Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Thánh Trí Sanh Diệt Về Ngũ Uẩn 3 - Quán Tâm - TÂM HIỀN - NGHIỆP THIỆN - HẠNH THÁNH 7

2026-03-03 00:53:27
Tinh Hoa Nikāya

THÁNH TRÍ SANH DIỆT VỀ NGŨ UẨN 3

QUÁN TÂM

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Thế nào là “tâm” PAGEREF _Toc97316658 \h 1

II.Quán tâm trên tâm PAGEREF _Toc97316659 \h 2

III.Quán chiếu tám cặp phạm trù của tâm PAGEREF _Toc97316660 \h 6

Thế nào là “tâm”

Chúng ta tiếp tục thừa hưởng gia tài Thánh trí tuệ của Đức Phật qua phần nhìn lại thân thể, cảm giác, nội tâm và những sự vận hành bên trong. Chúng ta đã chiêm nghiệm, nhìn lại về thân, về cảm giác và tiếp theo chúng ta bước qua phần nhìn lại nội tâm. Khi chưa nhìn nhận được năm uẩn, nếu được hỏi “tâm là gì” thì chúng ta sẽ có những sự nhìn nhận, những câu trả lời phiến diện, góc cạnh vì không thấy hết được tâm mình là gì. Nếu muốn quán tâm trong Tứ Niệm Xứ, mà không biết tâm là gì thì làm sao mình nhìn nhận và quán xét.

Thế nhưng, nhờ có sự thực tập, nhìn lại những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ và nhận thức – tức là nhận diện thọ, tưởng, hành, thức nên khi nói đến quán tâm (nhìn lại tâm) thì chúng ta hiểu rằng đó chính là: nhìn lại cảm giác, nhìn lại hình bóng trong tâm, nhìn lại những suy nghĩ, nhìn lại sự rõ biết. Như vậy, chữ “tâm” nghĩa là thọ, tưởng, hành, thức; còn “thân” là thuộc về sắc. Khi nắm thật vững về ngũ uẩn thì sự tu học của chúng ta mới chắc chắn và có chân đứng, bằng không, khi được hỏi tâm là gì thì chúng ta sẽ trả lời lung tung, lờ mờ, chỉ ở khía cạnh này, hoặc khía cạnh kia mà không đầy đủ. Điều này dẫn đến khi nhìn lại chúng ta sẽ không thấy được toàn diện về nội tâm của mình.

Giống như ở trong một căn nhà mà mình chỉ được ở phòng khách, không thấy được phòng bếp, không thấy được phòng ngủ, không thấy được nhà vệ sinh, không thấy được lầu phía trên có bàn thờ Phật, không thấy có lan can, không thấy có sân thượng. Cũng vậy, nếu không nhận diện được thọ, tưởng, hành, thức thì không có cách nào mình nhìn tâm một cách đầy đủ, mà mình sẽ hiểu tâm một cách rất là trừu tượng, lờ mờ, không cụ thể, không rõ ràng, không chính xác. Trong khi đó, Đức Phật dạy rất rõ ràng: thọ là cảm giác; hình bóng trong tâm là tưởng; suy nghĩ là hành; nhận thức thì rõ ràng mình nhận diện được sáu sự rõ biết của sáu thức.

Qua đó, chúng ta thấy rằng, Đức Phật chỉ dạy một chữ “tâm” thôi nhưng chứa đựng biết bao trí tuệ trong đó. Có bao nhiêu loại cảm thọ, cảm thọ nào dễ chịu, cảm thọ nào không dễ chịu, cảm thọ nào không khó chịu không dễ chịu thì mình phải biết. Khi hồi tưởng thì hồi tưởng nào thuộc về sắc, hồi tưởng nào thuộc về âm thanh, hồi tưởng nào thuộc về mùi, hồi tưởng nào thuộc về vị, hồi tưởng nào thuộc về xúc, hồi tưởng nào là hồi tưởng của pháp trần thì mình phải rõ biết. Khi suy nghĩ thì phải biết suy nghĩ đó là hành và phải biết suy nghĩ đó là thiện hay bất thiện, chánh tư duy hay tà tư duy. Khi rõ biết như vậy thì mình mới nhận ra được cái nào đen, cái nào trắng, cái nào nhơ, cái nào sạch, cái nào thiện, cái nào ác, cái nào nhiễm, cái nào tịnh, nhờ đó mình mới có thể quán chiếu và chỉnh sửa, quét dọn, lau chùi. Còn khi nói đến tâm của chính mình mà mình lờ mờ, không biết, cái này lộn qua cái kia, trừu tượng, mông lung thì làm sao quán tâm được.

