâu bắn đầy người, con ngồi tiếp khách mà phải nhiếp phục cảm thọ nhưng không ai biết gì cả. Cho nên Đức Phật nói "làm cho hiện hành các pháp hữu vi nên gọi là hành" là do khẩu hành con nói ra thì các Ni sư mới biết chứ nếu không nói ra thì mọi người không ai biết. Bên ngoài con đang chia sẻ pháp nhưng bên trong là một sự nhiếp phục các cảm thọ của thân. Vì thế tu học là cả một sự nhiếp phục cảm thọ, cảm giác nhưng mình phải thấy thì mới nhiếp phục, còn không thấy không biết thì làm sao nhiếp phục?
Khi bị sâu bắn, Minh Thành an tịnh, lắng dịu quán chiếu nghiệp quả trong quá khứ, thấy đây là oan gia trái chủ, có thể nghiệp nặng hơn nhưng giờ mình tu nên chuyển biến thành nghiệp nhẹ, cho nên nghiệp tới thì mình trả với tâm an tịnh, lắng dịu. Đương nhiên lúc đầu rất bực bội, sân giận lên, lúc đó mình tác ý "bây giờ mình lên núi rừng ở một mình mà còn nổi sân thì có nhục không? Mình nói mình tu mà có mấy con sâu làm mình ngứa mà sân lên thì nhục nhã, xấu hổ, không xứng đáng. Chỉ có mấy con sâu mà chịu không nổi thì còn làm gì nữa?", tác ý như vậy để hóa giải tâm sân, tâm khó chịu, khổ thọ. Sau đó mới dùng nước muối dội lên và quán chiếu về oan gia trái chủ, nghiệp chướng để trả nghiệp, mình tác ý để tâm nhả ra sự khó chịu: “Tại sao lại sanh ra thân hình để đi bắn người ta làm cho người ta khổ sở như vậy?”. Mình phải biết rằng mỗi người một nỗi khổ, mỗi loài một niềm đau, hãy thông cảm cho nhau, đừng tạo thêm khổ nữa. Lúc đó nghĩ rằng, con người bị chỉ có một chút vậy thôi mà khó chịu, khổ như vậy thì chúng sanh kia mang cái thân lông lá bù xù còn đau khổ đến mức độ nào, vì vô minh, ngu si, nghiệp chướng nên mới sanh ra mang cái thân như vậy chứ nó đâu có muốn làm khổ người ta. Cho nên mỗi người một nỗi khổ, mỗi loài một niềm đau, hãy thấu hiểu cho nhau, đừng tạo thêm đau khổ nữa, đừng tạo thêm oai trái, đừng tạo thêm đắng cay.
Sau khi tác ý thành công về vấn đề nghiệp thì Minh Thành nằm xuống là da đỏ lên, có chỗ máu chảy, toàn thân cứng đờ nên có ý nghĩ muốn về Linh Quy nhưng con nghĩ cứ chạy qua chạy lại hoài thì đến khi nào mới được yên, phải nhiếp phục ý nghĩ đó và ở lại đây. Con nằm xuống tác ý buông xả ngũ uẩn, sắc này là vô thường, khổ, vô ngã nên buông xả; cảm giác này là vô thường, khổ đau nên buông xả; những hình bóng, suy nghĩ này là vô thường, khổ, vô ngã; những nhận thức rõ biết là vô thường, khổ, vô ngã nên buông xả toàn bộ. Con quán tưởng mình đi vào cõi chết, khi tác ý như vậy thì ngũ uẩn được an tịnh, lắng dịu, dễ chịu rồi nằm nghỉ được nửa tiếng đến khi thức dậy đỡ hơn rất nhiều.
Trong dòng luân hồi sanh tử này nghiệp quả rất khủng khiếp, nếu không nhìn thấy không quán chiếu thì vừa trả nợ vừa vay, tức là nợ cũ chưa trả hết thì lại vay thêm nợ mới. Con quán chiếu lại bài kinh “Sợ hãi khiếp đảm” của Trung Bộ Kinh, trong bài kinh đó Đức Phật kể lại lúc ngài ở trong rừng thì những cái sợ hãi và khiếp đảm đến với ngài rất khủng khiếp. Đối với Bồ-tát Tất-đạt-đa mình không được một phần ngàn của Ngài nên bị sâu bắn như vậy không là gì hết, cho nên con được an tịnh, lắng dịu, dễ chịu để ngồi đang chia sẻ pháp với mọi người. Nếu mình không biết thì khi nghiệp đến cũng như chủ nợ đến là mình không trả mà còn vay thêm, tất cả chúng sanh vì vô minh che đậy, vì tham ái trói buộc, vì sân hận, bản ngã sẽ tạo ra rất nhiều nghiệp quả, oan trái cho nhau.
Từ chuyện con sâu, con muỗi… con thấy được dòng luân hồi, dòng nghiệp quả và con thấy khiếp sợ nó. Con đang ngồi chia sẻ pháp mà muỗi vẫn bay vào chích liên tục, nhiều khi có những buổi vừa chia sẻ pháp vừa chịu đựng với mấy con sâu. Mình tu từ từ sẽ nhìn thấy ra được thân tâm, thấy ra được những nghiệp quả, nhìn thấy vô minh, tham ái, chấp thủ của mình như thế nào, thấy được những cảm thọ sân hận của mình như thế nào, thấy được cái tâm hơn thua, buông lung phóng dật như thế nào. Khi thấy rồi chúng ta sẽ có cảm giác ngao ngán, ê chề cho dòng sống chết, cho dòng trả vay này. Khi đã biết như vầy thì lúc nhìn lại sẽ thấy vui, hoan hỷ vì trước nay mình không biết, không thấy, còn giờ tu rồi thì các pháp sẽ từ từ hiện rõ ra và từ từ mình sẽ thấy biết.
Đạo lộ tu tập trọn vẹn
Ni sư 1: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Kính bạch trên thầy, kính thưa quý thầy, quý sư cô cùng toàn thể quý Phật tử. Con xin thưa với thầy, đầu tiên khi con chưa nghe rõ lời thầy do đường truyền mạng yếu thì con không có cảm thọ khổ cũng không có cảm thọ lạc nhưng con thấy hơi thở không đều, con an trú trở về, an tịnh hơi thở. Con thấy hơi thở không đều là một sự không hài lòng nhưng vi tế phải không thưa thầy? Khi cái thân không cảm thấy vui hay có sân giận rõ rệt nhưng thấy hơi thở không đều thì thưa thầy đó có phải là sân ở mức vi tế không ạ?
