Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Làm An Tâm Người Bệnh 5

2026-03-03 00:53:26
KINH NIKĀYA GIẢNG GIẢI

LÀM AN TÂM NGƯỜI BỆNH 5

HÃY TỰ MÌNH LÀ NGỌN ĐÈN CHO CHÍNH MÌNH

–Thích Minh Thành–

Kính bạch chư Tăng Ni cùng toàn thể quý Phật tử, hôm nay chúng ta sẽ nghe một bài kinh rất quan trọng. Bài kinh này có tên là kinh Bệnh nằm trong Tương Ưng Bộ, Tập V, bài kinh tuy không dài nhưng lại chuyển tải rất nhiều những khía cạnh lịch sử của Đức Phật, sự thật về con người của ngài trong giờ phút cuối cùng, về công phu tu hành thật chứng của ngài và giờ phút kề cận cái chết thì Đức Thế Tôn xử lý thế nào và khoảnh khắc đó diễn ra thế nào, những lời di huấn sau cùng của ngài để lại cũng như ngài đã nhắn nhủ, di giáo đều nằm trọn vẹn trong bài kinh này.

"Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở Vesàli, tại làng Beluva.

Ở đấy, Thế Tôn gọi các Tỳ-kheo:

-- Hãy đến, này các Tỳ-kheo, hãy an cư vào mùa mưa xung quanh Vesàli, chỗ nào có bạn bè, có người quen biết (sandittham), có người thân thiết (sambhattam). Ở đây, Ta sẽ an cư mùa mưa tại làng Veluva này.

-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các Tỳ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, an cư mùa mưa xung quanh Vesàli, tại chỗ có bạn bè, có người quen biết, có người thân thiết. Còn Thế Tôn thời an cư mùa mưa tại làng Beluva.

Trong khi Thế Tôn an cư mùa mưa, một cơn bệnh trầm trọng khởi lên, những cảm thọ khốc liệt gần như chết tiếp diễn. Ở đây, Thế Tôn chánh niệm, tỉnh giác, không có than vãn.

Rồi Thế Tôn suy nghĩ: 'Thật không tương xứng đối với Ta, nếu Ta không báo trước các vị ủng hộ Ta và không từ giã chúng Tỳ-kheo mà nhập Niết-bàn. Vậy Ta hãy tinh tấn nhiếp phục trọng bệnh này, lưu giữ mạng hành (jìvitasankhàra) và sống'. Rồi Thế Tôn với sức tinh tấn nhiếp phục trọng bệnh ấy, lưu giữ mạng hành và sống.

Rồi Thế Tôn thoát khỏi cơn bệnh; thoát khỏi cơn bệnh không bao lâu, Ngài đi ra khỏi nhà bệnh, ngồi trên chỗ đã soạn sẵn, trong bóng im, sau lưng ngôi nhà.

Rồi Tôn giả Ananda đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

-- Bạch Thế Tôn, con thấy Thế Tôn kham nhẫn! Bạch Thế Tôn, con thấy Thế Tôn chịu đựng! Bạch Thế Tôn, thân con cảm thấy yếu ớt như lau sậy, mắt con mờ mịt không thấy rõ phương hướng. Pháp không được tỏ rõ cho con vì Thế Tôn bị bệnh. Nhưng bạch Thế Tôn, con được chút an ủi rằng Thế Tôn sẽ không diệt độ, nếu Ngài không có lời di giáo lại cho chúng Tỳ-kheo.

-- Này Ananda, chúng Tỳ-kheo còn mong mỏi gì nữa ở nơi Ta. Này Ananda, Ta giảng pháp không có phân biệt trong ngoài. Vì, này Ananda, đối với các pháp, Như Lai không bao giờ là vị Ðạo Sư còn nắm tay. Này Ananda, những ai nghĩ rằng Ta sẽ là vị cầm đầu chúng Tỳ-kheo, hay : Chúng Tỳ-kheo chịu sự giáo huấn của Ta, thời này Ananda, người ấy sẽ có lời di giáo cho chúng Tỳ-kheo. Này Ananda, Như Lai không có nghĩ rằng: 'Ta sẽ là vị cầm đầu chúng Tỳ-kheo", hay 'Chúng Tỳ-kheo chịu sự giáo huấn của Ta', thời này Ananda, làm sao Như Lai lại có lời di giáo cho chúng Tỳ-kheo? (Tương Ưng Bộ, Tập V. Thiên Đại Phẩm, Chương III. Tương Ưng Niệm Xứ (a), I. Phẩm Ambapàli, IX. Bệnh)

Di giáo là những lời dạy để lại cho chúng Tỳ-kheo. Đối với các pháp Như Lai không bao giờ là vị thầy còn giấu lại cho mình mà không trao gửi hết cho tất cả mọi người, ngài đã trao truyền hết tất cả những gì ngài đã chứng ngộ, thấy biết về sự thật bốn Thánh trí về năm uẩn, bốn Thánh trí về lậu hoặc, Tứ Thánh Đế, ba mươi bảy phẩm trợ đạo. Người nào nghĩ rằng mình là sư phụ, là lãnh đạo, là người dẫn đường, những người kia là đệ tử chịu sự dạy dỗ thì người đó mới có lời di chúc, nhắn nhủ lại, còn Thế Tôn không nghĩ mình là người lãnh đạo, người dẫn đầu, ngài không nghĩ chúng Tỳ-kheo chịu sự giáo huấn của ngài nên làm sao có lời di giáo cho chúng Tỳ-kheo. Một lời nói này là phủi hết bốn mươi năm thuyết pháp, ngài chưa từng xem mình là thầy, chưa từng xem chúng Tỳ-kheo là đệ tử, điều này rất đặc biệt, đó là đại trí tuệ vô ngã trong giây phút cuối cùng. Trong thâm tâm Đức Thế Tôn ngài không xem mình là bậc đạo sư, là người lãnh đạo, ngài không xem chúng Tỳ-kheo chịu sự dạy dỗ, còn người nào nghĩ mình là sư phụ, là người lãnh đạo, còn những người kia là đệ tử thì tới giây phút này nhất định phải có lời di giáo, di chúc dạy dỗ để lại, còn Thế Tôn là không có, lúc này Đức Thế Tôn hiển thị cho mình thấy chân thật tuệ của ngài, chỉ với một câu nói đó là khẳng định trong bốn mươi năm thuyết pháp không có ta, không có cái của ta, đây là Thánh trí vô ngã thậm thâm mà Đức Thế Tôn chứng nhập, chứng ngộ. Đó là Thánh tuệ vô ngã tối thượng trong khi ngài bệnh nặng gần nhắm mắt ra đi, sau khi hiển bày Thánh tuệ vô ngã thì ngài trở lại thân thể tứ đại của mình.

