Soi sáng 80 - TRUNG ĐẠO
SOI SÁNG 80 – TRUNG ĐẠO
-Thích Minh Thành-
Phật tử 1:
Kính bậc Thượng tọa giảng sư, con có một điều thắc mắc: Phật giáo thường nói tu theo con đường Trung Đạo, như vậy con đường Trung Đạo là như thế nào? Nhờ Thượng tọa giải thích cho con được rõ
Phật tử 2:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Con kính bạch Thượng tọa Trụ trì chùa Pháp Ấn, con Lâm Mỹ Trang, pháp danh Nguyên Thùy, con xin có câu hỏi: Sắc pháp và Danh pháp trong pháp môn niệm Phật là như thế nào? Xin giảng sư chỉ dạy cho chúng con biết. Câu thứ hai: tự ti, tự tôn, tự đại có phải xuất phát từ bản ngã không? Muốn chuyển hóa cần phải tu tập như thế nào? Con xin hết.
Phật tử 3:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Con ngưỡng bái bạch Thượng tọa Trụ trì, ngưỡng bái bạch Thượng tọa giảng sư. Con Phật tử pháp danh Thọ Đạo, con tu về phương pháp tịnh độ, mà con không biết niệm Phật thế nào cho sáu căn được thu nhiếp. Con hết ạ.
Phật tử 4:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính bậc Thượng tọa giảng sư, Đức Phật nói đạo Phật là đạo của Tỉnh Thức. Vậy con xin giảng sư giải thích rõ cho con Tỉnh Thức là như thế nào ạ? Con xin hết ạ.
Phật tử 5:
Con kính bạch Thượng tọa giảng sư, con có một phân vân về phóng sanh. Thứ nhất phóng sanh là mình mua những con vật đó về, đem đi phóng sanh nó, để giải thoát cho chúng. Thứ hai cứ nghĩ là cho bản thân, bản ngã của chính mình được giải nghiệp. Thứ ba là được sống lâu. Như vậy, người Phật tử ấy có phải là vì có lòng tham sống lâu hay không? Con kính bạch thầy giảng cho con rõ về điều đó, vì con rất là phân vân điều đó.
Phật tử 5:
Con kính bạch Thượng tọa giảng sư. Có hai nội dung trong giáo pháp con không hiểu, đó là Thường Kiến và Đoạn Kiến, con kính trình lên. Con xin hết ạ.
***
Câu hỏi đầu tiên là câu hỏi về Trung Đạo. Đức Phật dạy có hai thái cực mà mình cần phải tránh:
Thái cực thứ nhất là chạy theo hưởng thụ dục lạc của phàm phu thấp hèn, kém cỏi. Tức là cả một cuộc đời chạy theo ăn cho ngon, mặc cho đẹp, ở cho sang, nhà cửa đầy đủ những tiện nghi vật chất, ngoài những thứ đó ra không còn biết gì khác hết. Đó gọi là một cực đoan hưởng lạc. Điều này quý vị thấy có nhiều không? Mình có dính trong này không?
Cực đoan thứ hai là ép xác khổ hạnh, hành hạ. Điều này bây giờ hơi ít nhưng vẫn có, nhất là ở Ấn Độ, tới bây giờ những đạo đó vẫn còn. Quý vị có thể tưởng tượng là người ta uống nước tiểu của con bò không? Thuốc cũng vậy, người ta chế ra từ nước tiểu đó. Rồi đến ép xác khổ hạnh, để tóc, thậm chí ăn phân chó, ngồi hoài không nằm, hoặc là đứng một chân nhìn mặt trời, hoặc là tắm một ngày bảy tám cử để cho nó sạch tội,… Đó là những đạo không do bậc giáo chủ là vị Chánh Đẳng Giác tuyên thuyết, cho nên người ta đi vào con đường ép xác khỏ hạnh cực đoan mà không có hiệu quả. Khi Đức Phật còn tại thế, có những người ngoại đạo đến hỏi Đức Phật: “Thưa Sa môn Gotama, tôi cố gắng làm cho giống hệt như con chó, vậy mai mốt tôi chết thì tôi đi đâu, tôi có được sanh lên cõi Trời không?” Vị này hỏi như vậy ba lần Đức Phật không trả lời. Cuối cùng, năn nỉ quá thì Đức Phật mới nói: “Sau khi chết, ông sẽ sanh vào loài chó, chứ không sanh lên cõi Trời.” Tại vì mình muốn thành như vậy mà. Tâm mình hướng theo như vậy thì sẽ thành như vậy.
Cho nên, cực đoan thứ nhất nói cho dễ nhớ là lạc hạnh, dục lạc; cực đoan thứ hai là khổ hạnh. Hai cực đoan này không phải là Trung Đạo. Trung Đạo của Đức Phật nói gọn là Giới – Định – Tuệ. Nói cho đầy đủ là Bát Chánh Đạo là Trung Đạo. Tức là trong tất cả mọi hoàn cảnh nào mình cố gắng giữ giới pháp đã thọ. Trong tất cả mọi hoàn cảnh mình cố gắng giữ tâm của mình được yên tịnh, yên định. Trong tất cả mọi hoàn cảnh mình cố gắng quán chiếu trí tuệ để thấy được xác thân năm uẩn, tứ đại là vô thường, trống rỗng. Giống như là bong bóng nước, giống như là bọt, giống như sóng nắng ráng chiều, giống như cây chuối không có cái lõi, giống như trò ảo thuật, không có gì là chắc chắn hết. Mình tu tập gọn là Giới – Định – Tuệ, nói đầy đủ là: “Thấy đúng, nghĩ đúng, nói đúng, sống đúng, siêng đúng, làm đúng và niệm đúng, tuệ đúng, quán đúng”. Cho nên, Bát Chánh Đạo là Trung Đạo, Giới – Định – Tuệ là Trung Đạo. Quán chiếu thân tâm của mình là tứ đại, tứ niệm xứ, năm uẩn đó là Trung Đạo. Dầu ở trong bất cứ hoàn cảnh nào mình luôn luôn tác ý, tư duy, nghiềm ngẫm, quán chiếu, tu tập để thấy đúng với cái thấy của Đức Phật dạy – Chánh Tri Kiến, đó gọi là Trung Đạo của trí tuệ. Cái này nắm được chưa? Nhớ nắm cho chắc nếu không một là chạy qua lạc hạnh, hai là chạy qua khổ hạnh, mà không có đi Trung Đạo.
***
Một Phật tử hỏi: “Sắc pháp và Danh pháp trong pháp môn niệm Phật là như thế nào?” Sắc pháp và Danh pháp là chung, chứ không có riêng trong pháp môn niệm Phật. Nói đơn giản là thân và tâm.
Sắc pháp là tất cả những sự vật, vật chất mình thấy được. Tất cả những cái đó gọi là sắc pháp. Thân này gọi là sắc pháp, núi là sắc pháp, chiếc xe là sắc pháp, đồng hồ là sắc pháp, mắt kiếng là sắc pháp, cái nhà là sắc pháp, tất cả cái đó là sắc pháp. Mình phải biết nó là sắc pháp, đừng nghĩ nó là tôi, nó là của tôi, gắn chữ “tôi”, chữ “của tôi” vào là mình khổ.Thí dụ như một hồi mình quay qua quay lại, quên không biết mắt kiếng để chỗ nào. Bây giờ không thấy mắt kiếng nữa thì thôi, mất rồi mua cái khác, chứ đừng nói “Mắt kiếng của tôi đâu rồi?”, gắn chữ của tôi vào, chính chữ đó làm cho mình mệt. Áo tràng của tôi, chiếc xe của tôi, căn nhà của tôi, rồi lúc mình nhắm mắt, mình thở cái khì, thì lúc đó của ai? Mình phải biết đó là sắc pháp, là duyên sanh, vô thường, tạm bợ, hông có thật. Đó chỉ là phương tiện để mình đạt được Giới – Định – Tuệ , thành tựu Bát Chánh Đạo, thành tựu giải thoát, chứ không phải là mục đích đời sống. Cho nên hãy sử dụng nó như sử dụng một phương tiện. Giống như bây giờ mình chưng chậu hoa này lên, rồi xong ba bốn bữa nữa là quăng thùng rác, không có gì quan trọng hết. Chút xíu ra xe đạp mất tiêu rồi. Thì nói: “Ờ xe đạp mất thì xe đạp mất, chứ không phải của mình. Xe đạp mất rồi, thì mình sắm chiếc khác, mà nếu mình không có tiền sắm thì người khác chở mình đi. Kêu Nguyên Ngộ chở. Nói thầy trụ trì cho xe buýt chở. Đâu có gì đâu.” Mà mất là mất chiếc xe đạp chứ có phải mất mình đâu, làm gì quýnh quáng lên, mặt mày xanh lè xanh lét lên, run tay chân hết. Tới tuần sau vẫn cứ nhắc chiếc xe đạp đó, nhắc hoài nó cũng đi rồi, mà không nhắc nó cũng đâu trở lại. Mình biết sắc pháp vô thường, thân này còn vô thường mà. Cho nên phải quán như vậy mới thành tựu trí tuệ. Xong rồi trong nhà mình có người thân bệnh hoặc ra đi mình nói sắc pháp vô thường, mình vẫn khổ nhưng cái khổ của mình nó nhẹ lắm. Còn không biết sắc pháp vô thường, mình nói người thân mình mất rồi, nhưng đâu phải, đó là sắc pháp biến hoại.
Nói danh và sắc thôi là chưa đủ, đầy đủ là phải nói năm uẩn. Danh chỉ là một phần của tâm, cho nên muốn nói đủ thì phải nói là thọ, tưởng, hành, thức – cảm giác, các tưởng, suy nghĩ và nhận thức – bốn phần này là thuộc về phần tâm. Cho nên, khi niệm Phât an lạc quá, thanh tịnh quá, mình biết mình đang có cảm giác thanh tịnh, an lạc. Cảm giác này tốt, nhẹ nhàng, khinh an, nhờ sự tu tập của mình mà có được. Nhưng mình không được đắm mê cảm giác đó. Đừng chạy ra khoe tùm lum, thấy đã nên muốn giữ, mà vừa muốn giữ nó lại chạy mất tiêu. Tại tâm mình động là nó chạy mất. Còn khi tâm an lạc, mình muốn kéo dài, giữ cái này cho lâu, lúc mình muốn giữ là nó động, rồi nó chạy mất. Cho nên mình biết tất cả cảm giác là vô thường. Cảm giác đó là thanh tịnh, an lạc, thì cũng là vô thường. Biết và cảm nhận được hết nhưng mình không đam mê, không dính mắc trong đó. Nếu đam mê, dính mắc trong cảm giác đó là bị trói buộc. Quý vị nghĩ bị trói buộc trong ác pháp là khổ, còn trói buộc trong thiện pháp có khổ không? Điều rốt ráo của mình là tu tâm thanh tịnh, giải thoát. Mình phải biết được mục đích đến của mình, còn nếu bị chấp vào đó là mình bị kẹt.
