Mở Cửa Bất Tử 1 - Trí Tuệ về Sắc Uẩn
Mở Cửa Bất Tử 1
TRÍ TUỆ VỀ SẮC UẨN
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Cốt lõi của sự tu hành: PAGEREF _Toc55724967 \h 1
II. Bảy trí về sắc uẩn: PAGEREF _Toc55724968 \h 3
III. Chia sẻ video Bất Tịnh Quán: PAGEREF _Toc55724969 \h 6
IV. Phương pháp Quán Bất Tịnh thành công: PAGEREF _Toc55724970 \h 8
V. Thân Hành Niệm: PAGEREF _Toc55724971 \h 10
1. Sắc sanh: PAGEREF _Toc55724972 \h 12
2. Vị ngọt của sắc: PAGEREF _Toc55724973 \h 12
3. Sự nguy hại của sắc: PAGEREF _Toc55724974 \h 13
4. Sự xuất ly của sắc: PAGEREF _Toc55724975 \h 16
I. Cốt lõi của sự tu hành:
Tất cả người xuất gia chúng ta có một cái tình linh sơn cốt nhục, quyến thuộc Bồ đề rất cao cả. Với tấm lòng từ bi bao la, Sư phụ trụ trì đã mở ra những phương tiện cho từ hàng cư sĩ cho đến hàng xuất gia đều được thấm nhuần ân đức lợi lạc trong giáo pháp. Và mùa An cư Kiết hạ là thời điểm rất quan trọng đối với người xuất gia, là những giây phút để chúng ta ở yên lại, soi rọi lại chính mình, phản tỉnh. Người xuất gia nếu không có những giây phút dừng lại để nhìn kỹ thì có khi mình bị mất chất mà không hay. Cho nên trong ba tháng an cư cửu tuần tu học quan trọng lắm, phải đem hết tâm lực, trí lực, sức lực, nguyện lực của mình để mình trau đồi Pháp học, Pháp hành và Pháp thành. Phật giáo chúng ta có ba Pháp: Pháp học, Pháp hành và Pháp thành.
Pháp học là kinh tạng Nikäya. Sau gần ba mươi năm tìm cầu giáo pháp không ngừng nghỉ, bản thân Minh Thành thấy được rằng, người xuất gia chúng ta phải lấy tạng kinh Nikäya làm tâm tủy. Nếu tách rời tạng kinh Nikäya thì Phật pháp sẽ lần lần bị mai một, bởi vì tạng kinh Nikäya là những lời cội gốc, là cốt lõi, là vô thượng thậm thâm pháp nghĩa. Minh Thành mong rằng tất cả các huynh đệ xuất gia hãy tập trung vào tạng kinh, mỗi một ngày tối thiểu cũng phải bốn tiếng đồng hồ nghe hoặc đọc, là tối thiểu, còn nếu được là tám tiếng đầu tư vào tất cả pháp hành trong tạng kinh Nikäya.
Mới được nghe Thượng tọa trụ trì cho mở cuộc thi kinh Pháp Cú, Minh Thành rất hoan hỷ, rất vui mừng, trên núi Minh Thành có hai người thuộc lòng kinh Pháp Cú. Các huynh đệ biết là ai không? Là vị sư cô già dốt, cô thuộc hết bộ kinh Pháp Cú và một chú Sa-di mới xuất gia. Ở Linh Quy Pháp Ấn mỗi ngày đều tụng kinh Tứ Niệm Xứ, Minh Thành cho trả bài kinh Tứ Niệm Xứ.
Vừa rồi đi họp trong bang Hoằng Pháp của Thành hội Phật giáo Hồ Chí Minh tại Việt Nam Quốc Tự, khi các chư Tôn đức lấy ý kiến cho thi diễn giảng trong mùa hạ năm nay, các thầy đưa ra nhiều chủ đề. Lúc đó Thượng tọa phó bang Hoằng pháp phát biểu một ý kiến Minh Thành rất tâm đắc. Thượng tọa nói: “giảng đề tài gì không biết, nhưng không có Tứ Niệm Xứ thì xem như mất cái gốc.” Câu này rất quan trọng. Tứ Niệm Xứ là gì? Là nhìn lại tự thân, tự tâm của mình. Người tu không có gì khác hơn là phải luôn luôn xoay lại để thấy rõ được thân mình, tâm mình. Nếu không thấy rõ được thân tâm mình, thì mình tu cái gì?
Minh Thành thiết lập Quán chiếu đường, chỗ mà mấy bạn trẻ gọi là cổng trời, quán chiếu là lấy từ Tứ Niệm Xứ. Quán xét và soi rọi tự thân tự tâm của mình, đó là việc làm quan trọng nhất của người tu. Ngoài việc đó không có gì quan trọng hơn nữa hết, dù cho mình làm bất cứ điều gì, đó là việc bên ngoài. Mình phải nhìn thấy được thân của mình là cái gì cấu tạo, cái gì kết hợp, hình thành; từ đâu mà sắc này sanh khởi, từ đâu mà sắc này chấm dứt; thế nào là vị ngọt của sắc, thế nào là sự nguy hại của sắc và thế nào là sự xuất ly khỏi sắc; con đường vượt thoát như thế nào?
II. Bảy trí về sắc uẩn:
Ở đây, trong kinh tạng Nikäya nói rất rõ, phải nắm thật vững bảy trí về sắc uẩn, bảy trí về thọ uẩn, bảy trí về tưởng uẩn, bảy trí về hành uẩn và bảy trí về thức uẩn. Tổng cộng có ba mươi lăm loại trí tuệ. Nói đơn giản là mình thành tựu bảy cái trí để thấy rõ được năm uẩn. Quý huynh đệ học cái này chưa? Rất quan trọng, nếu không thấy rõ được chính mình, thì tất cả cái học của mình chỉ ở bên ngoài, không giải quyết được vấn đề của chính mình.
Cho nên, Minh Thành rất tha thiết mong muốn các huynh đệ tìm hiểu trong kinh tạng Nikäya. Nếu có thể thì mình nên có lớp học về kinh tạng này, nhất là pháp hành trong kinh Nikäya. Nếu mình chưa nắm vững Pháp học, Pháp hành, không hành trì thì đọc vô đó như rừng rậm, và cuối cùng, mình đi lang thang trên vạn nẻo đường. Mình không biết thực hành ở đâu hết, mình học thực hành lung tung, bốc cái này, chụp cái kia, bỏ cái nọ. Cuối cùng, cuộc đời tu của mình không đi đến đâu hết. Điều này rất quan trọng.
Bảy cái trí về sắc: sắc sanh, sắc diệt, vị ngọt của sắc, sự nguy hiểm nguy hại của sắc, sự xuất ly khỏi sắc và con đường chấm dứt, vượt thoát khỏi nó. Phải nắm vững. Ở trên núi, Minh Thành cho học thuộc bảy trí này, trả bài hết, cho dù mấy chú tập sự mới xuất gia cũng phải học thuộc lòng. Phải thuộc lòng bảy trí này. Đó là nói về sắc uẩn, là phần tự thân mình phải thành tựu trí huệ đó.
Bây giờ tới tâm, bao gồm thọ, tưởng, hành, thức, mình phải biết. Đầu tiên là mình phải biết sắc là gì? Trong kinh Thủ chuyển định nghĩa bốn đại chủng và sắc do bốn đại chủng tạo thành. Sắc là bị thay đổi, bị vô thường; sắc là bốn đại chủng, là sắc do bốn đại chủng tạo thành. Điểm đầu tiên này là mình bị dính liền. Bây giờ, chung tất cả chúng ta, mình tu học cũng nhiều năm, hàng chục năm, có vị mười mấy năm, có vị năm bảy năm. Khi các vị nghĩ về tấm thân sáu bảy chục ký, mình có nghĩ đây là mình không, hay đây là sắc? Mình thấy rằng sáu bảy chục ký này là sắc uẩn hay là mình? Nếu mình thấy thân sáu bảy chục ký này là mình, là tôi, là ta, là vô minh, chưa bước vào Chánh Tri Kiến là cánh cửa đầu tiên của Bát Chánh Đạo. Quý huynh đệ phải biết trí tuệ của kinh tạng Nikäya rất thâm sâu, không phải đơn giản như mình hiểu trước nay.
Ngay từ cánh cửa đầu tiên của Bát Chánh Đạo là mình đã chưa bước vào được. Nếu thấy được sắc uẩn này là bốn đại, bốn đại chủng, và sắc do bốn đại chủng tạo thành, thấy rõ, xác quyết, thì đó là mình đã thành tựu trí huệ Chánh Tri Kiến. Là mới chỉ thấy đúng, mà chỉ là đúng một phần về sắc uẩn thôi. Vậy, tu mười, mười lăm năm nay, mình có thấy cái đầu tiên này chưa? Suy xét lại, mình rất xót xa trong sự tu tập của mình. Mà nếu muốn thấy cái đúng này, không phải đơn thuần là chỉ thấy, nghe mà còn phải do tư duy tu tập, quán chiếu thường trực, luôn luôn phải quán chiếu sắc thân này là tứ đại. Và tất cả các thứ mình thấy, trùm trời đất này, phổ thiên ha, sum la vạn tượng, phán cho nó một chữ thôi: SẮC. Không có gì khác hết. Dầu cho cái nhà làm bằng vàng, Kim các tự ở Nhật Bản hay cái am tranh trên Linh Quy Pháp Ấn, cũng là sắc uẩn, không hơn không kém. Cho dù người đó là hoa hậu Hoàn vũ của quốc tế hay người đó ăn xin lăn lóc ngoài đường, thì đó cũng là sắc uẩn. Phải thấy được như vậy mới thành tựu được trí huệ đầu tiên về sắc.
Quý huynh đệ thấy không, điều này cay đắng lắm. Làm sao mình có được điều này? Ngày nào ngồi thiền mình cũng phải quán về điều này. Minh Thành đang hướng dẫn trong lớp Trung cấp, nếu huynh đệ có học thì đang học bài quán chiếu về tứ đại, nguyên cả một tiểu luận Quán chiếu về tứ đại mà thuần là trong kinh tạng Nikäya hết. Phải ngồi lại, quán chiếu, phân tích, tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, bao tử, lá lách, ruột già, tim, gan, tỳ, phế, thận, hoành cách mô, nước mắt, nước mũi, nước miếng, máu mủ, nước tiểu…. tất cả trong cái thân này; mình mới thấy rõ cái nào là đất, nước, gió, lửa. Phải ngồi lại và quán chiếu. Mỗi một ngày đều phải quán chiếu về bất tịnh thì mình mới phá trừ được tham dục. Ngoài Pháp Bất Tịnh Quán ra, không có một pháp nào khác có thể triệt để tiêu diệt được tham dục của chúng sanh. Đó là trí huệ của bậc Chánh Đẳng Giác.
Bây giờ hỏi lại mình, xuất gia bao nhiêu năm nay, mình được mấy tiếng đồng hồ ngồi Quán Bất Tịnh? Chính vì thế mà cái dục tham, ái dục, dâm dục, khát ái của mình vẫn còn nguyên, thậm chí phát triển, tăng trưởng, quảng đại. Khi đối diện với nội tâm, mình vẫn đau khổ, vẫn khao khát, vẫn thèm muốn không ngừng nghỉ, vì mình không dùng Bất Tịnh Quán để đối trị, vì mình không học, không hành trì Tứ Niệm Xứ. Thực tập trong Tứ Niệm Xứ, trong đó gồm có phần quán về thân, mình phải thực tập sáu phương diện, tức là Niệm Hơi Thở, Niệm Oai Nghi, Niệm Hành Động, Niệm Tứ Đại, Niệm Ba Mươi Hai Thể Trược và Niệm Chín Giai Đoạn Của 1 Tử Thi. Thường thường mình tu, kể cả bên Phật giáo Nam tông, cũng thường dừng lại ở niệm hơi thở, niệm oai nghi, niệm hành động mà thiếu ba phần sau cực kỳ quan trọng là niệm về tứ đại, Ba Mươi Hai Thể Trược, và chín giai đoạn của một tử thi. Nếu không thực tập đầy đủ ba cái này thì mình sẽ không phá được tham dục.
