5 Pháp Cho Người Mới Xuất Gia
Kinh Nikāya Giảng Giải
5 Pháp Cho Người Mới Xuất Gia
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Dặn dò người mới xuất gia PAGEREF _Toc162704583 \h 1
II. Năm pháp cho người mới xuất gia PAGEREF _Toc162704584 \h 3
1. Giữ giới PAGEREF _Toc162704585 \h 5
2. Chế ngự căn PAGEREF _Toc162704586 \h 7
3. Hạn chế lời nói PAGEREF _Toc162704587 \h 11
4. Sống trong rừng PAGEREF _Toc162704588 \h 13
5. Chánh tri kiến PAGEREF _Toc162704589 \h 17
I. Dặn dò người mới xuất gia
Chúng ta là những mầm non của Phật giáo, trong bước đầu của đời sống xuất gia thì việc định hướng rất quan trọng và phải đặt tâm đúng hướng. Mình phải luôn nhớ sơ tâm học đạo, ngày mình xin cha mẹ cho mình đi tu năm lần bảy lượt mới được đồng ý, cha mẹ đồng ý trong hai hàng nước mắt, chín tháng cưu mang sinh thành dưỡng dục, đem hết trái tim, tấm lòng nuôi dưỡng dạy dổ để chúng ta nên người.
Khi chúng ta xin năm lần bảy lượt đi xuất gia thì chúng ta không biết rằng ở sau lưng chúng ta, ở cánh cửa gia đình có khi mẹ đang tựa cửa mong đợi. Mong sự thành tựu của mình, mong thành quả của mình, mong sự thành công của mình trên con đường học đạo giác ngộ. Từng mảng tóc chúng ta rơi xuống trong ngày xuất gia trong sự đầm đìa nước mắt của cha mẹ, cô chú xót xa và tự thân chúng ta cũng rơi lệ, từng mảng tóc rơi xuống rất cao đẹp, thiêng liêng và thánh thiện, đó là ấn tượng suốt đời không được quên mà phải ghi nhớ, khi chúng ta được đắp lên chiếc áo giải thoát, vô thượng phước điền y thì đó là giây phút hiếm có hy hữu, là khi chúng ta được thọ giới. Hai khoảnh khắc rất quan trọng là khoảnh khắc cạo tóc đầu tiên và đắp y, đó là hình ảnh đẹp nhất của người sơ tâm học đạo, phải luôn ghi nhớ mỗi khi cạo tóc mỗi tháng, luôn nhớ lại hình ảnh ngày thầy tế độ cạo từng nhát dao, cạo từng mảng tóc.
Nhát dao thứ nhất nguyện dứt tất cả những điều ác và tóc rơi xuống, nhát dao thứ hai nguyện làm tất cả những điều lành và tóc rơi xuống, nhát dao thứ ba nguyện độ tất cả chúng sanh và tóc rơi xuống, cùng lúc đó là những giọt lệ của mẹ cha, của thân quyến và tự thân cũng rơi lệ, không được phép quên những hình ảnh này, không được quên ngày đó, giây phút đó, khoảnh khắc đó, mái tóc mà mình quý trọng, thương yêu rụng xuống, rơi xuống, cạo xuống và hiện ra tướng viên đảnh phương bào, đầu tròn áo vuông. Chúng ta khoác lên tấm y vô thượng phước điền, tấm y mà đáng để cho tất cả Phật tử, tất cả hữu tình chúng sanh phải chắp tay, đáng được cúng dường, đáng được tôn kính, là ruộng phước vô thượng trên đời.
Mình được đắp lên tấm y đó rồi năm tháng dần qua ở trong chùa cần xem lại đức hạnh của mình, xem lại sự tu tập của mình, lòng cung kính đối với tam bảo, đối với sự tụng kinh, hành thiền, niệm Phật, nghe pháp thì mình còn quý trọng, còn xem nó là thiêng liêng không hay xem thường. Đừng để cho tâm ban đầu bị phai nhòa, đừng để tâm ban đầu bị phôi phai, bay màu, bốc hơi và từ từ chúng ta lại trở về những tập khí, thói quen phàm tục, từ từ chúng trở thành người khó nói, khó bảo với nhãn hiệu là thầy, là cô. Cho nên các bậc tôn đức thường nhắc nhở tâm ban đầu rất quan trọng, mới vào chùa thì mang tâm cung kính, lễ lạy, oai nghi tề chỉnh, đến khi ở một thời gian thì buông lung phóng dật, xem thường, vậy thì đời tu sẽ rơi vào chỗ thối đọa mà mình không biết, chính vì vậy mà Đức Thế Tôn nói trong kinh Tăng Chi Bộ, bài kinh Người vợ trẻ.
"- Ví như, này các Tỳ-kheo, người vợ trẻ, trong đêm hay ngày, được đưa về nhà chồng, nàng cảm thấy hết sức xấu hổ, sợ hãi trước mặt mẹ chồng, cha chồng, trước mặt chồng, cho đến trước mặt các người phục vụ, làm công. Sau một thời gian, do chung sống, do thân mật, nàng có thể nói với mẹ chồng, với cha chồng, với chồng: 'Hãy đi đi, các người có biết được gì!'.
Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, ở đây có Tỳ-kheo, trong đêm hay ngày được xuất gia, từ bỏ gia đình sống không gia đình, cảm thấy hết sức xấu hổ, sợ hãi trước mặt các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ, cho đến trước những người làm vườn và những Sa-di. Sau một thời gian, do chung sống, do thân mật, vị ấy có thể nói với sư A-xà-lê, với sư Giáo thọ: 'Hãy đi đi, các người có thể biết được gì!'.
Do vậy, này các Tỳ-kheo, các Thầy cần phải học tập như sau: 'Ta sẽ sống với tâm người vợ trẻ khi mới đến nhà chồng'. Như vậy, này các Tỳ-kheo, các Thầy cần phải học tập". (Tăng Chi Bộ, Chương IV - Bốn Pháp, VIII. Phẩm Không Hý Luận, (IV). Người Vợ Trẻ)
Khi mới xuất gia thì e thẹn, rụt rè, lo lắng sợ hãi và tàm quý trước mặt các vị tôn đức, Tỳ-kheo, Thượng tọa, trước mặt các vị Hòa Thượng, thậm chí là trước mặt các vị Sa-di cũng e thẹn, rụt rè. Nhưng khi xuất gia được một thời gian, sống chung thân cận, gần gũi thì người này nói với các vị A-xà-lê, nói với các bậc giáo thọ sư "Hãy đi đi, các người có thể biết được gì!". Do vậy Đức Phật dạy các vị Tỳ-kheo phải sống với cái tâm giống như người vợ trẻ lúc mới về nhà chồng.
Xin thưa các Tăng Ni sinh, Minh Thành ở trong chùa ba mươi năm nên đã chứng kiến rất nhiều trường hợp có đầu mà không có đuôi, có thủy mà không có chung, đầu voi đuôi chuột rất nhiều và những người đó tất nhiên không đi đến đâu trong sự tu hành. Đây là kinh nghiệm rất sâu sắc từ khi Đức Thế Tôn còn tại thế cho đến ngày hôm nay, vì thế mà các vị tôn đức luôn nhắc nhở các Tăng Ni sinh, luôn nhắc nhở người tu chúng ta dù có lên đến Đại Đức, Thượng Tọa hay Hòa Thượng cũng phải giữ được tâm tôn kính giới đức, tôn kính thiền định, tôn kính Thánh trí tuệ, phải giữ tâm tôn kính tuyệt đối Đức Phật, tôn kính giới, tôn kính Tăng, tôn kính học pháp thì sự tu của mình mới có thể tăng thượng, hướng thượng, mới có thể đạt đến chỗ cao thượng, mới có chân đứng trong pháp và luật của Như Lai.
Đa số chúng sanh có tâm xem thường, dễ vui, tâm dễ thả lỏng các căn, buông lung phóng dật, lúc lên lớp học giữa đại chúng mấy chục vị mà còn buông lung phóng dật thì huống hồ gì lúc ở một mình, để giữ được những pháp học, những oai nghi, giới hạnh là cả một công trình tu học. Nếu từ đầu không nghiêm khắc với bản thân, không giữ gìn thì sau này chẳng còn gì nữa để giữ, chúng ta sẽ đi đến chỗ lùi lại và rơi xuống vực, đó gọi là pháp thối đọa mà chúng ta không hề hay biết, đó cũng là điều đáng xót xa của người xuất gia nhưng lại xảy ra rất nhiều. Phải thấy được điều này để lo lắng, để giữ gìn cho tự thân mình.
II. Năm pháp cho người mới xuất gia
"Một thời, Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Magadha, tại Andhakavinda. Rồi Tôn giả Ananda đi đến Thế Tôn; sau khi đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Tôn giả Ananda đang ngồi một bên:
- Những Tỳ-kheo nào, này Ananda, là tân học xuất gia không bao lâu, mới đến trong Pháp và Luật này, các Tỳ-kheo ấy, này Ananda, thật sự cần phải khích lệ, cần phải làm cho nhập vào và làm cho an trú trong năm pháp". (Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, XII. Phẩm Andhakavinda, (IV). Tại Andhakavinda)
Thế Tôn nói với ngài Ananda những vị nào mới xuất gia, mới vào trong pháp và luật này thì cần phải khích lệ họ, cần phải làm cho các vị ấy đi vào và an trú trong năm pháp.
"Thế nào là trong năm pháp?
'Hãy đến, này các Hiền giả, các Thầy cần phải giữ giới, sống được bảo vệ với sự bảo vệ của giới bổn, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy sợ hãi trong các lỗi nhỏ nhiệm, chấp nhận và học tập trong các học pháp'. Như vậy, họ cần được khích lệ, cần phải làm cho nhập vào và làm cho an trú trong sự bảo vệ của giới bổn.
'Hãy đến, này các Hiền giả, các Thầy cần phải sống với các căn môn phải được chế ngự, thành tựu với niệm được phòng hộ, với niệm thận trọng sáng suốt, với ý được khéo phòng hộ, với tâm được chánh niệm bảo vệ'. Như vậy, họ cần được khích lệ, cần phải làm cho nhập vào, cần làm cho an trú trong sự bảo vệ các căn.
'Hãy đến, này các Hiền giả, hãy nói ít lại, hãy hạn chế lời nói'. Như vậy, họ cần được khích lệ, cần phải làm cho nhập vào, cần làm cho an trú trong sự hạn chế lời nói.
'Hãy đến, này các Hiền giả, hãy là những người sống trong rừng, hãy sử dụng các trú xứ núi rừng cao nguyên xa vắng'. Như vậy, họ cần phải được khích lệ, cần làm cho nhập vào, cần làm cho an trú trong nếp sống thân viễn ly.
'Hãy đến, này các Hiền giả, hãy có chánh tri kiến, thành tựu chánh kiến'. Như vậy, họ cần phải được khích lệ, cần làm cho nhập vào, cần làm cho an trú trong chánh kiến.
Này Ananda, các Tỳ-kheo nào tân học, xuất gia không bao lâu, mới đến trong Pháp Luật này, này Ananda, các Tỳ-kheo ấy cần phải được thầy khích lệ, cần phải làm cho nhập vào, cần làm cho an trú trong năm pháp này". (Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, XII. Phẩm Andhakavinda, (IV). Tại Andhakavinda)
1. Giữ giới
Năm pháp đó thứ nhất là giữ giới, thứ hai là cần phải sống với các căn môn được chế ngự, thứ ba là nói ít lại và hạn chế lời nói, thứ tư là sống trong rừng, sống ở chỗ xa vắng A-lan-nhã, viễn ly xứ và cuối cùng là có chánh tri kiến, thành tựu chánh kiến. Đây là năm pháp mà người mới xuất gia, mới thọ giới cần phải an trú, đặt để thân tâm mình vào đó.
Trong phần giới bổn thì Sa-di có bao nhiêu giới, Thức-xoa-ma-na có bao nhiêu giới, Tỳ-kheo có bao nhiêu giới, Tỳ-kheo Ni có bao nhiêu giới và những giới căn bản đều phải cố gắng giữ gìn, "sống được bảo vệ với sự bảo vệ của giới bổn", phần này có thầy giới sư đã chia sẻ rồi nên chúng ta không nói nữa. Sau đây là phần "đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy sợ hãi trong các lỗi nhỏ nhiệm, đây là phần rất quan trọng, ngoài giới ra còn oai nghi chánh hạnh. Oai nghi, uy nghi chính là cái ngồi, cái đứng, cái đi, cái nằm, đó là bốn oai nghi chính, ngoài bốn cái này là những oai nghi phụ.