Thí dụ bây giờ ngồi ở đây thanh tịnh, yên bình, bỗng nhiên có điện thoại của bà nào nó reo lên, nó hát nhạc giật gân, rồi lúc đó làm sao? Nếu lúc đó mình chấp cái yên tịnh, mình nói: “Tại sao tôi đang yên tịnh, mà bà để cái nhạc giật gân vậy?” rồi quay qua dòm, nhón nhón lên coi ai, như vậy là mình chấp. Mình chấp cái tịnh, nhưng bị cái động làm cho động. Như vậy, chấp cái tịnh rồi cũng thành động luôn. Như vậy, nghe tiếng đó là mình biết có tiếng động, nhưng tâm mình không chạy theo tiếng động đó. Làm cái này được không? Thực tập cái này hay lắm. Vì mình nghe tiếng điện thoại cà giật nhưng mình vẫn yên tịnh, mai mốt có ai nói lời gì xỉa xỉa, xăm xỉa, mình biết nhưng mình không có động.
Khi còn tại thế, Đức Thế Tôn đi giáo hóa, giảng pháp, có rất nhiều người giác ngộ và đi theo Ngài. Đệ tử của những vị giáo chủ khác bỏ đi theo Đức Phật, dân chúng cũng tôn trọng, cúng dường, cung kính Đức Phật nhiều. Mấy ông giáo chủ của những đạo này tức giận, sân si, đi theo đằng sau chửi, bằng đủ thứ lời nặng nề: “Ông Sa môn Cồ Đàm dụ dỗ đệ tử tôi đi theo ổng hết.” Đức Phật vẫn đi điềm nhiên, an tịnh, bưng bình bát, mắt nhìn xuống về phía trước, mỗi bước chân đi không chậm, không nhanh, thanh tịnh, nhẹ nhàng, an lạc. Ông đó vẫn chửi rồi nhảy ra trước mặt hỏi Phật:
Nãy giờ Ông có nghe hông?
Có, Ta có nghe.
Nghe sao không thấy Ông phản ứng gì hết vậy?
Nếu Ông cho đồ người ta, mà người ta không nhận, thì lúc đó thế nào?
Nó không nhận thì thôi, món quà đó về Tôi.
Cũng vậy, Ông chửi mắng, Ông sỉ nhục Ta, nhưng Ta không nhận, thì cái đó thuộc về ai?
Cho nên tu là để mình quán chiếu cảm thọ, để mình không thọ những ô nhiễm, chỉ thọ những thiện pháp. Cái nhiễm tới không xâm nhập mình được. Còn mình bây giờ là miễn cưỡng thọ, tức là người ta nói gì ở xa xa, nhiều khi mình cũng rề rề đến mình hỏi họ nói gì vậy ? Mình giống như máy hút bụi, đi đâu gặp cũng hút vô hết, đem về nhà xả ra không ai chịu nổi. Đức Phật dạy mình tu cũng phải như lá sen vậy đó. Nước nhiễu xuống không đọng lại, nếu có đọng cũng không dính, mà nếu có dính chút xíu thì cũng tuôn rơi hết. Mình tu phải giống như lá sen, đừng giống như máy hút bụi, đi đâu cũng hút rồi về nhà xả ra, cho người nhà phiền não hết. Mình có sáu chỗ, không cẩn thận là nó hút bụi : mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, chúng hút bụi vào. Phải cẩn thận đừng cho nó hút bụi. Luôn luôn hộ trì căn. Phải giữ gìn con mắt, giữ gìn lỗ tai. Điều này quan trọng lắm.
Lành thay, phòng hộ mắt!
Lành thay, phòng hộ tai.
Lành thay, phòng hộ mũi,
Lành thay, phòng hộ lưỡi.
Lành thay, phòng hộ thân!
Lành thay, phòng hộ lời,
Lành thay, phòng hộ ý.
Lành thay, phòng tất cả
Tỷ-kheo phòng tất cả.
Thoát được mọi khổ đau.
(Kinh Pháp Cú – Phẩm Tỷ Kheo)
Tỷ-kheo phòng tất cả nhất định được an lạc, đạt đến Niết-bàn.
Minh Thành hỏi thật, quý vị dựng xe ở chỗ nào đó, quý vị có khóa cổ không? Khi đi ra ngoài, không có ai ở nhà, mình có khóa cửa kĩ không? Mấy cái tủ trong phòng có khóa kĩ không? Những thứ đó mình giữ kĩ lắm, còn tâm là cái quan trọng nhất nhưng mình lại không giữ kĩ, cho nên mình mất hết của báu. Tâm của mình có kho tàng trí tuệ nhưng mình không giữ. Mình để cho nó bị cướp, bị lượm, bị trộm, bị cướp, bị giật,…đủ thứ, cuối cùng thì mất hết. Mình còn lại tham, sân, si, phiền não mà không thấy Giới – Định – Tuệ. Tại vì mấy thằng ăn trộm nó lượm mất hết rồi. Quý vị có coi chương trình Phút giấy cảnh giác không. Mười giây thôi là nó lấy chiếc xe honda liền chứ không tới ba mươi giây. Nhanh lắm! Ăn trộm giờ có nhiều kĩ xảo, kĩ nghệ, mánh khóe, có chìa khóa vạn năng, mở được hết. Cũng vậy, cái tâm, con mắt, cái tai, lỗ mũi, cái miệng,… mà không giữ kĩ, thì một ngày mình mất không biết bao nhiêu là an lạc, thanh tịnh, do mình bị ô nhiễm, phiền não. Thấy gì cũng gai con mắt, nghe cái gì cũng thấy chướng lỗ tai, gọi là “chướng tai gai mắt”. Nếu có chánh niệm tu tập thì thấy cái gì mình cũng thương, nghe cái gì mình cũng thương. Lòng từ bi của mình được tăng trưởng, phát triển, mình biết tu tâm từ. Cái tu này sâu sắc lắm chứ không phải mặc áo tràng, ngồi đây thì là tu. Đó mới chỉ là hình dáng bên ngoài thôi. Còn sâu xa là cái dụng tâm. Mình biết dụng tâm, biết suy nghĩ đúng lý gọi là Như Lý Tác Ý. Suy xét đúng đạo lí và tâm mình được an.
Minh Thành thí dụ một cái nhỏ. Chẳng hạn mình đi từ ngoài chùa, chuẩn bị bước vào Chánh Điện, lúc đó cũng hồ hởi, nhiệt tình vào lạy Phật, lâu quá rồi không đi chùa. Khi còn một bước là tới Chánh Điện, bà kế bên chỉ cổ áo mình bị xệ với một dáng vẻ không được hoan hỉ. Lúc đó mình đang hồ hởi, hoan hỉ vào lạy Phật với tâm cung kính, tự nhiên bị chỉ như vậy, thì mình sao? Nếu mình Như lý tác ý, mình nghĩ “Người ta chỉ thì mình tốt chứ sao, tại mình không để ý. Người ta chỉ thì mình phải cảm ơn. Mình không cảm ơn mà còn giận là sao? Cái giận này là vô lý, si mê,không có trí tuệ. Cái giận này là bản ngã, là cái tôi. Cái tôi này là sinh tử luân hồi. Phải dẹp hết đi, phải cảm ơn, biết ơn người ta.” Lúc nghĩ như vậy, thì cái bực, cái giận đó tan hết, mình nhẹ ra, rồi mình vào mình lạy Phật. Được như vậy thì sân được tan, lòng từ dào dạt, biết ơn đầy đủ và sự cung kính được tăng trưởng. Nếu không tác ý như vậy, khi vào lạy Phật thì chỉ nhớ tới bà chỉ cổ áo mình bị xệ, bà đó sửa lưng mình. Cho nên trong sự tu Như Lý Tác Ý quan trọng lắm.
Thí dụ được con cái lo nhưng nhiều khi cũng bực mình lắm, vì cứ nói hoài. Nhưng mình phải hiểu đó là lòng hiếu thảo của con cái,phải ghi nhận điều đó. Mình suy nghĩ đúng lí thì lợi lạc cho mình, cho người. Còn mình suy nghĩ nghịch lí thì khổ mình, khổ người, khổ cả hai. Nhiều khi không chỉ cả hai khổ mà là khổ nhiều người, bởi vì khi bà nội, ba má – chủ nhà, giận lên một cái là ở con cháu im lặng hết, không dám ho, không dám thở. Cho nên tu hành hay chỗ này, Đức Phật gọi đó là Như Lý Tác Ý, Chánh Tư Duy, suy xét cho đúng đạo lí.
Minh Thành thí dụ điều này quý vị sẽ thấy hoan hỉ. Chẳng hạn khi mình đi chùa, để cái giỏ đồ ở chỗ nào đó, không có gì nhiều, áo tràng hay cái gì thôi, một hồi trở ra thấy mất tiêu cái giỏ. Lúc đó nếu suy nghĩ theo bình thường thì bực lên, phiền não, nghĩ rằng đi chùa mà cũng bị mất đồ. Nhưng nếu mình nghĩ là mình đi từ thiện, bình thường phải đi ba trăm hay năm trăm cây số, mới đem tới được cho người ta. Bây giờ mình không đi, nhưng người ta tới lấy luôn rồi. Vậy mình khỏe, mình sướng, coi như làm từ thiện. Chỗ mình đi làm từ thiện người ta đâu có kêu, nơi đó ở xa ba, bốn trăm cây số, gặp nắng, mưa, nhưng mình cũng bò tới đưa cho người ta. Trong khi người lấy đồ của mình là họ đang cần, như vậy mình đưa người ta xài, coi như mình làm từ thiện thôi, vậy thì khỏe rồi. Suy nghĩ được như vậy khỏe biết bao nhiêu. Ngược lại, mình quay về nhà mình bực bội, có cái áo tràng mà cũng bực. Đi tới chùa là mình tìm cái thanh tịnh, mà mình quên mục đích của mình. Chỗ này là chỗ rất là hay, Minh Thành chỉ gợi một hai ý nhỏ, còn mấy cái lớn tự quý vị suy nghĩ ra.
Trong gia đình có cha mẹ, anh chị em, vợ chồng, con cái; trong chùa có bạn đạo, mọi cái mình đều phải dùng Như Lý Tác Ý. Đức Phật nói: “Này các Tỳ-kheo, có một pháp đưa đến lợi ích lớn, quả báo lớn, lợi lộc lớn, đi đến giác ngộ, thắng trí, an tịnh Niết-bàn, đó là Như lý tác ý.” Nghĩa là suy xét đúng đạo lí, suy xét đúng sự thật, suy xét đưa mình đến tâm an tịnh. Còn nếu mình nghĩ sai, nghĩ theo chiều hướng của phiền não, thì ngay cả chuyện tốt mình nghĩ một hồi cũng thành xấu, chuyện có phước mình nghĩ một hồi thành ra vô phước, ngay cái chuyện hạnh phúc mình nghĩ một hồi thành bất hạnh. Thí dụ như đi chơi vui biết bao nhiêu, mà một hồi cũng phiền não, cũng giận bỏ đi về trước. Cho nên cái tu này hay lắm. Quý vị mà nắm được những bí chiêu này là quý vị an lạc diệu kì lắm. Vì ngày nào quý vị cũng gặp, giờ nào quý vị cũng gặp. Nhưng mình được bình thản, an nhiên. Nó là nó, mình là mình. Tại sao mình phải chạy theo nó? Pháp này rất hữu dụng, phải ứng dụng liền. Bánh mì mới ra lò, nóng hổi vừa thổi vừa ăn, giòn, thơm, ngon, bổ. Pháp cũng giống vậy, Phật pháp thiết thực, hiện tại, đến đây mà thấy, không trải qua thời gian. Nếu đúng là Chánh Pháp, là mình xài liền lập tức, chứ không phải đợi 20-30-40 năm hay là chết mới có kết quả. Ứng dụng là có kết quả liền.
