Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Không thêm không bớt

2026-03-03 00:53:25
KHÔNG THÊM KHÔNG BỚT

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Tích Lũy: PAGEREF _Toc46217990 \h 1

II. Bậc Đạo Sư và hàng Đệ tử: PAGEREF _Toc46217991 \h 4

III. Thấy mà không thấy: PAGEREF _Toc46217992 \h 10

IV. Tứ sự cúng giường: PAGEREF _Toc46217993 \h 18

V. Khuyến cáo PAGEREF _Toc46217994 \h 19

I. Tích Lũy:

Trong đời sống này có rất nhiều điều xảy đến bất ngờ khiến ta không trở tay kịp. Những lúc này, nếu không có sức niệm - định - tuệ, ta sẽ bối rối, hụt hẫng, ta bàng hoàng, kinh hãi hoặc bị dao động. Bàn một chút về thực tế trong đời sống, sáng nay lúc 3 giờ 30 phút Minh Thành thức dậy chờ đợi tiếng chuông thức chúng vang lên đặng thông báo đại chúng đến học kinh, lúc mở lên điện thoại báo hết tiền không gọi được, cố gắng lần thứ hai nhắn tin đến đại chúng cũng không xong. Lúc này Minh Thành đi bộ sang thông báo với đại chúng, khi đến nơi mới phát hiện quên chiếc máy tính bảng, nhờ một vị đệ tử mang lên hộ, khi đem lên Ipad còn 6%, lại phải mang đi sạc pin.

Ngay cả ngày chủ nhật, lúc Minh Thành về Vĩnh Long giảng pháp, sư bà mời vào phòng nghỉ ngơi đợi đến giờ pháp thoại. Tới giờ thỉnh giảng, Minh Thành mở cửa không được, ở bên ngoài mở mãi cũng không ra, mọi người hoảng loạn cả lên, cuối cùng phải dùng xà beng nạy cửa, lúc bấy giờ Minh Thành ở bên trong bình thản đọc Tam tạng kinh điển. Nhân sự kiện này, Minh Thành giảng về đề tài Thoát ngục, mọi người rất hoan hỷ, khi giảng pháp đến đoạn quan trọng với câu: “bậc Chánh Đẳng Giác tuyên thuyết” thì sấm nổ ầm ầm, dường như đất trời lúc này cũng cảm động với Chánh pháp của Đức Thế Tôn, rồi đến đoạn Minh Thành nhắc về xe cứu thương thì tình cờ xe cứu thương chạy ngang trước cổng chùa.

Đối với những sự kiện này, nếu không có sức niệm - định - tuệ thì khi chúng bất ngờ xảy đến ta không thể điềm tĩnh, điềm nhiên được, đây mới chỉ là những việc rất nhỏ nhiệm. Khi có sự tu tập thường trực, có thực tập thường trực thì đến khi hữu sự ta mới có đủ sức mạnh, có đủ sự điềm nhiên, bình tĩnh, an nhiên tự tại. Sở dĩ những điều này hiện hữu là nhờ lợi ích tu tập thường ngày của ta, gọi là tích lũy nghiệp và cận tử nghiệp. Tích lũy nghiệp nghĩa là bình thường ta có sự tích lũy, ta có của để dành; cận tử nghiệp là lúc sắp sửa ra đi, ta có sự dành dụm, cũng giống như việc ta tích lũy rất nhiều của cải, tiền bạc thì đến khi cần gấp, ta thủng thỉnh mang ra lo liệu không phải lo lắng hay sợ hãi.

Những người thường ngày không biết tích lũy thiện nghiệp, trong kinh Pháp Cú có nhắc đến như sau.

“Lúc trẻ không phạm hạnh,

Không tìm kiếm tiền bạc,

Như cò già bên ao,

Ủ rũ, không tôm cá.

Lúc trẻ không phạm hạnh,

Không tìm kiếm bạc tiền,

Như cây cung bị gãy,

Thở than những ngày qua.”

Bài kinh này mang hàm ý rằng, lúc còn khỏe trẻ, ta không dốc lòng nỗ lực tu tập, cũng giống như việc tuổi trẻ không dốc lòng kiếm tiền, không lo tích lũy tài sản; đến khi già, giống như cây cung bị gãy thở than theo tháng ngày. Lúc bấy giờ do nghèo, không có tiền của mà không thể tự chăm sóc bản thân, con cái không quan tâm; một khi ta giàu có, nhiều tiền của thì có thể tự lo liệu mọi thứ và đứa con nào cũng quay lại lo lắng chăm sóc cho ta.

Bình thường với sự tu tập niệm định huệ văn tư tu, giải thoát, tri kiến giải thoát cùng những thiện pháp, công đức, tối thắng tuệ pháp quán là rất quan trọng. Nếu không có những điều này thì ví như cò già bên ao, ủ rủ không tôm cá. Lúc còn sức không dốc lòng tu tập, tích lũy đến khi sự già, sự bệnh, sự chết ập đến, ta không định, không trí huệ, không niệm lực, đạo lực, định lực, trí huệ lực, giải thoát lực, vô úy lực thì ta như bị chơi vơi giữa biển lớn, lao đao, khốn khổ.

II. Bậc Đạo Sư và hàng Đệ tử:

Bài kinh Thanh tịnh số 29 trong Trường bộ kinh tập 2 trang 441.

Bài kinh này vừa nghe đến nửa bài thì Minh Thành không nghe được nữa, bởi cảm giác hỷ lạc dâng lên tràn ngập, rúng động toàn thân; lúc này Minh Thành phải ngừng lại để thiền hành, để niềm vui này được lan tỏa, thấm nhuần khắp châu thân. Cảm thọ rúng động toàn thân, trí về Chánh Tri Kiến như được sáng tỏ hơn nữa, ngày càng tròn vẹn. Niềm tin của Minh Thành đối với Đức Phật, đối với chánh pháp đi đến chỗ bất động.