Cái đi của người xuất gia không phải là cái đi buông thả, không phải là cái đi thả lỏng các căn. Cái đi của người tu phải khác cái đi của người bình thường, khi đi phải có uy nghi, phải có phong thái nhẹ nhàng, an tịnh, không đi hấp tấp, vội vàng, không đi đánh đằng xa mất kiểm soát. Phải có chánh niệm và tỉnh giác, khi đi phải biết rõ đang đi, khi ngồi phải biết rõ đang ngồi, khi nằm, khi đứng, khi nói, khi im đều phải tuệ tri, khi co duỗi phải biết rõ việc mình đang làm. Không được sống trong lãng quên, không được sống trong thất niệm, không được sống trong sự không có mặt của sự rõ biết, mình sống có sự giữ gìn, có sự phòng hộ, bảo vệ đối với bốn động tác, cử chỉ chính là đi, đứng, ngồi, nằm.
Đó là những hình tướng, dáng vẻ là vỏ ngoài của phạm hạnh, không có những cái này giống như cây không có vỏ, nhìn vào không phân biệt được đâu là người tu đâu là người đời. Trong bốn oai nghi chính là không lăng xăng, tất bật, không lao xao, miệng không ồn ào, bép xép, cái đó làm cho mình giữ được oai nghi thô bên ngoài.
Từ những cái nhỏ nhặt này mới làm tăng trưởng đức hạnh, đạo hạnh, nết hạnh, đức hạnh thanh cao, cao thượng, từ từ những cái này mới được thiết lập, mới được tăng trưởng, phát triển. Phần quan trọng là "thấy sợ hãi trong các lỗi nhỏ nhiệm", phải thấy lo lắng, sợ hãi trong những lỗi nhỏ nhặt, Thế Tôn nói lúc người vợ trẻ mới về nhà chồng cái gì cũng lo sợ, sợ người ta nhìn ngó mình, cử chỉ e thẹn, rụt rè. Chính sự e dè, rụt rè đó làm cho người này bớt có lỗi lầm, bớt thả lỏng các căn, bớt sự phóng túng.
Những lỗi nhỏ nhặt là người tu mà cười vang dội, làm mất oai nghi, khi nói mà không có chánh niệm rồi nói xúc phạm đến các bậc đồng phạm hạnh hoặc xúc phạm các vị thầy, vị giáo thọ sư. Nếu không để ý, không lo sợ, không dè chừng, không cẩn thận những cái nhỏ nhặt này thì lâu ngày "tích tiểu thành đại" hoặc là "tích thiểu thành đa", nghĩa là từ ít mà chất chứa thành nhiều, từ nhỏ mà dần dần thành lớn, vì thế tất cả những lỗi lớn trên cuộc đời này đều xuất phát từ lỗi nhỏ, tất cả những cái sai nhiều trên cuộc đời này đều từ cái sai ít mà ra cho nên khi không sợ những cái nhỏ thì từ từ sẽ ra cái lớn.
Phật tử mời mình đến nhà để cúng dường Trai Tăng mà mắt mình láo liên, nhìn qua nhìn lại, hết nhìn đồ lại đến nhìn người thì đó là thất bại, phải sợ hãi trong các lỗi nhỏ nhặt chứ không phải chỉ biết sợ những giới lớn. Tất cả những gì làm mình mất đi sự phòng hộ, hộ trì các căn, mất đi sự an tịnh lắng dịu, mất đi chánh niệm tỉnh giác, mất đi sự cung kính, sự tin tưởng, sự hướng về thì mình phải dò xét, kiểm tra, kiểm điểm. Mỗi một giờ đều phải kiểm điểm điểm bản thân, khi làm sai cái gì là phải quở trách, la rầy bản thân tại sao lại làm vậy, tại sao lại có hành động như vậy đối với huynh đệ, tỉ muội, tại sao lại có hành động như vậy đối với giáo thọ sư?
Mình phải la mắng tâm mình, quở trách tâm mình, phải sám hối trước Phật hoặc tốt hơn là sám hối với ngay vị mình đã vô tình lỡ lời hoặc cố ý. Có như vậy thì các lỗi mới được kiểm tra, kiểm điểm thường xuyên thì từ từ các lỗi mới được giảm bớt, các lỗi ở đây chính là những tập khí thấp hèn, hạ liệt, phàm phu, những thói quen của bụi đời, của thế gian mà mình bị dính ngoài đời, vào đến cửa chùa chưa được phủi giũ một cách toàn vẹn.
Lúc nào cũng quay lại kiểm tra thân, miệng, ý, xem lại điều đó là thiện hay bất thiện, nghĩ về người kia như vậy có đúng hay không, nói lời nói như vậy có làm khổ mình khổ người không, có làm phiền mình phiền người không, mình nói lời như vậy có làm người ta bức xúc, khó chịu không, nói lời như vậy có vô ơn, bạc nghĩa không, mình cư xử như vậy có là kẻ phũ phàng không. Mình phải suy xét, soi rọi trong từng cử chỉ, hành động.
Trong bài kinh giáo giới La-hầu-la Đức Phật dạy trước khi nói phải xét nét xem lời nói đó nên nói hay không nên nói, thiện hay bất thiện, trong khi nói phải xét nét và sau khi nói cũng phải xét nét. Trước khi nghĩ, trong khi nghĩ và sau khi nghĩ cũng phải xét nét xem ý nghĩ đó là thiện hay bất thiện, có hại mình hại người không. Trước khi làm, trong khi làm và sau khi làm phải kiểm tra hành động, việc làm đó thiện hay bất thiện, có tội hay không có tội, có hại mình hại người không. Chỉ có tu như vậy thì những tội lỗi, những xấu ác bất thiện pháp mới giảm thiểu, mới trừ diệt, từ từ mới đi đến chỗ thanh tịnh.
2. Chế ngự căn
"Này Rahula, sau khi phản tỉnh nhiều lần, hãy hành thân nghiệp. Sau khi phản tỉnh nhiều lần, hãy hành khẩu nghiệp. Sau khi phản tỉnh nhiều lần, hãy hành ý nghiệp". (Trung Bộ Kinh, 61. Kinh Giáo giới La-hầu-la ở rừng Ambala)
Tiếp theo là "chấp nhận và học tập trong các học pháp", học pháp là những điều mà Đức Thế Tôn đưa ra trong kinh tạng Nikāya thì chúng ta phải chấp nhận học tập. Có khi nghe giảng như vậy nhưng lại để đó không thực hành hoặc có khi nghe rồi phản bác, như vậy là không chấp nhận học pháp.
"Các Thầy cần phải sống với các căn môn phải được chế ngự, thành tựu với niệm được phòng hộ, với niệm thận trọng sáng suốt, với ý được khéo phòng hộ, với tâm được chánh niệm bảo vệ". Những pháp hành trong kinh tạng Nikāya rất sát sao, khít khao chứ không đơn giản như mình nghĩ. Thứ nhất là sống với căn môn được chế ngự, đã nói "căn" rồi còn có "môn" nữa. Con mắt là cửa sổ tâm hồn, nhìn vào mắt là biết trong đó đang có ý gì, thương ai thì ánh nhìn trìu mến, ghét ai là liếc, lườm, háy.
Cửa sổ là mở ra để nhìn vào bên trong, nếu không phòng hộ, bảo vệ, chế ngự thì con mắt này sẽ sanh ra nhiều lầm lỗi, tội lỗi cho nên cánh cửa phải có chìa khóa, phải có chốt cửa, đi ra đi vào phải gài cửa lại là như vậy. Cánh cửa có chốt gài, có chìa khóa, ống khóa để giữ gìn tài sản bên trong căn nhà, con mắt cũng phải có chốt gài, có chìa khóa gài lại chứ không phải cái nào cũng nhìn vì cái nào cũng nhìn thì nó sẽ sanh khởi ra tham muốn, yêu thích, nó sẽ sanh khởi ra sân hận, ác và bất thiện pháp. Khi chúng ta đi vào học hộ trì căn thì Đức Phật nói rất kĩ lưỡng và rõ ràng.
"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là các căn? Ở đây, này các Tỳ-kheo, khi mắt thấy sắc, Tỳ-kheo không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, làm cho nhãn căn không được chế ngự, khiến tham ái ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, Tỳ-kheo tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì nhãn căn, thật hành sự hộ trì nhãn căn. Khi tai nghe tiếng... khi mũi ngửi hương... khi lưỡi nếm vị... khi thân cảm xúc... khi ý nhận thức các pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, làm cho ý căn không được chế ngự, khiến tham ái ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, Tỳ-kheo chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành sự hộ trì ý căn.
Như vậy, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo hộ trì các căn". (Tăng Chi Bộ Kinh, Chương IV - Bốn Pháp, IV. Phẩm Bánh Xe, (VII) Không Thể Rơi Xuống)
Đó là con mắt có sự phòng hộ, có sự khép lại, có sự bảo vệ giống như cánh cửa có chốt gài để giữ tài sản bên trong. Còn con mắt thấy gì cũng nhìn mà nhìn thoải mái luôn thì đó là con mắt không tu tập, vì vậy chỉ cần nhìn qua là biết ngay người này có phòng hộ, hộ trì không vì người có phòng hộ thì ánh nhìn sẽ khác, đó là đặc sản của người xuất gia. Điểm đặc biệt của người xuất gia là sự phòng hộ các căn, hộ trì các căn, sự giữ gìn mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý, đó là đặc tánh của người xuất gia, bản tánh của người xuất gia, chất liệu của người xuất gia, không có cái này thì đến vỏ ngoài còn không có chứ đừng nói gì đến ruột, buông lung phóng dật, thả lỏng các căn.
Đối với tai cũng phải hộ trì, không phải cái gì cũng nghe, không phải người ta nói gì cũng lắng tai theo. Cái gì cần mới nghe, thậm chí nghe rồi cũng bỏ qua chứ không lưu giữ lại vì khi tai tiếp xúc với âm thanh sẽ sanh ra cảm giác, cảm thọ tham, sân, bản ngã, vì thế cần phòng hộ trong cái nghe. Ví dụ đang đi kinh hàng nhẹ nhàng trong sân chùa, đột nhiên có hai người vừa nói vừa nhìn mình ý nói xấu thì mình cần phòng hộ lỗ tai, làm cho cảm thọ an tịnh lắng dịu, bình tĩnh rồi từ từ tìm hiểu lại sao.
Đừng nghe người ta nói rồi bỏ luôn thiền hành để chạy tới hỏi người kia nói mình cái gì vì thế khi không phòng hộ, không chế ngự, không bảo vệ con mắt, lỗ tai thì phiền não sanh, sân si sanh, bất hòa sanh, bất an sanh, bất ổn sanh ra rồi trong đại chúng lục đục với nhau, trong gia đình cũng vậy, hở chút là giận, là buồn phiền, hơn thua vì không biết đó là những thứ làm mình khổ đau, mình muốn hết khổ thì đi tìm những thứ này để làm gì.
Sự chế ngự các căn cực kì quan trọng vì nếu không chế ngự mà để các căn thả lỏng cũng như đi xe máy mà không đội nón bảo hiểm, đi máy bay không thắt dây an toàn, giống như đi chân trần không mang dép, mang giày cho nên sự phòng hộ và giữ gìn mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý này cực kì quan trọng, nhất là đối với những người mới tu đã quen thả lỏng các căn nên giờ đi tu là phải bắt nó vào khuôn phép, vào nề nếp. Khi tu lâu ngày sẽ thuần thục, sau này sẽ có sự phòng hộ, bảo vệ rất nhẹ nhàng, mới đầu không giữ gìn thì nhiều năm sau cũng sẽ như vậy, còn lúc đầu kiên trì thực tập thì sau này sẽ phòng hộ rất nhẹ nhàng.
Xin thưa với các Tăng Ni sinh, Minh Thành ở trong chùa ba mươi năm nhưng đến ngày giờ này cũng không dám xem thường cái thấy, cái nghe của mình, cho đến giờ này cũng chưa thành tựu viên mãn phòng hộ các căn. Chỉ cần thả lỏng tâm một chút thôi là phóng ra ngoài cho nên cần chấp nhận học pháp, hành trì và thực tập chứ không phải đọc qua là bảo học rồi nên bỏ qua một bên, không hành trì gì cả. "Thành tựu với niệm được phòng hộ, với niệm thận trọng sáng suốt, với ý được khéo phòng hộ, với tâm được chánh niệm bảo vệ", những cái này là đi sâu vào trong nội tâm, khi nãy là phòng hộ các căn môn ở bên ngoài, còn giờ là đi vào tâm ý.