***
Chính chỗ này là chỗ chúng ta cần thực tập cảm giác toàn thân, vì khi thực hành hơi thở quen sẽ không thấy lúc đó mình dễ chịu hay khó chịu nhưng chỉ thấy hơi thở bị biến động, không bình thường. Hơi thở không phải là chỗ hội tụ tất cả pháp mà nó chỉ là một pháp nhỏ thôi, cho nên khi nhìn lại nó mình sẽ không thấy rõ trạng thái của tâm mà chỉ thấy hơi thở có sự biến đổi, đây là lý do tại sao chúng ta phải thực hành cảm giác toàn thân. Khi hơi thở biến đổi tức là đã có vấn đề không còn bình thường nữa, lúc đó biết nó không được tự nhiên nhưng mình không biết trạng thái tâm lúc đó thuộc trạng thái nào, cho nên hơi thở chỉ là một pháp mà Đức Phật cũng rất khen ngợi. Tuy nhiên, khi nhận diện năm uẩn, thực hành cảm giác toàn thân rồi tu hơi thở sẽ khác với tu nhưng không nhận diện năm uẩn, không thực hành cảm giác toàn thân mà chỉ tu hơi thở, chỗ này chúng ta cần phân biệt rõ ràng.
Chúng ta đừng nghĩ rằng người tu quán niệm hơi thở ai cũng giống ai. Người tu nhận diện năm uẩn, thấy rõ được thọ; tưởng; hành; thức và tu quán niệm hơi thở thì có thể chứng đắc quả A-la-hán hoặc là Bất Lai. Vì sự tu quán niệm hơi thở này thuộc về phần niệm thân đặt nền tảng trên chánh tri kiến, cho nên Đức Phật gọi sự tu quán niệm hơi thở là phạm trú, là Như lai trú, tức là chỗ thường trú của các Đức Như Lai và chỗ trú của các bậc Phạm Thiên. Nhiều khi sau ba tháng An cư, được các thầy Tỳ-kheo hỏi thì Đức Phật trả lời trong suốt ba tháng đó Ngài thường trú trong hơi thở nhưng chúng ta phải biết sự an trú của Thế Tôn với các bậc đã có chánh kiến khác với sự tu tập hơi thở của người chưa nhìn thấy ngũ uẩn, vì thế đây là chỗ chúng ta cần phân biệt cho rõ.
Tại sao chúng ta tu thiền? Ngay cả bản thân Minh Thành ngày xưa mỗi ngày cũng ngồi thiền hai thời suốt chục năm nhưng không thấy kết quả rõ rệt, có tâm an lạc nhưng không rõ ràng, cụ thể, không giải quyết được dục, tham, sân si, vô minh, bản ngã. Đó là tại vì chúng ta vừa vào đã nhảy đến tầng thứ tám của Bát Chánh Đạo, chúng ta không đi qua chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm mà chúng ta mới vào đã nhảy lên chánh định, đây là chỗ mà chúng ta tu không được kết quả giống như Thánh đạo của Đức Phật. Muốn đi vào chánh định phải đi vào bảy cái chánh ở phía trước, chúng ta cần nhớ thấy đúng, nghĩ đúng, nói đúng, làm đúng, sống đúng, siêng đúng, quán đúng rồi mới đến định đúng. Cho nên thiền định của Đạo Phật phải được sửa soạn trước bởi bảy sự chân chánh ở bước đầu tiên thì mới có thể đi vào Thánh chánh định, tức là thiền định của bậc Thánh. Đây là chỗ rất quan trọng mà trước nay không ai để ý, mà cứ thích tu thiền là vào ngồi thiền chính, thế nên thiền của mình không đi đến đúng như thiền của Đức Phật thành tựu.
Hơi thở chỉ là một pháp trong sáu pháp của Thân Hành Niệm. Trong kinh Tứ Niệm Xứ dạy chúng ta Niệm Thân có sáu khía cạnh:
Niệm oai nghi.
Niệm hành động.
Niệm tứ đại.
Niệm hơi thở.
Niệm ba mươi hai thể trược.
Niệm chín giai đoạn của một tử thi.
Như vậy, hơi thở chỉ là một phần sáu của niệm thân, tuy nhiên, có nhiều người lấy hơi thở làm chính, chỉ giữ một hơi thở, dù được an lạc, nhẹ nhàng, chú tâm nhưng đó không phải là chánh niệm tỉnh giác toàn diện, không phải là cái thấy biết thân tâm một cách toàn diện, đầy đủ, đồng đều hết tất cả mọi khía cạnh, ngõ ngách, phương diện. Sự tu tập như vậy không thầy đủ, không thấy biết trọn vẹn về thân tâm nên đây là lý do tại sao chúng ta phải tu tập nhận diện ngũ uẩn, tại sao phải quán chiếu cảm giác toàn thân. Khi đó, mình chỉ biết hơi thở có biến động không bình thường nhưng không biết tâm mình lúc đó thuộc trạng thái gì, còn khi an trú cảm giác toàn thân thì chỉ cần dao động một chút là chúng ta biết liền. Cho nên khi đường truyền mạng trục trặc mà chúng ta khó chịu là chuyện bình thường. Còn vẫn bình thường, không khó chịu là chuyện bất ngờ, như vậy chỉ có là hai trường hợp, một là vị đó đã thành tựu định và thứ hai là vị không rõ biết thân tâm mình một cách chính xác. Đây là lý do phải nhận diện ngũ uẩn, thực hành cảm giác toàn thân.
Chúng ta tu theo kinh Nikāya là có cả pháp học lẫn pháp hành. Chúng ta có một thói quen mà chính bản thân Minh Thành ngày xưa cũng bị mà bây giờ hiểu ra mới thấy mình vô minh. Đó là chúng ta thích tu một cái là xong, tu cái gì đơn giản nhất chứ không thích tu nhiều, chính cái này là cái thấy biết của phàm phu. Cái tu không phải dễ hay khó, không phải nhiều hay ít mà cái tu đó có đúng hay không mới quan trọng. Còn nếu chúng ta tìm sự khó dễ thì không phải đi tìm sự thật mà chỉ là tìm khó hay dễ; nếu đi tìm ít với nhiều thì không phải tìm pháp mà chỉ tìm ít hoặc nhiều; nếu chúng ta tìm cao thấp thì không phải tìm đạo lộ con đường tiêu diệt khổ đau mà chỉ đi tìm cao hoặc thấp thôi nên chúng ta không thể thành tựu được pháp học, đây là kinh nghiệm xương máu ba mươi năm của con. Chúng ta nói đi cầu pháp chứ thật ra là đi cầu theo ý mình, cái nào hợp ý thì thích trong khi pháp là pháp, pháp không theo ý ai cả.
Cho nên, chúng ta phải từ bỏ bản ngã, suy nghĩ, sở thích để tiếp nhận pháp, gọi là chấp nhận học pháp thì mình mới thấy được cái pháp thật sự trọn vẹn đúng như pháp là pháp. Còn đem cái tâm thích cái này không thích cái kia, muốn cái này không muốn cái kia, hợp cái này không hợp cái kia thì cái tâm đó không thể nào cầu được Thánh pháp viên mãn, chúng ta cần nhớ chỗ quan trọng này. Cho nên mình chỉ thích những thứ đơn giản đừng có phức tạp, thích cái gì dễ dàng đừng có khó khăn, thích cái gì mau lẹ đừng có chậm chạp thì chết ngay, vì đó là những kiết sử của chúng sanh, là vô minh, tham ái của chúng sanh, chính là thích với không thích, vừa lòng với không vừa lòng, ưa với không ưa.
