Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Thánh Trí Năm Uẩn 3- định nghĩa Năm Uẩn 1

2026-03-03 00:53:24
Kinh NIKAYA Giảng Giải

Thánh Trí Năm Uẩn 3

Định Nghĩa Năm Uẩn

Trường Trung Cấp Phật Học tp HCM ngày 25-03-2019

ĐĐ: Thích Minh Thành giảng

Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu- ni Phật

Kính thưa đại chúng, trong kinh nghiệm Minh Thành học thì thấy rằng người ta dễ thất bại ở giây phút cuối. Lúc bắt đầu cho sự việc hay một hành trình thì người ta rất để tâm, rất cố gắng, đến giai đoạn gần cuối cùng người ta dễ bị thất bại cho nên Minh Thành mong quý huynh đệ hãy cẩn thận trong khóa học sắp tốt nghiệp. Nói đầy đủ là có ba điều cẩn thận, điều thứ nhất là những thủ tục, điều kiện mình có đủ để được học thì lúc này khó. Điều khó thứ hai là sắp kết thúc thì mình dễ bị thất bại, mình phải cẩn thận người ta gọi là cẩn thủy thận trung, một cái khó để thành công là cái khó ở chặng giữa. Mấy huynh đệ nhớ bắt đầu, kết thúc là hai cái khó, hai cái khó này nổi bật nhất của khó lúc bắt đầu, làm cái gì lúc đầu cũng khó nên người ta gọi vạn sự khởi đầu nan, gian nan bắt đầu nản. Cho nên điểm khó đầu tiên là khó theo kiểu ai cũng biết, mình có thể cố gắng để mình khắc phục được, và cái khó ở kết thúc là vì mình xem thường cho nên có rất nhiều người thất bại một cách không đáng để thất bại mà người ta thất bại, cho nên Khổng Tử nói rằng đắp ngọn núi chín nhận, tức là ngọn núi rất cao, mình ví dụ ngọn núi 900m nhưng chỉ còn hai, ba sọt đất đổ lên để tới đỉnh thì lúc đó người này bỏ phế, đó là kinh nghiệm của người xưa cho nên giai đoạn sắp kết thúc rất quan trọng, phải cẩn thận “cẩn thủy thận trung”.

Giai đoạn ở giữa rất khó, chỉ hơn nhau ở chính giữa là sự nỗ lực, cố gắng và để tâm trong việc mình đang làm. Người nỗ lực, cố gắng, để tâm thì người này sẽ thành công lớn. Cho nên cái pháp “Tứ Nhị Túc”, “Tứ Thần Túc” ai tu viên mãn thì trở thành những vị thánh lãnh đạo, cái này hết sức là quan trọng, trong ba mươi bảy phẩm trợ đạo thì“Tứ Thần Túc” là dục như ý túc, tinh tấn như ý túc, tâm như ý túc và tư duy như ý túc, nghĩa là sự mong muốn, nỗ lực, để tâm và tìm đủ mọi cách để làm cho bằng được thì người tu trọn vẹn bốn điều này cũng là thánh nhân nhưng là thánh lãnh đạo của các bậc thánh, cho nên tất cả hiền thánh, các vị A-la-hán cũng như nhau nhưng tướng quân chánh pháp là khác, trong đó có những bậc thánh thuyết pháp đệ nhất, có những bậc thánh Đầu-đà đệ nhất, có những bậc thánh thần thông đệ nhất, nghị luận đệ nhất… là do cái hạnh khác nhau, còn trí huệ diệt lậu tận, diệt lậu hoặc thì như nhau. Vì thế trước khi vào bài Minh Thành nhắc các huynh đệ cẩn thận giây phút cuối gọi là “trung thân thành tựu”. Ở Đài Loan có một dải, một bằng tuyên dương công đức, danh dự gọi là “trung thân thành tựu”, tức là người này thành công trọn vẹn trước sau. Hòa Thượng Tinh Vân ở bên đó được người ta trao bằng ca ngợi công đức, danh dự bốn chữ “trung thân thành tựu” là thành tựu trọn đời, suốt cuộc đời từ khi ngài ra hoằng pháp cho đến lúc ngài trên 90 tuổi về nghỉ là trọn vẹn. Thành ra những điều mình học rất là hay, thường tâm lí con người khi mà không được thì ráng cố gắng, còn khi được rồi thì xem thường, mà chính điều đó làm cho họ chết, họ thất bại.