Như thế nào thì gọi là niệm được phòng hộ? Nghĩa là đề phòng, bảo hộ chánh niệm, không để nó mất đi. Chữ "niệm" này là Tứ Niệm Xứ, niệm tâm, niệm thân, niệm thọ, niệm pháp, thường an trú vào việc soi rọi lại cử chỉ, hành vi của bản thân, nhớ và soi rọi lại những cảm thọ, cảm xúc, cảm giác bên trong, xem lại có tham, sân, si không, nhớ và soi rọi lại bên trong xem có ác bất thiện pháp không, nhớ và soi rọi lại trong tâm xem lúc đó đang có pháp gì, nếu là thiện pháp thì phát huy lên, tăng trưởng, làm cho lớn mạnh thêm, còn pháp ác thì diệt tận.
Kiểm tra lại tâm xem lúc đó có dục tư duy, sân tư duy hay hại tư duy không, có những suy nghĩ về tham muốn, nóng giận, hại mình hại người không, có những suy nghĩ hơn thua, đấu đá, tranh giành không, nếu có thì cần tác ý đánh đuổi, quét sạch nó ra khỏi thân tâm, còn nếu an trú trong từ, bi, hỷ, xả thì làm lớn mạnh trong tâm từ vô lượng đó. Cho nên an trú niệm là an trú trong Tứ Niệm Xứ, "thành tựu với niệm được phòng hộ" là cái chánh niệm này luôn được bảo vệ, luôn được đề phòng. "Với niệm thận trọng sáng suốt", thận trọng là kĩ lưỡng, trong sáng soi rọi các cảm giác, nghĩ tưởng bên trong chứ không làm qua loa, phải chú tâm cảnh giác một cách cao độ không chỉ trong thiền đường, chánh điện mà cần chú tâm cảnh giác trong mọi cử chỉ đi, đứng, ngồi, nằm, tất cả đều phải cảnh giác cao độ, thận trọng và sáng suốt, cẩn thận và kĩ lượng.
Bây giờ tu mà ngồi tréo ngoe, nhịp đùi tức là lúc đó không có niệm thân, không có chánh niệm tỉnh giác mới như vậy, khi phát hiện ra thì phải xấu hổ, la rầy bản thân, phải thận trọng trong từng lỗi nhỏ nhặt như vậy thì từ từ mới hoàn thiện, mới viên mãn cứu cánh phạm hạnh được. Nếu những lỗi nhỏ nhặt như vậy mà mình không chịu để ý, không chịu để tâm, không thận trọng, không dò xét, không sửa đổi, chỉnh đốn thì đến những cái thâm sâu trong tâm là dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu thì làm sao phá nổi?
Đức Phật dạy rất trình tự từ ngoài đi vào trong, từ thô đến tế, từ cạn đến sâu, từ những giới bổn, oai nghi bên ngoài rồi ngài đưa vào chánh niệm tỉnh giác bên trong, sau đó từ từ mới soi rọi ra những lậu hoặc, rác bẩn trong cảm thọ của mình. Đó là sự thiện xảo, khéo léo của Đức Thế Tôn khi ngài giảng dạy Thánh đạo cho chúng ta.
3. Hạn chế lời nói
Pháp thứ ba dành cho người mới xuất gia là hạn chế lời nói, trong mười giới thì miệng chiếm hết bốn giới hơn cả thân và ý, cho nên mới có câu "bệnh tòng khẩu nhập, họa tòng khẩu xuất", nghĩa là bệnh tật là do từ miệng mà vào, tai họa là do từ miệng mà ra. Vì thế cần hạn chế lời nói, mình vào tu rồi không tỏ ra khôn khéo như ngoài đời, đừng đem kiến thức, thông minh, tiểu xảo của thế gian vào chùa để làm xếp sòng, chỉ có thất bại nặng nề lại còn đáng thương. Những sự thông minh, tiểu xảo, khôn khéo ở đời chỉ giết mình thôi, làm mình tăng thêm bản ngã mà thôi, đừng lấy bằng cấp, học vị, tri thức, nghề nghiệp, những cái sành điệu lão luyện của thế gian rồi đem vào chùa làm xếp trong chùa, những cái đó trong đạo không cần.
Trong đạo rất cần nhiếp phục và đoạn tận tham, sân, si, bản ngã cho nên có người học giỏi, có nghề hay, có kiến thức thành đạt ngoài đời vào tu thì mình thấy cũng mừng nhưng bản ngã của họ lại rất cao làm họ khó tu. Họ đem sở học, đem cái thành công của thế gian rồi vào chùa ta đây, ra vẻ, nếu họ vừa có kiến thức vừa tu đúng chánh pháp sẽ giúp ích cho họ rất nhiều nhưng nếu họ đặt tâm không đúng hướng thì người này lại trá hình qua bản ngã mới, đây là chỗ rất cẩn thận. Trong kinh Đức Phật nói rất rõ, xuất thân trong gia đình giàu có, dòng tộc cao quý, thành công rồi vào tu là khen mình chê người, cống cao ngã mạn, dương dương tự đắc thì những cái này sẽ làm chướng ngại trên con đường tu học.
"Ở đây, này các Tỳ-kheo, có người phi Chân nhân xuất gia từ một gia đình cao sang. Người ấy suy nghĩ như sau: 'Ta xuất gia từ một gia đình cao sang. Còn các Tỳ-kheo này không xuất gia từ một gia đình cao sang'. Vì người ấy thuộc gia đình cao sang nên khen mình chê người. Như vậy, này các Tỳ-kheo, là phi Chân nhân pháp.
Lại nữa, này các Tỳ-kheo, một người phi Chân nhân xuất gia từ một gia đình lớn.... xuất gia từ một gia đình đại phú... xuất gia từ một gia đình quý phái. Người ấy suy nghĩ như sau: 'Ta xuất gia từ một gia đình quý phái, còn các Tỳ-kheo này không xuất gia từ một gia đình quý phái'. Vì người ấy thuộc gia đình quý phái, nên khen mình chê người. Như vậy, này các Tỳ-kheo, là phi Chân nhân pháp.
Lại nữa, này các Tỳ-kheo, có người phi Chân nhân được nhiều người biết, có danh xưng. Người ấy suy nghĩ như sau: 'Ta được nhiều người biết, có danh xưng, còn các Tỳ-kheo này được ít người biết đến, không được trọng vọng'. Vì người ấy tự mình được nhiều người biết đến nên khen mình chê người. Như vậy, này các Tỳ-kheo, là phi Chân nhân pháp". (Trung Bộ Kinh, 113. Kinh Chân nhân)
Trở lại vấn đề là cần giữ cái miệng, càng ít nói càng tốt, nếu có nói thì chỉ trao đổi pháp. Người tu chỉ có hai việc cần làm, thứ nhất là giữ im lặng của bậc Thánh, tức là thiền định và thứ hai là thảo luận, trao đổi chánh pháp, ngoài hai việc này ra những việc còn lại chỉ là thứ yếu.
"Này các Tỳ-kheo, lành thay khi Thiện nam tử các Người, vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, cùng nhau hội họp để luận bàn đạo pháp. Này các Tỳ-kheo, khi các Người hội họp với nhau, có hai việc cần phải làm: luận bàn đạo pháp hay giữ sự im lặng của bậc Thánh". (Trung Bộ Kinh, 26. Kinh Thánh cầu)
Nếu có nói thì chỉ trao đổi pháp nhưng hiện tại mới vào tu chưa biết gì thì làm sao trao đổi pháp, có khi ban đầu trao đổi pháp nhưng nói một lúc lại sân si lên. Vì mới vào tu nên chưa thành tựu chánh kiến, chưa có trí tuệ về pháp cho nên nói một lúc là nói trong bản ngã, nói trong hơn thua, nói trong đúng sai vì thế tốt nhất là hạn chế lời nói, nói ít lại, nó sẽ giúp cho mình nhìn lại bên trong, hướng nội. Nhìn lại cảm giác gọi là quán chiếu cảm thọ, nhìn lại tưởng là những hình bóng trong tâm, nhìn lại những suy nghĩ nói thì thầm trong tâm, nhờ không nói chuyện mới nhìn vào nội tâm rồi phát hiện ra rác bẩn tham, sân, si. Còn nếu nhìn ra ngoài nói chuyện này chuyện kia, nói người này người nọ thì làm sao thấy được nội tâm mình?
Các chư tổ lấy ví dụ cái miệng để lên meo, lên mốc như cây quạt mùa đông và đặt hết tâm tư vào sự tu hành nội quán, hướng nội, nội soi, sau này xuống núi thì một câu nửa lời là kinh thiên động địa, long trời lở đất. Khi đã thành tựu chánh tri kiến thì nói cái gì ra cũng là chân pháp, là chân lý, là sự thật, làm lợi mình lợi người. Bây giờ còn ở trong bản ngã, tà kiến, vô minh thì nói một lúc là hơn thua với nhau, tranh cãi với nhau, dù đó là pháp vô ngã nhưng nói một hồi thành ra có bản ngã, bàn luận về từ bi nhưng nói một hồi thành sân si cho nên phải nói ít lại, dành thời gian nội soi, nội quán, nội tỉnh nhất tâm.
4. Sống trong rừng
Pháp thứ tư cho người mới xuất gia là sống trong rừng, ở nơi xa vắng, đây là một trong những pháp rất quan trọng. Chúng ta tùy theo hoàn cảnh nhưng đúng theo một người học Phật là phải có thời gian sống ở nơi xa vắng, núi rừng ít người. Bây giờ ở chỗ phố thị phồn hoa đô hộ, náo nhiệt thì tâm sẽ duyên theo cảnh, rất dễ hướng ngoại, còn trên núi chỉ thấy mây trắng trúc xanh thì tâm nhẹ nhàng, còn ra chợ Bến Thành nhìn thấy biết bao sự lòe loẹt, nhiều màu sắc, nhiều sắc tướng làm mình sanh khởi nhiều tham muốn, nuôi lớn lòng tham muốn, chính vì vậy Đức Phật nói chúng ta phải ở núi rừng, cao nguyên, viễn ly xứ để bớt ngoại cảnh sẽ bớt hướng ngoại, bớt phóng tâm để quay trở lại tự thân mà Đức Phật dùng từ "nếp sống thân viễn ly".
Nhiều người nói thân họ không viễn ly nhưng tâm viễn ly, nghe thì hay nhưng thật sự có phải như vậy không? Nếu vậy thì Đức Thế Tôn đâu có dạy phải sống ở núi rừng cho nên những gì Thế Tôn dạy thì chúng ta phải chấp nhận học pháp, không làm đứa con bất hiếu ngỗ nghịch đối với Đức Như Lai vì thế cần cẩn thận với phát ngôn của mình, những người thành tựu chánh kiến là không bao giờ có lời nào chống đối lại những học pháp của Đức Phật. Những gì Đức Phật đã nói trong kinh tạng Nikāya mà chúng ta thực hành theo đúng như vậy là đi đúng Thánh đạo sẽ đưa đến Thánh quả.
"- Có bốn hạng người này, này các Tỳ-kheo, có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là bốn?
Thân viễn ly, tâm không viễn ly.
Thân không viễn ly, tâm viễn ly.
Thân không viễn ly, tâm không viễn ly.
Thân viễn ly và tâm viễn ly.
Này các Tỳ-kheo, thế nào là thân viễn ly và tâm viễn ly?
- Ở đây, này các Tỳ-kheo, các hạng người sống tại các núi non, khóm rừng, các trú xứ xa vắng; vị ấy tại đó nghĩ đến tầm xuất ly, nghĩ đến tầm không sân, nghĩ đến tầm không hại. Như vậy, này các Tỳ-kheo, là hạng người thân viễn ly và tâm viễn ly". (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, XIV. Phẩm Loài Người, (VIII). Viễn Ly)
Đức Phật nói có thân viễn ly và tâm viễn ly, tức là thân rời xa và tâm rời xa nhưng muốn đạt được tâm rời xa thì trước hết thân phải rời xa trước. Người xuất gia chúng ta có nhiều điều thuận lợi, ở trong chùa yên tĩnh, nhất là thời điểm dịch bệnh thì nhà ai nấy ở, phòng ai nấy ở nên mình phải nắm bắt cơ hội này để sống nếp sống rời xa mọi người, rời xa ngoại cảnh, rời xa sự giao tiếp, sự tiếp xúc. Đó là mình đang sống viễn ly, chỉ ở trong không gian của căn phòng, tịnh thất của mình hoặc là có thời điểm nhập thất, độc cư ở một mình.
