Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Xả Vô Lượng Tâm 8A

2026-03-03 00:53:25
TINH HOA NIKĀYA

GIẢNG GIẢI BÀI THIỀN QUÁN

XẢ VÔ LƯỢNG TÂM 8A

– Thích Minh Thành–

Đảnh lễ Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác.

Đảnh lễ bốn Thánh trí đưa đến ly tham giải thoát.

Đảnh lễ bốn đôi tám chúng hiền Thánh Tăng là ruộng phước vô thượng ở trên đời.

Kính bạch quý thầy, quý cô và toàn thể đại chúng, hôm nay là buổi thứ tám về bài thiền quán xả vô lượng tâm, chúng ta qua phần xả bỏ chấp thân.

Vì tâm bị u tối

Người này làm khổ ta

Ta cũng vì u tối

Làm khổ lại người này.

Vì tâm bị u tối

Người này làm khổ ta

Ta cũng vì u tối

Làm khổ chúng sanh khác.

Vì không hiểu năm uẩn

Ta và các hữu tình

Chìm nổi trong sanh tử

Và làm khổ lẫn nhau.

Khổ vậy là đủ rồi

Khổ vậy là vừa rồi

Ta cùng nhau dừng lại

Những hành động khổ đau.

Ta cùng nhau nhìn lại

Bản chất cái thân này

Ta cùng nhau nhìn lại

Cái bày trò khổ đau.

Ở đây chúng ta qua phần Khổ Thánh Đế, Khổ Thánh Trí. Nguyên nhân đầu tiên nói về vô minh, vì tâm bị u tối nên người này mới làm khổ ta, ta cũng bị u tối nên làm khổ lại người này, phần thiền quán này rất sâu sắc, tuy rằng chủ đề là xả bỏ chấp thân nhưng vào bài không nói đến thân mà nói cái khổ. Cái khổ từ tâm u tối tức là vô minh, chúng ta sẽ thấy lần lượt để đi vào khổ, khổ tập, nguyên nhân của khổ, sau đó mới tìm hiểu vào cái đang bày trò khổ đau, tức là căn cứ của khổ chứ vào bài không nói đến thân ngay mà nói cái khổ và nguyên nhân của khổ. Nguyên nhân là do tâm bị u tối, chúng ta phải thường quán chiếu chúng ta đang ở trong bóng đêm, hôm qua chúng ta học "ta là kẻ tội lỗi", hôm nay chúng ta có thêm phép quán thứ hai là "ta ở trong bóng đêm", chúng ta thường nhắc nhở mắt thì mù, tâm thì mê, bên ngoài là trời đêm mù mịt, quờ quạng không có trăng, không có đèn, không có lửa, vì thế chúng ta thường hay nhắc lại câu "thương thay tâm mờ tối, chúng sanh đáng thương thay". Mình phải luôn nhắc nhở bản thân đang ở trong trạng thái của tâm u tối, mình không biết cái nào nên làm cái nào không nên làm, cái nào nên nói cái nào không nên nói, cái nào nên nghĩ cái nào không nên nghĩ, mình không biện biệt trạch pháp giác chi được, dù cho có học có biết phần nào nhưng khi đi vào thực tế, khi pháp sanh khởi ra mình vẫn không đủ trí nhận biết. Vì tăm bị u tối nên họ làm khổ ta mà họ không biết vì bị vô minh, họ bị mù, ta cũng vì u tối làm khổ cho họ mà ta cũng không biết vì vô minh. Vì tăm u tối nên cha làm khổ con, mẹ làm khổ cho con, vợ làm khổ chồng, anh làm khổ em, thầy làm khổ trò, huynh đệ làm khổ nhau, người tu làm khổ Phật tử, Phật tử làm khổ người tu vì tâm u tối, ví dụ nhà người ta đang khổ đau, thiếu thốn, suy sụp tài chánh, người ta đến chùa tìm sự bình an mà mình nói chùa đang cần làm này làm kia, vậy có khổ không? Họ quá khổ nên mới tìm đến chỗ nương nhờ cho bớt khổ vậy mà nghe thế thì họ hết chỗ bám víu, người nói cũng không biết tâm tư, hoàn cảnh của người nghe, đối với huynh đệ, thầy trò, anh em cũng vậy, người ta đang suy sụp tinh thần nên cần tình thương, sự quan tâm, chia sẻ thì mình lại xát muối vào vết thương, đổ dầu vào lửa, cho nên "tâm bị u tối người này làm khổ ta, ta cũng vì u tối làm khổ lại người này", mình phải cố gắng hết sức giúp cho người ta tu học vì chỉ có pháp mới cứu khổ thật sự, ngoài pháp ra trên đời này không có cái thứ hai cứu khổ được. Bây giờ nếu chúng ta không nghe pháp thì làm cái gì? Đang dịch bệnh chỉ có ở nhà ăn, ngủ, lướt web, xem tivi. Vì thế do tâm u tối nên chúng ta nói trong u tối, làm trong u tối, suy nghĩ trong u tối, hình ảnh người mù quờ quạng đi trúng cái này trúng cái kia, làm bể cái nọ, đó là hình ảnh của chúng ta, tâm bị u tối làm khổ chính mình rồi mình làm khổ người khác, tất cả là do vô minh, tâm u tối, vì thế cần cẩn thận trong suy nghĩ, lời nói, hành động, đừng vội vàng đáp trả, phản ứng hay quyết định mà phải trầm ngâm, suy tư, quán sát tới lui nhiều lần rồi hãy quyết định, quyết định trong u ám, trong cái dục, thói quen hoặc trong cái nghiệp sẽ làm đổ bể hết mọi thứ, làm khổ cả hai, vì không thấy khổ nên không cẩn thận, dè chừng, không thấy nguy hiểm, không thấy tâm âm u, u ám nên cứ nghĩ tâm trong sáng nên mình không sợ, còn người thấy tâm u ám sẽ cẩn thận vì sợ quyết định sai. Trước khi đi phải cầm theo đèn mới đi, còn đi liều mạng, không cần đèn nên cứ việc đi rồi vấp té, trơn trượt cuối cùng rơi xuống vực sâu.

