Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Lợi Ích Của Quán Xét Cảm Thọ

2026-03-03 00:53:26
LỢI ÍCH CỦA QUÁN XÉT CẢM THỌ

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Thực hành ba pháp PAGEREF _Toc71970993 \h 1

II. Quán xét cảm thọ PAGEREF _Toc71970994 \h 3

III. Nhiếp phục cảm thọ PAGEREF _Toc71970995 \h 7

IV. Lợi ích thứ hai của việc quán xét cảm thọ PAGEREF _Toc71970996 \h 10

I. Thực hành ba pháp

Con kính bạch trên Ni trưởng, trụ trì chùa Liên Trì. Kính thưa chư Tăng Ni cùng toàn thể quý Phật tử có mặt trong pháp hội ngày hôm nay. Theo lời chỉ dạy của Ni trưởng, con về đây chia sẻ pháp hành cho các huynh đệ Tăng Ni thực thập theo những lời dạy của Đức Thế Tôn trong tạng kinh Nikāya. Chính vì vậy mà trong buổi chia sẻ này là những buổi đi vào thiền tập, pháp học và pháp hành sẽ được thực hiện đồng thời. Bởi vì chúng ta đã nghe và học nhiều kiến thức, nhiều lý thuyết về Phật học nhưng sự vận dụng, sự thực tập mới là chỗ quyết định của đời sống người tu dù cho người đó là Tăng, Ni hay là cư sĩ. Một người tu mà không có sự thiền tập, không có sự nội soi quán chiếu thân tâm thì người tu đó chỉ có xác không hồn, sẽ không bao giờ nếm được viễn ly lạc, xuất ly lạc, an ổn lạc và chánh giác lạc, sẽ không bao giờ nếm được hương vị của bất tử.

Giáo pháp của Đức Thế Tôn là giáo pháp dẫn tới sự thể nhập bất tử và hôm nay con xin mời đại chúng thực tập về ba pháp. Ba pháp này được chính Thế Tôn chỉ dạy trong kinh Tứ Niệm Xứ, xin thỉnh tất cả đại chúng mắt nhìn xuống về phía trước, xin quý vị đừng bao giờ nhắm mắt. Mắt nhìn xuống về phía trước nhưng không trụ vào một điểm nào mà mở rộng tầm nhìn hết mức ra hai bên, vì khi chúng ta nhìn vào một điểm thì mắt sẽ bị mỏi và bị nhòe, những điểm đó sẽ tạo thành những cái tưởng cho mình cho nên mình mở rộng tầm nhìn hết mức ra hai bên mà không trụ vào bất cứ một điểm nào, tức là chúng ta nhìn về phía trước và mở rộng tầm nhìn hết mức ra, thành ra đó là cái nhìn rộng mở chứ không phải chuyên chú vào một điểm, đây Đức Phật gọi là chánh niệm trước mặt.

Tại sao chúng ta không nhắm mắt? Vì khi nhắm mắt sẽ dễ đi vào hôn trầm và dễ rơi vào cái tưởng, cái tâm sẽ không tỉnh sáng cho nên khi ngồi thiền chúng ta không nhắm mắt, đây gọi là chánh niệm trước mặt, kế đó là chúng ta trở về hơi thở. Hít vào dài hơi thì biết là hít vào dài hơi, thở ra dài hơi thì biết là thở ra dài. Hít vào ngắn thì biết là thở ra ngắn, thở ra ngắn thì biết là thở ra ngắn. Chúng ta nhận biết rõ hơi thở, hít vào…thở ra… Tiếp theo là chúng ta cảm nhận ba chỗ động chuyển của hơi thở, cảm nhận sự động chuyển ở lồng ngực, chóp mũi, bụng, từ ba chỗ động chuyển này chúng ta mở rộng cảm giác ra toàn thân, cảm nhận cảm giác trên đầu, trên mặt, vai, tai, cánh tay, bàn tay, cảm nhận cảm giác ở lưng, bụng, mông, đùi, ống chân, chân, bàn chân, cảm nhận cảm giác toàn bộ cơ thể, đây gọi là cảm giác toàn thân.

Tiếp theo là nội tâm sáng tỏ, biết rõ nội tâm chúng ta tỉnh giác, biết rõ sự chánh niệm trước mặt, biết rõ hơi thở vào ra, biết rõ những sự động chuyển của hơi thở và biết rõ cảm nhận toàn bộ cảm giác trên cơ thể của mình. Xin nhắc lại, pháp thứ nhất là chánh niệm trước mặt, pháp thứ hai là trở về hơi thở, cảm giác toàn thân, pháp thứ ba là nội tâm tỉnh giác, những cảm giác, những suy nghĩ, những hình bóng có trong nội tâm thì mình phải tỉnh táo, phải nhận biết sáng tỏ.

