Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Phá Chấp Sắc Thọ Tưởng Hành Thức 1 - Tương Ưng 6 Xứ

2026-03-03 00:53:25
Phá Chấp Sắc Thọ Tưởng Hành Thức 1

Tương Ưng 6 Xứ

Thích Minh Thành

Ngày 31 tháng 08 năm 2022

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Không phải là ta PAGEREF _Toc114235950 \h 1

II. Nhàm chán – khiêm hạ PAGEREF _Toc114235951 \h 5

III. Dõng mãnh tu hành PAGEREF _Toc114235952 \h 7

IV. Các pháp quán tưởng PAGEREF _Toc114235953 \h 13

V. Tinh cần PAGEREF _Toc114235954 \h 17

I. Không phải là ta

Chúng ta chiêm nghiệm bài kinh Thích hợp số một trong Tương Ưng Bộ Kinh tập 4:

“2) -- Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết cho các Ông con đường thích hợp đưa đến nhổ lên tất cả tư lường (sabbamannità). Hãy lắng nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ giảng.

3) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là con đường thích hợp đưa đến nhổ lên tất cả tư lường?

4-6) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không tư lường con mắt, không tư lường trên con mắt, không tư lường từ con mắt, không tư lường: "Con mắt là của ta". Vị ấy không tư lường các sắc, không tư lường trên các sắc, không tư lường từ các sắc, không tư lường: "Các sắc là của ta".”

(Bài kinh Thích hợp 1– Phẩm Tất Cả - Tập 4 Thiên Sáu Xứ - Tương Bộ Kinh)

Không tư lường là đừng suy nghĩ. Ý nói đừng suy nghĩ "Con mắt là của ta" mà hãy suy nghĩ con mắt này là cục thịt, máu nhơ nhớp, là ổ của bệnh tật, đừng suy nghĩ con mắt này là tôi, là của tôi mà hãy suy nghĩ con mắt này là nơi chứa nhóm tật bệnh. Đừng nghĩ mắt này là tôi, là của tôi mà hãy suy nghĩ con mắt này là tứ đại, là gân, là thịt, là máu, là thứ bại hoại, đổi thay. Đừng suy nghĩ mắt này là tôi, đừng suy lường trên mắt, đừng nhận lầm mắt này là mình.

Này các vị, đừng suy nghĩ trên gương mặt này, từ nơi gương mặt này, đừng suy nghĩ gương mặt này là tôi, là của tôi, hãy suy nghĩ gương mặt này là lớp da, mớ thịt máu, đầu lâu, bên trong là não, là óc. Đừng suy nghĩ gương mặt này là tôi, đừng cho rằng, tưởng rằng, cảm thọ rằng gương mặt này là tôi, hãy tháo gỡ suy nghĩ đó ra khỏi suy nghĩ.

Hãy giải phá ám ảnh đó ra khỏi hình bóng trong tâm. Hãy giải trừ cảm thọ đó, giải trừ cảm thọ cho gương mặt này là tôi, là của tôi, gỡ ra, tháo ra, mổ ra, xẻ ra, giải phẫu ra, cưa não ra, cưa sọ ra, cưa sọ đầu đó ra. Đừng suy nghĩ trên gương mặt này, đừng suy nghĩ từ gương mặt này, đừng suy nghĩ gương mặt này là tôi, đừng nuôi dưỡng, đừng lưu giữ suy nghĩ đó, đừng chất chứa suy nghĩ đó, hãy giải phá, giải trừ, giải phóng, giải thoát suy nghĩ đó, giải thoát khỏi suy nghĩ cho rằng gương mặt này là tôi, là của tôi. Phá vỡ ảo ảnh, ám ảnh trong tâm mình, về gương mặt, con mắt, lỗ tai này.

Đây là Đức Thế Tôn dạy cho chúng ta cách tác ý, phá hành thủ uẩn, phá những suy nghĩ nắm giữ vào suy nghĩ của vô minh, tham ái và bản ngã.

Này các vị, đừng suy nghĩ về hình hài, sắc tướng này, về hình thể, vóc dáng này, đừng suy nghĩ từ nơi hình thể, vóc dáng này, đừng suy nghĩ rằng hình thể, vóc dáng này là tôi. Hãy suy nghĩ đây là một khối thịt bao bọc bởi lớp da và chứa đầy bên trong là những vật bất tịnh. Hãy suy nghĩ, suy tư như vậy, hãy chiêm nghiệm thật nhiều điều đó vì đó là sự thật, là chân lý, là Thánh trí, là thực tướng, bản chất, bản tánh của sắc thân này.

Này các Tỳ-kheo, đừng suy nghĩ từ nơi hình hài này, đừng suy nghĩ hình hài này là ta, là của ta. Vì hình hài này sẽ biến đổi, sẽ đổi thay, sẽ tan hoại, tan nát, tan vỡ, tan rã. Hình hài này có thể sẽ trở thành một đống bầy nhầy. Hình hài này có thể trở thành một thứ vô tri, bất động như khúc cây, có thể trở thành những đống tro tàn, những bộ xương khô. Vừa rồi, trong một khu rừng người ta phát hiện trên chiếc võng có hai bộ xương người, phải đi tìm rất nhiều mới biết ra được đó là hai cha con. Như vậy, hình hài này là mình hay bộ xương khô kia là mình? Đống thịt bầy nhầy kia là mình hay đống tro tàn, thu lượm được sau khi đem ra từ lò hỏa táng là mình? Cái nào là mình?

Này các Tỳ-kheo, sắc này là pháp đoạn diệt, pháp đoạn tận, pháp tiêu ma, hoại diệt. Này các vị, hình thể này là thứ bại hoại, là thứ biến động tiêu tan, thứ tan nát, tan rã, tan hoại, tan hoang bất cứ lúc nào và ở nơi nào, chớ có suy nghĩ hình hài này là ta, là của ta, là tự ngã của ta. Hãy loại bỏ suy nghĩ đó ra, hãy thay đổi suy nghĩ đó, chấm dứt, từ bỏ, diệt tận, tẩy sạch suy nghĩ đó.

Thật sự ngày xưa Minh Thành đọc bài kinh này thì Minh Thành không hiểu, giống như thần chú mà giờ Minh Thành đọc mới thấy là không thể tưởng tượng nổi pháp hành là phá hành thủ uẩn. Là dạy mình cách như lý tác ý:

“4-6) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không tư lường con mắt, không tư lường trên con mắt, không tư lường từ con mắt, không tư lường: "Con mắt là của ta". Vị ấy không tư lường các sắc... không tư lường nhãn thức... không tư lường nhãn xúc... Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; vị ấy không tư lường cảm thọ ấy, không tư lường: "Cảm thọ ấy là của ta"”

(Bài kinh Thích hợp 2 – Phẩm Tất Cả - Tập 4 Thiên Sáu Xứ - Tương Bộ Kinh)

Này các vị, đừng suy nghĩ lỗ tai, đừng suy nghĩ từ nơi lỗ tai này, đừng suy nghĩ trên lỗ tai này, đừng suy nghĩ lỗ tai này là tôi, là của tôi.