***
Câu tiếp theo hỏi: “Tự ti, tự tôn, tự đại có phải xuất phải từ bản ngã không? Muốn tu tập thì phải như thế nào?” Tự ti là tự cho mình thấp. Tự tôn là tự cho mình cao. Tự đại là tự cho mình bự, to, sếp sòng, number one, số một, số dách, đệ nhất. Tất cả những điều này đều xuất phát từ cái tôi. Mình là chúng sanh, mình khoái con số một lắm, ai mà nói mình số một là mình khoái, cười liền. Đưa ngón tay cái lên khen là mình khoái liền. Nhưng khi lên lạy Phật, quý vị thấy trên đầu Đức Phật có cái vòng tròn, đó chính là số “0”, cho nên mới thành Phật, giác ngộ tối thượng. Còn mình thích số “1”, cho nên mình làm chúng sanh hoài. Vậy bây giờ chịu số nào? Nhìn hào quang trên đầu Đức Phật, lúc nào Phật cũng là không, trống rỗng, trống không, không có cốt lõi bên trong. Mình chỉ là con số không, cho nên người ta nói mình dở, mình trả lời: “Dạ đúng rồi. Em dở lắm, em là con số không.” Như vậy có an lạc hông? Lúc đó có trí tuệ Phật, hào quang chiếu ra. Số không là hào quang chiếu ra. Còn mình là số một, là tắt điện, cúp hết, tối thui. Tại lúc nào cũng giành số mộ nên cái tôi chần dần. Vì có cái tôi, mới thấy mình bằng, mình hơn, hoặc là mình thua.
Cho nên phải quán như Minh Thành nói là không có cái tôi, không có cái của tôi thì không rơi vô ba trường hợp: tự ti, tự tôn, tự đại. Quán chiếu thân này cùng với sắc, thọ, tưởng, hành, thức là trống rỗng. Tu tập điều đó là để chuyển hóa được bản ngã. Lạy Phật là để hạ thấp cái tôi của mình ở trước Phật, mình cung kính đối với Phật, đối với chư Tăng. Quý vị lạy Phật, quý vị xá Quý Thầy, quý vị nghĩ Quý Thầy thêm được mấy kí lô. Mỗi lần quý vị xá, lạy, mấy Thầy có tăng thêm được 100 gram, hay 300 gram thịt nào không? Hoàn toàn không có. Mà đó là pháp cung kính để cho quý vị bào mòn bản ngã, dẹp bớt cái tôi, chứ không phải quý vị lạy là Thầy mập ra thêm được một kí. Quý Thầy ngồi chịu trận, phải quán chiếu tứ đại, năm uẩn là không để giúp cho quý vị lạy, giúp cho quý vị phá được cái tôi và bản ngã. Tại vì ngoài Phật và mấy Thầy ra thì quý vị có lạy ai đâu. Nếu có lạy thì lạy cha mẹ, lúc đó là lên bàn thờ ngồi, chứ bình thường sống đâu có lạy. Có khi nào mình trở về nhà mình quỳ xuống mình lạy cha mẹ mình không? Không có! Đợi lên bàn thờ mới lạy. Cho nên cơ hội mình lạy nhiều nhất là ở trước Phật, ở trước Pháp, ở trước Tăng, ở trước Tam bảo. Quý vị thấy sâu xa không? Pháp lạy Phật là để mình dẹp bớt cái tôi xuống, chứ không phải lạy để được thêm. Không phải lạy để Phật rót xuống cho con chút đỉnh. Mà lạy là để cho giảm cái tôi xuống, giảm bản ngã xuống, giảm cái kiêu kì, kiêu căng, ngã mạn, tự đại, tự tôn, tự thị. Tự thị là tự cho mình là đúng, lúc nào cũng vậy, chuyện gì xảy ra cũng cho mình là đúng, người ta sai hết, cho nên mới có phiền não. Chứ nếu có chuyện xảy ra, mà mình nhận sai thì đâu có phiền não tiếp tục nữa. Mình sẽ sửa lại thành tốt. Có hai nhà ở kế bên nhau: một nhà một tháng cãi lộn hai mươi chín ngày, còn nhà bên đây thì êm ái, hạnh phúc, an tịnh. Một hôm cúp điện, trời nóng nực, hai người của hai nhà đi ra trước sân ngồi, khoảng bốn năm giờ chiều, hai người ngồi hai bên. Người bên đây mới hỏi người bên kia:
Nhà chị sao mà thấy êm ái vậy? Suốt tháng, suốt năm không nghe gì hết trơn, mà nhà tôi một tháng cãi lộn hai mươi tám, hai mươi chín ngày.
Tại vì nhà chị ai cũng giỏi hết, còn nhà em ai cũng dở hết.
Ủa sao kỳ vậy? Sao giỏi lại cãi lộn, dở lại được êm?
Chị từ từ, để em phân tích cho chị nghe. Thí dụ có người để một cái ly ngay góc bàn. Người khác đi ngang lỡ đụng vô cái ly rớt bể thì người này sẽ nói: “Xin lỗi, tại tôi vô ý quá, đụng làm rớt bể cái ly.” Thì người kia nói: “Xin lỗi, phải chi tôi để sát vào trong một tí thì nó đã không bể.” Thành ra hai người có lỗi hết, cho nên xin lỗi nhau thì êm. Còn nhà chị ai cũng giỏi, nên đụng cái là chửi liền: “Ai để đây vậy? Ai mà không biết cẩn thận kĩ lưỡng gì hết trơn vậy.” Rồi bên kia cãi lại. Do ai cũng giỏi hết, nên thành ra cãi lộn. Mà ai cũng dở hết cho nên mới được êm ấm.
Con nhà mình chắc người nào cũng giỏi chứ đâu có ai dở, đúng không? Hay là có khi dở, có khi giỏi. Cho nên tu là hay ở chỗ đó, lạy sám hối ý nghĩa chỗ đó. Lạy sám hối là nhìn lại để nhận lỗi, để điều chỉnh cái lỗi, thì hết lỗi. Còn đằng này vô lạy ào ào, trở ra y chang như cũ, không có khác gì hết, cho nên lạy hoài mà hỏi hết tội chưa cũng không biết. Mục đích của lạy sám hối là nhìn nhận lại để thấy khuyết điểm và điều chỉnh, cho nó thành hoàn chỉnh, mà cái này nó hông chịu chỉnh. Ai chỉnh nó là nó chỉnh người ta lại, chỉnh qua chỉnh lại một hồi là phựt lửa.
***
Câu hỏi tiếp theo, Phật tử hỏi: “Niệm Phật làm sao cho sáu căn được thu nhiếp?” Điều này quý vị cũng có biết qua nhiều bản kinh rồi, nhưng Minh Thành dẫn kinh là dẫn trong Tạng kinh Nikāya, kinh gốc của Đức Phật. Trong kinh Tăng chi bộ, phần Niệm Phật, Đức Phật có dạy:
Có một pháp, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến nhứt hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Một pháp ấy là gì? Chính là niệm Phật.
Chính một pháp này, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến nhứt hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. (Tăng Chi Bộ Kinh I, Chương Một Pháp, XVI. Phẩm Một Pháp, bài kinh Niệm Phật)
Nghe chữ “nhàm chán” quý vị đừng hiểu lầm. Nhàm chán này không phải chán rồi không ăn, không uống, không làm gì hết. Mà nhàm chán ở đây là không còn đam mê theo chiều si mê của vô minh, không thấy, không biết. Thí dụ như mình thấy người ta gây gỗ này nọ với nhau, người ta lôi mình vô. Mình chán cái vụ gây này lắm, chuyện này xưa rồi Diễm. Chuyện gây gổ này là khổ, đã sáu chục năm rồi, bây giờ chán rồi, không muốn đi theo cái sân này nữa. Mình thấy mấy người đồng trang lứa, mình cũng tham, họ rủ mình đi đánh vé số, đánh đề, rủ chơi hụi, rồi đổ hụ tum lum. Rồi đến bị đa cấp gạt, mất biết bao nhiêu tiền. Bây giờ họ rủ mình, mình nói: “Thôi, xưa rồi, tôi nhàm chán mấy vụ này rồi, mấy ông muốn chơi thì chơi đi, mất tiền ráng chịu.” Đó gọi là nhàm chán bằng trí tuệ, không có tham theo kiểu si mê, chứ không phải làm chán là không làm gì hết, mà phải ngày càng tu tập tinh tấn. Những người tu niệm Phật, đúng ra càng niệm Phật chừng nào càng phát triển trí tuệ để mà nhàm chán. Nhàm chán ngũ uẩn, nhàm chán mấy cái cái lòe loẹt, mấy cái đồ dỏm, mấy cái ảo tưởng của cuộc đời. Vật chất lẫn tinh thần đều thấy là vô thường, không đắm đuối, không si mê, không hệ lụy trong đó. Mình một bề nhàm chán, không tham muốn nó nữa. Tâm mình an tịnh lắm. Cho nên trí tuệ được tỏa sáng. Mình sẽ chứng ngộ, thể nhập được Niết bàn, tức là dập tắt hoàn toàn tham, sân, si. Niệm Phật đúng là phải niệm như vậy. Chứ không phải niệm chỉ ở trên môi. Niệm Phật là làm cho phát sinh trí tuệ để thấy rõ sắc pháp, thấy rõ mọi cảm giác là vô thường, thấy rõ mọi thứ trên cuộc đời là trống rỗng, không có cốt lõi. Mình không còn chạy theo đeo đuổi, không còn ham muốn nó nữa thì mình được giải thoát, an tịnh, Niết-bàn. Niệm Phật như vậy chính là của Đức Phật dạy trong Tạng kinh Nikāya cổ điển, gần ba ngàn năm. Niệm Phật chính gốc là niệm như vậy. Niệm làm sao để mình tăng trưởng thêm sự chàm chán. Nhàm chán đối với sắc. Nhàm chán đối với cảm giác. Nhàm chán đối với các thú vui vô thường, ảo mộng của cuộc đời. Nhàm chán đối với những thú vui tạm bợ của thế gian, không có thấy gì vui trong đó.