Cho nên, khi nói đến quán tâm là chúng ta biết tâm chính là: thọ, tưởng, hành, thức. Thọ là cảm giác, có ba loại: lạc thọ, khổ thọ, bất lạc bất khổ thọ. Tưởng là hình bóng trong tâm. Suy nghĩ là hành, gồm có suy nghĩ sai, suy nghĩ đúng, tà tư duy, chánh tư duy. Thức là rõ biết có sáu sự rõ biết, trong đó, rõ biết bên ngoài là rõ biết ngũ trần, rõ biết bên trong là rõ biết nội trần. Khi ngồi thiền, mình thấy trong tâm có những hình ảnh, cảm giác, suy nghĩ, mình phải biết đó là ý thức. Trong khi nhận thức, khi thấy, khi nghe, khi ngửi, khi nếm, khi tiếp xúc, khi nhận thức những pháp trong tâm, mình phải nhận diện được cái nào là nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thân thức và ý thức, đó mới gọi là tâm. Tâm không đơn giản chỉ là suy nghĩ, bởi suy nghĩ chỉ là ý hành. Khi nhìn vào trong, chúng ta thấy có hình bóng của một người đã gặp ngày hôm qua. Sau đó, mình hồi tưởng lại cảm giác khi tiếp xúc với người đó và những suy nghĩ về người đó lúc mình tiếp xúc. Chúng ta phải biết được đó là ý thức, tức là sự biết về những hình bóng, cảm giác, nghĩ tưởng mà mình hồi tưởng lại trong tâm. Chánh Pháp là vậy, vô cùng rõ ràng, minh bạch như chỉ trong lòng bàn tay, như mặt trời giữa ban ngày, không có mây che. Chúng ta phải nắm thật vững pháp học như vậy thì mới qua pháp hành được. Đó là Minh Thành đã giải thích cho chữ “tâm”.

Quán tâm trên tâm

Qua đó, chúng ta thấy được, tâm của mình không hề đơn giản. Thân đơn giản chỉ là tứ đại nhưng đến tâm thì bắt đầu phức tạp, đòi hỏi chúng ta phải biết được những thành phần, những tổ hợp, những khía cạnh, góc độ trong tâm. Đức Phật dạy phải sống nhìn tâm ngay nơi tâm của mình, cụm từ “quán tâm trên nội tâm” trong Tứ Niệm Xứ là cả một trí tuệ.

Quán tâm trên tâm là mình nhìn tâm ngay trên tâm của mình, chứ không phải nhìn tâm trên chữ nghĩa, không phải nhìn tâm ở ngoài cảnh vật, không phải nhìn tâm qua người khác nói mà là nhìn tâm ở ngay tâm mình, và như vậy gọi là quán tâm trên tâm. Chỗ này chính là thiết thực, hiện tại, trực chỉ. Tức là mình nhìn tâm ngay tâm mình thì gọi là quán tâm trên tâm. Mà muốn nhìn được như vậy là cả một trí tuệ, một sự chánh kiến. Chúng ta phải thấy biết được tâm là gì, gồm có bao nhiêu thứ, vận hành ra làm sao, các khía cạnh, góc độ nó như thế nào. Khi mình nhìn vào sự vận hành, các góc độ đó, những khía cạnh đó thì được gọi là nhìn tâm ngay nơi tâm mình. Và điều quan trọng đầu tiên là chúng ta phải hiểu tâm là gì rồi chúng ta mới tập nhìn tâm.

Thông thường, chúng ta quen nhìn ra ngoài, hướng ngoại, phóng theo cảnh, theo trần, quen thả rông, thả lỏng, thả trôi tâm nên bây giờ muốn nhìn lại nội tâm là là cả một vấn đề, vì vậy, mình phải tập nhìn vào bên trong tâm. Khi ngồi yên lặng, mắt nhìn xuống, mình không chú ý những hình sắc, âm thanh, mùi vị bên ngoài, cũng không tiếp xúc, đụng chạm với cái gì bên ngoài nữa. Khi đó tập trung nhìn vào xem cảm thọ hiện giờ như thế nào, trong tâm có hình bóng gì không, kiểm tra dòng suy nghĩ đang vận hành như thế nào, đang suy nghĩ điều gì. Sự tu này rất tuyệt vời, mới chỉ một chữ “nhìn tâm” nhưng bao gồm rất nhiều pháp học, pháp hành trong đó. Hơn nữa, đây chỉ mới là “nhìn” nhưng nhìn để biết tâm một cách chính xác thì cần rất nhiều trí tuệ từ văn tuệ và tư tuệ, bằng không, mình sẽ nhìn một cách lờ mờ, tối thui, như vậy thì không thể thấy được gì.