"Này Ananda, Ta nay đã già, bậc trưởng thượng, bậc trưởng lão, đã đạt đến đoạn cuối của đời, đã đến tám mươi tuổi. Này Ananda, như cỗ xe đã già mòn, sở dĩ còn chạy được là nhờ dây thừng chằng chịt. Cũng vậy, thân Như Lai được duy trì sự sống giống như chính nhờ dây thừng chằng chịt". (Tương Ưng Bộ, Tập V. Thiên Đại Phẩm, Chương III. Tương Ưng Niệm Xứ (a), I. Phẩm Ambapàli, IX. Bệnh)

Thế Tôn nay đã già, đã lên đến bậc trưởng lão, trưởng thượng, lên hàng tám mươi tuổi là gần đến đoạn cuối cuộc đời. Thân Như Lai được duy trì chẳng qua là nhờ những sợi dây đó còn siết lại, không bao lâu nữa cũng đứt dây.

"Này Ananda, chỉ trong khi Như Lai không tác ý đến tất cả tướng, với sự diệt trừ một số cảm thọ, chứng và an trú vô tướng tâm định, chính khi ấy, thân Như Lai được thoải mái. Vậy này Ananda, hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, hãy tự mình nương tựa chính mình, chớ nương tựa một điều gì khác. Dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, chớ nương tựa một gì khác. Và này Ananda, thế nào là Tỳ-kheo tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một điều gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một gì khác?

Này Ananda, ở đây, Tỳ-kheo trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời; quán thọ trên các thọ... quán tâm trên tâm... quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Này Ananda, như vậy là Tỳ-kheo tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa cho chính mình, không nương tựa một điều gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một điều gì khác". (Tương Ưng Bộ, Tập V. Thiên Đại Phẩm, Chương III. Tương Ưng Niệm Xứ (a), I. Phẩm Ambapàli, IX. Bệnh)

Chỉ khi nào Như Lai không tác ý đến tất cả tướng, diệt trừ một số cảm thọ, chứng và ở trong định tâm vô tướng thì lúc đó thân ngài mới được thoải mái. Như thế nào gọi là tự mình làm ngọn đèn cho chính mình, như thế nào là tự mình nương dựa chính mình, như thế nào là không nương tựa một điều gì khác, như thế nào là dùng chánh pháp làm ngọn đèn, như thế nào là nương tựa chánh pháp không nương tựa một điều gì khác? Đó chính là sự tu tập và an trú vào sự nhìn ngó, quán sát về tự thân, quán sát một cách nhiệt tâm, nhiệt tình, siêng năng, tỉnh sáng và chánh niệm đối với thân thể này, đối với cảm giác này, đối với nội tâm và đối với những gì đang có mặt, vận hành trong tâm, tỉnh giác chánh niệm nhìn ngó vào thân xác này, hình hài này. Nhìn ngó thân thể này bằng cách để tâm vào hơi thở, để tâm vào những hành động, cử chỉ, để tâm vào những yếu tố cấu tạo thân xác tứ đại này, nhìn kĩ những thành phần lắp ráp nên cơ thể này qua ba mươi hai bộ phận không sạch sẽ, nhìn kĩ thân xác này kết thúc khi trải qua chín giai đoạn, tinh tấn để ý vào, đặt tâm vào thì gọi là an trú, quán thân trên thân. Nhìn kĩ thân này bằng trí tuệ, bằng sự tỉnh giác chánh niệm, như vậy gọi là tự mình làm ngọn đèn cho chính mình, như vậy gọi là tự mình nương tựa chính mình, như vậy gọi là dùng chánh pháp làm ngọn đèn, làm chỗ nương dựa, không nương dựa một cái gì khác trên cuộc đời này.

Như thế nào là nương dựa chính mình, như thế nào là dùng chánh pháp làm ngọn đèn soi đường? Chính là sự siêng năng, nhiệt tình, nhiệt tâm để ý vào các cảm thọ khổ, phải để ý sự sân hận, phải diệt tận nó, phải để ý vào cảm thọ vui, để ý vào tham ái, sự buông thả, buông trôi theo ngoại cảnh, phải làm cho nó an tịnh, lắng dịu, phải để ý cảm thọ không khổ không vui để nhiếp phục, phá tan cảm giác si dại, si mê bằng cách thắp sáng ngọn đèn sanh diệt, Khổ Thánh Trí. Phải tinh cần, tinh tấn quán chiếu ba cảm thọ, nhiếp phục, tẩy sạch những cảm giác bản ngã, hơn thua, như vậy là tự mình làm ngọn đèn chính mình, như vậy là nương dựa chính mình, như vậy là dùng chánh pháp làm ngọn đèn, dùng chánh pháp làm chỗ nương dựa, không nương dựa một điều gì khác. Phải để ý vào trong tâm, vào những suy nghĩ, hình bóng đó có tham, sân, si không, tâm nhỏ hẹp hay rộng lớn, tâm bị ràng buộc hay thoát ra, tâm có định hay không có định, phải nỗ lực, nhiệt tình trong việc tăng thượng thiện pháp và diệt trừ ác pháp, như vậy là tự mình làm ngọn đèn chính mình, như vậy là nương dựa chính mình, như vậy là dùng chánh pháp làm ngọn đèn, dùng chánh pháp làm chỗ nương dựa, không nương dựa một điều gì khác. Nhìn sâu vào bên trong để thấy ngũ uẩn đang có mặt như thế nào, lậu hoặc đang vận hành như thế nào, những thiện pháp đang sanh khởi hay an trú ra sao, trong tâm có Thất Giác Chi không, có thấy sự sanh diệt của ngũ uẩn không, có tín - tấn - niệm - định - tuệ không hay trong tâm là những cấu uế, cấu nhiễm, rác bẩn, cần nhiệt tâm, nhiệt tình, chánh niệm tỉnh giác nhìn ngó xử lý nó một cách thích đáng, thích hợp qua cái nhìn của chánh kiến, như vậy gọi là tự mình làm ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình không nương tựa một gì khác, như vậy gọi là dùng chánh pháp làm ngọn đèn, dùng chánh pháp làm chỗ nương tựa, đừng nương tựa một điều gì khác. Đến cả tấm thân của Như Lai cũng rã rời, tan hoại thì nương dựa vào một cái gì ở bên ngoài? Hãy nương dựa vào chánh pháp, mà chánh pháp là Tứ Niệm Xứ, Tứ Niệm Xứ là sự nhiệt tâm, nhiệt tình quay lại nhìn thân thể, cảm giác, nội tâm và những gì đang vận hành trong tâm. Đó là Đức Phật trao ngọn đèn cho chúng ta, trao chánh pháp cho chúng ta, đó là ngài trao chỗ quy y, chỗ nương tựa vững chắc cho chúng ta khi ngài chuẩn bị ra đi, ngài nói rõ ràng chánh pháp chính là Tứ Niệm Xứ nhưng chúng ta cũng phải hiểu rằng có luôn cả Tứ Chánh Cần, Tứ Như Ý Túc, Ngũ Căn, Ngũ Lực, Thất Bồ-đề phần, Bát Thánh Đạo, trong Tứ Niệm Xứ có đầy đủ hết tất cả những pháp kia, nếu mình thành tựu trí huệ, thật sự tu hành, thật sự thực tập sẽ thấy có đầy đủ các pháp. Nếu không có lòng tin thì không thể dấn thân cả đời để thực hành pháp, không nỗ lực thì không thể có kết quả, không chánh niệm tỉnh giác thì không thể nhìn thấy sự thật của thân tâm này, của cuộc đời này, không tập trung tâm ý thì không thể nhìn rõ, nhìn sâu, nhìn chính xác được, mình không có trí tuệ nương dựa từ nơi Đức Thế Tôn truyền trao thì làm sao nhìn đúng được vì thế tín – tấn – niệm – định – tuệ nằm trong Tứ Niệm Xứ, tất cả các pháp có sự liên thông, tương trợ với nhau.