Chúng ta tu theo đường lối kinh tạng Nikāya thì nhất định mình phải thành tựu căn bản trí, mà căn bản trí nằm trong quyển Nghi thức tu học Nikāya, trong đó có căn bản trí số 1, số 2. Mình cần cố gắng học thuộc những phần rất căn bản: định nghĩa ngũ uẩn, ba loại cảm thọ, chỗ trú ẩn của tham, sân, si và những pháp nhiếp phục, nếu không biết những thứ này thì không thể thực hành được, mình không biết cái pháp đó tức là mình còn vô minh với nó nên khi nó sanh khởi, vận hành mình không biết, mà không biết thì làm sao nhiếp phục nó? Vì thế chữ chánh kiến trong kinh tạng Nikāya rất sâu sắc và rộng lớn.
Trí tuệ về hành uẩn
Ni sư 1: Trong bài kinh định nghĩa ngũ uẩn, kinh “Đáng Được Ăn” thì con chưa hiểu rõ câu nói "làm cho hiện hành sắc với sắc tánh, thọ với thọ tánh", theo con hiểu tánh ở đây giống như tánh của lửa là nóng, tánh của nước là mát, tánh của lửa thì không thể mát lạnh được. Xin thầy giải thích thêm chữ tánh trong câu kinh có ý nghĩa như thế nào, thưa thầy. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
***
"Này các Tỳ-kheo, thế nào gọi là hành? Làm cho hiện hành (pháp) hữu vi nên gọi là hành. Làm cho hiện hành (pháp) hữu vi gì? Làm cho hiện hành sắc với sắc tánh, làm cho hiện hành thọ với thọ tánh, làm cho hiện hành tưởng với tưởng tánh, làm cho hiện hành các hành với hành tánh, làm cho hiện hành thức với thức tánh. Làm cho hiện hành (pháp) hữu vi, này các Tỳ-kheo, nên gọi là các hành". (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (d), III. Phẩm Những Gì Ðược Ăn, VII. Ðáng Ðược Ăn)
Quý vị nên về nghe thêm bài "Thánh trí ngũ uẩn" trên trang linhquyphapan.vn, có khoảng hai mươi bài, ở bài số 2, số 3, số 4 Minh Thành có giải thích những điều này rất kĩ. “Làm cho hiện hành sắc với sắc tánh”, ví dụ khi nãy con nói cho đại chúng nghe là hôm đó con bị sâu bắn nên ngứa đầy mình, phải nhiếp phục cảm thọ trong khi chia sẻ pháp với mọi người. Trong câu nói đó chúng ta sẽ thấy đầy đủ, làm cho hiện hành, làm cho biểu hiện ra, làm cho năm uẩn của mình được thấy rõ. Nếu con nói thân thể con bị sâu bắn ngứa khắp người thì thân thể đó là sắc uẩn, con bị khó chịu do ngứa là thọ uẩn, trong tâm mọi người có hình bóng con hôm đó là tưởng uẩn, mọi người có suy nghĩ là hành uẩn, lúc đó mình rõ biết trong tâm đang có hình bóng, suy nghĩ, cảm giác đó là thức uẩn. Đó là làm cho hiện hành sắc; thọ; tưởng; hành; thức. Sau đó con nói "thân thể này là vô thường, bản chất của nó là bệnh hoạn, phiền não, vô ngã, trống rỗng, không có bền chắc, rồi cũng sẽ tan hoại thành cát bụi", đó là làm cho hiện hành sắc tánh, thọ tánh, tưởng tánh, hành tánh, thức tánh. Tánh là bản chất, bản tánh và bản tánh của nó là vô thường, khổ não, vô ngã. Như vậy trong một câu nói của con làm cho hiện hành sắc với sắc tánh, thọ với thọ tánh, tưởng với tưởng tánh, hành với hành tánh, thức với thức tánh, đó là làm cho hiện hành các pháp hữu vi nên gọi là hành, hành đó là khẩu hành (lời nói). Nếu chúng ta không nắm vững được cái hành này thì chúng ta bị nó lừa gạt rất nhiều.
Chúng ta suy nghĩ "lên Linh Quy kì này thật nhẹ nhàng, thanh thản, mình có cảm giác rất an tịnh, an lạc và thấy được lời dạy của Đức Phật trong kinh tạng Nikāya, nhất là buổi sáng khi quý thầy quý cô và đại chúng đọc lên những lời Đức Phật thì mình có cảm giác được trở về 2600 năm trước. Những lời dạy của Đức Phật giống như vang vọng đâu đây, giống như Thế Tôn đang ở gần bên mình. Thật là an lạc, thật là nhẹ nhàng, thật là bình an, thật là vi diệu cho những lời Đức Phật dạy, đã 26 thế kỷ mà giá trị vẫn còn mãi mãi và vĩnh viễn, tất cả đời sống này đúng theo Đức Phật nói không sai, là vô thường, là khổ đau, là vô ngã, trống rỗng. Hễ còn tham, còn muốn, còn nắm chặt trong đây là còn khổ, hãy viễn ly, rời xa, buông bỏ nó thì mình sẽ được hạnh phúc, an lạc". Mình suy nghĩ như vậy trong tâm chứ không nói ra thì suy nghĩ đó làm cho hiện hành tất cả ngũ uẩn và bản tánh của ngũ uẩn. Mình nghĩ lên Linh Quy chuyến này thấy an lạc thanh tịnh là sắc tưởng, hình bóng của mình trong tâm, cảm giác dễ chịu là thọ, những suy nghĩ là hành, mình rõ biết những cảm giác, nghĩ tưởng nghĩa là thọ; tưởng; hành, đó là thức. Mình thấy năm uẩn là vô thường, khổ đau, vô ngã, trống rỗng, hễ còn nắm giữ, đam mê, dính mắc với nó là còn đau khổ.
"Sợ hãi, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với các dục. Ðau khổ, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với các dục. Bệnh tật, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với các dục. Cục bướu, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với các dục. Mũi tên, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với các dục. Trói buộc, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với các dục. Bùn, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với các dục. Thai tạng, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với các dục.". (Tăng Chi Bộ, Chương VIII - Tám Pháp, VI. Phẩm Gotamì, (VI). Sợ Hãi)
Cho đến khi nào mình nhiếp phục được lòng ưa thích, lòng đam mê, lòng ham muốn đối với sắc; thanh; hương; vị; xúc; pháp trên cuộc đời này, đối với thân xác này, đối với đời sống này, đối với tâm thức này thì chúng ta sẽ có sự an lạc, giải thoát, thảnh thơi. Suy nghĩ như vậy là thấy rõ được bản tánh của ngũ uẩn, bản tánh của nó là vô thường, khổ đau, vô ngã. Như vậy trong một suy nghĩ của mình làm hiển lộ ra ngũ uẩn và bản tính của ngũ uẩn, đây là ví dụ thứ hai về ý hành (suy nghĩ). Thân hành cũng giống như vậy, cho nên Đức Phật nói rằng tất cả pháp lấy Như lý tác ý làm sanh khởi, chính vì vậy chúng ta đừng ngại thiền quán.