Đức Phật dạy, chúng ta sống, quán tâm ở ngay nơi nội tâm, hoặc là quán tâm khi những yếu tố bên ngoài tác động đến. Có những khi tự bên trong tâm mình sanh khởi ra, nhưng cũng có lúc do bên ngoài tác động đến thì mới sanh khởi lên những tâm đó, đây là ý nghĩa của quán nội tâm và quán ngoại tâm. Quán nội tâm là ngồi yên lặng nhìn vào tâm mình và quán bên trong tâm. Quán ngoại tâm là quán tâm mình khi có những yếu tố bên ngoài tác động đến.

Ví dụ, khi bị người khác mắng chửi thì tâm mình biến động, đây là những sự bực tức do bên ngoài tác động đến. Mặt khác, có những sự bực bội mà tự bên trong nhớ lại chuyện gì đó nên sanh ra cảm giác bực. Như vậy, hai sự bực bội này đều là sự sân giận, nhưng một trường hợp là từ bên trong sanh ra, nhớ lại chuyện cũ rồi cảm giác sanh khởi ra; một trường hợp khác là do có sự tác động từ bên ngoài nên bực bội. Đây là quán tâm trên nội tâm, quán tâm trên ngoại tâm. Nhờ quán tâm nên khi nhìn vào tâm chúng ta sẽ thấy được tâm mình biến động là do tự bên trong sanh khởi ra, hoặc là do bên ngoài tác động nên tâm mới biến đổi – hai trường hợp này đều cần quán xét.

Đức Phật dạy, khi “tâm có tham, rõ biết tâm có tham”. Trong Tăng Chi Bộ Kinh, có một vị Bà-la-môn nghe nói giáo pháp của Đức Phật là thiết thực, hiện tại, thực tế, rõ ràng ngay trong giây phút hiện tại nên vị ấy hỏi Đức Phật như thế nào là thiết thực, hiện tại? Thế Tôn hỏi vị ấy:

Ngay lúc này tâm ông có tham, ông biết tâm ông có tham không?

Dạ biết.

Cái tham này của ông có làm ông đau khổ, người khác đau khổ không?

Dạ có.

Ngay lúc này tâm ông có bực bội, sân hận ông biết tâm ông có bực bội, sân hận không?

Dạ biết.

Cái bực bội, sân hận này của ông có làm ông đau khổ, người khác đau khổ không?

Dạ có.

Vậy ông biết được tâm ông có tham, ông làm cho tâm ông hết tham, ông biết tâm ông có sân hận, ông làm cho tâm ông hết sân hận, ngay lúc đó ông có được an ổn, người xung quanh cũng được an ổn không?

Dạ có.

Đây chính là sự thiết thực, cụ thể, hiện tại, rõ ràng, minh bạch trong pháp của Như Lai. Giáo pháp thiết thực, hiện tại, đến để mà thấy.

(Trích Kinh Tăng Chi Bộ III, 6. Chương Sáu Pháp, V. Phẩm Dhammika, bài kinh Cho Đời Nay 1)

“Đến để mà thấy” ở đây nghĩa là thấy nội tâm đang có tham, thấy có cảm giác thúc giục từ bên trong, thấy có cảm giác ưa thích, khoan khoái, thấy có cảm muốn xúc, muốn được nhiều thêm nữa. Chúng ta cần nhận diện, nhìn ra được trong tâm mình đang có tham hay không, có sự thúc giục, có sự thèm muốn, khao khát, đòi hỏi hay không; cảm giác lúc đó ra sao, hình bóng nào xuất hiện, suy nghĩ gì đang hoạt động?

Ví dụ, mặc dù đã có gia đình nhưng khi gặp một người khác phái xinh đẹp, trong tâm mình vẫn sanh khởi cảm giác thích thú, thấy người đó dễ thương thì mình phải nhận diện được cảm giác thích thích, dễ chịu đó. Sau khi biết như vậy nếu mình cứ để cảm giác yêu thích, thương mến, luyến ái đó tăng trưởng, phát triển thì sẽ dẫn đến sự rạn nứt, đổ vỡ, chia lìa, đau khổ cho vợ chồng, con cái mình và gia đình người kia. Cho nên, ngay lập tức phải tác ý, la rầy, trách mắng, chửi mắng cái tâm ngu muội, si mê, tham lam, ích kỷ.

Vì vậy, trong sự tu này, chúng ta cần tác động mạnh vào tâm mình, vì đã nhiều đời nhiều kiếp tâm này đã bị bỏ quên, không được trí tuệ giáo dục, dạy dỗ, huấn luyện nên nó vô cùng cứng cỏi, ương ngạch, khó dạy bảo. Bây giờ chúng ta tu chính là dạy dỗ tâm mình. Hãy dùng Thánh trí tuệ của Đức Phật, dùng giới pháp của Phật, dùng sự thâu nhiếp, phòng hộ, chế ngự sáu căn, dùng Như lý tác ý để rầy la, quở trách, quán chiếu về sự nguy hiểm, tác hại của các ác, bất thiện pháp và tội lỗi. Từ đó mình la rầy, trách mắng, giáo dục, dạy dỗ, huấn luyện, làm cho cái tâm ương ngạnh, cứng đầu này nghe lời, phục tùng, quy phục. Như vậy mới gọi làm chủ tâm, còn vô lượng, vô biên kiếp trước mình đã để tâm làm chủ.