Lòng mình mỗi khi niệm Phật được an tịnh, yên tịnh, thanh tịnh, hỉ lạc, hoan hỉ. Tu phải vui, chứ không phải tu là ráng ngồi, khi được về là mừng húm. Ở ngoài coi ti vi, nói chuyện đi chơi, nói cười hồ hởi, hớn hở, sung sức, phấn khích lắm. Tới chừng ngồi niệm Phật, méo mặt nghiêng nghiêng qua một bên, trề cái môi ra, một hồi nghiêng luôn qua một bên, đầu gật tới gật lui, rồi nó gục luôn. Một lần Minh Thành thấy có một bà ngồi niệm Phật, nhưng gục gần tới chai nước suối luôn, Minh Thành bái phục luôn. Nào giờ chưa từng ngồi thiền, niệm Phật mà tới mức độ như vậy. Gục đầu còn một tí xíu là chấm vô chai nước suối luôn mà không biết, nghiêng qua ngửa lại giống như trời bão thổi mấy cái cây vậy. Khổ sao là khổ, nhìn tướng tu như vậy khổ vô cùng, tu vậy không được an lạc. Mình không thấy được giá trị, lợi ích quý báu của sự tu tập nên mình tu một cách hời hợt. Tu cho có, tu máy móc, làm cho xong giờ rồi mình đi ra, đó chưa phải là nhiệt tâm, tinh cần. Như vậy không phải tu bằng trái tim, không phải tu bằng sự chân thành, không phải tu bằng sự cung kính đối với Phật, đối với Pháp, đối với Tăng. Tu phải như lửa cháy trên đầu rồi, chạy lẹ lẹ lên. Tu giống như căn nhà lửa đang cháy, chạy lẹ ra, để trong đó một hồi là nó sụp xuống chết. Nó cháy trên đầu mình rồi, cháy đến tóc bạc, răng rụng, cái trán nhăn, da nhăn, lưng còng, tóc bạc, mắt mờ, tai điếc. Chỉ còn sụp xuống nữa là xong. Biết căn nhà nó sụp như thế nào không? No sụp xuống nó đè là xong. Vậy mà không lo, toàn lo ở đó chơi giỡn.
Phật gọi chúng sanh là đáng thương xót. Không có ý thức, không nhớ vô thường, không nhớ già bệnh chết. Già gần chết rồi, khoảng sáu mươi mấy, bảy cục tuổi rồi mà ai khen đẹp lão là mừng, được khen dạo này trẻ hơn lúc trước là khoái, cười, nói “Đâu có”. Giả bộ miệng nói không có nhưng mà khoái. Điều này dễ chết lắm cho nên mình phải chánh niệm. Chánh niệm khi nghe, khi thấy, khi nhìn, khi tiếp xúc, ddùng trí quán vô thường, khổ, vô ngã, đừng có quên. Cho nên cầm xâu chuỗi là phải cầm cho chắc, cầm cho chặt, nếu không một hồi nó rớt, hoặc nhiều khi nó đứt xâu chuỗi là văng ra tùm lum hết. Tâm mình cũng giống như vây, mình không giữ chặt, mình không nắm chắc, thì mình rớt. Có bị rớt hông? Một ngày rớt vô số lần nếu mình không có chánh niệm, không tinh cần, tinh tấn, nỗ lực. Niệm định tuệ, chánh niệm liên tục thì tâm mình mới chuyên nhất, sau đó mình dùng trí quán nhìn cho sâu sắc rồi lúc đó mới có trí tuệ. Trí tuệ mới cứu được mình, đó gọi là tỉnh thức.
Đồng thời trả lời luôn cho câu hỏi về Tỉnh Thức. Tỉnh thức là luôn luôn nhìn thấy được pháp, luôn luôn sự thấy được sự thật, luôn luôn nhìn thấy được thân của mình như thế nào, cảm giác của mình như thế nào, tâm của mình đang suy nghĩ cái gì? Suy nghĩ cái đó là thiện hay bất thiện, suy nghĩ đó có phù hợp với pháp hay không, suy nghĩ cái đó nó có tham, sân, si không? Nếu có là mình nhiếp phục, chuyển hóa, làm cho chấm dứt, không cho nó sanh khởi lên nữa. Luôn luôn biết mọi cử động, đi, đứng; thân mình co, duỗi, cúi, ngước, thân thể sử dụng như thế nào, phải biết như thế ấy, đó gọi là chánh niệm. Tỉnh thức là trong nội tâm có cảm giác sanh khởi, an trú, chấm dứt như thế nào thì mình phải biết. Trong đó có cảm giác gì, có tham, sân, si không, mình phải biết và phải thấy. Luôn luôn biết, luôn luôn thấy, luôn luôn rõ, đó là Chánh Niệm Tỉnh Thức.
***
Đến câu hỏi Thường Kiến và Đoạn Kiến.
Thường kiến là cái thấy biết mà mình cho là thường còn. Mình nghĩ là người chết làm người, vật chất làm vật, con bò chết làm con bò, con heo chết làm con heo, con gà chết làm con gà, mình chết thì đời sau mình sinh ra giống y hệt như bây giờ. Đó gọi là thường kiến, là cái thấy biết thường hằng, thường còn.
Đoạn kiến là nghĩ rằng chết là hết, nhiều người nghĩ như vậy, nên mình cứ ăn chơi đi, cứ việc chơi thoải mái.
Phải chấm dứt cái kiến chấp cho rằng chết rồi là hết và kiến chấp chết rồi nó còn y như vậy hoài. Có hai lối chấp:
Mình là Trần Thị Mít, nghĩ đời sau mình sanh ra cũng là Trần Thị Mít, cũng y chang như vậy, cái đó gọi là chấp thường.
Còn chết rồi là xong, không còn cái gì nữa hết là chấp đoạn.
Đức Phật nói tùy theo nghiệp của mình mà đi theo dòng luân hồi, nó biểu hiện ra thân và tâm. Thí dụ đời này mình là người, biết làm phước, biết bố thí cúng dường, làm những điều lành giúp đỡ những người ngèo khổ, tu tập năm giới đàng hoàng, thì đời sau có thể sanh ra được làm người, có thể tốt hơn bây giờ. Ví dụ như mình sanh ra làm công chúa ở bên Nhật, thái tử bên Thái lan; mình tu nhiều, làm phước nhiều, được bầu lên làm tổng thống Mỹ. Bây giờ mình được làm người mà không chịu tu, cứ ăn chơi sa đọa, không biết giữ giới, không biết giúp người, keo kiệt, bỏn xẻn, rồi hung ác,… thì chết lọt xuống, làm những loài vật súc sanh, làm những con chuột ở trong ống cống, làm con gián trốn chui trốn nhủi, hôi hám, dơ, ai cũng sợ. Vậy mà khoa học bây giờ nghiên cứu sữa gián là bổ nhất, khiếp chưa, ai dám uống? Sanh ra làm con kiến, làm con vi trùng. Quý vị thấy thân này là thân mình, nhưng có biết bao nhiêu vi trùng ở trong đó không? Khiếp không? Nếu quý vị biết trong này có cả ổ chứa vi trùng, cho nên mới có bệnh ung thư, sanh ra bao nhiêu thứ bệnh. Cơ thể của mình có nhiều chúng sanh ở trong đây, chứ không phải có một mình mình, đừng có lầm! Lâu lâu có sán, lãi, không phải là một con mà cả hàng chục con ở trong cơ thể mình. Còn ở trong của ở trong của những con vi khuẩn, vi trùng, của những con siêu vi ở trong đó nữa, nhiều lắm. Cho nên, Đức Thế Tôn nó thân này là ổ chứa nhóm vi trùng, là chỗ phát sinh ra tất cả những bệnh hoạn. Mình không có trí tuệ nên không thấy, tưởng nó sạch, đẹp lắm, cho nên mới bị lây bệnh. Quý vị thấy lây bệnh khủng khiếp không? Vấn đề bệnh gan nước mình có mấy chục triệu người bệnh: Gan siêu vi B, siêu vi C, siêu vi A. Rồi ung thư là 7-8 triệu người, nước mình có 100 triệu thôi mà ung thư gần 1/10. Cho nên đừng tưởng thân này cứ chắc chắn như vậy hoài. Không có đâu, khiếp lắm, ghê lắm. Cho nên phải nhìn thấy như vậy để tạo nghiệp lành, nói lời lành, suy nghĩ lành, để đời sau sanh ra được tốt lành. Suy nghĩ ác, nói lời ác, làm việc ác, đời sau sanh ra chỗ thống khổ. Chắc chắn là như vậy, không thể khác hơn! Đây là lời nói của bậc Chánh Đẳng Giác, lời nói của Đức Phật.
***
Có một cô hỏi: “Phóng sanh có phải tham sống hay không?” Xin thưa quý Phật tử, ở đây mình phải hiểu theo nghĩa là hồi xưa mình ăn mặn, mình tưởng đó là lẽ đương nhiên nhưng bây giờ mình biết đó là gây nghiệp sát. Nhiều khi mình ăn mặn năm chục năm, nếu mà cân thì không biết đã ăn bao nhiêu kí cá, kí gà, kí vịt, kí heo, kí bò. Nhưng mới ăn chay được hai năm, khoe tùm lum. Hồi đó giờ giết không biết bao nhiêu con, mới phóng sanh được chừng 100-200 con chim mà cũng khoe tùm lum, không biết bù vô được số lẻ thịt, cá đã ăn chưa nữa. Mình nghĩ mình làm phước nhiều lắm, nhưng không phải, chưa đủ bù vào cái tội, chưa bù được lãi đẻ ra, chứ nói chi là cái vốn. Thí dụ từ đó giờ mình nợ 1000 con, mà giờ mình phóng sanh có 10 con, là còn lại 990 con. Cho nên, chỉ bớt cái tội một chút, chứ phước cũng chưa có. Chừng nào mà mình phóng luôn 1000 con, sau đó tăng lên thêm thì lúc đó mới tính phước.
Cho nên nói để mình hiểu, tu tập mới có một chút mình đừng tự mãn, mới niệm Phật một chút, mới nghe pháp một chút, thì nói nghe hết trơn, hiểu hết rồi, coi chừng cái đó là sai. Chừng nào hiểu hết thì khi đó mình là Thánh nhân, A-la-hán. Bây giờ mình học Tứ Diệu Đế, Tứ Thánh Đế, đây là khổ, đây là nguyên nhân của khổ, đây là chấm dứt khổ, đây là con đường đưa đến chấm dứt khổ. Mình học hết Tứ Thánh Đế nhưng mình còn khổ không? Vẫn còn vậy sao gọi là học hết? Mình chưa có học được gì hết, nếu học đúng, tốt nghiệp, thì mình phải là A-la-hán, là mình hết khổ, khi đó mới được gọi là học xong. Cho nên, con người chúng sanh mình dễ lấy ít cho là đủ, dễ thỏa mãn với những cái nhỏ, những cái gần. Còn bậc Thánh là trí tuệ đại viên mãn, tâm cầu học là vô cùng vô tận, cho đến khi nào đạt được sự cứu cánh cùng cực mới thôi. Còn mình mới được một chút là khoe tùm lum, cho nên là phàm phu hoài.
Trở lại vấn đề phóng sanh, mình làm như vậy là để chuộc lỗi, ý thức được việc sát sanh là không tốt. Nếu mình có mong cầu được sống khỏe, sống tốt thì cũng đương nhiên thôi, tại vì đây là pháp tương đối để làm phước. Nếu mình phóng sanh mà không phải vì mong cầu ham sống, mình biết đây là tâm từ bi, chuộc những lỗi lầm, cầu đạt đến Niết-bàn, thì phước đó trở thành phước đức vô lậu. Phóng sanh vì mong hưởng tiếp ở đời sau hoặc mai mốt già hưởng, thì phước đó gọi là phước hữu lậu, cũng có phước mà nó nhỏ, nó gần, nó cạn. Còn khi mình phóng sanh hướng tới Niết-bàn: “Con đến phóng sanh, làm phước, cúng chùa, bố thí. Con làm tất cả mọi thứ, không cầu gì hết. Con chỉ cầu gặp được bậc Thánh nhân, gặp được Chánh Pháp, chỉ ra con đường, đạo lộ giải thoát để con thành tựu, chấm dứt hết tất cả phiền não, giải thoát sinh tử, chứng đắc Niết-bàn.”, được như vậy thì phước của quý vị như hư không, cùng khắp mười phương./.