Tức là Đức Phật dạy mình hãy suy nghĩ con mắt này không phải là tôi, hãy suy nghĩ con mắt này không phải là của tôi. Hãy suy nghĩ lỗ tai này không phải là của tôi, không phải là tôi, phải thường xuyên nghĩ, tác ý, nhắc nhở tâm mình như vậy.

Mũi này, miệng này, hãy suy nghĩ nó không phải là mình, là của mình, nó do vô minh, khát ái cộng với nghiệp tạo thành là công cụ của ác nghiệp, là thành phẩm của vô minh và tham ái, là kết quả của tham, sân, si, bản ngã. Hãy thường xuyên nghĩ như vậy, hãy thường tác ý như vậy, hãy thường nhắc tâm mình như vậy, hãy thường dạy dỗ suy nghĩ của mình như vậy.

Các vị đừng suy nghĩ về các sắc, không có suy nghĩ trên các sắc, tư lường là suy tư và lường xét, đừng suy lường từ ở nơi các sắc pháp này. Không suy lường các sắc này là của ta. Này các vị, đừng suy nghĩ lường xét. Đừng suy nghĩ ở nơi căn nhà này, từ nơi căn nhà này, đừng suy nghĩ ở trên căn nhà này, đừng suy nghĩ căn nhà này là của tôi. Đừng suy nghĩ chiếc xe, từ chiếc xe, trên chiếc xe, đừng suy nghĩ trong chiếc xe này, đừng suy nghĩ chiếc xe này là của tôi.

Tài sản này, ruộng vườn này, những vật chất và tất cả sắc pháp này chớ có suy nghĩ nó là tôi, là của tôi.

Ba bài kinh Thích hợp trong Tương Ưng Sáu Xứ, là Đức Phật dạy cách tác ý, phá vỡ căn, trần, thức, xứ, giới, uẩn, phá sự vô minh, tham ái và chấp thủ trong thọ, tưởng, hành, thức.

Đừng suy nghĩ ngọn núi này là của ta, là chùa ta, đừng suy nghĩ chiếc áo này, đôi dép, mắt kiếng, khăn, đôi vớ này là của tôi, đừng suy nghĩ như vậy. Hãy suy nghĩ những cái đó không phải là mình, không phải của mình, hãy suy nghĩ nó là tứ đại, sắc pháp, vô thường, bại hoại, tan rã, tan nát, hủy hoại, hoại diệt, tiêu ma, diệt tận, sanh diệt pháp.

Chớ có suy nghĩ, đừng suy nghĩ căn nhà này là của tôi, một chút bất cẩn là bị đốt cháy, là mình sẽ sầu bi, khổ, ưu não, sẽ đau khổ, khóc than, bứt tóc, đấm ngực, kêu trời. Vì bản chất, bản tánh của nó là bại hoại, vô thường, vô ngã. Hãy nhắc mình, nhắc suy nghĩ của mình mãi đối với tất cả sắc pháp, sắc uẩn, sắc tướng, sắc hình, sắc chất này là thứ bại hoại, là nguyên nhân của đau khổ cho chúng sanh.

Chúng ta nhìn một đống phân chó, phân người bị ruồi bâu, kiến đậu, các con vật khác giành giựt thì huống chi là một đống vàng máu và sinh mạng như vậy các sắc là khổ đau. Này các Tỳ-kheo, sắc là khổ đau, này các Tỳ-kheo, kẻ ngu mới say đắm, người trí nào đắm say.

Đức Thế Tôn ví dụ sắc này là bốn con rắn độc, tiền vàng là rắn độc, chúng sanh vì tham lam, ham thích nên bị trúng nọc độc của hổ mang chúa, sống chết chết sống, sanh sanh tử tử, không bao giờ cùng tận. Chính là địa thủy hỏa phong giới này, đất nước gió lửa này. Là rắn nước, rắn lửa, rắn đất, rắn máy gầm (rắn gió). Bốn con rắn này đang hoành hành, chúng ta đang bệnh sốt là rắn lửa, hưng thịnh, mạnh lên. Rắn nước mạnh lên thì bệnh, rắn gió mạnh lên thì trúng gió, rắn đất mạnh lên là béo phì, ung thư, ung nhọt, ung bứu, thật là đau khổ cho chúng ta, thật là bất hạnh, tai họa cho chúng ta khi phải mang bốn con rắn độc này, phải điều hòa, điều dưỡng nó suốt ngày đêm. Nhưng bốn con này chuyên chống chọi, sát phạt nhau, trái ngược nhau như nước với lửa không hợp nhau, gió thổi lên thì còn bốc cháy hơn.

Như vậy thật là đau khổ, bất hạnh cho chúng ta khi phải mang thân bốn con rắn độc này, thật là bất hạnh cho chúng ta. Thật bất hạnh, bất an, bất trắc, bất thường, bất định, bất ổn, bất tịnh, bất an. Ngồi đây nhưng lỡ ngã ra thì phải đưa đến bệnh viện, ngã ra là có thể mất mạng. Đời sống này thật là bất an, nhỏ bé, ngắn ngủi là đời sống này.

Thật nhiều khổ đau, nhiều ưu não, thật nhiều lo lắng và sợ hãi. Khi chúng sanh đui mù, không nhìn thấy, thật là nhiều bất an, bất trắc, không lường trước được, nhiều bất thường và không như vậy hoài, nhiều bất định, không cố định, nhiều bất ổn, nhiều bất toại nguyện, muốn vậy mà không được vậy, suốt cuộc đời là sống trong bất toại nguyện. Thật là bất an, bất thường, bất trắc, bất định, bất tịnh, bất ổn.

Thật là tội nghiệp cho chúng ta, thật là đáng thương cho chúng ta. Thật là đáng xót xa cho chúng ta khi mang một thân thể có bốn con rắn độc như vậy, và suốt cuộc đời một bao máu mủ, nhiều năm khổ luyến ân tình, một đống thịt tanh cả đời tham lam tiền của.

Thật là khổ cho chúng ta. Khi không dám ho, chỉ dám ho khi đánh chuông, sợ ho phải nghe tiếng động, khổ vô cùng, đó là trực chỉ, chỉ thẳng cái khổ, trực chỉ Khổ Thánh Trí. Khổ như vậy nhưng không thấy khổ, thật tội nghiệp, thật đáng thương, hãy quán sắc này.

“Này các Tỳ-kheo, vị ấy không có tư lường các sắc, không tư lường trên các sắc, không tư lường từ các sắc, không tư lường các sắc là của ta.”

Một câu trên mà ba đại tăng kì kiếp mới nhìn thấy được. Hãy gỡ từng suy nghĩ trong tâm mình ra, đừng nghĩ đây là đẹp. Nếu nó có nghĩ thì lập tức đổi suy nghĩ, nó là vô thường, nó sẽ chết.

II. Nhàm chán – khiêm hạ

Ba bài kinh Thích hợp trong Tương Ưng Bộ Kinh tập bốn này là Đức Phật phá hành thủ uẩn đối với sáu căn, sáu trần, sáu thức, sáu xúc, sáu thọ, sáu ái, thập nhị xứ và thập bát giới.

