Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Khổ Thánh Trí 7 - Thoát Khỏi Tăm Tối

2026-03-03 00:53:25
Kinh Nikāya Giảng Giải

KHỔ THÁNH TRÍ 7

Thoát Khỏi Tăm Tối

–Thích Minh Thành–

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Tiếp nối Chánh Pháp PAGEREF _Toc117096118 \h 1

II.Bóng tối khổ đau PAGEREF _Toc117096119 \h 2

III.Con đường thoát khổ PAGEREF _Toc117096120 \h 9

Tiếp nối Chánh Pháp

Chúng ta có đủ duyên lành để được lắng nghe chuyên đề về khổ của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác đã tuyên thuyết, khai thị, giải thích, trình bày nên chúng ta cố gắng kham nhẫn vì không phải dễ mà mình được nghe, được hiểu, được nhận thức. Nếu nói phớt qua thì chỉ có một chút cảm xúc như làn gió thổi qua rồi mất, khi Đức Phật trình bày một vấn đề gì là đa diện, toàn diện, mọi phương diện của vấn đề đó được Ngài trình bày triệt để, cứu cánh.

Cho nên đây là công đức của bậc thiện tri thức đã dùng máu, nước mắt, mồ hôi, sinh mạng để phân loại kinh Nikāya cho chúng ta học, không phải dễ để mở tạng kinh ra mà có thể thấy được điều này, có khi phải tìm kiếm hàng chục năm mà chưa chắc đã tìm đúng. Còn giờ đã có người tìm kiếm, sắp xếp, phân loại sẵn, có người giải thích thì mình phải thấy huyết lệ, sinh mạng trong những lời kinh này, chúng ta phải đội nó trên đầu, phải lạy từng chữ trong những câu kinh này, đó mới là thái độ của người cầu pháp. Không phải đơn giản để chúng ta có thể mở lên nghe được, trong đây có mấy chục bài kinh về khổ là từng ấy phương diện được Đức Phật chứng ngộ, mỗi một bài kinh là một khía cạnh chứng ngộ của Đức Phật. Bây giờ chúng ta đọc kinh như đọc sách, nghe giảng như nghe tin tức, mình không có đủ tâm tôn kính, không đủ trí để thấy được vì sao có bài kinh đó, không thấy được công đức, trí đức, hạnh đức để có mặt một bài kinh như vậy, biết bao chư vị Tháng Tăng đánh đổi bằng xương máu, bằng sinh mạng cho nên khi tu học cần quán chiếu thật kĩ.

Để có thể cầm được quyển kinh lên đọc là phải đánh đổi không biết bao nhiêu mồ hôi, máu và nước mắt, có cả sinh mạng của Thế Tôn, các bậc A-la-hán cũng như các bậc tôn túc đã truyền thừa ba ngàn năm qua, các Ngài phải chịu đựng biết bao khó khăn, vượt qua biết bao sự hãm hại, hủy diệt của các thế lực thù địch trong ngoài. Mỗi một bài kinh là một trí tuệ của bậc Chánh Đẳng Giác trao truyền lại cho mình bằng cả trái tim, bằng mồ hôi, bằng sinh mạng, bằng cuộc đánh đổi vĩ đại của các Ngài nhưng vậy vẫn chưa xong, các bậc Thánh Tăng phải học thuộc lòng, trùng tuyên lại, kết tập tam tạng Thánh điển, phải có sự hộ trì biết bao vị cư sĩ, vua chúa, quan lại, sau đó các vị viết kinh trên lá bối, các Ngài sợ mất nên phải khắc vào đá, rồi lại sợ lũ lụt, sóng thần cuốn trôi nên phải học thuộc lòng. Các Ngài phải lao tâm khổ tứ, suy tư mọi cách để giữ gìn pháp bảo vậy ngày nay chúng ta học mà cứ ngồi đơ ra, đó là quy y pháp không thành tựu. Nhiều khi ngồi học trong trạng thái buồn ngủ, mất hồn vì không ý thức được thế nào là pháp bảo, không phải đơn giản để hiểu được giá trị của pháp quý báu như thế nào. Phải cố gắng, tinh cần, tinh tấn, quý trọng pháp thì mới có thể thọ pháp, từ từ mới có thể thể nhập pháp, chứng ngộ pháp, sau đó mới có thể chia sẻ và truyền bá pháp, đó là thừa kế và tiếp nối chánh pháp. Đức Phật đã nói các thầy Tỳ-kheo chớ có làm người tối hậu trong pháp và luật này sau khi Ngài diệt độ.

"Này Ananda, nay thế nào là truyền thống tốt đẹp được Ta thiết lập, và truyền thống ấy đưa đến yểm ly, ly tham, đoạn diệt, tịch tịnh, thượng trí, giác ngộ, Niết-bàn? Chính là Thánh đạo Tám ngành này, tức là Chánh tri kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định. Này Ananda, đây là truyền thống tốt đẹp được Ta thiết lập, và truyền thống ấy đưa đến yểm ly, ly tham, đoạn diệt, tịch tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.