-Thích Minh Thành-
Phật tử 1:
Kính bậc Thượng tọa giảng sư, con có một điều thắc mắc: Phật giáo thường nói tu theo con đường Trung Đạo, như vậy con đường Trung Đạo là như thế nào? Nhờ Thượng tọa giải thích cho con được rõ
Phật tử 2:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Con kính bạch Thượng tọa Trụ trì chùa Pháp Ấn, con Lâm Mỹ Trang, pháp danh Nguyên Thùy, con xin có câu hỏi: Sắc pháp và Danh pháp trong pháp môn niệm Phật là như thế nào? Xin giảng sư chỉ dạy cho chúng con biết. Câu thứ hai: tự ti, tự tôn, tự đại có phải xuất phát từ bản ngã không? Muốn chuyển hóa cần phải tu tập như thế nào? Con xin hết.
Phật tử 3:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Con ngưỡng bái bạch Thượng tọa Trụ trì, ngưỡng bái bạch Thượng tọa giảng sư. Con Phật tử pháp danh Thọ Đạo, con tu về phương pháp tịnh độ, mà con không biết niệm Phật thế nào cho sáu căn được thu nhiếp. Con hết ạ.
Phật tử 4:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính bậc Thượng tọa giảng sư, Đức Phật nói đạo Phật là đạo của Tỉnh Thức. Vậy con xin giảng sư giải thích rõ cho con Tỉnh Thức là như thế nào ạ? Con xin hết ạ.
Phật tử 5:
Con kính bạch Thượng tọa giảng sư, con có một phân vân về phóng sanh. Thứ nhất phóng sanh là mình mua những con vật đó về, đem đi phóng sanh nó, để giải thoát cho chúng. Thứ hai cứ nghĩ là cho bản thân, bản ngã của chính mình được giải nghiệp. Thứ ba là được sống lâu. Như vậy, người Phật tử ấy có phải là vì có lòng tham sống lâu hay không? Con kính bạch thầy giảng cho con rõ về điều đó, vì con rất là phân vân điều đó.
Phật tử 5:
Con kính bạch Thượng tọa giảng sư. Có hai nội dung trong giáo pháp con không hiểu, đó là Thường Kiến và Đoạn Kiến, con kính trình lên. Con xin hết ạ.
***
Câu hỏi đầu tiên là câu hỏi về Trung Đạo. Đức Phật dạy có hai thái cực mà mình cần phải tránh:
Thái cực thứ nhất là chạy theo hưởng thụ dục lạc của phàm phu thấp hèn, kém cỏi. Tức là cả một cuộc đời chạy theo ăn cho ngon, mặc cho đẹp, ở cho sang, nhà cửa đầy đủ những tiện nghi vật chất, ngoài những thứ đó ra không còn biết gì khác hết. Đó gọi là một cực đoan hưởng lạc. Điều này quý vị thấy có nhiều không? Mình có dính trong này không?
Cực đoan thứ hai là ép xác khổ hạnh, hành hạ. Điều này bây giờ hơi ít nhưng vẫn có, nhất là ở Ấn Độ, tới bây giờ những đạo đó vẫn còn. Quý vị có thể tưởng tượng là người ta uống nước tiểu của con bò không? Thuốc cũng vậy, người ta chế ra từ nước tiểu đó. Rồi đến ép xác khổ hạnh, để tóc, thậm chí ăn phân chó, ngồi hoài không nằm, hoặc là đứng một chân nhìn mặt trời, hoặc là tắm một ngày bảy tám cử để cho nó sạch tội,… Đó là những đạo không do bậc giáo chủ là vị Chánh Đẳng Giác tuyên thuyết, cho nên người ta đi vào con đường ép xác khỏ hạnh cực đoan mà không có hiệu quả. Khi Đức Phật còn tại thế, có những người ngoại đạo đến hỏi Đức Phật: “Thưa Sa môn Gotama, tôi cố gắng làm cho giống hệt như con chó, vậy mai mốt tôi chết thì tôi đi đâu, tôi có được sanh lên cõi Trời không?” Vị này hỏi như vậy ba lần Đức Phật không trả lời. Cuối cùng, năn nỉ quá thì Đức Phật mới nói: “Sau khi chết, ông sẽ sanh vào loài chó, chứ không sanh lên cõi Trời.” Tại vì mình muốn thành như vậy mà. Tâm mình hướng theo như vậy thì sẽ thành như vậy.
Cho nên, cực đoan thứ nhất nói cho dễ nhớ là lạc hạnh, dục lạc; cực đoan thứ hai là khổ hạnh. Hai cực đoan này không phải là Trung Đạo. Trung Đạo của Đức Phật nói gọn là Giới – Định – Tuệ. Nói cho đầy đủ là Bát Chánh Đạo là Trung Đạo. Tức là trong tất cả mọi hoàn cảnh nào mình cố gắng giữ giới pháp đã thọ. Trong tất cả mọi hoàn cảnh mình cố gắng giữ tâm của mình được yên tịnh, yên định. Trong tất cả mọi hoàn cảnh mình cố gắng quán chiếu trí tuệ để thấy được xác thân năm uẩn, tứ đại là vô thường, trống rỗng. Giống như là bong bóng nước, giống như là bọt, giống như sóng nắng ráng chiều, giống như cây chuối không có cái lõi, giống như trò ảo thuật, không có gì là chắc chắn hết. Mình tu tập gọn là Giới – Định – Tuệ, nói đầy đủ là: “Thấy đúng, nghĩ đúng, nói đúng, sống đúng, siêng đúng, làm đúng và niệm đúng, tuệ đúng, quán đúng”. Cho nên, Bát Chánh Đạo là Trung Đạo, Giới – Định – Tuệ là Trung Đạo. Quán chiếu thân tâm của mình là tứ đại, tứ niệm xứ, năm uẩn đó là Trung Đạo. Dầu ở trong bất cứ hoàn cảnh nào mình luôn luôn tác ý, tư duy, nghiềm ngẫm, quán chiếu, tu tập để thấy đúng với cái thấy của Đức Phật dạy – Chánh Tri Kiến, đó gọi là Trung Đạo của trí tuệ. Cái này nắm được chưa? Nhớ nắm cho chắc nếu không một là chạy qua lạc hạnh, hai là chạy qua khổ hạnh, mà không có đi Trung Đạo.
***
Một Phật tử hỏi: “Sắc pháp và Danh pháp trong pháp môn niệm Phật là như thế nào?” Sắc pháp và Danh pháp là chung, chứ không có riêng trong pháp môn niệm Phật. Nói đơn giản là thân và tâm.
Sắc pháp là tất cả những sự vật, vật chất mình thấy được. Tất cả những cái đó gọi là sắc pháp. Thân này gọi là sắc pháp, núi là sắc pháp, chiếc xe là sắc pháp, đồng hồ là sắc pháp, mắt kiếng là sắc pháp, cái nhà là sắc pháp, tất cả cái đó là sắc pháp. Mình phải biết nó là sắc pháp, đừng nghĩ nó là tôi, nó là của tôi, gắn chữ “tôi”, chữ “của tôi” vào là mình khổ.Thí dụ như một hồi mình quay qua quay lại, quên không biết mắt kiếng để chỗ nào. Bây giờ không thấy mắt kiếng nữa thì thôi, mất rồi mua cái khác, chứ đừng nói “Mắt kiếng của tôi đâu rồi?”, gắn chữ của tôi vào, chính chữ đó làm cho mình mệt. Áo tràng của tôi, chiếc xe của tôi, căn nhà của tôi, rồi lúc mình nhắm mắt, mình thở cái khì, thì lúc đó của ai? Mình phải biết đó là sắc pháp, là duyên sanh, vô thường, tạm bợ, hông có thật. Đó chỉ là phương tiện để mình đạt được Giới – Định – Tuệ , thành tựu Bát Chánh Đạo, thành tựu giải thoát, chứ không phải là mục đích đời sống. Cho nên hãy sử dụng nó như sử dụng một phương tiện. Giống như bây giờ mình chưng chậu hoa này lên, rồi xong ba bốn bữa nữa là quăng thùng rác, không có gì quan trọng hết. Chút xíu ra xe đạp mất tiêu rồi. Thì nói: “Ờ xe đạp mất thì xe đạp mất, chứ không phải của mình. Xe đạp mất rồi, thì mình sắm chiếc khác, mà nếu mình không có tiền sắm thì người khác chở mình đi. Kêu Nguyên Ngộ chở. Nói thầy trụ trì cho xe buýt chở. Đâu có gì đâu.” Mà mất là mất chiếc xe đạp chứ có phải mất mình đâu, làm gì quýnh quáng lên, mặt mày xanh lè xanh lét lên, run tay chân hết. Tới tuần sau vẫn cứ nhắc chiếc xe đạp đó, nhắc hoài nó cũng đi rồi, mà không nhắc nó cũng đâu trở lại. Mình biết sắc pháp vô thường, thân này còn vô thường mà. Cho nên phải quán như vậy mới thành tựu trí tuệ. Xong rồi trong nhà mình có người thân bệnh hoặc ra đi mình nói sắc pháp vô thường, mình vẫn khổ nhưng cái khổ của mình nó nhẹ lắm. Còn không biết sắc pháp vô thường, mình nói người thân mình mất rồi, nhưng đâu phải, đó là sắc pháp biến hoại.
Nói danh và sắc thôi là chưa đủ, đầy đủ là phải nói năm uẩn. Danh chỉ là một phần của tâm, cho nên muốn nói đủ thì phải nói là thọ, tưởng, hành, thức – cảm giác, các tưởng, suy nghĩ và nhận thức – bốn phần này là thuộc về phần tâm. Cho nên, khi niệm Phât an lạc quá, thanh tịnh quá, mình biết mình đang có cảm giác thanh tịnh, an lạc. Cảm giác này tốt, nhẹ nhàng, khinh an, nhờ sự tu tập của mình mà có được. Nhưng mình không được đắm mê cảm giác đó. Đừng chạy ra khoe tùm lum, thấy đã nên muốn giữ, mà vừa muốn giữ nó lại chạy mất tiêu. Tại tâm mình động là nó chạy mất. Còn khi tâm an lạc, mình muốn kéo dài, giữ cái này cho lâu, lúc mình muốn giữ là nó động, rồi nó chạy mất. Cho nên mình biết tất cả cảm giác là vô thường. Cảm giác đó là thanh tịnh, an lạc, thì cũng là vô thường. Biết và cảm nhận được hết nhưng mình không đam mê, không dính mắc trong đó. Nếu đam mê, dính mắc trong cảm giác đó là bị trói buộc. Quý vị nghĩ bị trói buộc trong ác pháp là khổ, còn trói buộc trong thiện pháp có khổ không? Điều rốt ráo của mình là tu tâm thanh tịnh, giải thoát. Mình phải biết được mục đích đến của mình, còn nếu bị chấp vào đó là mình bị kẹt.