Vừa rồi Minh Thành được bước lên hội trường lớn nhất của nước Việt Nam nhận bằng quyết định trong Ban Hoằng Pháp, Minh Thành bước lên với một dáng vẻ mà trong tâm Minh Thành an trú là một kẻ hèn hạ, ăn xin, Minh Thành không thấy một chút nào vinh hạnh, vui sướng, thật là nhiệm màu, thật là vi diệu, thật là không thể nghĩ bàn được Thánh pháp này.

Bao nhiêu người vỗ tay rầm rộ, hân hoan, vui sướng, thích thú nhưng Minh Thành nhìn trong đó thấy mình là một kẻ hèn hạ, kẻ ăn xin. Từ khi bước lên đến khi trở về vị trí ngồi lại tâm đều an trú như vậy. Thật là vi diệu, thật là thù thắng khi an trú tâm của mình là hạ liệt, ăn xin, là giẻ rách thật là dễ chịu, bình yên, dạt dào hạnh phúc khi mình khai tử giữa cuộc đời này. Mình không còn một tên tuổi gì ở trong thế giới này.

Này các Tỳ-kheo, hãy quán nhàm chán đối với tất cả thế giới, hãy quay lưng đối với tất cả sự lòe loẹt của cuộc đời này. Đừng cho bất cứ một sắc nào là tôi, là của tôi, dù là trong suy nghĩ, tư tưởng. Vị ấy không tư lường nhãn thức, không tư lường trên nhãn thức, không tư lường từ nhãn thức, không tư lường nhãn thức là của tôi.

Cái gì ở trước mắt chúng ta vậy? Chúng ta có biết con bươm bướm đó là ai đặt tên không? Ví dụ khi mình kêu đó là cây tùng, cây trúc, đây là con bươm bướm, con mèo, con chó, con trùng, con kiến… Tất cả đó chỉ là quy ước pháp của thế gian, nếu mình nhìn bằng Thánh trí, phải nhìn tất cả đó là ngũ uẩn, mình đã từng trong thân đó, ngũ uẩn con bươm bướm.

Này là sắc pháp, sắc uẩn, khi chúng ta nhìn bằng Thánh trí như vậy thì chúng ta san bằng hết tất cả mọi sự sai biệt, của nhất thiết tướng. Còn nếu chúng ta nhìn cái này là xanh, kia là trắng, nọ là đỏ, vàng, kia mập, ốm, cao, thấp, trắng đen, đẹp xấu thì chúng ta lập tức bị tham ái, chấp thủ.

Nên đây là một sự tu học sâu sắc để nhìn vào bản chất của năm uẩn, nên mới nói rằng vị ấy không suy nghĩ các sắc, không suy lường trên các sắc, không suy lường từ các sắc, không suy lường các sắc này là của ta.

Ví dụ cô kia tên là Mai, Đào hay Trúc nhưng mình cứ nhớ người tên Mai, Đào, Trúc nói xấu mình thì chừng nào mình mới hết sân? Ngũ uẩn này, nạn nhân của tham, sân, si, không có con người nào thật. Khi mình suy nghĩ như vậy thì từ từ mình sẽ quen, mình thâm nhập rồi thì mình sẽ giải phóng được cảm giác sân, vì mình không thấy có một con người thật sự đó mà mình chỉ thấy ngũ uẩn có tham, sân, si trong đó. Ngũ uẩn này cũng có tham, sân, si nên chúng ta muốn tu tiến thâm sâu thì đừng thấy có ai, phải thấy tất cả là ngũ uẩn và những đống tham, sân, si đang vận hành thì lúc đó mình mới phá được các tướng. Còn nếu mình thấy người kia là người thương, người ghét, người nọ thân sơ thì lúc sau cũng tham, sân, si.

Thấy tất cả là ngũ uẩn, đều là nạn nhân của tham, sân, si nên mẹ mình cũng không giận, con mình mình cũng thương, thương bằng tình thương của từ bi, không phải thương bằng tham ái thông thường. Chỉ khi nào chúng ta thấy pháp thì chúng ta mới vận dụng được tâm từ, thấy pháp tức là thấy ngũ uẩn, thấy tham, sân, si, vô minh, bản ngã gọi là thấy pháp. Lúc nào quên cái đó, thấy có một con người thật thì lúc đó trí huệ bị mất, phàm tình sanh khởi, Thánh trí lặn mất.

III. Dõng mãnh tu hành

Các vị mới đã ra về nên Minh Thành mới bắt đầu cho thiền quán, đây là những pháp hành nên quý vị nên nắm thật kĩ, nhớ thật vững để sau khi xuống núi lấy bảo bối này, pháp bảo này, bí quyết, lấy bùa hộ mệnh này để tu, phải tập gỡ những suy nghĩ trong tâm.

Ví dụ như khi lát mình bước ra thì đôi dép bị mất, lập tức thọ, tưởng hành sẽ sanh lên, nhưng lúc đó mình tác ý ngay là không có đôi dép nào của mình. Hay một chiếc áo, món đồ gì của mình mà lỡ mất, có ai tạm ứng thì lập tức tác ý liền là không có gì là của mình, mình phải tập cho quen, khi nó mất rồi thì mình bình thường giống như không mất, thậm chí mình còn cười, hoan hỷ, xem đây là cơ hội để cho mình bố thí, không cần đi làm từ thiện. Phải tập để không có bất cứ một sắc nào là tự ngã của mình.

Mình nghĩ, tác ý thường, nhớ tưởng thường, tư duy thường, nhận thức Thánh trí huệ đó thường xuyên thì nó sẽ trở thành thuần thục. Cho đến lúc mất đồ mình bình thản giống như không mất, có gì của mình đâu mà mất. Đây là bản thân Minh Thành trải nghiệm.

Đức Phật đã chỉ dạy trong đó nên mỗi ngày mình phải tháo con mắt này ra, mình để xuống, mỗi ngày phải gỡ lỗ tai này, xẻo mũi này bỏ xuống, mỗi ngày phải dùng dao cắt đôi môi này bỏ xuống, lột da mặt này xuống để phá thân kiến chấp thủ vào hình dáng này. Mỗi ngày mỗi giờ móc mắt ra bỏ xuống, xẻo tai, cắt mũi miệng này bỏ xuống, lột da mặt này ra, cưa hộp sọ ra, lấy não ra. Phá vỡ hoàn toàn suy nghĩ là tôi, là của tôi trong mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý này.

Hãy thường xuyên làm như vậy mới đập vỡ được đồ ngu si, vô minh, tham ái, chấp thủ này. Đó là pháp trực chỉ, không còn giấu diếm gì nữa. Như vậy mới phá luôn ở trong gốc cổ thụ ngàn năm vô lượng kiếp trong suy tư của mình. Vì làm sao mình gỡ nổi chấp ngã trong này nếu như mình không tu từng suy nghĩ như vậy?

Thật sự Minh Thành đã nói hết lòng, là tim gan, đó là phá thân kiến, phải tập thường xuyên mỗi ngày mỗi giờ, mỗi khi trên bồ đoàn phải thường xuyên làm như vậy mới chẻ được những lớp vô minh, cứng chắc còn hơn tường đồng giác sắt trong thọ, tưởng, hành, thức này.