Bài kinh như sau:

“Một thời, Thế Tôn trú giữa giòng tộc Sakya (Thích-ca) trong vườn xoài của một gia đình Thích-ca tên là Vedhannà.

Lúc bấy giờ, Nigantha Nàthaputta (Ni-kiền tử phái tu lõa thể) vừa mới tạ thế ở Pàvà (ông là một vị hướng dẫn tu hành, một vị thầy lớn, có thể ví như giáo chủ của một tông giáo lớn). Sau khi vị này tạ thế, các vị Nigantha chia ra làm hai phái, chia rẽ nhau, tranh chấp nhau, tranh luận nhau và sống tàn hại nhau với binh khí bằng miệng

"Ngươi không biết pháp luật này, ta biết pháp luật này. Sao Ngươi có thể biết pháp luật này? Ngươi theo tà hạnh, ta theo chánh hạnh. Lời nói của ta tương ưng, lời nói Ngươi không tương ưng. Điều đáng nói trước, Ngươi nói sau; điều đáng nói sau, Ngươi nói trước. Điều Ngươi quan niệm trình bày, đã bị đảo lộn. Quan điểm của Ngươi đã bị thách đố. Ngươi đã bị đánh bại. Hãy đi giải tỏa quan điểm của Ngươi! Hãy tự thoát khỏi bế tắc nếu Ngươi có thể làm được."

Hình như các đệ tử của Nigantha Nàthaputta muốn tàn hại lẫn nhau. Chính các đệ tử cư sĩ mặc đồ trắng của Nigantha Nàthaputta cũng chán ngấy, cơ hiềm, và phản đối các vị Nigantha”

Tiếp theo người trùng tuyên với tạng kinh (có thể là ngài Ananda) nói thêm, giải thích cho ta hiểu vì sao sự kiện này lại xảy ra như vậy, tại sao bậc đạo sư vừa qua đời thì ngay lập tức có sự chia rẽ, lục đục nội bộ trong hàng đệ tử đến mức phải dùng vũ khí miệng lưỡi để tranh đấu với nhau. Tại sao có sự kiện này?

“Vì pháp luật của họ đã được trình bày, tuyên bố một cách vụng về, không có hiệu năng hướng dẫn, không hướng đến an tịnh, không do vị Chánh Đẳng Giác tuyên thuyết, pháp y chỉ đã bị đổ vỡ, không có chỗ y chỉ.”

Đây là yếu tố cực kỳ quan trọng, ta cần phải chiêm nghiệm thật kỹ, một khi ta nhận rõ pháp sẽ không có trường hợp này xảy ra, chính do pháp này được tuyên bố một cách vụng về, không hướng đến an tịnh, không được một vị Chánh Đẳng Giác tuyên thuyết mà pháp y chỉ này của Nigantha Nàthaputta đã bị đổ vỡ không có chỗ nương tựa. Đổi lại, nếu đây là pháp của Đức Thế Tôn, của bậc Chánh Đẳng Giác tuyên thuyết thời không thể thêm, không thể bớt, không thêm được bất cứ điều gì, không bớt được mảy may nào, đây mới là pháp của bậc Chánh Đẳng Giác.

Bài kinh tiếp tục như sau:

“Rồi Sa-di Cunda (Thuần-đà), sau khi an cư mùa mưa ở Pàvà đến thăm tôn giả Ananda ở Sàmàgama, sau khi đến, đảnh lễ tôn giả Ananda (A-nan) và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên. Sa-di Cunda bạch tôn giả Ananda:

- Bạch Tôn giả, Nigantha Nàthaputta đã từ trần ở Pàvà sau khi vị này tạ thế, các Nigantha chia ra làm hai phái... Pháp y chỉ đã bị đổ vỡ, không có chỗ y chỉ.

Khi nghe nói vậy, tôn giả Ananda nói với Sa-di Cunda:

- Này Hiền giả Cunda, đây là vấn đề đáng đưa ra để yết kiến Thế Tôn. Này Hiền giả Cunda, chúng ta hãy đi yết kiến Thế Tôn; sau khi đến xong, chúng ta hãy trình bày vấn đề này để Thế Tôn biết.

- Bạch Tôn giả, vâng!

Sa-di Cunda vâng lời tôn giả Ananda.”

Ở sự kiện này ta cảm nhận được lòng từ bi của ngài Ananda, không phải một, mà rất nhiều lần, bất cứ lúc nào có sự kiện liên hệ đến lợi ích trong hiện tại và tương lai ngài đều khuyến khích mọi người đừng bàn với nhau mã hãy đến đảnh lễ Đức Thế Tôn - lúc bấy giờ bậc pháp chủ, bậc pháp nhãn, bậc pháp bổn. Đức Thế Tôn là tuệ nhãn của pháp, là y chỉ của pháp, sau khi Đức Thế Tôn giảng thuyết ta sẽ nghe lời Đức Thế Tôn dạy, ta sẽ y giáo phụng hành, đây là tâm đại từ đại bi của Ngài Ananda. Ngài Ananda thông qua điều này tạo nên nhân duyên để Đức Phật khai diễn thậm thâm vi diệu pháp, để Đức Thế Tôn soi sáng trí huệ bậc Chánh Đẳng Giác cho mọi người cùng được nghe hiểu. Khi ngài Ananda nói với Sa-di Cunda đi đến trình bày sự việc, lúc đó Đức Thế Tôn giải thích như sau:

“Này Cunda, như vậy ở đây pháp luật đã được trình bày tuyên bố một cách vụng về, không có hiệu năng hướng dẫn, không hướng đến an tịnh, không do vị Chánh Đẳng Giác tuyên thuyết.