Chánh niệm trước mặt, trở về hơi thở, cảm nhận sự động chuyển của hơi thở ở ba nơi, mở rộng cảm giác toàn thân, nội tâm tỉnh giác, hít vào làm cho thân an tịnh, thở ra làm cho tâm lắng dịu. An tịnh và lắng dịu. Chúng ta mỉm nhẹ nụ cười trên môi, cảm nhận thân an tịnh, tâm lắng dịu ngay giờ phút này. Nếu mình chỉ có một hơi thở thì không đủ sức để chiến đấu được với phiền não vì hơi thở chỉ là một pháp nhỏ, không đủ sức để phá được tham sân si cho nên những lúc giận thì mình không nhớ đến cái thở và không nhớ đến câu niệm Phật, thành ra nó không đủ sức để nhiếp phục được cơn giận, không đủ sức để nhiếp phục được dục tham khi nó sanh khởi.

Cho nên cái pháp Đức Phật dạy phải đầy đủ đồng đều trọn vẹn viên mãn mới đủ sức đánh phá được rất nhiều cái cấu nhiễm, phiền não trong nội tâm của mình. Khi nãy các huynh đệ ngồi thì không đơn giản mình chỉ biết một hơi thở mà mình biết rất nhiều thứ, ví dụ như người ngồi thiền thông thường, nhắm mắt lại hít vào thở ra một lúc là ngủ gục vì cái tu đó không đủ pháp nên không giống như lời Đức Phật dạy. Khi mình ngồi như vậy thì mình thấy rằng cái phương pháp thực hành này rất rộng lớn vì chánh niệm trước mặt là cái thấy của mình bao trùm hết ở phía trước, tầm nhìn mở rộng hết mức ra hai bên, tức là nó sáng tỏ ở bên ngoài, đó là nhãn thức của mình tinh minh và nhận rõ hết tất cả những cái có ở phía trước, không đưa mình vào hôn trầm và si mê trong ảo tưởng.

Còn mình nhắm mắt là sẽ tối đen, trở ra rồi nói "Con ngồi thiền thấy đủ thứ", cái đó là con đang chiêm bao. Hoặc là mình lơ mơ, tỉnh không tỉnh mà ngủ không ngủ, đó là hôn trầm, tức là chìm vào chỗ lờ mờ. Từ đó giờ ngồi thiền mình có bị như vầy không? Các cô ở đây có thực tập ngồi thiền nhiều không? Hay là ngồi nhắm mắt niệm Phật rồi cái bụng cứ phồng xẹp một lúc là ngủ luôn?

Vì nó không được sáng tỏ, phương pháp Phật dạy mình đặt niệm trước mặt rất quan trọng vì cái thấy biết của mình được rõ ràng, tầm nhìn được rộng mở. Mình cảm giác toàn bộ cơ thể, trong hơi thở vào ra mình cũng biết, động chuyển chỗ nào mình cũng biết và tất cả toàn bộ cảm giác trong cơ thể thì chỗ nào mình cũng biết, đầu như thế nào, mặt như thế nào đều biết. Nếu mình có cảm giác toàn thân thì đầu bị nghiêng chuẩn bị ngủ là mình biết liền, cảm giác lưng hay vai bị sụp xuống là mình chỉnh lại liền nên mới gọi đó là cảm giác toàn thân, tức là mình cảm nhận được cảm giác của toàn bộ cơ thể.

II. Quán xét cảm thọ

Tại sao mình lại thực tập cái này? Vì đây là cái rất quan trọng, là cánh cửa đi vào tất cả pháp hành của Phật giáo. Minh Thành xin hỏi tất cả các huynh đệ xuất gia và các vị cư sĩ thì mình tu học trước nay thì mình có biết tham sân si ở đâu không? Mình hay nói tu là phải diệt trừ tham sân si, phải đoạn tham sân si nhưng tham sân si ở đâu? Có phải lồng ngực nóng lên, từ lồng ngực bốc khí lên mặt làm cho mặt đỏ, lỗ tai đỏ, mắt đỏ thì lúc đó miệng giựt giựt rồi tung ra khẩu hành, đó là cảm giác của sân, tức là cái sự nóng giận ở trong cảm giác. Vì thế mình luôn luôn nhìn lại cảm giác sẽ phát hiện ra hang ổ của tham dục, sân hận và si mê, chấp ngã, chỗ này rất thâm sâu. Nếu mình tu mà không biết cái này thì mình tu suốt đời, suốt kiếp cũng không thể nào ruồng tận hang ổ của tham sân si và bản ngã.