"Này Ananda, những ai hiện nay hoặc sau khi Ta diệt độ, tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một điều gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa vào một gì khác; những vị ấy, này Ananda, là những vị tối thượng trong hàng Tỳ-kheo của Ta, nếu những vị ấy tha thiết học hỏi". (Tương Ưng Bộ, Tập V. Thiên Đại Phẩm, Chương III. Tương Ưng Niệm Xứ (a), I. Phẩm Ambapàli, IX. Bệnh)

Những vị nào thực hành như những gì đã nói ở trên thì đó là những người đệ tử tối thượng trong hàng đệ tử của Như Lai, vừa siêng năng thực hành vừa có tâm tha thiết học hỏi, muốn hướng thượng thì đó là những vị đệ tử tối thượng trong hàng Thánh chúng của Như Lai, họ không tự mãn, không hài lòng khi trong người còn các lậu hoặc. Qua bài kinh này làm rực sáng cho chúng ta thấy chánh pháp là Tứ Niệm Xứ, còn Tứ Niệm Xứ là còn chánh pháp, mất Tứ Niệm Xứ là chánh pháp không còn. Còn Tứ Niệm Xứ là còn quay lại kiểm soát thân tâm, nhìn thấy sự thật bệnh tật, nhơ nhớp, bất tịnh, đau khổ, nhìn thấy tham, sân, si, vô minh, bản ngã, các lậu hoặc là nguyên nhân của khổ, dập tắt những cái đó, tẩy sạch, đoạn tận những cái đó bằng sự nội soi, nội quán, nội chiếu, quay ngược lại nhìn vào nội tâm thường xuyên và liên tục, mọi lúc mọi nơi, đó là thắp lên ngọn đèn tâm của chính mình, đó là chánh pháp của Đức Thế Tôn truyền lại, đó là chỗ nương tựa vững chắc tối thượng nhất trên cuộc đời này, chớ có nương tựa một điều gì khác, đó là Thế Tôn di giáo chánh pháp trong những lời sau cuối, những người nào thực hành như vậy với tâm tha thiết, chân thành học hỏi thì đó là những vị tối thượng trong hàng Tỳ-kheo, trong hàng cư sĩ của Phật giáo.

"Trong khi Thế Tôn an cư mùa mưa, một cơn bệnh trầm trọng khởi lên, những cảm thọ khốc liệt gần như chết tiếp diễn". Đoạn kinh này cho chúng ta thấy được sự thật của thân này, còn chúng ta sau này cứ nói "an nhiên thị tịch", nghe thì hay nhưng có thật không thì cần xét kĩ lại, chúng ta bị những ngôn từ hoa mỹ, văn chương bay bổng che mờ sự thật, làm cho những người học đạo không biết đâu là sự thật, cứ nghĩ rằng gần chết là lên ngồi kiết già đọc bài kệ rồi ra đi, đó là sự hiểu lầm đến khi sự thật diễn ra không giống vậy. Giáo pháp của Đức Thế Tôn là phơi bày những gì bị che kín, Thế Tôn cũng gặp những cảm thọ khốc liệt trong thân chứ không phải ngài không biết đau hoặc ngài không có bệnh, đó là lý do kinh Nikāya là những lời dạy nguyên chất, những gì là sự thật đều được trình bày trong đây. Đức Thế Tôn lên tới phạm thiên, nhìn xuyên xuống địa ngục tới các loài ngạ quỷ, là bậc đạo sư của tam giới được vua trời lạy dưới chân, đó là đức độ, trí tuệ, lòng từ của ngài nhưng thân xác sắc uẩn của ngài là sự thật, là tứ đại thì phải bệnh hoạn, phải già chết, phải hoại diệt, chúng ta phải hiểu điều này vì nếu không, học một thời gian là lẫn lộn. Trí tuệ, sự chứng đắc của ngài là khác, thần thông của ngài là khác, còn sắc thân là một điều khác nữa, phải sanh, già, bệnh, chết, phải bệnh tật, tan rã, còn mình bệnh thì cầu Phật độ cho đừng bệnh, nếu đúng thì phải là "cầu Phật độ cho con an tâm trong cái bệnh tật này", "cầu Đức Thế Tôn gia hộ cho con đủ trí tuệ sáng suốt để con thấy sự thật của thân xác này là bệnh hoạn, khổ đau, vô thường, để tâm con bình an trong bệnh tật này", đó là sự cầu nguyện chân chánh, chánh tín, chánh kiến đối với Đức Phật chứ không phải cầu cho hết bệnh, đừng chết, đó là không hiểu Phật, không hiểu pháp, cầu như vậy sẽ khổ hoài vì cứ than trách "con làm lành, làm phước nhiều mà sao giờ bị bệnh như vầy", vậy là mất lòng tin thậm chí còn trách tam bảo, đó là do mê tín nên như vậy, không hiểu Phật, không hiểu pháp. Những bài trước chúng ta học về lòng tin với tam bảo, còn bây giờ chúng ta đi sâu vào trí tuệ để làm an tâm người bệnh ngay trong cơn bệnh, làm an tịnh người sắp mạng chung, đó mới là chỗ vi diệu, thù thắng, tối thượng của pháp, nghĩa là ngay trong thân bệnh nhưng tâm không bệnh, thân sắp chết nhưng tâm chánh niệm, bình an, đó là cái tuyệt diệu của pháp. Đức Thế Tôn còn nhập diệt thì chúng ta là người bình thường thì làm sao không chết được? Chuyện đó không thể có được, bây giờ tu rồi mong muốn sanh lên chỗ nào không chết là không hiểu đúng pháp của Đức Phật, hễ có thân là có hoại diệt, Niết-bàn mới là bất tử, phải hiểu được điều này.