Nên Minh Thành nói cho mấy huynh đệ rút kinh nghiệm, hồi xưa Minh Thành học tám năm ở chùa Vĩnh Nghiêm, Minh Thành thấy những vị giáo thọ lúc mới ra giảng thì rất hay, soạn bài rất kỹ, phong phú, đa dạng lý luận, ngôn ngữ ví dụ này nọ nhưng nổi tiếng rồi thì muốn nói gì nói, không soạn bài gì nữa, người này chết ở trên thành công, sau đó người này không có cơ hội phát triển được nữa mà Minh Thành thấy rất nhiều. Riêng bản thân Minh Thành tâm sự với các huynh đệ, cho tới ngày hôm nay đứng lớp mười mấy năm nhưng Minh Thành vẫn thận trọng từng buổi nói chuyện, vẫn kĩ lưỡng bài vở, cái nào nghiên cứu phải làm thật kĩ, phải để tâm thì những tác phẩm mới giá trị, mà quan trọng nhất là đúng chánh pháp còn nếu không mình nói chừng ba tháng, sáu tháng, một năm, năm năm, mình nói rồi cái gì cũng mình chứ không thấy Phật, không thấy pháp nữa. Cái này hết sức nguy hiểm cho nên trong sự tu học của mình, các huynh đệ tương lai sẽ ngồi trên bục giảng, tương lai sẽ đứng trên pháp tòa, tương lai sẽ là những giáo thọ sư, những giảng viên của các trường Phật học cho nên những điều này mình phải nhớ kĩ và nắm thật vững. Không đứng trên trường, trên lớp, trên bục thì mình cũng đứng trong chùa để mình hướng dẫn cho Phật tử, hoặc ít nhất là hai, ba người đệ tử thì mình phải nắm thật là vững cái nào là lời của Phật, cái nào là ý mình thì mình phải nói rõ. Mình nói rồi mình lẫn lộn không biết cái nào Phật cái nào mình, cứ “có câu, có câu, cổ đức có câu…”, cho nên mình phải nói rõ, kinh là Tăng chi Bộ tập mấy, Tương Ưng Bộ quyển mấy, Trung Bộ Kinh là bài kinh nào trong năm mươi mấy bài kinh, bài kinh số mấy, thà mình cuối xuống đọc mà đúng lời của Phật, mình cứ nhắm mắt hả họng nói rồi nói Phật nói, nói oan cho Phật, hết sức nguy hiểm, những cái đó đọa nặng nề. Mấy huynh đệ ngày nay nghe giảng riết rồi còn có cái gì không? Rất là nguy hiểm, giảng riết mai mốt không còn chánh pháp nữa cho nên phải hết sức nghiêm túc và thận trọng trong vấn đề nghiên cứu giáo pháp và hành trì. Từ khi bắt đầu cho đến ngày mình nhắm mắt vô hòm là không được xem thường, từng câu, từng chữ kinh phải chính xác tuyệt đối 100%, sai một ly đi một dặm, mình tu trật lất, mình hướng dẫn người ta lầm lạc cho nên tại sao các huynh đệ thấy luận văn “Thánh trí năm uẩn, chiếu soi năm uẩn” là không có một chữ nào của Minh Thành trong đây, toàn bộ luận văn là trích trong bốn bộ kinh Nikaya, những điều Minh Thành nói là để giải thích những từ khó hiểu, những ví dụ trong đời sống thực tế để làm sáng rõ lời của Đức Phật. Đây là kinh nghiệm quý báu để các huynh đệ làm chuẩn tắc tu học và hướng dẫn người sau. Mình không được viết sách rồi tự mình suy nghĩ ra hoặc mình nghe ông này, ông kia, ông nọ nói rồi mình trích dẫn, ông bác học nào đó, ông khoa học nào đó, ông tiến sĩ nào đó thậm chí ông cụ nào đó nhưng các vị đó có phải là Chánh Đẳng Chánh Giác không? Cho nên lời Đức Phật phải đi đầu rồi sau đó những người nào đúng với lời Đức Phật thì mình đưa vào, là người này nói đúng theo lời Phật. Còn bằng không mình ngồi mình nói là không thấy Phật đâu hết, toàn là thấy bên Tạng, bên Tàu, bên Tây, bên Âu, bên đâu đâu mà không thấy Phật, cái này hết sức quan trọng, mình học được như vậy thì mới trở thành Thánh đệ tử. Đệ tử Phật mà nói một hồi không thấy lời Phật, dẫn lời đạo này, đạo kia ra nói.

Sắc tưởng, thanh tưởng, hương tưởng, vị tưởng, xúc tưởng, pháp tưởng. Mọi người biết xúc tưởng, pháp tưởng là gì chưa? Có ai đứng lên giải thích sáu tưởng? Khi mình ngồi yên lại, khi mình ở một mình, trong nội tâm mình hiện ra những hình bóng về một con người, về một món đồ, về cảnh vật nào đó thì đó gọi là cái gì tưởng? Là sắc tưởng. Khi mình ngồi, những hình bóng của âm thanh, những bóng dáng của âm thanh mình đã nghe hiện khởi trở lại trong tâm của mình thì đó là gì? Là thanh tưởng. Những mùi, những vị mình đã từng ăn, đã từng nếm và mình nhớ lại cái mùi, cái vị thì đó là gì? Là hương vị tưởng. Thí vụ mình đã từng tiếp xúc với cái gì đó, mình ngồi nhớ lại cái mà mình đã tiếp xúc thì đó là gì? Là xúc tưởng, là những hình bóng. Pháp tưởng là cái khó nhất, ai giải thích pháp tưởng?

Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính thưa giáo thọ, con kính thưa đại chúng. Cho con được trả lời suy nghĩ của con về pháp tưởng. Thứ nhất có sự hội tụ của bá pháp. Con lấy ví dụ là nhãn căn và trần và sự tiếp xúc. Ba sự tiếp xúc này tạo nên sự giao thoa, ví dụ mắt tiếp xúc với vật gọi là nhãn thức, thì nhãn thức tiếp nhận sự vật, ví dụ mình nhìn thấy bông hoa nào đó thì mình có pháp tưởng, mình tưởng tượng hoa này ngày mai sẽ gần úa và ngày mốt nữa sẽ úa tàn và rồi sẽ tiêu tàn, sẽ hủy hoại, rồi sự hủy hoại này có thể đâm chồi, nảy lộc thành cây mới. Tức cái tưởng này mình tưởng tượng một pháp mới.

Không đúng, có ai nói khác, mà nói về duyên sanh pháp cũng chưa rõ. Cái này phải học thuộc lòng, nếu mình dùng từ của mình để nói là sai, phải nói đúng từ trong chánh pháp, phải thuộc lòng về duyên sanh pháp. Trong cả hai bài kinh Minh Thành mới vừa giảng ở trên núi hai buổi thì mai mốt mấy huynh đệ sẽ nghe tựa bài là “Tâm học tối thượng”. “Tâm học tối thượng” là bài kinh cả hai do Đức Phật thuyết về duyên sanh pháp. Cái này mà mấy huynh đệ tự suy nghĩ ra là trật hết, làm sao mấy huynh đệ có thể suy nghĩ được? Mình phải căn cứ vô lời của Đức Phật, làm sao suy nghĩ ra được, cho nên trước giờ mình học theo kiểu đó sẽ không thành công, mà Minh Thành đi qua mấy chục năm nên rất uổng, bây giờ mới biết một phương pháp học mới, đứng lên nói “con xin trình bày suy nghĩ của con hiểu về điều đó”, là không đúng, làm sao con suy nghĩ điều đó được, cái đó là Đức Phật định nghĩa như thế nào, ở trong kinh nào mới được. Bây giờ cái học khó như vậy, mà khó như vậy mới đi theo đúng Thánh đạo và mới đi đến Thánh quả. Mấy huynh đệ thấy mình học hai, ba năm rồi bây giờ những căn bản mà mình không nắm thì mình ngồi thiền không thể nào biết được thế nào là pháp tưởng, cho nên mấy huynh đệ thấy rằng rất sâu sắc, không phải chuyện đơn giản để học, cho nên mình học không tới chỗ thành công. Những định nghĩa này quý huynh đệ muốn thành công trong sự học là phải học thuộc lòng hết những định nghĩa này, khi mình nói là nói bằng học thuộc lòng rồi mình giải thích ra mới trúng, tại vì cái này do Đức Phật định nghĩa, mấy huynh đệ đã học phổ thông đã biết định nghĩa là phải học thuộc lòng, chứ mình nhớ mông lung mình nói ra rồi đi về đâu?