"Này chư Hiền, các pháp lấy dục làm căn bản. Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi. Tất cả pháp lấy xúc làm tập khởi. Tất cả pháp lấy thọ làm chỗ tụ hội. Tất cả pháp lấy định làm thượng thủ. Tất cả pháp lấy niệm làm tăng thượng. Tất cả pháp lấy tuệ làm tối thượng. Tất cả pháp lấy giải thoát làm lõi cây". (Tăng Chi Bộ, Chương VIII. Tám Pháp, IX. Phẩm Niệm, (III). Cội Rễ Của Sự Vật).
Chính bản thân Minh Thành cũng vậy, chúng ta đã quen với thiền chỉ, chúng ta quen với việc ngồi yên tịnh mà bây giờ bắt mình phải vừa ngồi vừa tác ý thì thấy lạ. Nếu như mình không tác ý thì các pháp không sanh khởi, nếu Minh Thành không ngồi chia sẻ pháp thì lúc đó trong tâm đại chúng không thể có thọ; tưởng; hành như từ nãy giờ. Cho nên “tất cả pháp lấy tác ý sanh khởi”, nếu không tác ý thì thiện pháp không sanh, trí huệ không sanh vì vậy đừng sợ tu thiền quán, đừng sợ tâm bị động. Cái tâm mình phải được Như lý tác ý nuôi dưỡng, Như lý tác ý cũng gọi là chánh tư duy hoặc là Thánh tư duy, là sự suy nghĩ của bậc Thánh. Như vậy, không phải Thánh là không suy nghĩ, họ có suy nghĩ nhưng nghĩ theo minh chứ không phải theo vô minh, suy nghĩ theo chiều ly sân tư duy, ly dục tư duy, bất hại tư duy tức là suy nghĩ như thế nào để tránh xa các dục thì gọi là chánh tư suy, Thánh tư duy, Như lý tác ý (tác động tâm ý đúng như chân lý).
Còn bây giờ cứ ngồi im thì làm sao tâm mình ly dục được? Cái tâm chỉ yên trên mặt nổi, còn sự sâu sắc phía dưới là sự ham thích, dính mắc không được đào xới gốc rễ. Cho nên, cần phải có những tư duy đó mới đào bới, xới lên những gốc rễ, từ rễ cái cho đến rễ con thâm căn cố đế và phá các tầng cảm thọ sâu phía dưới. Vì cái dục, ái, tham ngấm trong vô lượng vô biên kiếp trong cảm thọ mà chúng ta cứ ngồi im thì không thể nào giải quyết được vấn đề.
Ví dụ một người bị mù năm mươi năm, may mắn được gặp thần y nên được cho thần dược trị sáng mắt, khi sáng mắt thì người này nhìn thấy trong nhà có đống rác khủng khiếp năm mươi năm. Nếu người này cứ ngồi im re nhìn đống rác thì chừng nào nhà mới sạch, đống rác mới được dọn dẹp? Muốn sạch thì phải hốt, dọn, đổ rác ngoài ra còn phải lau chùi, rửa, thậm chí dùng thuốc tẩy, bàn chải chà và dùng chất khử mùi….
Chính vì vậy sau khi thấy đúng (chánh kiến) sẽ tới nghĩ đúng (chánh tư duy) thì cái nghĩ đúng này không phải gặp chuyện mới nghĩ mà còn phải chủ động tác ý bằng suy nghĩ của chánh trí, của chánh pháp, của chánh kiến. Các nơi dịch bùng lên, ở thành phố chúng ta chỉ có một ca bây giờ đã lên rất nhiều rồi, chúng ta không phòng ngự nữa mà chuyển sang tấn công virut nghĩa là cho xét nghiệm hết tất cả các bệnh viện, không đợi đến khi dịch bùng lên mới trị mà phải ngăn chặn, tìm kiếm và phát hiện trước khi nó bùng lên, gọi là tấn công virut chủ động, tích cực. Cũng vậy, mình không đợi đến khi tham, dục, sân sanh khởi lên mới tu mà phải tu khi nó chưa sanh khởi, vì thế sự tác ý thiền quán, thiền tư, tư duy rất quan trọng để đánh đuổi suy nghĩ theo chiều tà kiến, sai quấy của vô minh. Minh Thành mời quý vị nghe thêm bài "Trí tuệ về suy nghĩ” và “Tu bằng cách suy nghĩ" trên trang linhquyphapan.vn, nói về chánh tư duy, Thánh tư duy và Như lý tác ý, cũng như bài "Tác ý là cây chổi thần quét rác nội tâm".
Chánh kiến dẫn đường tất cả
Chánh kiến có chuẩn mực rất rõ, Đức Phật nói rất nhiều trong kinh tạng Nikāya.
Đức Phật nói những kẻ vô văn phàm phu không gặp các bậc Thánh, không thấy các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh nên cho rằng sắc là của tôi; thọ này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi; những hình bóng trong tâm là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi; những suy nghĩ, nhận thức rõ biết là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi. Vì họ cho rằng năm uẩn này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi cho nên năm uẩn này bị biến đổi, bị đổi khác, bị vô thường nên họ bị sầu, bi, khổ, ưu, não, đó gọi là thân kiến, tà kiến, chấp ngã. Còn bậc Đa văn Thánh đệ tử gặp các bậc Thánh, học pháp các bậc Thánh, tu tập pháp các bậc Thánh, thuần thục pháp các bậc Thánh sẽ không cho sắc này, thân xác, hình hài này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi; không cho rằng những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ và sự nhận thức rõ biết này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi. Vị Đa văn Thánh đệ tử không cho ngũ uẩn này là tôi, là của tôi nên khi ngũ uẩn có vô thường, có đổi khác, biến đổi thì vị này cũng không sầu, bi, khổ, ưu, não. Đó là sự khác biệt giữa vô văn phàm phu và Đa văn Thánh đệ tử, đó là sự khác biệt giữa tà kiến và chánh kiến, đó là sự khác biệt về thấy đúng và thấy sai về tự thân tâm của chính mình.
Như vậy, tiêu chuẩn rõ ràng của chánh kiến là phải nhìn thấy ngũ uẩn, thường xuyên nhận diện thấy được năm uẩn không có cái tôi, cái của tôi trong đó và cái thấy biết này phải được nghĩ đúng nuôi dưỡng, chứ còn nghe xong, thấy xong để đó là mất đi, giống như trí tuệ bắp vế được Đức Phật ví dụ mình để đồ ăn lên đùi đứng lên là rớt xuống hết.