"Ở đây, Thế Tôn chánh niệm, tỉnh giác, không có than vãn". Đây là hoa trái, là thành quả của sự tu, chứng đạo là ngay đây, tức là mình mong cầu tâm bình an trong bệnh khổ chứ không phải mong cầu không bệnh vì mong cầu không có bệnh là không thể xảy ra, ngay trong cái bệnh có cảm thọ khốc liệt gần như chết tiếp diễn vậy mà Thế Tôn chánh niệm tỉnh giác, không than thở, rên rỉ, như vậy công phu nhiếp phục cảm thọ của ngài vô cùng thâm hậu. Như vậy không phải Thế Tôn không biết đau, trong kinh ghi lại cảm thọ khốc liệt tiếp diễn nghĩa là rất đau đớn, hết cảm thọ đau này đến cảm thọ đau khác nhưng do tu tập thường xuyên nhiếp phục cảm thọ nên ngài không than vãn, ngài biết đó chỉ là cảm thọ và cảm thọ này là duyên sanh, vô thường, cảm thọ này không phải là tôi, không phải của tôi, tách bản thân ra khỏi cảm thọ, công phu này cần tu tập hằng ngày, hằng giờ để khi có hữu sự mới dùng được, đến khi đối đầu cái chết mới thấy được thành quả tu tập, quán chiếu, nhiếp phục và an tịnh các cảm thọ. Chúng ta tập nhiếp phục cảm giác đau của việc ngồi thiền, chiến đấu với cái buồn ngủ, nhiếp phục sự nhức mỏi, nóng lạnh, những sự buồn chán, bức xúc là chúng ta đang tập nhiếp phục, chế ngự các cảm thọ hơn thua, sân si, dục tham, bản ngã, tập từ từ mới có sự thuần thục đến khi có hữu sự hoặc nguy hiểm đến đột ngột thì chúng ta mới có công phu, đến khi đối đầu cái chết cũng chánh niệm tỉnh giác không than vãn. Đây là bài kinh nói về Đức Phật nhưng không chỉ nói riêng về Đức Phật mà nhìn từ Đức Phật để xem lại bản thân để tu hành, tu giống Đức Phật mới có lợi ích, tập nhìn thấy những cảm thọ trong con người mình để chế ngự, nhiếp phục nó, đến khi ở bên bờ vực của cái chết chúng ta mới có sức tự chủ, bây giờ chỉ toàn thấy cảm thọ dẫn dắt, điều khiển mình, chúng ta còn phải tu tập rất nhiều nữa. Chỉ với một câu Thế Tôn không than vãn thôi là biết bao sự chiến đấu trong đó, đối với ngài đã thuần thục, còn đối với chúng ta để đi được đến đó phải trải qua biết bao sự hành trì mới làm được.

