Trí tuệ và đức hạnh của Như Lai
TRÍ TUỆ VÀ ĐỨC HẠNH CỦA NHƯ LAI
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Mười danh hiệu của Thế Tôn PAGEREF _Toc112913733 \h 1
II.Trí tuệ ngũ uẩn PAGEREF _Toc112913734 \h 3
III.Trọng tâm của đạo Phật PAGEREF _Toc112913735 \h 9
Mười danh hiệu của Thế Tôn
Trước khi vào buổi pháp thoại, Minh Thành xin mới tất cả đại chúng cùng thực tập vài phút để tịnh tâm. Quý vị mắt nhìn xuống về phía trước, đừng nhắm mắt, mở rộng tầm nhìn rộng hết mức ra hai bên, đừng nhìn một chỗ. Rõ biết ở trước mặt, cảm nhận hơi thở, cảm nhận cảm giác của cơ thể. Cảm nhận cảm giác đầu, mặt, vai, cảm giác tai, mình, lưng, mông, chân, ống chân, bàn chân. Cảm nhận cảm giác của toàn bộ cơ thể. Cảm nhận không gian nơi này. Cảm nhận sự an tịnh của không gian nơi này. Cảm nhận trời đất bao la ở nơi này. Thở vào làm cho thân an tịnh, thở ra làm cho tâm lắng dịu. An tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào. Đây là giờ phút thiêng liêng nhất của cuộc đời chúng ta, đây là khoảnh khắc đại bình an, đây là giây phút nhiệm màu của kiếp nhân sinh.
Vui thay chúng ta sống
Không rộn, giữa rộn ràng
Giữa những người rộn ràng
Ta sống không rộn ràng.
***
Người tu tâm thật là hiền
Trong ngoài thanh tịnh, nụ cười bình yên.
Nở nụ cười rộng lên để cảm nhận khoảnh khắc hạnh phúc này. Nở nụ cười nhẹ lên để cảm nhận giây phút mầu nhiệm này. Quý vị có thấy bình an không? Có thấy thanh tịnh không? Có thấy an lạc không? Đó là mấy phút chúng ta thực tập sự an tịnh, lắng dịu, hỷ lạc của thân tâm.
Hôm nay Minh Thành muốn chia sẻ đến quý Phật tử về “Trí tuệ và đức hạnh của Như Lai”. Chúng ta là những người Phật tử, nghĩa là con Phật, con Phật thì phải biết về cha của mình một cách chân chánh và đúng pháp. Nếu không hiểu về Phật một cách chánh kiến và đúng đắn thì sự tu học sẽ không đi đến kết quả trọn vẹn. Quý vị lâu lâu có đi cầu xin nhiều không, lâu lâu có đi Tứ Phủ không? Có lạy Phật cầu cho con được cái này, cái kia không? Có cầu cho con được bình an, hạnh phúc, khỏe mạnh, sống lâu, mọi việc tốt lành hết không? Hôm nay, Minh Thành sẽ giải thích cho quý vị kỹ để quý vị biết Đức Phật là vị như thế nào.
Đức Phật là vị thầy vĩ đại, vị Đại Đạo Sư, người cha tinh thần vĩ đại của chúng ta. Đức Phật được loài Trời và Người tôn kính, có mười đức hiệu, gồm: Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sư, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Biết tới đây là bước một, còn bước quan trọng thứ hai là phải hiểu. Minh Thành sẽ giải thích mười danh hiệu của Đức Phật cho quý vị nắm thật vững và có chánh kiến về Đức Phật, để mình tu sẽ được thành công, đúng theo con đường Đức Phật dạy. Đầu tiên, tên gọi của Ngài đúng theo kinh Nikāya là Bậc Lậu Tận A La Hán.
Con chân thành đảnh lễ
Phật Thích Ca Mâu Ni
Bậc tự mình thấy rõ
Sự thật về thân tâm
Sự thật về sanh tử
Về phiền não khổ đau
Và Ngài cũng tìm thấy
Lối thoát khỏi khổ đau
Lối thoát khỏi sanh tử
Ngài đạt sanh tử tận
Ngài đạt khổ chấm dứt
Vì vậy Ngài được gọi
Bậc La Hán Chánh Giác
Bậc Lậu Tận Chánh Giác.
Con thật kính phục Ngài
Con thật kính ngưỡng Ngài
Con xin quy phục Ngài
Con xin đảnh lễ Ngài.
Danh hiệu đầu tiên trong kinh tạng Nikāya giải thích cho chúng ta là danh hiệu A La Hán. Như Lai là Bậc A La Hán Chánh Đẳng Giác, như vậy ý nghĩa là gì? Ngài là vị tự mình thấy rõ sự thật về thân tâm của Ngài. Quý vị có biết sự thật về thân tâm của mình không? Tại sao mình biết nhiều thứ quá mà bây giờ hỏi về thân tâm của mình thì lại không biết. Thân này gồm đất, nước, gió, lửa – tứ đại. Còn tâm của mình là gì nếu quý vị không nắm được thì quý vị tu học sẽ không tiến bộ tới chỗ rốt ráo. Đức Phật dạy cái thân này, tất cả thế giới này… đều là ngũ uẩn.
Trí tuệ ngũ uẩn
Thân thể, đồ vật, vật chất, tứ đại là thuộc về sắc uẩn. Cái thân mấy chục kí lô này là thuộc về sắc uẩn và sắc là do bốn đại hợp thành: đất, nước, gió, lửa.
Phần tâm gồm thọ, tưởng, hành, thức. Nói thì thuộc lòng ro ro, nhưng ở đây Minh Thành muốn quý Phật tử nhận diện được năm uẩn, tức là nhìn ra được nội tâm của mình. Thọ là những cảm giác. Quý vị có cảm giác không? Khi mình ăn ngon thì có cảm giác dễ chịu. Khi đi ngoài nắng 30, 40 độ C thì có cảm giác khó chịu. Như vậy cảm giác gồm ba loại: dễ chịu, khó chịu và không dễ chịu không khó chịu. Tất cả cảm giác đều ở trong ba loại này. Trong khi nó dễ chịu thì có tham trong đó, lúc quý vị ăn đồ ăn ngon, gắp lia gắp lịa thì quý vị có thấy tham trong đó không? Trong cảm giác khó chịu có bực bội không, đó là sân nằm trong cảm giác khó chịu. Rồi trong cảm giác không khó chịu, không dễ chịu, nó trơ trơ, đơ đơ, thì trong đó có si. Như vậy, từ đó giờ tu học, quý vị có thấy tham, sân, si nó ở trong cảm giác không hay bữa nay mới biết. Cái này quan trọng lắm, nếu không nắm được cái này thì quý vị tu không tiến, không nhiếp phục tham, sân, si được. Tại vì không biết ở chỗ nào thì làm sao nhiếp phục.
Minh Thành ví dụ, trong một bữa tiệc thật là ngon, đãi mười mấy món, trúng ngay món ưa thích của mình. Quý vị ngồi đó đói bụng, chưa được ăn mà cứ nói chuyện hoài thì bên trong có cảm giác thúc giục muốn mau mau ăn, đó gọi là dục. Khi mình gắp để vô lưỡi lúc đó thích thích, khoái khoái thì đó là ái. Mình ăn chưa xong miếng này mà gắp miếng thứ hai nữa đó gọi là tham. Đó chính là dục, tham và ái ở trong cảm giác. Khi đang gắp ngon lành món đó thì bỗng nhiên có bà nào lại bưng ngay cái dĩa mình thích đi, bả nói món này không được, thì lúc đó cảm giác khó chịu sanh khởi lên. Cho nên cảm giác của mình nó thay đổi liên tục, hết tham, tới sân rồi tới si, cứ lòng vòng thương ghét liên tục, nếu mình quên, không nhìn ra được cảm giác này thì mình khổ, vì cứ chạy theo những cảm giác. Những cảm giác tham, dễ chịu, khoan khoái thì mình mê và cảm giác khó chịu thì mình bực bội, sân si lên. Cảm giác đơ đơ, đờ đờ, mình mờ mờ là mình si. Quý vị nên thấy rõ chỗ hết sức quan trọng là cảm giác. Nếu quý vị tu mà không nhìn thấy cảm giác thì không bớt khổ, không vượt thoát khỏi khổ. Quý vị nhìn biết bao nhiêu chuyện xảy ra trên cuộc đời này, những tin tức thời sự hàng ngày giành đất, anh em chém giết lẫn nhau. Đó có phải do cảm giác bực bội sân hận thúc đẩy không? Chính cảm giác này nó nhận chìm cả thế giới, chính cảm giác này làm cho huynh đệ tương tàn, gây ra bao nhiêu thứ khổ, vợ chồng phân li, cha con không nhìn mặt nhau, tất cả là cũng vì không biết, không thấy, không rõ, không tu tập cảm giác. Cho nên cứ chạy theo những cảm giác tham, sân, si đó không biết dừng lại, không biết nhiếp phục, không biết kiểm soát, không biết chuyển hóa, không biết tẩy sạch thì cả một cuộc đời của mình là bị cảm giác nhận chìm, bị cảm giác cuốn phăng như dòng nước lũ. Như vậy mình tu là mình luôn luôn nhìn lại cảm giác. Khi đang ngồi nghe pháp mà có cảm giác dễ chịu thì đó là cảm giác dễ chịu trong thiện pháp. Năm uẩn rất quan trọng nên quý vị phải nắm thật vững, nếu không vững cái này thì quý vị tu tập không có tiến bộ.
