8 Đức Hạnh Thánh Hiền 3
Kinh Nikāya Giảng Giải
8 Đức Hạnh Thánh Hiền 3
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Ba Loại Trai Giới PAGEREF _Toc139034295 \h 1
II. Bốn Dự Lưu Phần PAGEREF _Toc139034296 \h 5
III. Cách Xử Lý Tâm Sân Hận PAGEREF _Toc139034297 \h 7
IV. Bốn Dự Lưu Phần 2 PAGEREF _Toc139034298 \h 13
I. Ba loại trai giới
Trong bài kinh "Ngày trai giới" nói về 8 đức hạnh thánh hiền, trong đó Đức Phật cho chúng ta thấy thế nào là sự tu tập trai giới giống như người chăn bò, thế nào là sự tu tập trai giới của người ngoại đạo, thế nào là sự tu tập trai giới của bậc Thánh đệ tử.
"Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ), Pubbarama (Ðông viên), lâu đài của mẹ Migara. Rồi Visakha, mẹ của Migara, trong ngày Uposatha (Bố-tát trai giới) đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Visakha, mẹ của Migara đang ngồi xuống một bên:
- Này Visàkhà, từ đâu bà đến sáng sớm như thế này?
- Bạch Thế Tôn, hôm nay con thọ trai giới.
- Có ba loại trai giới này, này Visàkhà. Thế nào là ba?
Trai giới người chăn bò,
Trai giới Niganthà,
Trai giới bậc Thánh" (Tăng Chi Bộ, Chương III – Ba Pháp, VII. Phẩm Lớn, Các Lễ Uposatha)
Tu tập trai giới như người chăn bò là hỏi ăn cái gì, suốt ngày lo tham dục, tham ăn, tuy rằng tu nhưng lại đòi hỏi, tham muốn.
"Như thế nào, này Visàkhà, là trai giới người chăn bò ?
Ví như, này Visàkhà, người chăn bò vào buổi chiều lùa các con bò về cho chủ của chúng. Người ấy suy nghĩ : 'Hôm nay, các con bò đã ăn cỏ tại chỗ này và chỗ này, đã uống nước tại chỗ này và chỗ này. Này mai, các con bò đã ăn cỏ tại chỗ này và chỗ này, đã uống nước tại chỗ này và chỗ này'.
Cũng vậy, này Visàkhà, ở đây có người giữ trai giới suy nghĩ : 'Hôm nay, ta đã ăn loại đồ ăn cứng này, loại đồ ăn Tu trai giới của Đức Phật và các bậc Thánh chính là làm cho cứng này ta đã ăn loại đồ ăn mềm này, loại đồ ăn mềm này. Ngày mai ta sẽ ăn loại đồ ăn cứng này, loại đồ ăn cứng này ; ta sẽ ăn loại đồ ăn mềm này, loại đồ ăn mềm này'. Như vậy, người ấy sống cả ngày với tâm đồng hành với tham dục. Như vậy, này Visàkhà, là trai giới người chăn bò.
Trai giới của người ngoại đạo là tu trên ảo tưởng, không lo quay trở lại để diệt tham, sân, si, diệt bản ngã mà cứ mộng mơ viễn vông không có thật, không quay trở lại diệt trừ những ý nghĩ bất thiện, những suy tư xấu ác, nội tâm cấu nhiễm không lo tẩy rửa, không lo làm sạch mà cứ ảo tưởng, mộng mơ, van xin, không có quay lại thân tâm một cách thiết thực, hiện tại, nhân quả rõ ràng, không thấy được tâm cấu uế.
"Này Visàkhà, thế nào là trai giới các Nigantha ? Ở đây, này Visàkhà, có hạng Sa-môn tên là Niganthà, họ khích lệ đệ tử như sau : 'Ông hãy quăng bỏ trượng với các sinh loại sống ở phương Đông, ngoài một trăm do tuần. Hãy quăng bỏ trượng với các sinh loại sống ở phương Tây, ngoài một trăm do tuần … sống ở phương Bắc … sống ở phương Nam, ngoài một trăm do tuần.' Như vậy, họ khích lệ vì lòng thương, vì lòng từ mẫn đối với một số sinh loại mà thôi, họ không khích lệ vì lòng thương, vì lòng từ mẫn, đối với một số sinh loại khác. Trong ngày Uposatha, họ khích lệ đệ tử như sau : 'Này các Ông, hãy quăng bỏ tất cả áo quần và nói như sau : 'Ta không có bất cứ vật gì, bất cứ ở đâu, bất cứ chỗ nào. Bất cứ vật gì, bất cứ ở đâu, bất cứ chỗ nào, không có cái gì là của ta''. Nhưng cha và mẹ của người ấy biết người ấy là con của mình. Và người ấy biết họ là cha mẹ của mình. Vợ và con người ấy biết người ấy là chồng, là cha của mình, và người ấy biết họ là vợ, là con của mình. Các người nô tỳ làm công biết người ấy là chủ của họ. Và người ấy biết họ là nô tỳ, là nhân viên của mình. Như vậy, trong thời gian đáng phải khích lệ đúng với sự thật, trong thời gian ấy, lại được khích lệ bằng điều nói láo. Đây Ta tuyên bố là một sự nói láo. Sau khi đêm ấy đã qua, người ấy thọ hưởng tất cả tài sản chưa đem cho. Đây Ta tuyên bố là lấy của không cho. Như vậy, này Visàkhà, là lễ Uposathà của các Niganthà. Được sống thực hành như vậy, này Visakha, Uposatha không quả lớn, không lợi ích lớn, không chói sáng, không ánh sáng lớn" (Tăng Chi Bộ, Chương III – Ba Pháp, VII. Phẩm Lớn, Các Lễ Uposatha)
Sau đây là sự tu tập trai giới của Đức Phật và các bậc Thánh đệ tử:
"Và này Visàkhà, thế nào là trai giới các bậc Thánh? Chính là làm thanh tịnh một tâm uế nhiễm với phương pháp thích nghi" (Tăng Chi Bộ, Chương III – Ba Pháp, VII. Phẩm Lớn, Các Lễ Uposatha)
Câu này rất quan trọng và là cốt lõi của chánh pháp, trai giới của bậc Thánh là làm trong sạch cái tâm dơ bẩn với những phương pháp thích nghi đúng cách. Tâm mình dơ bẩn nhưng có người chỉ cho cái dơ là mình không đồng ý, đó là cái dở của mình, vì bản ngã, vì cái tôi, vì sĩ diện, vì hư danh mà mình sống trong những cái ảo tưởng không chấp nhận sự thật, mình tu mãi mà chỉ tu trên giả dối chứ không có tu thật.
Tu thật là có ai đến nói "tôi thấy chị còn sân si dữ lắm" thì mình phải "dạ, chị cám ơn em, chị cũng thấy như vậy, chị đang cố gắng tập để giảm cái sân, chị cũng đang tu tập tâm từ mà chưa được nhiều. Cám ơn em", như vậy mới là tu thật. Thấy đồ cúng ngon quá nên lấy ăn thì có người nói "cái này không được, chị đã xin chưa? Chị làm vậy là sai rồi, là lấy của không cho" thì mình phải "chị sám hối với em, chị xin lỗi, vì cảm giác thúc giục nhanh quá nên chị chưa kịp xin", như vậy mới gọi là tu thật, mới gọi là hiền giả, chân tu, mới là người thật sự muốn tu sửa thành ra chúng ta với một cái tâm chân thành thì tu học mới có kết quả thật sự. Khi mình có lỗi thì người ta chỉ cho mình bằng tình thương, bằng từ tâm, bằng tất cả tấm lòng thì Đức Phật gọi những người đó đang chỉ chỗ chôn vàng cho mình.
"Nếu thấy bậc hiền trí,
Chỉ lỗi và khiển trách,
Như chỉ chỗ chôn vàng
Hãy thân cận người trí!
Thân cận người như vậy,
Chỉ tốt hơn, không xấu"
(Kinh Pháp Cú 06 – Phẩm Hiền Trí, kệ 76)
Vì mình không nhìn thấy thân tâm một cách chính xác, đúng đắn, mình chỉ thấy cái tôi của mình nên mình tu không được, chỉ làm được một chút phước thiện bên ngoài thôi, còn ai đụng tới là mình khó chịu, sân si. Chính vì vậy đi chùa mãi, tụng niệm mãi nhưng vẫn khổ, chạm vào là sừng sộ, đụng vô là phẫn nộ, nói tới là sân hận lên nên cứ khổ mãi, không có ngày hết khổ. Bát quan trai giới đúng ý nghĩa của Đức Phật là tẩy sạch một cái tâm dơ, phải nhớ kĩ điều này, chính cái tâm dơ đó làm cho mình khổ, làm cho chồng con mình khổ, làm cho ông bà, anh chị em trong nhà khổ vì mình, cũng vì tâm dơ mà người khác làm cho mình khổ. Những cái tâm tham lam, dối trá, tráo trở, lật lọng, mưu hại, mưu mô làm cho nhau khổ đau với nhau, còn tu là tẩy rửa những cái tâm đó, làm sạch những cái tâm đó nhưng muốn rửa tâm dơ này thì đầu tiên phải thấy được nó, giống như trên mặt mình thấy chỗ nào dơ thì mình mới lau chùi được, muốn thấy thì phải soi gương. Muốn cho mặt sạch thì phải lau rửa, muốn lau rửa thì phải thấy, muốn thấy thì phải soi gương, cũng vậy, muốn rửa tâm cấu nhiễm thì phải thường xuyên nhìn lại tâm, tức là nhận diện ngũ uẩn, tức là nhìn lại những cảm giác, nghĩ tưởng trong người của mình, đó là pháp soi gương.
Hằng ngày mình phải nhìn lại mình đang nghĩ cái gì, mình đang có cảm giác gì, mình đang có hình bóng gì. Mình kiểm soát cái thân, kiểm soát suy nghĩ, kiểm soát những cảm giác, kiểm soát những hình bóng trong tâm. Mình buôn bán tính lời lỗ rất giỏi nhưng tại sao tu tiến hay lùi lại không biết? Tức là tâm mình rất sắc bén trong thế gian, trong tiền tài vật chất nhưng lại không sắc bén trong tu tập trí tuệ, do chúng ta để tâm vào những thứ thế gian rất nhiều còn trong pháp lại rất ít, do vì để tâm vào pháp ít nên mình không thấy rõ tâm, không thấy rõ sự cấu nhiễm của tâm, những gì làm cho mình khổ thì mình không biết, nguyên nhân đưa đến khổ mình không biết, mình chỉ biết than trời trách đất, hờn người này người kia, mình buồn bã, tức giận trong khi tất cả những cái khổ đó là từ bên trong tâm mình ra, từ cảm giác, nghĩ tưởng, từ những cái nghiệp trong quá khứ, đến đúng lúc chín muồi nó sẽ biểu hiện ra, gọi là quả dị thục của nghiệp.
Không phải trồng cây sẽ có trái chín liền, 5 năm sau, có khi 8 năm sau tùy theo loại cây mới có trái, trồng xà lách, rau thơm sẽ ra nhanh, còn trồng sầu riêng, vú sữa thì lâu có trái, nghiệp cũng vậy, có những nghiệp sẽ có kết quả ngay, mình chửi người ta thì người ta chửi lại, mình khen người ta thì người ta khen lại, đó là kết quả nhãn tiền, cũng có những nghiệp mình làm nhưng chưa có kết quả liền mà tháng sau, 3 tháng sau, 6 tháng sau, thậm chí cả năm, vài năm sau mới trổ ra nghiệp thì lúc đó mới bất ngờ, đó gọi là quả dị thục của nghiệp, là sự chín muồi của nghiệp.
Vấn đề đây không phải là quả ngọt mà là quả đắng, có khi không phải 3 năm, 5 năm hay 10 năm mà là gần cuối cuộc đời thì quả đó mới trổ ra, vì mình vô minh, không thấy không biết nhân quả nên khi nó trổ ra rồi mình oán hờn, trách giận "tại sao tôi tốt hết mà lại chịu như vậy", đó là không đúng vì nhân quả rất công bằng. Có những nghiệp quả đời sau mới trổ "từ nhỏ đến lớn tôi không làm gì cả mà lại gặp chuyện như vậy", đó là do đời trước, trong Nikāya Đức Phật giảng tất cả những phương diện, khía cạnh về nghiệp, Đức Phật nói ngài chứng ngộ Chánh Đẳng Chánh Giác khi ngài thấu suốt hết tất cả góc độ, khía cạnh, phương diện của nghiệp và quả của nghiệp cho nên khi tất cả những chuyện trên đời này đến với mình thì mình không trách ai cả mà phải quay trở lại coi nhân quả trong mình, không có bất cứ một ai ban phước hay giáng họa cho mình mà do mình là kẻ thừa kế của nghiệp, nghiệp là bà con, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa, mình là chủ nhân của nghiệp, mình tạo ra rồi mình sẽ thừa hưởng nghiệp đó.
II. Bốn dự lưu phần
Sau đây Đức Phật đưa ra bốn pháp là bốn dự lưu phần giúp cho mình vào dòng trí tuệ, dòng pháp, dòng Thánh. Gồm có niệm Phật, niệm pháp, niệm Tăng và giới, thành tựu các giới hạnh, đây là bốn điều kiện, bốn thứ nếu có đủ thì vào được dòng trí tuệ, vào dòng hiền Thánh. Đức Phật nói người tu để làm tâm thanh tịnh thì phải tu bốn pháp này, đầu tiên là niệm Phật nhưng niệm Phật không chỉ là niệm danh hiệu Phật vì đó chỉ là bước ban đầu giúp chúng ta lúc sơ cơ. Còn niệm Phật mà Đức Phật dạy là niệm ân đức của Phật, niệm đức hạnh của Phật, niệm công đức của Phật.