Chúng ta muốn làm đầy tớ hay làm chủ tâm? Nếu còn làm đầy tớ, nô lệ, tay sai cho những tâm tham lam, sân hận, si mê, bản ngã là mình không biết tu. Còn khi đã biết tu thì chúng ta phải quán chiếu xem đang có gì trong tâm, xem xét mình đang nghĩ gì, rà soát xem mình có những suy nghĩ hơn thua, ta đây, hành động ưỡn ngực, vênh mặt lên không? Nếu có thì mình phải dạy dỗ, tác ý: “Tâm ơi là tâm, hãy hạ cái bản ngã ngu muội xuống đi tâm ơi. Tại sao tối ngày mày cứ thể hiện sự vênh váo, không coi ai ra gì? Tao quỳ xuống lạy mày, cái tâm ngu này, tâm mê này, tâm si này, cái tâm dại khờ này. Làm ơn, tỉnh lại đi tâm ơi!”.

Sự tu tập này là hết sức tuyệt vời. Không phải đợi đến lúc rảnh, mà bất cứ khi nào, bất cứ chỗ nào, dù ở ngoài chợ, đang làm rẫy, hay đang buôn bán thì mình vẫn tu được. Cho nên, không phải đứng trước bàn thờ mới tu được, không phải vào đến chùa mới quán tâm được. Khi nội tâm còn đầy rẫy tham, sân, si, thì chúng ta cần thường xuyên tác ý:“Tâm ơi là tâm! Sao tâm cứ tham hoài vậy tâm? Tâm cứ dục hoài vậy tâm? Tâm cứ muốn hoài vậy tâm? Không biết chán hay sao tâm? Tham ăn hoài vậy tâm? Tham ăn mấy chục năm rồi chưa chán sao tâm? Muốn thành Trư Bát Giới hay sao tâm? Tâm ơi là tâm! Sao cứ nóng giận, bực bội hoài vậy tâm? Sao cứ ganh ghét người ta hoài vậy tâm?”. Sau khi nhìn thấy cảm giác nơi tâm rồi thì mình bắt đầu dạy dỗ, giáo dục, huấn luyện, tu sửa, tu chỉnh chính mình.

Thế nên, Tứ Niệm Xứ đâu phải chỉ là chữ để chúng ta đọc. Khi nhìn thấy được tâm rồi thì phải dạy dỗ, sửa chỉnh, chỉnh lý cho nó hoàn thiện: “Sân hận hoài khổ lắm nha tâm. Hơn thua hoài mệt mỏi, nhọc nhằn lắm nha tâm. Gắt gỏng, cộc cằn hoài nóng bức lắm nha tâm. Tranh đấu, tranh chiến, tranh giành hoài đầy bất an, bất ổn, bất trắc nha tâm”. Như vậy chính là nhìn tâm, xem tâm, xét tâm, quán tâm, soi tâm, chiếu tâm, rọi tâm mình. Sau khi thấy tâm rồi thì dạy dỗ, giáo dục, huấn luyện, dẫn dắt, hướng tâm đi đúng hướng, đặt tâm đúng hướng, đừng để tâm đi sai hướng. Khi thừa hưởng được Thánh trí tuệ của Đức Phật thì chúng ta mới làm được như vậy.

Quán chiếu tám cặp phạm trù của tâm

Chúng ta phải nhìn vào tất cả những khía cạnh, góc độ của tâm. Trong Tứ Niệm Xứ, Đức Thế Tôn đã nói về mười sáu hành tướng của tâm, tất cả các thức đều nằm trong mười sáu hình thái này. Gồm có tám cặp phạm trù của tâm: tham – không tham, sân – không sân, si – không si, thâu nhiếp – tán loạn, rộng lớn – nhỏ hẹp, hữu hạn – vô hạn, định – không định, giải thoát – không giải thoát. Tất cả những vọng tâm, tâm tưởng của mình đều nằm trong tám cặp tâm này.

“Khi tâm có tham là biết tâm có tham” và biết cái tham này làm khổ mình, khổ người, hại mình, hại người, vì vậy, chúng ta phải đánh đuổi cái tham đó. Lòng tham sanh khởi lên thì giống như lũ lụt, nước lũ tràn về, chúng ta phải dọn đồ, ngăn chặn để không bị mưa, gió tạt vào nữa. Nước lũ tràn vào thì phải dọn đồ quan trọng ra.