Sau sắc, thọ là tới tưởng. Tưởng là những hình bóng trong tâm. Khi Minh Thành lấy thí dụ đi dưới trời nắng 30, 40 độ C thì lúc đó trong tâm quý vị có hình bóng gì? Có phải khi quý vị nghe nói như vậy là trong tâm quý vị có hình bóng của mình đi ngoài nắng hiện ra không? Đó gọi là tưởng. Bây giờ quý vị nhớ đứa cháu nội, cháu ngoại của mình, quý vị nói “Ôi, dễ thương. Thương chết đi được. Cưng quá à”, lúc đó hiện hình bóng đó ra thì đó là tưởng. Hồi đó quý vị mới quen “ổng”, mới quen “bả”, lúc mới gặp quý vị về nhà quý vị có tưởng không? Nằm chiêm bao có thấy không? Những hình bóng đó là tưởng đó, mình có khổ với tưởng này không? Người ta gọi là tưởng tượng, tức là chỉ bằng con kiến thôi mà mình tưởng ra một hồi là nó thành con “tượng”, mà con tượng là con voi. Từ con kiến mà tưởng riết một hồi ra con voi. Cho nên trong nhà có chuyện, lâu lâu mình có tưởng tầm bậy, tưởng trật, tưởng sai không? Cho nên mình nói “ Tôi tưởng như vậy, mà nó không phải vậy”. Vì vậy, hình bóng trong nội tâm của mình là tưởng.
Kế tiếp là hành, đó là những lời nói lầm thầm, những suy nghĩ trong tâm. Khi thấy có một hình bóng trong tâm thì những lời nói kèm theo hình bóng đó là hành. Giống như khi xem TV, mình thấy vừa có hình ảnh, vừa có âm thanh kèm theo. Cũng vậy trong tâm chúng ta luôn luôn hễ có hình ảnh là có âm thanh đi kèm theo. Ví dụ, khi giận một người nào đó thì hình bóng của họ hiện lên trong tâm mình, trong hình bóng đó có lời nói lầm thầm “Thấy ghét, không ưa, đi cái tướng cũng ghét, nói chuyện cũng ghét, làm gì cũng thấy ghét hết trơn”, những lời nói lầm thầm đó là hành hành uẩn. Hồi đó giờ mình cứ tụng “Quán-tự-tại Bồ-tát hành thâm Bát-nhã Ba-la-mật-đa thời, chiếu kiến ngũ-uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách”, cứ tụng ro ro rồi trở ra mình quên chữ “uẩn”, chỉ còn chữ “ngủ”. Như vậy mình đã thấy rõ sắc, thọ, tưởng, hành. Hành là những lời nói lầm thầm, những suy nghĩ trong tâm.
Khi thấy được những suy nghĩ, mình đang suy nghĩ thì có biết mình đang suy nghĩ, cái biết đó là thức uẩn. Tức là sự biết được mình đang có một cảm giác khó chịu, trong tâm mình đang có hình bóng, có mặt của người thấy ghét đó, có lời nói lầm thầm nói theo bực bội đó. Sự rõ biết được cảm giác đó, hình bóng đó, suy nghĩ đó thì cái biết đó là thức uẩn. Thức uẩn là sự rõ biết được những cảm giác, những nghĩ, tưởng trong tâm.
Quý vị có thấy rằng hằng ngày mình có sống chung với năm uẩn không? Sáng mình có những cảm giác nghĩ tưởng không? Trưa mình có không? Chiều mình có không? Tối nằm chiêm bao thấy có không? Như vậy năm uẩn nó đang có mặt, đang vận hành và chi phối nhưng mình không thấy, không biết nó, Đức Phật gọi đó là vô minh, là không sáng suốt, là si mê, vì không thấy được thân và tâm mình là ngũ uẩn.
Thân này suốt ngày được sử dụng những thức ăn mọc từ đất; hơi thở là gió; uống nước là nước; hơi ấm, nhiệt độ trong cơ thể, lửa để nấu ăn, ánh nắng mặt trời thuộc về hỏa đại – đó chính là đất, nước, gió, lửa. Như vậy sắc pháp, sắc uẩn này là do đất, nước, gió, lửa kết hợp, nhưng mình không thấy, không biết, không quán, không chiếu, không nghiền ngẫm, không tư duy theo lời Đức Phật dạy nên cứ nhận 60, 70 kí lô thịt này là tôi, là của tôi. Có ai đụng tới “tôi” một cái là “tôi không có tha đâu nha”. Ai nói gì một câu hoặc liếc con mắt nhìn mình một cái thì lúc đó bực lên, nóng lên, phựt lên, cháy lên và cuối cùng đi đến khổ não. Đó là tại vì mình không nhận diện được ngũ uẩn, không thấy sắc là sắc; những cảm giác là thọ; những hình bóng trong tâm là tưởng; những lời nói lầm thầm, suy nghĩ là hành; sự rõ biết là thức.
Do không nhận diện năm uẩn, không nhìn ra được năm uẩn mà lầm chấp năm uẩn này là tôi, là của tôi nên ai đụng vào “tôi” một chút, hoặc thân này bị mòn, bị trầy một chút là sân si khởi lên, bản ngã khởi lên, cái tôi chình ình một đống thì khổ vô cùng, cũng bởi vì không thấy sự thật về năm uẩn. Còn Đức Phật là bậc thấy rõ sự thật về thân tâm, Ngài thấy được năm uẩn đó, Ngài thấy được sự thật về sanh tử, về những phiền nào khổ đau và Ngài thấy được lối thoát ra khỏi đau khổ đó. Còn chúng ta tham trong năm uẩn, sân về cái thân năm uẩn, hơn thua cũng là hơn thua trong cái năm uẩn này. Như vậy, xoay vần trong năm uẩn này là bao trùm cả thân tâm và thế giới.
Chính vì không thấy, không biết được năm uẩn cho nên mình không hiểu được tham, sân, si. Mà tham, sân, si là nguồn cội gây ra khổ nhưng không thấy, không biết thì làm sao mình dứt khổ được.Tham, sân, si nằm trong những cảm giác. Mình luôn luôn quay lại phòng hộ cảm giác, nhìn ngó cảm giác thì mình sẽ bớt khổ và dứt khổ. Còn nếu không thấy không biết gì hết thì mình lẩn quẩn, lòng vòng trôi lăn trong biển khổ.
Khi chỉ dạy con cái nhưng nó không nghe, thì lúc đó mình dễ chịu hay khó chịu, mát hay là nóng? Lúc đó, nóng giận sanh khởi thì phải nói: “Ôi chao, có cảm giác này là không được rồi nghe”. Cảm giác sân này đang đốt trong lòng ngực, lúc đó, nếu vẫm tiếp tục nói chuyện với con cái nữa thì chẳng những lời dạy của mình không có lợi ích mà còn có tai hại nữa. Đang sân thì nói không có đúng, sân thì nói không có hay, sân thì nói người ta không có nghe. Chừng nào mình lặn hết cảm giác bực bội, sân hận, nóng bức này xuống, mình mát mẻ đi thì nói bằng lời từ ái, tình thương của một người mẹ với con thì lúc đó chắc con sẽ nghe, sẽ thương và hiếu thảo với mình. Khi cảm giác được lắng dịu, yên tịnh xuống, lúc mình bình tĩnh, mát mẻ, nhẹ nhàng thì hãy nói ra bằng một trái tim của người mẹ, như vậy thì cây cỏ sắt đá cũng cảm động.
Cho nên lúc nào giận thì đừng nói, khi đó mình thấy ngay chỗ ngay lồng ngực bắt đầu nóng lên, hực lên trên mặt; tự nhiên trên mặt đổi màu, hai cái má hồng lên mà không cần thoa son, trét phấn gì hết; lỗ tai nó lùng bùng; con mắt nó lờ đờ; cái miệng giật giật. Cảm giác này không như lúc bình thường, mà cái sân đang sanh khởi, lúc đó phải nhiếp phục liền. Mình nói “Cảm giác này là nguy hiểm nha, cảm giác này là nguy hại nha. Nguy hiểm và tác hại nha. Cảm giác này là lửa, nó đốt cháy, thiêu đốt, thiêu rụi làm khổ cho mình, làm khổ cho những người chung quanh mình. Không chấp nhận cảm giác này, từ bỏ cảm giác này, làm cho cảm giác này tan biến, lắng dịu đi”.
Tập nói chuyện với cảm giác sân. “Ưa giận lắm phải không? Thích giận lắm phải không? Ham giận lắm phải không? Muốn giận lắm phải không?” Bây giờ giận lên thì lúc đó sướng hay khổ? Vui hay buồn? Hòa hay bất hòa? Bất hạnh hay hạnh phúc? Tan nát hay còn nguyên vẹn? Mình có thích tan nát không, thích bất hạnh hay hạnh phúc? Mình thích nguyên vẹn, mình thích hạnh phúc, mình thích mát mẻ, như vậy mình không có chấp nhận cảm giác bực tức, thiêu đốt này. “Thôi, đi chỗ khác chơi đi, để cho bà tu con”. Đó là mình dạy dỗ và huấn luyện cảm giác của mình. Chứ đằng này nó nổi lên là mình ập vô chung, mình nhập cuộc, đồng hóa với nó luôn là phựt cháy lên hết. Tới chừng cháy xong xuôi hết rồi thì hối hận, thậm chí là vô tù. Bao nhiêu vụ án hằng ngày coi trên tin tức thời sự, báo chí, tất cả là cảm giác hết.
Cho nên, chúng sanh là đau khổ vì không hiểu biết được thân tâm của chính mình, không thấy rõ được cảm giác vận hành, không thấy rõ cảm giác nó áp đảo, nó chi phối, không thấy rõ cảm giác là nguyên nhân làm cho mình sầu, bi, khổ, ưu não. Hôm nay là quý vị mở con mắt trí huệ ra để nhìn vào thân tâm của mình. Đó là sự giác ngộ của Đức Phật. Đức Phật chứng ngộ năm uẩn này để thành tựu Thánh quả. Đức Phật thấy rõ năm uẩn này và nhiếp phục được tham, sân, si bản ngã ở trong năm uẩn này cho nên Ngài được thành Phật. Còn mình không thấy, không biết gì hết, chỉ biết toàn là bà 8, bà 3, bà 7, bà 4, ông 5, tánh ai mình rành hết, còn bản thân mình thì mình không biết mới đau. Thật là đau cho cái bệnh của mình, kêu nội soi mà mình không soi, kêu nội quán mà không quán, vậy mà toàn lo quán người ta, chỉ lo ngoại soi. Tự quán chiếu mình không chịu mà mình “quán gà” không mới chết. Dòm người ta, nhìn người ta suốt ngày, mà càng dòm, càng để ý thì cảng phiền não, càng đúng sai, hay dở. Trong khi đó cái sai là nằm ngay chỗ mình không nhiếp phục cảm giác của mình.