Con chân thành đảnh lễ
Phật Thích Ca Mâu Ni
Lậu Tận tự Chánh Giác (A-la-hán Chánh Đẳng Giác)
Đây là danh hiệu thứ nhất, giải thích chữ A-la-hán Chánh Đẳng Giác. Như thế nào là lậu tận tự Chánh Giác? Nghĩa là tự ngài giác ngộ, không có thầy chỉ cho ngài, tự ngài đi tìm ra được con đường sạch hết cấu uế trong nội tâm, từ ngài tìm cách làm sạch tâm hoàn toàn không do một ai hướng dẫn, như vậy gọi là lậu tận tự Chánh Giác. Vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác là không có người thứ hai cao hơn hoặc là ngang bằng ngài, không ai chỉ dẫn cho ngài mà tự ngài tìm kiếm ra cho nên mới tôn xưng là bậc tối tôn tối thượng giữa chư thiên và loài người, giữa tất cả các hàng Thánh thì ngài là Thánh chung chi Thánh và Thánh chung chi vương nghĩa là vua trong tất cả các hàng Thánh, không có một người nào có thể giác ngộ bằng ngài, đó là đức hiệu thứ nhất niệm về ngài là bậc không thầy tự ngộ.
Trí Đức thật tròn đầy (Minh Hạnh Túc)
Thiện xảo thoát trầm luân (Thiện Thệ)
Thông giải tâm nhân thế (Thế Gian Giải)
Trí Tuệ đạt Vô Thượng (Vô Thượng Sĩ)
Điều phục bậc Trí nhân (Điều Ngự Trượng Phu)
Thầy của Trời và Người (Thiên Nhân Sư)
Thấy và Thoát cấu uế (Phật)
Được Thế giới Tôn vinh (Thế Tôn)
Đạt Nhất như tâm trí (Như Lai)
Trước sau không thay đổi,
Giới Định Tuệ viên thành,
Tham sân si diệt tận,
Phiền não được phá trừ
Sanh tử được chấm dứt
Ngài thoát mọi khổ đau.
Con thật kính phục Ngài,
Bậc Vô Thượng Chánh Giác
Con thật kính ngưỡng Ngài
Bậc Vô Thượng Thanh Cao
Con xin quy phục Ngài.
Bậc Vô Thượng Thanh Tịnh
Con xin đảnh lễ Ngài,
Bậc Vô Thượng Giải Thoát.
Đó là chúng ta niệm 10 đức hiệu của Phật, nhớ những đức hạnh của ngài, niệm nghĩa là nhớ, Đức Phật dạy niệm tử nghĩa là nhớ mình sẽ chết, niệm pháp là nhớ về Tứ Thánh Đế, nhớ cuộc đời này là khổ, nhớ tham, sân, si này làm cho mình khổ đau, mình phải diệt những cái này thì mình mới hết khổ, đó chính là niệm pháp. Mình nhớ hòa thượng trưởng lão, mình nhớ hòa thượng trụ trì Thượng Thiện Hạ Bình, nhớ lại công lao, đức hạnh của các ngài thì đó là niệm Tăng hoặc là niệm về ngài Anan, niệm về đức hạnh ngài Xá-lợi-phất tu hạnh nùi giẻ rách, ngài quán ngài là con người thấp hèn nhất trong cuộc đời này, lúc nào cũng khiêm hạ.
Nguyện tâm như địa, thủy, hỏa, phong
Rộng rãi, bao dung, chẳng buộc ràng,
Nguyện tâm như miếng nùi giẻ rách
Có gì để lên mặt, hơn thua.
Mình nhớ lại đức hạnh của các bậc Thánh hiền, đó là niệm Tăng, niệm pháp chứ không phải niệm "nam mô Xá-lợi-phất, nam mô Xá-lợi-phất", đó chỉ mới niệm cái tên thôi, còn ở đây là niệm đức hạnh, niệm trí tuệ. Mình niệm tên giống như mới học lớp 1, lớp 2, còn niệm tới đức hạnh, đạo hạnh giống như mình học lớp 10. Khi niệm như vậy thì người ấy sanh khởi lên niềm tin, phát khởi thêm lòng tin đối với Phật, mình càng tin tưởng Phật thêm nữa, mình hân hoan, các phiền não trong tâm được chấm dứt.
Ví dụ mình ngồi nhớ lại Đức Phật ngày xưa còn là thái tử mà bỏ hết cung vàng điện ngọc, vợ đẹp con xinh, còn mình bây giờ có đôi dép bỏ không nổi hay sao nếu lỡ mất dép, mình phải ngồi quán như vậy. Mới mất đôi dép là sân si lên, có ai mặc nhầm áo tràng của mình là khó chịu, lỡ có những tai nạn, thất thoát trong chuyện làm ăn hoặc con cái trong gia đình phá của thì phải quán "Đức Phật còn bỏ hết tất cả, mình là con Phật cũng phải bỏ như vậy, tâm mình xả bỏ. Bây giờ có sân hận lên cũng mất rồi, không thể có lại được nên thôi xả bỏ, mình tu tập tâm xả. Tâm xả này hiền thiện, tâm xả này nhẹ nhàng, tâm xả này mang yên ổn, tâm xả này thật dễ chịu, thoải mái, thật là bình yên. Thôi buông đi, bỏ đi, xả đi". Khi mình nhớ nghĩ như vậy thì các phiền não khi tiếc món đồ hoặc là sự sân hận, bực bội đứa con được lắng dịu, đó là công đức của niệm Phật.
"Do vị ấy niệm Như Lai, tâm được tịnh tín, hân hoan sanh khởi, các phiền não của tâm được đoạn tận"
(Tăng Chi Bộ, Chương III – Ba Pháp, VII. Phẩm Lớn, Các Lễ Uposatha)
III. Cách xử lý tâm sân hận
Bây giờ ra đường gặp người kia nói mình như vậy, về nhà mình nhớ lại Đức Phật bị Đề-bà-đạt-đa xô đá suýt mất mạng, chảy máu chân nhưng ngài vẫn trải tâm từ thương Đề-bà-đạt-đa, bây giờ mình chỉ bị nói một câu nên xả bỏ "tâm từ ơi, tình thương ơi".
Ta khơi dậy trong ta
Tình thương và từ tâm
Ta khơi dậy trong ta
Từ tâm và tình thương.
Tình thương sống trong ta,
Từ tâm sống trong ta.
Tình thương có trong ta,
Từ tâm có trong ta.
Ta có nhiều tình thương
Tình thương cảm thân này
Tình thương cảm thọ này
Thọ này ta hiểu thương.
"Ngươi đã tức giận trong vô lượng vô biên kiếp rồi nên ngươi đáng thương quá. Tình thương ơi hãy lan tỏa ra", mình thương mình, thương cơn giận của mình, thương người kia và thương cơn giận của người kia, mình đưa tình thương của mình lan tỏa khắp mọi nơi, thế là tâm giận được lắng dịu, đó là niệm Phật, niệm pháp có công đức, có lợi ích.
Còn bây giờ cứ ráng kiềm chế cơn giận thì chỉ được vài bữa nó cũng bung ra, nó không giải quyết được vấn đề căn nguyên gốc rễ trong tâm, ngoài miệng chỉ niệm Phật để đè cảm giác tức giận xuống, còn ở đây niệm là nhắm khơi mở nút thắt đó, mình hiểu thấu vấn đề đó, sự việc đó, tâm thức đó, con người đó nên mình không đè nén.
Mình không né tránh vấn đề mà mình nhìn sâu vào vấn đề rồi tháo gỡ nó ra, cái này sẽ trị tận gốc, mở hết tất cả nội kết, thắt gút bên trong, còn cái kia là tránh né, đè nén, một ngày không đè nổi nữa thì bùng nổ, đó là mình tu theo cách đè nén, còn đằng này mình tu là mở tung nó ra, mình biết cảm thọ giận này làm mình khổ, cảm thọ giận này làm cho người kia khổ, làm cho tất cả mọi người khổ, bây giờ không muốn khổ nữa thì bỏ cảm thọ này đi, đẩy nó ra khỏi tâm, mình để sanh khởi lên cảm thọ thương cho thật lớn để đủ sức đẩy cảm thọ giận ra khỏi con người mình, trong người mình chỉ toàn là tình thương ngọt ngào, dạt dào, từ đảnh tóc đến gót chân là cảm giác thương sao là thương, không còn giận ai nữa, người nào ghét mình nhiều thì mình còn thương hơn những người khác vì mình biết người này rất khổ, càng giận nhiều thì càng khổ nhiều.
Giữa một cảm giác giận và cảm giác thương thì cái nào dễ chịu, cái nào khó chịu? Tất nhiên giận sẽ khó chịu nhưng cảm giác thương của ái nhiễm vẫn khó chịu cho nên yêu thương mà chia lìa, không gặp là khổ, còn cái thương ở đây vượt lên cái thương bình thường, cái thương này là tâm từ bi chứ không phải thương theo luyến ái. Từ bi sẽ khác với cái thương trong luyến ái vì mầm móng khổ nằm trong cái thương trong luyến ái.
Có một ông đó chỉ có một đứa con duy nhất nhưng nó lại mất mạng, ổng đi khắp nơi kêu gào cứu con, ông đi tới Đức Phật thì Đức Phật nói thương là khổ đau tức là ái, ông không chịu vì tại sao thương lại khổ, thương phải là hạnh phúc. Ông đi về tâm sự với những người bạn thì họ cũng nói Sa-môn Gotama nói sai rồi, thương làm sao khổ được, thương là hạnh phúc.
Câu chuyện này đồn đến tai vua Ba-tư-nặc thì nhà vua nói tới hoàng hậu rằng sư phụ của hoàng hậu nói yêu thương là đau khổ, người bình thường không ai chấp nhận câu nói "yêu thương là đau khổ" vì họ nghĩ ghét mới đau khổ thì hoàng hậu hỏi lại bệ hạ thương ai nhất thì bệ hạ nói người thương hoàng hậu nhất. Hoàng hậu nói nếu lỡ bệ hạ nhìn thấy mình nói cười, âu yếm người đàn ông khác thì bệ hạ sẽ thế nào, nhà vua bất ngờ không nói nên lời. Lúc này hoàng hậu nói thật sự mình thương bản thân mình nhất hạng, mình thương người ta thì người ta phải làm cái gì đó cho mình thì mình mới thương, còn nếu người đó làm ngược lại không phục vụ cho tự ngã của mình thì mình không thương nữa, cũng như hoàng hậu ví dụ nếu nhà vua thấy người âu yếm người khác thì nhà vua không còn thương hoàng hậu nữa.
Ngoài ra còn một khía cạnh khác là có nhiều vị đi đến khóc với Đức Phật vì người thân mất, đó là bà Visakha vừa mất đứa cháu nội nên bà khóc lóc nhớ thương, Đức Phật hỏi bà có muốn có thật nhiều con cháu trong thành này không thì bà nói muốn, Đức Phật nói nếu vậy thì bà sẽ khóc mãi vì ngày nào cũng có người chết, bây giờ chỉ có một đứa đã khóc như vậy, ngày nào cũng có người mất thì khóc suốt cả ngày, từ ngày này qua ngày nọ. Lúc này Đức Phật giải thích ái là khổ, tâm luyến ái ràng buộc là khổ đau.
"Ái luyến sinh sầu ưu,
Ái luyến sinh sợ hãi.
Ai giải thoát ái luyến
Không sầu, đâu sợ hãi?"
(Kinh Pháp Cú 16 – Phẩm Hỷ Ái, kệ 213)
Mình đi mua bình bông rất ưng ý mà lỡ có ai làm bể bình bông thì mình sân si, khó chịu, khổ đau, nhà kế bên làm bể hình bông của họ thì mình có khổ không? Mình không khổ vì đó là bình bông của họ, còn mình khổ vì mình thích bình bông đó, mình yêu cái bình bông đó, mình cho rằng đây là bình bông của mình, mình chưng bông ưng ý cho nên Đức Phật nói yêu là khổ, cái tâm luyến ái, chiếm hữu cho rằng đó là của tôi, cái đó chính là nguồn gốc của khổ.
Chỗ này nhằm phân biệt với tâm từ bi vì tâm từ bi không giống như vậy, cái này có khi đi chùa đến chết mình cũng không biết, mình không phân biết được cái nào là ái, cái nào là từ. Yêu thương thường tình của sự trói cột, yêu thương của sự sở hữu, hệ lụy thì gọi là ái, còn từ là thương cảm giác giận này hành hạ mình và hành hạ tất cả chúng sanh, người đang tức giận mình là mình thương cơn giận của họ đang làm khổ cho họ, cái thương đó mới là từ bi.
Mình không còn cái thấy "người kia chửi tôi" mà mình thấy một cảm giác tức giận đang xâm chiếm áp đảo, thiêu đốt và hành hạ chúng sanh, cái thấy đó gọi là thấy pháp, thấy bằng trí tuệ, còn cái thấy "người kia đang khinh khi tôi, đang mắng chửi tôi" thì cái thấy đó là của phàm phu không biết tu. Nếu mình chọn cái thấy không biết tu của phàm phu thì mình khổ dài dài, khổ vô lượng vô biên kiếp, không bao giờ hết khổ, còn chọn cái thấy của người tu thì tâm mình sẽ rộng mở ra.
Cảm giác tức giận này đã làm mình đau khổ biết bao, một người trước mặt mình đang đau khổ vì cảm giác đó, ngoài kia cũng có biết bao người đang đau khổ vì cảm giác đó mà họ không thấy không biết trong khi mình thấy biết thì mình thương họ, cũng như họ mù không thấy đường còn mình thấy đường thì mình phải thương những người đó.