Thế nào là pháp tưởng? Mấy huynh đệ nghĩ trong lòng con hiểu rồi, phật pháp căn bản con thuộc, con biết hết. Minh Thành giải thích đơn giản thôi, hôm trước giải thích một bài tựa đề là “Ý xúc”, hôm nay giải thích lại. Bây giờ sắc tưởng, thanh tưởng, hương tưởng, vị tưởng, xúc tưởng là mình hiểu rồi phải không? Mình ngồi nhớ lại những hình bóng hiện khởi trong nội tâm mình, hiện khởi ra hình bóng của sắc nào đó, âm thanh nào đó, mùi vị, sự tiếp xúc nào đó là năm cái tưởng trước. Bây giờ tưởng thứ sáu gọi là pháp tưởng, là những hình bóng của cảm giác, của những cái mình đã suy tưởng, nói danh từ chuyên môn là hình bóng của thọ, tưởng, hành. Ví dụ mình ngồi tự nhiên trong nội tâm mình có hình bóng của mẹ mình hiện ra, gương mặt buồn, tóc bạc, da nhăn, bệnh, yếu thì lúc đó mình có cảm giác gì? Cảm giác mình là khổ, khổ thọ, mình suy nghĩ không biết giờ này mẹ ra sao, cái suy nghĩ đó là cái gì? Là hành, ngay đó là thọ, tưởng, hành. Cái hình bóng đó là tưởng, cảm giác là thọ, những suy nghĩ, lời nói thầm thì đó là pháp tưởng, những hình bóng, cảm giác và nghĩ tưởng đối với những cái mình đã tiếp xúc. Cho nên pháp tưởng này bao gồm thọ, tưởng, hành. Hình bóng mẹ mình hiện ra làm mình có cảm giác buồn, có những suy nghĩ theo đó, âm thanh, hình ảnh và lời nói đi chung phải không? Hình bóng hiện lên là mình có lời nói đi theo và cảm giác trong đó thì cái đó là pháp tưởng. Một ngày nó đi theo mình bao nhiêu lần mà mình đâu có thấy, đó gọi là vô minh, không biết các pháp đang vận hành, mấy huynh đệ thấy chữ vô minh thâm sâu không, là mình thấy, biết được hằng ngày. Ví dụ mình ngồi đây nghĩ không biết trưa nay ăn món gì, rồi hiện ra tùm lum món, cái đó là pháp tưởng. Ví dụ hiện ra món gì ngon của mình, rồi nghĩ chắc trưa nay được món đó, rồi lúc đó cảm thọ ra sao? Ví dụ mình suy nghĩ đi học về chắc ăn hai tô thì đó là pháp tưởng, là mình sống với nó hằng ngày, hằng giờ mà mình không biết gì về nó, đó gọi là vô minh. Một cái đau đớn nhất, cay đắng nhất là mình nói đó là tâm của mình mà mình không biết đó là pháp tưởng, là duyên sanh pháp. Tại sao lại có những cái tưởng đó? Là do xúc tập khởi cho nên tưởng tập khởi, những cái đó là mình đã từng tiếp xúc với nó rồi, thí dụ gương mặt mẹ là mình đã từng thấy thì mình mới tưởng được chứ không thấy thì làm sao tưởng, mình có thể tưởng một cái gì đó nào giờ mình chưa từng tiếp xúc, chưa từng thấy không? Cho nên xúc tập khởi do tưởng tập khởi, xúc tập khởi nên thọ tập khởi, xúc tập khởi nên hành tập khởi, cho nên những cái mình tưởng tượng, suy nghĩ, cảm giác toàn là những cái mà mình đã tiếp xúc. Những cái này là định nghĩa phải học thuộc lòng, chứ nếu không thuộc lòng là mình nói tầm bậy, trật lất hết. Mấy huynh đệ về rồi lên mạng tìm quyển “Tóm tắt năm uẩn” thì trong đó có hết định nghĩa, không có nhiều khoảng chừng mười mấy hai chục trang thôi. Mấy huynh đệ học từ trang hai mươi lăm là tóm tắt năm uẩn, đây là người ta đã đem những định lý của Đức Phật trong tàng kinh Nikaya chứ không phải người ta tự soạn, tất cả những định nghĩa Đức Phật nói người ta gom hết trong đây. Từ trang hai mươi lăm mà mình học được tới trang ba mươi sáu là những cái căn bản nhất, nếu mình chịu khó học luôn tới trang sáu mươi sáu là toàn bộ những yếu nghĩa của tàng kinh Nikaya, nếu mình học thuộc là mình nắm hết những yếu tủy của tàng kinh Nikaya, là chìa khóa mở ra tàng kinh Nikaya, học thuộc rồi nghe bài giảng của Minh Thành là các huynh đệ nắm hết toàn bộ tàng kinh Nikaya. Đây là định nghĩa về pháp tưởng (trong sách) “cái ý của mình, do có ý rồi các pháp, thọ, tưởng, hành nó sanh ra ý thức. Từ ý thức nó sanh ra ý xúc, nó tạo thành ý xúc rồi từ ý xúc tạo ra thọ rồi sanh ra pháp tưởng, pháp tư”. Những cái này có khi người ta ngồi thiền suốt đời, hai chục năm, ba chục năm người ta cũng không biết, học cái này mới biết, cái này Minh Thành mới giải thích ở trên núi xong rồi bây giờ giải thích lại. Đầu tiên quý huynh đệ phải có ý căn, thí dụ như mấy huynh đệ để ý bàn chân của mình, để ý dưới lòng bàn chân, khi mình để ý lòng bàn chân thì mình cảm giác lòng bàn chân mình hơi đổ mồ hôi, nếu mình không để ý mình đâu có thấy, mình lo nhìn bảng hay nhìn này kia mình không để ý thì mình không cảm giác lòng bàn chân lúc đó như thế nào, mình để ý lại thì lúc đó thọ, tưởng, hành sanh ra, tức là có cảm giác hình ảnh lòng bàn chân hiện ra trong tưởng của mình, có cảm giác là đổ mồ hôi, rồi thí dụ có suy nghĩ “lòng bàn chân mình đang đổ mồi hôi, cái này bệnh phong thấp hay gì”, lúc đó ý thức mới nhận rõ là mình đang có cảm giác, hình bóng trong tâm, suy nghĩ như vậy thì lúc đó ý thức sanh khởi. Mấy huynh đệ thấy thâm sâu không? Cái này mình dùng hằng ngày mà mình không biết, các ý duyên với các pháp sanh ra ý thức. Đây là cả một công trình chứng ngộ của Đức Phật chứ không phải chuyện đơn giản, nhưng mà hằng ngày mình sử dụng, mình dùng mà mình không biết gì cho nên mới gọi là vô minh, là mình không biết tên, tuổi, mặt, mũi ra sao cho nên mình vừa để ý thì đó là ý căn, để ý lúc đó hình bóng bàn chân mình hiện ra đó là tưởng, mình thấy rõ ràng cảm giác hơi khó chịu, rồi suy nghĩ đổi mồ hôi chắc bệnh phong thấp thì đó là hạnh, rồi ý thức rõ biết những cảm giác, suy nghĩ, hình bóng là ý thức. Ba pháp này hội tụ tạo thành ý xúc là sự tiếp xúc của ý, bắt đầu sanh thọ, cảm giác thứ hai sanh ra, tưởng thứ hai sanh ra, rồi hạnh thứ hai suy nghĩ sanh ra cứ như vậy, thọ tưởng hành một sanh ra rồi tới thọ tưởng hành hai sanh ra rồi thọ tưởng hành ba, thọ tưởng hành bốn liên miên sanh khởi cho nên gọi là chúng sanh. Cho nên mình nhìn lại trong tâm mình thọ, tưởng, hành sanh liên tục, do xúc nên sanh mãi không bao giờ ngừng lại, cho nên Đức Phật đưa ra con đường chấm dứt thọ, tưởng, hành, tức là làm cho thọ, tưởng, hành hoàn toàn yên tĩnh, mình không còn chạy theo những cái đó, còn không mình cứ chạy theo, cứ đi tìm cảm giác, những hình bóng hiện lên rồi âm thanh, suy nghĩ hiện lên, vào ngồi thiền cũng không ngồi yên. Cho nên mình không biết thọ tập khởi như thế nào, thọ đoạn diệt như thế nào và như thế nào gọi là thọ diệt đạo, tức là con đường chấm dứt vô minh và tham, ái đối với các cảm thọ. Mấy huynh đệ đi đâu để tìm ra học được cái này, ngoài tàng kinh Nikaya thì không có cho nên hằng ngày thọ, tưởng, hành của mình cứ sanh, diệt mà mình không biết, đó là pháp tưởng. Từ nãy giờ ví dụ hai hình ảnh là mẹ và lòng bàn chân, còn bây giờ ví dụ cái tưởng về một đối tượng ưa thích, mấy huynh đệ ngồi lại nếu mình quán chiếu mình thấy ghê lắm, cho nên mình biết được định lý, đây là tâm lý học tối thượng của Chánh Đẳng Chánh Giác, đây là tâm lý học của Phật giáo. Ví dụ bình thường mình đang ngồi học kinh, học pháp thấy chán bấm tắt máy nghe pháp, xếp kinh lại, ngồi nhớ hình bóng của bóng hồng, là tưởng đang hiện ra, lúc đó cảm giác dễ chịu, khoan khoái xuất hiện rồi suy nghĩ phải liên hệ, phải gặp là hành hiện ra, như vậy thọ, tưởng, hành một tiếp xúc thọ, tưởng, hành hai. Cứ như vậy liên tục dẫn thân mình đi, bấm điện thoại, nhắn tin, chạy xe đi, tạo cơ hội để tiếp xúc thì xúc sanh ra thọ, thọ sanh ra tưởng và hành, cứ như vậy hết người này đến người kia, hết người kia đến người nọ, hết người nọ đến người khác, cứ xúc sanh thọ, thọ sanh tưởng, tưởng sanh hận, đi tìm xúc cho nên xúc là một trong bốn thức ăn gọi là xúc thực, cho nên mình ở một mình chịu không nổi phải đi tìm xúc, mình muốn xúc. Thí dụ mình đang ở trong phòng một mình mà nghe dưới kia người này, người nọ nói chuyện rần rần, thí dụ mình thích xe mà lại nói chủ đề xe, đua xe nên trong lòng mình rạo rực, thúc giục thì đó là dục, mà mình không thấy, mình chạy xuống liền thì lúc đó mình đang làm nô lệ cho dục. Nó thúc giục ở trong, mình khoan khoái, mình muốn tiếp xúc thì đó là dục, là ái, là tham, nó đẩy mình chạy theo ngoan ngoãn vô cùng, là mình là đệ tử của dục, đệ tử của ai? Đệ tử của tham chứ chưa phải là chân chánh đệ tử Phật. Tại vì nó đẩy là mình đi liền. Đó là trí huệ thâm sâu đối với các pháp trong nội tâm của mình, phải thấy được. Ví dụ một cái xe rồi những cái khác là mình hiểu rộng ra thêm, chứ không phải mình nói hiện pháp là trú, ngay chỗ này ngồi mỉm cười, thở đi cười, bưng chung trà uống đi, nhiệm màu quá, đã quá, dục với ái, tham, lúc đó mình đâu có thấy năm uẩn, mình đâu có thấy những cảm giác, những thọ, tưởng, hành, thức, đâu có thấy bản ngã, sắc tưởng dần hiện, mình hoàn toàn là một khối tôi và của tôi to tướng, giờ tôi đâu có thấy tham, sân, si gì đâu. Mình nghĩ tham, sân, si là đi ra đánh lộn với ai, lụm đồ của ai, ăn cắp đồ ai là tham, sân, si, không phải vậy, cái đó là vô văn phàm phu, tham, sân, si của vô văn phàm phu, còn bậc Thánh đệ tử là nhìn thâm sâu, đó là tâm lý học tối thượng của Chánh Đẳng Giác. Cho nên quý huynh đệ phải học thuộc, do duyên có ý và các pháp thọ, tưởng, hành sanh khởi ra ý thức, ý thức tức là sự rõ biết thọ, tưởng, hành, sự hội tụ của ba pháp này là ý xúc, do duyên có ý xúc cho nên sanh khởi ra pháp tưởng, pháp tư, cái này mình phải thuộc lòng, thuộc lòng mình ngồi thiền mới đối chiếu, tập nhận diện trong nội tâm của mình, mấy huynh đệ thấy không, hai chữ thôi là hết một buổi học, mỗi một ngày, một giờ không biết bao nhiêu pháp tưởng vận hành trong nội tâm của mình, bao nhiêu hình bóng, cảm giác, suy nghĩ trong đó và trong suy nghĩ đó có dục, tham, sân, ái, bản ngã mà mình có thấy không hay là mình nhập cuộc nói đây là tâm của tôi, đây là cảm giác của tôi, tôi đang suy nghĩ, chết.