Vì tâm bị u tối

Người này làm khổ ta

Ta cũng vì u tối

Làm khổ chúng sanh khác.

Khi nãy là nói hai người còn giờ là nói rộng ra chúng sanh khác. Cái khổ có rất nhiều hình thái khác nhau chứ không chỉ là làm cho người đó có những khổ thọ, khó chịu mới là khổ, làm cho họ có lạc thọ nhưng vẫn là làm hại người ta. Ví dụ các cô phát tâm cúng dường thức ăn, ngày nào cũng xuống bếp nấu đồ ngon phong phú đãi quý thầy, đó là vui nhưng thực ra là khổ vì làm mất thời gian tu học, làm vô minh, tham ái đối với thức ăn tăng trưởng, thân nặng nề, tâm trì trệ, thành ra cái khổ không phải chỉ có khổ thọ mà lạc thọ cũng khổ, không phải khổ là chỉ có cảm giác khổ thọ mà cả ba loại cảm giác lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ đều là khổ. Chỗ mình ở sắp có động đất mà trong nhà đang đãi tiệc ăn chơi ca hát thì khổ hay vui? Nói vui không thì chưa đủ, trí tuệ này cần nhìn nhiều phương diện khía cạnh chứ không phải chỉ có một mặt, nhìn một mặt là vô minh, họ vui đó nhưng sẽ khổ nhanh thôi vì động đất sụp đổ mọi thứ. Bây giờ không ăn chơi, nhậu nhẹt, ca hát mà chỉ có cảm giác bình thường, đều đều của bất khổ bất lạc thì khổ hay vui? Cái bình thường này cũng khổ. Người còn lại biết lo lắng, biết chuẩn bị động đất, sạt lở nên họ lấy đồ quan trọng chạy ra trước, đó là người trí ở trong các tầng Thánh quả, người thường tác ý như vậy là xuất ly, viễn ly, còn mình đang tu nên vẫn còn lẫn lộn giữa trạng thái không khổ không vui, cứ đều đều. Hai cảm giác lạc thọ và khổ thọ là do tâm bị u tối, không biết mình đang khổ.

Vì không hiểu năm uẩn

Ta và các hữu tình

Chìm nổi trong sanh tử

Và làm khổ lẫn nhau.