Cảm giác của tham ra sao? Cảm giác của ái, của dục ra sao? Có phải khi mình muốn một cái gì thì trong thân bị thúc giục, trong cảm giác thúc giục, nó bứt rứt khó chịu, dục là thúc giục, nó thúc đẩy, áp đảo mình, làm cho mình không yên. Ái là bám chặt, bịn rịn, lưu luyến, trong cảm giác của mình không muốn rời xa mà chỉ muốn buộc vào, đó là cảm giác của ái.

Mình có thấy cảm giác của tham không? Vào bàn thấy đồ ăn ngon mà gắp hoài thì đó là tham, nhai chưa xong đồ ăn trong miệng là gắp nữa, muỗng thứ nhất nhai chưa xong là chuẩn bị muỗng thứ hai đưa vào miệng tiếp. Đó là từ trong cảm giác của dục, của tham, của ái mà biểu hiện ra hành động mà lúc đó mình hoàn toàn không biết cảm giác nó vận hành và sanh khởi.

Cảm giác của bản ngã là khi có ai nói động tới mình hay có hành động khinh thường thì "Tôi là người có công nhất trong chùa này mà dám khinh thường tôi hả?", mình nhìn trong cảm giác là thấy hết, tức là cái tham dục, sân hận, bản ngã và những cái si mê đều thấy rõ.

Cảm giác của si và hôn trầm là như thế nào? Bây giờ mọi người ngồi đây nhưng không khéo là xệ vai, quẹo cổ, gật gật đầu thì đó là cảm giác của si mê, hôn trầm nhưng mình hoàn toàn không biết và mình để nó xâm chiếm, chế ngự và mình đi theo nó. Hằng ngày mình không nhìn lại, không quán chiếu, không tu tập nên mình không quán thọ trên các cảm thọ, không quán thân trên thân, không có quán tâm trên tâm và không quán pháp trên các pháp.

Cho nên toàn bộ giáo pháp tu tập của Phật là để mình quay trở lại nhìn thật sâu, thật kỹ, thật rõ ràng về bản thân của mình, về những cảm giác trong con người mình, về nội tâm của mình có gì trong đó, cái gì xuất hiện trong đó và mình thấy rõ những cái pháp diễn ra bên trong thì như vậy là mình thành tựu trí huệ, đó là Tứ Niệm Xứ, đó gọi là thánh trí, đó gọi là tuệ giác, là chánh niệm, là thiện. Minh Thành giải thích để đại chúng thấy được tầm quan trọng của phương pháp cảm giác toàn thân, cái này là quyết định tất cả pháp hành trong đạo Phật, là mình phải luôn luôn thường trực nhìn lại cảm giác của mình trong mọi lúc mọi nơi.

Mình có ba loại cảm giác. Một loại gọi là lạc thọ, là cảm giác dễ chịu. Cảm giác thứ hai gọi là khổ thọ, là cảm giác khó chịu. Cảm giác thứ ba là bất khổ bất lạc thọ, tức là không khó chịu cũng không dễ chịu. Hằng ngày mình lẩn quẩn trong ba cảm giác này. Hiện tại bây giờ quý vị đang có cảm giác gì? Dễ chịu hay khó chịu, hay là không dễ chịu không khí chịu. Lỡ như kế bên mở nhạc lớn thì mọi người có cảm giác gì? Hay là bây giờ không khí nóng lên thì cảm giác gì? Đức Phật dạy có ba loại cảm giác thì trong cảm giác dễ chịu có tham trong đó, gọi là tham tùy miên.

Cảm giác khó chịu là có sân trong đó, gọi là sân tùy miên, đi theo miên man. Cảm giác không dễ chịu và không khó chịu thì si trong đó mà mình không thấy, không biết, thành ra tham sân si nằm trong ba loại cảm giác đó. Lúc mình được khen thì cảm giác ra sao? Người ta tung hô, tán thưởng thì lỗ mũi có phình ra không? Có thấy phơi phới không? Chính chỗ đó là tham ái và dục trong đó, tức là thích, là ái, muốn khen nữa là tham.