Thí dụ bây giờ ngồi ở đây thanh tịnh, yên bình, bỗng nhiên có điện thoại của bà nào nó reo lên, nó hát nhạc giật gân, rồi lúc đó làm sao? Nếu lúc đó mình chấp cái yên tịnh, mình nói: “Tại sao tôi đang yên tịnh, mà bà để cái nhạc giật gân vậy?” rồi quay qua dòm, nhón nhón lên coi ai, như vậy là mình chấp. Mình chấp cái tịnh, nhưng bị cái động làm cho động. Như vậy, chấp cái tịnh rồi cũng thành động luôn. Như vậy, nghe tiếng đó là mình biết có tiếng động, nhưng tâm mình không chạy theo tiếng động đó. Làm cái này được không? Thực tập cái này hay lắm. Vì mình nghe tiếng điện thoại cà giật nhưng mình vẫn yên tịnh, mai mốt có ai nói lời gì xỉa xỉa, xăm xỉa, mình biết nhưng mình không có động.
Khi còn tại thế, Đức Thế Tôn đi giáo hóa, giảng pháp, có rất nhiều người giác ngộ và đi theo Ngài. Đệ tử của những vị giáo chủ khác bỏ đi theo Đức Phật, dân chúng cũng tôn trọng, cúng dường, cung kính Đức Phật nhiều. Mấy ông giáo chủ của những đạo này tức giận, sân si, đi theo đằng sau chửi, bằng đủ thứ lời nặng nề: “Ông Sa môn Cồ Đàm dụ dỗ đệ tử tôi đi theo ổng hết.” Đức Phật vẫn đi điềm nhiên, an tịnh, bưng bình bát, mắt nhìn xuống về phía trước, mỗi bước chân đi không chậm, không nhanh, thanh tịnh, nhẹ nhàng, an lạc. Ông đó vẫn chửi rồi nhảy ra trước mặt hỏi Phật:
Nãy giờ Ông có nghe hông?
Có, Ta có nghe.
Nghe sao không thấy Ông phản ứng gì hết vậy?
Nếu Ông cho đồ người ta, mà người ta không nhận, thì lúc đó thế nào?
Nó không nhận thì thôi, món quà đó về Tôi.
Cũng vậy, Ông chửi mắng, Ông sỉ nhục Ta, nhưng Ta không nhận, thì cái đó thuộc về ai?
Cho nên tu là để mình quán chiếu cảm thọ, để mình không thọ những ô nhiễm, chỉ thọ những thiện pháp. Cái nhiễm tới không xâm nhập mình được. Còn mình bây giờ là miễn cưỡng thọ, tức là người ta nói gì ở xa xa, nhiều khi mình cũng rề rề đến mình hỏi họ nói gì vậy ? Mình giống như máy hút bụi, đi đâu gặp cũng hút vô hết, đem về nhà xả ra không ai chịu nổi. Đức Phật dạy mình tu cũng phải như lá sen vậy đó. Nước nhiễu xuống không đọng lại, nếu có đọng cũng không dính, mà nếu có dính chút xíu thì cũng tuôn rơi hết. Mình tu phải giống như lá sen, đừng giống như máy hút bụi, đi đâu cũng hút rồi về nhà xả ra, cho người nhà phiền não hết. Mình có sáu chỗ, không cẩn thận là nó hút bụi : mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, chúng hút bụi vào. Phải cẩn thận đừng cho nó hút bụi. Luôn luôn hộ trì căn. Phải giữ gìn con mắt, giữ gìn lỗ tai. Điều này quan trọng lắm.
Lành thay, phòng hộ mắt!
Lành thay, phòng hộ tai.
Lành thay, phòng hộ mũi,
Lành thay, phòng hộ lưỡi.
Lành thay, phòng hộ thân!
Lành thay, phòng hộ lời,
Lành thay, phòng hộ ý.
Lành thay, phòng tất cả
Tỷ-kheo phòng tất cả.
Thoát được mọi khổ đau.
(Kinh Pháp Cú – Phẩm Tỷ Kheo)
Tỷ-kheo phòng tất cả nhất định được an lạc, đạt đến Niết-bàn.
Minh Thành hỏi thật, quý vị dựng xe ở chỗ nào đó, quý vị có khóa cổ không? Khi đi ra ngoài, không có ai ở nhà, mình có khóa cửa kĩ không? Mấy cái tủ trong phòng có khóa kĩ không? Những thứ đó mình giữ kĩ lắm, còn tâm là cái quan trọng nhất nhưng mình lại không giữ kĩ, cho nên mình mất hết của báu. Tâm của mình có kho tàng trí tuệ nhưng mình không giữ. Mình để cho nó bị cướp, bị lượm, bị trộm, bị cướp, bị giật,…đủ thứ, cuối cùng thì mất hết. Mình còn lại tham, sân, si, phiền não mà không thấy Giới – Định – Tuệ. Tại vì mấy thằng ăn trộm nó lượm mất hết rồi. Quý vị có coi chương trình Phút giấy cảnh giác không. Mười giây thôi là nó lấy chiếc xe honda liền chứ không tới ba mươi giây. Nhanh lắm! Ăn trộm giờ có nhiều kĩ xảo, kĩ nghệ, mánh khóe, có chìa khóa vạn năng, mở được hết. Cũng vậy, cái tâm, con mắt, cái tai, lỗ mũi, cái miệng,… mà không giữ kĩ, thì một ngày mình mất không biết bao nhiêu là an lạc, thanh tịnh, do mình bị ô nhiễm, phiền não. Thấy gì cũng gai con mắt, nghe cái gì cũng thấy chướng lỗ tai, gọi là “chướng tai gai mắt”. Nếu có chánh niệm tu tập thì thấy cái gì mình cũng thương, nghe cái gì mình cũng thương. Lòng từ bi của mình được tăng trưởng, phát triển, mình biết tu tâm từ. Cái tu này sâu sắc lắm chứ không phải mặc áo tràng, ngồi đây thì là tu. Đó mới chỉ là hình dáng bên ngoài thôi. Còn sâu xa là cái dụng tâm. Mình biết dụng tâm, biết suy nghĩ đúng lý gọi là Như Lý Tác Ý. Suy xét đúng đạo lí và tâm mình được an.
Minh Thành thí dụ một cái nhỏ. Chẳng hạn mình đi từ ngoài chùa, chuẩn bị bước vào Chánh Điện, lúc đó cũng hồ hởi, nhiệt tình vào lạy Phật, lâu quá rồi không đi chùa. Khi còn một bước là tới Chánh Điện, bà kế bên chỉ cổ áo mình bị xệ với một dáng vẻ không được hoan hỉ. Lúc đó mình đang hồ hởi, hoan hỉ vào lạy Phật với tâm cung kính, tự nhiên bị chỉ như vậy, thì mình sao? Nếu mình Như lý tác ý, mình nghĩ “Người ta chỉ thì mình tốt chứ sao, tại mình không để ý. Người ta chỉ thì mình phải cảm ơn. Mình không cảm ơn mà còn giận là sao? Cái giận này là vô lý, si mê,không có trí tuệ. Cái giận này là bản ngã, là cái tôi. Cái tôi này là sinh tử luân hồi. Phải dẹp hết đi, phải cảm ơn, biết ơn người ta.” Lúc nghĩ như vậy, thì cái bực, cái giận đó tan hết, mình nhẹ ra, rồi mình vào mình lạy Phật. Được như vậy thì sân được tan, lòng từ dào dạt, biết ơn đầy đủ và sự cung kính được tăng trưởng. Nếu không tác ý như vậy, khi vào lạy Phật thì chỉ nhớ tới bà chỉ cổ áo mình bị xệ, bà đó sửa lưng mình. Cho nên trong sự tu Như Lý Tác Ý quan trọng lắm.
Thí dụ được con cái lo nhưng nhiều khi cũng bực mình lắm, vì cứ nói hoài. Nhưng mình phải hiểu đó là lòng hiếu thảo của con cái,phải ghi nhận điều đó. Mình suy nghĩ đúng lí thì lợi lạc cho mình, cho người. Còn mình suy nghĩ nghịch lí thì khổ mình, khổ người, khổ cả hai. Nhiều khi không chỉ cả hai khổ mà là khổ nhiều người, bởi vì khi bà nội, ba má – chủ nhà, giận lên một cái là ở con cháu im lặng hết, không dám ho, không dám thở. Cho nên tu hành hay chỗ này, Đức Phật gọi đó là Như Lý Tác Ý, Chánh Tư Duy, suy xét cho đúng đạo lí.
Minh Thành thí dụ điều này quý vị sẽ thấy hoan hỉ. Chẳng hạn khi mình đi chùa, để cái giỏ đồ ở chỗ nào đó, không có gì nhiều, áo tràng hay cái gì thôi, một hồi trở ra thấy mất tiêu cái giỏ. Lúc đó nếu suy nghĩ theo bình thường thì bực lên, phiền não, nghĩ rằng đi chùa mà cũng bị mất đồ. Nhưng nếu mình nghĩ là mình đi từ thiện, bình thường phải đi ba trăm hay năm trăm cây số, mới đem tới được cho người ta. Bây giờ mình không đi, nhưng người ta tới lấy luôn rồi. Vậy mình khỏe, mình sướng, coi như làm từ thiện. Chỗ mình đi làm từ thiện người ta đâu có kêu, nơi đó ở xa ba, bốn trăm cây số, gặp nắng, mưa, nhưng mình cũng bò tới đưa cho người ta. Trong khi người lấy đồ của mình là họ đang cần, như vậy mình đưa người ta xài, coi như mình làm từ thiện thôi, vậy thì khỏe rồi. Suy nghĩ được như vậy khỏe biết bao nhiêu. Ngược lại, mình quay về nhà mình bực bội, có cái áo tràng mà cũng bực. Đi tới chùa là mình tìm cái thanh tịnh, mà mình quên mục đích của mình. Chỗ này là chỗ rất là hay, Minh Thành chỉ gợi một hai ý nhỏ, còn mấy cái lớn tự quý vị suy nghĩ ra.
Trong gia đình có cha mẹ, anh chị em, vợ chồng, con cái; trong chùa có bạn đạo, mọi cái mình đều phải dùng Như Lý Tác Ý. Đức Phật nói: “Này các Tỳ-kheo, có một pháp đưa đến lợi ích lớn, quả báo lớn, lợi lộc lớn, đi đến giác ngộ, thắng trí, an tịnh Niết-bàn, đó là Như lý tác ý.” Nghĩa là suy xét đúng đạo lí, suy xét đúng sự thật, suy xét đưa mình đến tâm an tịnh. Còn nếu mình nghĩ sai, nghĩ theo chiều hướng của phiền não, thì ngay cả chuyện tốt mình nghĩ một hồi cũng thành xấu, chuyện có phước mình nghĩ một hồi thành ra vô phước, ngay cái chuyện hạnh phúc mình nghĩ một hồi thành bất hạnh. Thí dụ như đi chơi vui biết bao nhiêu, mà một hồi cũng phiền não, cũng giận bỏ đi về trước. Cho nên cái tu này hay lắm. Quý vị mà nắm được những bí chiêu này là quý vị an lạc diệu kì lắm. Vì ngày nào quý vị cũng gặp, giờ nào quý vị cũng gặp. Nhưng mình được bình thản, an nhiên. Nó là nó, mình là mình. Tại sao mình phải chạy theo nó? Pháp này rất hữu dụng, phải ứng dụng liền. Bánh mì mới ra lò, nóng hổi vừa thổi vừa ăn, giòn, thơm, ngon, bổ. Pháp cũng giống vậy, Phật pháp thiết thực, hiện tại, đến đây mà thấy, không trải qua thời gian. Nếu đúng là Chánh Pháp, là mình xài liền lập tức, chứ không phải đợi 20-30-40 năm hay là chết mới có kết quả. Ứng dụng là có kết quả liền.