III. Chia sẻ video Bất Tịnh Quán:
Hôm nay Minh Thành muốn giới thiệu đến các huynh đệ xem thật kỹ, vừa xem vừa quán chiếu để trong mình phát sanh cảm giác, cảm thọ để quán chiếu. Mời các huynh đệ phát biểu cảm xúc sau khi xem các clip vừa rồi.
Sư thầy 1: Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Kính bạch trên Đức Thầy, vừa qua Đại Đức đã cho chúng con xem những hình ảnh rất ghê về thể trược của con người, từ lúc còn xinh đẹp cho đến lúc bị hủy hoại, con thấy rất ghê. Bản thân chúng con là những Tăng sĩ trẻ thì vẫn còn rất nhiều ham muốn, mặc dù quán triệt, vẫn biết đó là bất tịnh, là dơ. Xin Thầy hãy chia sẻ nhưng phương pháp nào cụ thể hơn nữa để chúng con có thể diệt trừ những tham muốn, ái dục. Chúng con xin thành kính tri ân Thầy. A Di Đà Phật.
Sư thầy 2: Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Kính bạch trên Thầy cùng toàn thể đại chúng. Con có đôi lời như sau, thường thì là một con người, là Tăng sĩ trẻ, đồng ý ai cũng biết rằng thân thể này là bất tịnh, là vô thường, không thật. Nhưng khi nói chỉ là trên lý lẽ, còn trong thực tế, khi gặp một người con gái đẹp, ai cũng nói Quán Bất Tịnh, nhưng con nghĩ quán không nổi, lúc đó chỉ là quáng gà thôi. Vì một người phụ nữ còn rất xinh đẹp, nước da mịn màng, và còn mùi thơm của nước hoa nữa, thì khi gặp thực tế, vượt qua được ải này rất là khó. Nên con nghĩ, một người tu thành được hay không, vượt qua được ải sắc dục này hay không, nó chiếm hơn 80-90% để mình đạt được kết quả tu hành. Vẫn biết như vậy nhưng người tu cũng bị rơi rớt rất nhiều. Con chỉ có vài lời, xin Thầy hướng dẫn, cho nhiều lời dạy bảo hơn để chúng con lấy đó thực hành theo, để được an lạc, có thể tránh đi sắc dục đó để tu tốt hơn.
Sư thầy 3: A Di Đà Phật. Kính bạch Giảng sư, kính thưa chư huynh đệ. Vừa rồi được xem những clip của Giảng sư thực hiện sưu tầm rất công phu, riêng bản thân con thì khi xem những clip này, chúng con cảm thấy rất cám ơn Giảng sư đã đưa những hình ảnh trực quan, sự thật đến những vị tu sĩ trẻ như chúng con. Những hình ảnh trực quan ấy rõ ràng, trực tiếp, sắc nét hơn là những lời chúng ta chỉ nghe nói lại.
Sư thầy 4: Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Lời đầu tiên chúng con xin tri ân Thầy đã cho chúng con xem clip. Con xem ấn tượng nhất là khi khâu vá và lật mặt nạ lại, úp vào hộp sọ. Lần đầu tiên được xem, chúng con cảm nhận rất sâu sắc về câu nói: nhan sắc, ngoại hình bên ngoài chỉ là vỏ bọc cái khối bất tịnh, đó là điều con ấn tượng nhất.
IV. Phương pháp Quán Bất Tịnh thành công:
Kính thưa đại chúng,
Trong Tứ Niệm Xứ, mình nói đơn giản là quán xét thân tâm. Nói một danh từ hiện đại bây giờ, đơn giản dễ hiểu là quán xét thân tâm. Lúc nãy chúng ta xem chỉ là phần quán về thân và phần sắc uẩn. Lúc nãy các huynh đệ nói rằng, xem thấy sợ, thấy khủng khiếp quá. Khi tiếp xúc thực tế bên ngoài thì mình lại không thấy giống như thế này, các huynh đệ biết tại sao không? Tại vì mình không thực tập thường xuyên. Có khi cả một cuộc đời của mình mới được xem một lần, vài lần.
Điều này đòi hỏi mình phải thực tập liên tục không ngừng nghỉ, ít nhất là mỗi ngày đều có một giờ để Quán Bất Tịnh thì mình mới thành tựu trí tuệ. Còn ở đây mình chỉ xem qua, nghe qua rồi để đó thôi. Có một vị huynh đệ nói là mình nghe pháp thường xuyên. Nghe pháp thường xuyên là chỉ thành tựu về phần văn thôi, còn khi mình ngồi lại, dùng trí quán để phân tích, suy xét, tư duy, quán chiếu, lúc đó mình mới thành tựu phần tư tuệ.
Tại sao mình không thành công? Vì mình nghe phớt phớt qua thôi, mình không để nó vào tim. Cho nên, bốn điều kiện để giúp mình thành tựu mỹ mãn, giúp cho mình như ý, đầu tiên mình phải muốn làm điều đó; kế đến là phải nỗ lực trong điều đó; sau nữa là mình phải để tâm trong điều đó. Và cuối cùng là mình phải tìm đủ mọi cách, khéo léo làm được điều đó.
Đây gọi là Tứ như ý túc. Dục như ý túc, Tinh tấn như ý túc, Tâm như ý túc và Tư duy như ý túc. Bốn điều này là chìa khóa vàng đi đến thành công. Mình đơn thuần chỉ muốn thôi, mình muốn được chứng quả, muốn diệt được tham sân si, nhưng cái muốn mình cũng chưa đủ, nếu muốn tới mức của nó thì tự động sẽ nỗ lực lên. Ngoài đời, quý huynh đệ thấy, ngay bản thân mình, điều gì khi muốn quá mức thì mình có nỗ lực để làm cho bằng được cái muốn đó không?
Cho nên, nếu cái muốn nó đủ sức, nó sẽ trở thành động lực để làm cho mình phấn đấu. Vì thế, trong kinh Tăng chi bộ, Đức Phật nói: “tất cả pháp lấy dục làm căn bản, là sự ham muốn, là nền tảng để hoàn thành tất cả các pháp.” Cho nên, cái muốn tu, cái muốn giải thoát của mình chưa đủ, chưa mạnh, chưa đủ mạnh để làm mình nỗ lực. Nếu nỗ lực, để tâm vô thì ngày nào mình cũng Quán Bất Tịnh, nếu như vậy thì khi đối duyên xúc cảnh, khi sắc cảnh tới thì lúc đó sẽ khác. Nó chưa được bất động, chưa được đâu. Lúc đầu mình có thể thua, 7-3 vì cái dục mạnh hơn, nhưng dần dần sẽ 50-50, mình cố gắng tu, nỗ lực, kiên trì, tinh tấn thì mình vượt lên, phần thắng của mình chiếm ưu thế hơn. Và khi nhiếp phục được nó là mình có sự thành tựu.
Chỗ này, quý huynh đệ phải có sự nỗ lực, tinh tấn, kiên trì mới được, cho nên hôm nay Minh Thành dùng từ “trói voi bỏ rọ”, vì giáo Pháp quan trọng, Pháp hành rất quan trọng mà mình chỉ có một buổi thôi, nên mình trói con voi bỏ vô rọ, để Minh Thành gửi đến các huynh đệ bí kíp Chánh Pháp. Mình tuổi trẻ với nhau, mình hiểu nhau lắm, quý huynh đệ nhất trí không? Mình biết bệnh chung là bệnh gì và thuốc trị bệnh phải dùng đúng thuốc, đúng liều lượng thì mới giảm, hết, lành bệnh.
V. Thân Hành Niệm:
Hôm nay Minh Thành chỉ giới thiệu cái căn bản về phần trí để quán chiếu về sắc uẩn. Trong phẩm Thiền định, Tăng chi bộ kinh tập 1, trang 88, Đức Phật nói:
“Như một ai, này các Tỷ-kheo, với tâm biến mãn cùng khắp biển lớn, có thể bao gồm tất cả các con sông bé nhỏ đổ vào biển cả. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ai tu tập, làm cho sung mãn thân hành niệm, cũng bao gồm tất cả thiện pháp, gồm những pháp thuộc về minh phần.
Có một pháp, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến cảm hứng lớn, lợi ích lớn, an ổn lớn khỏi các khổ ách, chánh niệm tỉnh giác, đưa đến chứng đắc tri kiến, đưa đến hiện tại lạc trú, đưa đến chứng ngộ quả minh và giải thoát. Một pháp ấy là gì? Chính là thân hành niệm.”
Thân hành niệm là điều nãy giờ mình nói, niệm thân.
“Có một pháp, này các Tỷ-kheo, khi được tu tập, được làm cho sung mãn, thân được khinh an, tâm được khinh an, tầm tứ được tịnh chỉ, toàn bộ các pháp thuộc về minh phần đi đến tu tập, làm cho viên mãn. Một pháp ấy là gì? Chính là thân hành niệm.”
Quý huynh đệ thấy phẩm này Đức Phật tán thán thân hành niệm rất nhiều.
“..Có một pháp, này các Tỷ-kheo, khi được tu tập, được làm cho sung mãn, các pháp bất thiện chưa sanh không sanh khởi, và các pháp bất thiện đã sanh bị đoạn tận. Một pháp ấy là gì? Chính là thân hành niệm.
.. Có một pháp, này các Tỷ-kheo, khi được tu tập, được làm cho sung mãn, vô minh được đoạn tận, minh sanh khởi, ngã mạn được đoạn tận, các tùy miên được nhổ sạch, các kiết sử bị đoạn tận. Một pháp ấy là gì? Chính là thân hành niệm.
.. Có một pháp, này các Tỷ-kheo, khi được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến sự phân tích của trí tuệ, đưa đến Niết-bàn không có chấp thủ. Một pháp ấy là gì? Chính là thân hành niệm.
.. Những vị này không hưởng được bất tử, này các Tỷ-kheo, là những vị không thực hiện thân hành niệm. Những vị này hưởng được bất tử, này các Tỷ-kheo, là những vị thực hiện thân hành niệm.”
(Tăng chi bộ kinh, tập 1, phẩm Thiền định 2, trang 156-160)
Ai thực hành điều này, là người đó hưởng được hương vị của bất tử, bất tử tức là Niết bàn, sự chấm dứt, sự nhiếp phục, sự từ bỏ, sự đoạn tận tham dục, tham ái, sự khao khát đối với sắc uẩn, đó là Niết bàn. Minh Thành giới thiệu sơ qua để huynh đệ thấy được công năng, tác dụng, lợi ích chính bậc Chánh Đẳng Giác nói trong Tăng chi bộ kinh.