"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là người với trí tuệ bắp vế? Ở đây, này các Tỳ-kheo, có hạng người đi đến khu vườn (tinh xá). Người ấy, tại chỗ ngồi ấy, đối với bài thuyết giảng ấy, có tác ý đến đoạn đầu, có tác ý đến đoạn giữa, có tác ý đến đoạn cuối. Nhưng khi người ấy từ chỗ ngồi ấy đứng dậy, đối với bài thuyết giảng ấy, người ấy không có tác ý đến đoạn đầu, không có tác ý đến đoạn giữa, không có tác ý đến đoạn cuối. Ví như này các Tỳ-kheo, trên bắp vế của một người, các loại đồ ăn được chồng lên như hạt mè, hột gạo, các loại kẹo và trái táo. Khi từ chỗ ngồi đứng dậy, vì vô ý, người ấy làm đổ vãi tất cả. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, ở đây, có hạng người đi đến khu vườn ... Người ấy, tại chỗ ngồi ấy ... có tác ý đoạn cuối. Nhưng khi người ấy tại chỗ ngồi ấy đứng dậy ... không có tác ý đoạn cuối. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là hạng người với trí tuệ bắp vế". (Tăng Chi Bộ, Chương III - Ba Pháp, III. Phẩm Người, 30 - Lộn Ngược)
Cái thấy đúng, cái chánh kiến này phải được tưới tẩm, nuôi dưỡng, tăng trưởng, phát triển, tu tập quảng đại lớn mạnh thành cỗ xe, thành căn cứ địa, việc tu tập này phải được thường nghe và Như lý tác ý. Đây cũng là nhân duyên để làm cho chánh kiến sanh khởi, tức là nghe Chánh Pháp. Ai được nghe vị đã thành tựu chánh kiến nói và người này tác động tâm ý đúng theo lời dạy đó để suy tư, quán chiếu, thực tập thì chánh kiến sẽ được nuôi lớn từ từ. Từ sự thấy đúng đó sẽ dẫn người này đến suy nghĩ đúng, tác ý, tư duy, quán chiếu theo lời dạy đúng và nói theo điều đó thì trở thành chánh ngữ. Người này sống theo lời đó, làm nghề nuôi mạng phù hợp với giới luật cư sĩ hay xuất gia. Người này sống đời sống phù hợp với đức hạnh của một người tu, siêng năng, thường xuyên quán sát về lời dạy đó trong mọi lúc mọi nơi, sống với nó, suy tư với nó, thức với nó, nói năng với nó. Người này đi đứng nằm ngồi, co duỗi cúi ngước đều trú trong cái thấy biết đó thường xuyên và liên tục, không rời xa cái thấy biết đó. Từ sự quán đúng của người này sẽ từ từ dẫn đến bảy Thánh đạo cho đến khi chín muồi thì người này thành tựu được Thánh chánh định, đây là cái định của bậc Thánh.
Chính vì vậy, khi vào dòng pháp này không vội để ngồi thiền, không vội để đi vào sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền mà làm sao để thành tựu chánh kiến trước. Nếu không thành tựu chánh kiến dù cho có thiền định thì cái định đó cũng không phải là Thánh chánh định, không phải chánh định của bậc Thánh vì cái thiền đó là cái thiền của một bản ngã, của một cái tôi, cái ta, "mình định chứ người ta không có định", "mình tu người ta không có tu". Vì thế nếu không bước qua cánh cửa chánh kiến thì tất cả sự tu hành của mình đều ở trong hữu vi sanh diệt, trong vô thường, khổ vô ngã, trong tham, sân, si và cái tôi.
Thế nên, khi bước vào cửa đầu tiên của Bát Chánh Đạo là Nhập Lưu Tu-đà-hoàn, chưa thiền định gì cả mà chỉ cần thành tựu chánh tri kiến thôi thì vị đó đã Nhập Lưu. Còn người hướng đến chánh kiến với cả tấm lòng dù chưa trọn vẹn nhưng tha thiết học hỏi, chân thành học tập, luôn nghiêng về chánh kiến, nhập về chánh kiến, sống với chánh kiến thì người này là hướng Dự Lưu quả dù chưa thiền định gì cả. Vì thế chánh kiến quyết định mọi thứ, nó rất quan trọng, muốn có chánh kiến thì phải nghe pháp và phải có Như lý tác ý và phải nghe pháp đúng người đã thành tựu chánh kiến chứ còn nghe theo tà kiến thì làm sao thành tựu chánh kiến được?
Vì thế, chỗ khó khăn là phải gặp được bậc chánh kiến và sau đó phần của mình chính là Như lý tác ý, suy tư, quán chiếu, nghiền ngẫm, sống với nó, không bỏ cái thấy biết đó vì cái thấy bản ngã ăn sâu thâm căn cố đế trong vô thỉ kiếp mà bây giờ mình mới gặp chánh kiến thì chắc chắn cái tà kiến, vô minh kia sẽ lôi kéo. Cho nên, người này phải nỗ lực rất nhiều để thể nhập cái thấy biết đó. Điều này trong kinh dùng từ "thượng nhân pháp, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh", tức là cái pháp thấy được ngũ uẩn không phải là tôi, không phải của tôi là pháp của bậc thượng nhân, cái thấy biết đó gọi là tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh. Đó là lý do tại sao chúng ta phải nhận diện ngũ uẩn và luôn cảm giác toàn thân, vì nếu không thấy ngũ uẩn thì lúc đó có tôi, ta, tự ngã, còn nếu không an trú cảm giác toàn thân thì không biết không thấy tham, sân, si và nhập cuộc với nó. Ví dụ, nếu mình nói "tôi đang giận" là thua nó rồi, vì mình không thấy nó là cảm thọ sân mà chỉ thấy có cái tôi đang giận thì đó là tà kiến, vô minh. Lúc thấy vui sướng thì chỉ biết cảm thọ lạc đang có mặt, mình tách cái tôi ra khỏi suy nghĩ của mình, nếu còn gắn cái tôi chung với suy nghĩ là còn vô minh, còn kiến chấp về thân, cho nên đây là điều rất tuyệt diệu.
Học kinh Nikāya rồi sẽ thấy một chuẩn mực rõ ràng, nhất quán hết toàn bộ đại tạng, chánh kiến được Đức Phật giải thích nhất quán với nhau xuyên suốt từ Trường Bộ, Trung Bộ, Tăng Chi Bộ cho đến Tương Ưng Bộ, không phải chỗ này nói vậy qua kia lại nói khác. Lúc nào mình còn thấy có cái tôi thì lúc đó còn tà kiến, còn khi nào thấy đây là năm uẩn, năm nhóm thì đó là chánh kiến.