***
Câu tiếp theo hỏi: “Tự ti, tự tôn, tự đại có phải xuất phải từ bản ngã không? Muốn tu tập thì phải như thế nào?” Tự ti là tự cho mình thấp. Tự tôn là tự cho mình cao. Tự đại là tự cho mình bự, to, sếp sòng, number one, số một, số dách, đệ nhất. Tất cả những điều này đều xuất phát từ cái tôi. Mình là chúng sanh, mình khoái con số một lắm, ai mà nói mình số một là mình khoái, cười liền. Đưa ngón tay cái lên khen là mình khoái liền. Nhưng khi lên lạy Phật, quý vị thấy trên đầu Đức Phật có cái vòng tròn, đó chính là số “0”, cho nên mới thành Phật, giác ngộ tối thượng. Còn mình thích số “1”, cho nên mình làm chúng sanh hoài. Vậy bây giờ chịu số nào? Nhìn hào quang trên đầu Đức Phật, lúc nào Phật cũng là không, trống rỗng, trống không, không có cốt lõi bên trong. Mình chỉ là con số không, cho nên người ta nói mình dở, mình trả lời: “Dạ đúng rồi. Em dở lắm, em là con số không.” Như vậy có an lạc hông? Lúc đó có trí tuệ Phật, hào quang chiếu ra. Số không là hào quang chiếu ra. Còn mình là số một, là tắt điện, cúp hết, tối thui. Tại lúc nào cũng giành số mộ nên cái tôi chần dần. Vì có cái tôi, mới thấy mình bằng, mình hơn, hoặc là mình thua.
Cho nên phải quán như Minh Thành nói là không có cái tôi, không có cái của tôi thì không rơi vô ba trường hợp: tự ti, tự tôn, tự đại. Quán chiếu thân này cùng với sắc, thọ, tưởng, hành, thức là trống rỗng. Tu tập điều đó là để chuyển hóa được bản ngã. Lạy Phật là để hạ thấp cái tôi của mình ở trước Phật, mình cung kính đối với Phật, đối với chư Tăng. Quý vị lạy Phật, quý vị xá Quý Thầy, quý vị nghĩ Quý Thầy thêm được mấy kí lô. Mỗi lần quý vị xá, lạy, mấy Thầy có tăng thêm được 100 gram, hay 300 gram thịt nào không? Hoàn toàn không có. Mà đó là pháp cung kính để cho quý vị bào mòn bản ngã, dẹp bớt cái tôi, chứ không phải quý vị lạy là Thầy mập ra thêm được một kí. Quý Thầy ngồi chịu trận, phải quán chiếu tứ đại, năm uẩn là không để giúp cho quý vị lạy, giúp cho quý vị phá được cái tôi và bản ngã. Tại vì ngoài Phật và mấy Thầy ra thì quý vị có lạy ai đâu. Nếu có lạy thì lạy cha mẹ, lúc đó là lên bàn thờ ngồi, chứ bình thường sống đâu có lạy. Có khi nào mình trở về nhà mình quỳ xuống mình lạy cha mẹ mình không? Không có! Đợi lên bàn thờ mới lạy. Cho nên cơ hội mình lạy nhiều nhất là ở trước Phật, ở trước Pháp, ở trước Tăng, ở trước Tam bảo. Quý vị thấy sâu xa không? Pháp lạy Phật là để mình dẹp bớt cái tôi xuống, chứ không phải lạy để được thêm. Không phải lạy để Phật rót xuống cho con chút đỉnh. Mà lạy là để cho giảm cái tôi xuống, giảm bản ngã xuống, giảm cái kiêu kì, kiêu căng, ngã mạn, tự đại, tự tôn, tự thị. Tự thị là tự cho mình là đúng, lúc nào cũng vậy, chuyện gì xảy ra cũng cho mình là đúng, người ta sai hết, cho nên mới có phiền não. Chứ nếu có chuyện xảy ra, mà mình nhận sai thì đâu có phiền não tiếp tục nữa. Mình sẽ sửa lại thành tốt. Có hai nhà ở kế bên nhau: một nhà một tháng cãi lộn hai mươi chín ngày, còn nhà bên đây thì êm ái, hạnh phúc, an tịnh. Một hôm cúp điện, trời nóng nực, hai người của hai nhà đi ra trước sân ngồi, khoảng bốn năm giờ chiều, hai người ngồi hai bên. Người bên đây mới hỏi người bên kia:
Nhà chị sao mà thấy êm ái vậy? Suốt tháng, suốt năm không nghe gì hết trơn, mà nhà tôi một tháng cãi lộn hai mươi tám, hai mươi chín ngày.
Tại vì nhà chị ai cũng giỏi hết, còn nhà em ai cũng dở hết.
Ủa sao kỳ vậy? Sao giỏi lại cãi lộn, dở lại được êm?
Chị từ từ, để em phân tích cho chị nghe. Thí dụ có người để một cái ly ngay góc bàn. Người khác đi ngang lỡ đụng vô cái ly rớt bể thì người này sẽ nói: “Xin lỗi, tại tôi vô ý quá, đụng làm rớt bể cái ly.” Thì người kia nói: “Xin lỗi, phải chi tôi để sát vào trong một tí thì nó đã không bể.” Thành ra hai người có lỗi hết, cho nên xin lỗi nhau thì êm. Còn nhà chị ai cũng giỏi, nên đụng cái là chửi liền: “Ai để đây vậy? Ai mà không biết cẩn thận kĩ lưỡng gì hết trơn vậy.” Rồi bên kia cãi lại. Do ai cũng giỏi hết, nên thành ra cãi lộn. Mà ai cũng dở hết cho nên mới được êm ấm.
Con nhà mình chắc người nào cũng giỏi chứ đâu có ai dở, đúng không? Hay là có khi dở, có khi giỏi. Cho nên tu là hay ở chỗ đó, lạy sám hối ý nghĩa chỗ đó. Lạy sám hối là nhìn lại để nhận lỗi, để điều chỉnh cái lỗi, thì hết lỗi. Còn đằng này vô lạy ào ào, trở ra y chang như cũ, không có khác gì hết, cho nên lạy hoài mà hỏi hết tội chưa cũng không biết. Mục đích của lạy sám hối là nhìn nhận lại để thấy khuyết điểm và điều chỉnh, cho nó thành hoàn chỉnh, mà cái này nó hông chịu chỉnh. Ai chỉnh nó là nó chỉnh người ta lại, chỉnh qua chỉnh lại một hồi là phựt lửa.
***
Câu hỏi tiếp theo, Phật tử hỏi: “Niệm Phật làm sao cho sáu căn được thu nhiếp?” Điều này quý vị cũng có biết qua nhiều bản kinh rồi, nhưng Minh Thành dẫn kinh là dẫn trong Tạng kinh Nikāya, kinh gốc của Đức Phật. Trong kinh Tăng chi bộ, phần Niệm Phật, Đức Phật có dạy:
Có một pháp, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến nhứt hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Một pháp ấy là gì? Chính là niệm Phật.
Chính một pháp này, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến nhứt hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. (Tăng Chi Bộ Kinh I, Chương Một Pháp, XVI. Phẩm Một Pháp, bài kinh Niệm Phật)
Nghe chữ “nhàm chán” quý vị đừng hiểu lầm. Nhàm chán này không phải chán rồi không ăn, không uống, không làm gì hết. Mà nhàm chán ở đây là không còn đam mê theo chiều si mê của vô minh, không thấy, không biết. Thí dụ như mình thấy người ta gây gỗ này nọ với nhau, người ta lôi mình vô. Mình chán cái vụ gây này lắm, chuyện này xưa rồi Diễm. Chuyện gây gổ này là khổ, đã sáu chục năm rồi, bây giờ chán rồi, không muốn đi theo cái sân này nữa. Mình thấy mấy người đồng trang lứa, mình cũng tham, họ rủ mình đi đánh vé số, đánh đề, rủ chơi hụi, rồi đổ hụ tum lum. Rồi đến bị đa cấp gạt, mất biết bao nhiêu tiền. Bây giờ họ rủ mình, mình nói: “Thôi, xưa rồi, tôi nhàm chán mấy vụ này rồi, mấy ông muốn chơi thì chơi đi, mất tiền ráng chịu.” Đó gọi là nhàm chán bằng trí tuệ, không có tham theo kiểu si mê, chứ không phải làm chán là không làm gì hết, mà phải ngày càng tu tập tinh tấn. Những người tu niệm Phật, đúng ra càng niệm Phật chừng nào càng phát triển trí tuệ để mà nhàm chán. Nhàm chán ngũ uẩn, nhàm chán mấy cái cái lòe loẹt, mấy cái đồ dỏm, mấy cái ảo tưởng của cuộc đời. Vật chất lẫn tinh thần đều thấy là vô thường, không đắm đuối, không si mê, không hệ lụy trong đó. Mình một bề nhàm chán, không tham muốn nó nữa. Tâm mình an tịnh lắm. Cho nên trí tuệ được tỏa sáng. Mình sẽ chứng ngộ, thể nhập được Niết bàn, tức là dập tắt hoàn toàn tham, sân, si. Niệm Phật đúng là phải niệm như vậy. Chứ không phải niệm chỉ ở trên môi. Niệm Phật là làm cho phát sinh trí tuệ để thấy rõ sắc pháp, thấy rõ mọi cảm giác là vô thường, thấy rõ mọi thứ trên cuộc đời là trống rỗng, không có cốt lõi. Mình không còn chạy theo đeo đuổi, không còn ham muốn nó nữa thì mình được giải thoát, an tịnh, Niết-bàn. Niệm Phật như vậy chính là của Đức Phật dạy trong Tạng kinh Nikāya cổ điển, gần ba ngàn năm. Niệm Phật chính gốc là niệm như vậy. Niệm làm sao để mình tăng trưởng thêm sự chàm chán. Nhàm chán đối với sắc. Nhàm chán đối với cảm giác. Nhàm chán đối với các thú vui vô thường, ảo mộng của cuộc đời. Nhàm chán đối với những thú vui tạm bợ của thế gian, không có thấy gì vui trong đó.
Lòng mình mỗi khi niệm Phật được an tịnh, yên tịnh, thanh tịnh, hỉ lạc, hoan hỉ. Tu phải vui, chứ không phải tu là ráng ngồi, khi được về là mừng húm. Ở ngoài coi ti vi, nói chuyện đi chơi, nói cười hồ hởi, hớn hở, sung sức, phấn khích lắm. Tới chừng ngồi niệm Phật, méo mặt nghiêng nghiêng qua một bên, trề cái môi ra, một hồi nghiêng luôn qua một bên, đầu gật tới gật lui, rồi nó gục luôn. Một lần Minh Thành thấy có một bà ngồi niệm Phật, nhưng gục gần tới chai nước suối luôn, Minh Thành bái phục luôn. Nào giờ chưa từng ngồi thiền, niệm Phật mà tới mức độ như vậy. Gục đầu còn một tí xíu là chấm vô chai nước suối luôn mà không biết, nghiêng qua ngửa lại giống như trời bão thổi mấy cái cây vậy. Khổ sao là khổ, nhìn tướng tu như vậy khổ vô cùng, tu vậy không được an lạc. Mình không thấy được giá trị, lợi ích quý báu của sự tu tập nên mình tu một cách hời hợt. Tu cho có, tu máy móc, làm cho xong giờ rồi mình đi ra, đó chưa phải là nhiệt tâm, tinh cần. Như vậy không phải tu bằng trái tim, không phải tu bằng sự chân thành, không phải tu bằng sự cung kính đối với Phật, đối với Pháp, đối với Tăng. Tu phải như lửa cháy trên đầu rồi, chạy lẹ lẹ lên. Tu giống như căn nhà lửa đang cháy, chạy lẹ ra, để trong đó một hồi là nó sụp xuống chết. Nó cháy trên đầu mình rồi, cháy đến tóc bạc, răng rụng, cái trán nhăn, da nhăn, lưng còng, tóc bạc, mắt mờ, tai điếc. Chỉ còn sụp xuống nữa là xong. Biết căn nhà nó sụp như thế nào không? No sụp xuống nó đè là xong. Vậy mà không lo, toàn lo ở đó chơi giỡn.