Minh Thành ví dụ đơn giản, có cô đó làm công quả, đang cầm cây lau chùa sạch sẽ, bóng ngời. Bỗng nhiên, bất thình lình, có một người mang đôi dép dính sình bước vào trong đó luôn. Người lau đó bực mình, họ rầy, họ la, họ nhắc nhở. Người mang dép sình đó nếu là người có để ý nhìn lại cảm giác, thấy do họ sai nên được nhắc là đúng thì họ sẽ xin lỗi “Em xin lỗi chị. Em xin lỗi cô. Em xin lỗi bà. Tại em không để ý, em đang gấp, đang vội”, thì đâu có chuyện. Còn đằng này khi bị là thì cự qua cự lại, cự tới cự lui một hồi là sanh chuyện phiền não. Như vậy một người biết tu là người biết quay trở lại nhìn cảm giác của mình, thấy rõ những cái gì đang có mặt, đang diễn ra và không bị ngoại cảnh tác động. Nhìn rõ thân tâm chính mình, biết nhận lỗi, biết sửa lỗi, biết chỉnh lỗi, biết xin lỗi thì người này sẽ đi đến chỗ bớt lỗi, giảm lỗi, hết lỗi. Đó là ý nghĩa của buổi lễ sám hối.
Nếu mình không soi gương, không nhìn lại thì làm sao biết mặt mình dính sình, dính dơ, dính bụi. Mình không soi gương mà cứ nhìn bên ngoài thì làm sao mình biết. Cho nên sự tu tập này là cả một sự nội soi. Nội soi là khi mình có bệnh, mình sẽ đi đến bác sĩ để họ nội soi xem mình bệnh ở đâu, bệnh làm sao, thấy mới điều trị được. Cũng vậy, chúng ta đến chùa là để nội soi. Soi lại thân thể, hành động của mình, soi lại lời nói của mình, soi lại những suy nghĩ của mình, soi lại những cảm giác, hình bóng trong tâm, soi lại những lời nói lầm thầm ở bên trong. Khi có sự kiểm tra thường trực, soi thường trực, rọi thường trực như vậy thì chỗ nào còn dơ, chỗ nào chưa ổn, chỗ nào cần chỉnh thì lúc đó mình điều chỉnh lại, từ từ mới bớt lỗi rồi tới chỗ hết lỗi, đó là thành công của sự tu.
Cứ mỗi nửa tháng quý vị thường đến chùa sám hối, nhưng sám hối đã bao nhiêu năm rồi, hết tội chưa? Cho nên mình cứ nghĩ sám hối tức là phía trên là Phật, phía dưới là mình lạy để Phật tha lỗi cho mình, không phải như vậy. Sám hối là tự nhìn lại những thân thể, những cảm giác, nghĩ, tưởng của mình trong nửa tháng vừa qua. Khi thấy có suy nghĩ gì sai, nói lời gì trật, có hành động gì không đúng thì mình hứa trước Phật khi trở về “Con sẽ điều chỉnh, con sẽ sửa đổi, con sẽ thay đổi, con sẽ không như vậy nữa”. Nửa tháng sau mình vào chùa nhìn nhận lại thân tâm, rồi hứa sẽ chính sửa, rồi nửa tháng sau mình vào chùa sám hối để tiếp tục nhận lỗi, sửa lỗi. Như vậy cứ cố gắng nhận lỗi, sửa lỗi từng chút từng chút thì dần dần mới hoàn thiện, hoàn hảo. Còn cứ đến chùa lạy bon bon 108 lạy, rồi trở ra thở cái khì, rồi nói đã sám hối xong, trở về cũng y nguyên như cũ thì điều đó không đúng với ý nghĩa của sám hối.
Trọng tâm của đạo Phật
Hôm nay là bách khóa tổng hợp, Minh Thành giải thích những điều hết sức căn bản, gần gũi nhất trong sự tu tập. Từ đó, quý vị nắm được những phần hết sức quan trọng, thiết thực, gần gũi trong sự tu học thường nhật, thường ngày để tu học. Như vậy, trọng tâm của đạo Phật là sự hiểu biết, nhìn lại và kiểm soát về thân tâm của mình. Công năng của sự kiểm soát này là để nhìn thấy, biết được ở bên trong đang có cái gì. Khi mình nổi sân lên mình phải biết mình đang có một cảm giác sân hận. Khi mình có sự ganh tỵ, đố kị mình phải biết mình đang có một cảm giác như vậy. Khi mình có bản ngã sanh khởi lên, cái tôi thì mình phải biết đang có những cảm xúc bản ngã của cái tôi. Từ đó mình tẩy sạch, chuyển hóa, làm cho mình có một thân tâm trong sạch, thanh tịnh, như vậy từ từ mình mới bớt khổ, hết khổ. Còn mình không biết gì về mình, mà mình cứ cầu, mình lạy, mình xin thì quý vị nghĩ mình xin có được không? Quý vị thấy quý thầy mỗi ngày đều lạy Phật, tụng kinh suốt cuộc đời như vậy mà quý thầy có chết không, hay sống hoài không chết? Quý thầy có già không? Quý thầy có bệnh không? Quý thầy có chết không? Không! Như vậy thì làm sao cầu cho quý vị được. Tất cả đều phải sanh, lão, bệnh, tử thì làm sao mà cầu cho một người nào mà không sanh, già, bệnh, chết. Chỉ có pháp tu áp dụng theo Đức Phật thì mình mới đạt tới cảnh giới bất tử. Còn nếu mình cầu không thì không được.
Đức Phật có một thí dụ. Như có một hồ nước, có người này mới quăng một cái chậu trong đó là có bơ, sữa, hoặc là dầu. Chậu này không có đậy nắp nên dầu, bơ, sữa mới tràn ra nổi trên mặt hồ. Xung quanh có rất nhiều nguời lạy và cầu xin “Dầu ơi hãy chìm đi”, lạy từ sáng, tới trưa, tới chiều, lạy hoài như vậy thì quý vị nghĩ dầu có chìm không? Tại sao không chìm? Thí dụ khác, cũng hình ảnh như vậy, Đức Phật nói có người ôm một tảng đá quăng xuống hồ, xung quanh đó cả trăm người quỳ lạy cầu xin “Đá ơi nổi đi, mi làm ơn mi nổi giùm ta đi, ta lạy mi”. Cứ cầu xin hoài như vậy thì đá nổi không? Tại sao? Cũng vậy, đâu phải cầu xin là được, đá nặng là chỉ cho ác nghiệp. Thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác, sát sanh, trộm cắp, tà dâm, uống rượu, nói dối, nói lưỡi đôi chiều, nói lời hung ác, nói lời phù phiếm, tham lam, si mê, tà kiến – những ác nghiệp đó đã tạo ra giống như một tảng đá nặng phải chìm xuống. Dầu cho bất cứ ai van xin, quỳ lạy 100 năm thì đá cũng chìm thôi. Còn tại sao dầu nó nổi, bởi vì dầu nó nhẹ, giống như một người không sát sanh, không trộm cướp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu mà còn biết bố thí, có lòng tin, biết giữ giới, biết tu tập trí tuệ thì những người này nhẹ, những người này được nổi sanh lên đỉnh cao của cõi Người, cõi Trời, được an lạc trong hiện tại và tương lai. Như vậy người mà biết tu tập tập thiện pháp, không phạm vào các giới thì những người này không cầu xin nhưng vẫn được thăng thiên. Bây giờ quý vị hãy lo làm sao cho quý vị trở thành nhẹ đi như lúc nãy mình thực tập cảm giác nhẹ nhàng vậy. Cảm giác sân là một cảm giác nặng nề. Cảm giác tham là một cảm giác nặng nề. Cảm giác si là một cảm giác nặng nề. Cảm giác bản ngã, hơn thua, ta đây, khen mình chê người, cống cao ngã mạn, ganh tỵ, tật đố là những cảm giác nặng nề của đá tảng. Nó phải chìm xuống thôi. Quý vị muốn chìm hay nổi? Muốn nổi thì phải làm cho mình nhẹ. Bây giờ quý vị nhẹ chưa? Minh Thành chỉ cho vị quý cách làm nhẹ, quý vị chịu không?
Quý vị hãy tập thân hành và khẩu hành, tức là lời nói và hành động của mình phải nhẹ nhàng, chánh niệm. Tập khi đến chùa trước, trong pháp hội, trong khi nghe pháp, trong khi tu tập, tránh tiếng động hết mức tối đa, tức là mình làm cái gì cũng không cho nó không phát ra tiếng động. Đó là tập cái thân trước. Mình để một cái chén, cầm một cái đôi đũa, hay là một cái muỗng múc ăn cơm, nhẹ nhàng, thanh tịnh, chánh niệm. Mỗi một bước mình đi phải nhẹ chứ không phải giống như thùng phuy chuyển động. Tập mỗi bước chân của mình đi phải nhẹ nhàng, giống như đi thiền hành, chứ không phải đợi vô đi kinh hành mới thiền. Còn mình đi mà thình thịch, như chạy thì không được, giờ mình già rồi chứ đâu phải còn 26, 27 tuổi đâu, bây giờ mình 62, 72 rồi. Mình đi mà thô tháo, vội vàng, lăng xăng như vậy trượt cầu thang một cái là dập mặt xuống rồi nằm một chỗ thì khổ không. Đó là tại vì không biết tu, bây giờ mình tu là đi nhẹ nhàng, chánh niệm. Từng cái đũa, cái chén, cái muỗng, tất cả mọi cử chỉ, động tác của mình đều là ở trong sự thanh tịnh, nhẹ nhàng. Như vậy thì quý vị thấy khóa tu của mình thành công không?