Trong ba loại cảm giác thì tham sân si đều có, vậy chứ bình thường cứ nói "Thưa sư cô, con hết tham sân si rồi" nhưng mình không biết rằng mình đang ăn chung với nó, ngủ chung với nó, mình đi đứng ngồi nằm chung với tham sân si trong cảm giác đó mà mình không thấy, chỉ có trí huệ của bậc Chánh Đẳng Giác mới chỉ ra cho mình thấy. Mọi người đã thấy rõ chưa? Mà thấy rồi thì làm gì tiếp? Minh Thành thường dùng từ đơn giản cho mọi người dễ hiểu là phải biết tên tuổi, mặt mũi, tánh tình của nó thì mình mới có thể nhiếp phục được nó. Bây giờ tên tuổi mình còn không biết, mặt mũi không biết, tánh tình không biết thì làm sao mình trị được nó, làm sao dạy dỗ nó.

Cũng vậy, mình phải biết cảm giác khó chịu, bực bội là sân an trú trong đó, phải biết tánh tình của nó là dễ cháy lan, dễ thiêu rụi, vậy thì đi đâu mình cũng phải đem theo bình PCCC, các chung cư, tòa cao ốc không có PCCC thì chết người. Như vậy trong tâm quý vị có trang bị bình PCCC đầy đủ không? Nhớ đừng quên, chỉ cần mình thấy nó hơi phựt lên là đem bình ra xịt ngay, chứ mình cứ để cho nó như vậy thì nó đốt mình, đốt người, đốt cả hai và đốt tất cả. Nào giờ nó có đốt mình chưa? Nó có đốt ông xã chưa? Không phân biệt là cư sĩ hay người xuất gia thì cảm giác đó đều đốt cháy mình nếu mình không quay lại nhìn, làm cho mình khổ sở mà mình không biết, cứ chạy đi cầu xin "Phật ơi! Phật độ cho con hết khổ. Phât độ cho con được an vui", nhưng làm sao Phật độ được?

Phật chỉ có dạy cho mình phải quay trở lại để phát hiện ra và có phương pháp chuyển hóa, sân dùng cái gì trị, tham dùng cái gì trị và si thì dùng gì để trị, bản ngã dùng cái gì để trị, Phật dạy rất chi tiết và rõ, từ từ chúng ta sẽ đi sâu vào. Hôm nay giới thiệu cho quý vị một cái tổng quát để quý vị thấy được ăn cứ địa của phiền não, hang ổ của tham sân si và xào huyệt của tất cả những cấu nhiễm trong nội tâm, mình phải thấy được nó từ trong cảm giác.

Cho nên phương pháp cảm giác toàn thân là cực kỳ quan trọng và chúng ta phải thực tập vì chúng ta đã biết năm uẩn là sắc; thọ; tưởng; hành; thức mà sắc thân này thuộc về vật chất còn những cái suy nghĩ, tưởng tượng và nhận thức là hoàn toàn thuộc về tinh thần. Nhưng đặc biệt phần thọ uẩn là nhịp cầu gắn kết giữa thân và tâm cho nên khi giận sẽ biểu hiện trên thân, đây là chỗ hết sức sâu sắc mà người thực tập phải biết, khi tham sẽ biểu hiện trên thân vì thế mình thường trực nhìn lại thì khi biểu hiện bất cứ chỗ nào bất bình thường trên cảm giác là mình nhiếp phục được nó ngay lập tức còn nếu mình không nhìn lại cảm giác là mình bị nó lôi kéo.

Cho nên chúng ta nhớ rằng Đức Phật dạy "tất cả pháp hội tụ ở nơi cảm thọ", cảm giác, câu này nằm trong bài kinh "Cội rễ của sự vật" trong Tăng Chi Bộ kinh. Từ chỗ cảm giác này mình nhìn lại sẽ thấy được tất cả các pháp trong đó, tất cả pháp là những pháp ô nhiễm, bất thiện, ác pháp và những thiện pháp đều nằm trong cảm thọ. Ví dụ mình nghe pháp hay ngồi thiền mà mình hân hoan, vui thích thì đó là cảm giác dễ chịu, thuộc về thiện pháp.

Hoặc mình gặp một chuyện bực mình thì mình khó chịu, phiền não thì đó là cảm giác khó chịu, thuộc về bất thiện pháp cho nên tất cả pháp thiện hay bất thiện, ô nhiễm hay thanh tịnh… đều ở trong cảm giác. Phương pháp cảm giác toàn thân khi nãy chúng ta thực tập giống như mình bệnh vào viện siêu âm, chụp X-quang, nội soi thì mình quán thọ ở trên thọ cũng giống vậy, tức là một người luôn luôn nhìn lại cơ thể, ăn uống điều độ, chừng mực thì nhất định sức khỏe người đó sẽ tốt hơn những người không biết lo, không biết chăm sóc và nếu một người có đi khám sức khỏe định kỳ thì nếu có cái gì lạ là người ta nhận ra, biết ngay để điều trị còn người không lo gì hết tới chừng phát hiện ra là giai đoạn cuối.