Phật gọi chúng sanh là đáng thương xót. Không có ý thức, không nhớ vô thường, không nhớ già bệnh chết. Già gần chết rồi, khoảng sáu mươi mấy, bảy cục tuổi rồi mà ai khen đẹp lão là mừng, được khen dạo này trẻ hơn lúc trước là khoái, cười, nói “Đâu có”. Giả bộ miệng nói không có nhưng mà khoái. Điều này dễ chết lắm cho nên mình phải chánh niệm. Chánh niệm khi nghe, khi thấy, khi nhìn, khi tiếp xúc, ddùng trí quán vô thường, khổ, vô ngã, đừng có quên. Cho nên cầm xâu chuỗi là phải cầm cho chắc, cầm cho chặt, nếu không một hồi nó rớt, hoặc nhiều khi nó đứt xâu chuỗi là văng ra tùm lum hết. Tâm mình cũng giống như vây, mình không giữ chặt, mình không nắm chắc, thì mình rớt. Có bị rớt hông? Một ngày rớt vô số lần nếu mình không có chánh niệm, không tinh cần, tinh tấn, nỗ lực. Niệm định tuệ, chánh niệm liên tục thì tâm mình mới chuyên nhất, sau đó mình dùng trí quán nhìn cho sâu sắc rồi lúc đó mới có trí tuệ. Trí tuệ mới cứu được mình, đó gọi là tỉnh thức.
Đồng thời trả lời luôn cho câu hỏi về Tỉnh Thức. Tỉnh thức là luôn luôn nhìn thấy được pháp, luôn luôn sự thấy được sự thật, luôn luôn nhìn thấy được thân của mình như thế nào, cảm giác của mình như thế nào, tâm của mình đang suy nghĩ cái gì? Suy nghĩ cái đó là thiện hay bất thiện, suy nghĩ đó có phù hợp với pháp hay không, suy nghĩ cái đó nó có tham, sân, si không? Nếu có là mình nhiếp phục, chuyển hóa, làm cho chấm dứt, không cho nó sanh khởi lên nữa. Luôn luôn biết mọi cử động, đi, đứng; thân mình co, duỗi, cúi, ngước, thân thể sử dụng như thế nào, phải biết như thế ấy, đó gọi là chánh niệm. Tỉnh thức là trong nội tâm có cảm giác sanh khởi, an trú, chấm dứt như thế nào thì mình phải biết. Trong đó có cảm giác gì, có tham, sân, si không, mình phải biết và phải thấy. Luôn luôn biết, luôn luôn thấy, luôn luôn rõ, đó là Chánh Niệm Tỉnh Thức.
***
Đến câu hỏi Thường Kiến và Đoạn Kiến.
Thường kiến là cái thấy biết mà mình cho là thường còn. Mình nghĩ là người chết làm người, vật chất làm vật, con bò chết làm con bò, con heo chết làm con heo, con gà chết làm con gà, mình chết thì đời sau mình sinh ra giống y hệt như bây giờ. Đó gọi là thường kiến, là cái thấy biết thường hằng, thường còn.
Đoạn kiến là nghĩ rằng chết là hết, nhiều người nghĩ như vậy, nên mình cứ ăn chơi đi, cứ việc chơi thoải mái.
Phải chấm dứt cái kiến chấp cho rằng chết rồi là hết và kiến chấp chết rồi nó còn y như vậy hoài. Có hai lối chấp:
Mình là Trần Thị Mít, nghĩ đời sau mình sanh ra cũng là Trần Thị Mít, cũng y chang như vậy, cái đó gọi là chấp thường.
Còn chết rồi là xong, không còn cái gì nữa hết là chấp đoạn.
Đức Phật nói tùy theo nghiệp của mình mà đi theo dòng luân hồi, nó biểu hiện ra thân và tâm. Thí dụ đời này mình là người, biết làm phước, biết bố thí cúng dường, làm những điều lành giúp đỡ những người ngèo khổ, tu tập năm giới đàng hoàng, thì đời sau có thể sanh ra được làm người, có thể tốt hơn bây giờ. Ví dụ như mình sanh ra làm công chúa ở bên Nhật, thái tử bên Thái lan; mình tu nhiều, làm phước nhiều, được bầu lên làm tổng thống Mỹ. Bây giờ mình được làm người mà không chịu tu, cứ ăn chơi sa đọa, không biết giữ giới, không biết giúp người, keo kiệt, bỏn xẻn, rồi hung ác,… thì chết lọt xuống, làm những loài vật súc sanh, làm những con chuột ở trong ống cống, làm con gián trốn chui trốn nhủi, hôi hám, dơ, ai cũng sợ. Vậy mà khoa học bây giờ nghiên cứu sữa gián là bổ nhất, khiếp chưa, ai dám uống? Sanh ra làm con kiến, làm con vi trùng. Quý vị thấy thân này là thân mình, nhưng có biết bao nhiêu vi trùng ở trong đó không? Khiếp không? Nếu quý vị biết trong này có cả ổ chứa vi trùng, cho nên mới có bệnh ung thư, sanh ra bao nhiêu thứ bệnh. Cơ thể của mình có nhiều chúng sanh ở trong đây, chứ không phải có một mình mình, đừng có lầm! Lâu lâu có sán, lãi, không phải là một con mà cả hàng chục con ở trong cơ thể mình. Còn ở trong của ở trong của những con vi khuẩn, vi trùng, của những con siêu vi ở trong đó nữa, nhiều lắm. Cho nên, Đức Thế Tôn nó thân này là ổ chứa nhóm vi trùng, là chỗ phát sinh ra tất cả những bệnh hoạn. Mình không có trí tuệ nên không thấy, tưởng nó sạch, đẹp lắm, cho nên mới bị lây bệnh. Quý vị thấy lây bệnh khủng khiếp không? Vấn đề bệnh gan nước mình có mấy chục triệu người bệnh: Gan siêu vi B, siêu vi C, siêu vi A. Rồi ung thư là 7-8 triệu người, nước mình có 100 triệu thôi mà ung thư gần 1/10. Cho nên đừng tưởng thân này cứ chắc chắn như vậy hoài. Không có đâu, khiếp lắm, ghê lắm. Cho nên phải nhìn thấy như vậy để tạo nghiệp lành, nói lời lành, suy nghĩ lành, để đời sau sanh ra được tốt lành. Suy nghĩ ác, nói lời ác, làm việc ác, đời sau sanh ra chỗ thống khổ. Chắc chắn là như vậy, không thể khác hơn! Đây là lời nói của bậc Chánh Đẳng Giác, lời nói của Đức Phật.
***
Có một cô hỏi: “Phóng sanh có phải tham sống hay không?” Xin thưa quý Phật tử, ở đây mình phải hiểu theo nghĩa là hồi xưa mình ăn mặn, mình tưởng đó là lẽ đương nhiên nhưng bây giờ mình biết đó là gây nghiệp sát. Nhiều khi mình ăn mặn năm chục năm, nếu mà cân thì không biết đã ăn bao nhiêu kí cá, kí gà, kí vịt, kí heo, kí bò. Nhưng mới ăn chay được hai năm, khoe tùm lum. Hồi đó giờ giết không biết bao nhiêu con, mới phóng sanh được chừng 100-200 con chim mà cũng khoe tùm lum, không biết bù vô được số lẻ thịt, cá đã ăn chưa nữa. Mình nghĩ mình làm phước nhiều lắm, nhưng không phải, chưa đủ bù vào cái tội, chưa bù được lãi đẻ ra, chứ nói chi là cái vốn. Thí dụ từ đó giờ mình nợ 1000 con, mà giờ mình phóng sanh có 10 con, là còn lại 990 con. Cho nên, chỉ bớt cái tội một chút, chứ phước cũng chưa có. Chừng nào mà mình phóng luôn 1000 con, sau đó tăng lên thêm thì lúc đó mới tính phước.
Cho nên nói để mình hiểu, tu tập mới có một chút mình đừng tự mãn, mới niệm Phật một chút, mới nghe pháp một chút, thì nói nghe hết trơn, hiểu hết rồi, coi chừng cái đó là sai. Chừng nào hiểu hết thì khi đó mình là Thánh nhân, A-la-hán. Bây giờ mình học Tứ Diệu Đế, Tứ Thánh Đế, đây là khổ, đây là nguyên nhân của khổ, đây là chấm dứt khổ, đây là con đường đưa đến chấm dứt khổ. Mình học hết Tứ Thánh Đế nhưng mình còn khổ không? Vẫn còn vậy sao gọi là học hết? Mình chưa có học được gì hết, nếu học đúng, tốt nghiệp, thì mình phải là A-la-hán, là mình hết khổ, khi đó mới được gọi là học xong. Cho nên, con người chúng sanh mình dễ lấy ít cho là đủ, dễ thỏa mãn với những cái nhỏ, những cái gần. Còn bậc Thánh là trí tuệ đại viên mãn, tâm cầu học là vô cùng vô tận, cho đến khi nào đạt được sự cứu cánh cùng cực mới thôi. Còn mình mới được một chút là khoe tùm lum, cho nên là phàm phu hoài.
Trở lại vấn đề phóng sanh, mình làm như vậy là để chuộc lỗi, ý thức được việc sát sanh là không tốt. Nếu mình có mong cầu được sống khỏe, sống tốt thì cũng đương nhiên thôi, tại vì đây là pháp tương đối để làm phước. Nếu mình phóng sanh mà không phải vì mong cầu ham sống, mình biết đây là tâm từ bi, chuộc những lỗi lầm, cầu đạt đến Niết-bàn, thì phước đó trở thành phước đức vô lậu. Phóng sanh vì mong hưởng tiếp ở đời sau hoặc mai mốt già hưởng, thì phước đó gọi là phước hữu lậu, cũng có phước mà nó nhỏ, nó gần, nó cạn. Còn khi mình phóng sanh hướng tới Niết-bàn: “Con đến phóng sanh, làm phước, cúng chùa, bố thí. Con làm tất cả mọi thứ, không cầu gì hết. Con chỉ cầu gặp được bậc Thánh nhân, gặp được Chánh Pháp, chỉ ra con đường, đạo lộ giải thoát để con thành tựu, chấm dứt hết tất cả phiền não, giải thoát sinh tử, chứng đắc Niết-bàn.”, được như vậy thì phước của quý vị như hư không, cùng khắp mười phương./.