Khi ăn cơm cũng vậy, phải hết sức chánh niệm. Minh Thành đã chỉ quý vị cách nhìn ra dục, tham, ái khi ăn cơm đó, hãy nhớ tu tập nhiếp phục cảm giác. Như vậy nếu 300 người ngồi ở đây ăn cơm mà không nghe một tiếng động, không nghe một tiếng khua của cái muỗng nữa thì quý vị thấy đó có phải là phép lạ, là mầu nhiệm, là vi diệu không? Đó là kỉ lục của sự tu, đó là tuyệt vời, là vi diệu, là phần thưởng tối thượng của tất cả Phật tử chúng ta ở tại nơi đây. Cho nên khi đi, khi đứng, khi ngồi, khi nằm phải tập chánh niệm, tỉnh giác. Tu được như vậy thì đẹp lắm.
Đây gọi là chùa Thượng Điền, nói cho đầy đủ là Vô Thượng Phước Điền, tức là mảnh ruộng phước vô thượng ở trên đời. Như vậy mọi người ở đây là bước vào mảnh ruộng vô thượng phước điền của Tam bảo, và mỗi người đến đây là mỗi một hoa sen nở ra thơm, đẹp và ngạt ngào. Như vậy có đáng đến tu không? Đi, đứng, ngồi, nằm – đó gọi là thực tập chánh niệm trong oai nghi. Đức Phật dạy mình Thân Hành Niệm là niệm hơi thở, niệm oai nghi, niệm hành động, ba cái này rất quan trọng. Minh Thành có hướng dẫn quý vị, niệm hơi thở quý vị phải luôn luôn nhớ hơi thở mình đang vào, đang ra, đang hít vào, đang thở ra. Kế đó niệm oai nghi: đi, đứng, ngồi, nằm phải tỉnh giác, phải rõ biết. Niệm hành động là những cái ngoài đi, đứng, ngồi, nằm gọi là hành động. Khi mình nói chuyện lúc đến chùa hoặc là đến chợ có khác không quý vị, khác làm sao? Khi đến chùa nói chuyện, mình phải nói khẽ, thấp giọng, giữ chánh niệm. Còn mình ra chợ mình nói khác, mình về nhà mình nói khác, đến chùa thì nói khác. Cho nên khi đến chùa lời nói của mình êm dịu, nhẹ nhàng, hiền hòa, dễ thương. Như vậy mình càng đi chùa chừng nào, mình càng có một sự hiền thiện, hiền dịu, hiền lành, hiền hòa, hiền hậu, hiền đức, hiền lương, cuối cùng là hiền thiện và Hiền Thánh.
Như vậy tất cả là từ chỗ mình thực tập nhìn ra, thấy được năm uẩn, thân tâm của mình. Thực tập quán sát cảm giác, sau đó thực tập cái đi, đứng, ngồi, nằm. Sau đó mình mới thực tập lời nói, hành động. Kế đó là mình thực tập người tu là phải hiền, người ta nói là tu hiền, chứ đâu ai nói là tu dữ. Mình tự hỏi mình là hiền chưa? Lâu lâu mình nói một câu mà người ta nghe xong bật ngửa, như vậy là hiền chưa? Mình ăn mà mình húp rột rột như vậy là có oai nghi chưa? Đến chùa mà nhiều khi xăn tay áo, chỉ trỏ, nói la lớn là có hiền chưa? Cho nên, đừng nói gì cao siêu hết, nói tu hiền thôi là cả một sự thành công lớn. Vì vậy, Minh Thành muốn quý vị thực tập tâm hiền, khi mình nói ra mình nhớ là người tu khi mình nói chuyện thì lời nói của mình phải hiền hòa, đừng nói lời nghe chát chúa, nghe một cái là muốn điếc con ráy, nghe một cái là muốn lủng màng nhĩ. Nhiều khi một câu nói thôi mà suốt đời người ta không quên. Hồi xưa “ổng” nói làm sao, mà đi về luôn với ổng rồi có mấy mặt con vậy? Cũng có người nói một câu thôi mà giận quá, tức quá rồi suốt đời không quên; mà cũng nói có một câu rồi thương, suốt đời không quên. Vậy thì mình có cần tu tập lời nói hiền hòa không? Hễ mà quên một cái, quên mình là người tu thì nói một hồi là không thấy mình là người tu nữa.
Cho nên bất cứ lúc nào mở miệng ra là mình phải lắng nghe lời nói của mình, rồi lắng nghe cảm giác của mình nữa. Cảm giác lúc mình đang nói là cảm giác gì, lời nói mình đang nói có phải là chánh ngữ, hiền ngữ, chân ngữ, thật ngữ, pháp ngữ không? Hay mình nói một hồi là lọt qua chuyện thị phi, đúng sai, hay dở, phải quấy, hơn thua, cái này có dễ xảy ra không? Cho nên, trong suy nghĩ của mình cũng vậy, đừng suy nghĩ xấu về người khác. Lúc mình suy nghĩ xấu về người ta, mình nói “Ủa sao kì vậy ta, mình là người tu mà, mình là người tu đó nghe”. Mỗi khi mình bực bội lên, sân hận lên, nghĩ xấu về người ta mình nói “Mình là người tu”. Khi mình nói câu đó lên, mình làm cho trong lồng ngực này lan tỏa ra khắp châu thân của mình một cảm giác hiền ơi là hiền, hiền vô cùng hiền, hiền sao là hiền, hiền không còn chỗ nói nữa, hiền thật là hiền. Mình làm cho một cảm giác hiền lành, hiền hậu, hiền đức, hiền lương, hiền hòa, hiền từ, hiền thiện thấm toàn bộ tất cả tế bào trong thân thể mình. Gương mặt của mình là gương mặt hết sức hiền. Ánh mắt mình là một ánh mắt thật là hiền, không có liếc, không có trợn, không có háy, nguýt ai hết. Một khi nó muốn liếc liếc ai, mình nói “Mắt ơi, hiền đi, nghe lời đi, bà cưng. Đừng có liếc người ta nghe không, đừng có háy người ta nghe không, đừng có nguýt người ta nghe không. Mắt nè, hãy nhìn lên mắt của Phật kìa, mắt Phật hiền lắm. Mắt con cũng sẽ giống như mắt Ngài. Con nguyện mắt con sẽ giống như mắt của Ngài. Con sẽ tu tập con mắt hiền. Con mà không tu tập con mắt hiền, con liếc, con nguýt, con háy riết thì đời sau con lé con biết không?” Lé là nhìn qua đây nhưng thật sự nó nhìn qua kia, mà nếu nặng hơn nữa là chột, còn có một con, gọi là độc nhãn long, nếu nặng hơn nữa là mù. Quý vị có chịu mấy cái này không hay muốn cặp mắt thật là hiền lành, sáng tỏ và dễ thương. Như vậy quyết tâm ngồi trước Tam bảo, ngồi trước Phật, nguyện với Ngài “Từ này đến này con chết con liếc, không háy, không nguýt, con không nhìn người khác bằng ánh mắt khó chịu, sân si”. Đó là tu con mắt.
Giờ đến tu cái miệng “Con ngồi trước Ngài đây, xin thưa với Ngài, hôm nay khóa tu con quyết tâm từ đây về sau con không nói lời cay độc, lời ác ôn. Con không nói những lời thô bạo, sân si, thị phi, phải quấy, hơn thua, đâm chọt, đâm bị thóc, thọc bị gạo, những lời thêm thắt, thêu dệt, những lời phù phiếm vô nghĩa, vô ích. Con hứa với Đức Thế Tôn, con nguyện từ đây về sau con học Chánh ngữ”. Mình thấy được ngũ uẩn là mình có Chánh kiến. Những suy nghĩ của mình luôn luôn xa những suy nghĩ về dục, về sân, về hại thì đó gọi lại Chánh tư duy. Khi có những suy nghĩ ham muốn những gì sai quấy là mình tách nó ra, bỏ nó ra, xa lìa nó như vậy gọi là Chánh tư duy – suy nghĩ chân chánh, nghĩ đúng. Ly dục tư duy, ly sân tư duy, bất hại tư duy là ba sự suy nghĩ chân chánh. Suy nghĩ đừng ham muốn sai quấy, suy nghĩ đừng có sân hận, suy nghĩ đừng có hại người khác thì những suy nghĩ đó là Chánh tư duy – suy nghĩ chân chánh. Về Chánh ngữ mình mới vừa học, ngày nào đến trước Phật cũng phải nói câu lúc nãy đã nói, chứ quý vị không cần phải cầu xin hoài đâu, cầu xin không có được. Mình phải hứa trước Phật, nguyện trước Phật, thấy xấu hổ trước Tam bảo rồi mình về cố gắng thực tập thì mới được. Đời sống của mình phải tập, tập những hành động chân chánh. Điều quan trọng Minh Thành muốn nhấn mạnh là phải tu tập tâm hiền. Cái này quan trọng lắm. Thấy chữ “hiền” nó đơn giản nhưng thật sự không phải đơn giản đâu. Ở bên trong còn dữ dằn lắm, phải không quý vị? Bây giờ nhìn mặt như vậy nhưng lúc đụng chuyện là cái mặt lập tức đổi khác.
Bây giờ Minh Thành đọc trước, quý vị đọc theo, đọc cho tha thiết, da diết, đọc bằng cả tấm lòng, cả trái tim để phát khởi lên một cảm giác hiền.
Người tu tâm thật là hiền
Trong ngoài thanh tịnh, nụ cười bình yên.
Hiền sao là hiền! Dễ thương vô cùng! Mấy trăm người ngồi đây hiền ơi là hiền! Tuyệt vời! Hôm nay đi tu về là ai cũng hiền hết luôn.