Thế Tông nghĩ rằng "Thật không tương xứng đối với Ta, nếu Ta không báo trước các vị ủng hộ Ta và không từ giã chúng Tỳ-kheo mà nhập Niết-bàn". Những người ủng hộ ngài là vua Ba-tư-nặc, ông Cấp-cô-độc và những vị hộ pháp khác đã tới lui, chăm sóc, lo lắng, cúng dường, học pháp, cầu pháp mà nếu ngài không thông báo lại đột ngột nhập Niết-bàn thì không tương xứng đối với một bậc đại đạo sư. Một bậc Chánh Đẳng Chánh Giác làm gì cũng phải tương xứng với vị trí đó, trí tuệ quán sát trong từng ý hành, từng sự kiện để làm thế nào tương xứng đối với vị trí đó. Người ăn xin có cách hành xử của người ăn xin, người có học có cách hành xử của người có học, người bác sĩ có tư cách của một bác sĩ, người thầy giáo có phẩm chất của một người thầy giáo, người tu hành có tư cách của người tu hành, người đạo sư có phẩm chất của bậc đạo sư, còn đây là bậc vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác phải có cách thể hiện của một bậc tối thượng giữa chư thiên và loài người, cho nên đột nhiên ngài ra đi sẽ không tương xứng với vị trí của một bậc pháp vương. Đúng ra cảm thọ đó đưa đến chết nhưng ngài nói không được, phải nhiếp phục cảm thọ, đó là Thế Tôn tự chủ trong sanh tử, muốn chết chừng nào là chết, muốn sống là nhiếp phục lại để sống. Ngài đã tuyên bố giữa ma, phạm, chư thiên và loài người ngài là bậc Chánh Đẳng Chánh Giác thì cách ra đi của ngài phải tương xứng với vị trí của một bậc vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, cho nên ngài "tinh tấn nhiếp phục trọng bệnh ấy, lưu giữ mạng hành và sống". Trong kinh diễn tả rõ hoàn cảnh lúc đó, cảm thọ của ngài ra sao, Thế Tôn suy nghĩ thế nào và ngài quyết định ra sao, chúng ta phải thấy được từng góc độ trong đó, trong một câu kinh như vậy có biết bao vấn đề, bao nhiêu khía cạnh, trí tuệ của một bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, vì thế khi chúng ta nói, khi làm, khi suy nghĩ cái gì cũng phải suy xét kĩ càng từng góc độ chứ không phải muốn là làm, đó là làm theo cái dục, phải dùng trí tuệ quán sát điều đó có thích hợp, có phù hợp không rồi mới làm, mới nói, mới suy nghĩ. Thế Tôn là bậc tối tôn, tối thượng viên mãn tất cả biển cả công đức mà ngài còn phải nỗ lực tinh tấn nhiếp phục trọng bệnh, còn giờ tu lại nghĩ không cần làm gì nữa, tự sanh rồi tự diệt, chuyện gì cũng có nhân quả vì nếu để như vậy sẽ đưa đến chấm dứt mạng sống nên Thế Tôn phải nhiếp phục để lưu giữ mạng hành và sống, ngài không để các pháp diễn ra tự nhiên mà ngài dùng trí tuệ, thiền định của ngài làm chủ sự sống chết đó. Ở trên ngài đã nói nếu không báo trước mà nhập Niết-bàn thì không tương xứng, nghĩa là ngay đó nếu ngài không tinh tấn nhiếp phục trọng bệnh thì ngài sẽ ra đi, đối với hoàn cảnh đó, trường hợp đó thì tứ đại sẽ phân tán, tan rã nhưng ngài dùng trí tuệ quán sát làm sao để tương xứng, dùng định lực nhiếp phục các cảm thọ, lưu giữ mạng hành và sống. Mạng là sinh mạng, hành là sự vận hành của thân tâm ngũ uẩn, sắc; thọ; tưởng; hành; thức còn vận hành là còn sống, tịnh chỉ các hành là nhập Niết-bàn, có nhiều bậc Thánh chứng ngộ xong là nhập luôn Niết-bàn, chỗ này Đức Phật không để cho tứ đại diễn ra theo nhân duyên tự nhiên lúc đó mà ngài nhiếp phục lại, làm chủ nó, lưu giữ mạng sống. Qua đây chúng ta thấy rằng điểm trọng yếu của sự tu chính là nhiếp phục các cảm thọ vì cảm thọ là nơi hội tụ các pháp, nó là sào huyệt, là căn cứ địa của khổ vui, tham ưu. Tại sao chúng ta lại bỏ cha, bỏ mẹ, bỏ anh, bỏ em, bỏ hết tất cả để đi tu? Trong cảm thọ của mình lúc đó là một cảm thọ ngao ngán, não nề, toàn thấy khổ đau, hơn thua, giành giật, tạo nghiệp chứ không có gì vui vẻ, từ cảm thọ đó chúng ta mới xuất gia, cũng từ cảm thọ đó có những người hoàn tục, từ cảm thọ đó đưa đến địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, từ cảm thọ đó đưa đến thiên giới, loài người, từ cảm thọ mới đưa đến bậc hiền Thánh, cũng từ cảm thọ đó chấm dứt hết tất cả tứ đại ngũ uẩn. Chúng ta quán bất tịnh đến mức không muốn gì nữa vì quá ngao ngán, không còn ưa thích gì nữa, những cảm giác này chỉ có thiêu đốt, hành hạ, sai khiến mình, những hình bóng chỉ làm khổ mình, tư duy đến mức chán tận cùng là hướng tâm đến sự từ bỏ các uẩn, từ cái thọ đó nhập Niết-bàn, không còn chỗ dựa của sanh y nữa. Chỉ khi nào còn yêu thích trong năm uẩn mới tiếp tục tái tạo ra những thân xác năm uẩn, còn giờ đã chán ngán tận cùng, trong thọ không còn yêu thích, khoan khoái gì nữa thì lúc đó tối thiểu cũng là Dự Lưu, tối cao là A-la-hán quả, tức là dập tắt hết tất cả, tịnh chỉ các hành, đoạn tận sanh y, phá sập các kiết sử, chấm dứt tái sanh, đây là cửa bất tử, là cánh cửa tối tôn, tối thượng trong Thánh pháp, không có cái pháp thứ hai hướng dẫn cho mình điều này. Tất cả sự tu tập, sự quán chiếu, thiền định của chúng ta đều nhằm đưa đến thấy sự thật phũ phàng, vô tình, vô nghĩa, bất tịnh của năm uẩn này, thấy cho đến tận cùng thì không còn ham thích, say mê, ưa thích gì nữa mà chỉ muốn chấm dứt, như vậy gọi là nhất hướng nhàm chán, ly tham, an tịnh, thắng trí, chứng ngộ, Niết-bàn, nếu nhìn kĩ vào nội tâm mà còn ham thích, ưa thích cái gì thì chính cái đó làm cho mình sầu, bi, khổ, ưu, não. Đây là giáo pháp ly tham nên cần nhìn kĩ vào nội tâm xem lại còn tham thích, thích thú cái gì thì cứ tác ý, quán chiếu vào cái đó liên tục để tẩy trừ, diệt tận nó. Vợ chồng với nhau mà ly thân rồi đến mức ly dị nghĩa là đã quá chán nhau, không còn muốn nhìn mặt nhau nữa, nghe giọng nói cũng chán, nhìn mặt nhau cũng chán, không còn điểm nào thích nữa là ly dị, cũng vậy, đối với năm uẩn này, đối với năm dục trưởng dưỡng này, còn thích cái gì thì cái đó sẽ buộc, còn thích cái gì thì cái đó sẽ trói, còn thích cái gì thì cái đó sẽ là hệ luỵ, làm cho mình khổ với cái đó, cho nên tu để ly tham, nhàm chán, hướng đến từ bỏ, không thích gì nữa thì không có cái gì làm cho mình khổ nhưng cái không thích ở đây không phải là gượng ép mà do nghe nhiều chánh pháp, tuệ quán thâm nhập sâu vào cảm thọ cảm thấy chán ngán, không ưa thích cái gì nữa thì thể nhập trí tuệ của bậc Thánh, không còn cái gì làm khổ được nữa, nhiếp phục mọi tham ưu ở đời. Mình lo cho cái thân này vì mình còn yêu thương, ham thích nó, người này lo cho người kia vì còn yêu thương nhau cho nên cái tham với cái ưu đi chung với nhau, tham ái với vô minh đi chung với nhau, còn yêu thích, ham muốn vì còn thấy nó đẹp, nó hấp dẫn, còn thấy nó đẹp, hấp dẫn vì không biết bản chất của nó là giòi bọ, là bộ xương khô, đó là vô minh kết hợp với tham ái, vô minh là không thấy không biết, tham ái là ham muốn, thích thú, thương nhớ, đó là những cảm giác ước mơ, trông mong, đợi chờ, như vậy cái khổ kéo dài hết đời này đến đời sau, cứ như vậy nên vô thỉ là luân hồi này, không thể nêu rõ khởi điểm chúng sanh vị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc.

"Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỳ-kheo, khởi điểm không thể nêu rõ đối với lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương IV. Tương Ưng Vô Thỉ (Anamatagga), I. Phẩm Thứ Nhất, I. Cỏ Và Củi) 

Nước mắt đã chảy còn nhiều hơn nước trong bốn biển, cho nên khổ cứ tiếp diễn hết đời này đến đời khác.

"Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỳ-kheo, cái gì là nhiều hơn? Dòng nước mắt tuôn chảy do các Ông than van, khóc lóc, phải hội ngộ với những gì không ưa, phải biệt ly với những gì mình thích, khi các Ông phải lưu chuyển luân hồi trong thời gian dài này hay là nước trong bốn biển lớn?

-- Bạch Thế Tôn, theo như lời Thế Tôn thuyết pháp, chúng con hiểu rằng, cái này, bạch Thế Tôn, là nhiều hơn, tức là dòng nước mắt tuôn chảy do chúng con than van, khóc lóc, phải hội ngộ với những gì không ưa, phải biệt ly với những gì mình thích, khi phải lưu chuyển luân hồi trong thời gian dài này chớ không phải nước trong bốn biển lớn.

-- Lành thay, lành thay, này các Tỳ-kheo! Lành thay, này các Tỳ-kheo, các Ông đã hiểu như vậy Pháp do Ta dạy!