Này Cunda, ở đây có vị đạo sư không phải là Chánh Đẳng Giác, có pháp luật đã được trình bày tuyên bố một cách vụng về, không có hiệu năng hướng dẫn, không hướng đến an tịnh, không do vị Chánh Đẳng Giác tuyên thuyết."

Ở đây Đức Thế Tôn tuyên bố nguyên nhân thứ nhất dẫn đến sự việc này là do bậc đạo sư giảng pháp đó không phải là người giác ngộ cứu cánh cùng cực. Khiến cho pháp được trình bày một cách vụng về, gây chia rẽ nội bộ. “Ngươi không biết pháp luật này, ta biết pháp luật này. Sao Ngươi có thể biết pháp luật này? Ngươi theo tà hạnh, ta theo chánh hạnh. Lời nói của ta tương ưng, lời nói Ngươi không tương ưng. Điều đáng nói trước, Ngươi nói sau; điều đáng nói sau, Ngươi nói trước. Điều Ngươi quan niệm trình bày, đã bị đảo lộn.”. Chúng ta cần phải học hỏi kinh nghiệm từ bài kinh này để có thể thành tựu pháp nhãn thanh tịnh, bất kỳ pháp và luật nào hiện hữu bị chia rẽ, bị mâu thuẫn, bị đấu tranh nội bộ tức pháp và luật đó không phải do bậc Chánh Đẳng Giác tuyên bố.

Đức Thế Tôn giải thích thêm như sau:

“Và người đệ tử trong pháp này, không thành tựu và an trú trong pháp và tùy pháp, không sống đúng chánh hạnh, không sống đúng tùy pháp, sống vượt ra ngoài pháp. Người đệ tử ấy cần được nói như sau: "Này Hiền giả, thật là lợi ích cho Ngươi. Thật khéo chứng đắc cho Ngươi. Đạo sư của Ngươi không phải là vị Chánh Đẳng Giác. Pháp của Ngươi đã được trình bày, tuyên bố một cách vụng về, không có hiệu năng hướng dẫn, không hướng đến an tịnh, không do vị Chánh Đẳng Giác tuyên bố. Và Ngươi trong pháp này, không thành tựu và an trú trong pháp và tùy pháp, không sống đúng chánh hạnh, không sống đúng tùy pháp, vượt ra ngoài pháp.

Này Cunda, như vậy ở đây, vị đạo sư đáng quở trách, ở đây pháp đáng quở trách, nhưng ở đây đệ tử đáng tán thán.”

Như một lẽ đương nhiên, bậc đạo sư giảng pháp không phải là bậc sơ thiện, trung thiện, hậu thiện thì pháp được người này tuyên bố không viên mãn; với pháp và luật được tuyên bố một cách vụng về, không có hiệu năng hướng dẫn, không hướng đến an tịnh thì người đệ tử trong pháp này không thể thành tựu, không thể an trú. Như vậy, theo lời Đức Phật, vị đạo sư ở đây đáng bị quở trách, pháp đáng bị quở trách nhưng vị đệ tử vẫn tu tập một cách chân thành đáng tán thán.

“Này Cunda, với vị đệ tử như vậy, nên nói như sau:"Này Đại Đức, dầu Đại Đức thực hành đúng như pháp vị đạo sư đã dạy và trình bày, ai có suy tầm, ai có bị suy tầm, ai có suy tầm rồi như thực thi hành, tất cả đều không có phước báo. Vì sao vậy? Vì pháp luật đã được trình bày tuyên bố một cách vụng về, không có hiệu năng hướng dẫn, không hướng đến an tịnh, không do vị Chánh Đẳng Giác tuyên thuyết."”

Tóm lại, với một vị thầy như vậy với một giáo pháp như vậy người đệ tử trong giáo pháp không thể thành tựu.

Đức Phật giảng thêm như sau:

“Này Cunda, ở đây vị đạo sư là vị Chánh Đẳng Giác, pháp được khéo giảng và trình bày, có hiệu năng hướng dẫn, hướng đến an tịnh, do vị Chánh Đẳng Giác tuyên thuyết. Vị đệ tử trong pháp này sống không thành tựu pháp và tùy pháp, sống không theo chánh hạnh, sống không đúng tùy pháp, sống không thuận theo pháp.”

Với sự dẫn dắt của một bậc đạo sư là vị Chánh Đẳng Giác, giáo pháp là toàn thiện nhưng người đệ tử không dốc lòng thực hành, sống không thành tựu, không theo chánh hạnh. Ở đây người đáng trách không ai khác chính là vị đệ tử.

“Vị đệ tử ấy cần phải được nói: "Này Hiền giả, thật không lợi ích cho Ngươi, thật không khéo chứng đắc cho Ngươi. Vị đạo sư của Ngươi là vị Chánh Đẳng Giác, pháp được khéo tuyên bố trình bày, có hiệu năng hướng dẫn, hướng đến an tịnh, do vị Chánh Đẳng Giác tuyên thuyết. Nhưng Ngươi trong pháp này sống không thành tựu pháp, sống không theo chánh hạnh, sống không đúng tùy pháp, sống không thuận theo pháp."”