./.
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Mười danh hiệu của Thế Tôn PAGEREF _Toc112913733 \h 1
II.Trí tuệ ngũ uẩn PAGEREF _Toc112913734 \h 3
III.Trọng tâm của đạo Phật PAGEREF _Toc112913735 \h 9
Mười danh hiệu của Thế Tôn
Trước khi vào buổi pháp thoại, Minh Thành xin mới tất cả đại chúng cùng thực tập vài phút để tịnh tâm. Quý vị mắt nhìn xuống về phía trước, đừng nhắm mắt, mở rộng tầm nhìn rộng hết mức ra hai bên, đừng nhìn một chỗ. Rõ biết ở trước mặt, cảm nhận hơi thở, cảm nhận cảm giác của cơ thể. Cảm nhận cảm giác đầu, mặt, vai, cảm giác tai, mình, lưng, mông, chân, ống chân, bàn chân. Cảm nhận cảm giác của toàn bộ cơ thể. Cảm nhận không gian nơi này. Cảm nhận sự an tịnh của không gian nơi này. Cảm nhận trời đất bao la ở nơi này. Thở vào làm cho thân an tịnh, thở ra làm cho tâm lắng dịu. An tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào. Đây là giờ phút thiêng liêng nhất của cuộc đời chúng ta, đây là khoảnh khắc đại bình an, đây là giây phút nhiệm màu của kiếp nhân sinh.
Vui thay chúng ta sống
Không rộn, giữa rộn ràng
Giữa những người rộn ràng
Ta sống không rộn ràng.
***
Người tu tâm thật là hiền
Trong ngoài thanh tịnh, nụ cười bình yên.
Nở nụ cười rộng lên để cảm nhận khoảnh khắc hạnh phúc này. Nở nụ cười nhẹ lên để cảm nhận giây phút mầu nhiệm này. Quý vị có thấy bình an không? Có thấy thanh tịnh không? Có thấy an lạc không? Đó là mấy phút chúng ta thực tập sự an tịnh, lắng dịu, hỷ lạc của thân tâm.
Hôm nay Minh Thành muốn chia sẻ đến quý Phật tử về “Trí tuệ và đức hạnh của Như Lai”. Chúng ta là những người Phật tử, nghĩa là con Phật, con Phật thì phải biết về cha của mình một cách chân chánh và đúng pháp. Nếu không hiểu về Phật một cách chánh kiến và đúng đắn thì sự tu học sẽ không đi đến kết quả trọn vẹn. Quý vị lâu lâu có đi cầu xin nhiều không, lâu lâu có đi Tứ Phủ không? Có lạy Phật cầu cho con được cái này, cái kia không? Có cầu cho con được bình an, hạnh phúc, khỏe mạnh, sống lâu, mọi việc tốt lành hết không? Hôm nay, Minh Thành sẽ giải thích cho quý vị kỹ để quý vị biết Đức Phật là vị như thế nào.
Đức Phật là vị thầy vĩ đại, vị Đại Đạo Sư, người cha tinh thần vĩ đại của chúng ta. Đức Phật được loài Trời và Người tôn kính, có mười đức hiệu, gồm: Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sư, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Biết tới đây là bước một, còn bước quan trọng thứ hai là phải hiểu. Minh Thành sẽ giải thích mười danh hiệu của Đức Phật cho quý vị nắm thật vững và có chánh kiến về Đức Phật, để mình tu sẽ được thành công, đúng theo con đường Đức Phật dạy. Đầu tiên, tên gọi của Ngài đúng theo kinh Nikāya là Bậc Lậu Tận A La Hán.
Con chân thành đảnh lễ
Phật Thích Ca Mâu Ni
Bậc tự mình thấy rõ
Sự thật về thân tâm
Sự thật về sanh tử
Về phiền não khổ đau
Và Ngài cũng tìm thấy
Lối thoát khỏi khổ đau
Lối thoát khỏi sanh tử
Ngài đạt sanh tử tận
Ngài đạt khổ chấm dứt
Vì vậy Ngài được gọi
Bậc La Hán Chánh Giác
Bậc Lậu Tận Chánh Giác.
Con thật kính phục Ngài
Con thật kính ngưỡng Ngài
Con xin quy phục Ngài
Con xin đảnh lễ Ngài.
Danh hiệu đầu tiên trong kinh tạng Nikāya giải thích cho chúng ta là danh hiệu A La Hán. Như Lai là Bậc A La Hán Chánh Đẳng Giác, như vậy ý nghĩa là gì? Ngài là vị tự mình thấy rõ sự thật về thân tâm của Ngài. Quý vị có biết sự thật về thân tâm của mình không? Tại sao mình biết nhiều thứ quá mà bây giờ hỏi về thân tâm của mình thì lại không biết. Thân này gồm đất, nước, gió, lửa – tứ đại. Còn tâm của mình là gì nếu quý vị không nắm được thì quý vị tu học sẽ không tiến bộ tới chỗ rốt ráo. Đức Phật dạy cái thân này, tất cả thế giới này… đều là ngũ uẩn.
Trí tuệ ngũ uẩn
Thân thể, đồ vật, vật chất, tứ đại là thuộc về sắc uẩn. Cái thân mấy chục kí lô này là thuộc về sắc uẩn và sắc là do bốn đại hợp thành: đất, nước, gió, lửa.
Phần tâm gồm thọ, tưởng, hành, thức. Nói thì thuộc lòng ro ro, nhưng ở đây Minh Thành muốn quý Phật tử nhận diện được năm uẩn, tức là nhìn ra được nội tâm của mình. Thọ là những cảm giác. Quý vị có cảm giác không? Khi mình ăn ngon thì có cảm giác dễ chịu. Khi đi ngoài nắng 30, 40 độ C thì có cảm giác khó chịu. Như vậy cảm giác gồm ba loại: dễ chịu, khó chịu và không dễ chịu không khó chịu. Tất cả cảm giác đều ở trong ba loại này. Trong khi nó dễ chịu thì có tham trong đó, lúc quý vị ăn đồ ăn ngon, gắp lia gắp lịa thì quý vị có thấy tham trong đó không? Trong cảm giác khó chịu có bực bội không, đó là sân nằm trong cảm giác khó chịu. Rồi trong cảm giác không khó chịu, không dễ chịu, nó trơ trơ, đơ đơ, thì trong đó có si. Như vậy, từ đó giờ tu học, quý vị có thấy tham, sân, si nó ở trong cảm giác không hay bữa nay mới biết. Cái này quan trọng lắm, nếu không nắm được cái này thì quý vị tu không tiến, không nhiếp phục tham, sân, si được. Tại vì không biết ở chỗ nào thì làm sao nhiếp phục.
Minh Thành ví dụ, trong một bữa tiệc thật là ngon, đãi mười mấy món, trúng ngay món ưa thích của mình. Quý vị ngồi đó đói bụng, chưa được ăn mà cứ nói chuyện hoài thì bên trong có cảm giác thúc giục muốn mau mau ăn, đó gọi là dục. Khi mình gắp để vô lưỡi lúc đó thích thích, khoái khoái thì đó là ái. Mình ăn chưa xong miếng này mà gắp miếng thứ hai nữa đó gọi là tham. Đó chính là dục, tham và ái ở trong cảm giác. Khi đang gắp ngon lành món đó thì bỗng nhiên có bà nào lại bưng ngay cái dĩa mình thích đi, bả nói món này không được, thì lúc đó cảm giác khó chịu sanh khởi lên. Cho nên cảm giác của mình nó thay đổi liên tục, hết tham, tới sân rồi tới si, cứ lòng vòng thương ghét liên tục, nếu mình quên, không nhìn ra được cảm giác này thì mình khổ, vì cứ chạy theo những cảm giác. Những cảm giác tham, dễ chịu, khoan khoái thì mình mê và cảm giác khó chịu thì mình bực bội, sân si lên. Cảm giác đơ đơ, đờ đờ, mình mờ mờ là mình si. Quý vị nên thấy rõ chỗ hết sức quan trọng là cảm giác. Nếu quý vị tu mà không nhìn thấy cảm giác thì không bớt khổ, không vượt thoát khỏi khổ. Quý vị nhìn biết bao nhiêu chuyện xảy ra trên cuộc đời này, những tin tức thời sự hàng ngày giành đất, anh em chém giết lẫn nhau. Đó có phải do cảm giác bực bội sân hận thúc đẩy không? Chính cảm giác này nó nhận chìm cả thế giới, chính cảm giác này làm cho huynh đệ tương tàn, gây ra bao nhiêu thứ khổ, vợ chồng phân li, cha con không nhìn mặt nhau, tất cả là cũng vì không biết, không thấy, không rõ, không tu tập cảm giác. Cho nên cứ chạy theo những cảm giác tham, sân, si đó không biết dừng lại, không biết nhiếp phục, không biết kiểm soát, không biết chuyển hóa, không biết tẩy sạch thì cả một cuộc đời của mình là bị cảm giác nhận chìm, bị cảm giác cuốn phăng như dòng nước lũ. Như vậy mình tu là mình luôn luôn nhìn lại cảm giác. Khi đang ngồi nghe pháp mà có cảm giác dễ chịu thì đó là cảm giác dễ chịu trong thiện pháp. Năm uẩn rất quan trọng nên quý vị phải nắm thật vững, nếu không vững cái này thì quý vị tu tập không có tiến bộ.