Thật sự mỗi ngày giảng pháp Minh Thành chỉ muốn như vậy thôi, sợ chúng ta chịu không nổi nhưng Minh Thành thì rất sung sướng, hạnh phúc không diễn tả nổi. Mỗi lần thiền quán như vậy là dạt dào, sung mãn, thấm thía, giống như bừng cháy lên ngọn lửa của Thánh trí tuệ trong con người, nó chói sáng, rực sáng, chiếu sáng, tỏa sáng mỗi lần thiền quán như vậy.

Minh Thành sợ nói một lúc thì chúng ta chìm vào giấc ngủ, còn Minh Thành giờ thì không muốn nói chuyện gì ở ngoài nữa. Chuyện ở ngoài nói ngàn năm sau cũng không hết, chỉ có chuyện này quan trọng nhất, chỉ có chuyện này, nếu nói suốt ngày suốt đêm rồi ngã xuống chết ngay tại đây cũng sanh thiên. Thánh đệ tử thiên chứ không phải chư thiên bình thường, chết ngay tại chỗ khi mình đang thiền quán như vậy, tức là mình đã ly tham đối với dục giới.

Chúng ta nghĩ giờ ở đây có giảng pháp này? Minh Thành đi các nước Phật giáo trên thế giới thì làm sao phá nổi thân kiến, kiến chấp về thân, sai lầm này. Mình có thấy rằng không phải gương mặt của một con người đẹp đẽ thì người ta mới chấp thủ? Mà ngay cả một con heo mà nó cũng say đắm. Heo có heo đẹp heo xấu. Con dòi có đẹp xấu, có đam mê, dục ái trong đó, có tham ăn phân không?

Chúng ta thấy vô minh, tham ái, ngũ uẩn này như thế nào? Còn chúng ta tu mà cứ ngồi đó thở vào thở ra rồi nhắm mắt lại thì đến khi nào phá được thân kiến? Tới khi nào chúng ta chạm tới nổi vô minh, chấp ngã?

Nên khi kêu tu, tác ý gì mà trả lời là “Mệt quá, căng thẳng quá, bệnh! Muốn tu gì nhẹ nhẹ, khỏe khỏe!” Vô minh thì dày đặc, tham ái thì khủng khiếp, chấp thủ thì không còn gì để nói nhưng khi tu thì chỉ muốn “Tu nhẹ nhẹ, vừa vừa thôi, đừng tu nhiều quá, mệt lắm, căng thẳng lắm.” Chúng ta nghĩ nếu chúng ta tu nhẹ nhẹ điều điều thì làm sao có những cú kinh chấn, làm rung chuyển tất cả ngũ uẩn của mình để nó thiết lập nên một trật tự mới. Nó làm sao có một cuộc thay đổi toàn diện 180 độ, làm sao có thể xảy ra được cảm thọ đó, nếu chúng ta cứ đều đều, thường thường?

Vậy nên chúng ta nên có những cái như bom nguyên tử của Thánh trí, làm rung chuyển hết tất cả sự chắp thủ, nắm chặt, yêu thích, đam mê, làm cho nó xoay chuyển, xoay đầu chuyển não, rung rinh, chấn động kinh chấn. Nó sụp đổ hoàn toàn hệ thống vô minh, tham ái và chấp thủ đó, mới thiết lập lại được một trật tự mới của Thánh trí huệ, chúng ta nghĩ tu sơ sài, đơn giản? Cứ đều đều như vậy thì làm sao có được thay đổi lớn?

Nên thiền quán là những bom nguyên tử Thánh trí, phá vỡ hành thủ uẩn, sự nắm giữ trong suy nghĩ về tôi và của tôi, về tự ngã của tôi! Minh Thành đang khai triển ở đây là chưa hết, là vừa phải.

Nên Thánh trí huệ này làm cho chúng ta thay đổi hoàn toàn thành một con người mới, nhận thức, cuộc sống, nhìn nhận, thấy biết mới về thế giới này. Không còn thấy biết như lúc xưa nữa, thay đổi hoàn toàn. Chúng ta không còn phải nhìn người này người nọ hơn thua với nhau. Nên khi lên chùa mà người này người kia lên mắng vốn con thị phi này nọ kia thấy mệt, khó chịu, không muốn tiếp, không có tâm tu học gì.

Mình phải tập trung hết tất cả suy nghĩ, nhận thức, cảm thọ và tư tưởng của mình vào trong công cuộc thay đổi vĩ đại của thân, tâm mình.

Mình nói trong tâm mình: “Phải thay đổi! Mày phải thay đổi! Phải phá vỡ” Như sáng ngủ dậy thì phải thay đồi, phải phá vỡ vô minh, ngu si này. Nên nhắc hoài, không bao giờ quên, từng giây từng phút thì mình mới chuyển mê khai ngộ, mình mới thay đổi được con người, cảm giác, suy nghĩ, nhận thức, tư tưởng của mình là một cuộc thay đổi vĩ đại. Mình lật đổ hết tất cả những vô minh, tham ái, chấp thủ, ngu si, hơn thua, bản ngã, ganh tị, đạp đổ hết.

Hai tòa nhà xây trái phép ở Ấn Độ mấy chục mét, hàng chục ngàn phòng, người ta đặt hàng tấn thuốc nổ thì chỉ mười giây là hai tòa tháp sụp đổ. Chỉ mất mười giây mà sụp đổ hết toàn bộ chung cư trong đó. Nhưng người ta phải chất rất nhiều thuốc nổ tương ứng, tương thích, phù hợp, vừa mức, không thiếu không dư.

Cũng vậy, thuốc nổ của mình là Ba mươi bảy phẩm trợ đạo, ba tấn bảy thuốc nổ đó, có thể làm nổ được ngũ uẩn vô minh, tham ái, chấp thủ, ngu si, điên đảo, mê muội này thì phải dùng Ba mươi bảy phẩm đại Thánh trí huệ. Không phải là mình tu cứ thường thường, đều đều như vậy mãi, hay thọ mình cứ trơ trơ, bất khổ, bất lạc mãi, lâu lâu được pháp một chút là khóc khóc, cười cười một chút nhưng trở ra rồi thì đơ đơ, trơ trơ như vậy. Tu hai năm, ba năm, năm năm hay bảy năm đều giống vậy thì đến khi nào mình thay đổi lớn?

Mình phải đặt thuốc nổ, dùng bom nguyên tử của Thánh trí huệ, phá vỡ hết tất cả những suy tư sai lầm, nhận thức mê muội, cảm thọ ngu si, tham ái. Chúng ta thấy người tu đại hùng, đại lực, đại trí, đại dũng không? Không phải tu là không biết gì hết, không biết gì hơn thua ở ngoài thế gian nhưng trong tâm mình thì sắc, thọ, tưởng, hành, thức thì biết rõ, tham, sân, si, bản ngã là biết rõ.

Hôm nay như là bom nguyên tử. Vị ấy không tư lường nhãn xúc, nhãn thức, cảm thọ. Người chân tu không cho cái thấy này là của mình, là đúng, không tin vào cái thấy. Chính mình thấy sự kiện đó, nhưng cũng không vội tin trăm phần trăm vào đó, thấy đây chỉ là nhãn thức. Nên có những người đi vào bệnh viện đánh bác sĩ thì mình đừng tin vào thấy của mình, mình cho là mình thấy như vậy là đúng y như vậy, không phải vậy.