Vì vậy, khi nội tâm có tham, có ái, có dục thì mình phải nhận thức, phải tuệ tri, biết bằng trí tuệ rằng cái tham, cái ái, cái dục này sẽ đưa đến sự ly tán, chia lìa, đổ vỡ, khổ đau. Sau đó, chúng ta tác ý đánh đuổi suy nghĩ, cảm giác, nghĩ, tưởng này, không chấp nhận nó, không cho nó có chỗ trong tâm. Mình phải quét sạch, đào bới gốc rễ của dục, tham, ái và ra sức đánh đuổi, diệt tận, không cho nó sanh khởi trở lại trong tương lai. Ngay tại lúc đó mình không còn tham nữa thì sẽ có được bình an, hạnh phúc, an lạc. Còn khi chất chứa một cái tham tà vọng, sai quấy thì chúng ta sẽ làm khổ mình, khổ người, làm khổ gia đình mình, làm khổ gia đình người khác.

Khi có những suy nghĩ yêu thích, có những cảm giác ham muốn, có những hình bóng về đối tượng tham muốn thì chúng ta phải nhận biết. Ví dụ, chúng ta muốn ăn sầu riêng thì đó là điều bình thường, nhưng mình lại thích trái sầu riêng ở trên cây sầu riêng của nhà người khác, thì điều này không còn bình thường nữa. Nếu muốn ăn nên mình lấy tiền để mua thì bình thường, còn muốn ăn nên đi hái của người khác là bất bình thường, bất thiện pháp. Vậy nên, chúng ta phải thấy được cái muốn đó là như thế nào, phù hợp hay không phù hợp. Vì vậy, cần phải đưa trí tuệ vào sự xem xét, quán xét, soi xét, soi chiếu, quán chiếu trong từng suy nghĩ, lời nói, hành động, như vậy gọi là quán tâm.

Chúng ta phải xem xét cái muốn này là thiện hay bất thiện, phù hợp hay không phù hợp, chánh đáng hay không chánh đáng. Sau khi xem xét thấy cái muốn này chánh đáng, vì đây là cái muốn đi chùa, muốn nghe pháp, muốn được ngồi thiền, muốn được tụng kinh, muốn được bố thí, muốn được cúng dường, muốn được dấn thân giúp đỡ những người nghèo khổ thì hãy phát huy những cái muốn tốt lành này. Đồng thời cảm thấy vui thích, hoan hỷ trong những cái muốn này. Còn những cái muốn bất thiện như sát sanh, trộm cắp, rơi vào tà hạnh của các dục, nói dối, lừa gạt, sử dụng chất say sưa, nghiện ngập, si mê… thì mình biết đây là những cái muốn ác, bất thiện pháp. Chính những cái muốn đó dẫn chúng ta đến tội lỗi, làm khổ mình, khổ người, gây ra lo lắng, bất an cho mình và cho người, thế nên, chúng ta dừng lại bằng mọi cách.

“Khi tâm có sân, biết rằng tâm có sân. Khi tâm không có sân giận thì biết rõ bằng trí tuệ là tâm đang không có sân giận”. Đồng thời khi đó chúng ta rõ biết rằng tâm đang mát mẻ, bình an, lắng dịu và mình vui với tâm không giận đó. Mặt khác, nếu tâm đang không giận mà mình cứ để yên vậy không tác ý thì nó sẽ trơ trơ, lọt qua cảm thọ không khổ không vui. Cho nên, khi tâm không giận mình phải tác ý: “Đây là tâm bình an, đây là tâm nhẹ nhàng, đây là tâm thảnh thơi, đây là tâm mát mẻ. Tâm này thật là vui, thật là lặng yên, thật là dễ chịu, thật là ngọt ngào. Tâm này là tâm cao thượng, tâm an lạc”. Như vậy mình sẽ không bị rơi vào cảm giác không khổ không vui, không vướng vào cảm giác của si mê.

Khi có những cảm giác bực bội, sân hận là biết tâm đang có sân và tâm sân này là rắn độc, là đống lửa, là hố than hừng, là hỏa hoạn, thế nên chúng ta phải lập tức tìm đủ mọi cách dập lửa. Chẳng hạn khi nhà bị cháy thì chúng ta không thể ngủ được, cũng vậy, cảm giác sân cũng bừng bừng giống như lửa đang cháy, chúng ta không nên để nó lan ra mà phải tìm đủ mọi cách để dập tắt ngay lập tức. Lúc bình thường chúng ta không thương mình nhiều, không quý cái tâm này nhiều nên khi có chuyện xảy đến mình không chăm lo cho nó. Ngược lại, nếu mình biết quý trọng, lo lắng cho tâm này thật nhiều thì khi có bị vấn đề xảy ra, mình lập tức chăm sóc, bảo vệ .