Này Ananda, về vấn đề này, Ta nói như sau: 'Truyền thống tốt đẹp này do Ta thiết lập, hãy tiếp tục duy trì. Các Ông chớ có thành người tối hậu sau Ta'. Này Ananda, khi hai người còn tồn tại, và có sự đứt đoạn của truyền thống này, thời người nào làm cho đứt đoạn, người ấy là người tối hậu. Vậy này Ananda, Ta nói với Ông: 'Truyền thống tốt đẹp này do Ta thiết lập, các Ông hãy tiếp tục duy trì. Các Ông chớ có thành người tối hậu sau Ta'".

(Trung Bộ Kinh, 83. Kinh Makhàdeva)

Đừng làm người cuối cùng mà hãy làm người tiếp nối chánh pháp, vì thế sự tu học này phải tác động tâm ý rất sâu sắc thì trí tuệ mới mở ra từ từ, mới có thể nhận thức các pháp.

Bóng tối khổ đau

"-- Có một hắc ám giữa các thế giới không có trần che, tạo ra tối tăm, tạo ra hắc ám; ở đấy ánh sáng của mặt trăng, mặt trời, những vật có đại thần lực như vậy, có đại uy lực như vậy cũng không hiện ra.

Ðược nghe nói như vậy, một Tỳ-kheo bạch Thế Tôn:

-- Thật là to lớn, bạch Thế Tôn, tối tăm ấy! Thật là to lớn, bạch Thế Tôn, tối tăm ấy! Bạch Thế Tôn, có một tối tăm nào khác, còn to lớn hơn, còn đáng sợ hãi hơn tối tăm ấy?

-- Này Tỳ-kheo, có một tối tăm khác, còn to lớn hơn, còn đáng sợ hãi hơn tối tăm ấy.

-- Bạch Thế Tôn, sự tối tăm khác ấy là gì, còn to lớn hơn, còn đáng sợ hãi hơn tối tăm ấy?

-- Này các Tỳ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào không như thật rõ biết: 'Ðây là Khổ'... không như thật rõ biết: 'Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt'. Họ hoan hỉ với các hành đưa đến sanh, họ hoan hỉ với các hành đưa đến già, họ hoan hỉ với các hành đưa đến chết, họ hoan hỉ với các hành đưa đến sầu, bi, khổ, ưu, não. Vì họ hoan hỉ với các hành đưa đến sanh... đưa đến già... đưa đến chết... đưa đến sầu, bi, khổ, ưu, não, họ tạo dựng các hành đưa đến sanh, họ tạo dựng các hành đưa đến già... đưa đến chết,... do họ tạo dựng các hành đưa đến sanh... đưa đến già... đưa đến chết... đưa đến sầu, bi, khổ, ưu, não, nên họ rơi vào vực thẳm sanh, họ rơi vào vực thẳm già, họ rơi vào vực thẳm chết, họ rơi vào vực thẳm sầu, bi, khổ, ưu, não. Họ không liễu thoát khỏi sanh, khỏi già, khỏi chết, khỏi sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng, họ không liễu thoát khỏi đau khổ"

(Tương Ưng Bộ, Tập V. Thiên Đại Phẩm, Chương XII - Tương Ưng Sự Thật (b), V. Phẩm Vực Thẳm, VI. Hắc Ám)

Hắc ám là mờ tối cũng chính là đọa xứ, nơi không có ánh sáng. Có những chúng sanh bị đọa vào trong những hoàn cảnh sống trong bóng đêm vĩnh viễn và mãi mãi, mặt trời lẫn mặt trăng chiếu ánh sáng không tới, chỉ khi có sự kiện trọng đại thì mới có chút ánh sáng. Như khi Bồ-tát đản sanh, thành đạo, chuyển pháp luân và nhập Niết-bàn, những lúc đó ánh sáng của Bồ-tát mới chiếu được tới đó chứ ánh sáng của mặt trời lẫn mặt trăng không chiếu tới được. Trong đó là cả một bóng đêm bao phủ đầy hắc ám, âm u.

Thân trống rỗng không ai trong đó

Chỉ có tâm chấp ngã hơn thua

Ngày đêm thiêu đốt tim gan máu

Đốt cháy tâm can trong giận sân.

Họ tạo dựng ra những ngọn lửa, họ làm ra những trận hỏa hoạn, họ gây ra những cơn mưa máu bằng chiến tranh, bằng súng ống, đạn dược, họ dùng vũ khí là miệng lưỡi để đấu khẩu, cãi nhau, đó là họ thích thú, hoan hỉ tạo dựng ra các hành. Do tạo dựng các hành đưa đến tái sanh, già nua, bệnh tật, chết chóc, bất an, khổ sầu cho nên họ bị rơi vào chỗ tối tăm.