Cái này là nhiều hơn, này các Tỳ-kheo, tức là dòng nước mắt tuôn chảy do các Ông than van, khóc lóc, phải hội ngộ với những gì không ưa, phải biệt ly với những gì mình thích, khi các Ông phải lưu chuyển luân hồi trong thời gian dài này chớ không phải nước trong bốn biển lớn". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương IV. Tương Ưng Vô Thỉ (Anamatagga), I. Phẩm Thứ Nhất, III. Nước Mắt)

Cho đến khi nào thấy khổ thật sự, không còn ham thích gì nữa mà chỉ muốn rời bỏ, thoát ra, viễn ly. Đức Phật nói tu tập Bát Chánh Đạo là hướng đến viễn ly, hướng đến ly tham, từ bỏ, toàn bộ chánh pháp này là tu tập để hướng đến sự rời xa, từ bỏ, chẳng những từ bỏ đối tượng yêu thích mà còn từ bỏ những cảm giác yêu thích, suy nghĩ yêu thích, hình bóng yêu thích, đây là chỗ đặc biệt của chánh pháp, còn những cái khác là dù có bỏ mẹ, bỏ cha, bỏ anh em vào chùa nhưng hình bóng trong tâm vẫn hiện lên, sắc pháp bên ngoài bỏ nhưng sắc tưởng bên trong lại không bỏ được, nếu không thể bỏ được hình bóng này thì nó sẽ giày xéo, hành hạ, đeo đẳng làm mệt mỏi thân tâm, cho nên cần nỗ lực tinh tấn tu hành để phá hình bóng, cảm thọ, suy nghĩ trong đó, dùng tác ý, tuệ quán đốt cháy những suy nghĩ, hình bóng, cảm giác trong nội tâm thành tro, thành bụi, đổ xuống sông xuống biển cho gió thổi khắp mười phương hư không thì lúc đó mới hoàn toàn an lạc, bình an, nếu còn lại chút tàn dư thì nó sẽ quậy mình, làm cho mình rất mệt mỏi, vì thế chỗ sâu xa của Thánh pháp chính là thọ; tưởng; hành; thức bên trong nội tâm. Muốn rời xa sắc cũng là cả một sự chiến đấu, bỏ cha mẹ, bỏ vợ con, người yêu, bạn bè để đi tu là cả một sự chiến đấu với nội tâm nhưng đó vẫn chưa là gì, cái quan trọng hơn cả là phải phá được thọ; tưởng; hành bên trong, bây giờ tu mà bỏ được sắc bên ngoài còn sắc tưởng bên trong không bỏ được nên lâu lâu ngồi nhớ lại hình bóng người xưa, thế là hình ảnh đó sanh khởi lên xâm chiếm, áp đảo rồi giày xéo mình, những dục tham, luyến ái, tham ái cứ hiện lên và mình đồng ý cho nó sanh khởi tiếp diễn, không được để như vậy mà phải đánh đuổi thẳng tay những hình bóng, suy nghĩ, cảm giác đó, đó gọi là sức mạnh của trí tuệ (tuệ lực) và cũng là tác ý. Khi phá được mình mới bình yên, mới có tâm an tịnh, lắng dịu, ngày nào những thọ; tưởng; hành của quá khứ còn hiện lên là còn tai họa, còn bất an, còn khổ sầu, đớn đau, như vậy chúng ta mới cần nhận diện ngũ uẩn, cần nội quán thân tâm.

Ngài Ananda nói rằng ngài thấy Thế Tôn kham nhẫn và chịu đựng, cái định của Thế Tôn không phải bình thường, thiền định đối với Đức Phật đã nhuần nhuyễn, thuần thục, viên mãn nhưng cái thân bệnh vẫn đau vì thế ngài Anan đã nhìn thấy Thế Tôn đang chịu đựng chứ không phải Thế Tôn là không có bệnh, Thế Tôn vẫn có bệnh, vẫn có cảm giác đau đớn nhưng ngài nhiếp phục cảm thọ đó, làm chủ nó chứ không bị nó tác động, không bị nó quật ngã. "Bạch Thế Tôn, thân con cảm thấy yếu ớt như lau sậy, mắt con mờ mịt không thấy rõ phương hướng", Thế Tôn bệnh nặng sắp viên tịch là mình sắp mất chỗ dựa nên ngài Anan lo lắng, sợ hãi vì lúc này ngài Anan vẫn còn là Sơ quả chứ chưa thành tựu Thánh quả A-la-hán. "Pháp không được tỏ rõ cho con vì Thế Tôn bị bệnh", những cái pháp về vô thường, khổ, vô ngã bây giờ không còn sáng tỏ nữa, đã bị mờ dần rồi vì Thế Tôn sắp sửa ra đi. "Nhưng bạch Thế Tôn, con được chút an ủi rằng Thế Tôn sẽ không diệt độ, nếu Ngài không có lời di giáo lại cho chúng Tỳ-kheo", ngài Anan là bậc Thánh thành tựu chánh kiến, ngài thấy rõ bản chất của sự thật nhưng có điều ngài chưa sạch hết các lậu hoặc cho nên ngài rất thương kính Đức Thế Tôn, Thế Tôn vừa là bà con, vừa là thầy trò, là bậc đại đạo sư, hai người ở gần nhau mấy chục năm nên đương nhiên ngài Anan rất đau xót.

"-- Này Ananda, chúng Tỳ-kheo còn mong mỏi gì nữa ở nơi Ta. Này Ananda, Ta giảng pháp không có phân biệt trong ngoài. Vì, này Ananda, đối với các pháp, Như Lai không bao giờ là vị Ðạo Sư còn nắm tay". (Tương Ưng Bộ, Tập V. Thiên Đại Phẩm, Chương III. Tương Ưng Niệm Xứ (a), I. Phẩm Ambapàli, IX. Bệnh)

Thế Tôn nói rằng tất cả những gì cần giảng dạy ngài đã nói tất cả rồi thì chúng Tỳ-kheo còn mong mỏi gì nữa, từ con đường trừ diệt khổ đau, phương pháp đến cách thức đã được giảng dạy. Ngài giảng pháp không phân biệt đây là đệ tử của ngài hay kia không phải là đệ tử của ngài, khi giảng pháp ngài đều xem tâm thức của người đó, khả năng của người đó đến đâu, trí tuệ như thế nào thì ngài giảng pháp tương xứng với trí tuệ đó nhưng những gì ngài nói không có sự phân biệt. Thế Tôn không hề phân biệt người này xuất gia với ngài nên ngài mới dạy hết tấm lòng, còn người kia ngoại đạo nên nói pháp chừa lại, đối với tất cả mọi người ngài đều dạy dỗ nhưng trí tuệ người đó tiếp nhận tới đâu thì ngài nói tới đó. Chúng ta phải hiểu được điều này, không phải là Tỳ-kheo thì ngài mới dốc hết tâm để nói còn ngoại đạo nói chừa lại, đối với hàng cư sĩ Thế Tôn nói những pháp bố thí, trì giới, cúng dường nhẹ nhàng vì căn cơ, trí huệ, nhân duyên của họ đến đó thì nói đến đó thôi, nói hơn nữa làm sao họ hiểu, họ chỉ muốn tu cho thân thể khỏe mạnh, tốt lành mà mình đi nói bài thiền quán thân trống rỗng thì làm sao họ chịu, như vậy là phản tác dụng. Cho nên đối với các pháp Thế Tôn không bao giờ là vị thầy còn giấu giếm, nắm giữ lại bất kì điều gì, ngài không còn cái gì giữ lại làm của riêng của mình, những gì bậc đạo sư cần phải làm thì ngài đã làm, những gì bậc thầy cần phải nói ngài đã nói, những gì là bổn phận, trách nhiệm thì ngài cũng đã làm hết với tâm từ mẫn nên khi ra đi ngài không còn gì để hướng dẫn, chỉ dạy các Tỳ-kheo.