Thâm sâu như vậy mới là “pháp do Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, đến để mà thấy, có hiệu quả tức thời, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu”(Tăng Chi Bộ kinh, Chương VI- Sáu Pháp, I.Phẩm Đáng Được Cung Kính). Mà mình tu hoài không hiểu, mở cuốn kinh ra đọc, ngồi, lạy, niệm nhưng mà thật sự là ở ngoài, chưa có si nhê, ép phê. Mình đâu có thấy tâm thức mình vận hành ra sao. Mình nói thêm một pháp tưởng khác, ví dụ mình đang ngồi ở đây thì hình bóng của người mình tức giận hiện lên, tưởng hiện lên bắt đầu thọ mình khó chịu và mình suy nghĩ “tại sao đối xử với mình như vậy”, “mình là người xuất gia, tu sĩ mà đối xử mình như vậy”, đó là thọ, tưởng, hành thứ nhất thì lúc đó là ý duyên với thọ, tưởng, hành, bắt đầu ý thức sanh khởi, ý thức rõ biết hình bóng, suy nghĩ như vậy mà mình không nhận thức ra được ngay lúc đó pháp đang diễn ra là mình nhập cuộc vào đó sanh ra thọ bực bội nữa, ra cái tưởng mình phải gặp người đó giải quyết vấn đề là pháp tưởng, pháp tư rồi mình suy nghĩ làm sao cho hả dạ thì thọ, tưởng, hành thứ hai sanh ra, rồi mình suy nghĩ tiếp tục là thọ, tưởng, hành thứ ba sanh ra cho nên lực đẩy của tâm sân hận, của cảm giác khó chịu đẩy mình đi gặp người đó, thì Đức Phật nói “Này các Tỳ-kheo, ta tuyên bố tác ý, tức là nghiệp”(kinh Tăng Chi), đó là tác ý, đó là tâm lý học vận hành trong nội tâm của mình, lúc đó mình hoàn toàn không biết cái nào là thọ, cái nào là tưởng, cái nào là hành, mình không biết cái nào là thức, cái nào là ý, cái nào là ý xúc, cái nào là thọ cho xúc sanh mình hoàn toàn không biết rồi rối một chùm rồi mình nhận tất cả những cái đó là tâm của tôi và của tôi rồi chết, chết không có đất chôn.