Những vị tu hành Sa-môn hay Bà-la-môn nào không thật sự biết rõ ngũ uẩn này là khổ, không thật sự biết rõ nguyên nhân đưa đến đau khổ là dục, ái, tham, sân, si, vô minh và bản ngã, không thật sự biết rõ phương pháp Tứ Niệm Xứ, Bát Chánh Đạo là con đường diệt khổ thì họ sẽ hoan hỉ đối với sự vận hành của năm uẩn, họ thích thú, vui sướng, khoan khoái đối với sự vận hành trong đời sống ngũ uẩn này. Vì ưa thích, hân hoan đối với sự vận hành để đưa đến già, bệnh, chết, buồn đau nên họ tạo dựng, họ tạo dựng rồi rơi vào chỗ tối tăm, rơi vào sự quờ quạng trong bóng đêm và không thể thoát khỏi sự đau khổ của sanh tử, đó là bóng đêm, đó là sự hắc ám, sự tăm tối to lớn và đáng sợ hãi mà một vị Tỳ-kheo đã hỏi Thế Tôn.

"Và này các Tỳ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào như thật rõ biết: 'Ðây là Khổ'... như thật rõ biết: 'Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt', họ không hoan hỉ với các hành đưa đến sanh... đưa đến già... đưa đến chết... đưa đến sầu, bi, khổ, ưu, não. Vì họ không hoan hỉ với các hành đưa đến sanh... đưa đến già... đưa đến chết... đưa đến sầu, bi, khổ, ưu, não, họ không tạo dựng các hành đưa đến sanh... đưa đến già... đưa đến chết... đưa đến sầu, bi, khổ, ưu, não. Do họ không tạo dựng các hành đưa đến sanh... đưa đến già... đưa đến chết... đưa đến sầu, bi, khổ, ưu, não, họ không rơi vào vực thẳm sanh; họ không rơi vào vực thẳm già; họ không rơi vào vực thẳm chết; họ không rơi vào vực thẳm sầu, bi, khổ, ưu, não. Họ liễu thoát khỏi sanh, khỏi già, khỏi chết, khỏi sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng, họ liễu thoát khỏi đau khổ".

(Tương Ưng Bộ, Tập V. Thiên Đại Phẩm, Chương XII - Tương Ưng Sự Thật (b), V. Phẩm Vực Thẳm, VI. Hắc Ám)

Trong các bài kinh Đức Phật đều nói đến khổ, nguyên nhân của khổ và con đường diệt khổ. Học pháp này lạ lắm, đặc biệt lắm, dù xây dựng bên ngoài đẹp đẽ lên bao nhiêu nhưng nhìn lại cảm thấy ngán, vì chỉ thấy cái này là sắc uẩn, không còn thích thú như lúc trước nữa, điều này dần dần sẽ đưa đến thấy khổ và nhàm chán. Khi học những lời dạy chánh thống của Đức Phật thì không chỉ học trên cái thấy, cái nghe, cái suy nghĩ mà còn đi vào trong cảm thọ của mình, cái thấy biết về khổ đau về nhàm chán nằm trong cảm thọ, không bị mất đi cho nên cái nhìn bây giờ sẽ khác với lúc trước khi tu học, đó là Khổ Thánh Trí thâm nhập vào trong cảm thọ, quy tụ trong đó. Mặc dù vẫn chưa được nhiều vì nhiều là đã Nhập Lưu nhưng bắt đầu có chân đứng trong cảm thọ về Khổ Thánh Trí và nhàm chán với mọi sự vận hành của đời sống, của nhân sinh, của thế giới về mọi cái đẹp, mình cũng có vui thích nhưng khi nhìn sâu vào thì mình thấy ngao ngán.

"-- Này các Tỳ-kheo, đây là điềm đi trước, đây là tướng báo trước mặt trời sắp mọc, tức là rạng đông. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, đây là điềm đi trước, đây là tướng báo trước sự giác ngộ như thật bốn Thánh đế, tức là chánh tri kiến...

Với Tỳ-kheo có chánh tri kiến này, này các Tỳ-kheo, chờ đợi là vị ấy sẽ rõ biết: 'Ðây là Khổ'... Vị ấy sẽ rõ biết. 'Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt'.

Do vậy, này các Tỳ-kheo, một sự cố gắng cần phải làm để rõ biết: 'Ðây là Khổ'... một sự cố gắng cần phải làm để rõ biết: 'Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt'".