Không thành tựu chánh kiến trí tuệ thì chỉ toàn làm khổ lẫn nhau, cứ hành tội, hành hạ lẫn nhau, nói ra câu nào cũng thấy gai góc, dao búa, móc nhau trong câu nói đó. Mình không thể đến nhà thế tục ở lâu được, vì lý do công việc phải ở chứ không thể ở lâu vì vào trong đó như lò lửa, thậm chí mình về nhà mình cũng vậy, nói vài ba câu là cự cãi, giận hờn, làm khổ nhau, chúng ta làm khổ mình, làm khổ người, làm khổ hữu tình chúng sanh. Cho nên bài thiền quán này tóm thâu tinh hoa Nikāya, Tứ Thánh Đế, Tứ Thánh trí, Thánh Đạo đều có trong bài này, phơi bày ra mọi thứ. Ví dụ có người đến tu, ông thầy thì thương đệ tử nên động viên cố gắng học để làm này làm kia, trở thành vị trụ trì. Đối với kẻ vô văn thành phu không thành tựu chánh kiến thì cái đó là ân, nghĩa, tình, sống chết với những thứ đó, nhưng đối với bậc chân nhân, bậc chánh kiến cái đó chỉ là phàm phu pháp, không hề liên hệ gì cả vì thế mới nói chánh pháp khó nghe, khó gặp. Cái ví dụ đó bình thường là rất tốt nhưng đối với chánh pháp thì không, phải làm sao hướng dẫn cho người bỏ hết tất cả ngoài đời để đi tu thành tựu được trí tuệ xả dục ly tham, nhiếp phục và đoạn tận dục tham đối với năm uẩn, làm sao phải hướng dẫn cho họ thành tựu được tri kiến thôi đã là thành công chứ không cần nói đến chứng đắc, nhận định về sự tu là như vậy đã là thiên nan vạn nan, người thầy tâm mờ tối sẽ làm khổ cho học trò của mình, rồi học trò tâm mờ tối sẽ làm khổ cho thầy mình, huynh đệ tỉ muội tâm mờ tối sẽ làm khổ cho nhau, người Phật tử đi đến thầy không thành tựu chánh kiến, không thấy đúng về pháp thì người thầy đó sẽ hướng dẫn sai hết, tất cả đều ở trong bóng đêm cho nên Đức Phật nói nghe được đúng chánh pháp là cái nghe tối thượng.

"- Này các Tỳ-kheo, có sáu pháp vô thượng này. Thế nào là sáu?

Thấy vô thượng, nghe vô thượng, lợi đắc vô thượng, học tập vô thượng, phục vụ vô thượng, tùy niệm vô thượng. Và này các Tỳ-kheo, thế nào là thấy vô thượng?

Ở đây, này các Tỳ-kheo, có người đi xem voi báu, đi xem ngựa báu, đi xem châu báu, hay đi xem các vật lớn nhỏ, hay đi xem Sa-môn, hay Bà-la-môn có tà kiến, có tà hạnh. Này các Tỳ-kheo, đây có phải là thấy không? Ta nói rằng: 'Ðây là không thấy'. Sự thấy ấy, này các Tỳ-kheo, là hạ liệt, là hèn hạ, là phàm phu, không xứng Thánh hạnh, không liên hệ đến mục đích, không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Này các Tỳ-kheo, ai đi yết kiến Thế Tôn hay đệ tử Thế Tôn, với lòng tin an trú, với lòng ái mộ an trú, nhứt hướng thuần tín, thời này các Tỳ-kheo, đây là thấy vô thượng, đưa đến thanh tịnh cho các loài chúng sanh, vượt qua sầu bi, chấm dứt khổ ưu, đạt được chánh lý, chứng ngộ Niết-bàn, tức là đi yết kiến Như Lai hay đệ tử Như Lai, với lòng tin an trú, với lòng ái mộ an trú, nhứt hướng thuần tín. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là thấy vô thượng, đây là thấy vô thượng. Còn nghe vô thượng là gì?