"Này Ananda, những ai nghĩ rằng Ta sẽ là vị cầm đầu chúng Tỳ-kheo, hay : Chúng Tỳ-kheo chịu sự giáo huấn của Ta, thời này Ananda, người ấy sẽ có lời di giáo cho chúng Tỳ-kheo. Này Ananda, Như Lai không có nghĩ rằng: 'Ta sẽ là vị cầm đầu chúng Tỳ-kheo', hay 'Chúng Tỳ-kheo chịu sự giáo huấn của Ta', thời này Ananda, làm sao Như Lai lại có lời di giáo cho chúng Tỳ-kheo?" (Tương Ưng Bộ, Tập V. Thiên Đại Phẩm, Chương III. Tương Ưng Niệm Xứ (a), I. Phẩm Ambapàli, IX. Bệnh)

Ai cho rằng bản thân họ là bậc đạo sư, những người kia là đệ tử chịu sự giáo huấn thì họ mới có lời giáo huấn, lời di chúc còn ngài không xem mình là bậc lãnh đạo, bậc đứng đầu, ngài không nghĩ chúng Tỳ-kheo chịu sự dạy dỗ, giáo huấn của ngài thì "làm sao Như Lai lại có lời di giáo cho chúng Tỳ-kheo?". Đây thật sự là quả bom nguyên tử của Thánh trí, tức là chỉ với một câu nói này thôi là phủi hết công lao thuyết pháp trong bốn mươi năm của Thế Tôn, không bao giờ có cái tôi và của tôi trong việc thuyết pháp đó. Do nhân duyên có người đến tha thiết với lòng từ mẫn muốn học pháp nên ngài chia sẻ, giảng dạy, ngài nói xong là thôi.

"Nhạn quá trường không

Ảnh trầm hàn thủy

Nhạn vô di tích chi ý

Thủy vô lưu ảnh chi tâm".

(Thiền sư Hương Hải)

Dịch nghĩa: "Nhạn bay trên không

Bóng chìm đáy nước

Nhạn không có ý để lại dấu tích

Nước không có ý lưu giữ bóng hình".

Con chim nhạn bay qua trên không, bóng nó chìm ở trong nước, con chim nhạn không cố ý lưu bóng trong hồ, mặt nước cũng không cố ý nắm giữ hình bóng con chim nhạn. Cũng vậy, những gì đi qua tâm ngài như bóng chim nhạn, ngài không có ý nghĩ ngài là bậc đạo sư, ngài không nghĩ ngài là người giáo dục, dạy dỗ các Tỳ-kheo, ngài nói ra câu này làm rúng động trời đất, còn giờ làm một chút là kể công, đó là do bản ngã, còn Đức Thế Tôn đến cuối cùng cuộc đời sắp ra đi nói rằng ngài không nghĩ mình là người lãnh đạo, là người dạy dỗ các Tỳ-kheo thì làm sao ngài lại có lời di giáo để lại. Bây giờ tại sao làm sư phụ lại khổ? Vì còn bản ngã, còn nghĩ rằng "tôi dạy", "tôi nuôi", "tôi giáo dưỡng rồi bây giờ ra đi không còn nhớ gì nữa" rồi khóc lóc. Chúng ta phải nghĩ rằng còn duyên thì còn ở tu, hết duyên thì đi, như vậy tâm mới nhẹ nhàng, đó là chúng ta đang học tập Đức Thế Tôn, đằng này hở chút là nhớ nhung, là trách móc, hờn mác, vậy là khổ, cho nên dù có học cái gì, tu cái gì cũng phải thực tập trí tuệ vô ngã, không có tôi, không có của tôi gì cả, nhân duyên đến thì làm thôi.

 "Này Ananda, Ta nay đã già, bậc trưởng thượng, bậc trưởng lão, đã đạt đến đoạn cuối của đời, đã đến tám mươi tuổi. Này Ananda, như cỗ xe đã già mòn, sở dĩ còn chạy được là nhờ dây thừng chằng chịt. Cũng vậy, thân Như Lai được duy trì sự sống giống như chính nhờ dây thừng chằng chịt.

Này Ananda, chỉ trong khi Như Lai không tác ý đến tất cả tướng, với sự diệt trừ một số cảm thọ, chứng và an trú vô tướng tâm định, chính khi ấy, thân Như Lai được thoải mái". (Tương Ưng Bộ, Tập V. Thiên Đại Phẩm, Chương III. Tương Ưng Niệm Xứ (a), I. Phẩm Ambapàli, IX. Bệnh)

