Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Không Buông Lung Phóng Dật 2 - Linh Quy Cảnh Sách

2026-03-03 00:53:25
BUÔNG LUNG PHÓNG DẬT 2

LINH QUY CẢNH SÁCH

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Tu tập hạnh viễn ly PAGEREF _Toc72139238 \h 1

II. Sự nguy hại của sự buông lung phóng dật PAGEREF _Toc72139239 \h 3

III. Đôi lời nhắn nhủ người xuất gia PAGEREF _Toc72139240 \h 10

Tu tập hạnh viễn ly

Minh Thành xin mừng tuổi tất cả các sư cô tăng thêm một tuổi đạo.

Chúng ta làm sao phải lớn mạnh, phải trưởng thành trong pháp và luật, tâm tâm niệm niệm phải luôn tác động tâm ý. Tất cả những việc mình đã làm, những lời nói, những suy nghĩ phải làm cho giới uẩn được viên thành, mỗi ngày tâm niệm phải tác ý để làm sao giới hạnh, đức hạnh, đạo hạnh, giới đức phải được tăng trưởng, phát triển. Không chỉ trong ba tháng An Cư mới tu mà sáng dậy phải tác ý, trưa phải tác động tâm ý, chiều phải tác ý và trước khi đi ngủ buổi tối phải tác ý, phải thành tựu, phải chiến thánh, sự xuất gia của mình phải có thành tích, thành công, thành quả.

Chúng ta không thể để đời sống xuất gia trống rỗng, trống trơn, người xuất gia phải gánh một gánh nặng của thiện pháp, trong đó có hạnh viễn ly. “Viễn ly” tức là xa lìa, xa rời, bỏ xa, xa rời hội chúng đông đúc ồn ào, náo nhiệt tùng lâm. Đi học tựu trường lại mọi người có vui không? Vì cái gì mà vui? Nếu vì đông người, có bạn bè huynh đệ mà vui là sai rồi, không đúng pháp. Vào học để gặp huynh đệ, để được tâm sự, nói chuyện thì cái này là phàm phu pháp chứ không phải Thánh hạnh, không phải cái hạnh của người xuất gia. Mình ở một mình có vui không? Chừng nào mình hoan hỉ với ngôi nhà trống, với tịnh thất ven suối bìa rừng, dưới gốc cây mỏm đá thì mới gọi là nếp sống thật sự của người xuất gia. Mọi người phải tập ở một mình, phải tập độc cư thiền định, phải tập trong sự yên lặng, an tĩnh, Đức Thế Tôn là bậc an tịnh, nói pháp để đưa đến sự an tịnh cho chúng sanh.

Này Ananda, trước khi Ta giác ngộ, chưa chứng được Chánh Ðẳng Giác, còn là Bồ-tát, Ta suy nghĩ như sau: "Lành thay, sự xuất ly! Lành thay, sống viễn ly". Nhưng tâm của Ta không có hứng khởi trong sự xuất ly ấy, không có tịnh tín, không có an trú, không có giải thoát, dầu Ta có thấy "Ðây là an tịnh". Rồi này Ananda, Ta suy nghĩ như sau: "Vì Ta không thấy nguy hiểm trong các dục, vì Ta không làm cho sung mãn sự nguy hiểm ấy, lợi ích của xuất ly chưa được chứng đắc, Ta chưa được thưởng thức lợi ích ấy. Do vậy tâm Ta không hứng khởi trong xuất ly ấy, không tịnh tín, không an trú, không giải thoát". Này Ananda, về vấn đề ấy, Ta suy nghĩ như sau: "Nếu sau khi thấy nguy hiểm trong các dục, Ta làm cho sung mãn sự nguy hiểm ấy. Sau khi chứng được lợi ích trong sự xuất ly, Ta thưởng thức lợi ích ấy", thời sự kiện này xảy ra: Tâm của Ta có thể hứng khởi trong xuất ly, tịnh tín, an trú, giải thoát, vì Ta có thấy: "Ðây là an tịnh". (Tăng Chi Bộ, Chương IX – Chín Pháp, IV. Ðại Phẩm, (X) (41) Tapussa)

Mình phải tập độc cư thiền định, tập ở yên một chỗ, tập ở nơi thanh vắng, xa xôi vắng vẻ để tư duy quán chiếu nhìn ra những cảm giác, nghĩ tưởng bên trong thân tâm, tìm ra nguyên nhân của khổ.