Ở đây, này các Tỳ-kheo, có người đi nghe tiếng trống, đi nghe tiếng sáo, đi nghe tiếng ca, hay đi nghe tiếng cao thấp khác nhau, hay đi nghe pháp các Sa-môn hay Bà-la-môn có tà kiến, tà hạnh. Này các Tỳ-kheo, đây có phải là nghe không? Ta nói rằng: 'Ðây là không nghe'. Sự nghe ấy, này các Tỳ-kheo, là hạ liệt, là hèn hạ, là phàm phu, không xứng Thánh hạnh, không liên hệ đến mục đích, không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Này các Tỳ-kheo, ai đi đến để nghe pháp của Như Lai hay của đệ tử Như Lai, với lòng tin an trú, với lòng ái mộ an trú, nhứt hướng thuần tín, thời này các Tỳ-kheo, đây là sự nghe vô thượng, đưa đến thanh tịnh cho các loài chúng sanh, vượt qua sầu bi, chấm dứt khổ ưu, đạt được chánh lý, chứng ngộ Niết-bàn, tức là đi nghe pháp của Như Lai hay của đệ tử Như Lai, với lòng tin an trú, với lòng ái mộ an trú, nhứt hướng thuần tín. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là nghe vô thượng, đây là thấy vô thượng, nghe vô thượng. Còn lợi đắc vô thượng là gì?

Ở đây, này các Tỳ-kheo, có người được con, được vợ, được tài sản, được các vật cao thấp khác nhau, được lòng tin vào các Sa-môn hay Bà-la-môn có tà kiến, tà hạnh. Này các Tỳ-kheo, đây có lợi đắc hay không? Ta nói rằng: 'Ðây là không lợi đắc'. Lợi đắc ấy, này các Tỳ-kheo, là hạ liệt, là hèn hạ, là phàm phu, không xứng Thánh hạnh, không liên hệ đến mục đích, không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Này các Tỳ-kheo, ai được lòng tin vào Như Lai hay của đệ tử Như Lai, với lòng tin an trú, với lòng ái mộ an trú, nhứt hướng thuần tín, thời này các Tỳ-kheo, đây là đắc lợi vô thượng, đưa đến thanh tịnh cho các loài chúng sanh, vượt qua sầu bi, chấm dứt khổ ưu, đạt được chánh lý, chứng ngộ Niết-bàn, tức là được lòng tin vào Như Lai hay của đệ tử Như Lai, với lòng tin an trú, với lòng ái mộ an trú, nhứt hướng thuần tín. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là đắc lợi vô thượng, đây là thấy vô thượng, nghe vô thượng, đắc lợi vô thượng. Còn học tập vô thượng là gì?

Ở đây, này các Tỳ-kheo, có người học tập về voi, học tập về ngựa, học tập về xe, học tập về cung pháp, học tập về kiếm pháp, học tập về các nghề cao thấp sai biệt hay học tập theo các Sa-môn hay Bà-la-môn có tà kiến, tà hạnh. Này các Tỳ-kheo, đây là có học tập hay không? Ta nói rằng: 'Đây là không học tập'. Học tập ấy, này các Tỳ-kheo, là hạ liệt, là hèn hạ, là phàm phu, không xứng Thánh hạnh, không liên hệ đến mục đích, không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Này các Tỳ-kheo, ai học tập Tăng thượng giới, học tập tăng thượng định, học tập tăng thượng tuệ trong Pháp và Luật do Như Lai tuyên thuyết, với lòng tin an trú, với lòng ái mộ an trú, nhứt hướng thuần tín, này các Tỳ-kheo, đây là học tập vô thượng, đưa đến thanh tịnh cho các loài chúng sanh, vượt qua sầu bi, chấm dứt khổ ưu, đạt được chánh lý, chứng ngộ Niết-bàn, tức là học tập Tăng thượng giới, học tập tăng thượng định, học tập tăng thượng tuệ trong Pháp và Luật do Như Lai tuyên thuyết, với lòng tin an trú, với lòng ái mộ an trú, nhứt hướng thuần tín. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là học tập vô thượng, đây là thấy vô thượng, nghe vô thượng, lợi đắc vô thượng, học tập vô thượng. Còn phục vụ vô thượng là như thế nào?