Trở lại vấn đề, để mình thành tựu bảy trí về sắc uẩn rất quan trọng. Minh Thành sẽ nói sơ lược để quý huynh đệ nắm thật vững. Đầu tiên là mình phải hiểu rõ sắc, nếu không hiểu rõ sắc thì mình không thể nào tu tập được hết. “Tại sao Thầy nói con không nhận biết sắc? Con học xong ở trường Sơ cấp, Trung cấp Phật học, trường Cao đẳng rồi, bây giờ Thầy nói con chưa biết sắc..” Thật sự mình chưa biết sắc, mình chỉ biết trên từ ngữ thôi, mình tưởng sắc là cô gái đẹp, sắc là đóa hoa này, mà không biết sắc chính là thân mình, là sắc uẩn. Mình chỉ thấy cái sắc bên ngoài, nên có sự phân làm hai: nội sắc và ngoại sắc, đều thuộc về sắc uẩn.
Đầu tiên, mình phải biết, sắc pháp là sắc pháp. Khi đó, mình đạt được một trí huệ về sắc pháp. Còn ở đây cứ nhận lầm đây là mình, là mình không thành tựu trí huệ về sắc, quý huynh đệ thấy không? Khi ngồi, suy nghĩ, nhìn lại: tôi ăn, tôi đi, tôi làm chứ mình không nói sắc ăn, sắc đi, sắc làm, là sắc uẩn ăn.. Hiện tại ở đây là sắc ngồi, chứ không phải mình ngồi.
Phải xác định cái trí thứ nhất về sắc. Điều này đòi hỏi mình phải thực tập, nếu không thực tập thì không gỡ ra được đâu quý huynh đệ, điều này ăn rất sâu. Đây gọi là thân kiến. Phá thân kiến là Dự Lưu vào dòng trí huệ lập tức. Khi phá vỡ thân kiến là phá vỡ sự kiến chấp về thân, là sự sai lầm, nhận định sai lầm về thân; mình phá thân kiến thì hoài nghi với giới cấm thủ, lập tức tiêu diệt, nó sẽ đi theo đó để tiêu diệt và mình dự vào dòng Pháp, chính thức bước vào bốn đôi tám chúng của Đức Phật, mới chính thức là đệ tử của Tăng Bảo. Cho nên, đầu tiên mình phải thành tựu trí về sắc. Phải biết đây là sắc uẩn, loại bỏ ý nghĩ đây là mình, tôi, ta, luôn luôn lúc nào cũng nhìn thấy đây là sắc uẩn.
1. Sắc sanh:
Nói đơn giản, sắc sanh là do thức ăn tập khởi nên sắc sanh khởi, sắc diệt là do thức ăn bị đoạn diệt nên sắc nó sắc diệt. Sắc này muốn tồn tại, muốn sanh khởi là do có thức ăn, không ăn là chết; thức ăn đoạn diệt là sắc đoạn diệt. Sắc diệt đạo là tu tập Bát Chánh Đạo. Có điều kiện để học, Bát Chánh Đạo trong kinh Nikäya không giống như học thông thường trong trường sơ cấp, trung học, cao đẳng. Sâu xa lắm. Bát Chánh Đạo trong kinh Nikäya, khi mình vừa chứng thành tựu Chánh Tri Kiến thôi là sơ quả Tu-đà-hoàn. Bát Chánh Đạo của kinh Nikäya nếu mình học kỹ, phải hết ba tháng An cư Kiết hạ mới xong. Chứ không phải Bát Chánh Đạo gồm Chánh Kiến, Chánh Tư Duy.., đó chỉ toàn là ngôn ngữ thôi. Chánh kiến, là tối thiểu mình phải thấy được thân này là sắc uẩn, không có gì là tôi, không có gì là của tôi.
2. Vị ngọt của sắc:
Vị ngọt của sắc là do duyên sắc khởi lên lạc hỷ gì, thì lạc hỷ đó gọi là sắc. Do duyên với sắc đó mà mình khởi lên ham muốn, thích thú, khoan khoái v.v.., đó là vị ngọt của sắc. Mình cần phải rõ biết đây là vị ngọt của sắc. “Này các Tỳ-kheo, do có vị ngọt của sắc cho nên chúng sanh mới ưa thích sắc, tham đắm sắc, khao khát sắc, chạy theo sắc, bị hấp dẫn, lôi cuốn bởi sắc vì nó có vị ngọt của sắc”, chứ không phải nói chung chung, sắc là khổ, miệng nói khổ nhưng bụng thì thích. Trí huệ Phật thấy rất rõ, rằng có vị ngọt của sắc, chứ Đức Phật không một mực nói chỉ là khổ không thôi, còn có vị ngọt. Vì có vị ngọt nên chúng sanh mới đam mê, vị ngọt của sắc là những gì mình khoan khoái, thích thú của mình đối với sắc, đó là vị ngọt.
Quý huynh đệ có thấy mình đi tìm cầu vị ngọt này nhiều không? Tìm cầu suốt cuộc đời, đau khổ hoài, không thấy đủ. Vị ngọt này không cần giải thích, cuộc đời đầy dẫy hết.
3. Sự nguy hại của sắc:
Thế nào là sự nguy hại của sắc? Sự vô thường, sự khổ, chịu sự biến hoại của sắc, đó là sự nguy hại của sắc. Vì cái sắc đó luôn luôn ở trong sự sanh diệt, có loài hoa nào mà nở mãi không tàn, hoa có tên Bất tử ở Đà Lạt vẫn tàn như thường, chỉ chậm hơn các loại hoa kia thôi, làm gì có loại hoa không tàn. Cho nên, sắc nhất định phải chịu sự vô thường, sự khổ, sự biến hoại. Đó là sự nguy hại của sắc.
Trong kinh Đức Phật diễn tả rất kỹ, sự nguy hại của sắc là tóc bạc, da mồi, mắt mờ, lưng còng, tai điếc, gối mỏi, là đi lum khụm run rẩy, là nằm một chỗ, bất động, đại tiểu tiện.. Đó là sự nguy hại về sắc mà lúc nãy mình thấy, tai nạn giao thông lìa đứt hai chân ra. Vì sắc là vô thường nên tự nó không giữ được cái tự thể của nó, mà nó phải chịu sự biến đổi, tác động kịch liệt của các duyên ở bên ngoài như đất, nước, gió, lửa. Nhất định nó phải đi đến chỗ tan hoại, diệt vong, không có con đường nào khác hết. Thấy được như vậy, mình thành tựu trí về sự nguy hại của sắc. Đó là trí thứ sáu.
Khi nhập thất, Minh Thành xem gần hai trăm lần chớ không chỉ xem một lần, mở ra, vừa xem vừa quán chiếu, mà tới bây giờ vẫn còn xem để quán chiếu. Đức Thế Tôn nói trong kinh Tứ Niệm Xứ là bảy năm, sáu năm, năm năm, ba năm, hai năm, một năm… mình nói “Thầy ơi, xem xong trở ra..”, vì mình không chịu tiếp tục tu tập, không chịu kiên trì, để tâm, không chịu nắm lấy đề mục của thiền định thì làm sao mình thành tựu định được. Phải có lòng tin đối với Pháp, phải có sự nỗ lực tinh tấn, phải nhớ nghĩ về Pháp hoài, kiên trú trong đó, tức là định thì tự nhiên được sanh được trí huệ trong đó. Đó là Tín, Tấn, Niệm, Định, Huệ. Đây là năm căn tạo thành năm lực.
Các huynh đệ phải nhuần nhuyễn Ba mươi hai phẩm trợ đạo giống như tụng chú Vãng sanh, chú Đại bi. Bây giờ chú Đại bi để qua một bên, phải thuộc Ba mươi hai phẩm trợ đạo, nói tới đâu là thuộc ro ro về pháp học. Bên Myama, Tam tạng Pháp sư, người ta học gần bốn chục ngàn trang A4, mình chỉ học có Ba mươi hai phẩm trợ đạo thôi. Chỗ này mình nhìn ra một lỗi lầm rất lớn, rất sâu sắc của người học Phật bây giờ, là thích làm gì chỉ làm cái một, nhiều quá nhớ không hết, làm sao nhớ hết được, chỉ Bát Chánh Đạo thôi, trong Tứ Đế, hỏi đế này quên đế kia. cho nên không đi trên Thánh Đạo thì làm sao thành tựu Thánh Quả?
Trong kinh Đại Bát Niết Bàn của Trường Bộ Kinh, huynh đệ nhớ là Minh Thành nói toàn bộ ở đây thuần túy là trong kinh Nikäya thôi. Xin thưa quý huynh đệ, bây giờ là Minh Thành chuyên công Nikäya, mấy thứ khác Minh Thành để sang một bên hết rồi. Trong kinh Đại Bát Niết Bàn của Trường bộ kinh, Đức Phật nói “truyền thống của Chư Phật”, nghĩa là tất cả các bậc Chánh Đẳng Giác, muốn thành Phật phải đều trải qua con đường: thứ nhất, đoạn tận năm triền cái; thứ hai: an trú tâm nơi Tứ Niệm Xứ; thứ ba: đi trên con đường tu tập Thất giác chi. Đó là con đường truyền thống tu tập của tất cả các bậc Chánh Đẳng Giác trong quá khứ, hiện tại và tương lai.
Bây giờ mình tu, hỏi Bát Chánh Đạo, Tứ thánh đế, Tứ Niệm Xứ v.v.., hỏi cái này là quên cái kia, nhớ cái này qua cái kia.., pháp học còn không xong, nói chi đến pháp hành. Do mình giải đãi, lười biếng, muốn tìm cái gì cho dễ; tánh quen của chúng sanh là như vậy, phóng dật, buông lung, giải đãi, lười biếng, biếng nhác, nhu nhược… Trong khi Đức Phật, bốn đại A tăng kỳ và một trăm ngàn đại kiếp mới phát hiện ra con đường Chánh Đẳng Giác, tỷ tỷ ức kiếp mới thành tựu được đạo lộ Thánh Đạo, ai đi trên Thánh Đạo mới thành tựu Thánh Quả. Bây giờ mới học, kêu “thôi, nhiều quá không nhớ”, chỉ một câu thôi, hay chỉ một hơi thở thôi.
Chỗ này rất quan trọng để chúng ta chiêm nghiệm, bằng không, tu theo cách này, mình không thể nào tành tựu được hết, mình tu theo kiểu giải đãi, lười biếng của mình, tu theo kiểu suy nghĩ của mình, suy nghĩ kiểu phàm phu, vô minh, suy nghĩ của ngã mạn, của tà kiến chấp thủ… nên mình phải căn cứ theo Thánh Đạo, y theo Thánh Đạo thì mới đạt Thánh Quả. Thậm chí những quyển sách giảng giải ra cũng không y cứ theo. Bây giờ cứ y cứ theo kinh Nikäya thôi, cứ giảng riết rồi tam sao thất bản, rồi hai ngàn bảy trăm năm sẽ ra tỷ sao, cuối cùng đọc vô, mình không còn thấy gì nữa. Cho nên, cứ đi thẳng vào kinh Nikäya.
Quý huynh đệ thực tập theo kinh Nikäya, không nói nhiều, cứ thực tập trong bảy ngày, ngay mùa An cư này, ngày nào cũng Quán Bất Tịnh, hết mùa An cư này, rồi huynh đệ sẽ thấy hiệu quả của nó. Mà cũng không đợi hết mùa an cư, nửa tháng, hoặc một tuần lễ thôi; mà không đợi đến 1 tuần lễ, chỉ một buổi thôi; mà không phải đợi đến hết buổi, ngay khi mình ngồi thực tập, như lúc nãy xem, quý huynh đệ khởi tham dục lên được không? Rất là khó, cực kỳ khó, ngay lúc nãy ái dục khởi lên được không, hay nó yểm ly, chán chê, thấy sợ.. Đó là hiệu quả tức thì. Đức Phật định nghĩa: “Pháp được Đức Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực, hiện tại, đến để mà thấy, không trải qua thời gian, có hiệu quả tức thì. là Pháp đưa mình đến hướng thượng, người trí có thể tự mình giác hiểu.” Thiết thực, hiện tại, ngay chỗ đó mình thấy được.