Như vậy người thường trực nhìn lại cảm thọ thì người đó thường chăm sóc cái tâm của mình. Quý vị có chăm sóc tâm của mình không? Ngày ăn ba cữ, có khi tối ăn thêm còn ngồi thiền có một cữ, tức là mình chăm sóc cho thân thì kỹ lắm mà cái tâm thì quên mất. Đây là sự mất cân bằng, đây là sự chênh lệch, đây là sự không quân bình cho nên những giây phút mà chúng ta thiền tập là cần thiết, là quan trọng, là quý báu, là hiếm có khó được vì chúng ta làm cho thân tâm của mình được quân bình. Hằng này quý vị cứ lo cái nhà cho đẹp, cái gường cho êm, chiếc xe cho láng bóng, cái đồng hồ, chiếc nhẫn cho đẹp…cái gì cũng đẹp mà cái tâm không lo cho nó đẹp trong khi cái tâm là chủ của tất cả những cái khác.

Cho nên những giờ nghe pháp, những giờ thiền tập, những giờ chúng ta quán chiếu thảo luận về chánh pháp là quý báu, phải phát khởi cái tâm trân trọng, thiêng liêng thì đó mới là người trí huệ, vì cái thân này mai đây ngừng thở là hết như vụ tai nạn xe tải tông trúng đoàn người đưa tang làm 7 người chết thành ra người đi đưa tang thành người được đưa tang, rồi cái tâm thức của những người đó đi đâu? Hoàn toàn không biết, bị mộng mị vô minh.

Khổ! Cố gắng lo cho cái tâm, chú trọng cái tâm, tưới tẩm, chăm sóc cho cái tâm, hãy cho cái tâm uống sữa, đó là pháp nhũ. Mình đang ngồi đây nghe pháp chính là đang cho tâm uống sữa, mình nuôi cái tâm sáng tỏa lên, trí huệ lên, mình làm cho cái tâm mình phải rực sáng lên chứ đừng để tâm mình là một bóng đêm mù mịt, đó là một cuộc đời đáng thương và đau khổ.

III. Nhiếp phục cảm thọ

Chúng ta nói để thấy rõ cảm giác toàn thân là cực kì quan trọng cho nên hôm nay Minh Thành muốn nhấn mạnh cho chúng ta thực tập cảm giác toàn thân trong bất cứ khi đi đứng ngồi nằm, nghe, khi lái xe, khi tiếp xúc, ngửi…khi các pháp trong nội tâm diễn ra thì mình phải luôn luôn nhìn lại cảm giác xem trong đó thuộc về cảm giác gì và trong cảm giác đó có dục tham không, sân hận có không, si mê có không, bản ngã có không và nếu có phải nhiếp phục.

Mình dùng quán bất tịnh, ba mươi hai thể trược và chín giai đoạn của một tử thi để trị dục tham. Mình phải trải tâm từ, quán từ bi để trị sân hận. Dùng sự tinh cần, tinh tấn và quán chiếu các pháp để đánh đuổi si mê lờ đờ, mờ mờ, đang quán chiếu một lúc thành quáng gà, vì lờ đờ một lúc thành ngủ mớ luôn, con mắt mở nhưng bị mớ vì không thấy rõ cảm giác, không thấy rõ năm uẩn cho nên đó là trạng thái tâm mê. Mình quán chiếu khiêm hạ, dùng pháp vô ngã, vô thường để quán và phá diệt bản ngã.

Nhưng căn bản nhất vẫn là phải luôn luôn nhìn lại, bình thường mình cứ nhìn ra ngoài, nhìn người này người kia rồi không vừa lòng, rồi trách móc, rồi bực tức. Phật dạy không được nhìn người ta mà phải nhìn lại cảm giác của mình, ví dụ kế bên mở nhạc lớn hơn 5 lần thì mình ngồi đây làm sao? Cứ ngồi trách móc, càng trách thì bên đó mở luôn tới 1h đêm, khổ không? Ngày hôm sau nhắc lại mình khổ nữa, bây giờ Phật dạy mình không chạy theo tiếng nhạc đó mà phải quay lại cảm giác của mình để nhiếp phục cảm giác.

Phải xem trong cảm giác đó có sân không? Tại sao mình bực? Và "bực như vậy sướng lắm phải không?","bực như vậy thích lắm phải không?", "lấy than nóng để vào người khoan khoái lắm phải không?", đây là mình đang dùng như lý tác ý để tự nói với chính mình, trị cái tâm sân. Khi mình nổi tâm giận thì nó đốt mình trước, sau khi mới đốt người kết bên, mình muốn mát hay muốn nóng? Mình muốn khỏe hay muốn mệt? Lúc đó mình lại phải dùng bình PCCC xịt mạnh, trị nó liền.