Sân hận, nóng giận thì giống như hoả hoạn, cháy nhà, cháy xóm, cháy chợ, cần phải ngay lập tức tìm đủ mọi cách, dùng đủ phương tiện để dập lửa. Đức Phật ví sân hận như “lửa cháy trên đầu”, quấn khăn thì cháy khăn, đội nón thì cháy nón, cháy tóc mình, vậy nên phải tìm đủ mọi cách để dập tắt lửa. Đây gọi là quán tâm, chăm sóc cho tâm, không để tâm mình bị chết cháy, không để tâm mình bị chết chìm, không để tâm mình bị si ám trong bóng đêm

“Khi tâm có si, tuệ tri tâm có si. Tâm không có si, tuệ tri tâm không có si”. Si chính là cảm giác đơ đơ, không hỷ lạc, không tinh minh, không thọ pháp một cách sắc bén, thiện xảo. Thế nên, vào ngồi thiền một lúc thì bị buồn ngủ là do chúng ta ngồi thiền với tâm si, ngồi thiền nhưng không tác ý hỷ lạc, không quán nhìn tâm nên không nhìn thấy si sanh khởi và để cơn si này xâm chiếm, áp đảo, lật đổ mình. Dù cho chúng ta ngồi thiền năm năm, bảy năm, mười năm, hai chục năm nhưng không nhìn thấy được trạng thái của thọ, tưởng, hành, thức thì trí tuệ cũng không sanh trưởng, vì đó là mình ngồi thiền trong cái si, cái tưởng..

Tưởng tượng bây giờ chúng ta đi đến một nơi mà không đèn dầu, không đèn cầy, không đèn pin, không đèn điện, không có bất cứ loại đèn nào, xung quanh là bóng đêm bao phủ toàn bộ thì chúng ta rất cần đèn, rất cần ánh sáng. Cũng vậy, khi cảm thọ si ập đến, chúng ta phải quán xét, tác ý ngay rằng “đó là sự nguy hiểm”. Sự tác ý này giống như bật công tắc bóng đèn, đốt đèn cầy, đốt đuốc, bật đèn pin lên để thoát ra khỏi cảm thọ si ám, trì trệ, u ám.

Chúng ta phải thấy rằng tất cả pháp đều là duyên sanh, nương dựa, nương tựa vào nhau, không có gì là chắc chắn. Như Minh Thành đang nói chuyện với quý Phật tử, micro bỗng hết pin, tắt mất tiếng, nó không có báo trước cho chúng ta biết là sẽ hết pin, khi hết pin là nó tắt thôi. Tâm mình cũng vậy, muốn sân là nổi sân lên, muốn tham là dục khởi lên, muốn si là cứ ập tới. Chúng ta thường hay nói câu “báo trước cho tôi chuẩn bị nha”, nhưng cái chết đến nó không hề báo trước cho chúng ta biết. Cho nên, lúc đang yên ổn mà không lo tu tâm, quán tâm, thực tập tu sửa tâm mình thì bất thình lình chuyện đến thì chúng ta rất khó xử lý.

Cái micro Minh Thành đang dùng bị hết pin, nói không ra tiếng nữa nhưng nhờ có sự phòng bị trước nên Minh Thành có cái khác để thay thế dùng liền. Cũng vậy, tâm chúng ta cần có sự phòng bị, cần có sự tu tập để chuẩn bị cho những lúc tâm này khởi lên tham lam, sân hận, si ám. Khi cảm giác sân hận đến thì chúng ta lấy những cảm thọ hiền thiện, mát mẻ, thanh lương để dập tắt nó. Những lúc si ám ập đến nếu không có sự tu tập trí tuệ từ trước, không có sẵn đại hùng, đại lực, tinh tấn lực thì chúng ta không đủ sức để chống đỡ và sẽ bị ngã đổ liền. Điều này giống như một ngôi nhà không chủ, không khoá cửa, không chốt cài, trở thành ngôi nhà hoang và tâm của mình cũng là một nội tâm không chủ, tâm hoang vu nếu không có sự tu tập Giới, Định, Tuệ. Bởi nó hoang vu nên muốn tham là tham khởi lên, muốn giận là giận khởi lên, đang làm muốn bỏ là bỏ, đang tu muốn không tu nữa là không tu nữa. Đây là tâm nổi loạn do không được tu tập, nó là tâm hoang dại, tâm hoang dã, tâm hoang vu, tâm rừng rú, tâm của dã thú.

Thế nên, sự tu tập tâm rất là tuyệt vời. Đức Phật dạy: “Tâm thâu nhiếp, rõ biết là tâm thâu nhiếp; tâm tán loạn, rõ biết là tâm tán loạn”. Một khi nhận diện được tâm thì chúng ta sẽ không bị đồng hoá mình với tâm đó. Tâm đang loạn động thì biết rằng tâm đang loạn động, chúng ta không được nhập cuộc vào sự loạn động, rối loạn, vọng động này. Còn lúc bình thường không thường xuyên nhận diện tâm thì khi tâm bị loạn động mình không thể biết được và hoàn toàn nhập cuộc vào duyên bên ngoài. Khi đó, chúng ta sẽ bối rối, loạn động, bấn loạn, hoảng loạn. Mặt khác, nếu mình nhìn thấy, phát giác, phát hiện được sự rối loạn này thì mình sẽ có cách chế ngự, nhiếp phục nó.