Sau sắc, thọ là tới tưởng. Tưởng là những hình bóng trong tâm. Khi Minh Thành lấy thí dụ đi dưới trời nắng 30, 40 độ C thì lúc đó trong tâm quý vị có hình bóng gì? Có phải khi quý vị nghe nói như vậy là trong tâm quý vị có hình bóng của mình đi ngoài nắng hiện ra không? Đó gọi là tưởng. Bây giờ quý vị nhớ đứa cháu nội, cháu ngoại của mình, quý vị nói “Ôi, dễ thương. Thương chết đi được. Cưng quá à”, lúc đó hiện hình bóng đó ra thì đó là tưởng. Hồi đó quý vị mới quen “ổng”, mới quen “bả”, lúc mới gặp quý vị về nhà quý vị có tưởng không? Nằm chiêm bao có thấy không? Những hình bóng đó là tưởng đó, mình có khổ với tưởng này không? Người ta gọi là tưởng tượng, tức là chỉ bằng con kiến thôi mà mình tưởng ra một hồi là nó thành con “tượng”, mà con tượng là con voi. Từ con kiến mà tưởng riết một hồi ra con voi. Cho nên trong nhà có chuyện, lâu lâu mình có tưởng tầm bậy, tưởng trật, tưởng sai không? Cho nên mình nói “ Tôi tưởng như vậy, mà nó không phải vậy”. Vì vậy, hình bóng trong nội tâm của mình là tưởng.
Kế tiếp là hành, đó là những lời nói lầm thầm, những suy nghĩ trong tâm. Khi thấy có một hình bóng trong tâm thì những lời nói kèm theo hình bóng đó là hành. Giống như khi xem TV, mình thấy vừa có hình ảnh, vừa có âm thanh kèm theo. Cũng vậy trong tâm chúng ta luôn luôn hễ có hình ảnh là có âm thanh đi kèm theo. Ví dụ, khi giận một người nào đó thì hình bóng của họ hiện lên trong tâm mình, trong hình bóng đó có lời nói lầm thầm “Thấy ghét, không ưa, đi cái tướng cũng ghét, nói chuyện cũng ghét, làm gì cũng thấy ghét hết trơn”, những lời nói lầm thầm đó là hành hành uẩn. Hồi đó giờ mình cứ tụng “Quán-tự-tại Bồ-tát hành thâm Bát-nhã Ba-la-mật-đa thời, chiếu kiến ngũ-uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách”, cứ tụng ro ro rồi trở ra mình quên chữ “uẩn”, chỉ còn chữ “ngủ”. Như vậy mình đã thấy rõ sắc, thọ, tưởng, hành. Hành là những lời nói lầm thầm, những suy nghĩ trong tâm.
Khi thấy được những suy nghĩ, mình đang suy nghĩ thì có biết mình đang suy nghĩ, cái biết đó là thức uẩn. Tức là sự biết được mình đang có một cảm giác khó chịu, trong tâm mình đang có hình bóng, có mặt của người thấy ghét đó, có lời nói lầm thầm nói theo bực bội đó. Sự rõ biết được cảm giác đó, hình bóng đó, suy nghĩ đó thì cái biết đó là thức uẩn. Thức uẩn là sự rõ biết được những cảm giác, những nghĩ, tưởng trong tâm.
Quý vị có thấy rằng hằng ngày mình có sống chung với năm uẩn không? Sáng mình có những cảm giác nghĩ tưởng không? Trưa mình có không? Chiều mình có không? Tối nằm chiêm bao thấy có không? Như vậy năm uẩn nó đang có mặt, đang vận hành và chi phối nhưng mình không thấy, không biết nó, Đức Phật gọi đó là vô minh, là không sáng suốt, là si mê, vì không thấy được thân và tâm mình là ngũ uẩn.
Thân này suốt ngày được sử dụng những thức ăn mọc từ đất; hơi thở là gió; uống nước là nước; hơi ấm, nhiệt độ trong cơ thể, lửa để nấu ăn, ánh nắng mặt trời thuộc về hỏa đại – đó chính là đất, nước, gió, lửa. Như vậy sắc pháp, sắc uẩn này là do đất, nước, gió, lửa kết hợp, nhưng mình không thấy, không biết, không quán, không chiếu, không nghiền ngẫm, không tư duy theo lời Đức Phật dạy nên cứ nhận 60, 70 kí lô thịt này là tôi, là của tôi. Có ai đụng tới “tôi” một cái là “tôi không có tha đâu nha”. Ai nói gì một câu hoặc liếc con mắt nhìn mình một cái thì lúc đó bực lên, nóng lên, phựt lên, cháy lên và cuối cùng đi đến khổ não. Đó là tại vì mình không nhận diện được ngũ uẩn, không thấy sắc là sắc; những cảm giác là thọ; những hình bóng trong tâm là tưởng; những lời nói lầm thầm, suy nghĩ là hành; sự rõ biết là thức.
Do không nhận diện năm uẩn, không nhìn ra được năm uẩn mà lầm chấp năm uẩn này là tôi, là của tôi nên ai đụng vào “tôi” một chút, hoặc thân này bị mòn, bị trầy một chút là sân si khởi lên, bản ngã khởi lên, cái tôi chình ình một đống thì khổ vô cùng, cũng bởi vì không thấy sự thật về năm uẩn. Còn Đức Phật là bậc thấy rõ sự thật về thân tâm, Ngài thấy được năm uẩn đó, Ngài thấy được sự thật về sanh tử, về những phiền nào khổ đau và Ngài thấy được lối thoát ra khỏi đau khổ đó. Còn chúng ta tham trong năm uẩn, sân về cái thân năm uẩn, hơn thua cũng là hơn thua trong cái năm uẩn này. Như vậy, xoay vần trong năm uẩn này là bao trùm cả thân tâm và thế giới.
Chính vì không thấy, không biết được năm uẩn cho nên mình không hiểu được tham, sân, si. Mà tham, sân, si là nguồn cội gây ra khổ nhưng không thấy, không biết thì làm sao mình dứt khổ được.Tham, sân, si nằm trong những cảm giác. Mình luôn luôn quay lại phòng hộ cảm giác, nhìn ngó cảm giác thì mình sẽ bớt khổ và dứt khổ. Còn nếu không thấy không biết gì hết thì mình lẩn quẩn, lòng vòng trôi lăn trong biển khổ.
Khi chỉ dạy con cái nhưng nó không nghe, thì lúc đó mình dễ chịu hay khó chịu, mát hay là nóng? Lúc đó, nóng giận sanh khởi thì phải nói: “Ôi chao, có cảm giác này là không được rồi nghe”. Cảm giác sân này đang đốt trong lòng ngực, lúc đó, nếu vẫm tiếp tục nói chuyện với con cái nữa thì chẳng những lời dạy của mình không có lợi ích mà còn có tai hại nữa. Đang sân thì nói không có đúng, sân thì nói không có hay, sân thì nói người ta không có nghe. Chừng nào mình lặn hết cảm giác bực bội, sân hận, nóng bức này xuống, mình mát mẻ đi thì nói bằng lời từ ái, tình thương của một người mẹ với con thì lúc đó chắc con sẽ nghe, sẽ thương và hiếu thảo với mình. Khi cảm giác được lắng dịu, yên tịnh xuống, lúc mình bình tĩnh, mát mẻ, nhẹ nhàng thì hãy nói ra bằng một trái tim của người mẹ, như vậy thì cây cỏ sắt đá cũng cảm động.
Cho nên lúc nào giận thì đừng nói, khi đó mình thấy ngay chỗ ngay lồng ngực bắt đầu nóng lên, hực lên trên mặt; tự nhiên trên mặt đổi màu, hai cái má hồng lên mà không cần thoa son, trét phấn gì hết; lỗ tai nó lùng bùng; con mắt nó lờ đờ; cái miệng giật giật. Cảm giác này không như lúc bình thường, mà cái sân đang sanh khởi, lúc đó phải nhiếp phục liền. Mình nói “Cảm giác này là nguy hiểm nha, cảm giác này là nguy hại nha. Nguy hiểm và tác hại nha. Cảm giác này là lửa, nó đốt cháy, thiêu đốt, thiêu rụi làm khổ cho mình, làm khổ cho những người chung quanh mình. Không chấp nhận cảm giác này, từ bỏ cảm giác này, làm cho cảm giác này tan biến, lắng dịu đi”.
Tập nói chuyện với cảm giác sân. “Ưa giận lắm phải không? Thích giận lắm phải không? Ham giận lắm phải không? Muốn giận lắm phải không?” Bây giờ giận lên thì lúc đó sướng hay khổ? Vui hay buồn? Hòa hay bất hòa? Bất hạnh hay hạnh phúc? Tan nát hay còn nguyên vẹn? Mình có thích tan nát không, thích bất hạnh hay hạnh phúc? Mình thích nguyên vẹn, mình thích hạnh phúc, mình thích mát mẻ, như vậy mình không có chấp nhận cảm giác bực tức, thiêu đốt này. “Thôi, đi chỗ khác chơi đi, để cho bà tu con”. Đó là mình dạy dỗ và huấn luyện cảm giác của mình. Chứ đằng này nó nổi lên là mình ập vô chung, mình nhập cuộc, đồng hóa với nó luôn là phựt cháy lên hết. Tới chừng cháy xong xuôi hết rồi thì hối hận, thậm chí là vô tù. Bao nhiêu vụ án hằng ngày coi trên tin tức thời sự, báo chí, tất cả là cảm giác hết.
Cho nên, chúng sanh là đau khổ vì không hiểu biết được thân tâm của chính mình, không thấy rõ được cảm giác vận hành, không thấy rõ cảm giác nó áp đảo, nó chi phối, không thấy rõ cảm giác là nguyên nhân làm cho mình sầu, bi, khổ, ưu não. Hôm nay là quý vị mở con mắt trí huệ ra để nhìn vào thân tâm của mình. Đó là sự giác ngộ của Đức Phật. Đức Phật chứng ngộ năm uẩn này để thành tựu Thánh quả. Đức Phật thấy rõ năm uẩn này và nhiếp phục được tham, sân, si bản ngã ở trong năm uẩn này cho nên Ngài được thành Phật. Còn mình không thấy, không biết gì hết, chỉ biết toàn là bà 8, bà 3, bà 7, bà 4, ông 5, tánh ai mình rành hết, còn bản thân mình thì mình không biết mới đau. Thật là đau cho cái bệnh của mình, kêu nội soi mà mình không soi, kêu nội quán mà không quán, vậy mà toàn lo quán người ta, chỉ lo ngoại soi. Tự quán chiếu mình không chịu mà mình “quán gà” không mới chết. Dòm người ta, nhìn người ta suốt ngày, mà càng dòm, càng để ý thì cảng phiền não, càng đúng sai, hay dở. Trong khi đó cái sai là nằm ngay chỗ mình không nhiếp phục cảm giác của mình.