Mình thấy người nói ngọt với mình thì mình nghĩ là người đó thương, mình thấy người nói thẳng thắn với mình, có khi chỉ trích mình thì mình cho là người đó ghét thì chưa chắc là vậy. Mình nghe gì đó, nghe khen là mình mừng, nghe chê là mình buồn. Đó là mình bị nhãn thức, nhĩ thức, nhãn xúc, nhĩ xúc phong tỏa mình, vô minh phong tỏa mình.

Có câu chuyện ở trong thiền viện, vị thầy này già rồi mới đi tu, khi ngồi thiền nhưng cứ bỏ chân ra vì già lớn tuổi nên bị đau khi ngồi thiền ở thiền viện đến hai tiếng, các thầy trẻ nói sốc thầy đó, nói một câu nặng thì khi người thầy đó nghe thấy thì tức giận và từ đó về sau ngồi thiền được mà không cần phải buông chân. Câu nói nặng đó lại giúp cho người đó thành tựu.

Trong kinh Nikāya cũng có đề cập, đó là trong Tương Ưng Sáu Xứ kể về một cụ già bảy, tám mươi tuổi đến xin Đức Phật dạy pháp tu. Thế Tôn nói “Ông đã bảy, tám mươi tuổi thì ta còn nói gì cho ông nghe?” thì ông già đó xin Thế Tôn là “Con sẽ cố gắng nỗ lực tinh tấn” nên Thế Tôn mới giảng cho ông ấy nghe. Sau đó ông ấy tu chứng ngộ được Thánh quả.

Nên thường tình là mình thích nghe ngọt, nghe gì cho êm tai, mình chết thì cái thấy, cái nghe này giết mình chết, cảm giác của mình cũng vậy, như trong vô minh. Thật sự khi Minh Thành học trong dòng pháp này thì bị sốc toàn tập, tất cả những cái thấy, nghe, ngửi, nếm, cảm xúc của mình, nhận thức, giác tri của mình đều là ở trong bóng đêm, đều là sai hết, trừ khi mình thành tựu được Chánh tri kiến thì mình mới biết.

Ví dụ như ở chỗ này tất cả bóng đèn tắt, không còn một chút ánh sáng nào hết, tất cả chúng ta ở đây cùng nhau chạy, ai cũng chạy thì chuyện gì sẽ xảy ra? Thì sẽ có người đụng đầu vào cột, người đụng vào ghế, đụng đầu nhau, vấp té… Tất cả đó đều là do không thấy, không có ánh sáng.

Cũng vậy, tất cả chúng sanh hữu tình, muôn loại đều sống trong bóng đêm, nên tất cả đều sai. Như ngày trước chúng ta đã học một bài kinh Đức Phật đã nói người không thành tựu Chánh kiến thì có nghĩ điều gì, tư duy gì hay có mong ước gì, suy tính, kế hoạch, chương trình gì, tất cả những cái đó đều đưa đến bất hạnh và khổ đau. Tất cả những suy nghĩ, tính toán đó, dự định, chương trình, kế hoạch, mong đợi đó, tất cả đều đưa đến đau khổ và bất hạnh.

Đức Phật ví dụ giống như khổ qua, hạt, cây, dây của nó là lấy từ đất, nước, bao nhiêu dưỡng chất thì cũng toàn là vị đắng. Cũng vậy, chúng ta ở trong tà kiến, vì không thấy đúng, thấy sai thì nghĩ sai, nói sai, làm sai, sống sai, siêng sai, xét sai, tập trung tâm ý cũng sai. Và tất cả những cái sai đó kết quả là bất hạnh và khổ đau.

Nên mình đừng nghĩ ở ngoài đời người ta không tập trung tâm ý, nhưng người ta tập trung tâm ý rất sâu sắc. Như những người làm ăn thì người ta có tập trung tâm ý, suy xét nhiều không? Đó là người ta có chỉ và quán, nhưng đó là tà. Cần sự trầm tĩnh, suy xét, nhưng tập trung để tham, sân, si, không phải tập trung để li tham, sân, si nên gọi là tà kiến.

Nên quan trọng của chúng ta không phải là bất cứ gì hết mà quan trọng nhất là thành tựu Chánh kiến, thấy đúng với thân tâm mình, đó là quyết định hết tất cả, được cái đó thì đã hơn hết tất cả những gì trên Trái đất này. Thấy đúng tức là thấy biết của bậc Thánh.

Đó là suy nghĩ của bậc Thánh, dù mình nghe lạ, không quen hay là quen với ý ngược lại. Trừ những người tu sâu sắc, mình nghe lạ vì từ vô lượng kiếp vừa qua mình chưa được nghe. Quan trọng nhất, mục đích của nhân sinh này tức là thành tựu được Chánh kiến, thấy đúng sự thật của Đức Phật đã chứng ngộ, từ thấy biết của Phật mình đưa vào trong thấy biết của mình, suy nghĩ của Phật mình đưa vào suy nghĩ của mình, cảm thọ của Phật, các bậc Thánh thì mình đưa vào cảm thọ của mình, các pháp quán tưởng của bậc Thánh thành tựu, chỉ dạy, đạo lộ thì mình đưa vào tưởng của mình, thân tướng, oai nghi của Đức Phật thì mình đưa vào thân tướng của mình. Mình chuyển ngũ uẩn này, phàm phu này thành ra Thánh hạnh của Đức Phật và các bậc hiền thánh, như vậy là tu thành tựu.

Cả một quá trình nhận diện, thay đổi, tu tập là về ngũ uẩn. Nên mỗi ngày chúng ta lên ngồi là để tác ý, ngày nào chúng ta cũng lên ngồi hai tiếng đồng hồ thì hai tiếng đó tối thiểu cũng được là ánh sáng, không có bóng đêm.

Nên nhớ suy nghĩ những gì nãy giờ chúng ta nói, đừng quên, nếu quên là khổ.

Khi nào những suy nghĩ này ăn sâu vào trong con người của mình, vào trong tâm thọ, tưởng, hành, thức của mình, nó được an trú, tồn tại, vững chắc, vững mạnh trong đó, thì lúc đó chúng ta đã vào được vòng trí huệ.

Những suy nghĩ nãy giờ an trú luôn trong suy nghĩ của mình, không mất nữa, lúc nào mình cũng nhìn thấy vậy thì lúc đó đã Nhập Lưu.

IV. Các pháp quán tưởng

Tiếp theo, Đức Phật nói về cảm thọ, về ý:

“Này các Tỷ-kheo, tư lường cái gì, tư lường trên cái gì, tư lường từ cái gì, tư lường cái gì là của ta, từ đấy cái ấy bị đổi khác. Ý tựa trên đổi khác, bám víu vào tái sanh, thế giới ưa thích tái sanh.”

(Bài kinh Thích hợp 1 – Phẩm Tất Cả - Tập 4 Thiên Sáu Xứ - Tương Bộ Kinh)

Tức Đức Phật nói bất cứ mình suy nghĩ cái gì là của mình như mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, thức, xúc, cảm thọ… Trong những pháp đó mình suy nghĩ cái gì là của mình thì tới khi cái đó đổi khác, thì “Ý tựa trên đổi khác, bám víu vào tái sanh, thế giới ưa thích tái sanh.”