Cho nên, mình quán về sự nguy hại của sắc này hay lắm. Quán về sự vô thường, nhìn vô khía cạnh về sự vô thường, khía cạnh khổ của nó, khía cạnh biến hoại - biến đổi và hoại diệt của nó, nhìn sâu vô khía cạnh đó, mình sẽ thành tựu trí huệ yểm ly, chán nản, muốn xa lìa, gọi là yểm ly, ly tham, từ bỏ, đoạn diệt và giải thoát. Nhàm chán nó. Xin thưa các huynh đệ, tất cả trong các khóa tu của Phật giáo, các thiền đều là thiền tuệ hết, thiền định chỉ là phụ, để cho tâm mình đủ mức độ yên rồi sử dụng toàn bộ thiền quán trí huệ hết, duy nhất chỉ Phật giáo mới có, tất cả các tông tôn giáo khác trên thế giới không có cái thiền tuệ này.
Mình thừa hưởng một gia tài khủng khiếp, không thể nào tưởng tượng, cho nên, mình lạy từ bảy tuổi đến bảy mươi tuổi cũng chưa hết ơn đức của Phật. Nhưng mình có gia tài mà không chịu học, không chịu thực hành, lại chạy đi kiếm các môn học ở ngoài thế gian, có được chút bằng cấp rồi dương dương tự đắc, ta đây thì cái đó là đáng thương xót. Đáng thương xót trong Phật giáo. Quý huynh đệ cần nắm vững điều này.
Minh Thành thấy các huynh đệ trẻ bây giờ lên giảng, triệu like, nhưng Minh Thành lo lắm, không có Chánh Pháp trong đó. Không có Chánh Pháp trong đó thì Phật pháp sẽ mai một, toàn là nói Pháp thế gian, cho nên phải khế cơ, khế lý mới được, nếu không, chính mình sẽ làm hoại diệt Phật pháp. Thà rằng k nói, nếu chưa thành tựu Chánh Tri Kiến thì không nói, không có dễ cho lên pháp tòa. Chính hiện trạng bây giờ, huynh đệ thấy trên mạng lẫn lộn chánh tà hết, không phân biệt được thật giả; người học, phật tử biết đi về đâu? Chính bản thân mình mù lòa lại bước ra dẫn đường, làm thầy cho người ta.
Chính Đức Phật nói trong kinh, kẻ mù đi trước, người mù ôm eo ách đi sau, rồi dẫn xuống vực thẳm, hố sâu. Cho nên, chính chỗ “thăng pháp tòa như tác sư tử hống” không phải chuyện đơn giản. Hãy cẩn thận. Coi chừng rơi xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, không phải chuyện đùa. Điều này rất quan trọng. Mình lên giảng, làm mù mắt hết chúng sanh, mình không có Chánh Tri Kiến, mình không biết cốt tủy của Phật pháp nằm ở chỗ nào, trí huệ ở đâu. Vì thế, phải học cho kỹ, phải để tâm.
Minh Thành nhắc lại, trong bộ kinh Nikäya phải nắm thật vững Ba Mươi Bảy Phẩm Trợ Đạo rồi mới đi giảng pháp. Bây giờ Minh Thành thấy Phật pháp càng phát triển, xây chùa càng nhiều, nói này nọ kia, nhưng nguy hiểm, chứ không phải tốt lành. Tốt là tốt mặt thế gian thôi. Đó là chỗ sâu.
4. Sự xuất ly của sắc:
Cái trí tuệ cuối cùng là sự xuất ly của sắc, là sự nhiếp phục của dục và tham, sự đoạn tận của dục và tham đối với sắc, đây gọi là sự xuất ly khỏi sắc.
Huynh đệ thấy không, con đường rất rõ ràng, nhiếp phục dục và tham, đoạn tận dục và tham đối với sắc, thì đó là con đường ra khỏi sắc. Đây là đạo lộ của Thánh Đạo rất rõ, nhiếp phục dục và tham, đoạn tận dục và tham, làm sao để đoạn tận, mình trở lại thân hành niệm. Thân Hành Niệm thì sáu phương diện mình phải tu tập: Niệm Hơi Thở, mình có tu tập rồi; Niệm Oai Nghi, tức là đi đứng nằm ngồi, đi biết đi, đứng biết đứng, nằm biết nằm, ngồi biết ngồi; Niệm Hành Động là thân thể sử dụng như thế nào mình phải biết như thế đó, co duỗi, cúi, ngước, ăn, ngủ, đi chạy v.v.., các hành động mình phải chánh niệm tỉnh giác.
Ba cái này là chung chung, nhiều người tu tập, còn ba cái sau là cái mình bị thiếu, là Niệm Tứ Đại, Niệm Ba Mươi Hai Thể Trược và Niệm Chín Giai Đoạn Của Một Tử Thi. Do thiếu nên mình không nhiếp phục, không đoạn tận được dục và tham, mình không phá được bản ngã.
Quán tứ đại thì huynh đệ xem ở trang Linh Quy Pháp Ấn.vn, có phần quán chiếu tứ đại, mới có hai bài thôi. Nhớ, phần đó là tiểu luận của Chánh Đẳng Giác, toàn bộ tiểu luận đó Minh Thành soạn, không có một lời nào Minh Thành thêm vào, toàn bộ là trong kinh tạng, năm bộ kinh Nikäya, quán chiếu về tứ đại.
Ngồi trở lại mới nhận thấy, thân thể mình hơi thở vào ra, khì khịt thì mình biết đó là phong đại, là gió. Tim đập, mạch nhảy, máu huyết lưu thông, tất cả những gì động, mình thấy, nói rõ ràng, đây là địa đại, đây là gió, gió bên trong. Rồi hơi ấm, nhiệt độ, tất cả những cái làm cho tiêu hóa thức ăn, nếu không có nhiệt độ thì thức ăn đưa vào còn y nguyên, nên ta thấy người chết nằm cứng đơ, lạnh ngắt, không co duỗi gì được, vì không còn nhiệt độ, hỏa đại không còn. Nếu phong đại không có thì mình không nói chuyện được, cái miệng bị méo luôn, không nhúc nhích được nữa, có phong đại mới nói chuyện được, mới động chuyển được.. Tất cả những cái mình động chuyển được đều là phong đại.
Những cái mình thấy, thực tập thường xuyên liên tục, mình nhìn… cho nên tu học theo kinh Nikäya là phải tinh tấn nỗ lực lắm, chứ không phải như mình nghĩ tu đơn giản, ngày hai thời lên chánh điện gõ boong boong, xuống là xong, không phải. Tu theo Phật là khác, mình đi trên Thánh Đạo, mình sẽ thành tựu được Thánh Quả. Đây là Thánh Đạo, là con đường của Thánh, ở đây từ Thánh là chỉ Đức Phật.
Phần Quán tứ đại, Minh Thành nói phớt qua thôi. Phần về Ba Mươi Hai Thể Trược, rất quan trọng. Mình ngồi nhắm mắt, quán tưởng, bứt hết tóc, nhổ hết mấy chục cái răng, máu chảy ròng ròng, để xuống..; bứt hết tóc, lông, móng răng, bao tử, ruột non, ruột già v.v.., để từng cái trước mắt, cái nào mình để mình mới thấy rõ. Quán Ba Mươi Hai Thể Trược, hỏi tim là mình hay gan là mình, phổi là mình hay thận là mình, ruột già là mình hay phân là mình, nước tiểu là mình hay mủ đàm là mình, mỡ là mình hay máu là mình..? Tất cả những cái đó, quán Ba Mươi Hai Thể Trược thì từ từ mình mới phá được cái nhìn sai lầm về thân này. Ngày nào cũng phải quán như vậy, mà huynh đệ quán được điều này rồi thì tác dụng, công năng của nó, huynh đệ sẽ không tưởng tượng được, khi mình đối duyên xúc cảnh những trần cảnh bên ngoài, mình sẽ có một sức niệm gọi là niệm định huệ. Rất vững chắc.
Bây giờ tâm mình không có chỗ bám trụ nên gặp cảnh là duyên, gặp trần liền dính. Tâm mình không có Pháp hành. Trong kinh tạng Nikäya gọi là có chỗ đứng ở trong giáo Pháp. Nếu mình thực hành được thì mới có chỗ đứng trong giáo Pháp, nếu không thì gọi là tâm hoang vu, là suốt ngày hết cái này đến cái kia, thọ tưởng hành cứ vận hành liên tục, tâm mình không có pháp để trụ, không có Pháp hành. Dở lắm, một hơi thở, một câu niệm Phật, không hiệu quả bao nhiêu, tàm tạm vậy thôi, buông ra rồi thì tham vẫn hoàn tham, sân cũng vẫn sân, si, bản ngã vẫn to đùng, không có khác gì cả. Do những pháp đó không đủ đâm thủng khối vô minh uẩn to lớn, không đủ trí huệ để chém đứt cái mạng lưới của tham ái và chấp thủ. Không đủ. Phải đi theo con đường Chánh Đẳng Giác mới đủ sức phá vỡ được khối đại vô minh uẩn. Điều này rất quan trọng.
Hôm nay Minh Thành muốn trao gửi những cái gì rất là tâm yếu trong Pháp tạng, là món quà tinh thần trong ba tháng An cư. Các huynh đệ phải nắm thật vững điều này, lợi lạc cho mình, lợi lạc cho người. Đừng vội phê phán, đừng vội bám theo cái thấy biết thiên lệch nhỏ hẹp của mình. Phải bình tâm lại, về đọc tạng kinh Nikäya, đọc Ba Mươi Bảy Phẩm Trợ Đạo, phải nhìn lại tự thân, tự tâm của mình thì từ từ mình mới thấy được Chánh Pháp vô thượng.
Như vậy, quý huynh đệ thấy sự nhiếp phục dục và tham, đoạn tận dục và tham là có con đường. Cuối cùng là Chín Giai Đoạn Của Một Tử Thi, điều đó Minh Thành đã nói trong bài Quán Bất Tịnh, huynh đệ về xem lại, Minh Thành chỉ nhắc sơ thôi. Mình quán chiếu, mình đứt hơi, nằm dài, bốn người khiêng, để vài ngày, trương sình lên, xanh, bầm tím, nứt nẻ, chảy nước vàng hôi thối.., bao nhiêu côn trùng, dòi trú ăn hết..; còn bộ xương, năm tháng, xương đầu một nơi, xương chân một nơi..rải rác, rồi từ từ mòn dần, thành cát bụi. Cứ quán như vậy là mình đang bước vào cánh cửa bất tử.
Hôn nay, Minh Thành giới thiệu với huynh đệ về bảy trí của sắc uẩn, chứ chưa nói gì đến thọ, tưởng, hành, thức. Huynh đệ nắm cho thật vững để hành trì, nhất là phần Bất Tịnh Quán để đối trị với tham dục, là cái cấp thiết, thiết yếu ngay trong giờ phút hiện tại của tuổi trẻ tu học của mình. Nếu thực hành được điều này, huynh đệ sẽ an ổn để tu tập và sẽ thăng tiến trên bước đường tự tu cũng như hành đạo. Còn nếu không, chưa vững mà thích làm những điều bên ngoài thì mình sẽ bị những trần cảnh bên ngoài lôi cuốn, hấp dẫn và có thể làm mình bị rơi xuống vực sâu, bị rơi vào vòng xoáy./.