Ít có giá trị, này các Tỳ-kheo, là những tăng trưởng này, tức là tăng trưởng danh vọng. Cái này là tối thượng giữa các tăng trưởng, này các Tỳ-kheo, tức là tăng trưởng trí tuệ. Do vậy, này các Tỳ-kheo, cần phải học tập như sau: "Tôi sẽ làm tăng trưởng sự tăng trưởng trí tuệ". Như vậy, này các Tỳ-kheo, các Thầy cần phải học tập. (Tăng Chi Bộ, Chương I - Một Pháp, IX. Phẩm Phóng Dật, 1-17)

Sự tăng trưởng về danh vọng, danh tiếng ít có giá trị, còn sự tăng trưởng tối thượng trong tất cả sự tăng trưởng là tăng trưởng trí tuệ. Mình được khen, được vỗ tay, được trao tặng bằng cấp chỉ vui một chút là thôi, xong rồi cũng trở thành kỉ niệm, có khi danh vọng đó làm cho mình càng sanh thêm bản ngã, sanh thêm cái tâm tham ái, chấp thủ cho nên không cầu mong hoặc làm việc để người ta khen, cái quan trọng là trí tuệ của mình có lớn mạnh không, có tăng trưởng không. Mình phải đầu tư vào trí tuệ chứ đừng đầu tư vào danh vọng, mình nghĩ những người nổi tiếng sung sướng nhưng thật sự người ta có cái khổ của người ta, họ không thể đi ra đường như người bình thường mà phải che mặt, bịt kín hết, có chuyện gì cũng bị đăng báo rồi còn bị giới săn tin theo dõi cho nên danh vọng không phải lúc nào cũng tốt, người nổi tiếng ra đường phải có vệ sĩ đi theo bảo vệ còn mình đi không cần ai bảo vệ, yếu nhân mới cần người bảo vệ còn mình không cần thiết. Vua Ba-tư-nặc đã nói:

 Bạch Thế Tôn, Isidatta và Purana là hai quan giữ ngựa, ăn cơm của con, đi xe của con, sinh sống do con cho, và chính con đem danh vọng lại cho họ. Nhưng họ không hạ mình đối với con như họ hạ mình đối với Thế Tôn. Thuở xưa, bạch Thế Tôn, trong khi hành quân chống với đội quân đối nghịch, và muốn thử thách Isidatta và Purana, hai quan giữ ngựa, con đến ở tại một căn nhà chật hẹp. Rồi bạch Thế Tôn, hai quan giữ ngựa, Isidatta và Purana, sau khi cùng nhau đàm luận về chánh pháp hơn nửa đêm, rồi nằm xuống ngủ, với đầu của họ hướng về phía mà họ được nghe là chỗ Thế Tôn ở và với chân hướng về chỗ con. Bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau: "Thật vi diệu thay! Thật hy hữu thay! Hai quan giữ ngựa Isidatta và Purana này ăn cơm của ta, đi xe của ta, sinh sống do ta cho, và chính ta đem danh vọng lại cho họ. Nhưng họ không hạ mình đối với ta như họ hạ mình đối với Thế Tôn. Thật sự những vị này ý thức được một sự tối thắng thù diệu nào trong giáo lý Thế Tôn, một sự thành đạt tuần tự". Bạch Thế Tôn, đây là pháp truyền thống của con đối với Thế Tôn: "Thế Tôn là bậc Chánh Ðẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo giảng, đệ tử chúng Tăng của Thế Tôn khéo tu tập hành trì". (Trung Bộ Kinh, 89. Kinh Pháp trang nghiêm)

Cho nên danh tiếng, chức quyền như vậy nhưng bên trong họ rất lo lắng sợ hãi, thời gian gần đây những người quyền cao chức trọng vào tù ra khám liên tục và rất dễ dàng, hôm nay trên đỉnh cao nhưng ngày mai dưới vực sâu. Danh lợi, địa vị có rất ít giá trị, làm cho mình tăng trưởng trí tuệ mới có giá trị thật sự.

Sự nguy hại của sự buông lung phóng dật

Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỳ-kheo, có thể đưa đến bất lợi lớn, này các Tỳ-kheo, như là phóng dật. Phóng dật, này các Tỳ-kheo, đưa đến bất lợi lớn.

Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỳ-kheo, có thể đưa đến lợi ích lớn, này các Tỳ-kheo, như là không phóng dật. Không phóng dật, này các Tỳ-kheo, đưa đến lợi ích lớn. (Tăng Chi Bộ, Chương I - Một Pháp, IX. Phẩm Phóng Dật, 1-17)

Trong bài kinh “Sống Phóng Dật” của Tương Ưng Bộ kinh tập IV, Đức Phật định nghĩa trú phóng dật, mà phóng dật chính là buông lung. Tức là ai sống không nhiếp hộ con mắt thì tâm bị ô nhiễm với các sắc do con mắt nhận biết.