Chỉ một bài kinh nhưng trí huệ rất cao siêu, tiến sĩ nhưng không viết luận án nổi về bài kinh nãy giờ mình đọc, nếu không có bậc đã thành tựu, chỉ dạy cho mình thì không thể nào mình hiểu nổi. Bất cứ tâm ý của mình suy nghĩ về cái gì cho là của nó thì cái đó sẽ bị đổi khác, đổi khác thì sẽ khổ đau. Người kia lúc trước thương mình, giờ người đó không còn thương nữa, vậy có khổ không?

Người đó trước nay họ rất thân với mình, giờ thì họ không thèm nhìn mình nữa thì xót xa, đau đớn không? Món đồ đó là món mình quý lắm, giờ không còn nữa vì ngũ uẩn đã lấy đi mất thì mình đau khổ, vì mình nghĩ cái đó là của mình. Nên “ý tựa trên đổi khác, bám víu vào tái sanh, thế giới ưa thích tái sanh” tức là ý của mình dựa trên những đổi khác “Chết rồi, mình bị mất rồi, mình không còn được thương yêu nữa, mình bị ghét rồi! Nó không còn là của mình nữa, bị người ta lấy đi rồi”. Đó là ý dựa trên đổi khác, ý ở đây được hiểu là thọ, tưởng, hành, thức. Tất cả những cảm thọ, suy nghĩ, hình bóng, bóng dáng, nhận thức đó dựa vào những đối tượng mà nó cho là của nó, thì đó gọi là ý dựa trên đổi khác, bám víu vào tái sanh.

Khi thân mình sắp chết thì tâm ý quá đau khổ “Mất mình rồi, mình sắp sửa mất rồi, mình sắp sửa chết rồi!” Ý tựa đổi khác, bám víu vào tái sanh là mong muốn tìm một cái mới, là sanh lại. Trong này là một sự dục, ái, tham, muốn tìm một thân mới, đã mất, chết, tan rã, làm sao để tìm cái nào mới, ý dựa vào tái sanh. Còn đối với bậc Đa văn Thánh đệ tử thì ngay lúc đó quán về gì? Vô thường, không, vô ngã, từ bỏ. Đó là bí kíp mà Minh Thành đã nói nhiều lần.

Ngay lúc đó là quán từ bỏ, quán chấm dứt, quán đoạn tận, quán đoạn diệt là không tiếp tục ý niệm tái sanh nữa. Như vậy mới lên được tịnh cư thiên hoặc ít nhất là những cảnh thiên cao hơn cảnh dục giới này, còn yêu thích nó thì tìm kiếm thân xác giống vậy, nếu phước nghiệp tương ưng. Nên lúc đó phải quán từ bỏ, khi mình sắp chết.

Ví như khi mình đi trong rừng, bị lạc đường, một mình, trời mưa rất lớn, lúc đó quán từ bỏ, muốn bỏ thành bộ xương khô ở ngay chỗ đó. Quán một lúc sau thì tự dưng thấy khỏe lại. Nếu như lúc đó đi luôn thì đã khỏe, giờ này không ngồi ở đây nữa. Quán từ bỏ thì tự dưng không còn thấy mệt mỏi, lo sợ gì nữa vì mình lo, Đức Phật nói trong pháp cú là

“Do ái sanh ra lo,

Do ái sanh ra sợ,

Nếu tâm lìa tham ái,

Đâu còn lo, không có sợ.”

(Kinh Pháp Cú)

Ái là do mình yêu thích tấm thân này “Mình bệnh rồi, mình lạc rồi, giờ chắc mình chết, lát chắc mình tiêu tan quá!” Vậy là mình sợ, vì yêu thích thân này nên mình lo, mình sợ, khi mình không còn yêu thích thân này nữa thì không lo, không sợ.

Nhân ái sanh ưu,

Nhân ái sanh bố,

Vượt ly ưu ái,

Hà ưu hà bố,

Ý nói vì ái mà lo, vì ái mà sợ, nếu lìa tham ái, đâu lo, đâu sợ. Đó là pháp cú Hán Tạng, bản chữ Hán. Chữ ái này sâu, rộng, trùm khắp, yêu tự ngã, thân mình. Ví dụ mọi khi mình ngồi thiền một tiếng nhưng hôm nay thầy cho ngồi một tiếng rưỡi, mình ngồi đó mình cứ lên đồng, lắc qua lắc lại, bực bội, khó chịu, tự hỏi “Sao ông ấy khó chịu, ngủ gục hay ông ấy quên”.

Như vậy là mình ái thân này chứ mình không quý pháp, còn nếu mình quý pháp thì hôm nay làm bài tập, làm bài thi nên “Quán từ bỏ mày luôn, mày đau kệ mày, ta từ bỏ mày luôn, trở chân kệ. Đau thì trở chân chút thì có gì đâu. Tập thử xem có chết không. Nếu chết được trên bồ đoàn là niềm hạnh phúc tối thượng nhất trước khi chết.”

Có ai từng chết trên bồ đoàn không? Hay du lịch chết, đánh lộn chết, đua xe chết hay đánh bài thua, tự tử chết? Nếu mình chết trên bồ đoàn thì đăng bảng lên tới trên ba tầng tam thập, tam thiên, chư thiên cũng vỗ tay, rải hoa cúng dường. Chết trên bồ đoàn là niềm vinh hạnh nhất hành tinh, nhất trên tam giới này.

Nên ngày hôm qua thầy Thiện Huệ trình pháp “Đang ngồi nghe pháp ở đây thì con muốn được chết ngay tại chỗ này.” Thật sự như vậy là tốt vì mình an trú tâm mình trong pháp mà mình ra đi thì mình tuyệt diệu lắm. Vậy nên đừng sợ, lúc đó mình quán từ bỏ, đọc bài kinh này.

Mắt này không phải tôi, không phải của tôi, tai này không phải tôi, không phải của tôi, mũi này, miệng này không phải tôi, không phải của tôi. Gương mặt này không phải tôi, không phải của tôi, hình hài này không phải tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi.

Khi mình ráp vào chữ đó, vào chữ vô thường, vào khổ đau, mình cứ ráp vào hoài thì nó trở thành bài thiền quán trong suốt buổi thiền của mình, mình cứ luân phiên mắt, tai, mũi, lưỡi, thân ý. Một nhóm thứ nhất vô thường, nhóm thứ hai là khổ đau như “Mắt này là khổ đau, tai này là khổ đau, mũi này là khổ đau, lưỡi, thân này là khổ đau”, rồi mình ráp vào vô ngã, trống rỗng, sau đó ráp vào phiền não “Mắt này là phiền não, lỗ tai này là phiền não…” Mình ráp vào thêm nữa là đoạn diệt, tan nát, hủy hoại, hoại diệt thì có thể kéo dài cả tiếng. Mình cứ ngồi niệm hoài như vậy, “Mày chết thì ta cho mày chết luôn, ta cho mày chết. Mày đã chết vô lượng vô biên kiếp vì tham, sân, si, dục ái rồi mà bây giờ mày chết được vì Thánh trí huệ này thì ta tuyên dương mày. Chết đi.” Vậy thì nó sợ, hết đau, khỏe lại.