Đó là lúc chúng ta được nếm hương vị ở một mình, khi đó chúng ta sẽ biết bản thân có chịu nổi hay không, trước tiên ở thử một tuần, nếu ở được thì tăng dần thời gian lên ba tuần, một tháng. Khi ở một mình sẽ thấy những thọ; tưởng; hành quậy phá mình, những cảm giác bức xúc, những suy nghĩ, hình bóng hiện lên liên tục nhưng chúng ta phải tập nếp sống rời xa này để không lệ thuộc vào sắc; thanh; hương; vị; xúc bên ngoài mà chỉ quay lại đối diện pháp trần trong tâm thôi. Pháp trần tức là thọ; tưởng; hành bên trong nội tâm mình, khi đối diện được nội tâm mình thì lúc đó mình mới thấy biết, mới có cơ hội thanh tẩy, thanh lọc, làm trong sạch bên trong.
Đây là những pháp mà Đức Thế Tôn dạy người xuất gia cần phải an trú vì nó rất quan trọng, nhất là đối với bậc sơ cấp Phật học thì những cái này tuyệt đối quan trọng để thực tập, hành trì. Trong thời điểm này rất thích hợp để xin được nhập thất, ngày ăn một bữa thôi, nếu có duyên thì về núi rừng, về nơi xa vắng ở một mình sau khi đã học, đã nắm vững đường lối hành trì thì mình về nơi xa vắng để thực tập, trải nghiệm, chứng nghiệm.
Đức Thế Tôn và các bậc Thánh chúng thời Đức Phật đại đa số là ở trên núi, ở trong rừng, ở ven suối, dưới gốc cây. Thế Tôn sanh ra dưới gốc cây, khổ hạnh ở dưới gốc cây, thành đạo dưới gốc cây, chuyển pháp luân dưới gốc cây và nhập Niết-bàn dưới gốc cây, điều này nói lên cả cuộc đời của ngài thân viễn ly và tâm viễn ly. Có biết bao nhà vua hoặc những vị hộ trì pháp xây cho ngài những ngôi tự viện kỳ vĩ, giảng đường Trùng Các, Trúc Lâm Tinh xá nhưng ngài luôn đầu trần chân đất đạp khắp ngũ thiên trúc để tuyên dương Thánh pháp, chỉ dẫn cho chúng sanh thấy được sự thật của khổ đau trên cuộc đời này để nhàm chán, thoát ra.
Còn mình không khéo sẽ dính mắc vào một cái chùa, dính mắc vào một tịnh thất nào đó rồi buộc chân mình luôn thì thật đáng thương. Khi thành tựu chánh kiến rồi thì khác, nếu không thì dính mắc vào tài sản, địa vị, vật chất, hình tướng là suốt đời gỡ không ra cho nên người xuất gia là sống đời sống không nhà, không có cái nào là của mình thì tại sao bây giờ lại cho đây là chùa của tôi, đây là thất của tôi.
Dù có là trụ trì đi nữa thì chẳng qua đó là Tăng sai, nghĩa là người có khả năng gánh vác công việc lo cho Tăng, để đại chúng có sự an bình tu học chứ không phải đó là chùa của mình. Đừng hiểu lầm vấn đề này, chùa là của bá gia bá tánh, mồ hôi nước mắt và máu của họ đóng góp vào đó cho nên cần nhớ thực tập sống đời sống thân viễn ly và tâm viễn ly, đừng để bị dính mắc vào bất cứ vật chất gì ở đời.
Tình cảm thiêng liêng tột cùng trên đời này là tình mẫu tử cha mẹ mà chúng ta gạt bỏ, ông bà, cô bác, anh chị mà chúng ta cũng từ bỏ, căn nhà thân thương, quê hương chôn nhau cắt rốn mà chúng ta cũng từ bỏ. Chúng ta cần nhớ rằng đời sống xuất gia là một chuỗi dài liên tục của sự từ bỏ, cần nhớ "viễn ly", "rời xa", "từ bỏ" thì chúng ta mới đi xa được trên con đường Thánh đạo, còn tu để có được nhiều thứ thì đã bị lạc đường.
Tu là để từ bỏ, từ bỏ sự ham thích, từ bỏ những cảm giác sân hận, tử bỏ cảm giác ta đây của một bản ngã, từ bỏ và từ bỏ, cho đến tận cùng là từ bỏ tứ đại ngũ uẩn để xuất ly, thoát ra khỏi sắc; thọ; tưởng; hành; thức. Từ ngày đầu tiên cạo tóc cho đến ngày thành đạo cần phải nhớ kĩ điều này, phải sống nếp sống viễn ly và từ bỏ, dù cho hình thức được giao cho việc này việc kia thì cũng là thứ yếu vì mình đi xuất gia không phải vì những thứ đó mà xuất gia để đoạn tận khổ đau, để thoát khỏi những dòng nước mắt và máu của những đời sống bị sanh, bị già, bị chết này. Mình đi tìm cái không sanh, không già, không bệnh, không chết, mình đi tìm cái bất tử.
"Ở đây, này các Tỳ-kheo, có người tự mình bị sanh, sau khi biết rõ sự nguy hại của bị sanh, tìm cầu cái vô sanh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị già, sau khi biết rõ sự nguy hại của bị già, tìm cầu cái không già, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị bệnh... cái không bệnh... tự mình bị chết... cái bất tử... tự mình bị sầu... cái không sầu... tự mình bị ô nhiễm, sau khi biết rõ sự nguy hại của ô nhiễm, tìm cầu cái không ô nhiễm, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn". (Trung Bộ Kinh, 26. Kinh Thánh cầu)
Mình không đi tìm những cái phàm phu thấp hèn, hạ liệt, danh lợi, chùa chiền, tài sản vật chất, đó là những thứ mà trong ngày lễ xuất gia mình đã cạo tóc để quăng xuống, bỏ xuống. Làm sao mình có thể hốt lại những cái mình đã khạc nhổ ra? Phải ghi nhớ sâu sắc trong tâm không được quên điều này, mỗi khi tâm ưa thích danh lợi, ưa thích địa vị, vật chất thì tác ý hỏi tâm "tại sao ngươi lại đi liếm những thứ người đã khạc nhổ ra như vậy?", nhắc nhở tâm như vậy để không dính mắc vào danh lợi, vào tài sản, vào những tình thân bình thường trong chùa.
Như vậy sẽ rất uổng phí, tiếc thay cho đời tu. Chúng ta phải nhớ sống rời xa, sống từ bỏ, không có bất cứ cái gì trên đời quan trọng bằng Thánh pháp vì chỉ có nó mới giúp mình diệt tận tham, sân, si, vô minh và bản ngã, đó là nguồn gốc của khổ đau. Hằng ngày, hằng giờ phải nhắc nhở bản thân rằng xuất gia chỉ có một mục đích duy nhất là cầu pháp, thực hành pháp và chứng đắc pháp, ngoài ra không có gì khác, chỉ có làm được điều này mới báo hiếu cha mẹ, mới quang tông diệu tổ, mới đền đáp bốn ơn ba cõi.
Tất cả những việc thiện bên ngoài thì người cư sĩ đều làm được, làm nhiều và giỏi hơn mình rất nhiều, còn việc của mình là tăng thượng thiền định, giới đức và trí tuệ, đó mới là bổn phận thật sự của người xuất gia. Phải nhớ mãi không được quên vì điều này vì nếu quên là đời tu của mình sẽ mất phương hướng, mình quên cái này sẽ như chạy xe không có điểm đến, quên cái này là hủy hoại cuộc đời xuất gia, là phụ bạc tình thương của cha mẹ, của lục thân quyến thuộc.
5. Chánh tri kiến
Pháp cuối cùng là có chánh tri kiến, thành tựu chánh kiến. Hai cái này sẽ quyết định thành bại của người xuất gia. Thế nào là chánh kiến?
"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là chánh tri kiến? Này các Tỳ-kheo, chính là trí về khổ, trí về khổ tập, trí về khổ diệt, trí về con đường đưa đến khổ diệt. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là chánh tri kiến". (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương I. Tương Ưng Ðạo (a), I. Phẩm Vô Minh, VIII. Phân Tích)
Thế nào là tà kiến? Nếu cho rằng thân xác này là tôi, là của tôi thì đó là tà kiến, cho con mắt này là tôi, là của tôi, cho lỗ mũi, gương mặt này là tôi, là của tôi thì đó là tà kiến, cho hình hài, vóc dáng này là tôi, là của tôi là tà kiến, là mê muội, là vô minh. Còn khi nhìn thấy mấy chục kí lô thịt này chỉ là sắc uẩn, sắc pháp, tứ đại, nhìn thấy những cảm giác vui, buồn, không vui không buồn chỉ là cảm giác, không phải mình, không phải tự ngã của mình, nhìn lại những hình bóng trong tâm thì biết đó chỉ là hình bóng, do duyên tiếp xúc mà ẩn hiện ra như vậy và tưởng này không phải là mình, không phải của mình, những suy nghĩ lầm thầm chỉ là hành uẩn, tất cả những suy nghĩ đó là duyên sanh, là vô thường, không phải tôi, không phải tự ngã của tôi là chánh kiến. Còn khi nào cho những thứ đó là tôi, là của tôi thì đó là vô minh, là tà kiến, đối với thức uẩn cũng vậy.
-Thân người là Sắc
-Cảm giác là Thọ
-Hình bóng là Tưởng
-Suy nghĩ là Hành
-Rõ biết là Thức
(Nghi thức tu học Nikāya)
Chỉ khi nào thuộc lòng định nghĩa này thì mới nhận diện được ngũ uẩn. Khi nhìn thấy năm uẩn chỉ là năm uẩn, nó là pháp lắp ráp, kết hợp, là những mắc xích, là pháp duyên khởi thì lúc đó là có chánh kiến, là thấy đúng. Khi nào thấy mấy chục kí lô thịt này là tôi, là của tôi thì lúc đó sống trong vô minh, sống trong mê lầm, sống trong những cảm giác tham muốn, nóng giận, ganh đua, đố kỵ, sống trong tư tưởng của bản ngã thì tiếp diễn mãi mãi khổ đau.
Chánh kiến là thấy được ngũ uẩn, không có một tự ngã trong thân xác của năm tổ hợp này, là thấy đúng về tự thân tâm của mình. Cái thấy đúng này đòi hỏi phải thực tập lâu dài và có người hướng dẫn sát sao, miên mật, nhắc nhở thường xuyên thì từ từ mình mới loại bỏ những suy nghĩ, quan niệm cho rằng "tôi là", "tao", "mi", "tớ", từ từ tháo gỡ bản ngã cho nên phá được thân kiến, hoài nghi và giới cấm thủ sẽ Nhập Lưu, đó là Thánh quả thứ nhất Tu-đà-hoàn. Thân kiến là kiếp chấp về thân, nghĩa là cho rằng thân này là tôi, là của tôi, khi nhìn ra thân này chỉ là năm tổ hợp kết nối, lắp ráp với nhau thì đó là bước đầu của chánh kiến cho nên phương pháp thực tập nhận diện năm uẩn rất quan trọng.
Các Tăng Ni sinh cần thực tập nhận diện năm uẩn sẽ thấy rõ ràng năm uẩn ngay nơi thân tâm mình thì lúc đó mới phá được quan niệm, cách nhìn sai lầm cho rằng có cái "tôi" và "của tôi". Trong suốt thời gian chúng ta học từ sơ cấp, trung cấp, cao đẳng, học viện, đại học, thạc sĩ, tiến sĩ, tất cả lộ trình mình học chỉ có duy nhất một mục đích thật sự là nhằm đạt được chánh kiến, còn nếu học hết các bằng cấp, học vị đó mà không đạt được cái thấy này thì uổng công. Cần phải thấy được đây chỉ là năm tổ hợp ngũ uẩn, thấy đúng như thật trong thân tâm chính mình chứ không phải chỉ nghe người ta nói, chỉ hiểu trên chữ nghĩa kiến thức, chính mình thấy, chính mình biết và mình thấy nó hoạt động từng giờ, từng phút, từng giây và mình phá vỡ quan niệm cho rằng đây là ta, là của ta.
Hôm nay là ngày đầu tiên chúng ta gặp nhau, Minh Thành có tấm lòng cúng dường pháp bảo đến các Tăng Ni sinh qua sự trùng tiên lại bài kinh Người vợ trẻ và bài kinh Andhakavinda nói về người mới xuất gia cần an trú trong năm pháp. Mong rằng tất cả người xuất gia đừng quên cái tâm ban đầu, nhớ hình ảnh rụt rè, lo lắng của cô dâu lúc mới về nhà chồng, luôn giữ cho mình tâm lo sợ đối với ác bất thiện pháp, nỗ lực trong tăng thượng giới đức, thiền định và trí tuệ bằng năm pháp mà Đức Phật nhắc nhở, khuyến khích chúng ta, đó là giữ giới, chế ngự các căn, hạn chế lời nói, sống nơi xa vắng và cuối cùng là thành tựu cái thấy đúng về thân tâm. Kính chúc các Tăng Ni sinh sớm ngày thành tựu được chánh tri kiến quý báu, vô thượng của người xuất gia.