Này các Tỳ-kheo, Ta sẽ thuyết cho các Ông về trú phóng dật và trú không phóng dật. Hãy lắng nghe.

Và này các Tỳ-kheo, thế nào là trú phóng dật?

Ai sống không nhiếp hộ nhãn căn, này các Tỳ-kheo, thời tâm người ấy bị nhiễm ô (vyàsincati) đối với các sắc do mắt nhận biết. (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (c), V. Phẩm Từ Bỏ, IV. Sống Phóng Dật)

“Nhiếp” là thu nhiếp, “hộ” là phòng hộ. Người nào sống không thu con mắt, không phòng hộ con mắt thì người này bị ô nhiễm khi tiếp xúc với các sắc. Tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, thân xúc chạm không phòng hộ, hộ trì, giữ gìn thì người này thấy sắc bị ô nhiễm, nghe tiếng là bị nhiễm, lưỡi nếm là bị nhiễm, ý duyên với pháp tức là những thọ; tưởng; hành bên trong, những cảm xúc nghĩ tưởng bên trong khi không có người, không có cảnh mà người nào ở một mình, nằm một mình nhưng những cảm giác nghĩ tưởng sanh khởi lên thì người này cũng bị ô nhiễm. Có ai ban đêm thường trằn trọc băn khoăn giấc chẳng thành, không ngủ được vì suy nghĩ không? Đó là những thọ, tưởng, hành, những hình bóng, nghĩ tưởng bên trong làm cho tâm thức mình ô nhiễm, bất an. Mình khao khát, mong muốn, sân hận, bản ngã, do mình không giữ gìn mắt, tai, mũi, lưỡi, không giữ gìn, phòng hộ thân, ý.

Mắt Minh Thành đến giờ vẫn không cần mang kính vì Minh Thành rất phòng hộ nếu không đã phải mang kính cận dày cộm rồi. Vì lúc mới đi tu mắt đã cận 0.75 độ, mình biết con mắt mình đã có triệu chứng như vậy mà mình càng điều tiết nhiều, càng dùng máy tính nhiều thì càng mau cận. Cho nên Minh Thành nghe nhiều hơn, để ý để phòng hộ, bảo vệ nên tới giờ vẫn không cần dùng kính cận.

Khi sáu căn tiếp xúc sáu trần thì nhìn ai là nhìn thẳng; khi nghe tiếng là không được đi theo âm thanh mà trở về xem cảm xúc khi nghe như thế nào; khi ngửi và nếm đồ ăn cũng vậy, phải trở về xem dòng cảm thọ khi ăn như thế nào, khi lưỡi chạm đồ ăn thì dục, ái, tham sanh khởi như thế nào, phải điều khiển mức độ nhai và gắp đồ ăn thì đó là có phòng hộ, bảo vệ. Khi nghe tiếng trong điện thoại phải quay lại xem cảm thọ chứ không được đi theo âm thanh, đi theo là mình ô nhiễm, bị sân hận, bực bội, ngủ không được. Mình buông thả sáu căn như con ngựa hoang, không kiểm soát, không phòng hộ, hộ trì, không giữ gìn, như vậy gọi là buông lung phóng dậy.

Vì vậy, khi một người đã bị sáu trần ô nhiễm thì tâm người đó không hân hoan đối với pháp ly tham, không hân hoan với sự vô thường, không thích khổ, vô ngã và trống rỗng:

Với người tâm bị nhiễm ô thời không có hân hoan. Do không có hân hoan nên không có hỷ. Do không có hỷ nên không có khinh an. Do không khinh an nên khổ an trú. Với người đau khổ, tâm không có thể định tĩnh. Do tâm không định tĩnh, các pháp không hiển lộ. Do các pháp không hiển lộ, người ấy được gọi là người an trú phóng dật. (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (c), V. Phẩm Từ Bỏ, IV. Sống Phóng Dật)

Sáu trần bên ngoài ô nhiễm nên ngồi thiền thì hình bóng người này, người kia hiện ra, món đồ này nọ hiện ra không được trong sạch thanh tịnh. Với một cái tâm ô nhiễm như vậy thì không hỷ lạc, vui trong pháp, không nhẹ nhàng nên có khổ an trú, với một cái tâm bị ô nhiễm như vậy thì các pháp không hiện rõ. Chính vì vậy mà tu không thể thấy được nội tâm vì tâm không được trong sáng, trong đó như một đống xà bần, ngồi thiền thì ngồi không nổi vì bị nó quậy, nhập thất thì bể thất. Nghỉ hè nên muốn đóng cửa vài ngày tu học nhưng vào mới 1-2 ngày đã trở ra vì ở một mình chịu không nổi, nghĩ bụng tắt điện thoại để tu vậy mà lát sau cũng lén mở ra xem có ai gọi không. Đó là tâm bị ô nhiễm với trần, cảnh, sắc, thanh, hương, vị, xúc bên ngoài, cho nên các pháp không hiện rõ vì nó bị cuốn theo tâm ô nhiễm đó.