Đây là Minh Thành ứng dụng cho tất cả trường hợp không phải chỉ riêng việc mở nhạc to, từ ông chồng, đứa con hay người bạn, bất cứ ai làm mình có cảm giác bực là mình phải quán chiếu như vậy. Mình phải quán chiếu sự nguy hại của cơn giận, người ta cũng là nạn nhân của cơn giận mà mình giận thì mình cũng là nạn nhân, và tất cả chúng ta ngồi đây cũng là nạn nhân của tham sân si, như vậy cùng là nạn nhân thì bực nhau làm gì, thương nhau đi, trải tâm từ, người ta khổ, mình cũng khổ, khổ cùng khổ mà sân nữa thì xuống lỗ.

Quý vị có thấy tin tức đăng toàn tin giựt gân, giận một chút là đâm, giận chút là chém, giận một tí là giết thì xuống lỗ hết vì thế mình phải quán nguy hại của cơn sân, sự nguy hiểm của bực tức để mình dập tắt, phòng cháy chữa cháy một cách tuyệt vời, có kỹ thuật. Nếu mình dập được cơn giận thì tâm mình mát mẻ, an dịu, ai nói gì thì mình vẫn lắng dịu trong cảm giác của mình, mình hít vào thở ra và cảm nhận cảm giác toàn thân, chánh niệm trước mặt, nội tâm tỉnh giác và mỉm cười.

Như vậy quý vị có thấy bình an không? Khỏe không? Đó gọi là Phật pháp "thiết thực, hiện tại, đến để mà thấy, có hiệu quả tức thì, có khả năng hướng thượng được người trí tự mình giác hiểu". Có hiệu quá tức thời tức là mình nhiếp phục được sự tham muốn, nóng giận thì ngay chỗ đó mình có hạnh phúc, mà mình đi theo nóng giận là mình bất hạnh, các thầy các cô mà không nhiếp phục được cái tham là mình bị nó dẫn đi rồi tự động tóc mọc dài ra, tay bồng tay bế.

Mình luôn luôn nhìn lại cảm giác để nhiếp phục "cái tham này là không được, dẫn đến sai giới luật, dẫn tới sầu bi khổ ưu não, sanh tử luân hồi. Cái tham này không đền ơn đàn na tín thí. Quán chiếu diệt tận, chấm dứt nó", mình cứ lo trị hoài, một ngày mình tập một chút, một tuần mình tập được chút, cứ như vậy năm, bảy năm, ba bốn chục năm rồi lên sư bà ngồi thở ra một cái là A-la-hán quả. Mỗi ngày mình khỉa từng chút một, vì cái cây tham dục là cổ thụ rồi chứ không phải trị trong một ngày là xong, cây sân hận cũng vậy, gọi là câu sanh phiền não nghĩa là mình sinh ra là nó đã đi theo mình rồi.

Mình không thấy được bản chất của ngũ uẩn tứ đại này bám chặt vào, cho rằng đây là tôi, đây là của tôi, là tự ngã của tôi, ai đụng vào là tung chưởng, phựt lửa, cháy nhà rồi cháy chùa. Tại mình không thường nhận diện lại năm uẩn, quán chiếu lại các cảm giác, nếu mình luôn để ý tham sân si, nó khởi lên mình từ bỏ, làm cho giảm thiểu rồi dứt hẳn là mình đi đến chỗ tịch tịnh thanh lương của Niết-bàn, là mình đến chỗ hạnh phúc tuyệt đối, là mục đích phạm hạnh của người xuất gia, đó là mình báo ơn hết tất cả ông bà, cha mẹ, thầy tổ, Tam bảo, chúng sanh, là thầy của trời và người, là xứng đáng được chắp tay đảnh lễ cúng dường, là ruộng phước vô thượng trên đời.