(Tương Ưng Bộ - Tập V. Thiên Đại Phẩm, Chương XII - Tương Ưng Sự Thật (a), IV. Phẩm Rừng Simsapà, VII. Ví Dụ Mặt Trời) 

Điềm báo trước của mặt trời mọc là rạng đông, điềm báo trước của bậc chánh tri kiến là thấy khổ. Khi mặt trời chuẩn bị mọc thì phương đông sẽ lóe lên ánh sáng, còn đối với người bắt đầu thấy khổ thì đó là điềm báo trước của sự thể nhập vào dòng Thánh trí tuệ. Khi thực tập trong dòng pháp này thì cái thấy, cái nghe, cái hiểu của mình sẽ chuyển đổi từ từ mà mình không hay biết nhưng đến khi mình nhận ra thì lúc đó đã thể nhập kha khá trong pháp.

Mỗi ngày cứ nghe sự thật về khổ đau, sự thật về tham, sân, si là thứ cần trừ diệt, sự thật về bản ngã ác độc, xấu xa, sau đó mình suy tư, nghiền ngẫm, nhìn lại nội tâm thì đến khi mình tiếp xúc với bên ngoài sẽ có cái nhìn, cái nghe, cảm xúc khác với người bình thường. Đó là sự khác biệt giữa vô văn phàm phu và Đa văn Thánh đệ tử. Vô văn phàm phu không có được những cảm thọ này, họ thấy cái gì đẹp là chụp hình thích thú, còn người đã ngấm trí tuệ này thì tuy cũng có thích nhưng nhìn sâu vào sẽ thấy có cảm giác ngao ngán, chán nản. Chỉ có người tu hành nào thật sự thấy cái khổ, ngũ uẩn này là khổ, đời sống này là khổ, biết con đường diệt khổ một cách xác quyết thì họ sẽ không hoan hỉ, thích thú đối với sự vận hành của đời sống này. Họ không thích thú khi có cảm thọ dục tham khởi lên trong lòng, khi có sân hận khởi lên họ cảm thấy phiền phức, họ không thích cảm giác si dại, bản ngã, khi cảm thấy đau khổ, ray rứt, xấu hổ. Đi như vậy là đúng đạo lộ, tu tập đúng Thánh đạo, quy trình của pháp vận hành là như vậy.

Người nào thường xuyên nhận diện ngũ uẩn sẽ tự sanh ra tàm quý rất nhiều, họ sẽ cố gắng tẩy sạch những cấu nhiễm cho nên khi biết được khổ thì không hoan hỉ đối với các hành, khi đã biết được sự thật thì họ không tham muốn nữa mà hướng đến ly tham, nhàn chán, từ bỏ, thoát ra. Chúng ta cần nghe nhiều, thực tập rồi chúng ta sẽ từ bỏ dần dần đối với năm dục trưởng dưỡng, những thứ vật chất không còn hấp dẫn mình giống như xưa nữa.

Ngày xưa thấy gì đẹp là dính mắc vào đó, gắn chặt vào đó, còn giờ thấy cũng khởi lên lạc thọ nhưng trong đó là tai họa. Đối với đồ ăn ngon cũng vậy, không còn tham đắm như trước, có thì ăn không có thì thôi, ăn đơn giản cơm rau sống qua ngày cũng tốt, không hề đòi hỏi gì cả. Đối với những lời nói khen chê không còn muốn hơn thua nữa, dù cho tập khí vẫn còn, bản ngã cũng buồn, khó chịu nhưng rồi cảm thấy không là gì cả, không đặt nặng vào những thứ đó cho nên người thấy được khổ thì không hoan hỉ với các hành đưa đến sanh, già, chết, đưa đến bất an, khổ sầu, buồn đau, mà không hoan hỉ nghĩa là buồn chán.

Minh Thành thường kể cho đại chúng nghe những câu chuyện đánh nhau, cãi nhau, chém giết lẫn nhau là để thấy được sự thật về khổ nhằm sanh khởi cảm giác ngao ngán, chán ngán, sợ hãi chứ không phải kể là do ưa thích chuyện thời sự. Ngày xưa Minh Thành đi tu mười lăm, hai mươi năm nhưng không đọc báo, đến khi ra chia sẻ pháp phải xem một chút để biết biết mà nói, nhiều khi Minh Thành nói lộn xộn mấy ngày lễ hội vì không biết bên ngoài thế nào, suốt ngày chỉ lo đọc kinh pháp nhưng cũng cần đọc báo để biết thực tướng của thế gian này, để thấy nó là những thứ cần nhàm chán, cần sợ hãi, cần quăng bỏ. Ở miền Trung gần như ngập toàn bộ các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, nhìn những cảnh này để tu học chứ không phải khổ rồi là không làm gì nữa.

Có nhiều Phật tử hiểu lầm, nghe giảng "mọi sự hiện hữu đều là khổ" rồi cho rằng khi vào bình luận trong bài giảng là một sự hiện hữu nên đó là khổ, không phải như vậy mà là hiện hữu trong tham, sân, si, vô minh và bản ngã mới là khổ nhưng hiện hữu để tinh cần, tinh tấn tham dự vào pháp, có những cảm thọ sâu sắc khi thấy sự thật thì sự hiện hữu đó cần thiết.