Nhiếp phục cảm thọ
Ni sư 1: Thưa thầy, khi mình nhận diện ra ngũ uẩn, nhận diện cảm giác, có những cái đau nhẹ thì mình còn tác ý được, còn có những cơn đau khủng khiếp, dữ dội thì lúc đó làm sao mình có thể tách tâm với thân ra làm hai được? Vì con thấy khi đau quá thì chỉ thấy mỗi cơn đau thôi, không thể an tịnh, bình thản được với cái đau
***.
Chính vì vậy nên bây giờ mình mới bắt đầu tập cảm giác toàn thân, tập từ những cái nhỏ. Chẳng hạn như khi đang nghe pháp mà đường truyền chập chờn, không nghe được thì mình phải xem lại cảm thọ có khó chịu không, nếu có khó chịu thì mình tác ý yên tịnh, lắng dịu, dễ chịu. Hoặc nghe lời nói trái tai thì bực mình, khó chịu sanh khởi lên thì mình cũng tác ý an tịnh, lắng dịu, dễ chịu. Chúng ta tập từ những cái nhỏ như vậy từ từ cho thuần thục, rồi đi đến những cảm giác vừa vừa như đau bụng, nhức đầu. Vì thế, chúng ta phải tập nhìn cảm giác là một đối tượng, còn ngày xưa mình và cảm giác nhập làm một, đến khi nhận diện được ngũ uẩn thì cảm thọ mới mở dần ra. Cho nên, khi chúng ta nhận diện đến mức thọ là thọ thì mình và ngũ uẩn sẽ được thả lỏng nhau ra.
Như vậy nếu không nhận diện năm uẩn, không quán chiếu cảm giác toàn thân thì cảm thọ nào sanh khởi ra mình cũng nói đó là tôi. Còn bây giờ nhận diện được ngũ uẩn, quán chiếu được cảm giác toàn thân thì khi cảm thọ sanh khởi lên thì mình nhìn lại cảm thọ, tưởng, hành hoặc sắc đó sẽ trở thành đối tượng để mình nhìn nó. Trước đây mình chưa nhận diện ngũ uẩn, chưa thấy ngũ uẩn, chưa có trí tuệ về ngũ uẩn thì mình và nó là một, còn khi quán chiếu ngũ uẩn, nhận diện ngũ uẩn thì mình tách ra khỏi nó và nhìn lại sắc; thọ; tưởng; hành; thức, điều này rất tuyệt diệu.
Ngày xưa mình nhập cuộc chung với nó còn bây giờ mình thấy sắc là sắc, thọ là thọ, tưởng là tưởng, hành là hành, thức là thức. Nếu mình có cảm thọ đau khổ thì cảm thọ này thuộc về duyên sanh, mình vẫn phải dùng Như lý tác ý, còn nếu không tác ý thì đành chịu chứ không có cách nào quét rác được nó, chúng ta tác ý như sau "cảm thọ này là pháp duyên sanh, có tiếp tục mới sanh ra thọ". Ví dụ, mình vô tình đá trúng cục đá nên chảy máu chân, lúc trước chưa biết quán chiếu cảm thọ thì mình thấy đau quá do mình nhập cuộc với nó, còn bây giờ tác ý "thân xác tứ đại vô thường này, do đụng chạm cục đá nên mới sanh ra cảm giác này, cảm giác này do tiếp xúc sanh ra. Hễ có thân là có khổ, hễ có thân là có bệnh, bao máu mủ bây giờ đổ ra rồi đó. Nhìn cho kĩ đi, có ai ở trong này, có cái tôi nào ở trong này? Cảm thọ này vô thường, sanh ra rồi hoại diệt, vì có thân nên mới có thọ, có thọ nên phải chịu khổ, vì vô thường nên khổ, vì khổ nên vô ngã, không có ai ở trong này". Tách ra khỏi cảm thọ này, thoát ra khỏi cảm thọ này và an trú trong tâm rộng lớn, rộng mở, không trú trong tâm nhỏ hẹp ngay chỗ vết thương đó mà mở cái tâm rộng mở vô lượng, những điều này cần có một sự thực tập lâu ngày, công phu thuần thục thì sẽ tách được.
Có một vị Tỳ-kheo bị rắn độc cắn sắp chết đã nhờ những vị Tỳ-kheo khác đến khiêng cái gường Ngài đang nằm ra ngoài trời vì chút nữa thân này sẽ rã rời ra như nắm rơm. Ngài Xá-lợi-phất đến thăm đã hỏi vị Tỳ-kheo thân bị rắn độc cắn sẽ rã ra mà sao sắc mặt không thay đổi. Vị Tỳ-kheo trả lời từ lâu ngài đã an trú trong tư tưởng sắc, thọ, tưởng, hành, thức này không phải là tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi, như vậy thì làm sao có thể đổi sắc mặt được. Sau đó toàn thân của Ngài bị nọc độc của rắn thấm vào, lan tỏa ra và Ngài chết nhưng Ngài bất động tâm giải thoát, không bị dao động vì đã tách tâm ra khỏi thọ, trú trong trạng thái vô lượng bất động. Đó là các bậc thành tựu các Thánh quả, có những vị thành tựu quả thứ ba, có những vị thành tựu tứ thánh quả.
"Một thời Tôn giả Sàriputta và Tôn giả Upasena trú ở Ràjagaha (Vương Xá), rừng Sitavana (Hàn Lâm), tại hang Ðầu Con Rắn (Sappapon-dikapabbàra).
Tôn giả Upasena gọi các Tỳ-kheo:
-- Chư Hiền, hãy đến và nhấc cái giường cùng với cái thân này của tôi đưa ra ngoài, trước khi thân này ở đây phân tán như một nắm rơm.
Ðược nói vậy, Tôn giả Sàriputta nói với Tôn giả Upasena:
-- Nhưng chúng tôi không thấy thân Tôn giả Upasena đổi khác hay các căn bị biến hoại.
Nhưng Tôn giả Upasena nói như sau:
Này Hiền giả Sàriputta, đối với ai nghĩ rằng: 'Tôi là con mắt', hay: 'Con mắt là của tôi'... 'Tôi là cái lưỡi', hay: 'Cái lưỡi là của tôi'... 'Tôi là ý', hay: 'Ý là của tôi', thời đối với các người ấy, này Hiền giả Sàriputta, thân có thể bị đổi khác, hay các căn bị biến hoại. Và này Hiền giả Sàriputta, tôi không nghĩ như sau: 'Tôi là con mắt', hay: 'Con mắt là của tôi'... 'Tôi là cái lưỡi', hay: 'Cái lưỡi là của tôi'... hay: 'Tôi là ý', hay: 'Ý là của tôi', thời này Hiền giả Sàriputta, làm sao thân ấy của tôi lại có thể đổi khác, hay các căn có thể biến hoại.
Vì rằng trong một thời gian dài, Tôn giả Upasena đã khéo nhổ tận gốc ngã kiến, ngã sở kiến, ngã mạn tùy miên, cho nên Tôn giả Upasena không có những tư tưởng như: 'Tôi là con mắt', hay: 'Con mắt là của tôi'... hay: 'Tôi là cái lưỡi', hay: 'Lưỡi là của tôi'... hay: 'Tôi là ý', hay: 'Ý là của tôi'.
Rồi các Tỳ-kheo ấy nhắc cái giường cùng với Tôn giả Upasena ra ngoài.
Rồi thân của Tôn giả Upasena, ngay tại chỗ ấy phân tán như một nắm rơm". (Tương Ưng Bộ, Tập IV. Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (b), Phần Hai - Năm Mươi Kinh Thứ Hai, II. Phẩm Migajàla, VII. Upasena)
Nói lại như vậy để chúng ta thấy công phu thực hành cảm giác toàn thân là cực kì quan trọng, phải thực tập từ những thứ nhỏ nhặt trong các sinh hoạt hằng ngày nhưng những điều này phải để ý mới thấy để thực tập, còn nếu không thực tập thì mình sẽ chết với nó, cảm thọ nào sanh ra mình cũng dính với nó.