Tu là phải như vậy chứ không phải dừng lại trên hình thức lễ nghi mà đi sâu vào diệt tận tham sân si và bản ngã ngay trong cảm giác, suy nghĩ và nghĩ tưởng, mình luôn luôn nội soi và thường trực nhìn lại, bất cứ chỗ nào mà mình thấy khởi lên bất thiện pháp là mình tẩy sạch, không chấp nhận, làm cho nó không còn hiện hữu nữa. Mình không chấp nhận dục tầm, sân tầm, hại tầm khởi lên. Tầm là suy tầm, mình không chấp nhận những suy nghĩ về dục, về sân hận, về hại người khác, vì giận lên sẽ suy nghĩ xấu, phải diệt tận nó thì Đức Phật khen người đó là người siêng năng, tinh tấn, sẽ viên mãn tất cả các thiện pháp. Còn người trong tâm khởi lên dục thì cứ để nó khởi lên, nuôi cơn giận trong tâm, trong tâm khởi lên bất thiện pháp thì vẫn để nó khởi lên vậy Đức Phật gọi người đó là kẻ không biết hổ thẹn, không biết xấu hổ, không biết tàm quý, đó là những người hạ liệt trong giáo pháp của Như Lai, là kẻ thấp hèn. Còn người luôn luôn nhìn lại để chấm dứt, để đoạn giảm tất cả phiền não thì người đó được Đức Thế Tôn ca ngợi, muốn được như vậy thì phải luôn luôn an trú cảm giác toàn thân.

Luôn luôn thực tập cảm giác toàn thân thì người đó luôn định tâm ở trên thân, khi có thực tập cảm giác toàn thân thì khi mình ngồi hay đứng thì đều định tâm trên thân, tức là tâm mình có pháp, có chỗ an trú, mình trụ vững như tường đồng vách sắt, cái định của mình là định toàn thân, rất vững còn nếu mình không có pháp thì tâm mình gặp gì thì duyên cái đó, nghe tiếng là chạy theo, thấy sắc là dính vào, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân xúc chạm, gặp gì là mắc vào cái đó, cho nên pháp tu này rất hay.

IV. Lợi ích thứ hai của việc quán xét cảm thọ

Lợi ích thứ hai là mình sẽ rất vững chắc khi tiếp xúc với ngoại cảnh, đối duyên với ngoại cảnh dù cho thấy, cho nghe, có ngửi, có xúc chạm gì đi nữa mà mình có pháp tu này là cảm giác toàn thân thì mình cũng có sự kiên định, không dễ để lay chuyển được mình, giống như cột trụ chôn sâu dưới đất. Đức Phật ví dụ như gió thổi cũng không bị dao động, còn người không có pháp hành trì giống như bông gòn tung bay muôn phương khi gặp gió. Người thực tập cảm giác toàn thân này là tất cả các ô nhiễm trong nội tâm sẽ được thấy, sẽ được biết, này các Tỳ-kheo, Ta tuyên bố rằng lậu hoặc, chính là những tâm ô nhiễm do thấy, do biết mà được đoạn tận, không phải do không thấy, không biết.

Như vậy mình muốn đoạn tận tất cả những ô nhiễm của tâm thì mình phải thấy, biết nó ở đâu. Chính là trong cảm giác, còn mình không biết mặt mũi, tánh tình nó thì làm sao mình trị được nó cho nên nếu thực tập cảm giác toàn thân thì người này sẽ thấy, sẽ biết các ô nhiễm và người này sẽ có khả năng diệt tận hết các cấu nhiễm của tâm và đi đến chỗ rốt ráo cứu cánh thanh tịnh, thành tựu được mục đích tối thượng của đời sống Phạm hạnh.

Đó là những lợi ích Minh Thành nói sơ lược để các huynh đệ xuất gia nắm được tại sao mình phải thực tập phương pháp toàn thân này. Ngay lúc này mình phải xem lại cảm giác của mình như thế nào, ví dụ bây giờ hơi tê chân, thì mình nói "cái chân tê, cái thân tê nhưng cái tâm không bị tê". Có một vị gia chủ là một vị cư sĩ hộ pháp thời Đức Phật, vị này già bệnh và đi đến hỏi Đức Phật, bạch Đức Thế Tôn, xin Thế Tôn chỉ dạy cho con, con già, con bệnh đau đớn và khó chịu, Đức Phật mới dạy hãy quán rằng cái thân đau mà cái tâm không đau.

Sau khi vị này nghe Phật dạy thì tỏ rõ bí quyết tu hành, sau đó về tu tập và đã thành tựu. Mình phải hiểu được rằng cảm giác của thân khác với cảm giác của tâm, có khi thân đau mà tâm không đau, hoặc khi tâm đau nhưng thân không đau. Cái thân đang khỏe khoắn nhưng nghe câu nói gì đó là xỉu chính là thân không đau nhưng cái tâm lại đau. Bây giờ đang nghe pháp là tâm mình đang hân hoan, vui sướng cho nên chân tê cũng kệ, mỏi lưng cũng kệ, cái tâm đang thích thú trong pháp cho nên cái thân đau cũng không quan trọng, như vậy là thân đau mà tâm không đau. Có những trường hợp cả thân tâm đều đau thì đó là những người chưa biết tu sâu, nếu những bậc tu sâu thì thân đau chứ tâm không đau, những bậc A-la-hán là có khổ thân nhưng không khổ tâm, các ngài chứng tới cảnh giới tâm bất động giải thoát.