Nên quán từ bỏ xong thì trong rừng đang đi thì tìm được hướng đi về, vì cây cối, mưa bão rất lớn, lạc đường, đường lầy lội. Cứ đi đi nhưng bỗng nhiên sau lưng có người chạm tay vào vai thì giật mình quay sang, người đó dẫn đường cho mình đi. Mình cứ nghĩ là ma nhưng đó là người ta đến dẫn đường.

Nhưng cũng không thấy thích thú, khoan khoái vì được dẫn dường là vui, mà tâm nhẹ nhẹ, không ham thích sống, không cầu mong tái sanh, thôi chào biệt luân hồi, chào bi, khổ, ưu, não. Như lên ngồi mà nghe ở dưới ho ho, bụm miệng và mặt thảm, thấy cũng khổ, nên lên ngồi cảm thọ cũng khổ dùm người ta, nhìn thấy khổ không, thật sự mình quán khổ, đúng lúc mình quán khổ.

Hơn nửa diện tích của châu Âu là hạn hán, Ấn Độ là một trong các nước sản xuất nông nghiệp hàng đầu thế giới nhưng giờ lại thiếu hụt lúa gạo, chết đói sắp tới vì nạn đói khủng khiếp chưa từng có. Hạn hán này giờ trên toàn cầu báo động là hơn năm trăm năm qua mới có một lần, giờ hạn hán trên toàn cầu, ở Châu Âu có trường hợp chết người, Trung Quốc, Mỹ, các nước Đông Nam Á… Hạn hán, lũ lụt, động đất ở Kon Tum, một ngày có bảy, tám, hay hàng chục trận động đất chưa từng có, hàng trăm năm qua, lan qua cả miền Trung.

Nên giờ những cái trước nay mình chưa thấy, chưa nghe, chưa cảm thọ mà giờ lại có thì giờ mình nghĩ là tới thời kì biến hoại của Trái đất, thành trụ hoại không, đến kiếp hoại của nó. Nếu mình không nỗ lực tu thì không biết đến bao giờ. Nạn đói sắp tới rất khủng khiếp, bây giờ có hàng mấy trăm triệu người đói và con số nhiễm dịch bệnh là khoảng sáu trăm triệu, đó là con số báo cáo, còn những người không báo cáo thì lên đến hàng tỉ.

Thật sự kinh hoàng, khiếp đảm, đáng sợ hãi vì tâm nắm giữ mê lầm, ham thích nên mình không bỏ được, vì giờ buông hết lên núi tu là tối thượng thừa. Nên ngồi có mặt ở đây là thông minh, không thông minh thì không thể ngồi ở đây được, trên cả thông minh.

Thật sự đáng báo động, nên Minh Thành đã có những suy nghĩ sắp tới có thể không giảng pháp được, không tu được, không phải là bình thường nên Minh Thành mới thủ ở trong rừng, không phải là bình thường. Những mầm móng của chiến tranh nổ ra ở khắp mọi nơi, đang, đã hay sẽ chiến tranh, con người thì đầy rẫy những tham vọng, dục vọng, sân hận ác độc, bản ngã.

Như những vụ án chết người mà chúng ta không thể ngờ hay tưởng tượng nổi. Gần đây, có những chuyện lạ kì, lạ lùng, chỉ nói qua nói lại hai ba câu những chuyện không đáng gì nhưng bóp còi xe xin qua mặt nhưng không cho thì nhảy xuống đòi đâm người ta. Nên các ác pháp đang bùng cháy, bốc cháy, như dùng từ quả cầu lửa, địa cầu này sẽ bốc cháy mà chúng ta phải nhìn thấy trước, đừng đợi tới lúc chạy không kịp. Phải nhìn thấy trước. Như Minh Thành đã thủ một cái am trong rừng, đây là Minh Thành học trong kinh Nikāya, mười tám năm trước Minh Thành đã nhìn ra những điều này nên mới lên trên đây. Không phải tới giờ này.

Sắp tới đây những ác nghiệp của chúng sanh sẽ kinh hoàng hơn nữa, bất cứ cầm cái gì cũng thành vũ khí giết người, trong kinh từng nói như vậy, đi đâu người ta kéo lên thì bên trong là dao, kim chích bên trong, trong xe thì lúc nào cũng sẵn mã tấu bên trong đó, khi đi đem theo những thứ đó để làm gì? Hay đứa trẻ chỉ mới mười bốn tuổi đã làm thủ lĩnh cho cả chục đứa khác đi cầm mã tấu, gậy gộc đi đâm chém người ta.

V. Tinh cần

Những điều này Minh Thành đều xem là kinh Nikāya sống của thế kỉ này, để mình ráng cố gắng tu học, để có tâm viễn ly, tâm rời xa, thoát ra, từ bỏ. Mình không có tâm từ bỏ thì mình sẽ rất khổ đau, khi nào nó đến thì mình chịu không nổi.

Minh Thành làm những nhà rộng rãi cũng là tính trước, sợ rằng sau này người về tu sẽ không đủ chỗ vì người ta khổ quá. Nên chết trước đặng mồ đặng mã, chết sau rã thây thi, tu trước thì được an toàn, tu sau là không kịp. Trong bài kinh này Đức Phật nói năm điều không hợp thời để cho mình tu, chúng ta nghe bài này để lấy làm động lực để nỗ lực tu. Trong Tăng Chi Bộ Kinh tập 3, bài kinh Thời gian để tinh cần, tức là thời gian nào để cho mình nỗ lực, tinh tấn để mình tu.

“1.- Có năm phi thời để tinh cần, này các Tỷ- kheo. Thế nào là năm?”

Phi thời để tinh cần là năm lúc không thích hợp để cho mình nỗ lực tu tập được.

“2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo già yếu, bị già chinh phục. Này các Tỷ-kheo, đây là phi thời thứ nhất để tinh cần.”

Ở đây cũng có một số người, đến giờ này mà không nỗ lực nữa thì tới giờ nào mới làm được?

“3. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo bệnh hoạn, bị bệnh hoạn chinh phục. Này các Tỷ- kheo, đây là phi thời thứ hai để tinh cần.”

Khi bị bệnh rất khó tu, khỏe ngồi một chút là mệt, đừng nói chi là bệnh, khi bệnh thì chỉ lo cảm thọ trong thân, đau chỗ này, nhức chỗ kia, mệt mỏi, không thọ pháp được. Ở trên quán tâm hỷ nhưng ở dưới mặt không biểu cảm hoặc suy nghĩ “Nhanh nhanh để về ngủ!”

Nên đó là thọ thân ảnh hưởng qua thọ tâm, làm cho người nào có thọ tâm mạnh thì mới chế ngự được thọ thân, vượt qua được thọ thân, đó là người tu tập mạnh, người tinh thần mạnh, tâm hùng lực mới làm được, tâm yếu yếu sẽ gục ngã. Nên đó là phi thời thứ hai.

“4. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, khi có nạn đói, mất mùa, đồ ăn khất thực khó được, không dễ gì để nuôi sống bằng khất thực nỗ lực. Này các Tỷ- kheo, đây là thời gian phi thời thứ ba để tinh cần.”