Đó là trí tuệ, thiền tuệ của Đức Phật truyền lại cho nên thật sự quan trọng là quý huynh đệ thực tập nhận diện năm uẩn, đây là cánh cửa hết sức quan trọng để mình nhìn thấy trong nội tâm mình, cho nên cái tu thật sự của Đức Phật dạy trong thời Phật còn tại thế là không có hướng vào bất cứ một ai cầu xin lạy lục van xin để cứu độ cho mình, ngay cả Đức Phật Thích-ca Mâu-ni cũng không giúp được mà sự dạy dỗ của Đức Phật là quay trở lại nhìn rõ thân tâm của mình được cấu tạo, vận hành như thế nào, từ đâu có đau khổ, thấy rõ được để đoạn tận những nguyên nhân sanh ra đau khổ thì mình hết khổ, đó là Niết bàn, toàn bộ giáo lý của Đức Phật có bao nhiêu đó. Bây giờ ai giúp mình chặn được tâm sân, ai giúp mình giảm được tham dục, ai giúp mình phá được cái chấp ngã, cái ta đây, cái tôi, ai giúp? Nếu mình không quán chiếu, thực tập là không ai giúp được. Trong kinh Đại Bát Niết Bàn “này các Tỳ-kheo, hãy tự thắp đuốc lên mà mà, hãy tự nương tựa vào chính mình, đừng nương tựa vào một cái gì khác. Hãy nương tựa vào chánh pháp”. Chánh pháp là gì? Là Tứ Niệm Xứ, mà Tứ Niệm Xứ là gì? Là luôn luôn nhìn lại thân thể, cảm giác, nội tâm và những pháp này vận hành quán pháp, là tâm mình vận hành ra sao, cái đó gọi là Tứ Niệm Xứ. Tứ Niệm Xứ là luôn luôn nhìn lại thân thể, cảm giác, nhìn lại nội tâm trong đó vận hành như thế nào, thấy biết, đó là Tứ Niệm Xứ chứ Phật không có dạy mình hướng ra ngoài cầu ông nào, ai độ cho mình. Giờ nhìn lại mình tu là tu cách nào, tối ngày cúng, lạy, cầu nguyện, van xin hướng ra bên ngoài rồi cuối cùng quay trở lại tham, sân, si, bản ngã một đống, không có giảm thiểu, khổ còn nguyên, dục càng ngày càng tham, muốn nhiều hơn nữa. Hồi mới còn cư sĩ mới tập sự dễ thương, thọ giới Tỳ-kheo lên rồi là thương không dễ, khổ chưa? Đây là sự cay đắng, đau đớn, xấu hổ của người tu, mình đi sai đường. Hồi xưa mình là cư sĩ tập sự bị la, bị rầy thì dạ dạ vâng vâng, con xin lỗi còn bây giờ mới rầy một tiếng là giận, nghỉ học, “tôi cũng là Tỳ-kheo vậy”, mà chưa gắn bảng, gắn bảng trụ trì vào là “mô phật sư phụ, con lạy sư phụ”, chết không có đất chôn. Thương lắm thay, đau đớn thay, xót xa thay đi sai đường, cho nên mấy huynh đệ tu cái này hay lắm, mình đi cuối xuống thấy xấu hổ, mình lo mình chưa xong không dám nhìn ai, tối ngày mình thấy thọ, tưởng, hành trong tâm mình, dục, tham, ái đầy đầu, sân hận, si mê, bản ngã quậy mình, mình nhìn thấy ngày nào cũng vậy, mình lo trì không xong thì nhìn ai, ta đây với ai, cống cao với ai, ngã mạn với ai. Đó là Minh Thành nói sơ lược về pháp tưởng cho mấy huynh đệ thấy, đó là mình học định nghĩa về tưởng, sáu cái tưởng, trong đây nhận rõ thì gọi là tưởng, tưởng màu xanh, màu vàng, màu đỏ, màu trắng. Tại sao lại nói nhận rõ màu? Ở đây mới nói về sắc tưởng nhưng mình phải hiểu là thanh tưởng, hương tưởng, vị tưởng, xúc tưởng, pháp tưởng tức là đưa ra một cái nhưng mình phải hiểu cả sáu cái. Ví dụ trong nội tâm mình nghĩ về màu đỏ là hiện ra màu đỏ, mình nhận rõ là có màu đỏ trong tâm mình thì đó là tưởng, đó là sắc tưởng nhưng ví dụ mình ngồi nhớ tiếng của ai thì đó là thanh tưởng. Cái này mấy huynh đệ học được là trở thành nhà tâm lý học vĩ đại của Phật giáo, các huynh đệ nói chuyện với các nhà bác sĩ tâm lý là “sư phụ, con lạy sư phụ”. Mấy người đó làm sao hiểu nổi cái này, đây là trí huệ tâm lý học của bậc tôn quý nhất trên đời, bậc Thiện Thệ, Thế Gian Giải. Học cái này rồi nói chuyện với các nhà tâm lý học trên thế giới, có người dịch tiếng Anh cho mình luôn, không phải chuyện bình thường. Đức Phật nhìn được hết trong ngũ uẩn, tất cả các góc độ, khía cạnh, ngõ ngách tròn đầy viên mãn đồng đều đầy đủ tường tận tất cả, không còn cái nào Đức Phật không biết ở trong năm uẩn, đó mới gọi là Chánh Đẳng Chánh Giác, đó mới là thầy của trời và người, khi Đức Phật mới thành đạo là ta bà chủ mà ngoài đời gọi là Đấng Sáng Tạo, là Phạm thiên Sahampati, trong khoảng co giữa cánh tay Đức Phật tính là không có nói pháp, khoảng co giữa cánh tay trên cảnh trời xuống quỳ lại, năn nỉ ba lần thỉnh pháp Đức Phật mới nói, tức là trong năm uẩn này không còn một cái gì nhỏ mà Đức Phật không thấy, không biết. Đức Phật thấy hết, biết hết cho nên mình học rồi mấy huynh đệ thấy cao siêu, tuyệt vời lắm. Học kĩ, nắm vững mình sẽ hiểu trong nội tâm mình vận hành ra sao, mình hiểu tâm mình thì mình sẽ hiểu tâm người khác. Tại vì mình không học cho nên mình không biết thọ ra sao, tưởng ra sao, hành ra sao, thức mình không biết cho nên mình ngơ ngơ ngáo ngáo nhưng ai mà chê là sân lên. Tại vì sao tên tuổi mình không biết thì làm sao mình biết mặt mũi của nó, mà mặt mũi không biết thì sao biết đến tính tình của nó. Tưởng mà mình không biết là gì, những suy nghĩ nói lầm bầm là hành mà mình cũng không biết, mình không biết tên nó mà nói cái đó tôi nghĩ, tôi suy nghĩ tức là cái đó là tôi, những nhà bác học phát biểu tôi suy nghĩ thì cái suy nghĩ đó là tôi, nếu suy nghĩ đó là tôi thì hình bóng trong tâm là gì, cảm giác là gì? Vậy là có năm cái tôi hay sao? Một cái này thôi là phá tung tất cả lý luận, học thuyết của các nhà khoa học, bác học, tâm lý học vĩ đại trên thế gian, đây gọi là Như Lai thần chưởng, nắm được cái này là nắm được cái tri vũ trụ, cho nên mấy huynh đệ thấy Minh Thành hay ví dụ là Tôn Ngộ Không bay mãi không ra được bàn tay của Như Lai Phật Tổ, bàn tay đó là ngũ hành, là năm uẩn, là ý thức không bao giờ ra khỏi thọ, tưởng, hành, thức. Ý thức đã ở trong sắc, thọ, tưởng, hành, thức cho nên bay mãi không ra khỏi bàn tay, mà Như Lai chứng niết bàn là đi ra khỏi năm uẩn cho nên làm sao bay ra được, rồi ụp bàn tay xuống rồi con nằm đó năm trăm năm chơi đi. Tôn Ngộ Không chấp thủ vào năm uẩn thì làm sao đi ra. Mấy huynh đệ thử nghĩ, mình nói đây là nhà đẹp, đây là nhà tôi xây lên, thiết kế thì người đó chừng nào đi ra khỏi, bỏ nhà đi được, đã nhận cái đó làm nhà rồi thì đi đâu thì đi cũng không bằng nhà mình, về tới nhà có cảm giác khỏe khoắn. Họ đã nhận đó làm nhà mình thì bây giờ vô minh không thấy được năm uẩn là năm uẩn mà mình cho năm uẩn là mình. Cho nên “kẻ vô văn phàm phu không gặp bậc Chân nhân, không thấy bậc Chân nhân, không có thuần thục pháp bậc Chân nhân, không có tu học pháp các bậc Chân nhân, quán sắc là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi, quán thọ là cho rằng sắc là tôi, là tự ngã của tôi, cho rằng thọ là tôi, là tự ngã của tôi, cho rằng tưởng, hành, thức là tôi, là tự ngã của tôi cho nên kẻ vô văn phàm phu một khi sắc, thọ, tưởng, hành, thức biến đổi thì người này sẽ sầu, bi, khổ, ưu não, bứt tóc đấm ngực chết và gần như chết”(Tương Ưng Bộ, Chương 22 Tương Ưng Uẩn, III: Phẩm những gì được ăn). Còn bậc Đa Văn Thánh đệ tử không có quán sắc như là tự ngã hay là tự ngã như là sắc hay sắc ở trong tự ngã. Phải đọc kĩ, thuộc lòng những điều này, không cho thọ cảm giác là tôi, tưởng, hành, thức là tôi mà thấy năm uẩn là năm uẩn, là pháp duyên sanh vô thường biến hoại cho nên đối với bậc Đa Văn Thánh đệ tử khi mà sắc, thọ, tưởng, hành, thức biến đổi thì không khổ, nếu có khổ thì khổ rất ít tại vì biết bản chất của nó là như vậy, cho nên trong kinh Niệm Xứ nói “thân này bản tánh là như vậy, bản chất là như vậy không thể khác với bản tánh ấy”. Kết thúc bằng câu này, cứ đọc câu quán thân: thân này bản chất là như vậy, bản tánh là như vậy không thể vượt thoát bản chất ấy, cho nên ngày nào mình cũng quán năm uẩn thì từ từ mình ly tham đối với năm uẩn, mình nhàn chán đối với năm uẩn, mình xa lìa đối với năm uẩn và đến cuối cùng mình chuẩn bị nắm mắt ra đi thì mình quán từ bỏ thì lúc đó chứng nhập từ Bất lai đến A-la-hán quả. Tại vì mỗi giờ, mỗi ngày, mỗi tuần, mỗi tháng, mỗi năm mình đều không nhìn nhận năm uẩn này là mình cho nên cái thấy đó được tưới tẵm, được hung đúc, được gieo trồng, được nuôi dưỡng, được tăng trưởng phát triển quảng đại cho tới một mức nào đó nó chín muồi thì nhàm chán, ly tham, giải thoát, trong sự giải thoát “ta đã thấy rõ rằng, ta đã giải thoát, sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”(bài kinh số 70 Tương Ưng Nhân Duyên thuộc Tương Ưng Bộ). Trạng thái này là trạng thái vô minh, tham ái và chấp thủ đối với năm uẩn, trạng thái cho ngũ hành sơn là mình, là của mình, là tự ngã của mình, là ngũ uẩn đó cho nên lá bùa dán vô là lá bùa của bản ngã, bám chặt vô, gỡ chắp ngã thì tung vỡ ra, Ngộ Không được giải thoát, Ngộ Không đã thấy rõ được tính chất rỗng không của năm uẩn cho nên khi tung núi ra thì con tên là Ngộ Không, đặt tên cho con là Ngộ Không, Ngộ Không nghĩa là thấy rõ tính chất trống rỗng của năm uẩn cho nên một cái tưởng mà Minh Thành nói chung hết năm uẩn cho mấy huynh đệ thấy rõ.