Ni sư 2: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính bạch trên sư phụ, kính thưa quý thầy, quý sư cô và tất cả Phật tử. Đầu giờ nghe pháp vì lý do kĩ thuật thì con cảm nhận tâm bị sốt ruột do phải chờ đợi nên không được an tịnh, con không biết đó có phải là tâm sân nhẹ không. Sau khi nghe thầy hỏi cảm nhận của mọi người như thế nào và thầy nói nếu luôn hướng tâm ra ngoài sẽ bị dao động, tâm chúng ta không được an tịnh cho nên lúc nào cũng phải quay trở lại bên trong để nhận diện ngũ uẩn, quán chiếu toàn thân thì lúc đó con cảm nhận trong cuộc sống hằng ngày nếu không thường xuyên nhận diện ngũ uẩn và rõ biết toàn thân sẽ rất khổ sở, tâm bất an, điên đảo. Khi con nhận diện được như vậy thì con thấy bài giảng về ngũ uẩn của thầy giảng rất có ít lợi trong cuộc sống chúng con nhất là những người tu hành. Con xin luôn ghi nhớ sống quay trở lại mình để nhận diện ngũ uẩn, rõ biết toàn thân để tâm luôn được an tịnh, an lạc. Mô Phật.
Nắm bắt thiện pháp
Phật tử 1: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính bạch trên sư phụ, kính bạch quý thầy, quý sư cô và tất cả đại chúng. Con lên đây gần một tuần, con được sư phụ giảng pháp nên rất hoan hỉ, xúc động, sư phụ đã nhập thất nhưng vẫn truyền pháp cho chúng con nên con rất xúc động và luôn nghe lời sư phụ dạy. Khi về nhà sau khi lên đây tu học thì con thấy mình tinh tấn hơn, con có động viên chồng con hãy lên đây và anh cũng hứa sẽ sắp xếp công việc rồi lên sau. Con có đọc một bài về bố thí nên cho con xin hỏi trong kinh “Phân Biệt Cúng Dường” có bà Mahapajapati Gotami cúng dường cho Thế Tôn một cặp y thì bà đã nói "cặp y mới này do con cắt và dệt đặc biệt cho Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn vì lòng từ mẫn hãy nhận lấy cho con", sau đó Đức Phật đã đáp lại " Này Gotami, hãy cúng dường Tăng chúng. Bà cúng dường Tăng chúng, thời Ta sẽ được cung kính, và cả Tăng chúng cũng vậy". Xin sư phụ giảng thích thêm cho con câu này. Con cảm tạ sư phụ.
***
Bà Ma-ha-ba-xà-ba-đề là mẹ nuôi của Thái tử Tất-đạt-đa cho nên sau khi bà xuất gia thì tình thương của bà đối với Đức Phật vẫn rất mặn nồng của một người mẹ. Tuy nhiên, ở đây mình không biết lúc đó bà đã thành tựu Thánh quả A-la-hán chưa, Đức Phật nói bà hãy đem y cúng dường cho chúng Tăng thì chúng Tăng được tôn kính mà Đức Thế Tôn cũng được tôn kính, phước đức của bà sẽ được rộng lớn. Đức Phật khuyến khích bà cúng dường với một cái tâm rộng lớn, bình đẳng để công đức, phước báo của bà được rộng lớn chứ không phải chỉ là tình thương mẹ con.
Trong bài kinh “Phân Biệt Cúng Dường” được Đức Phật chia ra rất nhiều đối tượng để cúng dường và với tâm rộng lớn cúng dường thì phước báo sẽ tương xứng. Cũng như cô với tấm lòng rất chân thành, cung kính Tam bảo dành dụm những tịnh tài để cúng dường lên Tam bảo với tâm nguyện cầu mong cho Chánh Pháp được tồn, cầu mong có nhiều bậc chân tu thành tựu để làm cho ngọn đèn Thánh trí huệ này được tỏ sáng cho tất cả hữu tình, muôn loại chúng sanh được nương nhờ Chánh Pháp này mà dứt khổ cũng như cho tự thân mình. Tâm nguyện cúng dường này là tâm nguyện rộng lớn, còn mình cúng mà nghĩ chỉ cúng cho sư phụ hoặc cúng vì quý kính thầy nào đó thì cái đó không bằng việc cúng với cái tâm cúng vì Tam bảo, vì Chánh Pháp, tâm này rộng lớn và có công đức rộng lớn hơn.
***
Phật tử 1: Sư phụ cho con hỏi thêm về việc cúng dường, con sợ tâm của chúng sanh hay thay đổi cho nên con lên đây sám hối, con sợ ở nhà con thay đổi. Mỗi lần lên đây sư phụ đều ấn tống kinh sách Phật pháp cho Phật tử rất nhiều, con phát nguyện cúng dường Tam bảo để sư phụ lấy số tiền này ấn tống cho kinh sách để mọi người tiếp cận được giáo pháp để bớt khổ, cho nên con liều lên đây vì con sợ con sẽ thay đổi làm mất dịp cúng dường. Con cảm tạ ơn sư phụ, con cảm tạ ơn quý thầy, con đã sám hối rất nhiều để mọi người trên đây được bình an vì con lên đây trong thời điểm dịch bùng lên nên con sợ con mang dịch đến đây.
***
Thứ tự thuyết pháp của chư Phật được Đức Phật dạy cho người Phật tử. Đầu tiên Đức Phật dạy về bố thí, lòng tin, kế đó Đức Phật nói về nhân quả nghiệp báo của cõi trời và ba đường ác. Sau đó, khi thấy tâm của người này thuần thục thì Đức Phật nói về vị ngọt của các dục, sự nguy hiểm và tác hại của các dục và sự thoát ra khỏi các dục.Đức Phật thấy người đó tâm thuần thục rồi ngài mới nói cái pháp mà tất cả chư Phật quá khứ tuyên dương và ca ngợi là Tứ Thánh Đế, đó là thuận thứ thuyết pháp của tất cả chư Phật trong quá khứ.
Cho nên cô với tấm lòng tin tưởng Tam bảo, tha thiết trong việc làm những việc lành bố thí cúng dường bằng tâm chân lành vì hiểu pháp, vì ý thức sâu sắc được nỗi khổ, ý thức được sự nguy hiểm và tác hại của vô thường trong cuộc đời khổ đau đầy biến động. Với một cái tâm tha thiết chân thành cung kính hiểu pháp như vậy thì chắc chắn những phúc lạc này sẽ thấm nhuần tự thân cô và người thân, mang lợi lạc cho những chúng sanh muốn hướng về cầu Chánh Pháp.