Cái thấy biết đó, cảm giác thương đó là tâm từ của đạo Phật, tâm đại bi, lòng xót thương rộng lớn cùng khắp, nhìn tất cả chúng sanh trên hành tinh này đều là những kẻ đáng thương, dù cho có là người quyền uy, giàu có cỡ nào nhưng vẫn bị tham, sân, si làm cho khổ thì vẫn là người đáng thương, con chó, con kiến, gián, muỗi… bị nghiệp quả làm cho thành ra như vậy, tất cả các loài hữu tình trong ngũ uẩn này đều khổ đau trong cảm giác tham, sân, si, dục ái, bản ngã này nên tình thương của mình bao la, rộng lớn, bao phủ khắp tất cả hành tinh này, đó gọi là từ tâm vô lượng, lòng thương bao la, rộng lớn, Đức Thế Tôn và các bậc Thánh là sống với tâm này cho nên ngài không giận. Khi Đức Phật ôm bình bát đi khất thực thì đệ tử một vị Bà-la-môn tán thán ngài trong khi vị Bà-la-môn đó thì chửi mắng nhưng Đức Phật vẫn bình thản, ung dung, đi nhẹ nhàng, cảm giác giận đang thiêu đốt người đó mà mình còn đi giận họ nữa thì cả mình cũng khổ, họ cũng khổ, rồi cùng tạo ra cái khổ, chỉ có người ngu mới sống như vậy thôi, bậc trí không có sống như vậy.
"Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
Bà-la-môn Akkosaka Bhàradvàja được nghe Bà-la-môn thuộc dòng họ Bhàradvàja đã xuất gia với Thế Tôn, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
Ông phẫn nộ, không hoan hỉ, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói những lời nói không tốt đẹp, ác ngữ, phỉ báng và nhiếc mắng Thế Tôn.
Ðược nghe nói vậy, Thế Tôn nói với Bà-la-môn Akkosaka Bhàradvàja:
-- Này Bà-la-môn, Ông nghĩ thế nào? Các thân hữu bà con huyết thống, các khách có đến viếng thăm Ông không?
-- Thưa Tôn giả Gotama, thỉnh thoảng, các thân hữu, bà con huyết thống, các khách có đến viếng thăm tôi.
-- Này Bà-la-môn, Ông nghĩ thế nào? Ông có sửa soạn cho họ các món ăn loại cứng, loại mềm và các loại đồ nếm không?
-- Thưa Tôn giả Gotama, thỉnh thoảng tôi sửa soạn cho họ các món ăn loại cứng, loại mềm, các loại đồ nếm.
-- Nhưng này Bà-la-môn, nếu họ không thâu nhận, thời các món ăn ấy về ai?
-- Thưa Tôn giả Gotama, nếu họ không thâu nhận, thời các món ăn ấy về lại chúng tôi.
-- Cũng vậy, này Bà-la-môn, nếu Ông phỉ báng chúng tôi là người không phỉ báng; nhiếc mắng chúng tôi là người không nhiếc mắng; gây lộn với chúng tôi là người không gây lộn; chúng tôi không thâu nhận sự việc ấy từ Ông, thời này Bà-la-môn, sự việc ấy về lại Ông. Này Bà-la-môn, sự việc ấy chỉ về lại Ông. Này Bà-la-môn, ai phỉ báng lại khi bị phỉ báng, nhiếc mắng lại khi bị nhiếc mắng, gây lộn lại khi bị gây lộn, thời như vậy, này Bà-la-môn, người ấy được xem là đã hưởng thọ, đã san sẻ với Ông. Còn chúng tôi không cùng hưởng thọ sự việc ấy với Ông, không cùng san sẻ sự việc ấy với Ông, thời này Bà-la-môn, sự việc ấy về lại Ông! Này Bà-la-môn, sự việc ấy về lại Ông!"
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương VII. Tương Ưng Bà La Môn, I. Phẩm A-La-Hán Thứ Nhất, II. Phỉ Báng)
Người ta không bị thiêu đốt mà mình còn đổ dầu vào lửa nữa hay sao? Những người đó là những người thân thương với mình, là cha mẹ, ông bà, anh chị em, vợ chồng của mình chứ không phải ai xa lạ, vì vậy chúng ta phải trải tâm từ, ngày nào cũng phải trải tâm từ, giờ nào cũng phải trải tâm từ. Mình không biết thương mình thì ai thương mình? Thương mình là đừng để mình đi theo những cảm xúc tức giận đó, thương mình là đừng để mình đi theo những cảm giác hơn thua đó, thương mình là đừng để mình đi theo những cảm giác thị phi, đúng sai, tranh giành, đấu đá nhau.
Hãy thương mình thật nhiều đi quý vị ơi! Mình không biết thương mình thì tội nghiệp cho mình lắm, phải tập thương mình thật nhiều, đừng để những cảm giác tức giận, bốc cháy, thiêu đốt hành hạ mình, hành hạ người, làm khổ mình, làm khổ người. Biết bao đời biết bao kiếp, đã mấy chục năm qua chúng ta không nhìn thấy được bộ mặt của cảm giác, chúng ta không biết chăm sóc, không biết tưới tẩm, không biết nuôi dưỡng những cảm giác dễ chịu, ngọt ngào, yêu thương, tha thứ, bao dung, độ lượng, chúng ta để những cảm giác ghim gút, châm chích, hơn thua, tức giận làm chúng ta khổ, người xung quanh khổ, bây giờ thấy được nó rồi nên chúng ta quyết tâm không làm khổ mình, khổ người nữa, lúc nào chúng ta cũng tươi mát, lúc nào chúng ta cũng dạt dào, lúc nào chúng ta cũng dễ chịu, dễ thương. Một người được như vậy thì hạnh phúc biết bao.
Mình phải thực tập làm sao để mình thích nghi với mọi hoàn cảnh trong đời sống này, lúc bình thường mình tập dễ chịu, đến khi hoàn cảnh bất thường đến mình cũng tập được sự dễ chịu, đến lúc cái rất khó chịu đến với mình thì mình vẫn dễ chịu được thì mới tuyệt diệu. Tu là phải thực tập, tu là chỉnh sửa, tu là phải luyện, tu là phải hành trì, tu tập là phải thực hành tới hành lui cho được mới thôi, tu là phải hành trì nghĩa là phải giữ những điều đó trong tâm mình, giữ những cảm thọ ngọt ngào, hiền từ trong tâm không để cho mất đi, như vậy gọi là tu trì.
Trước mặt mình là ổ gà, xe tải thì mình chạy xe lách qua hay đâm thẳng vào luôn? Tất nhiên là lách nhẹ qua để tránh nguy hiểm, còn mình phóng tới luôn thì tai nạn xảy ra, đó là mình điều chỉnh hướng đi của tâm, mình lèo lái cảm thọ trong con người mình chứ không phải cứ xông tới, tiến tới rồi rơi xuống vực, đó là sự tu chỉnh, tu sửa, tu cho uyển chuyển, khéo léo. Tu tâm là mình chỉnh sửa tâm mình, sửa cảm thọ bực bội, sân si đó lại thành ngọt ngào, dễ chịu, như vậy cái tu mới có ý nghĩa, giá trị vô cùng chứ không phải tu trên hình thức, tu cho có rồi trở ra cũng chứng nào tật đó, tụng 30 năm mà cái sân vẫn to tướng, chúng ta phải quyết tâm chỉnh lại chứ không phải lên ngồi tụng như trả bài cho Phật.
IV. Bốn dự lưu phần 2
Một người lúc nào cũng có cảm giác dễ thương, ngọt ngào, an tịnh, lắng dịu, nhẹ nhàng, từ ái, lúc nào tâm cũng bao dung, độ lượng, rộng lớn, yêu thương dạt dào thì người đó hạnh phúc biết dường nào, người đó tuy rằng bước đi trên mặt đất nhưng giống như đang sống trong cảnh giới của chư thiên, gọi là thiên nhân. Cái tâm nhẹ nhàng như mây, như khói, như sương thì mới lên cao được, còn tâm sân hận, hơn thua nặng nề như tảng đá thì phải chìm xuống thôi, cho nên phải làm sao để người mình lúc nào cũng dễ chịu, an lạc, an vui, an bình, an tịnh, an ổn. Tuyệt vời như vậy mà không chịu tu thì thật uổng phí, mình niệm Phật, niệm pháp như vậy thì tâm cấu uế sẽ được gột sạch, đó là Đức Phật đang dạy mình niệm Phật, niệm pháp, niệm Tăng.
"Ví như, này Visàkhà, đầu uế nhiễm được gột sạch với phương pháp thích nghi.
Và này Visàkhà, thế nào là đầu uế nhiễm được gột sạch với phương pháp thích nghi?
Do duyên bột nhồi, do duyên đất sét, do duyên nước và do duyên nỗ lực thích nghi của con người. Như vậy, này Visàkhà, là đầu uế nhiễm được gột sạch với phương pháp thích nghi. Cũng vậy, này Visàkhà, là tâm uế nhiễm được gột sạch với phương pháp thích nghi.
Ở đây, này Visàkhà, Thánh đệ tử niệm pháp: 'Pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng, thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu'. Do người ấy niệm Pháp, tâm được tịnh tín, hân hoan sanh khởi, các phiền não của tâm được đoạn tận. Này Visàkhà, đây gọi là Thánh đệ tử thực hành pháp trai giới, vị ấy sống với pháp. Chính nhờ pháp, tâm vị ấy tịnh tín, hân hoan sanh khởi, các phiền não của tâm được đoạn tận. Như vậy, này Visàkhà, là tâm uế nhiễm được gột sạch nhờ phương pháp thích nghi"
(Tăng Chi Bộ, Chương III – Ba Pháp, VII. Phẩm Lớn, Các Lễ Uposatha)
Pháp được Thế Tôn thuyết giảng thiết thực, hiện tại, ngay tại đây, hiện tại nãy giờ tâm quý vị có dễ chịu không? Trong lồng ngực có sanh khởi tình thương không? Đó là sự thiết thực, hiện tại, mình thương mình vì cơn giận làm mình khổ, mình thương người giận mình vì cơn giận làm cho người giận mình khổ, có biết bao chúng sanh vì cơn giận làm cho người ta đau khổ. Khi mình ngồi chiêm nghiệm, quán sát thì mình sẽ thấy rất nhiều những con người đang đau khổ vì cơn giận, mình sẽ có một cảm thọ xót thương lan tỏa ra, đó là sự thiết thực, hiện tại, ngay đây và ngay bây giờ.
Thật sự rất đáng thương vì chúng sanh là những kẻ mù, không nhìn thấy đường, khổ mà không biết tại sao mình khổ, nếu không học giáo pháp thì hoàn toàn không biết tại sao khổ, mình chỉ hiểu vắn tắt thôi, cái thấy của mình rất cạn cợt, mình nghĩ tại người này, do người kia nhưng thâm sâu chính là tham, sân, si, bản ngã bên trong, những cái này không gặp được Phật thì không ai chỉ cho mình, không ai chỉ thì làm sao mình thấy, không thấy thì không biết, không thấy không biết thì mình sống trong vô minh, sống trong hờn trách, bất mãn, không vừa lòng rồi mình cứ đau khổ. Đức Phật dạy niệm Tăng là niệm những đức hạnh của các bậc tu hành chân chánh.
"Ở đây, này Visàkhà, Thánh đệ tử niệm Tăng: 'Diệu hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn; Trực hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn; Ứng lý hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn; Chơn chánh hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn, tức là bốn đôi tám chúng. Chúng đệ tử của Thế Tôn là đáng cung kính, đáng tôn trọng, đáng cúng dường, đáng được chắp tay, là phước điền vô thượng ở đời'. Nhờ vị ấy niệm Tăng, tâm được tịnh tín, hân hoan sanh khởi, các phiền não của tâm được đoạn tận. Này Visàkhà, đây gọi là Thánh đệ tử thực hành chúng Tăng trai giới, sống với chúng tăng. Chính nhờ chúng tăng, tâm vị ấy tịnh tín, hân hoan sanh khởi, các phiền não của tâm được đoạn tận. Như vậy, này Visàkhà, là tâm uế nhiễm được gột sạch nhờ phương pháp thích nghi"
(Tăng Chi Bộ, Chương III – Ba Pháp, VII. Phẩm Lớn, Các Lễ Uposatha)
Chúng ta đừng nghĩ niệm Tăng là niệm Thánh chúng, niệm các thầy mà mình quên rằng hàng cư sĩ là một trong bốn chúng, chúng ta cũng được tính là trong đoàn thể của Phật giáo cho nên chữ "Tăng" nghĩa là đoàn thể. Thời Đức Thế Tôn thì chữ "Tăng" là đoàn thể gồm người xuất gia và tại gia tu theo Đức Phật cho nên chúng ta hiểu chữ "Tăng" ở đây là niệm những đức hạnh cao thượng của người tu, còn Tăng là những vị ở ngoài là đời sống thể hiện đức hạnh đó. Những đức hạnh này là một người trong đoàn thể Phật giáo phải có, đó là diệu hạnh, ứng lý hạnh, trực hạnh và chân chánh hạnh. Diệu hạnh nghĩa là đức hạnh hiền dịu, Đức Phật kể lại câu chuyện người chủ hiền thục trong kinh tạng.
"Chư Tỳ-kheo, thuở xưa, tại thành Savatthi này có nữ gia chủ tên là Vedehika. Chư Tỳ-kheo, tiếng đồn tốt đẹp sau đây được khởi lên về nữ gia chủ Vedehika: 'Nữ gia chủ Vedehika là hiền thục, nữ gia chủ Vedehika là nhu thuận; nữ gia chủ Vedehika là ôn hòa'. Chư Tỳ-kheo, nữ gia chủ Vedehika có người nữ tỳ tên là Kali, người này khéo tay, siêng năng, và làm việc cẩn thận chu toàn. Chư Tỳ-kheo, nữ tỳ Kali khởi lên ý nghĩ: 'Chủ của ta được tiếng đồn tốt đẹp khởi lên như sau: 'Nữ gia chủ Vedehika là hiền thục; nữ gia chủ Vedehika là nhu thuận; nữ gia chủ Vedehika là ôn hòa'. Không biết nữ chủ của ta có nội sân mà không tỏ lộ hay không có nội sân, hay vì công việc ta làm cẩn thận chu toàn nên nữ chủ ta có nội sân nhưng không tỏ lộ, không phải không có. Vậy ta hãy thử nữ chủ của ta!'