Minh Thành ví dụ đơn giản, có cô đó làm công quả, đang cầm cây lau chùa sạch sẽ, bóng ngời. Bỗng nhiên, bất thình lình, có một người mang đôi dép dính sình bước vào trong đó luôn. Người lau đó bực mình, họ rầy, họ la, họ nhắc nhở. Người mang dép sình đó nếu là người có để ý nhìn lại cảm giác, thấy do họ sai nên được nhắc là đúng thì họ sẽ xin lỗi “Em xin lỗi chị. Em xin lỗi cô. Em xin lỗi bà. Tại em không để ý, em đang gấp, đang vội”, thì đâu có chuyện. Còn đằng này khi bị là thì cự qua cự lại, cự tới cự lui một hồi là sanh chuyện phiền não. Như vậy một người biết tu là người biết quay trở lại nhìn cảm giác của mình, thấy rõ những cái gì đang có mặt, đang diễn ra và không bị ngoại cảnh tác động. Nhìn rõ thân tâm chính mình, biết nhận lỗi, biết sửa lỗi, biết chỉnh lỗi, biết xin lỗi thì người này sẽ đi đến chỗ bớt lỗi, giảm lỗi, hết lỗi. Đó là ý nghĩa của buổi lễ sám hối.
Nếu mình không soi gương, không nhìn lại thì làm sao biết mặt mình dính sình, dính dơ, dính bụi. Mình không soi gương mà cứ nhìn bên ngoài thì làm sao mình biết. Cho nên sự tu tập này là cả một sự nội soi. Nội soi là khi mình có bệnh, mình sẽ đi đến bác sĩ để họ nội soi xem mình bệnh ở đâu, bệnh làm sao, thấy mới điều trị được. Cũng vậy, chúng ta đến chùa là để nội soi. Soi lại thân thể, hành động của mình, soi lại lời nói của mình, soi lại những suy nghĩ của mình, soi lại những cảm giác, hình bóng trong tâm, soi lại những lời nói lầm thầm ở bên trong. Khi có sự kiểm tra thường trực, soi thường trực, rọi thường trực như vậy thì chỗ nào còn dơ, chỗ nào chưa ổn, chỗ nào cần chỉnh thì lúc đó mình điều chỉnh lại, từ từ mới bớt lỗi rồi tới chỗ hết lỗi, đó là thành công của sự tu.
Cứ mỗi nửa tháng quý vị thường đến chùa sám hối, nhưng sám hối đã bao nhiêu năm rồi, hết tội chưa? Cho nên mình cứ nghĩ sám hối tức là phía trên là Phật, phía dưới là mình lạy để Phật tha lỗi cho mình, không phải như vậy. Sám hối là tự nhìn lại những thân thể, những cảm giác, nghĩ, tưởng của mình trong nửa tháng vừa qua. Khi thấy có suy nghĩ gì sai, nói lời gì trật, có hành động gì không đúng thì mình hứa trước Phật khi trở về “Con sẽ điều chỉnh, con sẽ sửa đổi, con sẽ thay đổi, con sẽ không như vậy nữa”. Nửa tháng sau mình vào chùa nhìn nhận lại thân tâm, rồi hứa sẽ chính sửa, rồi nửa tháng sau mình vào chùa sám hối để tiếp tục nhận lỗi, sửa lỗi. Như vậy cứ cố gắng nhận lỗi, sửa lỗi từng chút từng chút thì dần dần mới hoàn thiện, hoàn hảo. Còn cứ đến chùa lạy bon bon 108 lạy, rồi trở ra thở cái khì, rồi nói đã sám hối xong, trở về cũng y nguyên như cũ thì điều đó không đúng với ý nghĩa của sám hối.
Trọng tâm của đạo Phật
Hôm nay là bách khóa tổng hợp, Minh Thành giải thích những điều hết sức căn bản, gần gũi nhất trong sự tu tập. Từ đó, quý vị nắm được những phần hết sức quan trọng, thiết thực, gần gũi trong sự tu học thường nhật, thường ngày để tu học. Như vậy, trọng tâm của đạo Phật là sự hiểu biết, nhìn lại và kiểm soát về thân tâm của mình. Công năng của sự kiểm soát này là để nhìn thấy, biết được ở bên trong đang có cái gì. Khi mình nổi sân lên mình phải biết mình đang có một cảm giác sân hận. Khi mình có sự ganh tỵ, đố kị mình phải biết mình đang có một cảm giác như vậy. Khi mình có bản ngã sanh khởi lên, cái tôi thì mình phải biết đang có những cảm xúc bản ngã của cái tôi. Từ đó mình tẩy sạch, chuyển hóa, làm cho mình có một thân tâm trong sạch, thanh tịnh, như vậy từ từ mình mới bớt khổ, hết khổ. Còn mình không biết gì về mình, mà mình cứ cầu, mình lạy, mình xin thì quý vị nghĩ mình xin có được không? Quý vị thấy quý thầy mỗi ngày đều lạy Phật, tụng kinh suốt cuộc đời như vậy mà quý thầy có chết không, hay sống hoài không chết? Quý thầy có già không? Quý thầy có bệnh không? Quý thầy có chết không? Không! Như vậy thì làm sao cầu cho quý vị được. Tất cả đều phải sanh, lão, bệnh, tử thì làm sao mà cầu cho một người nào mà không sanh, già, bệnh, chết. Chỉ có pháp tu áp dụng theo Đức Phật thì mình mới đạt tới cảnh giới bất tử. Còn nếu mình cầu không thì không được.
Đức Phật có một thí dụ. Như có một hồ nước, có người này mới quăng một cái chậu trong đó là có bơ, sữa, hoặc là dầu. Chậu này không có đậy nắp nên dầu, bơ, sữa mới tràn ra nổi trên mặt hồ. Xung quanh có rất nhiều nguời lạy và cầu xin “Dầu ơi hãy chìm đi”, lạy từ sáng, tới trưa, tới chiều, lạy hoài như vậy thì quý vị nghĩ dầu có chìm không? Tại sao không chìm? Thí dụ khác, cũng hình ảnh như vậy, Đức Phật nói có người ôm một tảng đá quăng xuống hồ, xung quanh đó cả trăm người quỳ lạy cầu xin “Đá ơi nổi đi, mi làm ơn mi nổi giùm ta đi, ta lạy mi”. Cứ cầu xin hoài như vậy thì đá nổi không? Tại sao? Cũng vậy, đâu phải cầu xin là được, đá nặng là chỉ cho ác nghiệp. Thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác, sát sanh, trộm cắp, tà dâm, uống rượu, nói dối, nói lưỡi đôi chiều, nói lời hung ác, nói lời phù phiếm, tham lam, si mê, tà kiến – những ác nghiệp đó đã tạo ra giống như một tảng đá nặng phải chìm xuống. Dầu cho bất cứ ai van xin, quỳ lạy 100 năm thì đá cũng chìm thôi. Còn tại sao dầu nó nổi, bởi vì dầu nó nhẹ, giống như một người không sát sanh, không trộm cướp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu mà còn biết bố thí, có lòng tin, biết giữ giới, biết tu tập trí tuệ thì những người này nhẹ, những người này được nổi sanh lên đỉnh cao của cõi Người, cõi Trời, được an lạc trong hiện tại và tương lai. Như vậy người mà biết tu tập tập thiện pháp, không phạm vào các giới thì những người này không cầu xin nhưng vẫn được thăng thiên. Bây giờ quý vị hãy lo làm sao cho quý vị trở thành nhẹ đi như lúc nãy mình thực tập cảm giác nhẹ nhàng vậy. Cảm giác sân là một cảm giác nặng nề. Cảm giác tham là một cảm giác nặng nề. Cảm giác si là một cảm giác nặng nề. Cảm giác bản ngã, hơn thua, ta đây, khen mình chê người, cống cao ngã mạn, ganh tỵ, tật đố là những cảm giác nặng nề của đá tảng. Nó phải chìm xuống thôi. Quý vị muốn chìm hay nổi? Muốn nổi thì phải làm cho mình nhẹ. Bây giờ quý vị nhẹ chưa? Minh Thành chỉ cho vị quý cách làm nhẹ, quý vị chịu không?
Quý vị hãy tập thân hành và khẩu hành, tức là lời nói và hành động của mình phải nhẹ nhàng, chánh niệm. Tập khi đến chùa trước, trong pháp hội, trong khi nghe pháp, trong khi tu tập, tránh tiếng động hết mức tối đa, tức là mình làm cái gì cũng không cho nó không phát ra tiếng động. Đó là tập cái thân trước. Mình để một cái chén, cầm một cái đôi đũa, hay là một cái muỗng múc ăn cơm, nhẹ nhàng, thanh tịnh, chánh niệm. Mỗi một bước mình đi phải nhẹ chứ không phải giống như thùng phuy chuyển động. Tập mỗi bước chân của mình đi phải nhẹ nhàng, giống như đi thiền hành, chứ không phải đợi vô đi kinh hành mới thiền. Còn mình đi mà thình thịch, như chạy thì không được, giờ mình già rồi chứ đâu phải còn 26, 27 tuổi đâu, bây giờ mình 62, 72 rồi. Mình đi mà thô tháo, vội vàng, lăng xăng như vậy trượt cầu thang một cái là dập mặt xuống rồi nằm một chỗ thì khổ không. Đó là tại vì không biết tu, bây giờ mình tu là đi nhẹ nhàng, chánh niệm. Từng cái đũa, cái chén, cái muỗng, tất cả mọi cử chỉ, động tác của mình đều là ở trong sự thanh tịnh, nhẹ nhàng. Như vậy thì quý vị thấy khóa tu của mình thành công không?