TRÍ TUỆ VỀ SẮC UẨN
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Cốt lõi của sự tu hành: PAGEREF _Toc55724967 \h 1
II. Bảy trí về sắc uẩn: PAGEREF _Toc55724968 \h 3
III. Chia sẻ video Bất Tịnh Quán: PAGEREF _Toc55724969 \h 6
IV. Phương pháp Quán Bất Tịnh thành công: PAGEREF _Toc55724970 \h 8
V. Thân Hành Niệm: PAGEREF _Toc55724971 \h 10
1. Sắc sanh: PAGEREF _Toc55724972 \h 12
2. Vị ngọt của sắc: PAGEREF _Toc55724973 \h 12
3. Sự nguy hại của sắc: PAGEREF _Toc55724974 \h 13
4. Sự xuất ly của sắc: PAGEREF _Toc55724975 \h 16
I. Cốt lõi của sự tu hành:
Tất cả người xuất gia chúng ta có một cái tình linh sơn cốt nhục, quyến thuộc Bồ đề rất cao cả. Với tấm lòng từ bi bao la, Sư phụ trụ trì đã mở ra những phương tiện cho từ hàng cư sĩ cho đến hàng xuất gia đều được thấm nhuần ân đức lợi lạc trong giáo pháp. Và mùa An cư Kiết hạ là thời điểm rất quan trọng đối với người xuất gia, là những giây phút để chúng ta ở yên lại, soi rọi lại chính mình, phản tỉnh. Người xuất gia nếu không có những giây phút dừng lại để nhìn kỹ thì có khi mình bị mất chất mà không hay. Cho nên trong ba tháng an cư cửu tuần tu học quan trọng lắm, phải đem hết tâm lực, trí lực, sức lực, nguyện lực của mình để mình trau đồi Pháp học, Pháp hành và Pháp thành. Phật giáo chúng ta có ba Pháp: Pháp học, Pháp hành và Pháp thành.
Pháp học là kinh tạng Nikäya. Sau gần ba mươi năm tìm cầu giáo pháp không ngừng nghỉ, bản thân Minh Thành thấy được rằng, người xuất gia chúng ta phải lấy tạng kinh Nikäya làm tâm tủy. Nếu tách rời tạng kinh Nikäya thì Phật pháp sẽ lần lần bị mai một, bởi vì tạng kinh Nikäya là những lời cội gốc, là cốt lõi, là vô thượng thậm thâm pháp nghĩa. Minh Thành mong rằng tất cả các huynh đệ xuất gia hãy tập trung vào tạng kinh, mỗi một ngày tối thiểu cũng phải bốn tiếng đồng hồ nghe hoặc đọc, là tối thiểu, còn nếu được là tám tiếng đầu tư vào tất cả pháp hành trong tạng kinh Nikäya.
Mới được nghe Thượng tọa trụ trì cho mở cuộc thi kinh Pháp Cú, Minh Thành rất hoan hỷ, rất vui mừng, trên núi Minh Thành có hai người thuộc lòng kinh Pháp Cú. Các huynh đệ biết là ai không? Là vị sư cô già dốt, cô thuộc hết bộ kinh Pháp Cú và một chú Sa-di mới xuất gia. Ở Linh Quy Pháp Ấn mỗi ngày đều tụng kinh Tứ Niệm Xứ, Minh Thành cho trả bài kinh Tứ Niệm Xứ.
Vừa rồi đi họp trong bang Hoằng Pháp của Thành hội Phật giáo Hồ Chí Minh tại Việt Nam Quốc Tự, khi các chư Tôn đức lấy ý kiến cho thi diễn giảng trong mùa hạ năm nay, các thầy đưa ra nhiều chủ đề. Lúc đó Thượng tọa phó bang Hoằng pháp phát biểu một ý kiến Minh Thành rất tâm đắc. Thượng tọa nói: “giảng đề tài gì không biết, nhưng không có Tứ Niệm Xứ thì xem như mất cái gốc.” Câu này rất quan trọng. Tứ Niệm Xứ là gì? Là nhìn lại tự thân, tự tâm của mình. Người tu không có gì khác hơn là phải luôn luôn xoay lại để thấy rõ được thân mình, tâm mình. Nếu không thấy rõ được thân tâm mình, thì mình tu cái gì?
Minh Thành thiết lập Quán chiếu đường, chỗ mà mấy bạn trẻ gọi là cổng trời, quán chiếu là lấy từ Tứ Niệm Xứ. Quán xét và soi rọi tự thân tự tâm của mình, đó là việc làm quan trọng nhất của người tu. Ngoài việc đó không có gì quan trọng hơn nữa hết, dù cho mình làm bất cứ điều gì, đó là việc bên ngoài. Mình phải nhìn thấy được thân của mình là cái gì cấu tạo, cái gì kết hợp, hình thành; từ đâu mà sắc này sanh khởi, từ đâu mà sắc này chấm dứt; thế nào là vị ngọt của sắc, thế nào là sự nguy hại của sắc và thế nào là sự xuất ly khỏi sắc; con đường vượt thoát như thế nào?
II. Bảy trí về sắc uẩn:
Ở đây, trong kinh tạng Nikäya nói rất rõ, phải nắm thật vững bảy trí về sắc uẩn, bảy trí về thọ uẩn, bảy trí về tưởng uẩn, bảy trí về hành uẩn và bảy trí về thức uẩn. Tổng cộng có ba mươi lăm loại trí tuệ. Nói đơn giản là mình thành tựu bảy cái trí để thấy rõ được năm uẩn. Quý huynh đệ học cái này chưa? Rất quan trọng, nếu không thấy rõ được chính mình, thì tất cả cái học của mình chỉ ở bên ngoài, không giải quyết được vấn đề của chính mình.
Cho nên, Minh Thành rất tha thiết mong muốn các huynh đệ tìm hiểu trong kinh tạng Nikäya. Nếu có thể thì mình nên có lớp học về kinh tạng này, nhất là pháp hành trong kinh Nikäya. Nếu mình chưa nắm vững Pháp học, Pháp hành, không hành trì thì đọc vô đó như rừng rậm, và cuối cùng, mình đi lang thang trên vạn nẻo đường. Mình không biết thực hành ở đâu hết, mình học thực hành lung tung, bốc cái này, chụp cái kia, bỏ cái nọ. Cuối cùng, cuộc đời tu của mình không đi đến đâu hết. Điều này rất quan trọng.
Bảy cái trí về sắc: sắc sanh, sắc diệt, vị ngọt của sắc, sự nguy hiểm nguy hại của sắc, sự xuất ly khỏi sắc và con đường chấm dứt, vượt thoát khỏi nó. Phải nắm vững. Ở trên núi, Minh Thành cho học thuộc bảy trí này, trả bài hết, cho dù mấy chú tập sự mới xuất gia cũng phải học thuộc lòng. Phải thuộc lòng bảy trí này. Đó là nói về sắc uẩn, là phần tự thân mình phải thành tựu trí huệ đó.
Bây giờ tới tâm, bao gồm thọ, tưởng, hành, thức, mình phải biết. Đầu tiên là mình phải biết sắc là gì? Trong kinh Thủ chuyển định nghĩa bốn đại chủng và sắc do bốn đại chủng tạo thành. Sắc là bị thay đổi, bị vô thường; sắc là bốn đại chủng, là sắc do bốn đại chủng tạo thành. Điểm đầu tiên này là mình bị dính liền. Bây giờ, chung tất cả chúng ta, mình tu học cũng nhiều năm, hàng chục năm, có vị mười mấy năm, có vị năm bảy năm. Khi các vị nghĩ về tấm thân sáu bảy chục ký, mình có nghĩ đây là mình không, hay đây là sắc? Mình thấy rằng sáu bảy chục ký này là sắc uẩn hay là mình? Nếu mình thấy thân sáu bảy chục ký này là mình, là tôi, là ta, là vô minh, chưa bước vào Chánh Tri Kiến là cánh cửa đầu tiên của Bát Chánh Đạo. Quý huynh đệ phải biết trí tuệ của kinh tạng Nikäya rất thâm sâu, không phải đơn giản như mình hiểu trước nay.
Ngay từ cánh cửa đầu tiên của Bát Chánh Đạo là mình đã chưa bước vào được. Nếu thấy được sắc uẩn này là bốn đại, bốn đại chủng, và sắc do bốn đại chủng tạo thành, thấy rõ, xác quyết, thì đó là mình đã thành tựu trí huệ Chánh Tri Kiến. Là mới chỉ thấy đúng, mà chỉ là đúng một phần về sắc uẩn thôi. Vậy, tu mười, mười lăm năm nay, mình có thấy cái đầu tiên này chưa? Suy xét lại, mình rất xót xa trong sự tu tập của mình. Mà nếu muốn thấy cái đúng này, không phải đơn thuần là chỉ thấy, nghe mà còn phải do tư duy tu tập, quán chiếu thường trực, luôn luôn phải quán chiếu sắc thân này là tứ đại. Và tất cả các thứ mình thấy, trùm trời đất này, phổ thiên ha, sum la vạn tượng, phán cho nó một chữ thôi: SẮC. Không có gì khác hết. Dầu cho cái nhà làm bằng vàng, Kim các tự ở Nhật Bản hay cái am tranh trên Linh Quy Pháp Ấn, cũng là sắc uẩn, không hơn không kém. Cho dù người đó là hoa hậu Hoàn vũ của quốc tế hay người đó ăn xin lăn lóc ngoài đường, thì đó cũng là sắc uẩn. Phải thấy được như vậy mới thành tựu được trí huệ đầu tiên về sắc.
Quý huynh đệ thấy không, điều này cay đắng lắm. Làm sao mình có được điều này? Ngày nào ngồi thiền mình cũng phải quán về điều này. Minh Thành đang hướng dẫn trong lớp Trung cấp, nếu huynh đệ có học thì đang học bài quán chiếu về tứ đại, nguyên cả một tiểu luận Quán chiếu về tứ đại mà thuần là trong kinh tạng Nikäya hết. Phải ngồi lại, quán chiếu, phân tích, tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, bao tử, lá lách, ruột già, tim, gan, tỳ, phế, thận, hoành cách mô, nước mắt, nước mũi, nước miếng, máu mủ, nước tiểu…. tất cả trong cái thân này; mình mới thấy rõ cái nào là đất, nước, gió, lửa. Phải ngồi lại và quán chiếu. Mỗi một ngày đều phải quán chiếu về bất tịnh thì mình mới phá trừ được tham dục. Ngoài Pháp Bất Tịnh Quán ra, không có một pháp nào khác có thể triệt để tiêu diệt được tham dục của chúng sanh. Đó là trí huệ của bậc Chánh Đẳng Giác.
Bây giờ hỏi lại mình, xuất gia bao nhiêu năm nay, mình được mấy tiếng đồng hồ ngồi Quán Bất Tịnh? Chính vì thế mà cái dục tham, ái dục, dâm dục, khát ái của mình vẫn còn nguyên, thậm chí phát triển, tăng trưởng, quảng đại. Khi đối diện với nội tâm, mình vẫn đau khổ, vẫn khao khát, vẫn thèm muốn không ngừng nghỉ, vì mình không dùng Bất Tịnh Quán để đối trị, vì mình không học, không hành trì Tứ Niệm Xứ. Thực tập trong Tứ Niệm Xứ, trong đó gồm có phần quán về thân, mình phải thực tập sáu phương diện, tức là Niệm Hơi Thở, Niệm Oai Nghi, Niệm Hành Động, Niệm Tứ Đại, Niệm Ba Mươi Hai Thể Trược và Niệm Chín Giai Đoạn Của 1 Tử Thi. Thường thường mình tu, kể cả bên Phật giáo Nam tông, cũng thường dừng lại ở niệm hơi thở, niệm oai nghi, niệm hành động mà thiếu ba phần sau cực kỳ quan trọng là niệm về tứ đại, Ba Mươi Hai Thể Trược, và chín giai đoạn của một tử thi. Nếu không thực tập đầy đủ ba cái này thì mình sẽ không phá được tham dục.