Chư Tỳ-kheo, rồi nữ tỳ Kali sáng ngày sau dậy thật trễ. Chư Tỳ-kheo, nữ gia chủ Vedehika nói với nữ tỳ Kali:
-- Này Kali!
-- Thưa Nữ chủ, có việc gì?
-- Sao hôm nay Ngươi dậy trễ vậy?
-- Thưa nữ chủ, có việc gì đâu?
-- Thật sự không có việc gì à? Ác nữ tỳ kia, hôm nay Ngươi dậy trễ!'
Và nữ chủ phẫn nộ, bất mãn, trừng mắt.
Chư Tỳ-kheo, nữ tỳ Kali suy nghĩ: 'Nữ chủ của ta thật sự có nội sân nhưng không tỏ lộ, không phải không có. Vì những công việc ta làm cẩn thận chu toàn, nên nữ chủ của ta tuy có nội sân nhưng không tỏ lộ, không phải không có. Vậy Ta hãy thử thêm nữa nữ chủ của ta!'
Chư Tỳ-kheo, rồi nữ tỳ Kali ngày sau lại dậy trễ hơn nữa. Chư Tỳ-kheo, nữ chủ Vedehika nói với nữ tỳ Kali:
-- Này Kali!
-- Thưa Nữ chủ, có việc gì?
-- Sao hôm nay Ngươi dậy trễ vậy?
-- Thưa Nữ chủ, có việc gì đâu?
-- Thật sự không có việc gì à? Ác nữ tỳ kia, hôm nay Ngươi dậy trễ!
Và nữ chủ phẫn nộ, bất mãn, thốt lên những lời bất mãn.
Chư Tỳ-kheo, nữ tỳ Kali suy nghĩ: 'Nữ chủ của ta thật sự có nội sân nhưng không tỏ lộ, không phải không có. Vì những công việc ta làm cẩn thận chu toàn nên nữ chủ của ta tuy có nội sân nhưng không tỏ lộ, không phải không có. Vậy ta hãy thử thêm nữa nữ chủ của ta!'
Chư Tỳ-kheo, rồi nữ tỳ Kali sáng hôm sau lại dậy trễ hơn nữa. Chư Tỳ-kheo, nữ chủ Vedehika nói với nữ tỳ Kali:
-- Này Kali!
-- Thưa Nữ chủ, có việc gì?
-- Sao hôm nay Ngươi dậy trễ vậy?
-- Thưa Nữ chủ, có việc gì đâu?
-- Thật sự không có việc gì à? Ác nữ tỳ kia, hôm nay Ngươi dậy trễ!
Rồi phẫn nộ, không hoan hỉ, nàng cầm cái then gài cửa, đánh một cú trên đầu nữ tỳ khiến bể đầu.
Chư Tỳ-kheo, nữ tỳ Kali, với đầu bể máu chảy, liền đi kể lể với các nhà láng giềng:
-- Hãy xem việc làm của nữ chủ hiền thục! Hãy xem việc làm của nữ chủ nhu thuận! Hãy xem việc làm của nữ chủ ôn hòa! Sao nữ chủ nói với nữ tỳ độc nhất: 'Hôm nay Ngươi dậy trễ', rồi phẫn nộ, bất mãn, nàng cầm then gài cửa, đánh tôi một cú trên đầu khiến bể đầu".
Chư Tỳ-kheo, sau một thời gian, tiếng đồn xấu sau đây được khởi lên về nữ chủ Vedehika: 'Nữ chủ Vedehika là độc ác! Nữ chủ Vedehika là không nhu thuận! Nữ chủ Vedehika là không ôn hòa!'"
(Trung Bộ Kinh, 21. Kinh Ví dụ cái cưa)
Đức Phật ví dụ câu chuyện này cho các thầy Tỳ-kheo thấy lúc bình thường thì hiền lành nhưng đụng chuyện hiền hay không mới biết.
"Cũng vậy chư Tỳ-kheo, ở đây, Tỳ-kheo hết sức hiền lành, hết sức nhu thuận, hết sức ôn hòa trong khi chưa bị những lời nói bất khả ý, xúc phạm. Và chư Tỳ-kheo, chỉ khi nào Tỳ-kheo bị những lời nói bất khả ý, xúc phạm mà vị ấy vẫn hết sức hiền lành, hết sức nhu thuận, hết sức ôn hòa, khi ấy vị ấy mới được xem là hiền lành, mới được xem là nhu thuận, mới được xem là ôn hòa"
(Trung Bộ Kinh, 21. Kinh Ví dụ cái cưa)
Chữ "hiền" trong kinh Nikāya rất quan trọng vì nó quyết định sự thành công hay không của một người tu. Một người có tâm chống đối, ương ngạnh, không nghe lời thì tâm đó là tâm không hiền cho nên những người này rất khó tu, nếu tâm không chuyển đổi là không tu được, bản ngã rất cao, đi chùa nhiều năm nhưng có khi thầy nói một thì mình nói lại gấp đôi, như vậy trong tâm là một cái tôi rất lớn, một bản ngã rất cao, một cái tâm ương ngạnh chống đối thì người này không có đức hạnh của người tu.
Muốn tu được thì phải điều chỉnh, sửa chỉnh lại, còn không thì không thể tu được, một cái tâm không hiền rất dễ rơi vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, đừng bao giờ có ý nghĩ bây giờ mình là người, mình biết đi chùa thì đời sau được làm người lại, không có chuyện đó, Đức Phật lấy móng tay khơi một ít đất lên rồi hỏi các thầy Tỳ-kheo đất trong tay ngài là nhiều hay đất trong địa đại là nhiều, các thầy trả lời đất dính trong móng tay Thế Tôn là vô cùng ít ỏi, không so được với đất trên địa cầu, Thế Tôn nói người sau khi chết được trở lại làm người ít như đất trong móng tay, còn chết rồi bị rơi xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh nhiều như đất trên địa cầu.
"Này các Tỳ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Cái gì nhiều hơn, chút đất này Ta lấy trên đầu móng tay, hay quả đất lớn này?
Cái này, bạch Thế Tôn, là nhiều hơn, tức là quả đất lớn này và ít hơn là chút đất mà Thế Tôn lấy trên đầu móng tay. Không thể đi đến ước tính, không thể đi đến so sánh, không thể đi đến một vi phần, khi so sánh quả đất lớn với chút đất mà Thế Tôn lấy trên đầu móng tay.
-- Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, rất ít là chúng sanh được tái sanh làm người! Còn rất nhiều là những chúng sanh phải tái sanh ra ngoài loài Người!
Do vậy, này các Tỳ-kheo, các Ông cần phải học tập như sau: Chúng tôi sẽ sống không phóng dật".
(Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương IX. Tương Ưng Thí Dụ, II. Đầu Ngón Tay)
Mình đừng nghĩ bây giờ mình làm người rồi đời sau cũng được làm người, đó là vô minh, với một cái tâm không hiền thiện, không tu được đức hạnh hiền từ thì trong tích tắc là rơi xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Báo chí đưa tin 3 người con gái châm lửa đốt mẹ vì mâu thuẫn tài sản, trong đó 2 người con đã chết, người còn lại nguy kịch, người mẹ thì phải thay da rất đau đớn, khổ sở, đó là con với mẹ là đấng sanh thành thiêng liêng nhất mà chỉ cần lòng tham sanh khởi lên trong tích tắc thì chắc chắn khi chết phải đọa địa ngục, không thể thay đổi được, biết bao giờ mới thoát ra khỏi cảnh giới địa ngục đó. Chúng ta phải hiểu những điều này để tu học, đức hạnh đầu tiên của người tu là hiền dịu.
Thứ hai là trực hạnh, nghĩa là cái hạnh chánh trực, ngay thẳng, ví dụ mình đang sân lên mà có người nói mình sân là mình phản pháo lại "tôi giận hồi nào", mình tham mà có người bắt gặp là mình chối "tôi tham hồi nào", đó là tâm cong queo, ngụy biện, gian trá, không có tâm ngay thẳng, chân thành, thành thực thì khi chết cộng với ác nghiệp sanh ra làm rắn, lươn, trùng. Rõ ràng là mình làm như vậy nhưng có người chỉ là mình chối, quanh co ngụy biện giấu lỗi lầm cho nên đức hạnh thứ hai của người tu là tâm ngay thẳng, chánh trực, đây là điều kiện để trở thành đệ tử Phật dù là xuất gia hay tại gia. Nếu không nhận diện ngũ uẩn, không có sự sâu sắc trong việc nhìn lại thân tâm mình thì mình không thể biết được tâm mình như thế nào, hàng xóm nhận xét hiền từ, không gây gổ với ai nhưng lại giết người cho nên không nhận diện ngũ uẩn sâu sắc là không thể thấy được mầm móng bên trong, đến khi bung ra thì tạo ác nghiệp địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh cho nên tâm thứ hai là tâm thành thật, ngay thẳng.
Thứ ba là ứng lý hạnh nghĩa là mình phải ứng hợp với chân lý của Đức Phật để thực hành, tức là một người nghe lời và làm theo lời Phật dạy. Ứng là sự ứng hợp, lý là chân lý, hạnh là đức hạnh, nghĩa là đây là người nghe lời Phật dạy rồi làm theo. Ứng lý hạnh là một người dễ nghe, dễ dạy, dễ bảo, tâm không chống đối, trong đạo có câu "y giáo phụng hành" cũng có nghĩa là thầy dạy thế nào con làm theo như vậy, Đức Phật dạy cuộc đời này vô thường, tham, sân, si là khổ, là địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh thì mình phải nhớ vô thường để tu, phải biết sợ tham, sân, si thì đó là ứng lý hạnh, ngược lại nghe dạy tham, sân, si là khổ nhưng sân vẫn sân, bản ngã cứ giữ lấy thì không phải là ứng lý hạnh.
Thứ tư là chân chánh hạnh nghĩa là có đời sống thân, miệng, ý chân chánh, không có tà tín, không có mê tín, không có những hành động tà dại, không có suy nghĩ theo tà mà chỉ là sự chân chánh, đúng theo chánh pháp. Trên đây là bốn điều kiện để trở thành Thánh đệ tử, trở thành đệ tử Phật một cách chân chánh, nhiều trường hợp ngoài miệng nói như vậy nhưng trong bụng là tà ý, những cái này phải tu sâu sắc mới nhìn ra được, có khi đi chùa không phải để tu mà để chụp hình, tìm vui, có những trường hợp các chú, các thầy chết trong đó thì đó là tà hạnh, đó là những cái sâu sắc mình phải nhìn ra được.
Hiền dịu, ngay thẳng, thành thật, nghe lời dạy để làm theo là bốn đức tánh của người tu, mình thường nhớ bốn đức hạnh này rồi mình cố gắng làm theo thì gọi là niệm Tăng, niệm đức hạnh của người đệ tử Phật. Khi mình nhớ niệm thì những cái tâm tham, sân, si, bản ngã, tà dại sẽ giảm bớt, lắng dịu, lòng tin Phật, pháp, Tăng của mình sẽ được tăng mạnh, đó là bốn đức hạnh, bốn điều kiện để trở thành người đệ tử Phật chân chánh. Mình kiểm tra lại trong người mình còn tà không, nếu còn thì phải trừ diệt, tà mạng là nuôi sống sai, Đức Phật nói người cư sĩ phải từ bỏ những nghề sau:
Nghề đồ tể, giết mổ động vật.
Nghề buôn bán vũ khí, chất nổ, đao kiếm sát thương.
Nghề buôn bán người, nô bộc hay súc vật để giết thịt.
Nghề buôn bán độc dược, độc chất.
Nghề buôn bán rượu, các chất say sưa, nghiệp ngập.
Năm nghề này gọi là tà mạng, nuôi sống không đúng pháp của một người cư sĩ tại gia. Mình bán thịt, tuy là không trực tiếp nhưng là gián tiếp sát sanh, bán rượu làm cho người ta say sưa, nghiệp ngập làm tan nhà nát cửa, gây ra biết bao tội lỗi. Mình không buôn bán những chất độc vì gián tiếp để giết người, giết những con vật, ví dụ bán thuốc trừ sâu cũng là phạm giới, không có chánh mạng vì nó giết côn trùng. Bán vũ khí vô cùng nguy hiểm, những đứa trẻ nhỏ cầm vào thì xảy ra chết người, đó là những thứ có thể đưa đến hậu quả chết người, chết thú vật, nếu không có vũ khí thì không có chiến tranh, nếu có thì chỉ là đánh bằng tay chân thôi, còn có vũ khí thì hủy diệt hàng loạt. Cuối cùng là bán người, tệ nạn này bây giờ rất nhiều nhưng 2600 năm trước đã có, có những cô gái bị lừa gạt bán qua tay hết người này đến người kia ở xứ lạ quê người. Như vậy người cư sĩ phải tránh xa năm nghề này thì mới có đời sống chân chánh, chánh mạng.
Đức Phật khuyến khích chúng ta rời xa năm nghề này vì dính vào nó chúng ta sẽ tạo nghiệp rất nặng, có khả năng đọa ba đường ác rất dễ. Chúng ta có quyền lựa chọn nghề nghiệp vì còn rất nhiều nghề có thể nuôi sống đời chân chánh. Như vậy là niệm 10 đức hiệu của Phật, niệm thiết thực hiện tại, sự vi diệu của pháp và niệm bốn đức hạnh của một người đệ tử chân chánh của Phật, nó sẽ giúp cho tâm mình thanh tịnh, trong sạch, sanh khởi lòng tin và nhiều niềm vui, an lạc, phấn khởi, hân hoan.
Tâm thương này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới này
Tâm thương này tỏa rộng
Khắp trời đất bao la.