Chúng ta có cơ duyên ngay trận đại dịch này mới học về Khổ Thánh Trí này vì nếu không có trận dịch này thì chắc chúng ta học cái này không nổi. Cái khổ tràn ngập khắp thế giới nên phương pháp diệt khổ là nhàm chán, từ bỏ tham, sân, si, vô minh và bản ngã, nhàm chán đối với sự tranh đấu, hơn thua, thấy nó là khổ, nhiếp phục tham ái, yêu thích đối với những thứ vô thường đó. Hễ thấy thường còn, sạch sẽ, đẹp đẽ là khổ, còn khi thấy bất tịnh, vô thường thì đó là con đường diệt khổ. Hễ thấy tôi và của tôi là khổ, khi không thấy có cái tôi và cái của tôi là con đường diệt khổ. Thấy sung sướng là khổ, còn khi thấy bất toại nguyện, lo lắng, khổ sầu thì đó là con đường thoát khổ.

Vì thế trong thời điểm này vô cùng phù hợp để học về Khổ Thánh Trí, phơi bày, trình bày những lời dạy mà Đức Phật đã khai thị, tuyên thuyết rõ ràng từng khía cạnh, góc độ về khổ trong ngũ uẩn này, đây là cơ hội thù thắng, tối thượng cho chúng ta. Bây giờ khổ quá nên người ta chỉ thích tìm cái gì vui vẻ để nghe để quên đi cái khổ nhưng đó là trốn tránh, che đậy, phủ nhận sự thật, sống trong bóng tối hắc ám, không giải quyết được vấn đề. Cho nên Thế Tôn mới nói người thật sự thấy khổ sẽ nhàm chán, không hoan hỉ đối với sự vận hành của sắc; thọ; tưởng; hành; thức.

Vế thứ nhất Đức Phật nói người không thấy khổ sẽ hoan hỉ đối với các hành, do vì hoan hỉ nên họ tạo dựng các hành đưa đến sanh, già, bệnh, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, do tạo dựng nên họ rơi vào tăm tối của tái sanh, của già nua, của tật bệnh, của chết chóc, của lo lắng, bất an, khổ sầu. Hành ở đây nghĩa là sự vận hành của sắc, mà sự vận hành của sắc; thọ; tưởng; hành; thức, vận hành trên hình thể, hình dáng, mình thấy túi xách đẹp, kính mát đẹp, đôi dép đẹp, xe đẹp thì mình thích, đó là sự vận hành của sắc. Hoa đẹp là sự vận hành của sắc vì có vận hành mới cho ra bông hoa đẹp, mà bông hoa đẹp thì ai cũng thích, đó là hoan hỉ đối với sự vận hành của sắc, khi được đảnh lễ, cúng dường thì mình thích thú, khoan khoái thì đó là hoan hỉ đối với các hành, rồi khi bị hủy nhục, chê bai lại khổ đau. Bây giờ là sự vận hành của thọ; tưởng; hành; thức, khi sanh khởi lên cảm thọ vui là mình thích, mình khoái thì đó là hoan hỉ đối với các hành, sanh khởi cảm thọ khổ là bực bội vì mình cho cảm thọ sân đó là tôi, là của tôi thì đó vẫn là hoan hỉ đối với các hành. Khi nào thấy cảm thọ sân này là phiền phức, là mệt mỏi thì khi đó mới không hoan hỉ đối với các hành. Như vậy bậc Đa văn Thánh đệ tử là không hoan hỉ đối với các hành, không tạo dựng các hành, không rơi vào chỗ tối tăm.

Mỗi khi khởi lên cảm thọ sẽ có tự ngã đi theo, "tôi đang tức giận", "tôi đang vui vẻ", vì không bỏ được những thứ này nên mình khoan khoái, thích thú, chấp thủ cho nên sự hoan hỉ đối với các hành là sự chấp thủ vào năm uẩn là phiền não và khổ đau. Khi đã hoan hỉ, khoan khoái, thích thú thì sẽ nắm giữ cho nên cảm giác dù vui hay không hoặc không vui không khổ cũng nắm giữ, mình muốn cảm giác thường thường đều đều đó kéo dài, ai mà thay đổi là mình không chịu, vậy là có ái trong này, tức là nếu trôi qua đều đều thì mình thích nhưng có cái gì khác một chút hoặc cực khổ là mình không chịu, đó là tham ái đối với cảm giác không khổ không vui này. Nếu không nhận diện ngũ uẩn là mình không thể biết được có sự tham ái đối với bất khổ bất lạc thọ.