III. Chia sẻ video Bất Tịnh Quán:
Hôm nay Minh Thành muốn giới thiệu đến các huynh đệ xem thật kỹ, vừa xem vừa quán chiếu để trong mình phát sanh cảm giác, cảm thọ để quán chiếu. Mời các huynh đệ phát biểu cảm xúc sau khi xem các clip vừa rồi.
Sư thầy 1: Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Kính bạch trên Đức Thầy, vừa qua Đại Đức đã cho chúng con xem những hình ảnh rất ghê về thể trược của con người, từ lúc còn xinh đẹp cho đến lúc bị hủy hoại, con thấy rất ghê. Bản thân chúng con là những Tăng sĩ trẻ thì vẫn còn rất nhiều ham muốn, mặc dù quán triệt, vẫn biết đó là bất tịnh, là dơ. Xin Thầy hãy chia sẻ nhưng phương pháp nào cụ thể hơn nữa để chúng con có thể diệt trừ những tham muốn, ái dục. Chúng con xin thành kính tri ân Thầy. A Di Đà Phật.
Sư thầy 2: Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Kính bạch trên Thầy cùng toàn thể đại chúng. Con có đôi lời như sau, thường thì là một con người, là Tăng sĩ trẻ, đồng ý ai cũng biết rằng thân thể này là bất tịnh, là vô thường, không thật. Nhưng khi nói chỉ là trên lý lẽ, còn trong thực tế, khi gặp một người con gái đẹp, ai cũng nói Quán Bất Tịnh, nhưng con nghĩ quán không nổi, lúc đó chỉ là quáng gà thôi. Vì một người phụ nữ còn rất xinh đẹp, nước da mịn màng, và còn mùi thơm của nước hoa nữa, thì khi gặp thực tế, vượt qua được ải này rất là khó. Nên con nghĩ, một người tu thành được hay không, vượt qua được ải sắc dục này hay không, nó chiếm hơn 80-90% để mình đạt được kết quả tu hành. Vẫn biết như vậy nhưng người tu cũng bị rơi rớt rất nhiều. Con chỉ có vài lời, xin Thầy hướng dẫn, cho nhiều lời dạy bảo hơn để chúng con lấy đó thực hành theo, để được an lạc, có thể tránh đi sắc dục đó để tu tốt hơn.
Sư thầy 3: A Di Đà Phật. Kính bạch Giảng sư, kính thưa chư huynh đệ. Vừa rồi được xem những clip của Giảng sư thực hiện sưu tầm rất công phu, riêng bản thân con thì khi xem những clip này, chúng con cảm thấy rất cám ơn Giảng sư đã đưa những hình ảnh trực quan, sự thật đến những vị tu sĩ trẻ như chúng con. Những hình ảnh trực quan ấy rõ ràng, trực tiếp, sắc nét hơn là những lời chúng ta chỉ nghe nói lại.
Sư thầy 4: Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Lời đầu tiên chúng con xin tri ân Thầy đã cho chúng con xem clip. Con xem ấn tượng nhất là khi khâu vá và lật mặt nạ lại, úp vào hộp sọ. Lần đầu tiên được xem, chúng con cảm nhận rất sâu sắc về câu nói: nhan sắc, ngoại hình bên ngoài chỉ là vỏ bọc cái khối bất tịnh, đó là điều con ấn tượng nhất.
IV. Phương pháp Quán Bất Tịnh thành công:
Kính thưa đại chúng,
Trong Tứ Niệm Xứ, mình nói đơn giản là quán xét thân tâm. Nói một danh từ hiện đại bây giờ, đơn giản dễ hiểu là quán xét thân tâm. Lúc nãy chúng ta xem chỉ là phần quán về thân và phần sắc uẩn. Lúc nãy các huynh đệ nói rằng, xem thấy sợ, thấy khủng khiếp quá. Khi tiếp xúc thực tế bên ngoài thì mình lại không thấy giống như thế này, các huynh đệ biết tại sao không? Tại vì mình không thực tập thường xuyên. Có khi cả một cuộc đời của mình mới được xem một lần, vài lần.
Điều này đòi hỏi mình phải thực tập liên tục không ngừng nghỉ, ít nhất là mỗi ngày đều có một giờ để Quán Bất Tịnh thì mình mới thành tựu trí tuệ. Còn ở đây mình chỉ xem qua, nghe qua rồi để đó thôi. Có một vị huynh đệ nói là mình nghe pháp thường xuyên. Nghe pháp thường xuyên là chỉ thành tựu về phần văn thôi, còn khi mình ngồi lại, dùng trí quán để phân tích, suy xét, tư duy, quán chiếu, lúc đó mình mới thành tựu phần tư tuệ.
Tại sao mình không thành công? Vì mình nghe phớt phớt qua thôi, mình không để nó vào tim. Cho nên, bốn điều kiện để giúp mình thành tựu mỹ mãn, giúp cho mình như ý, đầu tiên mình phải muốn làm điều đó; kế đến là phải nỗ lực trong điều đó; sau nữa là mình phải để tâm trong điều đó. Và cuối cùng là mình phải tìm đủ mọi cách, khéo léo làm được điều đó.
Đây gọi là Tứ như ý túc. Dục như ý túc, Tinh tấn như ý túc, Tâm như ý túc và Tư duy như ý túc. Bốn điều này là chìa khóa vàng đi đến thành công. Mình đơn thuần chỉ muốn thôi, mình muốn được chứng quả, muốn diệt được tham sân si, nhưng cái muốn mình cũng chưa đủ, nếu muốn tới mức của nó thì tự động sẽ nỗ lực lên. Ngoài đời, quý huynh đệ thấy, ngay bản thân mình, điều gì khi muốn quá mức thì mình có nỗ lực để làm cho bằng được cái muốn đó không?
Cho nên, nếu cái muốn nó đủ sức, nó sẽ trở thành động lực để làm cho mình phấn đấu. Vì thế, trong kinh Tăng chi bộ, Đức Phật nói: “tất cả pháp lấy dục làm căn bản, là sự ham muốn, là nền tảng để hoàn thành tất cả các pháp.” Cho nên, cái muốn tu, cái muốn giải thoát của mình chưa đủ, chưa mạnh, chưa đủ mạnh để làm mình nỗ lực. Nếu nỗ lực, để tâm vô thì ngày nào mình cũng Quán Bất Tịnh, nếu như vậy thì khi đối duyên xúc cảnh, khi sắc cảnh tới thì lúc đó sẽ khác. Nó chưa được bất động, chưa được đâu. Lúc đầu mình có thể thua, 7-3 vì cái dục mạnh hơn, nhưng dần dần sẽ 50-50, mình cố gắng tu, nỗ lực, kiên trì, tinh tấn thì mình vượt lên, phần thắng của mình chiếm ưu thế hơn. Và khi nhiếp phục được nó là mình có sự thành tựu.
Chỗ này, quý huynh đệ phải có sự nỗ lực, tinh tấn, kiên trì mới được, cho nên hôm nay Minh Thành dùng từ “trói voi bỏ rọ”, vì giáo Pháp quan trọng, Pháp hành rất quan trọng mà mình chỉ có một buổi thôi, nên mình trói con voi bỏ vô rọ, để Minh Thành gửi đến các huynh đệ bí kíp Chánh Pháp. Mình tuổi trẻ với nhau, mình hiểu nhau lắm, quý huynh đệ nhất trí không? Mình biết bệnh chung là bệnh gì và thuốc trị bệnh phải dùng đúng thuốc, đúng liều lượng thì mới giảm, hết, lành bệnh.
V. Thân Hành Niệm:
Hôm nay Minh Thành chỉ giới thiệu cái căn bản về phần trí để quán chiếu về sắc uẩn. Trong phẩm Thiền định, Tăng chi bộ kinh tập 1, trang 88, Đức Phật nói:
“Như một ai, này các Tỷ-kheo, với tâm biến mãn cùng khắp biển lớn, có thể bao gồm tất cả các con sông bé nhỏ đổ vào biển cả. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ai tu tập, làm cho sung mãn thân hành niệm, cũng bao gồm tất cả thiện pháp, gồm những pháp thuộc về minh phần.
Có một pháp, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến cảm hứng lớn, lợi ích lớn, an ổn lớn khỏi các khổ ách, chánh niệm tỉnh giác, đưa đến chứng đắc tri kiến, đưa đến hiện tại lạc trú, đưa đến chứng ngộ quả minh và giải thoát. Một pháp ấy là gì? Chính là thân hành niệm.”
Thân hành niệm là điều nãy giờ mình nói, niệm thân.
“Có một pháp, này các Tỷ-kheo, khi được tu tập, được làm cho sung mãn, thân được khinh an, tâm được khinh an, tầm tứ được tịnh chỉ, toàn bộ các pháp thuộc về minh phần đi đến tu tập, làm cho viên mãn. Một pháp ấy là gì? Chính là thân hành niệm.”
Quý huynh đệ thấy phẩm này Đức Phật tán thán thân hành niệm rất nhiều.
“..Có một pháp, này các Tỷ-kheo, khi được tu tập, được làm cho sung mãn, các pháp bất thiện chưa sanh không sanh khởi, và các pháp bất thiện đã sanh bị đoạn tận. Một pháp ấy là gì? Chính là thân hành niệm.
.. Có một pháp, này các Tỷ-kheo, khi được tu tập, được làm cho sung mãn, vô minh được đoạn tận, minh sanh khởi, ngã mạn được đoạn tận, các tùy miên được nhổ sạch, các kiết sử bị đoạn tận. Một pháp ấy là gì? Chính là thân hành niệm.
.. Có một pháp, này các Tỷ-kheo, khi được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến sự phân tích của trí tuệ, đưa đến Niết-bàn không có chấp thủ. Một pháp ấy là gì? Chính là thân hành niệm.
.. Những vị này không hưởng được bất tử, này các Tỷ-kheo, là những vị không thực hiện thân hành niệm. Những vị này hưởng được bất tử, này các Tỷ-kheo, là những vị thực hiện thân hành niệm.”
(Tăng chi bộ kinh, tập 1, phẩm Thiền định 2, trang 156-160)
Ai thực hành điều này, là người đó hưởng được hương vị của bất tử, bất tử tức là Niết bàn, sự chấm dứt, sự nhiếp phục, sự từ bỏ, sự đoạn tận tham dục, tham ái, sự khao khát đối với sắc uẩn, đó là Niết bàn. Minh Thành giới thiệu sơ qua để huynh đệ thấy được công năng, tác dụng, lợi ích chính bậc Chánh Đẳng Giác nói trong Tăng chi bộ kinh.