./.
5 Pháp Cho Người Mới Xuất Gia
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Dặn dò người mới xuất gia PAGEREF _Toc162704583 \h 1
II. Năm pháp cho người mới xuất gia PAGEREF _Toc162704584 \h 3
1. Giữ giới PAGEREF _Toc162704585 \h 5
2. Chế ngự căn PAGEREF _Toc162704586 \h 7
3. Hạn chế lời nói PAGEREF _Toc162704587 \h 11
4. Sống trong rừng PAGEREF _Toc162704588 \h 13
5. Chánh tri kiến PAGEREF _Toc162704589 \h 17
I. Dặn dò người mới xuất gia
Chúng ta là những mầm non của Phật giáo, trong bước đầu của đời sống xuất gia thì việc định hướng rất quan trọng và phải đặt tâm đúng hướng. Mình phải luôn nhớ sơ tâm học đạo, ngày mình xin cha mẹ cho mình đi tu năm lần bảy lượt mới được đồng ý, cha mẹ đồng ý trong hai hàng nước mắt, chín tháng cưu mang sinh thành dưỡng dục, đem hết trái tim, tấm lòng nuôi dưỡng dạy dổ để chúng ta nên người.
Khi chúng ta xin năm lần bảy lượt đi xuất gia thì chúng ta không biết rằng ở sau lưng chúng ta, ở cánh cửa gia đình có khi mẹ đang tựa cửa mong đợi. Mong sự thành tựu của mình, mong thành quả của mình, mong sự thành công của mình trên con đường học đạo giác ngộ. Từng mảng tóc chúng ta rơi xuống trong ngày xuất gia trong sự đầm đìa nước mắt của cha mẹ, cô chú xót xa và tự thân chúng ta cũng rơi lệ, từng mảng tóc rơi xuống rất cao đẹp, thiêng liêng và thánh thiện, đó là ấn tượng suốt đời không được quên mà phải ghi nhớ, khi chúng ta được đắp lên chiếc áo giải thoát, vô thượng phước điền y thì đó là giây phút hiếm có hy hữu, là khi chúng ta được thọ giới. Hai khoảnh khắc rất quan trọng là khoảnh khắc cạo tóc đầu tiên và đắp y, đó là hình ảnh đẹp nhất của người sơ tâm học đạo, phải luôn ghi nhớ mỗi khi cạo tóc mỗi tháng, luôn nhớ lại hình ảnh ngày thầy tế độ cạo từng nhát dao, cạo từng mảng tóc.
Nhát dao thứ nhất nguyện dứt tất cả những điều ác và tóc rơi xuống, nhát dao thứ hai nguyện làm tất cả những điều lành và tóc rơi xuống, nhát dao thứ ba nguyện độ tất cả chúng sanh và tóc rơi xuống, cùng lúc đó là những giọt lệ của mẹ cha, của thân quyến và tự thân cũng rơi lệ, không được phép quên những hình ảnh này, không được quên ngày đó, giây phút đó, khoảnh khắc đó, mái tóc mà mình quý trọng, thương yêu rụng xuống, rơi xuống, cạo xuống và hiện ra tướng viên đảnh phương bào, đầu tròn áo vuông. Chúng ta khoác lên tấm y vô thượng phước điền, tấm y mà đáng để cho tất cả Phật tử, tất cả hữu tình chúng sanh phải chắp tay, đáng được cúng dường, đáng được tôn kính, là ruộng phước vô thượng trên đời.
Mình được đắp lên tấm y đó rồi năm tháng dần qua ở trong chùa cần xem lại đức hạnh của mình, xem lại sự tu tập của mình, lòng cung kính đối với tam bảo, đối với sự tụng kinh, hành thiền, niệm Phật, nghe pháp thì mình còn quý trọng, còn xem nó là thiêng liêng không hay xem thường. Đừng để cho tâm ban đầu bị phai nhòa, đừng để tâm ban đầu bị phôi phai, bay màu, bốc hơi và từ từ chúng ta lại trở về những tập khí, thói quen phàm tục, từ từ chúng trở thành người khó nói, khó bảo với nhãn hiệu là thầy, là cô. Cho nên các bậc tôn đức thường nhắc nhở tâm ban đầu rất quan trọng, mới vào chùa thì mang tâm cung kính, lễ lạy, oai nghi tề chỉnh, đến khi ở một thời gian thì buông lung phóng dật, xem thường, vậy thì đời tu sẽ rơi vào chỗ thối đọa mà mình không biết, chính vì vậy mà Đức Thế Tôn nói trong kinh Tăng Chi Bộ, bài kinh Người vợ trẻ.
"- Ví như, này các Tỳ-kheo, người vợ trẻ, trong đêm hay ngày, được đưa về nhà chồng, nàng cảm thấy hết sức xấu hổ, sợ hãi trước mặt mẹ chồng, cha chồng, trước mặt chồng, cho đến trước mặt các người phục vụ, làm công. Sau một thời gian, do chung sống, do thân mật, nàng có thể nói với mẹ chồng, với cha chồng, với chồng: 'Hãy đi đi, các người có biết được gì!'.
Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, ở đây có Tỳ-kheo, trong đêm hay ngày được xuất gia, từ bỏ gia đình sống không gia đình, cảm thấy hết sức xấu hổ, sợ hãi trước mặt các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ, cho đến trước những người làm vườn và những Sa-di. Sau một thời gian, do chung sống, do thân mật, vị ấy có thể nói với sư A-xà-lê, với sư Giáo thọ: 'Hãy đi đi, các người có thể biết được gì!'.
Do vậy, này các Tỳ-kheo, các Thầy cần phải học tập như sau: 'Ta sẽ sống với tâm người vợ trẻ khi mới đến nhà chồng'. Như vậy, này các Tỳ-kheo, các Thầy cần phải học tập". (Tăng Chi Bộ, Chương IV - Bốn Pháp, VIII. Phẩm Không Hý Luận, (IV). Người Vợ Trẻ)
Khi mới xuất gia thì e thẹn, rụt rè, lo lắng sợ hãi và tàm quý trước mặt các vị tôn đức, Tỳ-kheo, Thượng tọa, trước mặt các vị Hòa Thượng, thậm chí là trước mặt các vị Sa-di cũng e thẹn, rụt rè. Nhưng khi xuất gia được một thời gian, sống chung thân cận, gần gũi thì người này nói với các vị A-xà-lê, nói với các bậc giáo thọ sư "Hãy đi đi, các người có thể biết được gì!". Do vậy Đức Phật dạy các vị Tỳ-kheo phải sống với cái tâm giống như người vợ trẻ lúc mới về nhà chồng.
Xin thưa các Tăng Ni sinh, Minh Thành ở trong chùa ba mươi năm nên đã chứng kiến rất nhiều trường hợp có đầu mà không có đuôi, có thủy mà không có chung, đầu voi đuôi chuột rất nhiều và những người đó tất nhiên không đi đến đâu trong sự tu hành. Đây là kinh nghiệm rất sâu sắc từ khi Đức Thế Tôn còn tại thế cho đến ngày hôm nay, vì thế mà các vị tôn đức luôn nhắc nhở các Tăng Ni sinh, luôn nhắc nhở người tu chúng ta dù có lên đến Đại Đức, Thượng Tọa hay Hòa Thượng cũng phải giữ được tâm tôn kính giới đức, tôn kính thiền định, tôn kính Thánh trí tuệ, phải giữ tâm tôn kính tuyệt đối Đức Phật, tôn kính giới, tôn kính Tăng, tôn kính học pháp thì sự tu của mình mới có thể tăng thượng, hướng thượng, mới có thể đạt đến chỗ cao thượng, mới có chân đứng trong pháp và luật của Như Lai.
Đa số chúng sanh có tâm xem thường, dễ vui, tâm dễ thả lỏng các căn, buông lung phóng dật, lúc lên lớp học giữa đại chúng mấy chục vị mà còn buông lung phóng dật thì huống hồ gì lúc ở một mình, để giữ được những pháp học, những oai nghi, giới hạnh là cả một công trình tu học. Nếu từ đầu không nghiêm khắc với bản thân, không giữ gìn thì sau này chẳng còn gì nữa để giữ, chúng ta sẽ đi đến chỗ lùi lại và rơi xuống vực, đó gọi là pháp thối đọa mà chúng ta không hề hay biết, đó cũng là điều đáng xót xa của người xuất gia nhưng lại xảy ra rất nhiều. Phải thấy được điều này để lo lắng, để giữ gìn cho tự thân mình.
II. Năm pháp cho người mới xuất gia
"Một thời, Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Magadha, tại Andhakavinda. Rồi Tôn giả Ananda đi đến Thế Tôn; sau khi đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Tôn giả Ananda đang ngồi một bên:
- Những Tỳ-kheo nào, này Ananda, là tân học xuất gia không bao lâu, mới đến trong Pháp và Luật này, các Tỳ-kheo ấy, này Ananda, thật sự cần phải khích lệ, cần phải làm cho nhập vào và làm cho an trú trong năm pháp". (Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, XII. Phẩm Andhakavinda, (IV). Tại Andhakavinda)
Thế Tôn nói với ngài Ananda những vị nào mới xuất gia, mới vào trong pháp và luật này thì cần phải khích lệ họ, cần phải làm cho các vị ấy đi vào và an trú trong năm pháp.
"Thế nào là trong năm pháp?
'Hãy đến, này các Hiền giả, các Thầy cần phải giữ giới, sống được bảo vệ với sự bảo vệ của giới bổn, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy sợ hãi trong các lỗi nhỏ nhiệm, chấp nhận và học tập trong các học pháp'. Như vậy, họ cần được khích lệ, cần phải làm cho nhập vào và làm cho an trú trong sự bảo vệ của giới bổn.
'Hãy đến, này các Hiền giả, các Thầy cần phải sống với các căn môn phải được chế ngự, thành tựu với niệm được phòng hộ, với niệm thận trọng sáng suốt, với ý được khéo phòng hộ, với tâm được chánh niệm bảo vệ'. Như vậy, họ cần được khích lệ, cần phải làm cho nhập vào, cần làm cho an trú trong sự bảo vệ các căn.
'Hãy đến, này các Hiền giả, hãy nói ít lại, hãy hạn chế lời nói'. Như vậy, họ cần được khích lệ, cần phải làm cho nhập vào, cần làm cho an trú trong sự hạn chế lời nói.
'Hãy đến, này các Hiền giả, hãy là những người sống trong rừng, hãy sử dụng các trú xứ núi rừng cao nguyên xa vắng'. Như vậy, họ cần phải được khích lệ, cần làm cho nhập vào, cần làm cho an trú trong nếp sống thân viễn ly.
'Hãy đến, này các Hiền giả, hãy có chánh tri kiến, thành tựu chánh kiến'. Như vậy, họ cần phải được khích lệ, cần làm cho nhập vào, cần làm cho an trú trong chánh kiến.
Này Ananda, các Tỳ-kheo nào tân học, xuất gia không bao lâu, mới đến trong Pháp Luật này, này Ananda, các Tỳ-kheo ấy cần phải được thầy khích lệ, cần phải làm cho nhập vào, cần làm cho an trú trong năm pháp này". (Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, XII. Phẩm Andhakavinda, (IV). Tại Andhakavinda)
1. Giữ giới
Năm pháp đó thứ nhất là giữ giới, thứ hai là cần phải sống với các căn môn được chế ngự, thứ ba là nói ít lại và hạn chế lời nói, thứ tư là sống trong rừng, sống ở chỗ xa vắng A-lan-nhã, viễn ly xứ và cuối cùng là có chánh tri kiến, thành tựu chánh kiến. Đây là năm pháp mà người mới xuất gia, mới thọ giới cần phải an trú, đặt để thân tâm mình vào đó.
Trong phần giới bổn thì Sa-di có bao nhiêu giới, Thức-xoa-ma-na có bao nhiêu giới, Tỳ-kheo có bao nhiêu giới, Tỳ-kheo Ni có bao nhiêu giới và những giới căn bản đều phải cố gắng giữ gìn, "sống được bảo vệ với sự bảo vệ của giới bổn", phần này có thầy giới sư đã chia sẻ rồi nên chúng ta không nói nữa. Sau đây là phần "đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy sợ hãi trong các lỗi nhỏ nhiệm, đây là phần rất quan trọng, ngoài giới ra còn oai nghi chánh hạnh. Oai nghi, uy nghi chính là cái ngồi, cái đứng, cái đi, cái nằm, đó là bốn oai nghi chính, ngoài bốn cái này là những oai nghi phụ.