Khi ăn cơm cũng vậy, phải hết sức chánh niệm. Minh Thành đã chỉ quý vị cách nhìn ra dục, tham, ái khi ăn cơm đó, hãy nhớ tu tập nhiếp phục cảm giác. Như vậy nếu 300 người ngồi ở đây ăn cơm mà không nghe một tiếng động, không nghe một tiếng khua của cái muỗng nữa thì quý vị thấy đó có phải là phép lạ, là mầu nhiệm, là vi diệu không? Đó là kỉ lục của sự tu, đó là tuyệt vời, là vi diệu, là phần thưởng tối thượng của tất cả Phật tử chúng ta ở tại nơi đây. Cho nên khi đi, khi đứng, khi ngồi, khi nằm phải tập chánh niệm, tỉnh giác. Tu được như vậy thì đẹp lắm.
Đây gọi là chùa Thượng Điền, nói cho đầy đủ là Vô Thượng Phước Điền, tức là mảnh ruộng phước vô thượng ở trên đời. Như vậy mọi người ở đây là bước vào mảnh ruộng vô thượng phước điền của Tam bảo, và mỗi người đến đây là mỗi một hoa sen nở ra thơm, đẹp và ngạt ngào. Như vậy có đáng đến tu không? Đi, đứng, ngồi, nằm – đó gọi là thực tập chánh niệm trong oai nghi. Đức Phật dạy mình Thân Hành Niệm là niệm hơi thở, niệm oai nghi, niệm hành động, ba cái này rất quan trọng. Minh Thành có hướng dẫn quý vị, niệm hơi thở quý vị phải luôn luôn nhớ hơi thở mình đang vào, đang ra, đang hít vào, đang thở ra. Kế đó niệm oai nghi: đi, đứng, ngồi, nằm phải tỉnh giác, phải rõ biết. Niệm hành động là những cái ngoài đi, đứng, ngồi, nằm gọi là hành động. Khi mình nói chuyện lúc đến chùa hoặc là đến chợ có khác không quý vị, khác làm sao? Khi đến chùa nói chuyện, mình phải nói khẽ, thấp giọng, giữ chánh niệm. Còn mình ra chợ mình nói khác, mình về nhà mình nói khác, đến chùa thì nói khác. Cho nên khi đến chùa lời nói của mình êm dịu, nhẹ nhàng, hiền hòa, dễ thương. Như vậy mình càng đi chùa chừng nào, mình càng có một sự hiền thiện, hiền dịu, hiền lành, hiền hòa, hiền hậu, hiền đức, hiền lương, cuối cùng là hiền thiện và Hiền Thánh.
Như vậy tất cả là từ chỗ mình thực tập nhìn ra, thấy được năm uẩn, thân tâm của mình. Thực tập quán sát cảm giác, sau đó thực tập cái đi, đứng, ngồi, nằm. Sau đó mình mới thực tập lời nói, hành động. Kế đó là mình thực tập người tu là phải hiền, người ta nói là tu hiền, chứ đâu ai nói là tu dữ. Mình tự hỏi mình là hiền chưa? Lâu lâu mình nói một câu mà người ta nghe xong bật ngửa, như vậy là hiền chưa? Mình ăn mà mình húp rột rột như vậy là có oai nghi chưa? Đến chùa mà nhiều khi xăn tay áo, chỉ trỏ, nói la lớn là có hiền chưa? Cho nên, đừng nói gì cao siêu hết, nói tu hiền thôi là cả một sự thành công lớn. Vì vậy, Minh Thành muốn quý vị thực tập tâm hiền, khi mình nói ra mình nhớ là người tu khi mình nói chuyện thì lời nói của mình phải hiền hòa, đừng nói lời nghe chát chúa, nghe một cái là muốn điếc con ráy, nghe một cái là muốn lủng màng nhĩ. Nhiều khi một câu nói thôi mà suốt đời người ta không quên. Hồi xưa “ổng” nói làm sao, mà đi về luôn với ổng rồi có mấy mặt con vậy? Cũng có người nói một câu thôi mà giận quá, tức quá rồi suốt đời không quên; mà cũng nói có một câu rồi thương, suốt đời không quên. Vậy thì mình có cần tu tập lời nói hiền hòa không? Hễ mà quên một cái, quên mình là người tu thì nói một hồi là không thấy mình là người tu nữa.
Cho nên bất cứ lúc nào mở miệng ra là mình phải lắng nghe lời nói của mình, rồi lắng nghe cảm giác của mình nữa. Cảm giác lúc mình đang nói là cảm giác gì, lời nói mình đang nói có phải là chánh ngữ, hiền ngữ, chân ngữ, thật ngữ, pháp ngữ không? Hay mình nói một hồi là lọt qua chuyện thị phi, đúng sai, hay dở, phải quấy, hơn thua, cái này có dễ xảy ra không? Cho nên, trong suy nghĩ của mình cũng vậy, đừng suy nghĩ xấu về người khác. Lúc mình suy nghĩ xấu về người ta, mình nói “Ủa sao kì vậy ta, mình là người tu mà, mình là người tu đó nghe”. Mỗi khi mình bực bội lên, sân hận lên, nghĩ xấu về người ta mình nói “Mình là người tu”. Khi mình nói câu đó lên, mình làm cho trong lồng ngực này lan tỏa ra khắp châu thân của mình một cảm giác hiền ơi là hiền, hiền vô cùng hiền, hiền sao là hiền, hiền không còn chỗ nói nữa, hiền thật là hiền. Mình làm cho một cảm giác hiền lành, hiền hậu, hiền đức, hiền lương, hiền hòa, hiền từ, hiền thiện thấm toàn bộ tất cả tế bào trong thân thể mình. Gương mặt của mình là gương mặt hết sức hiền. Ánh mắt mình là một ánh mắt thật là hiền, không có liếc, không có trợn, không có háy, nguýt ai hết. Một khi nó muốn liếc liếc ai, mình nói “Mắt ơi, hiền đi, nghe lời đi, bà cưng. Đừng có liếc người ta nghe không, đừng có háy người ta nghe không, đừng có nguýt người ta nghe không. Mắt nè, hãy nhìn lên mắt của Phật kìa, mắt Phật hiền lắm. Mắt con cũng sẽ giống như mắt Ngài. Con nguyện mắt con sẽ giống như mắt của Ngài. Con sẽ tu tập con mắt hiền. Con mà không tu tập con mắt hiền, con liếc, con nguýt, con háy riết thì đời sau con lé con biết không?” Lé là nhìn qua đây nhưng thật sự nó nhìn qua kia, mà nếu nặng hơn nữa là chột, còn có một con, gọi là độc nhãn long, nếu nặng hơn nữa là mù. Quý vị có chịu mấy cái này không hay muốn cặp mắt thật là hiền lành, sáng tỏ và dễ thương. Như vậy quyết tâm ngồi trước Tam bảo, ngồi trước Phật, nguyện với Ngài “Từ này đến này con chết con liếc, không háy, không nguýt, con không nhìn người khác bằng ánh mắt khó chịu, sân si”. Đó là tu con mắt.
Giờ đến tu cái miệng “Con ngồi trước Ngài đây, xin thưa với Ngài, hôm nay khóa tu con quyết tâm từ đây về sau con không nói lời cay độc, lời ác ôn. Con không nói những lời thô bạo, sân si, thị phi, phải quấy, hơn thua, đâm chọt, đâm bị thóc, thọc bị gạo, những lời thêm thắt, thêu dệt, những lời phù phiếm vô nghĩa, vô ích. Con hứa với Đức Thế Tôn, con nguyện từ đây về sau con học Chánh ngữ”. Mình thấy được ngũ uẩn là mình có Chánh kiến. Những suy nghĩ của mình luôn luôn xa những suy nghĩ về dục, về sân, về hại thì đó gọi lại Chánh tư duy. Khi có những suy nghĩ ham muốn những gì sai quấy là mình tách nó ra, bỏ nó ra, xa lìa nó như vậy gọi là Chánh tư duy – suy nghĩ chân chánh, nghĩ đúng. Ly dục tư duy, ly sân tư duy, bất hại tư duy là ba sự suy nghĩ chân chánh. Suy nghĩ đừng ham muốn sai quấy, suy nghĩ đừng có sân hận, suy nghĩ đừng có hại người khác thì những suy nghĩ đó là Chánh tư duy – suy nghĩ chân chánh. Về Chánh ngữ mình mới vừa học, ngày nào đến trước Phật cũng phải nói câu lúc nãy đã nói, chứ quý vị không cần phải cầu xin hoài đâu, cầu xin không có được. Mình phải hứa trước Phật, nguyện trước Phật, thấy xấu hổ trước Tam bảo rồi mình về cố gắng thực tập thì mới được. Đời sống của mình phải tập, tập những hành động chân chánh. Điều quan trọng Minh Thành muốn nhấn mạnh là phải tu tập tâm hiền. Cái này quan trọng lắm. Thấy chữ “hiền” nó đơn giản nhưng thật sự không phải đơn giản đâu. Ở bên trong còn dữ dằn lắm, phải không quý vị? Bây giờ nhìn mặt như vậy nhưng lúc đụng chuyện là cái mặt lập tức đổi khác.
Bây giờ Minh Thành đọc trước, quý vị đọc theo, đọc cho tha thiết, da diết, đọc bằng cả tấm lòng, cả trái tim để phát khởi lên một cảm giác hiền.
Người tu tâm thật là hiền
Trong ngoài thanh tịnh, nụ cười bình yên.
Hiền sao là hiền! Dễ thương vô cùng! Mấy trăm người ngồi đây hiền ơi là hiền! Tuyệt vời! Hôm nay đi tu về là ai cũng hiền hết luôn.
./.