Nhưng ở đây, vị đạo sư Chánh Đẳng Giác đáng được tán thán, pháp do bậc Chánh Đẳng Giác tuyên bố đáng được tán thán. Tuy nhiên, nếu vị đệ tử trong pháp và luật này tinh thông diệu pháp, phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thời đây là sự kiện tuyệt vời, đáng được tán thán. Chính vì lẽ đó, người đệ tử trong pháp và luật này, nếu chưa tinh thông diệu pháp, phạm hạnh hoàn toàn, thành tựu pháp và tùy pháp cần phải tinh tấn, nỗ lực, cố gắng tu tập, thực hành.

“Này Cunda, Ta nay hiện tại là bậc đạo sư xuất hiện ở đời, là bậc A-la-hán chánh đẳng giác, pháp được khéo tuyên bố, khéo trình bày, có hiệu năng hướng dẫn hướng đến an tịnh được Chánh Đẳng Giác trình bày. Và các đệ tử của ta tinh thông diệu pháp, phạm hạnh hoàn toàn viên mãn được tỏa lộ với tất cả thứ bậc vị trí liên hệ được trở thành diệu dụng, được khéo trình bày cho loài Người”.

Đức Phật xác quyết một cách rõ ràng:

“Ta đã thành tựu trí huệ cùng cực cùng tột viên mãn, Pháp của ta có khả năng đưa ta đến thành tựu đạo quả, nay phạm hạnh của ta được thành công, hưng thịnh, phát triển và phổ thông một cách rộng rãi khéo tuyên bố giữa mọi người, ta không thấy một vị đạo sư nào khác có thể bằng ta về phương diện lợi dưỡng và văn xưng tối thượng. (về sự cúng giường, sự cung kính, tôn trọng và thanh danh được đồn vang tối thượng; không có một vị Thầy nào có thể so sánh với Đức Thế Tôn).”

“Ta không thấy một đoàn thể nào khác có thể bằng đoàn thể Tỳ-kheo về phương diện lợi dưỡng và văn xưng tối thượng. Từ vị Thầy cho đến đệ tử không có một đoàn thể nào có thể so sánh được”.

III. Thấy mà không thấy:

Đức Thế Tôn thuyết giảng trong bài kinh Thanh tịnh số 29 trong Trường bộ kinh tập 2 như sau:

“Này Cunda, Uddaka con của Ràma thường nói: "Thấy mà không thấy".

Thấy cái gì mà không thấy? Với một con dao sắc bén, chỉ thấy lưỡi dao không thấy khía cạnh sắc bén của dao. Này Cunda, ở đây Uddaka con của Ràma đề cập đến một vật đê tiện, hạ liệt, thuộc về phàm phu, không xứng bậc Thánh, không có lợi ích, nói về con dao.”

Ở đây Đức Phật chỉ ra rằng, người này đang chỉ ra vật hạ liệt, thông thường của thế tục. Đức Phật chỉ ra đây là chuyện thấp hèn, thuộc về phàm phu không xứng đáng với bậc thánh, không lợi ích khi nói về con dao. Một cách đúng đắn về câu “Thấy mà không thấy”, Đức Phật dạy phải bàn như sau:

“Này Cunda, nếu nói đúng đắn câu "Thấy mà không thấy", thời phải nói như sau: "Thấy mà không thấy". Vị ấy thấy cái gì mà không thấy? Một phạm hạnh, thành tựu hết thảy tướng, đầy đủ hết thảy tướng, không thiếu sót, không quá đáng, được khéo tuyên bố một cách viên mãn, được khéo trình bày. Chính vị ấy thấy phạm hạnh này.”.

Trong giáo pháp của Đức Phật, trong một giáo pháp tròn vẹn viên mãn, một giáo pháp thành tựu hết thảy, không thiếu sót, không dư thừa bất cứ điều gì, những giới luật được Đức Phật chế định ra không quá nhiều, được khéo tuyên bố một cách viên mãn, khéo trình bày một cách đầy đủ, đưa đến thanh tịnh, trình bày một cách sáng tỏa. Khi thấy rõ được những điều này, như vậy gọi là vị ấy thấy.

Đức Phật dạy thêm:

“Nếu vị ấy trừ bớt một phương diện nào tại một chỗ nào, nghĩ rằng làm vậy sẽ được rõ ràng hơn, vị ấy sẽ không thấy gì.”.

Đây là câu kinh trọng điểm của bài viết này, hãy thử nhìn xung quanh, ta và mọi người đều đang rơi vào sự “không thấy gì” này của Đức Phật, thực sự không thấy gì. Với bao nhiêu pháp và luật đã được Đức Phật trình bày, giải thích, ta gạt bỏ hết thảy, ta tuyên bố chỉ cần một câu hiệu “A Di Đà Phật” là đầy đủ, trọn vẹn, đây là một hành động cực kỳ khủng khiếp, nguy hiểm. Cũng bởi do người tuyên bố điều này không hiểu biết, thiếu sự tu học trong pháp và luật của Đức Phật, không nắm vững về pháp. Họ bỏ lại 37 phẩm trợ đạo của Đức Thế Tôn, là con đường các bậc Như Lai Chánh Đẳng Giác trong quá khư đã đi qua, hiện tại Đức Thế Tôn – Phật Thích Ca Mâu Ni cũng đi trên con đường này và chứng ngộ và tất cả các bậc Chánh Đẳng Giác sau này đều phải đi trên con đường đó, là con đường Tứ Thánh Đế, Bát Chánh Đạo, Tứ Niệm Xứ. Hiện nay, người tu sĩ mang hình dáng của một vị Tỷ-kheo lại ngạo mạn tuyên bố điều trái ngược như vậy, đây là hành động điên cuồng hủy hoại Phật pháp, truyền bá tà kiến vào lòng người. Ấy thế mà biết bao nhiêu người vẫn nghe theo và tôn sùng, đây là thời mạt pháp được Đức Thế Tôn nói trước vậy.