Ví như một người đang đi rất nhanh, vừa đi vừa chạy thì bất giác người này nhận ra mình đang đi quá nhanh, và tác ý “thôi mình đi chậm lại”; khi đi chậm rồi nhưng người này vẫn thấy mệt, nên tác ý “thôi mình đứng lại cho khoẻ”; đứng rồi người này vẫn thấy mệt, nên tác ý “thôi mình ngồi xuống ghế đi”; ngồi xuống rồi người này vẫn thấy mệt, nên tác ý “thôi mình nằm xuống nghỉ đi” và như thế là người này được nhẹ nhàng, an lạc.

Cũng vậy, tâm chúng sanh không được tu tập sẽ giống như một người chạy loạn. Chạy loạn theo sắc, chạy loạn theo thanh, chạy loạn theo hương, chạy loạn theo vị, chạy loạn theo xúc, chạy loạn theo nội pháp – những cảm giác, nghĩ, tưởng bên trong. Tâm của người có tu tập là từ từ sẽ giảm loạn động, ngày càng được thâu lại, nhiếp lại, dừng lại, tịnh chỉ các hành. Từ từ làm cho thọ, tưởng, hành, thức được yên tịnh, lắng dịu, thâu nhiếp.Như vậy, chúng ta đang nhìn về những khía cạnh, góc độ của tâm. Trong Tứ Niệm Xứ, Đức Thế Tôn đã nói về mười sáu hành tướng của tâm, tất cả các thức đều nằm trong mười sáu hình thái này. Gồm có tám cặp phạm trù của tâm: tham – không tham, sân – không sân, si – không si, thâu nhiếp – tán loạn, rộng lớn – nhỏ hẹp, hữu hạn – vô hạn, định – không định, giải thoát – không giải thoát. Tất cả những vọng tâm, tâm tưởng của mình đều nằm trong tám cặp tâm này.

Đức Phật cũng dạy chúng ta để ý vào tám phạm trù và quán xét xem tâm mình rộng lớn hay nhỏ hẹp: “Với tâm quảng đại, tuệ tri tâm được quảng đại; hay với tâm không quảng đại, tuệ tri tâm không được quảng đại”. Minh Thành thường hướng dẫn quý vị thực tập từ vô lượng tâm, bi vô lượng tâm là để tập cho tâm mình rộng lớn. Ví dụ, khi buồn về một chuyện, buồn về một người, buồn về một món đồ bị mất, chúng ta hãy nhìn lên bầu trời, nhìn lên đám mây, tập mở rộng tâm mình lớn ra. Hãy nhìn rộng ra để thấy rằng còn biết bao người đang nằm hấp hối trên giường bệnh, còn bao nhiêu người đang khổ, để từ đó xả bỏ đi những tâm nhỏ hẹp và trải rộng tình thương ra cho những người đang khiến mình buồn khổ. Chúng ta thấy không có gì đáng phải giận bởi vì món đồ đã mất thì cũng đã mất, có giận đi nữa thì món đồ đó cũng không trở về được. Còn chúng ta cứ ôm cơn giận thì vừa bị mất đồ, vừa thêm khổ tâm. Như vậy cũng như mình bị trúng hai mũi tên, một mũi tên khổ thân, một mũi tên khổ tâm. Chẳng những khổ trong hôm đó mà vài tháng sau cũng còn nhắc lại, mà càng nhắc lại thì càng khó chịu và cái khổ này đeo đẳng chúng ta mãi thời gian về sau, cứ mỗi lần nhắc lại thì chúng ta như bị thêm một mũi tên bắn vào mình.

Ví dụ, đại chúng đang chia đồ ăn, đến lượt mình thì nhận được một trái ổi nhỏ, xanh và bị sâu, thế là tâm khó chịu nổi lên, sân với người chia đồ ăn, trách họ là sao lại chia cho mình đồ ăn không ngon. Đó là tâm nhỏ hẹp, nhỏ nhoi, nhỏ nhặt, tâm của phàm phu và tâm như vậy là tâm khổ. Thay vào đó, chúng ta hãy tập tâm rộng lớn, tác ý rằng “Vậy là mình có phước, tất cả mọi người đều được ăn trái ngon, trái ngọt, trái chín, còn trái xanh này về phần mình, vậy là mình được nhường trái ngon, trái ngọt, trái tốt cho mọi người. Nếu mình không nhận mà người khác nhận rồi không ăn được thì tội nghiệp họ. Họ cũng sẽ bị cảm giác khó chịu như mình đang khó chịu, vậy nên mình nhận lấy cảm giác khó chịu này đi để mọi người được dễ chịu”.