./.
8 Đức Hạnh Thánh Hiền 3
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Ba Loại Trai Giới PAGEREF _Toc139034295 \h 1
II. Bốn Dự Lưu Phần PAGEREF _Toc139034296 \h 5
III. Cách Xử Lý Tâm Sân Hận PAGEREF _Toc139034297 \h 7
IV. Bốn Dự Lưu Phần 2 PAGEREF _Toc139034298 \h 13
I. Ba loại trai giới
Trong bài kinh "Ngày trai giới" nói về 8 đức hạnh thánh hiền, trong đó Đức Phật cho chúng ta thấy thế nào là sự tu tập trai giới giống như người chăn bò, thế nào là sự tu tập trai giới của người ngoại đạo, thế nào là sự tu tập trai giới của bậc Thánh đệ tử.
"Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ), Pubbarama (Ðông viên), lâu đài của mẹ Migara. Rồi Visakha, mẹ của Migara, trong ngày Uposatha (Bố-tát trai giới) đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Visakha, mẹ của Migara đang ngồi xuống một bên:
- Này Visàkhà, từ đâu bà đến sáng sớm như thế này?
- Bạch Thế Tôn, hôm nay con thọ trai giới.
- Có ba loại trai giới này, này Visàkhà. Thế nào là ba?
Trai giới người chăn bò,
Trai giới Niganthà,
Trai giới bậc Thánh" (Tăng Chi Bộ, Chương III – Ba Pháp, VII. Phẩm Lớn, Các Lễ Uposatha)
Tu tập trai giới như người chăn bò là hỏi ăn cái gì, suốt ngày lo tham dục, tham ăn, tuy rằng tu nhưng lại đòi hỏi, tham muốn.
"Như thế nào, này Visàkhà, là trai giới người chăn bò ?
Ví như, này Visàkhà, người chăn bò vào buổi chiều lùa các con bò về cho chủ của chúng. Người ấy suy nghĩ : 'Hôm nay, các con bò đã ăn cỏ tại chỗ này và chỗ này, đã uống nước tại chỗ này và chỗ này. Này mai, các con bò đã ăn cỏ tại chỗ này và chỗ này, đã uống nước tại chỗ này và chỗ này'.
Cũng vậy, này Visàkhà, ở đây có người giữ trai giới suy nghĩ : 'Hôm nay, ta đã ăn loại đồ ăn cứng này, loại đồ ăn Tu trai giới của Đức Phật và các bậc Thánh chính là làm cho cứng này ta đã ăn loại đồ ăn mềm này, loại đồ ăn mềm này. Ngày mai ta sẽ ăn loại đồ ăn cứng này, loại đồ ăn cứng này ; ta sẽ ăn loại đồ ăn mềm này, loại đồ ăn mềm này'. Như vậy, người ấy sống cả ngày với tâm đồng hành với tham dục. Như vậy, này Visàkhà, là trai giới người chăn bò.
Trai giới của người ngoại đạo là tu trên ảo tưởng, không lo quay trở lại để diệt tham, sân, si, diệt bản ngã mà cứ mộng mơ viễn vông không có thật, không quay trở lại diệt trừ những ý nghĩ bất thiện, những suy tư xấu ác, nội tâm cấu nhiễm không lo tẩy rửa, không lo làm sạch mà cứ ảo tưởng, mộng mơ, van xin, không có quay lại thân tâm một cách thiết thực, hiện tại, nhân quả rõ ràng, không thấy được tâm cấu uế.
"Này Visàkhà, thế nào là trai giới các Nigantha ? Ở đây, này Visàkhà, có hạng Sa-môn tên là Niganthà, họ khích lệ đệ tử như sau : 'Ông hãy quăng bỏ trượng với các sinh loại sống ở phương Đông, ngoài một trăm do tuần. Hãy quăng bỏ trượng với các sinh loại sống ở phương Tây, ngoài một trăm do tuần … sống ở phương Bắc … sống ở phương Nam, ngoài một trăm do tuần.' Như vậy, họ khích lệ vì lòng thương, vì lòng từ mẫn đối với một số sinh loại mà thôi, họ không khích lệ vì lòng thương, vì lòng từ mẫn, đối với một số sinh loại khác. Trong ngày Uposatha, họ khích lệ đệ tử như sau : 'Này các Ông, hãy quăng bỏ tất cả áo quần và nói như sau : 'Ta không có bất cứ vật gì, bất cứ ở đâu, bất cứ chỗ nào. Bất cứ vật gì, bất cứ ở đâu, bất cứ chỗ nào, không có cái gì là của ta''. Nhưng cha và mẹ của người ấy biết người ấy là con của mình. Và người ấy biết họ là cha mẹ của mình. Vợ và con người ấy biết người ấy là chồng, là cha của mình, và người ấy biết họ là vợ, là con của mình. Các người nô tỳ làm công biết người ấy là chủ của họ. Và người ấy biết họ là nô tỳ, là nhân viên của mình. Như vậy, trong thời gian đáng phải khích lệ đúng với sự thật, trong thời gian ấy, lại được khích lệ bằng điều nói láo. Đây Ta tuyên bố là một sự nói láo. Sau khi đêm ấy đã qua, người ấy thọ hưởng tất cả tài sản chưa đem cho. Đây Ta tuyên bố là lấy của không cho. Như vậy, này Visàkhà, là lễ Uposathà của các Niganthà. Được sống thực hành như vậy, này Visakha, Uposatha không quả lớn, không lợi ích lớn, không chói sáng, không ánh sáng lớn" (Tăng Chi Bộ, Chương III – Ba Pháp, VII. Phẩm Lớn, Các Lễ Uposatha)
Sau đây là sự tu tập trai giới của Đức Phật và các bậc Thánh đệ tử:
"Và này Visàkhà, thế nào là trai giới các bậc Thánh? Chính là làm thanh tịnh một tâm uế nhiễm với phương pháp thích nghi" (Tăng Chi Bộ, Chương III – Ba Pháp, VII. Phẩm Lớn, Các Lễ Uposatha)
Câu này rất quan trọng và là cốt lõi của chánh pháp, trai giới của bậc Thánh là làm trong sạch cái tâm dơ bẩn với những phương pháp thích nghi đúng cách. Tâm mình dơ bẩn nhưng có người chỉ cho cái dơ là mình không đồng ý, đó là cái dở của mình, vì bản ngã, vì cái tôi, vì sĩ diện, vì hư danh mà mình sống trong những cái ảo tưởng không chấp nhận sự thật, mình tu mãi mà chỉ tu trên giả dối chứ không có tu thật.
Tu thật là có ai đến nói "tôi thấy chị còn sân si dữ lắm" thì mình phải "dạ, chị cám ơn em, chị cũng thấy như vậy, chị đang cố gắng tập để giảm cái sân, chị cũng đang tu tập tâm từ mà chưa được nhiều. Cám ơn em", như vậy mới là tu thật. Thấy đồ cúng ngon quá nên lấy ăn thì có người nói "cái này không được, chị đã xin chưa? Chị làm vậy là sai rồi, là lấy của không cho" thì mình phải "chị sám hối với em, chị xin lỗi, vì cảm giác thúc giục nhanh quá nên chị chưa kịp xin", như vậy mới gọi là tu thật, mới gọi là hiền giả, chân tu, mới là người thật sự muốn tu sửa thành ra chúng ta với một cái tâm chân thành thì tu học mới có kết quả thật sự. Khi mình có lỗi thì người ta chỉ cho mình bằng tình thương, bằng từ tâm, bằng tất cả tấm lòng thì Đức Phật gọi những người đó đang chỉ chỗ chôn vàng cho mình.
"Nếu thấy bậc hiền trí,
Chỉ lỗi và khiển trách,
Như chỉ chỗ chôn vàng
Hãy thân cận người trí!
Thân cận người như vậy,
Chỉ tốt hơn, không xấu"
(Kinh Pháp Cú 06 – Phẩm Hiền Trí, kệ 76)
Vì mình không nhìn thấy thân tâm một cách chính xác, đúng đắn, mình chỉ thấy cái tôi của mình nên mình tu không được, chỉ làm được một chút phước thiện bên ngoài thôi, còn ai đụng tới là mình khó chịu, sân si. Chính vì vậy đi chùa mãi, tụng niệm mãi nhưng vẫn khổ, chạm vào là sừng sộ, đụng vô là phẫn nộ, nói tới là sân hận lên nên cứ khổ mãi, không có ngày hết khổ. Bát quan trai giới đúng ý nghĩa của Đức Phật là tẩy sạch một cái tâm dơ, phải nhớ kĩ điều này, chính cái tâm dơ đó làm cho mình khổ, làm cho chồng con mình khổ, làm cho ông bà, anh chị em trong nhà khổ vì mình, cũng vì tâm dơ mà người khác làm cho mình khổ. Những cái tâm tham lam, dối trá, tráo trở, lật lọng, mưu hại, mưu mô làm cho nhau khổ đau với nhau, còn tu là tẩy rửa những cái tâm đó, làm sạch những cái tâm đó nhưng muốn rửa tâm dơ này thì đầu tiên phải thấy được nó, giống như trên mặt mình thấy chỗ nào dơ thì mình mới lau chùi được, muốn thấy thì phải soi gương. Muốn cho mặt sạch thì phải lau rửa, muốn lau rửa thì phải thấy, muốn thấy thì phải soi gương, cũng vậy, muốn rửa tâm cấu nhiễm thì phải thường xuyên nhìn lại tâm, tức là nhận diện ngũ uẩn, tức là nhìn lại những cảm giác, nghĩ tưởng trong người của mình, đó là pháp soi gương.
Hằng ngày mình phải nhìn lại mình đang nghĩ cái gì, mình đang có cảm giác gì, mình đang có hình bóng gì. Mình kiểm soát cái thân, kiểm soát suy nghĩ, kiểm soát những cảm giác, kiểm soát những hình bóng trong tâm. Mình buôn bán tính lời lỗ rất giỏi nhưng tại sao tu tiến hay lùi lại không biết? Tức là tâm mình rất sắc bén trong thế gian, trong tiền tài vật chất nhưng lại không sắc bén trong tu tập trí tuệ, do chúng ta để tâm vào những thứ thế gian rất nhiều còn trong pháp lại rất ít, do vì để tâm vào pháp ít nên mình không thấy rõ tâm, không thấy rõ sự cấu nhiễm của tâm, những gì làm cho mình khổ thì mình không biết, nguyên nhân đưa đến khổ mình không biết, mình chỉ biết than trời trách đất, hờn người này người kia, mình buồn bã, tức giận trong khi tất cả những cái khổ đó là từ bên trong tâm mình ra, từ cảm giác, nghĩ tưởng, từ những cái nghiệp trong quá khứ, đến đúng lúc chín muồi nó sẽ biểu hiện ra, gọi là quả dị thục của nghiệp.
Không phải trồng cây sẽ có trái chín liền, 5 năm sau, có khi 8 năm sau tùy theo loại cây mới có trái, trồng xà lách, rau thơm sẽ ra nhanh, còn trồng sầu riêng, vú sữa thì lâu có trái, nghiệp cũng vậy, có những nghiệp sẽ có kết quả ngay, mình chửi người ta thì người ta chửi lại, mình khen người ta thì người ta khen lại, đó là kết quả nhãn tiền, cũng có những nghiệp mình làm nhưng chưa có kết quả liền mà tháng sau, 3 tháng sau, 6 tháng sau, thậm chí cả năm, vài năm sau mới trổ ra nghiệp thì lúc đó mới bất ngờ, đó gọi là quả dị thục của nghiệp, là sự chín muồi của nghiệp.
Vấn đề đây không phải là quả ngọt mà là quả đắng, có khi không phải 3 năm, 5 năm hay 10 năm mà là gần cuối cuộc đời thì quả đó mới trổ ra, vì mình vô minh, không thấy không biết nhân quả nên khi nó trổ ra rồi mình oán hờn, trách giận "tại sao tôi tốt hết mà lại chịu như vậy", đó là không đúng vì nhân quả rất công bằng. Có những nghiệp quả đời sau mới trổ "từ nhỏ đến lớn tôi không làm gì cả mà lại gặp chuyện như vậy", đó là do đời trước, trong Nikāya Đức Phật giảng tất cả những phương diện, khía cạnh về nghiệp, Đức Phật nói ngài chứng ngộ Chánh Đẳng Chánh Giác khi ngài thấu suốt hết tất cả góc độ, khía cạnh, phương diện của nghiệp và quả của nghiệp cho nên khi tất cả những chuyện trên đời này đến với mình thì mình không trách ai cả mà phải quay trở lại coi nhân quả trong mình, không có bất cứ một ai ban phước hay giáng họa cho mình mà do mình là kẻ thừa kế của nghiệp, nghiệp là bà con, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa, mình là chủ nhân của nghiệp, mình tạo ra rồi mình sẽ thừa hưởng nghiệp đó.
II. Bốn dự lưu phần
Sau đây Đức Phật đưa ra bốn pháp là bốn dự lưu phần giúp cho mình vào dòng trí tuệ, dòng pháp, dòng Thánh. Gồm có niệm Phật, niệm pháp, niệm Tăng và giới, thành tựu các giới hạnh, đây là bốn điều kiện, bốn thứ nếu có đủ thì vào được dòng trí tuệ, vào dòng hiền Thánh. Đức Phật nói người tu để làm tâm thanh tịnh thì phải tu bốn pháp này, đầu tiên là niệm Phật nhưng niệm Phật không chỉ là niệm danh hiệu Phật vì đó chỉ là bước ban đầu giúp chúng ta lúc sơ cơ. Còn niệm Phật mà Đức Phật dạy là niệm ân đức của Phật, niệm đức hạnh của Phật, niệm công đức của Phật.