Ở đây, này các Tỳ-kheo, có người phục vụ Sát-đế-ly, phục vụ Bà-la-môn, phục vụ gia chủ, phục vụ các người cao thấp sai biệt hay phục vụ Sa-môn hay Bà-la-môn có tà kiến, tà hạnh. Này các Tỳ-kheo, đây là có phục vụ hay không? Ta nói rằng: 'Ðây là không phục vụ'. Phục vụ ấy, này các Tỳ-kheo, là hạ liệt, là hèn hạ, là phàm phu, không xứng Thánh hạnh, không liên hệ đến mục đích, không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Này các Tỳ-kheo, ai phục vụ Như Lai hay đệ tử Như Lai, với lòng tin an trú, với lòng ái mộ an trú, nhứt hướng thuần tín, này các Tỳ-kheo, đây là phục vụ vô thượng, đưa đến thanh tịnh cho các loài chúng sanh, vượt qua sầu bi, chấm dứt khổ ưu, đạt được chánh lý, chứng ngộ Niết-bàn, tức là phục vụ Như Lai hay đệ tự Như Lai, với lòng tin an trú, với lòng ái mộ an trú, nhứt hướng thuần tín. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là phục vụ vô thượng, đây là thấy vô thượng, nghe vô thượng, lợi đắc vô thượng, học tập vô thượng, phục vụ vô thượng. Và thế nào là tùy niệm vô thượng?

Ở đây, này các Tỳ-kheo, có người tùy niệm được con, tùy niệm được vợ, tùy niệm được tài sản, tùy niệm được cao thấp sai biệt hay phục vụ Sa-môn hay Bà-la-môn có tà kiến, tà hạnh. Này các Tỳ-kheo, đây là có tùy niệm hay không? Ta nói rằng: "Ðây là không tùy niệm". Tùy niệm ấy, này các Tỳ-kheo, là hạ liệt, là hèn hạ, là phàm phu, không xứng Thánh hạnh, không liên hệ đến mục đích, không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Này các Tỳ-kheo, ai tùy niệm Như Lai hay đệ tử Như Lai, với lòng tin an trú, với lòng ái mộ an trú, nhứt hướng thuần tín, này các Tỳ-kheo, tùy niệm ấy là vô thượng, đưa đến thanh tịnh cho các loài chúng sanh, vượt qua sầu bi, chấm dứt khổ ưu, đạt được chánh lý, chứng ngộ Niết-bàn, tức là tùy niệm Như Lai hay đệ tử Như Lai, với lòng tin được an trú, với lòng ái mộ được an trú, nhứt hướng thuần tín. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là tùy niệm vô thượng". (Tăng Chi Bộ, Chương VI – Sáu Pháp, III. Phẩm Trên Tất Cả, (X) Trên Tất Cả)

Mình nghĩ ngoài đời mỗi người con đều được cha mẹ để lại cho tài sản, nhà cửa, còn vào tu thì mỗi đệ tử được để lại cho cái chùa, đó là trao truyền sắc uẩn, trao truyền cái vô thường, khổ, vô ngã chứ không phải trao truyền Thánh trí. Nếu nhìn bằng con mắt thế gian sẽ thấy khác hoàn toàn, người đó không có ngôi chùa, không có miếng ngói trên đầu, không có viên gạch dưới chân nhưng người đó lại thành tựu bậc Thánh, người đó "sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, các việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa", người đó đáng được chắp tay, đáng được cung kính, đảnh lễ, cúng dường, là ruộng phước vô thượng ở trên đời nhưng người đó không có gì trên thế gian, không ai biết đến tên tuổi cũng không có tài sản gì cả. Sự tu chân thật rất nhạt nhẽo, vô vị vì xả dục ly tham, tu đến chỗ không còn gì, nếu tu không đúng chánh pháp thì tu để có thêm, có nhiều và lấy cái có nhiều trên sắc tướng để thành làm tựu, thành quả, còn tu đúng chánh pháp là giảm từ từ cho đến khi không còn gì nữa, đến năm uẩn cũng không còn thì mới thể nhập thế giới bất tử. Câu hỏi đặt ra là muốn tu để được thêm hay muốn tu để giảm bớt? Cái tâm mờ tối không biết được rằng càng thêm nhiều chừng nào thì càng khổ nhiều chừng đó.

Nay còn rồi mai mất

Mơn mởn rồi chai sần

Biến đổi rồi tàn lụi

Hoại diệt rồi rã tan.

Vô thường là như vậy

Là bản chất thân này

Chẳng có gì đáng để

Chấp nó là của ta.