Cho nên bây giờ mình tu từ từ, ăn cơm cũng coi cảm giác trong đó là thích, có mê không, nhất là người tu mà đam mê cái này, khoan khoái cái hương vị này thì làm sao giải thoát, đời sau phải đầu thai lại để ăn nữa vì còn mê thức ăn này. Vì vậy cội rễ trong giáo pháp của Đức Phật là ly tham, là lìa được tâm tham đối với tất cả sắc; thanh; hương; vị; xúc; pháp, không còn một cái gì trên thế gian này có thể ràng buộc, lưu luyến đối với mình thì mình mới đến được chỗ bất động tâm giải thoát, cho nên mình phải tập từ từ, cho tâm tham giảm bớt, mình phải quán "thích lắm phải không? Nuốt vào ào ào phải không? Rồi khi bài tiết ra sẽ như thế nào?Có gì mà ham trong này?", mình quán chiếu như vậy thì tự nhiên món nào ăn cũng được thì Đức Phật gọi là dễ nuôi.

Đặc biệt người xuất gia phải là người dễ nuôi, Đức Phật gọi các đệ tử của Ngài là người dễ nuôi, dễ nghe, dễ dạy, cái tâm rất nhu nhuyến mềm mại, dễ sử dụng. Ở đâu ngủ cũng được, sư phụ có rầy la là quý lắm, "cảm ơn sư phụ, nhờ sư phụ đẽo gọt mà con từ hòn đá thành viên ngọc", còn này sư phụ mới la là nữa đêm quải nãi đi mất luôn thành ra càng được chỉ nhiều là càng được cưng, càng được thương, người nào càng ở gần sư phụ, càng được đẽo gọt, chỉ dạy nhiều thì người đó sau này thành pháp khí, long tượng, là thạch trụ trong tùng lâm, là rường cột của Phật pháp sau này. Mọi người có thấy ngài A-nan không? Sau Đức Phật là đến ngài A-nan, ngài được khen ngợi là:

Tướng như thu mãn nguyệt

Nhãn tợ thanh liên hoa

Phật pháp như đại hải

Lưu nhập A-nan tâm.

Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi.

Dịch là:

Tướng giống trăng thu đầy

Mắt giống hoa sen xanh

Phật pháp như biển rộng

Rót vào tâm A-nan.

Nhắc lại, ai bị rầy la, ai được chỉ dạy nhiều là phải hân hoan, phấn khởi chiến đấu với cái thọ, không chạy theo cái thọ dễ chịu, khó chịu. Phải vượt qua và nhiếp phục cảm thọ như vậy mình sẽ học được vô cùng vô tận. Ăn; ngủ; đi; đứng; ngồi; nằm; tiếp xúc tất cả phải để ý cảm giác của mình, nhiếp phục nó, đừng cho cảm giác này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi mà cảm giác chỉ là cảm giác, cảm giác này là vô thường, là sanh diệt, không phải là tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi, như vậy mình từ từ đi vào trí huệ của bậc thánh, là nhìn thấy được tất cả cảm giác là vô thường.

Hôm nay Minh Thành chia sẻ với đại chúng phương pháp thực tập và lợi ích của cảm giác toàn thân. Mong rằng tất cả chúng ta cố gắng nhớ và thực tập, nếu có duyên lần sau gặp nhau thì Minh Thành mời quý vị chia sẻ cảm nhận khi thực tập.

Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Kính bạch thượng tọa, vừa rồi thật là hy hữu khi thầy đã trao truyền cho chúng con pháp hành vô cùng đơn giản để chúng con có thể áp dụng vào đời sống tu tập để chúng con có thể nhận diện và thấy rõ thực tâm của chính mình, từ đó chúng con có thể nhận diện và diệt trừ được tham sân si và trí tuệ có thể lớn mạnh hơn, nuôi dưỡng đời sống tâm linh của chính chúng con. Chúng con nguyện khắc cốt ghi tâm, hằng ngày sẽ thực tập theo những lời thầy vừa truyền trao. Một lần nữa chúng con thành kính tri ân công đức cao dày ấy, nguyện cầu hồng ân Tam bảo gia hộ cho thầy pháp thể khinh an, chúng sanh dị độ, mãi mãi là cội tùng, cội bách cho hàng đệ tử chúng con nương theo tu học. Chúng con xin đê đầu tri ân. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.