Trở lại vấn đề, để mình thành tựu bảy trí về sắc uẩn rất quan trọng. Minh Thành sẽ nói sơ lược để quý huynh đệ nắm thật vững. Đầu tiên là mình phải hiểu rõ sắc, nếu không hiểu rõ sắc thì mình không thể nào tu tập được hết. “Tại sao Thầy nói con không nhận biết sắc? Con học xong ở trường Sơ cấp, Trung cấp Phật học, trường Cao đẳng rồi, bây giờ Thầy nói con chưa biết sắc..” Thật sự mình chưa biết sắc, mình chỉ biết trên từ ngữ thôi, mình tưởng sắc là cô gái đẹp, sắc là đóa hoa này, mà không biết sắc chính là thân mình, là sắc uẩn. Mình chỉ thấy cái sắc bên ngoài, nên có sự phân làm hai: nội sắc và ngoại sắc, đều thuộc về sắc uẩn.
Đầu tiên, mình phải biết, sắc pháp là sắc pháp. Khi đó, mình đạt được một trí huệ về sắc pháp. Còn ở đây cứ nhận lầm đây là mình, là mình không thành tựu trí huệ về sắc, quý huynh đệ thấy không? Khi ngồi, suy nghĩ, nhìn lại: tôi ăn, tôi đi, tôi làm chứ mình không nói sắc ăn, sắc đi, sắc làm, là sắc uẩn ăn.. Hiện tại ở đây là sắc ngồi, chứ không phải mình ngồi.
Phải xác định cái trí thứ nhất về sắc. Điều này đòi hỏi mình phải thực tập, nếu không thực tập thì không gỡ ra được đâu quý huynh đệ, điều này ăn rất sâu. Đây gọi là thân kiến. Phá thân kiến là Dự Lưu vào dòng trí huệ lập tức. Khi phá vỡ thân kiến là phá vỡ sự kiến chấp về thân, là sự sai lầm, nhận định sai lầm về thân; mình phá thân kiến thì hoài nghi với giới cấm thủ, lập tức tiêu diệt, nó sẽ đi theo đó để tiêu diệt và mình dự vào dòng Pháp, chính thức bước vào bốn đôi tám chúng của Đức Phật, mới chính thức là đệ tử của Tăng Bảo. Cho nên, đầu tiên mình phải thành tựu trí về sắc. Phải biết đây là sắc uẩn, loại bỏ ý nghĩ đây là mình, tôi, ta, luôn luôn lúc nào cũng nhìn thấy đây là sắc uẩn.
1. Sắc sanh:
Nói đơn giản, sắc sanh là do thức ăn tập khởi nên sắc sanh khởi, sắc diệt là do thức ăn bị đoạn diệt nên sắc nó sắc diệt. Sắc này muốn tồn tại, muốn sanh khởi là do có thức ăn, không ăn là chết; thức ăn đoạn diệt là sắc đoạn diệt. Sắc diệt đạo là tu tập Bát Chánh Đạo. Có điều kiện để học, Bát Chánh Đạo trong kinh Nikäya không giống như học thông thường trong trường sơ cấp, trung học, cao đẳng. Sâu xa lắm. Bát Chánh Đạo trong kinh Nikäya, khi mình vừa chứng thành tựu Chánh Tri Kiến thôi là sơ quả Tu-đà-hoàn. Bát Chánh Đạo của kinh Nikäya nếu mình học kỹ, phải hết ba tháng An cư Kiết hạ mới xong. Chứ không phải Bát Chánh Đạo gồm Chánh Kiến, Chánh Tư Duy.., đó chỉ toàn là ngôn ngữ thôi. Chánh kiến, là tối thiểu mình phải thấy được thân này là sắc uẩn, không có gì là tôi, không có gì là của tôi.
2. Vị ngọt của sắc:
Vị ngọt của sắc là do duyên sắc khởi lên lạc hỷ gì, thì lạc hỷ đó gọi là sắc. Do duyên với sắc đó mà mình khởi lên ham muốn, thích thú, khoan khoái v.v.., đó là vị ngọt của sắc. Mình cần phải rõ biết đây là vị ngọt của sắc. “Này các Tỳ-kheo, do có vị ngọt của sắc cho nên chúng sanh mới ưa thích sắc, tham đắm sắc, khao khát sắc, chạy theo sắc, bị hấp dẫn, lôi cuốn bởi sắc vì nó có vị ngọt của sắc”, chứ không phải nói chung chung, sắc là khổ, miệng nói khổ nhưng bụng thì thích. Trí huệ Phật thấy rất rõ, rằng có vị ngọt của sắc, chứ Đức Phật không một mực nói chỉ là khổ không thôi, còn có vị ngọt. Vì có vị ngọt nên chúng sanh mới đam mê, vị ngọt của sắc là những gì mình khoan khoái, thích thú của mình đối với sắc, đó là vị ngọt.
Quý huynh đệ có thấy mình đi tìm cầu vị ngọt này nhiều không? Tìm cầu suốt cuộc đời, đau khổ hoài, không thấy đủ. Vị ngọt này không cần giải thích, cuộc đời đầy dẫy hết.
3. Sự nguy hại của sắc:
Thế nào là sự nguy hại của sắc? Sự vô thường, sự khổ, chịu sự biến hoại của sắc, đó là sự nguy hại của sắc. Vì cái sắc đó luôn luôn ở trong sự sanh diệt, có loài hoa nào mà nở mãi không tàn, hoa có tên Bất tử ở Đà Lạt vẫn tàn như thường, chỉ chậm hơn các loại hoa kia thôi, làm gì có loại hoa không tàn. Cho nên, sắc nhất định phải chịu sự vô thường, sự khổ, sự biến hoại. Đó là sự nguy hại của sắc.
Trong kinh Đức Phật diễn tả rất kỹ, sự nguy hại của sắc là tóc bạc, da mồi, mắt mờ, lưng còng, tai điếc, gối mỏi, là đi lum khụm run rẩy, là nằm một chỗ, bất động, đại tiểu tiện.. Đó là sự nguy hại về sắc mà lúc nãy mình thấy, tai nạn giao thông lìa đứt hai chân ra. Vì sắc là vô thường nên tự nó không giữ được cái tự thể của nó, mà nó phải chịu sự biến đổi, tác động kịch liệt của các duyên ở bên ngoài như đất, nước, gió, lửa. Nhất định nó phải đi đến chỗ tan hoại, diệt vong, không có con đường nào khác hết. Thấy được như vậy, mình thành tựu trí về sự nguy hại của sắc. Đó là trí thứ sáu.
Khi nhập thất, Minh Thành xem gần hai trăm lần chớ không chỉ xem một lần, mở ra, vừa xem vừa quán chiếu, mà tới bây giờ vẫn còn xem để quán chiếu. Đức Thế Tôn nói trong kinh Tứ Niệm Xứ là bảy năm, sáu năm, năm năm, ba năm, hai năm, một năm… mình nói “Thầy ơi, xem xong trở ra..”, vì mình không chịu tiếp tục tu tập, không chịu kiên trì, để tâm, không chịu nắm lấy đề mục của thiền định thì làm sao mình thành tựu định được. Phải có lòng tin đối với Pháp, phải có sự nỗ lực tinh tấn, phải nhớ nghĩ về Pháp hoài, kiên trú trong đó, tức là định thì tự nhiên được sanh được trí huệ trong đó. Đó là Tín, Tấn, Niệm, Định, Huệ. Đây là năm căn tạo thành năm lực.
Các huynh đệ phải nhuần nhuyễn Ba mươi hai phẩm trợ đạo giống như tụng chú Vãng sanh, chú Đại bi. Bây giờ chú Đại bi để qua một bên, phải thuộc Ba mươi hai phẩm trợ đạo, nói tới đâu là thuộc ro ro về pháp học. Bên Myama, Tam tạng Pháp sư, người ta học gần bốn chục ngàn trang A4, mình chỉ học có Ba mươi hai phẩm trợ đạo thôi. Chỗ này mình nhìn ra một lỗi lầm rất lớn, rất sâu sắc của người học Phật bây giờ, là thích làm gì chỉ làm cái một, nhiều quá nhớ không hết, làm sao nhớ hết được, chỉ Bát Chánh Đạo thôi, trong Tứ Đế, hỏi đế này quên đế kia. cho nên không đi trên Thánh Đạo thì làm sao thành tựu Thánh Quả?
Trong kinh Đại Bát Niết Bàn của Trường Bộ Kinh, huynh đệ nhớ là Minh Thành nói toàn bộ ở đây thuần túy là trong kinh Nikäya thôi. Xin thưa quý huynh đệ, bây giờ là Minh Thành chuyên công Nikäya, mấy thứ khác Minh Thành để sang một bên hết rồi. Trong kinh Đại Bát Niết Bàn của Trường bộ kinh, Đức Phật nói “truyền thống của Chư Phật”, nghĩa là tất cả các bậc Chánh Đẳng Giác, muốn thành Phật phải đều trải qua con đường: thứ nhất, đoạn tận năm triền cái; thứ hai: an trú tâm nơi Tứ Niệm Xứ; thứ ba: đi trên con đường tu tập Thất giác chi. Đó là con đường truyền thống tu tập của tất cả các bậc Chánh Đẳng Giác trong quá khứ, hiện tại và tương lai.
Bây giờ mình tu, hỏi Bát Chánh Đạo, Tứ thánh đế, Tứ Niệm Xứ v.v.., hỏi cái này là quên cái kia, nhớ cái này qua cái kia.., pháp học còn không xong, nói chi đến pháp hành. Do mình giải đãi, lười biếng, muốn tìm cái gì cho dễ; tánh quen của chúng sanh là như vậy, phóng dật, buông lung, giải đãi, lười biếng, biếng nhác, nhu nhược… Trong khi Đức Phật, bốn đại A tăng kỳ và một trăm ngàn đại kiếp mới phát hiện ra con đường Chánh Đẳng Giác, tỷ tỷ ức kiếp mới thành tựu được đạo lộ Thánh Đạo, ai đi trên Thánh Đạo mới thành tựu Thánh Quả. Bây giờ mới học, kêu “thôi, nhiều quá không nhớ”, chỉ một câu thôi, hay chỉ một hơi thở thôi.
Chỗ này rất quan trọng để chúng ta chiêm nghiệm, bằng không, tu theo cách này, mình không thể nào tành tựu được hết, mình tu theo kiểu giải đãi, lười biếng của mình, tu theo kiểu suy nghĩ của mình, suy nghĩ kiểu phàm phu, vô minh, suy nghĩ của ngã mạn, của tà kiến chấp thủ… nên mình phải căn cứ theo Thánh Đạo, y theo Thánh Đạo thì mới đạt Thánh Quả. Thậm chí những quyển sách giảng giải ra cũng không y cứ theo. Bây giờ cứ y cứ theo kinh Nikäya thôi, cứ giảng riết rồi tam sao thất bản, rồi hai ngàn bảy trăm năm sẽ ra tỷ sao, cuối cùng đọc vô, mình không còn thấy gì nữa. Cho nên, cứ đi thẳng vào kinh Nikäya.
Quý huynh đệ thực tập theo kinh Nikäya, không nói nhiều, cứ thực tập trong bảy ngày, ngay mùa An cư này, ngày nào cũng Quán Bất Tịnh, hết mùa An cư này, rồi huynh đệ sẽ thấy hiệu quả của nó. Mà cũng không đợi hết mùa an cư, nửa tháng, hoặc một tuần lễ thôi; mà không đợi đến 1 tuần lễ, chỉ một buổi thôi; mà không phải đợi đến hết buổi, ngay khi mình ngồi thực tập, như lúc nãy xem, quý huynh đệ khởi tham dục lên được không? Rất là khó, cực kỳ khó, ngay lúc nãy ái dục khởi lên được không, hay nó yểm ly, chán chê, thấy sợ.. Đó là hiệu quả tức thì. Đức Phật định nghĩa: “Pháp được Đức Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực, hiện tại, đến để mà thấy, không trải qua thời gian, có hiệu quả tức thì. là Pháp đưa mình đến hướng thượng, người trí có thể tự mình giác hiểu.” Thiết thực, hiện tại, ngay chỗ đó mình thấy được.