Ngoài ra, còn có những pháp môn tu, mượn hình ảnh của Đức Phật, của giáo pháp, nhưng tuyên bố rằng sự tu học chỉ cần một hơi thở là đủ, cũng chính bởi sự không thấy pháp mà nên. Hoặc có nhiều người tuyên bố chỉ một chữ “nhẫn”, chỉ một chữ này họ dùng để tu tập đến hết đời, không cần học thêm bất cứ điều gì khác nữa. Lại có người tuyên bố chỉ cần quán thọ, không quán thêm điều gì khác. Thử nghĩ, nếu thật sự như người này tuyên bố thì tại sao Đức Thế Tôn không dừng lại ở một pháp quán thọ, mà Thế Tôn phải thuyết về quán thân, quán tâm và quán pháp. Đây là hành động trừ bớt giáo pháp, chính vì những hành động này mà họ không thấy được pháp, vĩnh viễn không thấy được điều gì. Một khi không nhìn thấy, không nhận ra Thánh Đạo thì không thể nào nhìn thấy và nhận ra Thánh Quả. Đây là một yếu tố cực kỳ quan trọng, ta cần phải chiêm nghiệm sâu sắc điều này. Bàn thêm sự nguy hiểm của của những người sống với tà kiến, sau thời Đức Phật, xuất hiện những tinh thần chê Bát Chánh Đạo, Tứ Thánh Đế, Tứ Niệm Xứ là tiểu thừa, thậm chí trong giới bồ tát không cho phép tu học các pháp của tiểu thừa, đây là một sự kiện hết sức khủng khiếp.

Về sự kiện này, Đức Phật thuyết như sau:

“Do vậy, này Cunda, những pháp do Ta tự chứng tri và tuyên bố cho các Ngươi, tất cả các Ngươi hãy hội họp lại và tụng đọc lại, chớ có cãi lộn nhau, nhưng hãy so sánh các nghĩa với nhau, các câu với nhau để cho phạm hạnh này được tồn tại lâu dài, được an trú lâu dài, vì hạnh phúc cho muôn loài, vì an lạc cho muôn loài, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì an lạc cho chư Thiên và cho loài Người.”

Chính vì tâm đại từ, đại bi này của Đức Phật mà giáo pháp của ngài mới có thể tồn tại năm ngàn năm. Những pháp này bao gồm Bốn Niệm Xứ, Bốn Chánh Cần, Bốn Như Ý Túc, Năm Căn, Năm Lực, Bảy Giác Chi và Bát Bhánh Đạo; theo lời Đức Thế Tôn đây là “Những pháp do ta tự chứng tri và tuyên bố cho các Ngươi”.

37 phẩm trợ đạo là con số nhiều, tuy nhiên một khi học tập tinh thông, dung thông quán triệt được 37 phẩm trợ đạo này; ta sẽ nhận ra 37 phẩm này điều được gói gọn trong Bát Chánh Đạo. Cần phải thuyết nhiều như vậy là bởi vì Đức Phật cần phải giảng về nhiều phương diện để cho ta thấy tất cả khía cạnh của Bát Thánh Đạo, thấy được tất cả khía cạnh của sự tu hành. Những điều này không thể bớt đi cũng không thể thêm vào:

“Nếu vị ấy thêm vào một phương diện nào tại chỗ nào, nghĩ rằng làm vậy sẽ được rõ ràng hơn, vị ấy sẽ không thấy gì. Nếu vị ấy thêm vào một phương diện nào tại chỗ nào, nghĩ rằng làm vậy được viên mãn hơn, vị ấy sẽ không thấy gì. Như vậy gọi là "Thấy mà không thấy".”

Hãy thử nhìn lại xung quanh ta, hiện nay có rất nhiều người tự ý thêm vào giáo pháp của Đức Phật, do không thành tựu Chánh Tri Kiến nên những người này có một thái độ ngạo mạn, tự ý đặt ra những pháp môn tu, thậm chí có người mượn danh nhưng không tu theo Thánh Đạo Thánh Quả được Đức Phật giảng dạy mà đi học theo những giáo pháp của ngoại đạo, truyền bá, giảng dạy khiến cho Phật tử đi vào tà kiến, mê tín. Thật đau đớn làm sao khi bản thân ăn cơm của Như Lai, mặc áo của Như Lai, sống trong nhà Như Lai mà hành động phản bác Như Lai, tuyên truyền giáo pháp của ngoại đạo, tà kiến của ngoại đạo, thật xót xa vô cùng.

Bản thân Minh Thành từng tiếp xúc với những vị cư sĩ đang là tiến sỹ với học hàm học vị rất cao, khi đọc kinh Đức Phật giảng về bốn phần, là vị này tự ý sáng chế ra phần thứ năm, thực sự khủng khiếp, rùng rợn. Những hành động này, từ sâu trong thâm tâm họ không thấy được rằng đây là ngã mạn. Bởi không thấy nên họ làm theo ý mình, chính ngay tại Linh Quy Pháp Ấn, trước đây cũng có nhiều người đến tuyên bố rằng tự thân họ sáng chế ra một pháp tu mới. Ngày nay, tồn tại rất rất nhiều trường hợp như vậy, căn bản là do không thành tựu Chánh Tri Kiến, không nhìn thấy được giá trị của Đức Thế Tôn, không thấy được giá trị của Chánh Pháp, không thấy được giá trị của hiền thánh tăng, không thấy được giá trị của Thánh Giới. Chúng ta hãy tự hỏi rằng những điều này hiện nay phổ biến hay không? Sự thêm vào kinh tạng của Đức Phật có phổ biến hay không? Rồi họ sẽ đi về đâu? Chính vì lẽ đó mà bài kinh này cực kỳ trọng yếu, ta cần phải nằm lòng bài kinh này, thường thường giảng thuyết về bài kinh này.