Cái đi của người xuất gia không phải là cái đi buông thả, không phải là cái đi thả lỏng các căn. Cái đi của người tu phải khác cái đi của người bình thường, khi đi phải có uy nghi, phải có phong thái nhẹ nhàng, an tịnh, không đi hấp tấp, vội vàng, không đi đánh đằng xa mất kiểm soát. Phải có chánh niệm và tỉnh giác, khi đi phải biết rõ đang đi, khi ngồi phải biết rõ đang ngồi, khi nằm, khi đứng, khi nói, khi im đều phải tuệ tri, khi co duỗi phải biết rõ việc mình đang làm. Không được sống trong lãng quên, không được sống trong thất niệm, không được sống trong sự không có mặt của sự rõ biết, mình sống có sự giữ gìn, có sự phòng hộ, bảo vệ đối với bốn động tác, cử chỉ chính là đi, đứng, ngồi, nằm.
Đó là những hình tướng, dáng vẻ là vỏ ngoài của phạm hạnh, không có những cái này giống như cây không có vỏ, nhìn vào không phân biệt được đâu là người tu đâu là người đời. Trong bốn oai nghi chính là không lăng xăng, tất bật, không lao xao, miệng không ồn ào, bép xép, cái đó làm cho mình giữ được oai nghi thô bên ngoài.
Từ những cái nhỏ nhặt này mới làm tăng trưởng đức hạnh, đạo hạnh, nết hạnh, đức hạnh thanh cao, cao thượng, từ từ những cái này mới được thiết lập, mới được tăng trưởng, phát triển. Phần quan trọng là "thấy sợ hãi trong các lỗi nhỏ nhiệm", phải thấy lo lắng, sợ hãi trong những lỗi nhỏ nhặt, Thế Tôn nói lúc người vợ trẻ mới về nhà chồng cái gì cũng lo sợ, sợ người ta nhìn ngó mình, cử chỉ e thẹn, rụt rè. Chính sự e dè, rụt rè đó làm cho người này bớt có lỗi lầm, bớt thả lỏng các căn, bớt sự phóng túng.
Những lỗi nhỏ nhặt là người tu mà cười vang dội, làm mất oai nghi, khi nói mà không có chánh niệm rồi nói xúc phạm đến các bậc đồng phạm hạnh hoặc xúc phạm các vị thầy, vị giáo thọ sư. Nếu không để ý, không lo sợ, không dè chừng, không cẩn thận những cái nhỏ nhặt này thì lâu ngày "tích tiểu thành đại" hoặc là "tích thiểu thành đa", nghĩa là từ ít mà chất chứa thành nhiều, từ nhỏ mà dần dần thành lớn, vì thế tất cả những lỗi lớn trên cuộc đời này đều xuất phát từ lỗi nhỏ, tất cả những cái sai nhiều trên cuộc đời này đều từ cái sai ít mà ra cho nên khi không sợ những cái nhỏ thì từ từ sẽ ra cái lớn.
Phật tử mời mình đến nhà để cúng dường Trai Tăng mà mắt mình láo liên, nhìn qua nhìn lại, hết nhìn đồ lại đến nhìn người thì đó là thất bại, phải sợ hãi trong các lỗi nhỏ nhặt chứ không phải chỉ biết sợ những giới lớn. Tất cả những gì làm mình mất đi sự phòng hộ, hộ trì các căn, mất đi sự an tịnh lắng dịu, mất đi chánh niệm tỉnh giác, mất đi sự cung kính, sự tin tưởng, sự hướng về thì mình phải dò xét, kiểm tra, kiểm điểm. Mỗi một giờ đều phải kiểm điểm điểm bản thân, khi làm sai cái gì là phải quở trách, la rầy bản thân tại sao lại làm vậy, tại sao lại có hành động như vậy đối với huynh đệ, tỉ muội, tại sao lại có hành động như vậy đối với giáo thọ sư?
Mình phải la mắng tâm mình, quở trách tâm mình, phải sám hối trước Phật hoặc tốt hơn là sám hối với ngay vị mình đã vô tình lỡ lời hoặc cố ý. Có như vậy thì các lỗi mới được kiểm tra, kiểm điểm thường xuyên thì từ từ các lỗi mới được giảm bớt, các lỗi ở đây chính là những tập khí thấp hèn, hạ liệt, phàm phu, những thói quen của bụi đời, của thế gian mà mình bị dính ngoài đời, vào đến cửa chùa chưa được phủi giũ một cách toàn vẹn.
Lúc nào cũng quay lại kiểm tra thân, miệng, ý, xem lại điều đó là thiện hay bất thiện, nghĩ về người kia như vậy có đúng hay không, nói lời nói như vậy có làm khổ mình khổ người không, có làm phiền mình phiền người không, mình nói lời như vậy có làm người ta bức xúc, khó chịu không, nói lời như vậy có vô ơn, bạc nghĩa không, mình cư xử như vậy có là kẻ phũ phàng không. Mình phải suy xét, soi rọi trong từng cử chỉ, hành động.
Trong bài kinh giáo giới La-hầu-la Đức Phật dạy trước khi nói phải xét nét xem lời nói đó nên nói hay không nên nói, thiện hay bất thiện, trong khi nói phải xét nét và sau khi nói cũng phải xét nét. Trước khi nghĩ, trong khi nghĩ và sau khi nghĩ cũng phải xét nét xem ý nghĩ đó là thiện hay bất thiện, có hại mình hại người không. Trước khi làm, trong khi làm và sau khi làm phải kiểm tra hành động, việc làm đó thiện hay bất thiện, có tội hay không có tội, có hại mình hại người không. Chỉ có tu như vậy thì những tội lỗi, những xấu ác bất thiện pháp mới giảm thiểu, mới trừ diệt, từ từ mới đi đến chỗ thanh tịnh.
2. Chế ngự căn
"Này Rahula, sau khi phản tỉnh nhiều lần, hãy hành thân nghiệp. Sau khi phản tỉnh nhiều lần, hãy hành khẩu nghiệp. Sau khi phản tỉnh nhiều lần, hãy hành ý nghiệp". (Trung Bộ Kinh, 61. Kinh Giáo giới La-hầu-la ở rừng Ambala)
Tiếp theo là "chấp nhận và học tập trong các học pháp", học pháp là những điều mà Đức Thế Tôn đưa ra trong kinh tạng Nikāya thì chúng ta phải chấp nhận học tập. Có khi nghe giảng như vậy nhưng lại để đó không thực hành hoặc có khi nghe rồi phản bác, như vậy là không chấp nhận học pháp.
"Các Thầy cần phải sống với các căn môn phải được chế ngự, thành tựu với niệm được phòng hộ, với niệm thận trọng sáng suốt, với ý được khéo phòng hộ, với tâm được chánh niệm bảo vệ". Những pháp hành trong kinh tạng Nikāya rất sát sao, khít khao chứ không đơn giản như mình nghĩ. Thứ nhất là sống với căn môn được chế ngự, đã nói "căn" rồi còn có "môn" nữa. Con mắt là cửa sổ tâm hồn, nhìn vào mắt là biết trong đó đang có ý gì, thương ai thì ánh nhìn trìu mến, ghét ai là liếc, lườm, háy.
Cửa sổ là mở ra để nhìn vào bên trong, nếu không phòng hộ, bảo vệ, chế ngự thì con mắt này sẽ sanh ra nhiều lầm lỗi, tội lỗi cho nên cánh cửa phải có chìa khóa, phải có chốt cửa, đi ra đi vào phải gài cửa lại là như vậy. Cánh cửa có chốt gài, có chìa khóa, ống khóa để giữ gìn tài sản bên trong căn nhà, con mắt cũng phải có chốt gài, có chìa khóa gài lại chứ không phải cái nào cũng nhìn vì cái nào cũng nhìn thì nó sẽ sanh khởi ra tham muốn, yêu thích, nó sẽ sanh khởi ra sân hận, ác và bất thiện pháp. Khi chúng ta đi vào học hộ trì căn thì Đức Phật nói rất kĩ lưỡng và rõ ràng.
"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là các căn? Ở đây, này các Tỳ-kheo, khi mắt thấy sắc, Tỳ-kheo không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, làm cho nhãn căn không được chế ngự, khiến tham ái ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, Tỳ-kheo tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì nhãn căn, thật hành sự hộ trì nhãn căn. Khi tai nghe tiếng... khi mũi ngửi hương... khi lưỡi nếm vị... khi thân cảm xúc... khi ý nhận thức các pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, làm cho ý căn không được chế ngự, khiến tham ái ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, Tỳ-kheo chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành sự hộ trì ý căn.
Như vậy, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo hộ trì các căn". (Tăng Chi Bộ Kinh, Chương IV - Bốn Pháp, IV. Phẩm Bánh Xe, (VII) Không Thể Rơi Xuống)
Đó là con mắt có sự phòng hộ, có sự khép lại, có sự bảo vệ giống như cánh cửa có chốt gài để giữ tài sản bên trong. Còn con mắt thấy gì cũng nhìn mà nhìn thoải mái luôn thì đó là con mắt không tu tập, vì vậy chỉ cần nhìn qua là biết ngay người này có phòng hộ, hộ trì không vì người có phòng hộ thì ánh nhìn sẽ khác, đó là đặc sản của người xuất gia. Điểm đặc biệt của người xuất gia là sự phòng hộ các căn, hộ trì các căn, sự giữ gìn mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý, đó là đặc tánh của người xuất gia, bản tánh của người xuất gia, chất liệu của người xuất gia, không có cái này thì đến vỏ ngoài còn không có chứ đừng nói gì đến ruột, buông lung phóng dật, thả lỏng các căn.
Đối với tai cũng phải hộ trì, không phải cái gì cũng nghe, không phải người ta nói gì cũng lắng tai theo. Cái gì cần mới nghe, thậm chí nghe rồi cũng bỏ qua chứ không lưu giữ lại vì khi tai tiếp xúc với âm thanh sẽ sanh ra cảm giác, cảm thọ tham, sân, bản ngã, vì thế cần phòng hộ trong cái nghe. Ví dụ đang đi kinh hàng nhẹ nhàng trong sân chùa, đột nhiên có hai người vừa nói vừa nhìn mình ý nói xấu thì mình cần phòng hộ lỗ tai, làm cho cảm thọ an tịnh lắng dịu, bình tĩnh rồi từ từ tìm hiểu lại sao.
Đừng nghe người ta nói rồi bỏ luôn thiền hành để chạy tới hỏi người kia nói mình cái gì vì thế khi không phòng hộ, không chế ngự, không bảo vệ con mắt, lỗ tai thì phiền não sanh, sân si sanh, bất hòa sanh, bất an sanh, bất ổn sanh ra rồi trong đại chúng lục đục với nhau, trong gia đình cũng vậy, hở chút là giận, là buồn phiền, hơn thua vì không biết đó là những thứ làm mình khổ đau, mình muốn hết khổ thì đi tìm những thứ này để làm gì.
Sự chế ngự các căn cực kì quan trọng vì nếu không chế ngự mà để các căn thả lỏng cũng như đi xe máy mà không đội nón bảo hiểm, đi máy bay không thắt dây an toàn, giống như đi chân trần không mang dép, mang giày cho nên sự phòng hộ và giữ gìn mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý này cực kì quan trọng, nhất là đối với những người mới tu đã quen thả lỏng các căn nên giờ đi tu là phải bắt nó vào khuôn phép, vào nề nếp. Khi tu lâu ngày sẽ thuần thục, sau này sẽ có sự phòng hộ, bảo vệ rất nhẹ nhàng, mới đầu không giữ gìn thì nhiều năm sau cũng sẽ như vậy, còn lúc đầu kiên trì thực tập thì sau này sẽ phòng hộ rất nhẹ nhàng.
Xin thưa với các Tăng Ni sinh, Minh Thành ở trong chùa ba mươi năm nhưng đến ngày giờ này cũng không dám xem thường cái thấy, cái nghe của mình, cho đến giờ này cũng chưa thành tựu viên mãn phòng hộ các căn. Chỉ cần thả lỏng tâm một chút thôi là phóng ra ngoài cho nên cần chấp nhận học pháp, hành trì và thực tập chứ không phải đọc qua là bảo học rồi nên bỏ qua một bên, không hành trì gì cả. "Thành tựu với niệm được phòng hộ, với niệm thận trọng sáng suốt, với ý được khéo phòng hộ, với tâm được chánh niệm bảo vệ", những cái này là đi sâu vào trong nội tâm, khi nãy là phòng hộ các căn môn ở bên ngoài, còn giờ là đi vào tâm ý.