Thế mà ta lại nghĩ

Thân này là của ta,

Nên ta làm mọi thứ

Để mà bảo vệ thân.

Vì ta dại dột nghĩ

Thân này là của ta

Ai không tốt với thân

Ta thù hằn, oán hận.

Vì ta dại dột nghĩ

Thân này là của ta

Ai động đến thân này

Là động chạm đến ta.

Ta căm thù oán giận

Kẻ bất kính với thân

Ta sẵn sàng trả đũa

Kẻ chẳng nể nang thân.

Bao nhiêu điều bất thiện

Ta đã làm vì thân

Vì cái thân hư ảo

Mà ta làm khổ ta.

Vì cái thân hư ảo

Mà ta hại hữu tình

Tham, sân, si đủ kiểu.

Để rồi khổ đủ điều.

Ôi nay ta vỡ lẽ

Chỉ vì chấp thân này

Vì chấp hình tướng này

Mà ta đầy sân hận.

Ôi nay ta vỡ lẽ,

Vì thân năm uẩn này

Vì cái vô thường này

Mà ta đầy đau khổ.

Khổ vậy là đủ rồi, khổ vậy là vừa rồi, chúng ta hãy cùng nhau dừng lại những hành động tạo ra khổ đau, chúng ta hãy cùng nhau nhìn lại bản chất thật sự của thân này, chúng ta hãy cùng nhau nhìn lại thứ bày ra bao nhiêu những trò khổ đau trên cuộc đời này, chúng ta hãy cùng nhau nhìn lại cái thứ đã bày bao nhiêu trò đau khổ trên kiếp sống này, trên thế gian này. "Nay còn rồi mai mất", cười cười nói nói mà nay đưa xác ra gò hoang, "mơn mởn rồi chai sần, biến đổi rồi tàn lụn, hoại diệt rồi rã tan ", làn da mơn mởn của tuổi trẻ sẽ dần dần được thay thế bằng làn da chai sần, nhăn nheo, biến đổi tàn tạ, hoại diệt rồi sẽ tan rã, đó là bản chất của thân. Các vị Tỳ-kheo thời Đức Phật quán chín giai đoạn của một tử thi rồi các ngài thể nhập Thánh trí huệ đó luôn chứ không làm mất đi, còn mình lúc nhớ lúc quên, quán chiếu được một chút rồi buông ra là trở về với tâm mê.

Vô thường là như vậy

Là bản chất thân này

Chẳng có gì đáng để

Chấp nó là của ta.

Thế mà ta lại nghĩ

Thân này là của ta,

Nên ta làm mọi thứ

Để mà bảo vệ thân.

Đức Phật dạy rõ ràng rành rẽ như vậy mà bây giờ có nhiều tư tưởng cảm ơn cái vô thường, tâm mê làm ra như vậy đó, chúng ta có thấy sợ hãi không? Đức Phật dạy sự vô thường, sự tan rã, hoại diệt để chúng ta nhàm chán, bớt tham, lìa tham, vậy mà giờ đi hiểu ngược lại cảm ơn vô thường, câu pháp ấn trong kinh Nikāya mà Đức Phật thường hỏi các vị Tỳ-kheo là:

"Này các Tỳ-kheo, các Ông nghĩ thế nào, sắc là thường hay vô thường?

-- Là vô thường, bạch Thế Tôn.

-- Thọ... tưởng... các hành...

Thức là thường hay vô thường?

-- Là vô thường, bạch Thế Tôn.

-- Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

-- Là khổ, bạch Thế Tôn.

-- Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng, nếu quán cái ấy là: 'Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi'?

-- Thưa không, bạch Thế Tôn.

-- Do vậy... thấy vậy... vị ấy biết: 'Sanh đã tận... không còn trở lui trạng thái này nữa'". (Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (d), III. Phẩm Những Gì Được Ăn, X. Trăng Rằm (Tạp 2, Ðại 2,14b) (S.iii,100) (Trung Bộ Kinh, trang 109, 110 Tham chiếu))

Lời kinh như Mặt Trời nhưng do tâm mê vẫn không hiểu, chúng ta phải lo lắng vì sau này có khi chánh pháp không còn nữa, vì thế bài trong phần thiền quán này cũng giống như vậy, diễn ra cho dễ hiểu hơn thôi "vô thường là như vậy, là bản chất thân này, chẳng có gì đáng để chấp nó là của ta, thế mà ta lại nghĩ thân này là của ta nên ta làm mọi thứ để bảo vệ thân". Mình phải thấm cái vô thường, khổ, vô ngã, càng thấm nhiều chừng thì càng có nhiều tuệ giác chừng đó, càng gần hơn với Đức Phật.