Định nghĩa về hành là sắc tư, thanh tư, hương tư, vị tư, xúc tư, pháp tư. Trong kinh Thủ Chuyển Tương Ưng Bộ tập 3, trang 11, bản cũ, Đức Phật nói “này các Tỳ-kheo đây được gọi là hành”, nói tới đâu phải dẫn chứng rõ tới đó, không được nói con suy nghĩ hành là… là không được. Như vậy tư là suy tư, những suy nghĩ về sắc, về âm thanh, mùi vị tiếp xúc, những suy nghĩ về thọ, tưởng, hành trong nội tâm của mình, những suy nghĩ đó được gọi là tư và tư cũng là hành, dùng từ khác nhau, có chỗ kêu là hành có chỗ gọi là tư. Có sáu tư, suy tư về sắc, suy tư về những hình bóng, suy nghĩ về những hình bóng, ví dụ đi đâu gặp người ta cười với mình, mắt người ta nhìn mình vậy là mình về nghĩ nụ cười dễ thương, lời nói nghe cũng dễ thương, mùi dầu thơm đặc biệt, đó là sắc tư, thanh tư, hương tư, bao nhiêu đó là mê hồn trận rồi bát tà đạo tung ra, đó gọi là bát quái trận, đào hoa đảo, ma trận tung ra, bắt đầu mình cuốn theo cái hình bóng đó, âm thanh đó, mùi hương đó rồi vô tình cầm trúng tay hay quẹt trúng tay là xúc tư, rồi cảm giác ngay lúc đó có rồi bây giờ mình quay lại cảm giác thứ hai, cái tưởng và cái suy nghĩ tiếp tục, tức là suy nghĩ chồng lên suy nghĩ, cảm thọ chồng lên cảm thọ, xúc chồng lên thêm xúc nữa và cứ tiếp tục như vậy, mình bị dẫn đi, đẩy đi là đang vô ma trận, bẫy mồi của ác ma, mà ác ma ở trong sắc, thọ, tưởng, hành, thức, ở trong người chứ không phải ác ma ở ngoài, ác ma đó là dục và tham ở bên trong người mình.