Con chân thành đảnh lễ
Phật Thích Ca Mâu Ni
Lậu Tận tự Chánh Giác (A-la-hán Chánh Đẳng Giác)
Đây là danh hiệu thứ nhất, giải thích chữ A-la-hán Chánh Đẳng Giác. Như thế nào là lậu tận tự Chánh Giác? Nghĩa là tự ngài giác ngộ, không có thầy chỉ cho ngài, tự ngài đi tìm ra được con đường sạch hết cấu uế trong nội tâm, từ ngài tìm cách làm sạch tâm hoàn toàn không do một ai hướng dẫn, như vậy gọi là lậu tận tự Chánh Giác. Vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác là không có người thứ hai cao hơn hoặc là ngang bằng ngài, không ai chỉ dẫn cho ngài mà tự ngài tìm kiếm ra cho nên mới tôn xưng là bậc tối tôn tối thượng giữa chư thiên và loài người, giữa tất cả các hàng Thánh thì ngài là Thánh chung chi Thánh và Thánh chung chi vương nghĩa là vua trong tất cả các hàng Thánh, không có một người nào có thể giác ngộ bằng ngài, đó là đức hiệu thứ nhất niệm về ngài là bậc không thầy tự ngộ.
Trí Đức thật tròn đầy (Minh Hạnh Túc)
Thiện xảo thoát trầm luân (Thiện Thệ)
Thông giải tâm nhân thế (Thế Gian Giải)
Trí Tuệ đạt Vô Thượng (Vô Thượng Sĩ)
Điều phục bậc Trí nhân (Điều Ngự Trượng Phu)
Thầy của Trời và Người (Thiên Nhân Sư)
Thấy và Thoát cấu uế (Phật)
Được Thế giới Tôn vinh (Thế Tôn)
Đạt Nhất như tâm trí (Như Lai)
Trước sau không thay đổi,
Giới Định Tuệ viên thành,
Tham sân si diệt tận,
Phiền não được phá trừ
Sanh tử được chấm dứt
Ngài thoát mọi khổ đau.
Con thật kính phục Ngài,
Bậc Vô Thượng Chánh Giác
Con thật kính ngưỡng Ngài
Bậc Vô Thượng Thanh Cao
Con xin quy phục Ngài.
Bậc Vô Thượng Thanh Tịnh
Con xin đảnh lễ Ngài,
Bậc Vô Thượng Giải Thoát.
Đó là chúng ta niệm 10 đức hiệu của Phật, nhớ những đức hạnh của ngài, niệm nghĩa là nhớ, Đức Phật dạy niệm tử nghĩa là nhớ mình sẽ chết, niệm pháp là nhớ về Tứ Thánh Đế, nhớ cuộc đời này là khổ, nhớ tham, sân, si này làm cho mình khổ đau, mình phải diệt những cái này thì mình mới hết khổ, đó chính là niệm pháp. Mình nhớ hòa thượng trưởng lão, mình nhớ hòa thượng trụ trì Thượng Thiện Hạ Bình, nhớ lại công lao, đức hạnh của các ngài thì đó là niệm Tăng hoặc là niệm về ngài Anan, niệm về đức hạnh ngài Xá-lợi-phất tu hạnh nùi giẻ rách, ngài quán ngài là con người thấp hèn nhất trong cuộc đời này, lúc nào cũng khiêm hạ.
Nguyện tâm như địa, thủy, hỏa, phong
Rộng rãi, bao dung, chẳng buộc ràng,
Nguyện tâm như miếng nùi giẻ rách
Có gì để lên mặt, hơn thua.
Mình nhớ lại đức hạnh của các bậc Thánh hiền, đó là niệm Tăng, niệm pháp chứ không phải niệm "nam mô Xá-lợi-phất, nam mô Xá-lợi-phất", đó chỉ mới niệm cái tên thôi, còn ở đây là niệm đức hạnh, niệm trí tuệ. Mình niệm tên giống như mới học lớp 1, lớp 2, còn niệm tới đức hạnh, đạo hạnh giống như mình học lớp 10. Khi niệm như vậy thì người ấy sanh khởi lên niềm tin, phát khởi thêm lòng tin đối với Phật, mình càng tin tưởng Phật thêm nữa, mình hân hoan, các phiền não trong tâm được chấm dứt.
Ví dụ mình ngồi nhớ lại Đức Phật ngày xưa còn là thái tử mà bỏ hết cung vàng điện ngọc, vợ đẹp con xinh, còn mình bây giờ có đôi dép bỏ không nổi hay sao nếu lỡ mất dép, mình phải ngồi quán như vậy. Mới mất đôi dép là sân si lên, có ai mặc nhầm áo tràng của mình là khó chịu, lỡ có những tai nạn, thất thoát trong chuyện làm ăn hoặc con cái trong gia đình phá của thì phải quán "Đức Phật còn bỏ hết tất cả, mình là con Phật cũng phải bỏ như vậy, tâm mình xả bỏ. Bây giờ có sân hận lên cũng mất rồi, không thể có lại được nên thôi xả bỏ, mình tu tập tâm xả. Tâm xả này hiền thiện, tâm xả này nhẹ nhàng, tâm xả này mang yên ổn, tâm xả này thật dễ chịu, thoải mái, thật là bình yên. Thôi buông đi, bỏ đi, xả đi". Khi mình nhớ nghĩ như vậy thì các phiền não khi tiếc món đồ hoặc là sự sân hận, bực bội đứa con được lắng dịu, đó là công đức của niệm Phật.
"Do vị ấy niệm Như Lai, tâm được tịnh tín, hân hoan sanh khởi, các phiền não của tâm được đoạn tận"
(Tăng Chi Bộ, Chương III – Ba Pháp, VII. Phẩm Lớn, Các Lễ Uposatha)
III. Cách xử lý tâm sân hận
Bây giờ ra đường gặp người kia nói mình như vậy, về nhà mình nhớ lại Đức Phật bị Đề-bà-đạt-đa xô đá suýt mất mạng, chảy máu chân nhưng ngài vẫn trải tâm từ thương Đề-bà-đạt-đa, bây giờ mình chỉ bị nói một câu nên xả bỏ "tâm từ ơi, tình thương ơi".
Ta khơi dậy trong ta
Tình thương và từ tâm
Ta khơi dậy trong ta
Từ tâm và tình thương.
Tình thương sống trong ta,
Từ tâm sống trong ta.
Tình thương có trong ta,
Từ tâm có trong ta.
Ta có nhiều tình thương
Tình thương cảm thân này
Tình thương cảm thọ này
Thọ này ta hiểu thương.
"Ngươi đã tức giận trong vô lượng vô biên kiếp rồi nên ngươi đáng thương quá. Tình thương ơi hãy lan tỏa ra", mình thương mình, thương cơn giận của mình, thương người kia và thương cơn giận của người kia, mình đưa tình thương của mình lan tỏa khắp mọi nơi, thế là tâm giận được lắng dịu, đó là niệm Phật, niệm pháp có công đức, có lợi ích.
Còn bây giờ cứ ráng kiềm chế cơn giận thì chỉ được vài bữa nó cũng bung ra, nó không giải quyết được vấn đề căn nguyên gốc rễ trong tâm, ngoài miệng chỉ niệm Phật để đè cảm giác tức giận xuống, còn ở đây niệm là nhắm khơi mở nút thắt đó, mình hiểu thấu vấn đề đó, sự việc đó, tâm thức đó, con người đó nên mình không đè nén.
Mình không né tránh vấn đề mà mình nhìn sâu vào vấn đề rồi tháo gỡ nó ra, cái này sẽ trị tận gốc, mở hết tất cả nội kết, thắt gút bên trong, còn cái kia là tránh né, đè nén, một ngày không đè nổi nữa thì bùng nổ, đó là mình tu theo cách đè nén, còn đằng này mình tu là mở tung nó ra, mình biết cảm thọ giận này làm mình khổ, cảm thọ giận này làm cho người kia khổ, làm cho tất cả mọi người khổ, bây giờ không muốn khổ nữa thì bỏ cảm thọ này đi, đẩy nó ra khỏi tâm, mình để sanh khởi lên cảm thọ thương cho thật lớn để đủ sức đẩy cảm thọ giận ra khỏi con người mình, trong người mình chỉ toàn là tình thương ngọt ngào, dạt dào, từ đảnh tóc đến gót chân là cảm giác thương sao là thương, không còn giận ai nữa, người nào ghét mình nhiều thì mình còn thương hơn những người khác vì mình biết người này rất khổ, càng giận nhiều thì càng khổ nhiều.
Giữa một cảm giác giận và cảm giác thương thì cái nào dễ chịu, cái nào khó chịu? Tất nhiên giận sẽ khó chịu nhưng cảm giác thương của ái nhiễm vẫn khó chịu cho nên yêu thương mà chia lìa, không gặp là khổ, còn cái thương ở đây vượt lên cái thương bình thường, cái thương này là tâm từ bi chứ không phải thương theo luyến ái. Từ bi sẽ khác với cái thương trong luyến ái vì mầm móng khổ nằm trong cái thương trong luyến ái.
Có một ông đó chỉ có một đứa con duy nhất nhưng nó lại mất mạng, ổng đi khắp nơi kêu gào cứu con, ông đi tới Đức Phật thì Đức Phật nói thương là khổ đau tức là ái, ông không chịu vì tại sao thương lại khổ, thương phải là hạnh phúc. Ông đi về tâm sự với những người bạn thì họ cũng nói Sa-môn Gotama nói sai rồi, thương làm sao khổ được, thương là hạnh phúc.
Câu chuyện này đồn đến tai vua Ba-tư-nặc thì nhà vua nói tới hoàng hậu rằng sư phụ của hoàng hậu nói yêu thương là đau khổ, người bình thường không ai chấp nhận câu nói "yêu thương là đau khổ" vì họ nghĩ ghét mới đau khổ thì hoàng hậu hỏi lại bệ hạ thương ai nhất thì bệ hạ nói người thương hoàng hậu nhất. Hoàng hậu nói nếu lỡ bệ hạ nhìn thấy mình nói cười, âu yếm người đàn ông khác thì bệ hạ sẽ thế nào, nhà vua bất ngờ không nói nên lời. Lúc này hoàng hậu nói thật sự mình thương bản thân mình nhất hạng, mình thương người ta thì người ta phải làm cái gì đó cho mình thì mình mới thương, còn nếu người đó làm ngược lại không phục vụ cho tự ngã của mình thì mình không thương nữa, cũng như hoàng hậu ví dụ nếu nhà vua thấy người âu yếm người khác thì nhà vua không còn thương hoàng hậu nữa.
Ngoài ra còn một khía cạnh khác là có nhiều vị đi đến khóc với Đức Phật vì người thân mất, đó là bà Visakha vừa mất đứa cháu nội nên bà khóc lóc nhớ thương, Đức Phật hỏi bà có muốn có thật nhiều con cháu trong thành này không thì bà nói muốn, Đức Phật nói nếu vậy thì bà sẽ khóc mãi vì ngày nào cũng có người chết, bây giờ chỉ có một đứa đã khóc như vậy, ngày nào cũng có người mất thì khóc suốt cả ngày, từ ngày này qua ngày nọ. Lúc này Đức Phật giải thích ái là khổ, tâm luyến ái ràng buộc là khổ đau.
"Ái luyến sinh sầu ưu,
Ái luyến sinh sợ hãi.
Ai giải thoát ái luyến
Không sầu, đâu sợ hãi?"
(Kinh Pháp Cú 16 – Phẩm Hỷ Ái, kệ 213)
Mình đi mua bình bông rất ưng ý mà lỡ có ai làm bể bình bông thì mình sân si, khó chịu, khổ đau, nhà kế bên làm bể hình bông của họ thì mình có khổ không? Mình không khổ vì đó là bình bông của họ, còn mình khổ vì mình thích bình bông đó, mình yêu cái bình bông đó, mình cho rằng đây là bình bông của mình, mình chưng bông ưng ý cho nên Đức Phật nói yêu là khổ, cái tâm luyến ái, chiếm hữu cho rằng đó là của tôi, cái đó chính là nguồn gốc của khổ.
Chỗ này nhằm phân biệt với tâm từ bi vì tâm từ bi không giống như vậy, cái này có khi đi chùa đến chết mình cũng không biết, mình không phân biết được cái nào là ái, cái nào là từ. Yêu thương thường tình của sự trói cột, yêu thương của sự sở hữu, hệ lụy thì gọi là ái, còn từ là thương cảm giác giận này hành hạ mình và hành hạ tất cả chúng sanh, người đang tức giận mình là mình thương cơn giận của họ đang làm khổ cho họ, cái thương đó mới là từ bi.
Mình không còn cái thấy "người kia chửi tôi" mà mình thấy một cảm giác tức giận đang xâm chiếm áp đảo, thiêu đốt và hành hạ chúng sanh, cái thấy đó gọi là thấy pháp, thấy bằng trí tuệ, còn cái thấy "người kia đang khinh khi tôi, đang mắng chửi tôi" thì cái thấy đó là của phàm phu không biết tu. Nếu mình chọn cái thấy không biết tu của phàm phu thì mình khổ dài dài, khổ vô lượng vô biên kiếp, không bao giờ hết khổ, còn chọn cái thấy của người tu thì tâm mình sẽ rộng mở ra.
Cảm giác tức giận này đã làm mình đau khổ biết bao, một người trước mặt mình đang đau khổ vì cảm giác đó, ngoài kia cũng có biết bao người đang đau khổ vì cảm giác đó mà họ không thấy không biết trong khi mình thấy biết thì mình thương họ, cũng như họ mù không thấy đường còn mình thấy đường thì mình phải thương những người đó.