Vì thế nếu tu không khéo chỉ biết được khổ và lạc thôi chứ không thể nhìn ra được bất khổ bất lạc. Được ăn ngon, được đi chơi, được khen ngợi thì tu khá một chút sẽ nhìn ra lúc đó bản thân đang có lạc thọ; còn nếu bị chê bai, chỉ trích là đang có khổ thọ; còn sự bình thường đều đều trong mỗi ngày mình nhìn không ra, không thấy được sự tham ái, hoan hỉ, chấp thủ trong bất khổ bất lạc này, như vậy là hoan hỉ đối với các hành, vì có hoan hỉ nên sẽ tạo dựng, giữ cái đó rồi còn muốn thêm nữa. Còn khi đã nhàm chàn thì không tạo dựng, không hoan hỉ nên mình phá sự chấp thủ, phá thân kiến, phá kiết sử, lậu hoặc.

Vô văn phàm phu là tạo dựng thêm tham, sân, si, vô minh và bản ngã đối với năm thủ uẩn, còn bậc Đa văn Thánh đệ tử là phá hủy tham, sân, si, vô minh và bản ngã đối với năm thủ uẩn, do phá hủy nên không rơi vào tăm tối mà đi vào ánh sáng, có minh sanh, nhãn sanh, trí sanh. Người thật sự thấy được sự vận hành và hiện hữu của năm uẩn này là khổ đau thì người đó không hoan hỉ đối với sự hiện hữu, vận hành của năm uẩn. Người này nhàm chán đối với sự vận hành của năm uẩn, người này nhàm chán đối với sự hiện hữu trong năm uẩn cũng là nhàm chán đối với sự vận hành của tham, sân, si, vô minh và bản ngã.

Đời sống này là sự vận hành của khổ, là sự vận hành của tham, sân, si, vô minh, bản ngã, là sự vận hành của dục ái, đó cũng là sự vận hành của ngũ uẩn, cũng là sự vận hành của khổ nhưng giờ mình lại yêu thích sự vận hành của khổ thì mình sẽ tạo dựng, mà tạo dựng thì rơi vào chỗ tăm tối, khổ đau. Khi không hoan hỉ, thấy nhàm chán với sự có mặt, sự vận hành của nó thì mình sẽ phá hủy những nguyên nhân tạo ra khổ uẩn là vô minh và khát ái, hướng đến sự phá tan bóng đêm để đưa ánh sáng vào, dùng nhàm chán để từ bỏ khát ái, lúc đó quang sanh, minh sanh, trí sanh, ánh sáng sanh, vậy là mình thoát khỏi hắc ám, bóng đêm.

Vì không biết được đời sống này là khổ, vì không biết được sự hiện hữu của năm uẩn là khổ, vì không biết sự vận hành của năm uẩn là sự vận hành của tham, sân, si, vô minh và bản ngã, dục ái cho nên người ta ưa thích, tạo dựng và người ta rơi vào tăm tối, khổ đau. Bậc Đa văn Thánh đệ tử biết nó là khổ cho nên họ không hoan hỉ đối với năm uẩn, không hoan hỉ đối với sự vận hành của năm uẩn, không hoan hỉ đối với tham, sân, si, dục ái trong năm uẩn nên người ta nhàm chán nó, muốn tẩy sạch nó.

Con đường thoát khổ

Cho nên Diệt-Khổ Thánh Đế là diệt tham, sân, si, diệt vô minh, tham ái, diệt chấp ngã cũng là diệt sự dính mắc trong năm uẩn, đồng nghĩa diệt tận ngũ uẩn vì dục, ái, tham, sân, si, vô minh, bản ngã là những yếu tố, nhân tố, điều kiện để tạo ra thân ngũ uẩn, hễ có nó là có đời sống ngũ uẩn. Lưu ý, không phải hủy diệt cái thân này mà thứ cần hủy diệt là phải diệt nguyên nhân tạo ra thân này. Hình hài này có là do vô minh và tham ái nhưng không phải mình tự vẫn hay hủy hoại hình hài này là hết vô minh, tham ái; mà là quay trở vào động cơ, căn nguyên, lý do vì sao tạo ra thân này, sau đó mình diệt tận nguyên nhân đó. Muốn diệt tận thì đầu tiên phải thấy thân này là khổ vì nếu không thấy khổ thì lại ưa thích rồi tạo dựng, lại rơi vào chỗ tăm tối của khổ, còn giờ thấy nó là khổ thì nhàm chán, từ bỏ để đi đến ánh sáng.

Thế nhưng, tất cả chúng sanh đều không thấy được điều này mà yêu thích trong sự vận hành của năm uẩn, cứ suy nghĩ mình phải trở thành người như vậy, mình phải ăn mặc như vậy… đó là hoan hỉ đối với hành uẩn, cho nên chữ "hành" là sự vận hành của sắc, của các cảm giác, nghĩ tưởng và nhận thức. Thử xem lại tấm hình lúc đôi mươi rồi so với bây giờ, vậy là mình đang đối chiếu sắc quá khứ với sắc hiện tại rồi suy nghĩ phải làm sao cho đẹp hơn nữa thì đó là nghĩ về sắc tương lai.