Trong bài kinh có đoạn bàn về những sự kiện này, nói rằng “Kẻ ngu này nghĩ rằng ta có thể vượt qua Đức Thế Tôn, bậc Chánh Đẳng Giác”. Trong kinh có kể về những vị Tỷ-kheo với tà kiến, họ tuyên bố rằng “Đức Thế Tôn nói là vậy, nhưng tôi hiểu như thế này,..”, lúc đồn tới tai thì Đức Thế Tôn quở trách, “Này kẻ ngu si kia, muốn vượt qua trí huệ Chánh Đẳng Giác.”. Trong thời Đức Phật được kinh Nikāya ghi lại, không chỉ có một người với tà kiến như vậy, thì bây giờ tồn tại những sự kiện nêu trên là điều dễ hiểu. Chính vì lẽ đó ta cần phải học thuộc lòng kinh điển, không được thêm một chữ, không được bớt một chữ. Về nghĩa thì ta có thể hiểu một cách rộng rãi, nhưng riêng đối với kinh điển, nếu ta thêm, bớt chữ thì trong tương lai người khác y cứ theo đó tu hành sẽ không có ai thành tựu.

Công lao của các bậc A La Hán gìn giữ bao nhiêu ngàn năm nay to lớn biết dường nào. Trong kinh điển, có nhiều đoạn quan trọng được lặp đi lặp lại, nói tới nói lui, cũng nhờ vậy kinh điển mới còn tồn tại. Vậy mà đến tay, ta đem trí ngu si của phàm phu vào phân tích, nghĩ là “lặp tới lặp lui hoài mất công quá, nên thôi ta rút ngắn cho nó gọn đi”… đến một lúc, một thời gian sau đại tạng kinh không còn sót lại điều gì, tự cho mình thông minh, đây là suy nghĩ cực kỳ nguy hiểm.

Nhất định phải học thuộc lòng những pháp quan trọng; ngay cả học thuộc lòng mà chưa chắc lúc ngồi xuống bắt đầu tu học, quán chiếu mà ta thành công; thì không thể bàn đến lúc mơ màng, hồ đồ, lờ đờ, lúc đó toàn bộ là Thọ, Tưởng, Hành, Thức của ta vận hành, làm sao ta có thể tu thành tựu Thánh Đạo, Thánh Quả.

Ngoài ra, cần phải đối chiếu với kinh, đối chiếu với luật, hội họp, tụng đọc lại từng câu từng chữ, Đức Phật hướng dẫn phải mang ra đối chiếu với kinh, đối chiếu với luật những câu từ nào đúng. Trong đời sống cũng vậy, ngay từ những việc rất nhỏ, nhưng huynh đệ hay bị Minh Thành la rầy, nhắc nhở như quét nhà, trồng một cây tùng, trồng một cây trúc; Minh Thành luôn chỉ ra những ngóc ngách. Kỹ lưỡng từng chút từng chút một là vậy, mà lúc mở pháp hội đôi khi còn gặp thất bại; đã kỹ từng ly từng tí như vậy mà vẫn thất bại, làm không xong, trong khi đây là một việc rất bình phàm, tầm thường của thế gian. Thì đến lúc thực hành pháp tối tôn, tối thượng, xuất thế gian, cứu cánh giải thoát làm sao ta có đủ nghị lực thực hành; làm sao ta có thể thành tựu pháp và tùy pháp với một thái độ đơn sơ, xuất lược, sơ suất, xem thường như thế? Với một tâm cẩu thả, qua loa, xem thường như thế không thể nào đưa ta vào Thánh Đạo, Thánh Quả. Chính vì vậy, khi nhắc nhở các huynh đệ không phải do Minh Thành khó tính mà mục đích là để rèn luyện tâm cẩn trọng cho huynh đệ, tạo cơ sở vững chắc để huynh đệ bước vào dòng pháp xuất thế gian này của Đức Thế Tôn, bước vào trí huệ thâm sâu, tinh vi, tế nhị, sâu sắc, nhỏ nhiệm, vi diệu của Đức Phật. Để huynh đệ có đủ sự cẩn thận, sự nhìn nhận để nhận thấy các pháp trong tự tâm của mình. Ta không thể nào nhận ra những điều vi tế này trong tâm khi mà cái ghế xếp còn bị lệch, cái bàn đặt chưa ngay ngắn, tượng phật yên vị còn chênh vênh, thắp cây nhang còn chưa thẳng. Những điều nhỏ nhiệm như vậy còn qua loa, phớt lờ, cẩu thả, thì tới chỗ tâm không hình tướng, tinh vi, xảo huyệt, mưu mô, phản trắc, rất nhiều kiểu cách, bản ngã hiện hữu thì làm sao ta phát hiện ra được? Một khi ta không phát hiện, nhận diện được chúng thời vĩnh viễn bị nhốt trong ngục tù vậy.

Tu hành không đơn giản như ta nghĩ, mà là một việc tinh vi siêu tinh vi, tế nhị siêu tế nhị, sâu xa siêu sâu xa, như lời Đức Thế Tôn đã dạy “thâm thâm cực thậm thâm, nan thông đạt cực nan thông đạt”. Đây không phải là trí huệ của phàm phu có thể dễ dàng hiểu thấu được, mà đòi hỏi sự cố gắng, nỗ lực, nhiệt tâm tinh cần, tỉnh giác, đòi hỏi sự cẩn trọng cực kỳ, tỉnh giác cùng cực. Việc này không đơn giản, dễ dàng mà có thể buông lung; tuy nhiên cũng không hề căng thẳng. Ở đây yêu cầu sự tỉnh thức, tỉnh táo, tinh anh sáng suốt, tế nhị sâu sắc của tâm thì mới có thể nhìn thấu được các pháp vận hành. Trong sự tu học của nhiều người, trên thế gian hiện nay không có nhiều nơi y cứ theo lời dạy của Đức Thế Tôn, dạy cách phát hiện ra năm uẩn, cực kỳ khó gặp trên cuộc đời, nên ta cần cảm nhận một điều tuyệt vời rằng chúng ta đang có phúc duyên cực kỳ to lớn khi đọc được những dòng này.