Như thế nào thì gọi là niệm được phòng hộ? Nghĩa là đề phòng, bảo hộ chánh niệm, không để nó mất đi. Chữ "niệm" này là Tứ Niệm Xứ, niệm tâm, niệm thân, niệm thọ, niệm pháp, thường an trú vào việc soi rọi lại cử chỉ, hành vi của bản thân, nhớ và soi rọi lại những cảm thọ, cảm xúc, cảm giác bên trong, xem lại có tham, sân, si không, nhớ và soi rọi lại bên trong xem có ác bất thiện pháp không, nhớ và soi rọi lại trong tâm xem lúc đó đang có pháp gì, nếu là thiện pháp thì phát huy lên, tăng trưởng, làm cho lớn mạnh thêm, còn pháp ác thì diệt tận.
Kiểm tra lại tâm xem lúc đó có dục tư duy, sân tư duy hay hại tư duy không, có những suy nghĩ về tham muốn, nóng giận, hại mình hại người không, có những suy nghĩ hơn thua, đấu đá, tranh giành không, nếu có thì cần tác ý đánh đuổi, quét sạch nó ra khỏi thân tâm, còn nếu an trú trong từ, bi, hỷ, xả thì làm lớn mạnh trong tâm từ vô lượng đó. Cho nên an trú niệm là an trú trong Tứ Niệm Xứ, "thành tựu với niệm được phòng hộ" là cái chánh niệm này luôn được bảo vệ, luôn được đề phòng. "Với niệm thận trọng sáng suốt", thận trọng là kĩ lưỡng, trong sáng soi rọi các cảm giác, nghĩ tưởng bên trong chứ không làm qua loa, phải chú tâm cảnh giác một cách cao độ không chỉ trong thiền đường, chánh điện mà cần chú tâm cảnh giác trong mọi cử chỉ đi, đứng, ngồi, nằm, tất cả đều phải cảnh giác cao độ, thận trọng và sáng suốt, cẩn thận và kĩ lượng.
Bây giờ tu mà ngồi tréo ngoe, nhịp đùi tức là lúc đó không có niệm thân, không có chánh niệm tỉnh giác mới như vậy, khi phát hiện ra thì phải xấu hổ, la rầy bản thân, phải thận trọng trong từng lỗi nhỏ nhặt như vậy thì từ từ mới hoàn thiện, mới viên mãn cứu cánh phạm hạnh được. Nếu những lỗi nhỏ nhặt như vậy mà mình không chịu để ý, không chịu để tâm, không thận trọng, không dò xét, không sửa đổi, chỉnh đốn thì đến những cái thâm sâu trong tâm là dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu thì làm sao phá nổi?
Đức Phật dạy rất trình tự từ ngoài đi vào trong, từ thô đến tế, từ cạn đến sâu, từ những giới bổn, oai nghi bên ngoài rồi ngài đưa vào chánh niệm tỉnh giác bên trong, sau đó từ từ mới soi rọi ra những lậu hoặc, rác bẩn trong cảm thọ của mình. Đó là sự thiện xảo, khéo léo của Đức Thế Tôn khi ngài giảng dạy Thánh đạo cho chúng ta.
3. Hạn chế lời nói
Pháp thứ ba dành cho người mới xuất gia là hạn chế lời nói, trong mười giới thì miệng chiếm hết bốn giới hơn cả thân và ý, cho nên mới có câu "bệnh tòng khẩu nhập, họa tòng khẩu xuất", nghĩa là bệnh tật là do từ miệng mà vào, tai họa là do từ miệng mà ra. Vì thế cần hạn chế lời nói, mình vào tu rồi không tỏ ra khôn khéo như ngoài đời, đừng đem kiến thức, thông minh, tiểu xảo của thế gian vào chùa để làm xếp sòng, chỉ có thất bại nặng nề lại còn đáng thương. Những sự thông minh, tiểu xảo, khôn khéo ở đời chỉ giết mình thôi, làm mình tăng thêm bản ngã mà thôi, đừng lấy bằng cấp, học vị, tri thức, nghề nghiệp, những cái sành điệu lão luyện của thế gian rồi đem vào chùa làm xếp trong chùa, những cái đó trong đạo không cần.
Trong đạo rất cần nhiếp phục và đoạn tận tham, sân, si, bản ngã cho nên có người học giỏi, có nghề hay, có kiến thức thành đạt ngoài đời vào tu thì mình thấy cũng mừng nhưng bản ngã của họ lại rất cao làm họ khó tu. Họ đem sở học, đem cái thành công của thế gian rồi vào chùa ta đây, ra vẻ, nếu họ vừa có kiến thức vừa tu đúng chánh pháp sẽ giúp ích cho họ rất nhiều nhưng nếu họ đặt tâm không đúng hướng thì người này lại trá hình qua bản ngã mới, đây là chỗ rất cẩn thận. Trong kinh Đức Phật nói rất rõ, xuất thân trong gia đình giàu có, dòng tộc cao quý, thành công rồi vào tu là khen mình chê người, cống cao ngã mạn, dương dương tự đắc thì những cái này sẽ làm chướng ngại trên con đường tu học.
"Ở đây, này các Tỳ-kheo, có người phi Chân nhân xuất gia từ một gia đình cao sang. Người ấy suy nghĩ như sau: 'Ta xuất gia từ một gia đình cao sang. Còn các Tỳ-kheo này không xuất gia từ một gia đình cao sang'. Vì người ấy thuộc gia đình cao sang nên khen mình chê người. Như vậy, này các Tỳ-kheo, là phi Chân nhân pháp.
Lại nữa, này các Tỳ-kheo, một người phi Chân nhân xuất gia từ một gia đình lớn.... xuất gia từ một gia đình đại phú... xuất gia từ một gia đình quý phái. Người ấy suy nghĩ như sau: 'Ta xuất gia từ một gia đình quý phái, còn các Tỳ-kheo này không xuất gia từ một gia đình quý phái'. Vì người ấy thuộc gia đình quý phái, nên khen mình chê người. Như vậy, này các Tỳ-kheo, là phi Chân nhân pháp.
Lại nữa, này các Tỳ-kheo, có người phi Chân nhân được nhiều người biết, có danh xưng. Người ấy suy nghĩ như sau: 'Ta được nhiều người biết, có danh xưng, còn các Tỳ-kheo này được ít người biết đến, không được trọng vọng'. Vì người ấy tự mình được nhiều người biết đến nên khen mình chê người. Như vậy, này các Tỳ-kheo, là phi Chân nhân pháp". (Trung Bộ Kinh, 113. Kinh Chân nhân)
Trở lại vấn đề là cần giữ cái miệng, càng ít nói càng tốt, nếu có nói thì chỉ trao đổi pháp. Người tu chỉ có hai việc cần làm, thứ nhất là giữ im lặng của bậc Thánh, tức là thiền định và thứ hai là thảo luận, trao đổi chánh pháp, ngoài hai việc này ra những việc còn lại chỉ là thứ yếu.
"Này các Tỳ-kheo, lành thay khi Thiện nam tử các Người, vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, cùng nhau hội họp để luận bàn đạo pháp. Này các Tỳ-kheo, khi các Người hội họp với nhau, có hai việc cần phải làm: luận bàn đạo pháp hay giữ sự im lặng của bậc Thánh". (Trung Bộ Kinh, 26. Kinh Thánh cầu)
Nếu có nói thì chỉ trao đổi pháp nhưng hiện tại mới vào tu chưa biết gì thì làm sao trao đổi pháp, có khi ban đầu trao đổi pháp nhưng nói một lúc lại sân si lên. Vì mới vào tu nên chưa thành tựu chánh kiến, chưa có trí tuệ về pháp cho nên nói một lúc là nói trong bản ngã, nói trong hơn thua, nói trong đúng sai vì thế tốt nhất là hạn chế lời nói, nói ít lại, nó sẽ giúp cho mình nhìn lại bên trong, hướng nội. Nhìn lại cảm giác gọi là quán chiếu cảm thọ, nhìn lại tưởng là những hình bóng trong tâm, nhìn lại những suy nghĩ nói thì thầm trong tâm, nhờ không nói chuyện mới nhìn vào nội tâm rồi phát hiện ra rác bẩn tham, sân, si. Còn nếu nhìn ra ngoài nói chuyện này chuyện kia, nói người này người nọ thì làm sao thấy được nội tâm mình?
Các chư tổ lấy ví dụ cái miệng để lên meo, lên mốc như cây quạt mùa đông và đặt hết tâm tư vào sự tu hành nội quán, hướng nội, nội soi, sau này xuống núi thì một câu nửa lời là kinh thiên động địa, long trời lở đất. Khi đã thành tựu chánh tri kiến thì nói cái gì ra cũng là chân pháp, là chân lý, là sự thật, làm lợi mình lợi người. Bây giờ còn ở trong bản ngã, tà kiến, vô minh thì nói một lúc là hơn thua với nhau, tranh cãi với nhau, dù đó là pháp vô ngã nhưng nói một hồi thành ra có bản ngã, bàn luận về từ bi nhưng nói một hồi thành sân si cho nên phải nói ít lại, dành thời gian nội soi, nội quán, nội tỉnh nhất tâm.
4. Sống trong rừng
Pháp thứ tư cho người mới xuất gia là sống trong rừng, ở nơi xa vắng, đây là một trong những pháp rất quan trọng. Chúng ta tùy theo hoàn cảnh nhưng đúng theo một người học Phật là phải có thời gian sống ở nơi xa vắng, núi rừng ít người. Bây giờ ở chỗ phố thị phồn hoa đô hộ, náo nhiệt thì tâm sẽ duyên theo cảnh, rất dễ hướng ngoại, còn trên núi chỉ thấy mây trắng trúc xanh thì tâm nhẹ nhàng, còn ra chợ Bến Thành nhìn thấy biết bao sự lòe loẹt, nhiều màu sắc, nhiều sắc tướng làm mình sanh khởi nhiều tham muốn, nuôi lớn lòng tham muốn, chính vì vậy Đức Phật nói chúng ta phải ở núi rừng, cao nguyên, viễn ly xứ để bớt ngoại cảnh sẽ bớt hướng ngoại, bớt phóng tâm để quay trở lại tự thân mà Đức Phật dùng từ "nếp sống thân viễn ly".
Nhiều người nói thân họ không viễn ly nhưng tâm viễn ly, nghe thì hay nhưng thật sự có phải như vậy không? Nếu vậy thì Đức Thế Tôn đâu có dạy phải sống ở núi rừng cho nên những gì Thế Tôn dạy thì chúng ta phải chấp nhận học pháp, không làm đứa con bất hiếu ngỗ nghịch đối với Đức Như Lai vì thế cần cẩn thận với phát ngôn của mình, những người thành tựu chánh kiến là không bao giờ có lời nào chống đối lại những học pháp của Đức Phật. Những gì Đức Phật đã nói trong kinh tạng Nikāya mà chúng ta thực hành theo đúng như vậy là đi đúng Thánh đạo sẽ đưa đến Thánh quả.
"- Có bốn hạng người này, này các Tỳ-kheo, có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là bốn?
Thân viễn ly, tâm không viễn ly.
Thân không viễn ly, tâm viễn ly.
Thân không viễn ly, tâm không viễn ly.
Thân viễn ly và tâm viễn ly.
Này các Tỳ-kheo, thế nào là thân viễn ly và tâm viễn ly?
- Ở đây, này các Tỳ-kheo, các hạng người sống tại các núi non, khóm rừng, các trú xứ xa vắng; vị ấy tại đó nghĩ đến tầm xuất ly, nghĩ đến tầm không sân, nghĩ đến tầm không hại. Như vậy, này các Tỳ-kheo, là hạng người thân viễn ly và tâm viễn ly". (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, XIV. Phẩm Loài Người, (VIII). Viễn Ly)
Đức Phật nói có thân viễn ly và tâm viễn ly, tức là thân rời xa và tâm rời xa nhưng muốn đạt được tâm rời xa thì trước hết thân phải rời xa trước. Người xuất gia chúng ta có nhiều điều thuận lợi, ở trong chùa yên tĩnh, nhất là thời điểm dịch bệnh thì nhà ai nấy ở, phòng ai nấy ở nên mình phải nắm bắt cơ hội này để sống nếp sống rời xa mọi người, rời xa ngoại cảnh, rời xa sự giao tiếp, sự tiếp xúc. Đó là mình đang sống viễn ly, chỉ ở trong không gian của căn phòng, tịnh thất của mình hoặc là có thời điểm nhập thất, độc cư ở một mình.
Đó là lúc chúng ta được nếm hương vị ở một mình, khi đó chúng ta sẽ biết bản thân có chịu nổi hay không, trước tiên ở thử một tuần, nếu ở được thì tăng dần thời gian lên ba tuần, một tháng. Khi ở một mình sẽ thấy những thọ; tưởng; hành quậy phá mình, những cảm giác bức xúc, những suy nghĩ, hình bóng hiện lên liên tục nhưng chúng ta phải tập nếp sống rời xa này để không lệ thuộc vào sắc; thanh; hương; vị; xúc bên ngoài mà chỉ quay lại đối diện pháp trần trong tâm thôi. Pháp trần tức là thọ; tưởng; hành bên trong nội tâm mình, khi đối diện được nội tâm mình thì lúc đó mình mới thấy biết, mới có cơ hội thanh tẩy, thanh lọc, làm trong sạch bên trong.