Thấy ra được những cái này là phải thành tựu trí huệ, thiền quán. Các huynh đệ thấy trí huệ này khủng không? Đây là trí khủng, nếu không tu được chánh pháp thì không thể nào nhìn ra được điều này tại vì trong đó mình cho là mình, cho nên trí huệ này là trí huệ đại bác, Minh Thành gọi là bom nguyên tử, trí huệ này mới đưa đến ly tham một cách triệt để và toàn vẹn. Còn mình hiểu sơ sơ, đi đám ma tai nạn giao thông, nhà nghèo tội nghiệp quá thì đó chỉ là một phần nhỏ xíu về sắc uẩn ở bên ngoài, làm sao thành tựu được pháp ly tham trọn vẹn, cho nên mình tu mãi không đi đến thành công, thấy thì thấy cho nó lắng dịu lại rồi trở về thích lại tại vì cảm giác ở bên trong, tưởng bên trong, hành suy nghĩ bên trong, thức bên trong chứ không phải chỉ có sắc một chút ở bên ngoài, dùng quán tứ đại, quán ba mươi hai thể trược, quán chín giai đoạn mục tử thi để phá tung hết sắc uẩn, ngày nào cũng phải quán, tối thiểu một ngày dành một tiếng đồng hồ để quán, chín giai đoạn của mục tử thi, quán như vậy thì từ từ mới giảm bớt dục, giảm bớt tham, giảm bớt ái, dần dần mới tiêu mòn, mới rục rã từ từ qua nhiều năm, nhiều tháng, trí huệ mình thể nhập gọi là thể nhập thánh trí, tới lúc đó mới giúp mình độ đời được bằng trí huệ này. Cho nên đây giải thích là “làm cho hiện hành pháp hữu vi cho nên gọi là hành, làm cho hiện hành sắc với sắc tánh, thọ với thọ tánh, tưởng với tưởng tánh, hành với hành tánh, thức với thức tánh, làm cho hiện hành pháp hữu vi, Này các Tỳ-kheo cho nên gọi là hành”, đây là kinh Đáng Được Ăn, kinh Tương Ưng Bộ tập ba, những cái suy nghĩ đó làm cho hiện hành ra pháp hữu vi là những suy nghĩ của mình biểu lộ ra, sắc với sắc tánh là gì, thọ với thọ tánh là gì, bản tánh của sắc, bản tánh của thọ, tưởng, hành, thức là bản tánh vô thường, là bản tánh hữu vi, bản tánh sanh diệt. Khi mình nhìn thường xuyên rồi mình mới thấy cái hành đó là pháp hữu vi, cái hành đó là sanh diệt, nó nói lòng vòng trong sắc, thọ, tưởng, hành, thức chứ đâu có nói gì ngoài cái đó cho nên mình nhìn, mình quán chiếu để mình thấy rõ, điều này đòi hỏi mình phải có thời gian nhiều để yên tịnh, trầm mặc nhìn lại nội tâm của mình để phân biệt cái nào là sắc, cái nào là thọ, cái nào là tưởng, cái nào là hành, phải thường trực nhìn lại trong tâm mình đang nói cái gì. Còn người không có sự thiền định, không có sự tu tập, không có sự nội quán thì mới suy nghĩ là nói ra miệng liền, nhiều khi nói không kịp suy nghĩ thì hư chuyện cho nên người đó không có thiền định, không có chánh niệm tỉnh giác, còn người thiền định làm cho hiện khởi sắc và sắc tánh, những tính chất trong đó hiện khởi, hiện hành ra những sự vận hành trong nội tâm của mình các hành pháp.