Cái thấy biết đó, cảm giác thương đó là tâm từ của đạo Phật, tâm đại bi, lòng xót thương rộng lớn cùng khắp, nhìn tất cả chúng sanh trên hành tinh này đều là những kẻ đáng thương, dù cho có là người quyền uy, giàu có cỡ nào nhưng vẫn bị tham, sân, si làm cho khổ thì vẫn là người đáng thương, con chó, con kiến, gián, muỗi… bị nghiệp quả làm cho thành ra như vậy, tất cả các loài hữu tình trong ngũ uẩn này đều khổ đau trong cảm giác tham, sân, si, dục ái, bản ngã này nên tình thương của mình bao la, rộng lớn, bao phủ khắp tất cả hành tinh này, đó gọi là từ tâm vô lượng, lòng thương bao la, rộng lớn, Đức Thế Tôn và các bậc Thánh là sống với tâm này cho nên ngài không giận. Khi Đức Phật ôm bình bát đi khất thực thì đệ tử một vị Bà-la-môn tán thán ngài trong khi vị Bà-la-môn đó thì chửi mắng nhưng Đức Phật vẫn bình thản, ung dung, đi nhẹ nhàng, cảm giác giận đang thiêu đốt người đó mà mình còn đi giận họ nữa thì cả mình cũng khổ, họ cũng khổ, rồi cùng tạo ra cái khổ, chỉ có người ngu mới sống như vậy thôi, bậc trí không có sống như vậy.
"Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
Bà-la-môn Akkosaka Bhàradvàja được nghe Bà-la-môn thuộc dòng họ Bhàradvàja đã xuất gia với Thế Tôn, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
Ông phẫn nộ, không hoan hỉ, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói những lời nói không tốt đẹp, ác ngữ, phỉ báng và nhiếc mắng Thế Tôn.
Ðược nghe nói vậy, Thế Tôn nói với Bà-la-môn Akkosaka Bhàradvàja:
-- Này Bà-la-môn, Ông nghĩ thế nào? Các thân hữu bà con huyết thống, các khách có đến viếng thăm Ông không?
-- Thưa Tôn giả Gotama, thỉnh thoảng, các thân hữu, bà con huyết thống, các khách có đến viếng thăm tôi.
-- Này Bà-la-môn, Ông nghĩ thế nào? Ông có sửa soạn cho họ các món ăn loại cứng, loại mềm và các loại đồ nếm không?
-- Thưa Tôn giả Gotama, thỉnh thoảng tôi sửa soạn cho họ các món ăn loại cứng, loại mềm, các loại đồ nếm.
-- Nhưng này Bà-la-môn, nếu họ không thâu nhận, thời các món ăn ấy về ai?
-- Thưa Tôn giả Gotama, nếu họ không thâu nhận, thời các món ăn ấy về lại chúng tôi.
-- Cũng vậy, này Bà-la-môn, nếu Ông phỉ báng chúng tôi là người không phỉ báng; nhiếc mắng chúng tôi là người không nhiếc mắng; gây lộn với chúng tôi là người không gây lộn; chúng tôi không thâu nhận sự việc ấy từ Ông, thời này Bà-la-môn, sự việc ấy về lại Ông. Này Bà-la-môn, sự việc ấy chỉ về lại Ông. Này Bà-la-môn, ai phỉ báng lại khi bị phỉ báng, nhiếc mắng lại khi bị nhiếc mắng, gây lộn lại khi bị gây lộn, thời như vậy, này Bà-la-môn, người ấy được xem là đã hưởng thọ, đã san sẻ với Ông. Còn chúng tôi không cùng hưởng thọ sự việc ấy với Ông, không cùng san sẻ sự việc ấy với Ông, thời này Bà-la-môn, sự việc ấy về lại Ông! Này Bà-la-môn, sự việc ấy về lại Ông!"
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương VII. Tương Ưng Bà La Môn, I. Phẩm A-La-Hán Thứ Nhất, II. Phỉ Báng)
Người ta không bị thiêu đốt mà mình còn đổ dầu vào lửa nữa hay sao? Những người đó là những người thân thương với mình, là cha mẹ, ông bà, anh chị em, vợ chồng của mình chứ không phải ai xa lạ, vì vậy chúng ta phải trải tâm từ, ngày nào cũng phải trải tâm từ, giờ nào cũng phải trải tâm từ. Mình không biết thương mình thì ai thương mình? Thương mình là đừng để mình đi theo những cảm xúc tức giận đó, thương mình là đừng để mình đi theo những cảm giác hơn thua đó, thương mình là đừng để mình đi theo những cảm giác thị phi, đúng sai, tranh giành, đấu đá nhau.
Hãy thương mình thật nhiều đi quý vị ơi! Mình không biết thương mình thì tội nghiệp cho mình lắm, phải tập thương mình thật nhiều, đừng để những cảm giác tức giận, bốc cháy, thiêu đốt hành hạ mình, hành hạ người, làm khổ mình, làm khổ người. Biết bao đời biết bao kiếp, đã mấy chục năm qua chúng ta không nhìn thấy được bộ mặt của cảm giác, chúng ta không biết chăm sóc, không biết tưới tẩm, không biết nuôi dưỡng những cảm giác dễ chịu, ngọt ngào, yêu thương, tha thứ, bao dung, độ lượng, chúng ta để những cảm giác ghim gút, châm chích, hơn thua, tức giận làm chúng ta khổ, người xung quanh khổ, bây giờ thấy được nó rồi nên chúng ta quyết tâm không làm khổ mình, khổ người nữa, lúc nào chúng ta cũng tươi mát, lúc nào chúng ta cũng dạt dào, lúc nào chúng ta cũng dễ chịu, dễ thương. Một người được như vậy thì hạnh phúc biết bao.
Mình phải thực tập làm sao để mình thích nghi với mọi hoàn cảnh trong đời sống này, lúc bình thường mình tập dễ chịu, đến khi hoàn cảnh bất thường đến mình cũng tập được sự dễ chịu, đến lúc cái rất khó chịu đến với mình thì mình vẫn dễ chịu được thì mới tuyệt diệu. Tu là phải thực tập, tu là chỉnh sửa, tu là phải luyện, tu là phải hành trì, tu tập là phải thực hành tới hành lui cho được mới thôi, tu là phải hành trì nghĩa là phải giữ những điều đó trong tâm mình, giữ những cảm thọ ngọt ngào, hiền từ trong tâm không để cho mất đi, như vậy gọi là tu trì.
Trước mặt mình là ổ gà, xe tải thì mình chạy xe lách qua hay đâm thẳng vào luôn? Tất nhiên là lách nhẹ qua để tránh nguy hiểm, còn mình phóng tới luôn thì tai nạn xảy ra, đó là mình điều chỉnh hướng đi của tâm, mình lèo lái cảm thọ trong con người mình chứ không phải cứ xông tới, tiến tới rồi rơi xuống vực, đó là sự tu chỉnh, tu sửa, tu cho uyển chuyển, khéo léo. Tu tâm là mình chỉnh sửa tâm mình, sửa cảm thọ bực bội, sân si đó lại thành ngọt ngào, dễ chịu, như vậy cái tu mới có ý nghĩa, giá trị vô cùng chứ không phải tu trên hình thức, tu cho có rồi trở ra cũng chứng nào tật đó, tụng 30 năm mà cái sân vẫn to tướng, chúng ta phải quyết tâm chỉnh lại chứ không phải lên ngồi tụng như trả bài cho Phật.
IV. Bốn dự lưu phần 2
Một người lúc nào cũng có cảm giác dễ thương, ngọt ngào, an tịnh, lắng dịu, nhẹ nhàng, từ ái, lúc nào tâm cũng bao dung, độ lượng, rộng lớn, yêu thương dạt dào thì người đó hạnh phúc biết dường nào, người đó tuy rằng bước đi trên mặt đất nhưng giống như đang sống trong cảnh giới của chư thiên, gọi là thiên nhân. Cái tâm nhẹ nhàng như mây, như khói, như sương thì mới lên cao được, còn tâm sân hận, hơn thua nặng nề như tảng đá thì phải chìm xuống thôi, cho nên phải làm sao để người mình lúc nào cũng dễ chịu, an lạc, an vui, an bình, an tịnh, an ổn. Tuyệt vời như vậy mà không chịu tu thì thật uổng phí, mình niệm Phật, niệm pháp như vậy thì tâm cấu uế sẽ được gột sạch, đó là Đức Phật đang dạy mình niệm Phật, niệm pháp, niệm Tăng.
"Ví như, này Visàkhà, đầu uế nhiễm được gột sạch với phương pháp thích nghi.
Và này Visàkhà, thế nào là đầu uế nhiễm được gột sạch với phương pháp thích nghi?
Do duyên bột nhồi, do duyên đất sét, do duyên nước và do duyên nỗ lực thích nghi của con người. Như vậy, này Visàkhà, là đầu uế nhiễm được gột sạch với phương pháp thích nghi. Cũng vậy, này Visàkhà, là tâm uế nhiễm được gột sạch với phương pháp thích nghi.
Ở đây, này Visàkhà, Thánh đệ tử niệm pháp: 'Pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng, thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu'. Do người ấy niệm Pháp, tâm được tịnh tín, hân hoan sanh khởi, các phiền não của tâm được đoạn tận. Này Visàkhà, đây gọi là Thánh đệ tử thực hành pháp trai giới, vị ấy sống với pháp. Chính nhờ pháp, tâm vị ấy tịnh tín, hân hoan sanh khởi, các phiền não của tâm được đoạn tận. Như vậy, này Visàkhà, là tâm uế nhiễm được gột sạch nhờ phương pháp thích nghi"
(Tăng Chi Bộ, Chương III – Ba Pháp, VII. Phẩm Lớn, Các Lễ Uposatha)
Pháp được Thế Tôn thuyết giảng thiết thực, hiện tại, ngay tại đây, hiện tại nãy giờ tâm quý vị có dễ chịu không? Trong lồng ngực có sanh khởi tình thương không? Đó là sự thiết thực, hiện tại, mình thương mình vì cơn giận làm mình khổ, mình thương người giận mình vì cơn giận làm cho người giận mình khổ, có biết bao chúng sanh vì cơn giận làm cho người ta đau khổ. Khi mình ngồi chiêm nghiệm, quán sát thì mình sẽ thấy rất nhiều những con người đang đau khổ vì cơn giận, mình sẽ có một cảm thọ xót thương lan tỏa ra, đó là sự thiết thực, hiện tại, ngay đây và ngay bây giờ.
Thật sự rất đáng thương vì chúng sanh là những kẻ mù, không nhìn thấy đường, khổ mà không biết tại sao mình khổ, nếu không học giáo pháp thì hoàn toàn không biết tại sao khổ, mình chỉ hiểu vắn tắt thôi, cái thấy của mình rất cạn cợt, mình nghĩ tại người này, do người kia nhưng thâm sâu chính là tham, sân, si, bản ngã bên trong, những cái này không gặp được Phật thì không ai chỉ cho mình, không ai chỉ thì làm sao mình thấy, không thấy thì không biết, không thấy không biết thì mình sống trong vô minh, sống trong hờn trách, bất mãn, không vừa lòng rồi mình cứ đau khổ. Đức Phật dạy niệm Tăng là niệm những đức hạnh của các bậc tu hành chân chánh.
"Ở đây, này Visàkhà, Thánh đệ tử niệm Tăng: 'Diệu hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn; Trực hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn; Ứng lý hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn; Chơn chánh hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn, tức là bốn đôi tám chúng. Chúng đệ tử của Thế Tôn là đáng cung kính, đáng tôn trọng, đáng cúng dường, đáng được chắp tay, là phước điền vô thượng ở đời'. Nhờ vị ấy niệm Tăng, tâm được tịnh tín, hân hoan sanh khởi, các phiền não của tâm được đoạn tận. Này Visàkhà, đây gọi là Thánh đệ tử thực hành chúng Tăng trai giới, sống với chúng tăng. Chính nhờ chúng tăng, tâm vị ấy tịnh tín, hân hoan sanh khởi, các phiền não của tâm được đoạn tận. Như vậy, này Visàkhà, là tâm uế nhiễm được gột sạch nhờ phương pháp thích nghi"
(Tăng Chi Bộ, Chương III – Ba Pháp, VII. Phẩm Lớn, Các Lễ Uposatha)
Chúng ta đừng nghĩ niệm Tăng là niệm Thánh chúng, niệm các thầy mà mình quên rằng hàng cư sĩ là một trong bốn chúng, chúng ta cũng được tính là trong đoàn thể của Phật giáo cho nên chữ "Tăng" nghĩa là đoàn thể. Thời Đức Thế Tôn thì chữ "Tăng" là đoàn thể gồm người xuất gia và tại gia tu theo Đức Phật cho nên chúng ta hiểu chữ "Tăng" ở đây là niệm những đức hạnh cao thượng của người tu, còn Tăng là những vị ở ngoài là đời sống thể hiện đức hạnh đó. Những đức hạnh này là một người trong đoàn thể Phật giáo phải có, đó là diệu hạnh, ứng lý hạnh, trực hạnh và chân chánh hạnh. Diệu hạnh nghĩa là đức hạnh hiền dịu, Đức Phật kể lại câu chuyện người chủ hiền thục trong kinh tạng.
"Chư Tỳ-kheo, thuở xưa, tại thành Savatthi này có nữ gia chủ tên là Vedehika. Chư Tỳ-kheo, tiếng đồn tốt đẹp sau đây được khởi lên về nữ gia chủ Vedehika: 'Nữ gia chủ Vedehika là hiền thục, nữ gia chủ Vedehika là nhu thuận; nữ gia chủ Vedehika là ôn hòa'. Chư Tỳ-kheo, nữ gia chủ Vedehika có người nữ tỳ tên là Kali, người này khéo tay, siêng năng, và làm việc cẩn thận chu toàn. Chư Tỳ-kheo, nữ tỳ Kali khởi lên ý nghĩ: 'Chủ của ta được tiếng đồn tốt đẹp khởi lên như sau: 'Nữ gia chủ Vedehika là hiền thục; nữ gia chủ Vedehika là nhu thuận; nữ gia chủ Vedehika là ôn hòa'. Không biết nữ chủ của ta có nội sân mà không tỏ lộ hay không có nội sân, hay vì công việc ta làm cẩn thận chu toàn nên nữ chủ ta có nội sân nhưng không tỏ lộ, không phải không có. Vậy ta hãy thử nữ chủ của ta!'