Hơn nữa, nếu không thấy các pháp thì sự cấu nhiễm trong tâm không được thấy không được biết thì không thể diệt trừ được nên làm sao đi đến chỗ lậu tận? Không thấy biết được thì làm sao nhiếp phục và đoạn tận được? Đó là nguyên nhân tại sao mình trú trong sự phóng dật buông lung, lý do là vậy. Cho nên Đức Phật nói “Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỳ-kheo, có thể đưa đến bất lợi lớn, này các Tỳ-kheo, như là không phóng dật”. Đức Phật ví dụ không phóng dật như cái nhà có nóc nhọn, tất cả rui mè, đòn tay đều hướng về nóc nhọn thì thiện pháp không phóng dật là vui của tất cả thiện pháp.

Tại sao mình tu không thành công? Vì mình buông lung phóng dật, buông lung nên giới không thành tựu, phóng dật nên định không được yên, buông lung phóng dật nên trí tuệ không tăng trưởng phát triển vì mình xem thường, không cẩn trọng trong thân, khẩu, ý. Một sự thật Minh Thành phát hiện ra rất đau đớn, cay đắng và xót xa là tất cả những lời nói, suy nghĩ, hành động của chúng ta đều ở trong vô minh tham ái, khi không thành tựu Chánh tri kiến thì suy nghĩ lòng vòng trong vô minh, tất cả những cảm giác, những sự hoạt động của mình đều theo tham ái, cho nên mình đinh ninh mình suy nghĩ đúng nhưng thật tế là trật lất. Khi không thành tựu chánh kiến thì mình suy nghĩ trong vô minh, tham ái, chấp thủ, bản ngã, tham sân si, suy nghĩ trong nghiệp.

Ví dụ, đại chúng nghĩ: "thầy Minh Thành khó lắm, đến giờ của thầy phải yên lặng, phải ngồi thiền" thì đây là suy nghĩ theo cái tâm hướng ngoại; còn suy nghĩ: "giờ này mình được yên tịnh, giờ này mình được trang nghiêm thanh tịnh, giờ này mình được phản tỉnh, thánh tư duy, giờ này mình được nghe những lời chánh pháp chân thật từ kinh tạng Nikāya là Phật pháp nguyên chất của Đức Phật", đây là suy nghĩ từ nội tâm. Ở trên là mình suy nghĩ hướng ngoại và suy nghĩ đó không đúng, không phải khó hay dễ mà pháp phải như vậy (pháp nhĩ như thị), còn bình thường của mình là buông lung vì mình ưa thích, tham ái buông lung.

Hoặc ví dụ, đại chúng đang ngồi học mà nghe đánh chuông là trong lòng như được mở cờ vì ngồi học bị tù túng, sự buông lung bị kiềm kẹp nên khó chịu, giống như ngồi thiền mà ngồi hoài không thấy đánh kẻng xả thiền, vừa nhìn đồng hồ vừa thấy khó chịu. Cái tâm hoạt động rất ghê gớm vì trạng thái buông lung phóng dật mà bị bắt ép vào khuôn khổ nên khó chịu, bức xức, nó chỉ thích buông thả, tự do, phóng túng, đây là một trong năm kiết sử rất nặng nề. Vì thế không khéo mình sẽ nhìn theo nghiệp và vô minh.

Lúc trước, khi Minh Thành chưa nhận định sâu sắc về kinh Nikāya nên thấy người nào đi chầm chậm, mắt nhìn xuống thì thấy khó chịu mà đây là sự khó chịu của vô minh, những cái đó đúng ra phải được cung kính, tán thán, tôn trọng, ca ngợi vì người ta hành trì pháp nhưng mình lại sân si khó chịu, bản ngã. Mình cứ nghĩ trong bụng "làm như tu dữ lắm" trong khi mình có tu được như vậy không? Mình không tu mà người ta tu thì lại đi nói người ta, khổ không? Điều này thể hiện vô minh, bản ngã, ganh tị, nếu người đó được khen mình cũng không vui, cho nên sự tu tập của chúng ta là một sự quay trở về để nhiếp phục tự thân, điều này cực kì quan trọng, quay lại làm chủ, kiểm soát thân tâm chính mình bằng trí tuệ dẫn đạo chứ không phải làm bằng cảm xúc, tức là nếu mình không cho phép thì không được còn cho phép mới được. Mình chỉ huy, thống lãnh, làm chủ sáu căn chứ không phải để nó muốn làm gì là làm. Đức Phật có dạy:

Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỳ-kheo, có thể đưa đến bất lợi lớn, này các Tỳ-kheo, như là phóng dật. (Tăng Chi Bộ, Chương I - Một Pháp, IX. Phẩm Phóng Dật)

Đó là bởi vì nó phá hư hết mọi thứ. Người dân thường đốt giấy tiền, vàng mã để cúng rằm tháng 7, cúng ông bà, cúng cửu huyền nhưng gây cháy nhà, do không cẩn thận, không kĩ lưỡng lại xem thường nên cháy nhà. Thêm chuyện đốt rác mà gây cháy hàng trăm mẫu rừng, đơn giản là đem đồ ra nấu nướng hoặc đốt rác mà gây cháy biết bao mét vuông rừng phòng hộ, tất cả đều do không cẩn thận. Việc tu cũng mình cũng giống vậy, tu không tiến bộ là do xem thường giáo pháp, xem thường thiền định, không cung kính pháp, không cung kính thiền định và không cung kính giới luật, không cung kính tôn trọng các học pháp, không cung kính Thánh giới uẩn, Thánh định uẩn, Thánh tuệ uẩn, Thánh giải thoát uẩn và Thánh giải thoát tri kiến uẩn. Trên bục thầy giảng bài mà ở dưới cứ cười nói đó là cái tâm buông lung, cái tâm rừng rú hoang vu cho nên sự tu học của chúng ta rất khó chứ không đơn giản như mình nghĩ.

Có năm tâm hoang vu này. Thế nào là năm?

Này các Tỳ-kheo, ở đây vị Tỳ-kheo nghi ngờ, do dự, không quyết đoán, không có tịnh tín đối với bậc Ðạo Sư. Này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo nào nghi ngờ, do dự, không quyết đoán, không có tịnh tín đối với bậc Ðạo Sư, Tỳ-kheo ấy không hướng về nỗ lực, hăng hái, kiên trì và tinh tấn. Khi tâm của vị ấy không hướng về nỗ lực, hăng hái, kiên trì và tinh tấn, như vậy gọi là tâm hoang vu thứ nhất.

Này các Tỳ-kheo, lại nữa, vị Tỳ-kheo nghi ngờ đối với Pháp.... (như trên...) đối với Tăng... (như trên...) đối với Học pháp... tức giận đối với các vị đồng Phạm hạnh, không hoan hỷ, tâm dao động, trở thành hoang vu.

Này các Tỳ-kheo, khi một vị Tỳ-kheo phẫn nộ đối với vị đồng Phạm hạnh, không hoan hỷ, tâm dao động, trở thành hoang vu, Tỳ-kheo ấy không hướng về nỗ lực, hăng hái, kiên trì và tinh thần. Như vậy gọi là tân hoang vu thứ năm.

Này các Tỳ-kheo, để đoạn tận năm tâm hoang vu này... Bốn niệm xứ cần phải tu tập (Tăng Chi Bộ Kinh, Chương IX. Chín Pháp, VII. Phẩm Niệm Xứ, (IX) (71) Năm Tâm Hoang Vu).

Đại chúng đừng nghĩ đơn giản, ấu trĩ là một ngày hai thời công phu gọi là tu, không phải như vậy, mình phải nhiếp phục được những tập khí, tập nghiệp, tập tánh, những thói phàm phu, những thói quen của thế tục, thế gian, sự cấu bẩn ô nhiễm. Nếu không thì có tu 5-7 năm, 10 năm lại trở thành thảm họa trong Phật giáo, tham ái càng nhiều hơn, bản ngã càng cao hơn, xem thường các bậc giáo thọ, tôn đức, trưởng thượng…

Đau lòng cho hiện trạng của Tăng Ni bây giờ, rất là đau lòng!

Thật sự nhiều khi Minh Thành gặp mà không dám nhìn chỉ cúi xuống, thấy xấu hổ cho người tu. Không có oai nghi, giới hạnh, không có phép tắc trong hành xử, trong cách đi đứng, ăn nói thì thô tháo, không có lễ nghĩa, lễ giáo thì làm sao dạy được người khác? Cho nên khi nhận một lạy của Phật tử là cực kì nặng, không phải đơn giản mà đó là đại lễ, phải xem lại đức hạnh của mình có xứng đáng với cái lạy đó không. Nhiều khi người ta lạy phía dưới mà ở trên ăn uống, nói chuyện cười giỡn, lúc đầu mới đi tu thấy người ta lạy mình sẽ chắp tay cúi xuống nhưng tu lâu người ta lạy thì kệ, xem như chuyện bình thường.