Ngoài ra cô còn biết nghĩ sợ tâm mình đổi ý, cái này là một cái rất khéo léo trong sự tác ý vì đây là chỗ tu rất hay. Tâm chúng ta rất hay đổi ý, ví dụ lúc phát tâm thì rất mạnh mẽ nhưng lúc sau lại đổi ý cúng một nửa thôi hoặc là có những người đổi ý không cúng luôn. Hoặc mình hứa quyết liệt tinh tấn ngồi thiền một tiếng vậy mà mới ngồi được nửa tiếng là bỏ cuộc. Cho nên chúng ta phải biết ngăn chặn, phòng ngừa, cẩn thận để không đổi ý thiện pháp thì đây là một sự tác ý rất khéo léo, thiện xảo trong việc làm.
Thiện pháp sanh ra rất dễ bị thối thất còn ác pháp sanh khởi rất dễ tăng trưởng cho nên người tu chúng ta trong Tứ Chánh Cần phải rất để ý. Có nhiều người xin lên núi tu năm ngày, bảy ngày nhưng cuối cùng mới hai ngày đã bỏ về viện lý do nhà có việc này việc kia, nhiều khi cũng có công việc thật nhưng cái chính là sự đổi ý cho nên không thể tin tưởng vào cái ý được. Khi chúng ta phát thiện tâm là ngay lập tức phải làm liền, trong việc bố thí cúng dường, hay trong việc học hỏi kinh sách, hay trong việc làm công quả tạo phước, hay trong việc tu tập, học pháp hoặc nhập thất mà thấy thiện pháp khởi lên là phải nắm bắt liền, để qua là rất dễ thay đổi theo chiều tiêu cực. Vì vậy khi phát khởi thiện tâm, thiện pháp là phải làm liền, để qua rồi là mất đi hoặc bị thay đổi.
Bản thân Minh Thành cũng vậy, nhiều khi con thấy được là nhập thất thôi chứ không hề dự định trước. Chúng ta phải thường thực tập cái chết sẽ đến bất ngờ, đột ngột cho nên mình đừng hẹn tuần sau tu, tháng sau tu hoặc đợi sắp xếp xong mới tu, cứ được là tu lập tức vì con quỷ giết người vô thường không hẹn mà đến. Cũng vậy, những việc làm thiện, công đức, phước báo trong sự tu học phải được thực hiện ngay chứ không được đợi chờ.
Đôi lời nhắn nhủ
Những người mới vào dòng pháp này cần cố gắng nhận diện năm uẩn, nhất là trong những lúc buồn ngủ thì còn mù mờ hơn nữa, cho nên bây giờ cần thực tập nhiều nhất có thể. Các vị huynh đệ tỉ muội giúp nhau nhận diện năm uẩn, một ngày nhận diện ba bốn lần, làm bài tập với nhau thường xuyên mới quen được. Điểm thứ hai là phải Như lý tác ý hoặc là câu kinh, câu pháp nào có liên hệ thì đọc lên, ví dụ như bài kinh Pháp Cú sau:
"Tinh cần giữa phóng dật,
Tỉnh thức giữa quần mê.
Người trí như ngựa phi,
Bỏ sau con ngựa hèn".
(Kinh Pháp Cú 02 – Phẩm Không Phóng Dật, kệ 29)
Mình đọc những câu kinh có liên hệ đến sự việc đang xảy ra để mình tự nhắc nhở bản thân hoặc tác ý thật mạnh để đánh đuổi cơn buồn ngủ. Câu kinh "nhất hướng, nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn" nghĩa là khi học kinh Nikāya thì phải chuyên nhất vào kinh Nikāya chứ đừng lấy tư tưởng khác để vào, lấy cái này so với cái kia cái nọ là không học được và mình học thì cần chọn lựa người hướng dẫn, tìm hiểu kĩ vị đó có đúng chánh pháp không. Đức Phật đã dạy:
"Tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một điều gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa vào một gì khác". (Tương Ưng Bộ, Tập V. Thiên Đại Phẩm, Chương III. Tương Ưng Niệm Xứ (a), I. Phẩm Ambapàli, IX. Bệnh)
Chúng ta chưa biết Chánh Pháp là gì cho nên mình phải học, phải tìm hiểu Chánh Pháp là gì, người nào hướng dẫn đúng Chánh Pháp thì cần nhất hướng theo người đó. Bây giờ, chúng ta thường học theo thói quen, vài bữa học thầy này, hôm sau học thầy khác rồi cuối cùng mỗi người nói một kiểu làm mình không biết đường nào tu như đứng giữa ngã sáu, ngã bảy. Đức Phật nói người không có cái thấy biết rõ ràng giống như bông gòn thả ra cho gió bay trong ngã sáu, ngã bảy. Còn người thấy biết đúng, có niềm tin vững chắc được Đức Phật ví dụ như trụ đá bảy tám thước, được chôn xuống hai ba thước không bị gió làm chao đảo.
"Ví như, này các Tỳ-kheo, một hột bông hay một hột bông kappàsa bị gió nhẹ thổi lên, rơi xuống đất bằng, và gió phía Ðông thổi nó qua phía Tây; gió phía Tây thổi nó qua phía Ðông; gió phía Bắc thổi nó qua phía Nam; gió phía Nam thổi nó qua phía Bắc. Vì sao? Vì hột bông kappàsa rất nhẹ, này các Tỳ-kheo.
Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào không như thật rõ biết: 'Ðây là Khổ'... không như thật rõ biết: 'Ðây là Con Ðường đưa đến khổ diệt'. Họ ngước nhìn mặt một Sa-môn hay Bà-la-môn khác và nhận xét: 'Vị Tôn giả này biết điều đáng biết, thấy điều đáng thấy'. Vì sao? Vì không chánh kiến bốn Thánh đế, này các Tỳ-kheo.
Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào như thật rõ biết: 'Ðây là Khổ'... như thật rõ biết: 'Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt'. Họ không ngước nhìn mặt một Sa-môn hay Bà-la-môn khác và nhận xét: 'Vị Tôn giả này biết điều đáng biết, thấy điều đáng thấy'.
Ví như, này các Tỳ-kheo, một cây cột sắt hay cây cột trụ, bàn tọa được đóng sâu (gambhiiranemo), khéo chôn sâu, bất động, không có lay chuyển; nếu từ phương Ðông có gió và mưa lớn đến, cột trụ ấy không rung chuyển, không lay chuyển, không động chuyển...; nếu từ phương Tây... nếu từ phương Bắc... nếu từ phương Nam có gió và mưa lớn đến, cột trụ ấy không có rung chuyển, không lay chuyển, không động chuyển. Vì sao? Vì bàn tọa được đóng sâu, khéo chôn sâu, này các Tỳ-kheo'. (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), IV. Phẩm Rừng Simsapà, IX. Cột Trụ)
Vì vậy, Minh Thành mong các vị để tâm vào pháp nhiều hơn, nghe nhiều hơn để thấy được lời dạy nguyên chất của Đức Phật chứ mình không đi theo tông phái nào. Mọi người nhớ rằng, kinh Nikāya không có tông phái nào cả mà chỉ có lời dạy nguyên chất của Đức Phật mà thôi./.