Định nghĩa về thức, nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức. Thế nào gọi là thức? Là sự rõ biết chua, đắng, cay, ngọt, chất kiềm… và không phải những chất đó, đây mới nói đến vị trần nhưng mình phải hiểu là sắc, thanh, hương, vị, xúc pháp chứ không phải chỉ một cái. Khi nói thì Đức Phật chỉ nói một điểm cho mình thấy nhưng mình phải hiểu rộng ra là cả sáu trần, cho nên thức là chỉ rõ biết, chúng ta sẽ học rất kĩ cái thức, rất nhiều người hiểu lầm, những người tu thiền hiểu sai rất nặng, hồi xưa Minh Thành cũng học theo cái đó, thức chỉ là rõ biết chứ không phải là suy tư, phân biệt. Suy nghĩ là hành, thành ra chỗ này hết sức quan trọng mà trước giờ mình học lẫn lộn cho nên mình không có chánh kiến về pháp. Hành mới là suy nghĩ, những suy nghĩ lầm thầm mới là hành, thức chỉ là rõ biết chứ không phải là suy nghĩ, suy nghĩ là hành cho nên mình học sai sao mình tu thành tựu được.

Những suy nghĩ lầm thầm đó là hành uẩn còn thức là rõ biết thành ra mình giải thích thức là suy nghĩ, phân biệt là sai, cho nên điều này hết sức là sâu sắc. Nếu mình đã hiểu sai là mình đã lẫn lộn thành ra loạn pháp thì mình tu không có thành tựu đúng như lời Đức Phật. Thức chỉ rõ biết, còn những suy nghĩ đúng sai, tốt xấu, phải quấy, phân biệt thì đó là hành uẩn, cho nên cái thức này mình phải học nhận diện cả một, hai buổi tại vì mình nói nhãn thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức, mình nói miệng vậy chứ mình không có nhận diện được. Mình tưởng thức của mình là biết trọn vẹn, không phải vậy, đó là duyên sanh pháp, nó vô thường. Thí dụ mình nói nhãn thức giới, nhĩ thức giới, tỷ thức giới, thiệt thức giới, thân thức giới, ý thức giới, như vậy giới là giới vực, là ranh giới, phạm vi, phạm trù. Ví dụ nhãn thức là sự rõ biết các sắc thì nó chỉ biết sắc chứ tiếng không biết, cho nên nhãn thức chỉ biết sắc, ngoài ra không biết cái khác. Nhưng nhãn thức phải do con mắt có các sắc rồi mới sanh khởi ra sự rõ biết các sắc, ba pháp này hội tụ, giao thoa với nhau đây là sự tiếp xúc của mắt gọi là nhãn xúc, do sự tiếp xúc như vậy sanh ra thọ, như vậy thọ do nhãn xúc sanh. Khi con mắt tiếp xúc mới sanh ra cảm giác, trong cảm giác đó có ba loại cảm giác: lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ, trong ba loại cảm giác đó sanh ra tham, sân, si. Trong cảm giác đó mình phải thấy khi con mắt tiếp xúc, tâm lý học của bậc Chánh Đẳng Giác tinh vi, bao trùm hết tất cả, chứ không phải học lơ tơ mơ nghĩ đơn giản, rõ biết đó là nhãn thức, năm thức trước chỉ biết bên ngoài, thức thứ sáu mới biết thọ, tưởng, hành. Đây là chỗ thâm sâu: thức thứ sáu mới biết cảm giác ở bên trong, tưởng bên trong, những suy nghĩ bên trong, còn năm thức trước chỉ biết bên ngoài không biết được bên trong, cho nên phạm vi, giới vực, lãnh vực của nhãn thức là chỉ biết tất cả các hình sắc, ngoài cái đó là không biết, còn nhĩ thức chỉ biết âm thanh, tất cả âm thanh trong phạm vi của nó và ngoài âm thanh ra thì không biết. Thành ra cái biết có cái riêng, có giới hạn, có phạm vi, lãnh vực riêng cho nên người ta gọi là nhĩ thức giới. Chữ “giới” là giới hạn, là phạm vi, phạm trù, thí dụ người ta nói giới doanh nhân, giới trí thức, đó là phạm vi, phạm trù, ngoài cái đó ra người ta không phải giới khác, không phải giới tu hành. Tỷ thức chỉ biết mùi và ngoài mùi ra thì không biết cái nào khác, mà phải đầy đủ duyên chứ thiếu duyên lỗ mũi nghẹt, lỗ mũi bệnh là không biết mùi, có những người thính lỗ mũi, có người thính lỗ tai. Thiệt thức giới là để vị lên thì biết còn ngoài ra không biết. Thân thức mình sẽ học kì sau, mình sẽ nhận diện từng thức để mình thấy rõ. Ý thức chỉ biết thọ, tưởng, hành bên trong còn ở ngoài không biết, chỗ này rất sâu sắc mình phải nhận diện, phải học ra. Mình không học, mình không thực tập thiền quán thì mình nghĩ rằng sáu thức này chung với nhau, là một cái biết trọn vẹn, không phải. Chọt mù con mắt là hết thấy hoặc là thấy một bên còn bên kia không thấy, ví dụ lỗ tai tự nhiên đi máy bay về bị điếc, thì mấy cái kia nó vẫn còn hoạt động chứ mắt, tai là xong. Nhĩ thức có liên hệ tới nhĩ căn, những cơ sở hoạt động, thần kinh, thính giác bị hư thì cái kia không đủ duyên để nó phát khởi, sanh khởi, hiện khởi. Các huynh đệ nắm vững và kĩ, những cái này là những cái hết sức căn bản và hết sức quan trọng để cho mình nhận diện, nắm thật vững thì khi ngồi thiền hay sinh hoạt hằng ngày mình nhìn trở lại cái nào ra cái đó, không bị lẫn lộn, lúc đó mình mới thành tựu được chánh tri kiến, biết chính xác về pháp mà pháp ở ngay trong thân tâm của mình chứ không phải ở đâu xa.

Linh Quy Pháp Ấn thực hiện