Tức là không dễ gì mình sống được dù cho mình có cố gắng nỗ lực đi ăn xin thì cũng không có đồ ăn, vì người ta còn không đủ cái ăn nên làm sao người ta cho mình, người ta cúng. Như vậy là phi thời thứ ba để tinh cần tinh tấn tu tập, là nạn đói mất mùa, đồ ăn khất thực khó được. Điều này cũng có thể sắp xảy ra, đang xảy ra trên toàn cầu như Ấn Độ thì nạn đói hoành hành, các nước như Pakistan, hay ở Srilanka thì có bốn người hết ba người đói. Ở đây chúng ta từng cúng dường cho các sư bên đó, Minh Thành cũng chỉ âm thầm làm, lúc trước cũng có cúng dường cho một vị Tam tạng pháp sư đang nằm bệnh viện, rất nặng, bệnh ung thư. Sau đó thì Ngài đã viên mãn, mãn phần. Sau đó là cúng dường cho các vị sư trong các thiền viện.

Nên nạn đói mất mùa nhưng khất thực khì khó được thì lúc đó đói làm sao tu? Nói chung cho người cư sĩ luôn thì đói làm sao tu? Giờ gạo cũng không đủ ăn. Mình nhớ lại trận dịch bệnh ở Sài Gòn không? Có thấy khủng khiếp, kinh hoàng không? Những điều đó mình nghĩ là chỉ có trong phim thôi, không có thật, nhưng bây giờ chính mình chứng kiến, nhưng qua rồi thì mình cũng quên. Đó là tâm vô minh, tâm mê của mình, ngay sau đó nó sợ nhưng xong rồi thì nó cũng đi tìm dục lạc, cũng hưởng thụ, không nhớ tu, không nỗ lực để tu, nghĩ rằng cái đó không bao giờ tái diễn lại, nhưng không phải vậy. Mất mùa, nạn đói đang khắp hết toàn cầu.

Bây giờ những dòng sông ở Trung Quốc ở châu Âu hay Ấn Độ, là bị khô tới đáy, những ngôi chùa, tượng đá Phật cổ hàng ngàn năm trước lộ ra. Như trong bài kinh Bảy mặt trời, Đức Phật nói: nước sẽ khô xuống từ từ, lúc đầu là tới đầu người, sau đó tới vai, sau đó tới eo, tới đầu gối, mắc cá, cuối cùng là giống như một ít nước trong dấu chân của con trâu. Đức Phật mới nói là mặt trời thứ hai xuất hiện, mặt trời thứ ba xuất hiện. Chưa có mặt trời thứ hai xuất hiện mà đã như vậy thì các dòng sông lớn nhất, dài nhất, rộng nhất của Trung Quốc giờ đang bị khô cạn, cạn kiệt, có những dòng sông thấy đáy, bị nứt từng mảng.

Trong nước mình thì có những mảnh ruộng gieo mạ xuống hai ba lần cũng không lên, bị ngập mặn nên chúng ta phải biết là khi bị mất mùa, nạn đói thì không thích hợp để tu hành, đã đang và sẽ xảy ra.

“5. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, có sự sợ hãi về giặc cướp rừng, dân chúng trong nước leo lên xe đi trốn. Này các Tỷ-kheo, đây là phi thời thứ tư để tinh cần.”

Nói rộng nghĩa là chiến tranh, giặt cướp không phù hợp để tu.

“6. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, chúng Tăng bị chia rẽ. Khi chúng Tăng bị chia rẽ, này các Tỷ-kheo, có sự mắng nhiếc lẫn nhau, có sự đấu khẩu lẫn nhau, có sự kết tội lẫn nhau, có sự tẩn xuất lẫn nhau. Ai không có tịnh tín, không tìm được tịnh tín, và những ai có tịnh tín có thể đổi khác. Này các Tỷ-kheo, đây là phi thời thứ năm để tinh cần.”

Là chúng tăng bị chia rẽ, người tu không còn hòa hợp với nhau nữa. Chúng ta thấy đó là không phù hợp để cho mình tu.

“Các pháp này, này các Tỷ-kheo, là năm phi thời để tinh cần.”

“7. Này các Tỷ-kheo, có năm đúng thời này để tinh cần. Thế nào là năm?

8. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo còn trẻ, niên thiếu, còn thanh niên, tóc đen nhánh, trong tuổi thanh xuân, trong sơ kỳ tuổi đời. Này các Tỷ- kheo, đây là đúng thời thứ nhất để tinh cần.”

Chúng ta nhớ Thái Tử khi đi xuất gia là khi bao nhiêu tuổi?

“9. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ít bệnh, ít não, sự tiêu hóa được điều hòa, không quá lạnh, không quá nóng, trung bình, hợp với tinh tấn. Này các Tỷ-kheo, đây là đúng thời thứ hai để tinh cần.

10. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, khi ăn uống được đấy đủ, được mùa, đồ ăn khất thực kiếm được thật dễ dàng để nuôi sống bằng khất thực nỗ lực. Này các Tỷ-kheo, đây là đúng thời thứ ba để tinh cần.

11. Lại nữa, này các Tỷ kheo, các Thầy sống với nhau thuận hoà, thân hữu, không cãi lộn nhau, hoà hợp như nước với sữa, nhìn nhau với cặp mắt ái kính. Này các Tỷ kheo, đây là đúng thời thứ tư để tinh cần.

12. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, chúng Tăng hoà hợp, cùng nhau hòa hợp, không tranh luận nhau, sống thoải mái cùng chung một lời dạy. Này các Tỷ-kheo, giữa chúng Tăng hòa hợp, không có mắng nhiếc lẫn nhau, không có kết tội lẫn nhau, không có sự tẩn xuất lẫn nhau. Ở đây, những ai không có tịnh tín, tìm được tịnh tín, những ai có tịnh tín, được tăng trưởng nhiều hơn. Này các Tỷ-kheo, đây là đúng thời thứ năm để tinh cần.

Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là năm đúng thời để tinh cần.

(Bài kinh Thời gian để tinh cần, VI. Phẩm Triền Cái – Chương Năm Pháp – Kinh Tăng Chi Bộ Kinh tập 2)

“Những ai không có tịnh tín, tìm được tịnh tín, những ai có tịnh tín, được tăng trưởng nhiều hơn. Này các Tỷ-kheo, đây là đúng thời thứ năm để tinh cần.” Ý nói những ai không có niềm tin trong sạch, thanh tịnh thì được niềm tin, những ai đã được niềm tin thì niềm tin tăng trưởng, lớn mạnh lên thêm. Đây là năm thời điểm thích hợp để tinh cần tinh tấn tu học.

Chúng ta nên nhớ câu đặc biệt này “chúng Tăng hoà hợp, cùng nhau hòa hợp, không tranh luận nhau, sống thoải mái cùng chung một lời dạy” Cùng chung một lời dạy của Chánh pháp.

Có thấy mình đang được hạnh phúc, phước báu, an lạc không?

Tâm thương này tỏa rộng,

Cùng khắp thế giới này,

Tâm thương này tỏa rộng,

Khắp trời đất bao la.