Cho nên càng tu lâu lại không có sự chân chánh kiểm soát, quán chiếu thì càng ở trong chùa lâu chừng nào sự buông lung phóng dật càng nhiều, càng xem thường, khinh thường, mình xem chùa giống như gia đình của mình, đây là một dạng bỏ nhà này đi vào nhà kia, không phải là người xuất gia, mình sống cũng tham ái, sư phụ hay sư tỉ đi lâu là nhớ rồi giận hờn, điều này hoàn toàn là sự thường tình của thế tục. Mình phải tăng thượng được ước muốn sắc bén tăng thượng giới học, càng tu lâu chừng nào thì đạo đức, phẩm chất, tư cách càng phải được thăng hoa, hướng thượng, và đạo hạnh, đạo đức, phẩm chất của người xuất gia nằm ở đi đứng, ngồi nằm, cử chỉ, oai nghi, hành động.

Này các Tỳ-kheo, có ba hạnh Sa-môn cần phải làm này của Sa-môn. Thế nào là ba?

Thọ trì tăng thượng giới học.

Thọ trì tăng thượng định học.

Thọ trì tăng thượng tuệ học.

Ðây là ba hạnh Sa-môn cần phải làm này của Sa-môn. Ở đây vậy, này các Tỳ-kheo, hãy học tập như sau: "Sắc bén sẽ là ước muốn chúng ta để thọ trì tăng thượng giới học. Sắc bén sẽ là ước muốn chúng ta để thọ trì tăng thượng định học. Sắc bén sẽ là ước muốn chúng ta để thọ trì tăng thượng tuệ học". Như vậy, này các Tỳ-kheo, các Thầy cần phải học tập. (Tăng Chi Bộ, Chương III. Ba Pháp, IX. Phẩm Sa-Môn, 81.- Sa Môn)

Phải xem lại cách ứng xử bình thường hằng ngày như ăn nói với thầy, với huynh đệ, với Phật tử đó là đức hạnh của một người tu, không có cái này thì không thể nói đến những điều cao siêu khác, vậy mà bây giờ lại xem thường những cái này, cứ nghĩ tu là một cái gì đó cao siêu phải xẹt hào quang chứ không nghĩ tu ở những điều bình thường như vậy trong cuộc sống, sinh hoạt. Cho nên, ở trong chùa lâu ngày rồi trở thành nhàm là điều đáng ựo, điều này nói chung cho tất cả. Mới vào chùa thì dễ thương, ngoan ngoãn, tôn trọng, ở lâu những điều này mất hết thì đó là thảm họa, là sự đại bại của người xuất gia. Xin thưa đại chúng, Minh Thành xuất gia 30 năm, từ ngày xuất gia cho đến giờ Minh Thành luôn lo lắng và sợ hãi mình sẽ trở thành người như vậy, lúc nào trong lòng cũng canh cánh lo sợ cho nên những buổi học của con với đại chúng là con cố gắng cho giờ học thật sự chất lượng, thật sự thể hiện những gì trong giáo pháp chứ không phải chỉ là kiến thức suông.

Sự khác biệt của người tu là cái pháp thể hiện trong đời sống, trong sinh hoạt chứ không phải cái pháp chỉ ở trong sách, trên lý thuyết, phải làm cho pháp sống động, lấy pháp làm thức ăn, lấy pháp làm hơi thở và lấy pháp làm sinh mạng. Chúng ta phải hết sức ưu tư, lo lắng, khắc khoải, đau khổ khi chưa thành tựu giới – định – tuệ, nước mắt tuôn trào khi tu mà dục tham ái vẫn còn, động vào là sân si, bản ngã thì lấy gì báo hiếu cho cha mẹ. Phải thao thức, nhức nhối trên con đường tu học của mình chứ không được sống buông thả, lơ lững, lãng quên, vô tư, sống trơ trơ để qua ngày đoạn tháng rồi ẩn dương nương Phật, không thể làm kí sinh trùng của xã hội, không thể để người ta cười chê đạo Phật.

Chính những hình ảnh Tăng Ni không có đạo đức, giới hạnh, oai nghi, phép tắc, không có trên dưới làm người ta cười chê Phật giáo, Minh Thành rất đau lòng cho chính mình và đau lòng chung cho người xuất gia. Bây giờ thọ giới quá dễ dàng, cạo tóc quá dễ dàng, chính vì vậy mới có những thành phần hỗn tạp trà trộn vào Phật giáo để phá hoại Phật giáo, họ không có mục đích chân chánh đi tu để cầu giác ngộ giải thoát, tự lợi lợi tha mà họ vào tu để tìm chỗ nương thân có thể do nhà quá nghèo không đủ ăn đủ mặc, hoặc gặp chuyện gì đó buồn phiền không như ý rồi vào tu vì thấy trong chùa dễ quá, thoải mái, khỏe và chính những thành phần này làm hư Phật giáo.

Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỳ-kheo, do pháp ấy, các pháp bất thiện chưa sanh được sanh khởi, và các pháp thiện đã sanh bị đoạn tận, này các Tỳ-kheo, như phóng dật. Với người phóng dật, này các Tỳ-kheo, các pháp bất thiện chưa sanh được sanh khởi, và các pháp thiện đã sanh bị đoạn tận. (Tăng Chi Bộ, Chương I - Một Pháp, VI. Phẩm Búng Ngón Tay, 1-10 Tâm Ðược Tu Tập)

Các pháp bất thiện chưa sanh nay lại sanh ra còn các pháp thiện đã sanh lại bị đoạn dứt đều do sự buông lung phóng dật. Cho nên Minh Thành rất ước ao khi bước vào trường không có tiếng động, nếu có thì rất nhỏ như khi ngồi thiền, bất cứ lúc nào cũng vậy chứ không phải đợi đến khi ngồi thiền mới yên lặng. Minh Thành đi ngoài hành lang mà nghe trong giờ Tăng hoặc giờ Ni ồn ào là thấy đau nhói tim, sự giáo dục của mình không thành công. Tất cả người tu phải tự giác có ý thức, phải tự nhiếp phục, chế phục chính mình, không cần đợi đến khi nhắc nhở, giờ ngồi thiền ở dưới còn nói chuyện thì Minh Thành thấy thương lắm, nước mắt muốn tuôn ra. Minh Thành không tức giận vì đó là tâm thức si mê, buông lung không biết rằng chính ngay giờ này cha mẹ mình đang nhớ mong, tin tưởng, đang chờ đợi mình về cứu độ mà mình lại sống trong sự buông lung, sống không có giới hạnh, không chịu ngồi thiền quán chiếu, không chịu nỗ lực thực tập.

Đôi lời nhắn nhủ người xuất gia

Minh Thành không biết còn chia sẻ được bao lâu nữa nên đại chúng phải cố gắng nghe, con thấy không còn phù hợp để nói nữa. Bây giờ tìm ra người thật sự muốn tu chân chánh rất khó khăn, Minh Thành rất sợ ở trong chùa qua ngày đoạn tháng rồi mình sẽ chết trong cảm giác bình an giả tạo đó. Vì mình không chứng kiến cảnh cụ già 70 tuổi đi lụm bọc bị xe tải cán chết, mình không chứng kiến những em nhỏ mồ côi ở ngoài vỉa hè, mình không tận mắt chứng kiến trẻ sơ sinh mới sanh ra bị vứt đi, mình không thấy những người chạy xe Grab từ sáng sớm đến tối mịt vẫn không đủ ăn, mình không thấy một bát cơm, một bữa ăn đau khổ đến chừng nào, phải trả giá đến chừng nào, mình không biết rằng một bữa cơm của mình phải đánh đổi bằng mồ hôi, nước mắt và máu của Phật tử. Người ta nhịn ăn, nhịn mặc lạy lục dâng lên cho mình ăn để mình tu, mình ăn những thực phẩm đó rồi mình làm gì? Cho nên, đại chúng phải tha thiết trong sự tu học, phải chân thành bằng tất cả tấm lòng thực hành giáo pháp.

Những lời Minh Thành nói có lẽ quý cô ít được nghe, bây giờ ít có người nói những điều này, Minh Thành nói bằng tình thương, bằng tình đạo thiêng liêng chứ không phải nói bằng tâm sân hận, Minh Thành nói bằng tình thương cao quý của Thích tử. Chúng ta rất dễ chết trong cảm giác an toàn trong chùa, không cảm nhận được nỗi khổ của những người nghèo đói, rách rưới bần cùng. Những bữa ăn của chúng ta, chiếc áo chúng ta mặc, ngôi chùa chúng ta ở, cái trường chúng ta đang học đây không phải đơn giản mà có, trong từng viên gạch đó chứa đựng máu và nước mắt, sự hi sinh, niềm tin và hi vọng được đặt trên vai chúng ta. Bước vào đây là đạp vào máu, nước mắt và mồ hôi của Phật tử. Trong mỗi viên gạch, mỗi một cánh cửa ở đây con đều thấy máu, nước mắt, mồ hôi trong đây chứ không đơn thuần chỉ là cánh cửa, trong mỗi căn phòng mình ở cũng có huyết lệ, sự hi sinh, tin tưởng trong đó.