Những gì Đức Phật nói trong kinh chỉ toàn là mật mã, định lý và khẩu quyết, đọc bình thường thì làm sao có thể hiểu nổi, mình cần phải diệt những cái nặng nhất, sau đó mới đến những cái nhỏ rồi từ từ mới đi đến chỗ hoàn toàn an tịnh và lắng dịu các uẩn. Như Lai là bậc tịch tịnh, thuyết pháp tịch tịnh và hướng dẫn cho mọi người đạt đến chỗ tịch tịnh. Chữ "tịch tịnh" đó là nghĩa là tịch tịnh tham, sân, si, nghĩa là sự vắng lặng của mọi sự vận hành dục, ái, bản ngã, nghĩa là hoàn toàn lắng dịu và an tịnh tất cả mọi sự dao động thô tế của ngũ uẩn, vì thế nếu ngũ uẩn còn sôi sục, còn dao động là còn nguy hiểm.

"Này Cunda ở đây vị đạo sư là Chánh Ðẳng Giác, và pháp được khéo tuyên thuyết, khéo trình bày, có hiệu năng hướng dẫn, hướng đến an tịnh, do vị Chánh Ðẳng Giác tuyên thuyết, và vị đệ tử trong pháp này sống thành tựu pháp và tùy pháp, sống thành tựu chánh hạnh, sống đúng tùy pháp, sống thuận theo pháp. Nếu có ai, hãy nói vị đệ tử ấy nói như sau: 'Này Hiền giả, thật là lợi ích cho Ngươi, thật khéo chứng đắc cho Ngươi. Vị đạo sư của Ngươi là vị A la hán Chánh Ðẳng Giác, pháp được khéo tuyên thuyết, được khéo trình bày, có hiệu năng hướng dẫn, hướng đến an tịnh, do vị Chánh Ðẳng Giác tuyên thuyết. Và Ngươi trong pháp này sống thành tựu pháp và tùy pháp, sống thành tựu chánh hạnh, sống đúng tùy pháp, sống thuận theo pháp'. Này Cunda, như vậy ở đây vị đạo sư đáng được tán thán, ở đây pháp đáng được tán thán, ở đây vị đệ tử cũng đáng được tán thán. Này Cunda, nếu có ai, hãy nói vị đệ tử ấy như sau: 'Thật vậy, Ðại đức thành tựu như pháp, tinh tấn như pháp, người khen, người được khen, người được khen như vậy lại càng tinh tấn thực hành, tất cả đều được nhiều công đức'. Vì sao vậy? Này Cunda, vì pháp luật được khéo tuyên thuyết, khéo trình bày như vậy, có hiệu năng hướng dẫn, hướng đến an tịnh, do vị Chánh Ðẳng Giác tuyên thuyết".

(Trường Bộ Kinh, 29. Kinh Thanh tịnh)

Dù cho cái đó là thiện pháp cũng đừng để mình dao động quá nhiều, phải tập an tịnh, lắng dịu vì nơi hướng đến của mình là bất động tâm giải thoát, đích đến là tâm bất động, nếu mình còn dao động thì vẫn chưa ở gần đích đến. Càng dao động thì càng đi trong luân hồi, một vị Bà-la-môn chạy theo chửi mắng Thế Tôn nhưng Ngài vẫn bình thản, Ngài hỏi lại nếu ông tặng quà mà người ta không nhận thì thế nào, vị Bà-la-môn trả lời không nhận thì quà đó của ông. Cũng vậy, khi ông chửi mà Thế Tôn không thọ nhận thì những lời đó thuộc về vị Bà-la-môn đó. Tưởng của Ngài vô cùng an tịnh lắng dịu, các thọ cũng an tịnh lắng dịu, sắc cũng an tịnh lắng dịu.

Nếu để ý sẽ thấy trên đời này cái gì “càng nhanh thì càng chậm”, trong đạo đức kinh có câu "đại biện nhược nột" nghĩa là một người đạt đến trình độ biện luận siêu đẳng nhưng nhìn lại thấy có vẻ ấp úng; máy bay có thể bay đến vài trăm cây số một giờ nhưng khi lên đó ngồi cảm giác bay rất nhẹ nhàng cứ như đứng yên tại chỗ; còn xe máy độ lại nẹt pô ầm ầm thì chạy nhanh không bao nhiêu, cho nên càng tịnh chừng nào thì trí càng sáng, càng sắc bén.

"-- Này các Tỳ-kheo, hãy tu tập Thiền định. Vị Tỳ-kheo có Thiền định, này các Tỳ-kheo, hiểu biết một cách như thật.

Hiểu biết gì một cách như thật? Sắc tập khởi và đoạn diệt; thọ tập khởi và đoạn diệt; tưởng tập khởi và đoạn diệt; các hành tập khởi và đoạn diệt; thức tập khởi và đoạn diệt".

(Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (a), A. Năm Mươi Kinh Căn Bản, I. Phẩm Nakulapità, V. Thiền Ðịnh)

Càng định thì càng thâm sâu, càng sáng tỏ, còn động nhiều quá sẽ bị rối loạn.

"Do vậy, này Tỳ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: 'Ðây là Khổ'... một cố gắng cần phải làm để rõ biết: 'Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt'".

(Tương Ưng Bộ, Tập V. Thiên Đại Phẩm, Chương XII - Tương Ưng Sự Thật (b), V. Phẩm Vực Thẳm, VI. Hắc Ám)

Có nhiều người nghĩ rằng Thế Tôn nói câu này không mỏi miệng hay sao mà trong bài kinh nào Ngài cũng lặp lại, còn mình học kinh đến đây là lược qua không đọc, bảo rằng mình biết rồi nên không đọc, thế là bỏ qua. Ngài là bậc tốn tôn tối thượng, Chánh Đẳng Chánh Giác nên Ngài nói không dư chữ nào cả, không ai được thêm hay bớt chữ của Ngài. Cho nên người thành tựu chánh kiến phải tôn kính Đức Phật tuyệt đối, còn người không tôn kính hoặc tôn kính không đủ thì người đó vẫn chưa thành tựu chánh kiến, chưa đoạn tận các lậu hoặc cho nên không biết được thật sự Thế Tôn là bậc có ân đức với mình như thế nào, cho nên đọc kinh không được bỏ bất cứ chữ nào cả, không được đọc kinh cẩu thả, qua loa, xem thường, không được đọc cho lẹ để tìm cái khác.

Hôm nay có các chữ trọng yếu là “hoan hỉ các hành”, “tạo dựng các hành”, “rơi vào tăm tối, sanh, già, chết, sầu đau, khổ ải”, đó là vế thứ nhất của người không biết tu, không thấy khổ. Còn người biết tu là “không hoan hỉ”, tức là thấy nhàm chán, vì nhàm chán nên không tạo dựng mà phải phá hủy các tham, sân, si, vì họ phá hủy tham, sân, si cho nên họ thoát ra khỏi tăm tối, không rơi vào bóng đêm của già, bệnh, chết, bất an, lo lắng, sợ hãi, khổ sầu, họ có sự sáng suốt, trí tuệ. Đó là ý nghĩa bài kinh Hắc ám, nghĩa là sự tăm tối đáng sợ, bài kinh này khai mở cho mình biết bao sự mê mờ, không thấy, không biết, không hiểu, phải học thuộc và nhớ những từ mấu chốt, quan trọng trong kinh chứ không phải học qua rồi là xong, phải học thuộc để có tư duy, quán chiếu, nghiền ngẫm.

Thật là phước báo cho chúng ta khi được những những lời dạy mà trong vô lượng vô biên kiếp vừa qua mình chưa từng nghe, để biết được sự vận hành, an trú và chấm dứt của sắc; thọ; tưởng; hành; thức là cả một sự thiền định, cả một sự nhận diện năm uẩn sâu sắc, cho nên cần phải cố gắng tu học thật nhiều hơn nữa mới thấy được khổ.

Một người nọ mua được miếng đất rất đẹp nên họ tạo cảnh để xây biệt thự, đầu tiên là hoan hỉ, thích miếng đất, sau đó là tạo dựng biệt thự nhưng đến khi xây dựng xong biệt thự thì biết tin miếng đất này được rao bán cho nhiều người, họ rơi vào tình trạng tranh chấp đất, mất tiền, mất nhà. Nếu từ đầu họ biết bị gạt thì họ sẽ không mua đất, không xây nhà, còn không biết nên mua rồi tốn biết bao thời gian tranh chấp, thưa kiện, đau khổ, mất công sức, thời gian rồi khổ sở.

Người biết tu là từ đầu đã thấy mình bị ngũ uẩn lừa gạt, bị sắc lừa gạt, miếng đất ví dụ cho sắc, bị cảm giác thích thú lừa gạt, bị cái tưởng hiện ra ngôi nhà đẹp trên miếng đất lừa gạt, cái hành nói lầm thầm "được ở đây hạnh phúc, sung sướng lắm" lừa gạt mình. Đi vào sâu hơn thì dưới miếng đất đó có hố tử thần hoặc sẽ bị động đất, ở Mỹ có một đường đứt gãy kéo dài từ nam Cali đến bắc Cali, không biết lúc nào nó động đất tạo ra hố tử thần rồi mình thích thú, tạo dựng trong đó mà không may bị sụp xuống là chấm dứt mọi thứ. Người biết tu biết phía dưới có hố tử thần, có sự nguy hiểm nên họ không ưa thích, vì không ưa thích nên không tạo dựng, không xây dựng nên không bị rơi vào vực sâu tối tăm, đau khổ./.