"Này Vakkali, ai thấy Pháp, người ấy thấy Ta. Ai thấy Ta, người ấy thấy Pháp. Này Vakkali, đang thấy Pháp, là thấy Ta. Ðang thấy Ta, là thấy Pháp". (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (e), IV. Phẩm Trưởng Lão, V. Vakkàli)

Nếu không thấy rõ điều này thì có thể thầy trò, huynh đệ, tỉ muội đều dính vào ái, không khác gì ngoài đời, cũng thương nhớ, khóc lóc, cho nên phải xem nhau là thiện bạn hữu, thiện tri thức, phải làm theo đúng lời Phật dạy, ngược lại mình sẽ sập bẫy ái luyến, tham ái ở một hình thức khác trong khi đi xuất gia là gỡ khỏi tham ái. Tại sao mình thoát khỏi sợi dây này lại tròng vào sợi dây khác? Mình nhớ ân đức để cố gắng tu học, để thành tựu nhiếp phục và đoạn tận dục tham, đó mới là ân đức thật sự, còn giờ vào tu mà pháp không thấy, cứ ràng buộc vào cái thường tình của thế gian, đi thì nhớ sư phụ, nhớ sư huynh, nhớ sư tỉ thì tiêu rồi, vậy là sập bẫy tham ái, những chuyện như vầy xảy ra thường xuyên, nếu dùng chánh kiến của Đức Phật soi ra thì não nề, ngao ngán. Đối với cư sĩ cũng vậy, thương người này, không thích người kia, đó là không thấy trọng tâm của sự học đạo, mục đích của pháp vì thế Đức Phật nói phải thưởng thức được hương vị của giác ngộ, thưởng thức được vị của giải thoát, thưởng thức được hương vị của cứu cánh, còn nếu không biết pháp là gì thì làm sao thưởng thức được.

"Ví như, này Pahàràda, biển lớn chỉ có một vị mặn. Cũng vậy, này Pahàràda, Pháp và Luật cũng chỉ có một vị là vị giải thoát". (Tăng Chi Bộ, Chương VIII - Tám Pháp, II. Phẩm Lớn, (IX) A-Tu-La Pahàràda)

Vào tu mà muốn thầy phải chăm sóc, quan tâm, gần gũi thì phải hỏi lại tâm xem đó là gì. Tại sao không đòi thầy mỗi ngày phải dạy pháp cho mình? Tại sao không muốn thầy chỉ cho mình thấy những cấu nhiễm, lậu hoặc, tham ái trong tâm? Như vậy vào chùa cầu đạo hay cầu tình thương, tham ái? Nếu không được gần gũi, chăm sóc thì bỏ xuống núi không tu nữa, đó là tâm u tối, vì thế nếu không khéo là càng tu càng xa rời mục đích. Nếu biết mục đích là đỉnh núi thì từng bước phải đi gần đến đỉnh núi, còn giờ không biết mục đích là gì thì làm sao đến, cho nên có những câu hỏi không liên hệ đến mục đích là Đức Phật không trả lời, mục đích là thấu rõ bản chất thân xác này, ngũ uẩn này, nhiếp phục dục tham và đoạn tận dục tham đối với đời sống này mới đưa đến hết khổ. Do cứ chấp thân này là ta, là của ta nên mới ràng buộc, hệ lụy với những thứ bên ngoài, chúng ta phải vì pháp, thân với pháp, có thân với người cũng vì người đó có pháp nên thực tế là thân với pháp chứ không thân với người, mình gần gũi với người đó cũng vì họ có pháp nên đó là gần với pháp, nghĩa là ngoài pháp ra không có gì nữa, cả sinh mạng này dùng để cầu pháp, hành pháp, chứng ngộ pháp và chia sẻ pháp, ngoài pháp chỉ toàn khổ đau, sầu, bi, ưu, não mà pháp chính là nhìn thấy bản chất thân này.