Chúng ta cần phải nhìn thấy được như vậy để nỗ lực tu hành chứ không đơn giản như mình nghĩ. Nhiều khi nhìn thấy những vị xuất gia trẻ cười nói, giỡn hớt thì rất thương, họ không biết trước mắt họ là khổ cảnh đang chờ đợi, khi tấm Cà-sa này rớt xuống thì hậu quả kiếp sau là khủng khiếp, lấy địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh làm chủ đề quán chiếu tu tập mỗi ngày, lấy những cảnh khổ trong địa ngục quán chiếu cả ngày. Thật sự không đơn giản như mình nghĩ, những gì mình đang thọ nhận ở đây mà mình tu hành không thành tựu thì phải đền trả rất khủng khiếp. Cha mẹ, ông bà, cô bác thân tộc chúng ta, lục thân quyến thuộc hy vọng, mong chờ, trông mong chúng ta, mình đem cái gì báo hiếu cho họ trong khi tự thân mình đầy rẫy những dục tham ái, sân si, vô minh, bản ngã? Mình sống lơ lững không thấy khổ cũng không thấy nguyên nhân của khổ thì làm sao diệt tận khổ đau?

Có lẽ Minh Thành phù hợp với núi rừng hơn là thành thị, bất cứ một buổi học nào lên gặp các cô, các thầy con đều đem tất cả tấm lòng chân thành mong muốn cùng nhau thăng tiến, con không bao giờ nghĩ mình là thầy, là bậc trưởng thượng rồi ra oai, không phải như vậy. Minh Thành nói bằng tất cả trái tim sự cảm nhận tu học của mình. Minh Thành mong muốn mọi người không khổ cực mấy chục năm như Minh Thành đi cầu đạo khắp thế giới. Minh Thành muốn mọi người ngồi tại đây chỉ cần lắng nghe, thâu nhận thì mọi người sẽ có chìa khóa mở Thánh pháp tạng, sẽ có pháp hành thật sự của Đức Phật. Bao nhiêu sự gian khổ, khó nhọc bằng cả sinh mạng của con để đánh đổi có được và ngày giờ này con ngồi đây chia sẻ không phải là kiến thức suông mà đó là cả sinh mạng đánh đổi.

Đối với Minh Thành này trên đời không có gì giá trị bằng pháp, lý do con còn sống cũng vì pháp, ngoài ra con không thấy gì trên đời này có ý nghĩa, tất cả đều vô nghĩa, vô tình. Chỉ có Thánh Pháp mới giúp mình hết khổ, tất cả là trống rỗng, cha mẹ thương mình như thế nào, sinh thành dưỡng dục như thế nào, cắt ruột cho mình đi tu vậy mà đi tu rồi cũng không nhớ thì ơn nghĩa, tình nghĩa chỗ nào? Có khi mình giao du với Phật tử còn thân hơn cha mẹ thì quá đau lòng, thầy của mình, sư phụ của mình đem hết tấm lòng dạy dỗ mà có những người đệ tử ra đi còn nói xấu thì đạo đức, tình nghĩa chỗ nào?

Thành ra cuộc đời này là vô nghĩa, trống rỗng. Có những cặp vợ chồng thương yêu nhau rồi quay lại nói xấu, giết hại, đánh đập lẫn nhau thì tình nghĩa chỗ nào? Tất cả đều là trống rỗng, là tham sân si, vô minh và bản ngã chứ không có gì hết, lòng vòng chỉ bấy nhiêu đó thôi. Đang thân thiết với nhau mà chỉ cần xảy ra hành động gì đó, nói một lời gì đó là từ bạn trở thành thù. Khi chiêm nghiệm lại cuộc đời này sẽ thấy rất nhàm chán, chỉ muốn viễn ly, ly tham, từ bỏ, xuất ly khỏi ngũ uẩn. Gọi là yêu thương, sống chết có nhau, đến khi chết đi chính những người nói câu đó sẽ quấn chiếu, cuống mình lại đưa mình vào lòng đất lạnh lẽo không thì vào lò thiêu, xong rồi lại sợ ma không dám ngủ chỗ đó nữa.

Có một cô bên Mỹ nói rằng nhà chỉ có hai vợ chồng mà giờ chồng chết rồi, ở một mình sợ quá không dám ngủ, tình nghĩa vợ chồng ở với nhau mấy chục năm vậy mà mới chết đi thì người còn lại thấy sợ liền nên đời sống này là giả dối, tạm bợ, không có gì đáng để mình ham thích, say mê trong này.

Nguyện đem công đức này

Hướng về khắp tất cả

Đệ tử và chúng sanh

Đều trọn thành Phật đạo.

./.