Đây là những pháp mà Đức Thế Tôn dạy người xuất gia cần phải an trú vì nó rất quan trọng, nhất là đối với bậc sơ cấp Phật học thì những cái này tuyệt đối quan trọng để thực tập, hành trì. Trong thời điểm này rất thích hợp để xin được nhập thất, ngày ăn một bữa thôi, nếu có duyên thì về núi rừng, về nơi xa vắng ở một mình sau khi đã học, đã nắm vững đường lối hành trì thì mình về nơi xa vắng để thực tập, trải nghiệm, chứng nghiệm.
Đức Thế Tôn và các bậc Thánh chúng thời Đức Phật đại đa số là ở trên núi, ở trong rừng, ở ven suối, dưới gốc cây. Thế Tôn sanh ra dưới gốc cây, khổ hạnh ở dưới gốc cây, thành đạo dưới gốc cây, chuyển pháp luân dưới gốc cây và nhập Niết-bàn dưới gốc cây, điều này nói lên cả cuộc đời của ngài thân viễn ly và tâm viễn ly. Có biết bao nhà vua hoặc những vị hộ trì pháp xây cho ngài những ngôi tự viện kỳ vĩ, giảng đường Trùng Các, Trúc Lâm Tinh xá nhưng ngài luôn đầu trần chân đất đạp khắp ngũ thiên trúc để tuyên dương Thánh pháp, chỉ dẫn cho chúng sanh thấy được sự thật của khổ đau trên cuộc đời này để nhàm chán, thoát ra.
Còn mình không khéo sẽ dính mắc vào một cái chùa, dính mắc vào một tịnh thất nào đó rồi buộc chân mình luôn thì thật đáng thương. Khi thành tựu chánh kiến rồi thì khác, nếu không thì dính mắc vào tài sản, địa vị, vật chất, hình tướng là suốt đời gỡ không ra cho nên người xuất gia là sống đời sống không nhà, không có cái nào là của mình thì tại sao bây giờ lại cho đây là chùa của tôi, đây là thất của tôi.
Dù có là trụ trì đi nữa thì chẳng qua đó là Tăng sai, nghĩa là người có khả năng gánh vác công việc lo cho Tăng, để đại chúng có sự an bình tu học chứ không phải đó là chùa của mình. Đừng hiểu lầm vấn đề này, chùa là của bá gia bá tánh, mồ hôi nước mắt và máu của họ đóng góp vào đó cho nên cần nhớ thực tập sống đời sống thân viễn ly và tâm viễn ly, đừng để bị dính mắc vào bất cứ vật chất gì ở đời.
Tình cảm thiêng liêng tột cùng trên đời này là tình mẫu tử cha mẹ mà chúng ta gạt bỏ, ông bà, cô bác, anh chị mà chúng ta cũng từ bỏ, căn nhà thân thương, quê hương chôn nhau cắt rốn mà chúng ta cũng từ bỏ. Chúng ta cần nhớ rằng đời sống xuất gia là một chuỗi dài liên tục của sự từ bỏ, cần nhớ "viễn ly", "rời xa", "từ bỏ" thì chúng ta mới đi xa được trên con đường Thánh đạo, còn tu để có được nhiều thứ thì đã bị lạc đường.
Tu là để từ bỏ, từ bỏ sự ham thích, từ bỏ những cảm giác sân hận, tử bỏ cảm giác ta đây của một bản ngã, từ bỏ và từ bỏ, cho đến tận cùng là từ bỏ tứ đại ngũ uẩn để xuất ly, thoát ra khỏi sắc; thọ; tưởng; hành; thức. Từ ngày đầu tiên cạo tóc cho đến ngày thành đạo cần phải nhớ kĩ điều này, phải sống nếp sống viễn ly và từ bỏ, dù cho hình thức được giao cho việc này việc kia thì cũng là thứ yếu vì mình đi xuất gia không phải vì những thứ đó mà xuất gia để đoạn tận khổ đau, để thoát khỏi những dòng nước mắt và máu của những đời sống bị sanh, bị già, bị chết này. Mình đi tìm cái không sanh, không già, không bệnh, không chết, mình đi tìm cái bất tử.
"Ở đây, này các Tỳ-kheo, có người tự mình bị sanh, sau khi biết rõ sự nguy hại của bị sanh, tìm cầu cái vô sanh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị già, sau khi biết rõ sự nguy hại của bị già, tìm cầu cái không già, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị bệnh... cái không bệnh... tự mình bị chết... cái bất tử... tự mình bị sầu... cái không sầu... tự mình bị ô nhiễm, sau khi biết rõ sự nguy hại của ô nhiễm, tìm cầu cái không ô nhiễm, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn". (Trung Bộ Kinh, 26. Kinh Thánh cầu)
Mình không đi tìm những cái phàm phu thấp hèn, hạ liệt, danh lợi, chùa chiền, tài sản vật chất, đó là những thứ mà trong ngày lễ xuất gia mình đã cạo tóc để quăng xuống, bỏ xuống. Làm sao mình có thể hốt lại những cái mình đã khạc nhổ ra? Phải ghi nhớ sâu sắc trong tâm không được quên điều này, mỗi khi tâm ưa thích danh lợi, ưa thích địa vị, vật chất thì tác ý hỏi tâm "tại sao ngươi lại đi liếm những thứ người đã khạc nhổ ra như vậy?", nhắc nhở tâm như vậy để không dính mắc vào danh lợi, vào tài sản, vào những tình thân bình thường trong chùa.
Như vậy sẽ rất uổng phí, tiếc thay cho đời tu. Chúng ta phải nhớ sống rời xa, sống từ bỏ, không có bất cứ cái gì trên đời quan trọng bằng Thánh pháp vì chỉ có nó mới giúp mình diệt tận tham, sân, si, vô minh và bản ngã, đó là nguồn gốc của khổ đau. Hằng ngày, hằng giờ phải nhắc nhở bản thân rằng xuất gia chỉ có một mục đích duy nhất là cầu pháp, thực hành pháp và chứng đắc pháp, ngoài ra không có gì khác, chỉ có làm được điều này mới báo hiếu cha mẹ, mới quang tông diệu tổ, mới đền đáp bốn ơn ba cõi.
Tất cả những việc thiện bên ngoài thì người cư sĩ đều làm được, làm nhiều và giỏi hơn mình rất nhiều, còn việc của mình là tăng thượng thiền định, giới đức và trí tuệ, đó mới là bổn phận thật sự của người xuất gia. Phải nhớ mãi không được quên vì điều này vì nếu quên là đời tu của mình sẽ mất phương hướng, mình quên cái này sẽ như chạy xe không có điểm đến, quên cái này là hủy hoại cuộc đời xuất gia, là phụ bạc tình thương của cha mẹ, của lục thân quyến thuộc.
5. Chánh tri kiến
Pháp cuối cùng là có chánh tri kiến, thành tựu chánh kiến. Hai cái này sẽ quyết định thành bại của người xuất gia. Thế nào là chánh kiến?
"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là chánh tri kiến? Này các Tỳ-kheo, chính là trí về khổ, trí về khổ tập, trí về khổ diệt, trí về con đường đưa đến khổ diệt. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là chánh tri kiến". (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương I. Tương Ưng Ðạo (a), I. Phẩm Vô Minh, VIII. Phân Tích)
Thế nào là tà kiến? Nếu cho rằng thân xác này là tôi, là của tôi thì đó là tà kiến, cho con mắt này là tôi, là của tôi, cho lỗ mũi, gương mặt này là tôi, là của tôi thì đó là tà kiến, cho hình hài, vóc dáng này là tôi, là của tôi là tà kiến, là mê muội, là vô minh. Còn khi nhìn thấy mấy chục kí lô thịt này chỉ là sắc uẩn, sắc pháp, tứ đại, nhìn thấy những cảm giác vui, buồn, không vui không buồn chỉ là cảm giác, không phải mình, không phải tự ngã của mình, nhìn lại những hình bóng trong tâm thì biết đó chỉ là hình bóng, do duyên tiếp xúc mà ẩn hiện ra như vậy và tưởng này không phải là mình, không phải của mình, những suy nghĩ lầm thầm chỉ là hành uẩn, tất cả những suy nghĩ đó là duyên sanh, là vô thường, không phải tôi, không phải tự ngã của tôi là chánh kiến. Còn khi nào cho những thứ đó là tôi, là của tôi thì đó là vô minh, là tà kiến, đối với thức uẩn cũng vậy.
-Thân người là Sắc
-Cảm giác là Thọ
-Hình bóng là Tưởng
-Suy nghĩ là Hành
-Rõ biết là Thức
(Nghi thức tu học Nikāya)
Chỉ khi nào thuộc lòng định nghĩa này thì mới nhận diện được ngũ uẩn. Khi nhìn thấy năm uẩn chỉ là năm uẩn, nó là pháp lắp ráp, kết hợp, là những mắc xích, là pháp duyên khởi thì lúc đó là có chánh kiến, là thấy đúng. Khi nào thấy mấy chục kí lô thịt này là tôi, là của tôi thì lúc đó sống trong vô minh, sống trong mê lầm, sống trong những cảm giác tham muốn, nóng giận, ganh đua, đố kỵ, sống trong tư tưởng của bản ngã thì tiếp diễn mãi mãi khổ đau.
Chánh kiến là thấy được ngũ uẩn, không có một tự ngã trong thân xác của năm tổ hợp này, là thấy đúng về tự thân tâm của mình. Cái thấy đúng này đòi hỏi phải thực tập lâu dài và có người hướng dẫn sát sao, miên mật, nhắc nhở thường xuyên thì từ từ mình mới loại bỏ những suy nghĩ, quan niệm cho rằng "tôi là", "tao", "mi", "tớ", từ từ tháo gỡ bản ngã cho nên phá được thân kiến, hoài nghi và giới cấm thủ sẽ Nhập Lưu, đó là Thánh quả thứ nhất Tu-đà-hoàn. Thân kiến là kiếp chấp về thân, nghĩa là cho rằng thân này là tôi, là của tôi, khi nhìn ra thân này chỉ là năm tổ hợp kết nối, lắp ráp với nhau thì đó là bước đầu của chánh kiến cho nên phương pháp thực tập nhận diện năm uẩn rất quan trọng.
Các Tăng Ni sinh cần thực tập nhận diện năm uẩn sẽ thấy rõ ràng năm uẩn ngay nơi thân tâm mình thì lúc đó mới phá được quan niệm, cách nhìn sai lầm cho rằng có cái "tôi" và "của tôi". Trong suốt thời gian chúng ta học từ sơ cấp, trung cấp, cao đẳng, học viện, đại học, thạc sĩ, tiến sĩ, tất cả lộ trình mình học chỉ có duy nhất một mục đích thật sự là nhằm đạt được chánh kiến, còn nếu học hết các bằng cấp, học vị đó mà không đạt được cái thấy này thì uổng công. Cần phải thấy được đây chỉ là năm tổ hợp ngũ uẩn, thấy đúng như thật trong thân tâm chính mình chứ không phải chỉ nghe người ta nói, chỉ hiểu trên chữ nghĩa kiến thức, chính mình thấy, chính mình biết và mình thấy nó hoạt động từng giờ, từng phút, từng giây và mình phá vỡ quan niệm cho rằng đây là ta, là của ta.
Hôm nay là ngày đầu tiên chúng ta gặp nhau, Minh Thành có tấm lòng cúng dường pháp bảo đến các Tăng Ni sinh qua sự trùng tiên lại bài kinh Người vợ trẻ và bài kinh Andhakavinda nói về người mới xuất gia cần an trú trong năm pháp. Mong rằng tất cả người xuất gia đừng quên cái tâm ban đầu, nhớ hình ảnh rụt rè, lo lắng của cô dâu lúc mới về nhà chồng, luôn giữ cho mình tâm lo sợ đối với ác bất thiện pháp, nỗ lực trong tăng thượng giới đức, thiền định và trí tuệ bằng năm pháp mà Đức Phật nhắc nhở, khuyến khích chúng ta, đó là giữ giới, chế ngự các căn, hạn chế lời nói, sống nơi xa vắng và cuối cùng là thành tựu cái thấy đúng về thân tâm. Kính chúc các Tăng Ni sinh sớm ngày thành tựu được chánh tri kiến quý báu, vô thượng của người xuất gia.
./.