Chư Tỳ-kheo, rồi nữ tỳ Kali sáng ngày sau dậy thật trễ. Chư Tỳ-kheo, nữ gia chủ Vedehika nói với nữ tỳ Kali:
-- Này Kali!
-- Thưa Nữ chủ, có việc gì?
-- Sao hôm nay Ngươi dậy trễ vậy?
-- Thưa nữ chủ, có việc gì đâu?
-- Thật sự không có việc gì à? Ác nữ tỳ kia, hôm nay Ngươi dậy trễ!'
Và nữ chủ phẫn nộ, bất mãn, trừng mắt.
Chư Tỳ-kheo, nữ tỳ Kali suy nghĩ: 'Nữ chủ của ta thật sự có nội sân nhưng không tỏ lộ, không phải không có. Vì những công việc ta làm cẩn thận chu toàn, nên nữ chủ của ta tuy có nội sân nhưng không tỏ lộ, không phải không có. Vậy Ta hãy thử thêm nữa nữ chủ của ta!'
Chư Tỳ-kheo, rồi nữ tỳ Kali ngày sau lại dậy trễ hơn nữa. Chư Tỳ-kheo, nữ chủ Vedehika nói với nữ tỳ Kali:
-- Này Kali!
-- Thưa Nữ chủ, có việc gì?
-- Sao hôm nay Ngươi dậy trễ vậy?
-- Thưa Nữ chủ, có việc gì đâu?
-- Thật sự không có việc gì à? Ác nữ tỳ kia, hôm nay Ngươi dậy trễ!
Và nữ chủ phẫn nộ, bất mãn, thốt lên những lời bất mãn.
Chư Tỳ-kheo, nữ tỳ Kali suy nghĩ: 'Nữ chủ của ta thật sự có nội sân nhưng không tỏ lộ, không phải không có. Vì những công việc ta làm cẩn thận chu toàn nên nữ chủ của ta tuy có nội sân nhưng không tỏ lộ, không phải không có. Vậy ta hãy thử thêm nữa nữ chủ của ta!'
Chư Tỳ-kheo, rồi nữ tỳ Kali sáng hôm sau lại dậy trễ hơn nữa. Chư Tỳ-kheo, nữ chủ Vedehika nói với nữ tỳ Kali:
-- Này Kali!
-- Thưa Nữ chủ, có việc gì?
-- Sao hôm nay Ngươi dậy trễ vậy?
-- Thưa Nữ chủ, có việc gì đâu?
-- Thật sự không có việc gì à? Ác nữ tỳ kia, hôm nay Ngươi dậy trễ!
Rồi phẫn nộ, không hoan hỉ, nàng cầm cái then gài cửa, đánh một cú trên đầu nữ tỳ khiến bể đầu.
Chư Tỳ-kheo, nữ tỳ Kali, với đầu bể máu chảy, liền đi kể lể với các nhà láng giềng:
-- Hãy xem việc làm của nữ chủ hiền thục! Hãy xem việc làm của nữ chủ nhu thuận! Hãy xem việc làm của nữ chủ ôn hòa! Sao nữ chủ nói với nữ tỳ độc nhất: 'Hôm nay Ngươi dậy trễ', rồi phẫn nộ, bất mãn, nàng cầm then gài cửa, đánh tôi một cú trên đầu khiến bể đầu".
Chư Tỳ-kheo, sau một thời gian, tiếng đồn xấu sau đây được khởi lên về nữ chủ Vedehika: 'Nữ chủ Vedehika là độc ác! Nữ chủ Vedehika là không nhu thuận! Nữ chủ Vedehika là không ôn hòa!'"
(Trung Bộ Kinh, 21. Kinh Ví dụ cái cưa)
Đức Phật ví dụ câu chuyện này cho các thầy Tỳ-kheo thấy lúc bình thường thì hiền lành nhưng đụng chuyện hiền hay không mới biết.
"Cũng vậy chư Tỳ-kheo, ở đây, Tỳ-kheo hết sức hiền lành, hết sức nhu thuận, hết sức ôn hòa trong khi chưa bị những lời nói bất khả ý, xúc phạm. Và chư Tỳ-kheo, chỉ khi nào Tỳ-kheo bị những lời nói bất khả ý, xúc phạm mà vị ấy vẫn hết sức hiền lành, hết sức nhu thuận, hết sức ôn hòa, khi ấy vị ấy mới được xem là hiền lành, mới được xem là nhu thuận, mới được xem là ôn hòa"
(Trung Bộ Kinh, 21. Kinh Ví dụ cái cưa)
Chữ "hiền" trong kinh Nikāya rất quan trọng vì nó quyết định sự thành công hay không của một người tu. Một người có tâm chống đối, ương ngạnh, không nghe lời thì tâm đó là tâm không hiền cho nên những người này rất khó tu, nếu tâm không chuyển đổi là không tu được, bản ngã rất cao, đi chùa nhiều năm nhưng có khi thầy nói một thì mình nói lại gấp đôi, như vậy trong tâm là một cái tôi rất lớn, một bản ngã rất cao, một cái tâm ương ngạnh chống đối thì người này không có đức hạnh của người tu.
Muốn tu được thì phải điều chỉnh, sửa chỉnh lại, còn không thì không thể tu được, một cái tâm không hiền rất dễ rơi vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, đừng bao giờ có ý nghĩ bây giờ mình là người, mình biết đi chùa thì đời sau được làm người lại, không có chuyện đó, Đức Phật lấy móng tay khơi một ít đất lên rồi hỏi các thầy Tỳ-kheo đất trong tay ngài là nhiều hay đất trong địa đại là nhiều, các thầy trả lời đất dính trong móng tay Thế Tôn là vô cùng ít ỏi, không so được với đất trên địa cầu, Thế Tôn nói người sau khi chết được trở lại làm người ít như đất trong móng tay, còn chết rồi bị rơi xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh nhiều như đất trên địa cầu.
"Này các Tỳ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Cái gì nhiều hơn, chút đất này Ta lấy trên đầu móng tay, hay quả đất lớn này?
Cái này, bạch Thế Tôn, là nhiều hơn, tức là quả đất lớn này và ít hơn là chút đất mà Thế Tôn lấy trên đầu móng tay. Không thể đi đến ước tính, không thể đi đến so sánh, không thể đi đến một vi phần, khi so sánh quả đất lớn với chút đất mà Thế Tôn lấy trên đầu móng tay.
-- Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, rất ít là chúng sanh được tái sanh làm người! Còn rất nhiều là những chúng sanh phải tái sanh ra ngoài loài Người!
Do vậy, này các Tỳ-kheo, các Ông cần phải học tập như sau: Chúng tôi sẽ sống không phóng dật".
(Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương IX. Tương Ưng Thí Dụ, II. Đầu Ngón Tay)
Mình đừng nghĩ bây giờ mình làm người rồi đời sau cũng được làm người, đó là vô minh, với một cái tâm không hiền thiện, không tu được đức hạnh hiền từ thì trong tích tắc là rơi xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Báo chí đưa tin 3 người con gái châm lửa đốt mẹ vì mâu thuẫn tài sản, trong đó 2 người con đã chết, người còn lại nguy kịch, người mẹ thì phải thay da rất đau đớn, khổ sở, đó là con với mẹ là đấng sanh thành thiêng liêng nhất mà chỉ cần lòng tham sanh khởi lên trong tích tắc thì chắc chắn khi chết phải đọa địa ngục, không thể thay đổi được, biết bao giờ mới thoát ra khỏi cảnh giới địa ngục đó. Chúng ta phải hiểu những điều này để tu học, đức hạnh đầu tiên của người tu là hiền dịu.
Thứ hai là trực hạnh, nghĩa là cái hạnh chánh trực, ngay thẳng, ví dụ mình đang sân lên mà có người nói mình sân là mình phản pháo lại "tôi giận hồi nào", mình tham mà có người bắt gặp là mình chối "tôi tham hồi nào", đó là tâm cong queo, ngụy biện, gian trá, không có tâm ngay thẳng, chân thành, thành thực thì khi chết cộng với ác nghiệp sanh ra làm rắn, lươn, trùng. Rõ ràng là mình làm như vậy nhưng có người chỉ là mình chối, quanh co ngụy biện giấu lỗi lầm cho nên đức hạnh thứ hai của người tu là tâm ngay thẳng, chánh trực, đây là điều kiện để trở thành đệ tử Phật dù là xuất gia hay tại gia. Nếu không nhận diện ngũ uẩn, không có sự sâu sắc trong việc nhìn lại thân tâm mình thì mình không thể biết được tâm mình như thế nào, hàng xóm nhận xét hiền từ, không gây gổ với ai nhưng lại giết người cho nên không nhận diện ngũ uẩn sâu sắc là không thể thấy được mầm móng bên trong, đến khi bung ra thì tạo ác nghiệp địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh cho nên tâm thứ hai là tâm thành thật, ngay thẳng.
Thứ ba là ứng lý hạnh nghĩa là mình phải ứng hợp với chân lý của Đức Phật để thực hành, tức là một người nghe lời và làm theo lời Phật dạy. Ứng là sự ứng hợp, lý là chân lý, hạnh là đức hạnh, nghĩa là đây là người nghe lời Phật dạy rồi làm theo. Ứng lý hạnh là một người dễ nghe, dễ dạy, dễ bảo, tâm không chống đối, trong đạo có câu "y giáo phụng hành" cũng có nghĩa là thầy dạy thế nào con làm theo như vậy, Đức Phật dạy cuộc đời này vô thường, tham, sân, si là khổ, là địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh thì mình phải nhớ vô thường để tu, phải biết sợ tham, sân, si thì đó là ứng lý hạnh, ngược lại nghe dạy tham, sân, si là khổ nhưng sân vẫn sân, bản ngã cứ giữ lấy thì không phải là ứng lý hạnh.
Thứ tư là chân chánh hạnh nghĩa là có đời sống thân, miệng, ý chân chánh, không có tà tín, không có mê tín, không có những hành động tà dại, không có suy nghĩ theo tà mà chỉ là sự chân chánh, đúng theo chánh pháp. Trên đây là bốn điều kiện để trở thành Thánh đệ tử, trở thành đệ tử Phật một cách chân chánh, nhiều trường hợp ngoài miệng nói như vậy nhưng trong bụng là tà ý, những cái này phải tu sâu sắc mới nhìn ra được, có khi đi chùa không phải để tu mà để chụp hình, tìm vui, có những trường hợp các chú, các thầy chết trong đó thì đó là tà hạnh, đó là những cái sâu sắc mình phải nhìn ra được.
Hiền dịu, ngay thẳng, thành thật, nghe lời dạy để làm theo là bốn đức tánh của người tu, mình thường nhớ bốn đức hạnh này rồi mình cố gắng làm theo thì gọi là niệm Tăng, niệm đức hạnh của người đệ tử Phật. Khi mình nhớ niệm thì những cái tâm tham, sân, si, bản ngã, tà dại sẽ giảm bớt, lắng dịu, lòng tin Phật, pháp, Tăng của mình sẽ được tăng mạnh, đó là bốn đức hạnh, bốn điều kiện để trở thành người đệ tử Phật chân chánh. Mình kiểm tra lại trong người mình còn tà không, nếu còn thì phải trừ diệt, tà mạng là nuôi sống sai, Đức Phật nói người cư sĩ phải từ bỏ những nghề sau:
Nghề đồ tể, giết mổ động vật.
Nghề buôn bán vũ khí, chất nổ, đao kiếm sát thương.
Nghề buôn bán người, nô bộc hay súc vật để giết thịt.
Nghề buôn bán độc dược, độc chất.
Nghề buôn bán rượu, các chất say sưa, nghiệp ngập.
Năm nghề này gọi là tà mạng, nuôi sống không đúng pháp của một người cư sĩ tại gia. Mình bán thịt, tuy là không trực tiếp nhưng là gián tiếp sát sanh, bán rượu làm cho người ta say sưa, nghiệp ngập làm tan nhà nát cửa, gây ra biết bao tội lỗi. Mình không buôn bán những chất độc vì gián tiếp để giết người, giết những con vật, ví dụ bán thuốc trừ sâu cũng là phạm giới, không có chánh mạng vì nó giết côn trùng. Bán vũ khí vô cùng nguy hiểm, những đứa trẻ nhỏ cầm vào thì xảy ra chết người, đó là những thứ có thể đưa đến hậu quả chết người, chết thú vật, nếu không có vũ khí thì không có chiến tranh, nếu có thì chỉ là đánh bằng tay chân thôi, còn có vũ khí thì hủy diệt hàng loạt. Cuối cùng là bán người, tệ nạn này bây giờ rất nhiều nhưng 2600 năm trước đã có, có những cô gái bị lừa gạt bán qua tay hết người này đến người kia ở xứ lạ quê người. Như vậy người cư sĩ phải tránh xa năm nghề này thì mới có đời sống chân chánh, chánh mạng.
Đức Phật khuyến khích chúng ta rời xa năm nghề này vì dính vào nó chúng ta sẽ tạo nghiệp rất nặng, có khả năng đọa ba đường ác rất dễ. Chúng ta có quyền lựa chọn nghề nghiệp vì còn rất nhiều nghề có thể nuôi sống đời chân chánh. Như vậy là niệm 10 đức hiệu của Phật, niệm thiết thực hiện tại, sự vi diệu của pháp và niệm bốn đức hạnh của một người đệ tử chân chánh của Phật, nó sẽ giúp cho tâm mình thanh tịnh, trong sạch, sanh khởi lòng tin và nhiều niềm vui, an lạc, phấn khởi, hân hoan.
Tâm thương này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới này
Tâm thương này tỏa rộng
Khắp trời đất bao la.
./.