“Những pháp ấy là Bốn Niệm Xứ, Bốn Chánh Cần, Bốn Như ý túc, Năm Căn, Năm Lực, Bảy Giác chi, Tám Thánh Đạo. Này Cunda, những pháp ấy do Ta tự chứng tri và tuyên bố cho các Ngươi, tất cả Ngươi hãy hội họp lại và tụng đọc lại, chớ có cãi lộn nhau, nhưng hãy so sánh các nghĩa với nhau, các câu với nhau, để cho phạm hạnh này được tồn tại lâu dài, được an trú lâu dài, vì hạnh phúc của muôn loài, vì an lạc cho muôn loài, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì an lạc cho chư Thiên và cho loài Người.”

Chúng ta cần phải cố gắng, nỗ lực học nhuần nhuyễn 37 phẩm trợ đạo của Đức Phật giảng dạy, đây là thánh đạo, là con đường của Như Lai đã đi. Hiểu một cách sâu sắc ta sẽ nhận ra Tứ niệm xứ đã dung nhiếp hết tất cả pháp hành, Chánh niệm trong Bát Chánh Đạo là Tứ niệm xứ.

Theo đó, Bát Thánh Đạo bao trùm hết các pháp:

Trong Ngũ Căn, Ngũ Lực: phần Chánh Tri Kiến bao trùm trong Tín Căn – Tín Lực, niềm tin chân chánh hỗ trợ cho Chánh Tri Kiến, phải thấy đúng mới có niềm tin chân chánh. Tấn Căn – Tấn Lực thuộc về Chánh Tinh Tấn. Niệm Căn – Niệm Lực thuộc về Chánh Niệm. Định Căn – Định Lực thuộc về Chánh Định. Tuệ Căn – Tuệ Lực thuộc về Chánh Tri Kiến.

Bốn Niệm Xứ thuộc về Chánh Niệm.

Bốn Chánh Cần thuộc về Chánh Tinh Tấn.

Tứ như ý túc thuộc về Chánh Định.

Trong bảy giác chi: Niệm Giác Chi thuộc về Chánh Niệm. Trạch Pháp Giác Chi thuộc về Chánh Tri Kiến. Định thuộc Chánh định. Niệm trong Chánh niệm. Xả trong Chánh định, tâm ta nhẹ nhàng xả đến phiền não.

Bát Chánh Đạo lại là Đạo Đế trong Tứ Thánh Đế, chính vì lẽ đó nên khi ta học pháp một cách thông suốt sẽ nhận ra sự nhất quán của những pháp này. Vì được khai triển theo khía cạnh này, theo khía cạnh kia mà có sự phân biệt các pháp. Trên thực tế, tất cả 37 phẩm trợ đạo đều nằm trong Đạo Đế của Tứ Thánh Đế. Vậy ta cần phải nhận ra rằng Tứ Thánh Đế là dấu chân voi, là nóc nhọn của căn nhà gom giữ hết tất cả thiện pháp ở trong.

“Ta không thuyết pháp chỉ để diệt trừ các lậu hoặc trong tương lai mà thôi, ta thuyết pháp vừa để ngăn chặn các lậu hoặc ngay trong hiện tại cũng để diệt trừ các lậu hoặc trong tương lai”

Câu này được đưc Phật thuyết giảng với ý nghĩa vô cùng sâu sắc, hàm ý chỉ ra rằng ta cần phải làm được, diệt trừ các lậu hoặc ngay trong hiện tại và cả ở tương lai. Hiện nay xuất hiện những nơi tu học với sự hứa hẹn ở tương lai. Ta cần phải nhìn rõ vấn đề, nếu ngay trong hiện tại ta chưa giải quyết được vấn đề, thì làm sao có thể bàn đến tương lai, hiện tại trong ta còn đầy dãy vô minh, ngã mạn, cống cao, tham, sân, si, dương dương tự đắc, tật đố, đầy những thứ hơn thua, nhân ngã thị phi. Người ta hứa rằng: tương lai sẽ được giải thoát thì đây là sự kiện viễn vông, là lời hứa hẹn không có cơ sở. Ngay trong hiện tại, ta nghèo xác xơ, không có đủ cơm ăn, áo mặc mà người ta hứa rằng yên tâm đi, yên tâm đi tương lai sẽ trở thành tỉ phú giàu có, ấy vậy mà ta vẫn tin sái cổ. Đức Phật đã tuyên bố, pháp của ngài chỉ cho ta cách làm ăn ngay trong hiện tại, giúp có đủ cơm ăn áo mặc, giải quyết được sự nghèo, sự khổ, sự đói của ta ngay trong hiện tại. Chính vì ngay bây giờ ta giải quyết được mà tương lai ta cũng sẽ giải quyết được, đây mới thực là Chánh pháp của Như Lai, có khả năng chỉ ra cho ta thấy được tham - sân - si, hướng dẫn cho ta nhìn thấy được sự vận hành chấm dứt của chúng, hướng dẫn ta nhận ra và thực hành theo giới - định - tuệ. Ta cần phải lưu ý và nắm chắc những điều này.