Cho nên, mình quán về sự nguy hại của sắc này hay lắm. Quán về sự vô thường, nhìn vô khía cạnh về sự vô thường, khía cạnh khổ của nó, khía cạnh biến hoại - biến đổi và hoại diệt của nó, nhìn sâu vô khía cạnh đó, mình sẽ thành tựu trí huệ yểm ly, chán nản, muốn xa lìa, gọi là yểm ly, ly tham, từ bỏ, đoạn diệt và giải thoát. Nhàm chán nó. Xin thưa các huynh đệ, tất cả trong các khóa tu của Phật giáo, các thiền đều là thiền tuệ hết, thiền định chỉ là phụ, để cho tâm mình đủ mức độ yên rồi sử dụng toàn bộ thiền quán trí huệ hết, duy nhất chỉ Phật giáo mới có, tất cả các tông tôn giáo khác trên thế giới không có cái thiền tuệ này.
Mình thừa hưởng một gia tài khủng khiếp, không thể nào tưởng tượng, cho nên, mình lạy từ bảy tuổi đến bảy mươi tuổi cũng chưa hết ơn đức của Phật. Nhưng mình có gia tài mà không chịu học, không chịu thực hành, lại chạy đi kiếm các môn học ở ngoài thế gian, có được chút bằng cấp rồi dương dương tự đắc, ta đây thì cái đó là đáng thương xót. Đáng thương xót trong Phật giáo. Quý huynh đệ cần nắm vững điều này.
Minh Thành thấy các huynh đệ trẻ bây giờ lên giảng, triệu like, nhưng Minh Thành lo lắm, không có Chánh Pháp trong đó. Không có Chánh Pháp trong đó thì Phật pháp sẽ mai một, toàn là nói Pháp thế gian, cho nên phải khế cơ, khế lý mới được, nếu không, chính mình sẽ làm hoại diệt Phật pháp. Thà rằng k nói, nếu chưa thành tựu Chánh Tri Kiến thì không nói, không có dễ cho lên pháp tòa. Chính hiện trạng bây giờ, huynh đệ thấy trên mạng lẫn lộn chánh tà hết, không phân biệt được thật giả; người học, phật tử biết đi về đâu? Chính bản thân mình mù lòa lại bước ra dẫn đường, làm thầy cho người ta.
Chính Đức Phật nói trong kinh, kẻ mù đi trước, người mù ôm eo ách đi sau, rồi dẫn xuống vực thẳm, hố sâu. Cho nên, chính chỗ “thăng pháp tòa như tác sư tử hống” không phải chuyện đơn giản. Hãy cẩn thận. Coi chừng rơi xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, không phải chuyện đùa. Điều này rất quan trọng. Mình lên giảng, làm mù mắt hết chúng sanh, mình không có Chánh Tri Kiến, mình không biết cốt tủy của Phật pháp nằm ở chỗ nào, trí huệ ở đâu. Vì thế, phải học cho kỹ, phải để tâm.
Minh Thành nhắc lại, trong bộ kinh Nikäya phải nắm thật vững Ba Mươi Bảy Phẩm Trợ Đạo rồi mới đi giảng pháp. Bây giờ Minh Thành thấy Phật pháp càng phát triển, xây chùa càng nhiều, nói này nọ kia, nhưng nguy hiểm, chứ không phải tốt lành. Tốt là tốt mặt thế gian thôi. Đó là chỗ sâu.
4. Sự xuất ly của sắc:
Cái trí tuệ cuối cùng là sự xuất ly của sắc, là sự nhiếp phục của dục và tham, sự đoạn tận của dục và tham đối với sắc, đây gọi là sự xuất ly khỏi sắc.
Huynh đệ thấy không, con đường rất rõ ràng, nhiếp phục dục và tham, đoạn tận dục và tham đối với sắc, thì đó là con đường ra khỏi sắc. Đây là đạo lộ của Thánh Đạo rất rõ, nhiếp phục dục và tham, đoạn tận dục và tham, làm sao để đoạn tận, mình trở lại thân hành niệm. Thân Hành Niệm thì sáu phương diện mình phải tu tập: Niệm Hơi Thở, mình có tu tập rồi; Niệm Oai Nghi, tức là đi đứng nằm ngồi, đi biết đi, đứng biết đứng, nằm biết nằm, ngồi biết ngồi; Niệm Hành Động là thân thể sử dụng như thế nào mình phải biết như thế đó, co duỗi, cúi, ngước, ăn, ngủ, đi chạy v.v.., các hành động mình phải chánh niệm tỉnh giác.
Ba cái này là chung chung, nhiều người tu tập, còn ba cái sau là cái mình bị thiếu, là Niệm Tứ Đại, Niệm Ba Mươi Hai Thể Trược và Niệm Chín Giai Đoạn Của Một Tử Thi. Do thiếu nên mình không nhiếp phục, không đoạn tận được dục và tham, mình không phá được bản ngã.
Quán tứ đại thì huynh đệ xem ở trang Linh Quy Pháp Ấn.vn, có phần quán chiếu tứ đại, mới có hai bài thôi. Nhớ, phần đó là tiểu luận của Chánh Đẳng Giác, toàn bộ tiểu luận đó Minh Thành soạn, không có một lời nào Minh Thành thêm vào, toàn bộ là trong kinh tạng, năm bộ kinh Nikäya, quán chiếu về tứ đại.
Ngồi trở lại mới nhận thấy, thân thể mình hơi thở vào ra, khì khịt thì mình biết đó là phong đại, là gió. Tim đập, mạch nhảy, máu huyết lưu thông, tất cả những gì động, mình thấy, nói rõ ràng, đây là địa đại, đây là gió, gió bên trong. Rồi hơi ấm, nhiệt độ, tất cả những cái làm cho tiêu hóa thức ăn, nếu không có nhiệt độ thì thức ăn đưa vào còn y nguyên, nên ta thấy người chết nằm cứng đơ, lạnh ngắt, không co duỗi gì được, vì không còn nhiệt độ, hỏa đại không còn. Nếu phong đại không có thì mình không nói chuyện được, cái miệng bị méo luôn, không nhúc nhích được nữa, có phong đại mới nói chuyện được, mới động chuyển được.. Tất cả những cái mình động chuyển được đều là phong đại.
Những cái mình thấy, thực tập thường xuyên liên tục, mình nhìn… cho nên tu học theo kinh Nikäya là phải tinh tấn nỗ lực lắm, chứ không phải như mình nghĩ tu đơn giản, ngày hai thời lên chánh điện gõ boong boong, xuống là xong, không phải. Tu theo Phật là khác, mình đi trên Thánh Đạo, mình sẽ thành tựu được Thánh Quả. Đây là Thánh Đạo, là con đường của Thánh, ở đây từ Thánh là chỉ Đức Phật.
Phần Quán tứ đại, Minh Thành nói phớt qua thôi. Phần về Ba Mươi Hai Thể Trược, rất quan trọng. Mình ngồi nhắm mắt, quán tưởng, bứt hết tóc, nhổ hết mấy chục cái răng, máu chảy ròng ròng, để xuống..; bứt hết tóc, lông, móng răng, bao tử, ruột non, ruột già v.v.., để từng cái trước mắt, cái nào mình để mình mới thấy rõ. Quán Ba Mươi Hai Thể Trược, hỏi tim là mình hay gan là mình, phổi là mình hay thận là mình, ruột già là mình hay phân là mình, nước tiểu là mình hay mủ đàm là mình, mỡ là mình hay máu là mình..? Tất cả những cái đó, quán Ba Mươi Hai Thể Trược thì từ từ mình mới phá được cái nhìn sai lầm về thân này. Ngày nào cũng phải quán như vậy, mà huynh đệ quán được điều này rồi thì tác dụng, công năng của nó, huynh đệ sẽ không tưởng tượng được, khi mình đối duyên xúc cảnh những trần cảnh bên ngoài, mình sẽ có một sức niệm gọi là niệm định huệ. Rất vững chắc.
Bây giờ tâm mình không có chỗ bám trụ nên gặp cảnh là duyên, gặp trần liền dính. Tâm mình không có Pháp hành. Trong kinh tạng Nikäya gọi là có chỗ đứng ở trong giáo Pháp. Nếu mình thực hành được thì mới có chỗ đứng trong giáo Pháp, nếu không thì gọi là tâm hoang vu, là suốt ngày hết cái này đến cái kia, thọ tưởng hành cứ vận hành liên tục, tâm mình không có pháp để trụ, không có Pháp hành. Dở lắm, một hơi thở, một câu niệm Phật, không hiệu quả bao nhiêu, tàm tạm vậy thôi, buông ra rồi thì tham vẫn hoàn tham, sân cũng vẫn sân, si, bản ngã vẫn to đùng, không có khác gì cả. Do những pháp đó không đủ đâm thủng khối vô minh uẩn to lớn, không đủ trí huệ để chém đứt cái mạng lưới của tham ái và chấp thủ. Không đủ. Phải đi theo con đường Chánh Đẳng Giác mới đủ sức phá vỡ được khối đại vô minh uẩn. Điều này rất quan trọng.
Hôm nay Minh Thành muốn trao gửi những cái gì rất là tâm yếu trong Pháp tạng, là món quà tinh thần trong ba tháng An cư. Các huynh đệ phải nắm thật vững điều này, lợi lạc cho mình, lợi lạc cho người. Đừng vội phê phán, đừng vội bám theo cái thấy biết thiên lệch nhỏ hẹp của mình. Phải bình tâm lại, về đọc tạng kinh Nikäya, đọc Ba Mươi Bảy Phẩm Trợ Đạo, phải nhìn lại tự thân, tự tâm của mình thì từ từ mình mới thấy được Chánh Pháp vô thượng.
Như vậy, quý huynh đệ thấy sự nhiếp phục dục và tham, đoạn tận dục và tham là có con đường. Cuối cùng là Chín Giai Đoạn Của Một Tử Thi, điều đó Minh Thành đã nói trong bài Quán Bất Tịnh, huynh đệ về xem lại, Minh Thành chỉ nhắc sơ thôi. Mình quán chiếu, mình đứt hơi, nằm dài, bốn người khiêng, để vài ngày, trương sình lên, xanh, bầm tím, nứt nẻ, chảy nước vàng hôi thối.., bao nhiêu côn trùng, dòi trú ăn hết..; còn bộ xương, năm tháng, xương đầu một nơi, xương chân một nơi..rải rác, rồi từ từ mòn dần, thành cát bụi. Cứ quán như vậy là mình đang bước vào cánh cửa bất tử.
Hôn nay, Minh Thành giới thiệu với huynh đệ về bảy trí của sắc uẩn, chứ chưa nói gì đến thọ, tưởng, hành, thức. Huynh đệ nắm cho thật vững để hành trì, nhất là phần Bất Tịnh Quán để đối trị với tham dục, là cái cấp thiết, thiết yếu ngay trong giờ phút hiện tại của tuổi trẻ tu học của mình. Nếu thực hành được điều này, huynh đệ sẽ an ổn để tu tập và sẽ thăng tiến trên bước đường tự tu cũng như hành đạo. Còn nếu không, chưa vững mà thích làm những điều bên ngoài thì mình sẽ bị những trần cảnh bên ngoài lôi cuốn, hấp dẫn và có thể làm mình bị rơi xuống vực sâu, bị rơi vào vòng xoáy./.