Vì ta dại dột nghĩ

Thân này là của ta

Ai không tốt với thân

Ta thù hằn, oán hận.

Vì ta dại dột nên ai không tốt với thân thì ta thù hằn, oán thận, ai tốt với thân thì ta dính mắc, tham ái, đắm trước.

Vì ta dại dột nghĩ

Thân này là của ta

Ai động đến thân này

Là động chạm đến ta.

Ta căm thù oán giận

Kẻ bất kính với thân

Ta sẵn sàng trả đũa

Kẻ chẳng nể nang thân.

Ta căm thù oán hận kẻ này bất kính thân thân, sẵn sàng trả đũa, ăn miếng trả miếng, tìm đủ mọi cách để trút cơn giận vào kẻ không nể nang thân này mà ta không biết rằng là cái gốc của chấp thủ, của khổ đau. Mục đích mình sanh ra trên đời này để làm gì? Có người cả đời đặt nặng việc kiếm tiền, dốc tất cả thời gian, tâm lực, trí lực, sức lực để làm giàu, tiền của tài sản là mục đích của đời sống họ, có người cả đời chỉ đi tìm sắc dục, có người suốt đời đổ biết bao nước mắt, mồ hôi, đầu tư tâm huyết vào danh tiếng, địa vị, họ bỏ hết tất cả chỉ để đạt được danh vọng, quyền lực, có người suốt đời đi tìm miếng ăn, mục đích của họ là muốn ăn ngon, cuộc đời họ đầu tư vào những tiện nghi vật chất, ăn ngon ngủ sang. Trong năm thứ tài, sắc, danh, thực, thùy chỉ tóm gọn trong một chữ "dục", khác nhau ở hình thái nhưng cái gốc giống nhau ở chữ "muốn" năm thứ đó. Còn năm dục trưởng dưỡng trong kinh Nikāya rất thâm sâu, vi tế cho nên sau này người ta lấy năm thứ tài, sắc, danh, thực, thùy cho dễ hiểu, đó là sắc đẹp, danh vọng, ăn uống, ngủ nghỉ, còn đối với sắc; thanh; hương; vị; xúc có một sự bao trùm rộng lớn khủng khiếp, phạm trù của nó nằm ở cả thế giới và thân tâm còn đối với tài, sắc, danh, thực, thùy chỉ có một chút bên ngoài của sắc pháp và thanh. Tiền bạc thuộc về sắc, sắc đẹp là sắc, thức ăn là sắc, danh tiếng thuộc về tiếng tăm, còn năm dục trưởng dưỡng trong kinh Nikāya thâm sâu hơn thế. Trong kinh không nói đến thức ăn ngon mà nói đến vị là bao trùm tất cả, đối với xúc còn khủng khiếp hơn nữa, có tất cả sáu xúc chứ không phải chỉ có sự tiếp xúc nam nữ, sắc dục, bây giờ người ta chết nhiều vì không nhiếp phục được cái dục của sự tiếp xúc, muốn tiếp xúc, ngoài ra còn ý xúc nữa, vì thế những gì trong kinh Nikāya nói rất khủng khiếp, một chữ trong kinh thôi là cả một bầu trời vô biên thậm thâm pháp nghĩa, để thành tựu trí tuệ về một chữ "xúc" thôi là cả một công trình tu học, quán chiếu. Có tất cả sáu xúc, đó là:

Nhãn xúc: Nhãn là mắt, dùng để nhìn

Nhĩ xúc: Nhĩ là tai, dùng để nghe.

Tỷ xúc: Tỷ là mũi, dùng để ngửi.

Thiệt xúc: Thiệt là lưỡi, dùng để nếm.

Thân xúc: Thân là da bọc thân người, dùng để nhận biết những cảm giác như nóng, lạnh…

Ý xúc: Ý là tư tưởng, dùng để phân biệt.

Như vậy sự tiếp xúc của nam nữ là sự tiếp xúc của thân, trong đó có cả nhãn xúc là nhìn thấy đối phương, nghe tiếng, ngửi mùi, tâm ý trong đó là những thọ; tưởng; hành là ý xúc. Nếu đối chiếu với ngũ dục bên ngoài với năm dục trưởng dưỡng trong kinh Nikāya là cả một luận án của tiến sĩ chứ không hề đơn giản chút nào.

./.