Trưởng thượng là bậc lão làng, ngài đã lên hàng tám mươi tuổi như chiếc xe cũ kĩ, còn chạy được là nhờ những sợi dây buộc chằng chịt, thân Như Lai duy trì được sự sống cũng nhờ những sợi dây. Thân xác ngài đã rệu rã, không còn bao lâu nữa ngài sẽ từ giã cuộc đời, chúng ta thấy sự thật ngay nơi thân Đức Phật là già, bệnh, chết, tan rã, tám mươi năm hiện diện trên đời, bốn mươi năm hoằng pháp và bây giờ đã trải qua 2600 thì pháp thân của ngài chính là những lời dạy trong kinh tạng Nikāya, là cái thân chánh pháp mà ngài để lại cho chúng sanh, cho nhân loại, cho chư thiên và loài người, cho tam giới, chúng ta đang ngồi đây đọc lại những lời này là để cho bánh xe chánh pháp tiếp tục quay trên cuộc đời này, để ngọn đèn của chánh pháp được tiếp tục thắp sáng. Nếu không có những lời dạy này thì giờ này chúng ta ra sao? Chúng ta có chiếc y vàng này không? Đây chính là pháp thân, là pháp bảo, là Thánh pháp, ngày ngày chúng ta ôn, chúng ta nhắc, chúng ta nghiền ngẫm để duy trì chánh pháp này, nếu không pháp sẽ chấm dứt trên cuộc đời này, đó là lý do tại sao chúng ta tha thiết đọc, tụng, học, chia sẻ, lưu bố là nhằm giúp cho chánh pháp cữu trụ, pháp thân Đức Phật được kéo dài, mình không muốn trở thành người tối hậu, người cuối cùng trong pháp này. Chúng ta cùng chung tay tri ân Đức Phật, nhớ ơn Đức Phật, cảm ơn Đức Phật bằng cách tu học, truyền bá pháp này, không có một cái gì đền hết được ơn Phật bằng cách học pháp, hành pháp, chứng đạt pháp và truyền bá pháp, điều đó mới thật sự làm cho tuổi thọ pháp thân Đức Phật được kéo dài. Chúng ta học bài kinh này thấy hình ảnh Đức Thế Tôn là một ông già tám mươi tuổi, da nhăn nheo, mắt mờ, lưng còng, tay chân bủn rủn, chịu những cảm thọ khốc liệt gần như chết, bằng trí huệ và thiền định nhiếp phục cảm thọ và nói những lời sau cùng làm rực sáng Thánh trí tuệ, làm rực sáng tuệ giác tối thượng của một bậc Chánh Đẳng Chánh Giác. Trải qua quãng thời gian rất dài được biết bao vị Thánh Tăng lưu giữ, kết tập và truyền thừa, có biết bao vị đem hết sinh mạng, đời sống của họ học thuộc lòng tạng kinh này là do họ sợ rằng sẽ bị mất tạng kinh, có thể bị sóng thần, bão lũ hoặc hỏa hoạn đốt cháy mất tạng kinh, nếu còn những vị tam tạng pháp sư đó thì tạng kinh không bị mất đi cho nên hết đời này truyền thừa đến đời khác, ngoài việc khắc trên đá, lưu trên giấy mực thì còn những vị học thuộc lòng, mất cái này thì còn cái kia, đó là sự khổ tâm của các vị Thánh Tăng cao đức giữ mạng mạch của dòng Thánh pháp này, cái ngài nhìn rất xa, trông rất rộng để giữ gìn Thánh pháp Tạng, mất nó đi là thế gian bị mù, ánh sáng của tam giới nằm trong Thánh pháp này, sau khi học cái này, thọ trì , thực hành cái này thì chúng ta sẽ thấy được pháp trong tâm, từ việc thấy được pháp trong tâm mới chia sẻ lại cho người khác, ánh sáng đó mới được mồi đèn trao đuốc, Thế Tôn đã nói hãy tự mình là ngọn đèn của chính mình, đó là nhờ Thánh pháp của Phật, từ đó mới mồi lửa ngọn đèn trong tâm mình, ngọn đèn trong tâm sáng lên bằng ánh sáng của Tứ Niệm Xứ, sau khi sáng lên mình mới dùng ngọn lửa đó mồi cho người khác, người khác lại mồi cho người nọ, như vậy mới gọi là ngọn đèn vô tận, truyền đăng tục diệm, trao đèn mồi lửa, trao ngọn đèn trí huệ về năm uẩn của Thánh pháp tạng Nikāya, nếu không chánh pháp sẽ chấm dứt, chúng ta sẽ trở thành người tối hậu, người sau cùng đoạn diệt pháp này. Minh Thành nghe quý thầy, quý cô, quý Phật tử đọc thuộc lòng những bài kinh vào buổi sáng nên mừng vô cùng, hân hoan, chấn động vì ngọn đèn chánh pháp chưa tắt, ít nhất cũng còn le lói ánh đom đóm đỡ hơn là bóng đêm, vì thế tự thân mỗi người phải ý thức giá trị vĩ đại, chẳng những học tu mà chung tay đóng góp vào công cuộc in ấn pháp bảo, truyền bá pháp bảo, làm ra băng đĩa, chia sẻ, phát biểu, tán dương, khen ngợi, truyền bá Thánh pháp này, nếu không mình sẽ thành người cuối cùng đoạn diệt, làm cho pháp chấm dứt. Phải học, phải đọc, phải tụng, phải chia sẻ, truyền bá cho đến hơi thở cuối cùng, ngoài việc tu chứng thì việc quan trọng nhất là lưu bố, mở rộng, truyền bá pháp này. Ngày nay tu học rồi nhìn Đức Phật trở thành vị thần linh, ảo tưởng về Đức Phật, còn ở đây cho chúng ta thấy Đức Phật già, bệnh, chết đến như thế nào và Đức Thế Tôn suy nghĩ, dạy dỗ, hành xử, chống chọi với cơn đau bệnh ra sao. Khi đọc bài kinh này giống như thân lâm kì cảnh, giống như đích thân mình có mặt bên cạnh Đức Thế Tôn, giống như tận tai mình nghe vang vọng đâu đây âm thanh của bậc Đại Giác, chúng ta tràn đầy cảm thọ ấm áp, dạt dào của đấng đại đạo sự, của Thế Tôn, bậc Thiện Thệ của chúng ta. Ngài thắp lên ngọn đuốc Thánh tuệ của chúng sanh, nhìn thấy sự thật của cuộc đời này để đừng mãi sống trong bóng đêm của ảo tưởng.

"Sự thể là vậy, này Ananda, tánh già nằm trong tuổi trẻ; tánh bệnh ở trong sức khỏe; tánh chết ở trong sự sống". (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương IV. Tương Ưng Căn (b), V. Phẩm Về Già, I. Già)

Những lời dạy văng vẳng bên tai của bậc Vô Thượng Sĩ, hãy tỉnh thức trước đời sống này, trước thân thể này, hãy tỉnh ngộ đối với thân xác này, hãy tỏ ngộ đối với già cả, bệnh tật và chết chóc này. Đừng sống trong mê muội, ảo tưởng, ảo mộng, hãy nhìn thẳng trực diện vào đời sống mong manh, tạm bợ như giọt sương này, đời sống ngắn ngủi đầy lo lắng, bất an và sợ hãi này.

"Này Bà-la-môn, ít ỏi là đời sống của loài Người, nhỏ bé, không đáng kể, nhiều khổ đau, nhiều ưu não. Với bùa chú, hãy giác ngộ! Hãy làm điều lành, sống đời Phạm hạnh! Với người đã sanh, không có bất tử. Ví như, này Bà-la-môn, con sông trên núi chảy xa, dòng nước chảy nhanh, lôi cuốn theo vật này vật khác, không có sát-na nào, không có giây phút nào, không có thời khắc nào có dừng nghỉ, nó phải chảy tới, cuồn cuộn chảy, thúc đẩy chảy tới. Cũng vậy, này Bà-la-môn, ví như con sông ấy là đời sống của loài Người, nhỏ bé, không đáng kể... Với người đã sanh, không có bất tử". (Tăng Chi Bộ, Chương VII – Bảy Pháp, VII. Đại Phẩm, (X). Araka)

Không có gì đáng để tham đắm, theo đuổi, say mê trong này, hướng tâm mong cầu thành tựu trí tuệ, thành tựu sự thấy biết chân chánh bản chất của thân tâm ngũ uẩn, nhân sinh thế giới này để chúng ta có thể phủi giũ, buông xuống, rời xa, thoát ra. Đeo bám vào đây chỉ có nước mắt, chỉ có lo toan, bất hạnh, ưu não, phiền muộn, không có gì đáng để đeo bám trong này, chỉ có sầu, bi, khổ, ưu, não trong đống đại khổ uẩn này. Hãy hướng tâm mình đến sự thoát ra, rời xa, viễn ly, xuất ly, thoát ly, đó là con đường tối thượng mà bậc Chánh Biến Tri truyền trao cho chúng ta.

./.