IV. Tứ sự cúng giường:

Về thái độ đối với những vật ngoài thân, Đức Phật dạy ta như sau:

“Do vậy tấm y mà ta cho phép các ông mặc như vậy là vừa đủ để cho các ông ngăn chặn lạnh nóng, ngăn chặn xúc chạm của các loài ruồi muỗi, gió, mặt trời và các loài rắn và che dấu sự hỗ thẹn”.

Khi đọc những lời dạy này, Minh Thành cảm thấy tôn kính, tôn quý Đức Phật vô bờ bến, đồng thời cảm thấy hổ thẹn vô cùng. Đức Phật dạy, tấm y mà ngài cho phép ta mặc đó, là vừa đủ để ngăn chặn lạnh nóng, ngăn chặn sự xúc chạm của ruồi muỗi của gió của mặt trời, che đậy sự xấu hổ. Thử nhìn lại bản thân mà xem, nhìn lại vải này, vải kia, vải nọ với biết bao nhiêu thứ y nào là y gấm, y tía,.. làm trái với lời Phật dạy. Khi ta nghe lại lời pháp này của Đức Phật, văn tư tu huệ cần phải cảm thấy hổ thẹn, xấu hổ, đau đớn thay cho đời sống xuất gia trong hiện tại, đau đớn thay cho chính chúng ta nếu không cố gắng trở thành đa văn thánh đệ tử, nếu không nghe, không học, không tu tập, nghiền ngẫm sâu sắc thì một đời tu hành sẽ đi về đâu, khổ thay, đau đớn thay, cay đắng thay cho chúng ta.

“Các món ăn khất thực mà ta cho phép các ông dùng như vậy để vừa đủ nuôi dưỡng thân thể, giúp thân thể sống còn, tránh khỏi nguy hại (từ bệnh tật) giúp đời sống phạm hạnh (thành tựu đạo nghiệp của người xuất gia) với hy vọng. Như vậy ta diệt trừ các cảm thọ cũ (cảm thọ đói) và không cho khởi lên các cảm thọ mới (sự khoan khoái, thích thú dối với món ăn), như vậy đời sống của ta mới không lỗi lầm và ta sống được an vui”

Đọc những lời dạy này của Đức Thế Tôn ta cần phải cảm thấy hổ thẹn, nhục nhã, xấu hổ, tàm quý. Nhận thấy được mục đích, ý nghĩa giá trị khi ta sử dụng y phục và vật thực để ta tránh khỏi những lỗi lầm đưa ta đến đời sống an lạc, đơn sơ. Sống bình thản tùy thuận thức ăn, không câu nệ, có nhiều ăn nhiều, có vừa ăn vừa, có ít ăn ít. Ngày xưa có những ngày Đức Thế Tôn phải uống nước lã qua thời khất thực vì không ai cho và có giai đoạn suốt ba tháng liền ngài phải ăn thứ lúa dành cho ngựa, ta thử ngẫm xem một vị thái tử- con của một vị vua thiên hạ mà ăn cám ngựa suốt ba tháng ròng.

“Nhà cửa ta cho phép các ông an trú như vậy vừa đủ ngăn chặn lạnh, ngăn chặn nóng, ngăn chặn sự xúc chạm của ruồi muỗi ngăn chặn gió, mặt trời, các loài rắn chỉ mục đích trách thoát sự nguy hiểm của thời tiết và an hưởng đời sống tịnh cư nhà cửa”

Những thất nho nhỏ ta che lên để ngăn chặn sự nóng lạnh thời tiết, ruồi muỗi, ánh nắng, rắn riết, sự nguy hiểm gió mưa bão bùng để ta an hưởng được đời sống tịnh cư, độc cư thanh tịnh, độc cư thiền tịnh. Nếu ta hiểu được thì cảm rất thanh thản, giải thoát một nửa, không phải lo lắng vận động xây chùa, không lo y áo đẹp đẽ, không lo ăn uống cho thật ngon thật nhiều, sử dụng chúng đúng với mục đích thực sự, đọc lên những lời dạy này của Đức Thế Tôn ta trào lên một cảm xúc biết ơn ngài. Nhìn lại bản thân mà xem, ta có thái độ như thế nào đối với những điều này này.

“Các dược phẩm và thuốc trị bệnh ta cho phép các ông dùng như vậy để vừa đủ ngăn chặn cảm thọ đau ốm khởi lên và để giữ gìn sức khỏe”

Đây gọi là tứ sự cúng dường gồm y phục, ẩm thực, nhà cửa và thuốc men; ta cần phải xem đây là phương tiện, là không quan trọng; ta cần thấy rõ mục đích của chúng, công dụng của chúng; thì đời sống xuất gia của ta mới nhẹ nhàng.

V. Khuyến cáo

Nếu các huynh đệ cố gắng nỗ lực tu tập, nỗ lực suốt trong ba tháng liền, liên tục nghe Chánh pháp văn tư tu, thiền quán ba pháp, thiền quán nhận diện năm uẩn, như lý tác ý và học rộng, hiểu sâu bộ kinh này. Ngay trong ba tháng có thể thành tựu Chánh Tri Kiến, thấy rõ được vấn đề mà Đức Phật muốn dạy ta?

Nỗ lực sau này tất cả những Phật tử về Linh Quy Pháp Ấn sẽ thấm nhuần Chánh Tri Kiến đó, người được tu tập và sau này khi ta đến nơi nào, Chánh Tri Kiến của ta, trí huệ của ta tỏa sáng; nơi đó sẽ được lợi lạc khi sự có mặt của ta.

Kính mong quý Phật tử nỗ lực tu hành.

./.