Đó là chúng ta đang tu tập và tác ý tu tập tâm. Mỗi khi bị thiệt thòi, tổn hại điều gì đó hãy tác ý, suy nghĩ như vậy để tập cho tâm mình rộng lớn. Biết bao nhiêu người còn đau khổ nhiều lắm, hãy nhìn thấy cái phước mình đang có, nhìn thấy cơ hội của mình, sao cứ chấp nhặt vào những món đồ này. Tập tâm quảng đại và trải tình thương rộng ra, vận dụng từ vô lượng tâm, bi vô lượng tâm, hỷ vô lượng tâm, xả vô lượng tâm. Hãy thấy rằng thân này còn buông xả chứ những điều nhỏ nhặt kia có là gì đâu. Buông xuống rồi chúng ta được nhẹ nhàng. Đó là tâm rộng lớn, quảng đại.

“Với tâm hữu hạn, tuệ tri tâm hữu hạn. Hay với tâm vô thượng, tuệ tri tâm vô thượng”. Tâm hữu hạn là khi chúng ta bị vấn đề nào đó mình cứ nhắc đi nhắc lại, cứ sanh khởi thọ, tưởng, hành xung quanh vấn đề đó. Câu nói nào không tốt thì mình cứ nghĩ về câu nói đó. Hoặc đi đâu cũng nghĩ về cái nhà, nhớ cái nhà, nhớ đứa cháu nội, cháu ngoại. Đó là tâm hữu hạn, tâm nhỏ hẹp, khi đó chúng ta tác ý: “Thôi, đừng nhớ nữa. Chừng nào gặp thì thương, thì lo cho vậy thôi, giờ không gặp thì thôi đừng tưởng nữa. Giờ hãy lo tu tập cho tâm rộng lớn, để buông xả cho tâm mình nhẹ nhàng, để khi có ra đi mình cũng không bị vương vấn một chuyện gì hết”. Tập cho tâm mình vô thượng, vô lượng, rộng lớn, không bị bất cứ điều gì đóng khung lại. Không để bốn bức tường đóng mình lại như trong lao ngục.

Khi thực tập thiền quán, quý vị nhớ quán cho tâm mình xuyên qua nóc nhà, xuyên qua vách tường, xuyên qua núi đồi, xuyên thủng tất cả mọi vật để trải tình thương rộng ra với một tâm hoan hỷ. Nhờ đó, tâm mình vượt ra khỏi giới hạn, không bị hạn lượng, dính mắc bởi sắc tướng, sắc pháp, sắc tưởng này. Khi trải tâm ở phía dưới thì chúng ta quán tâm xuyên qua lòng đất, xuyên qua ngói, qua gạch, qua bê tông, qua đá, xuyên qua tất cả để trải tâm xót thương cùng khắp xuống ngạ quỷ, địa ngục, súc sanh, các loài thú vật, côn trùng, ruồi, muỗi… từ đs tâm chúng ta được vô hạn, vô lượng. Đó là sự quán chiếu khi tu tập bốn tâm vô lượng.

“Khi tâm yên định là mình biết tâm được yên định. Khi tâm loạn động, không yên định là mình biết đây là tâm không yên định”. Sau đó phải nhiếp phục, tác ý: “An tịnh, lắng dịu, dễ chịu đi!” và đọc lên câu: “Niệm tâm lặng yên, tâm dễ chịu – Niệm ngũ uẩn này không phải ta”. Chúng ta thường xuyên niệm thầm trong tự tâm rằng ngũ uẩn này là khổ, là vô thường. Có người nào đó khen chúng ta hết lời, họ tán dương, xưng tán, đề cao mình lên, nhìn lại thì mình thấy tâm đang lâng lâng, phơi phới thì phải tác ý: “Thôi, lặng yên, an tịnh, lắng dịu, đừng có dao động. Khen đó rồi chê đó. Đưa lên rồi hạ bệ xuống mau lắm. An tịnh, lắng dịu đi, đừng ham thích”. Hoặc khi gặp hoàn cảnh khiến chúng ta sợ hãi, tác ý: “Thôi, dễ chịu, lặng yên, lắng dịu”. Chúng ta cứ chỉ bảo như vậy, rồi từ từ tâm sẽ nghe lời mình. Sau này, chỉ cần tác ý nhẹ thôi là nó nghe lời răm rắp. Khi đó tâm này đã trở thành con ngoan, trò giỏi, đệ tử giỏi của mình.

Chúng ta muốn làm đệ tử của tâm hay tâm làm đệ tử của mình? Để làm chủ được tâm, chúng ta phải dạy dỗ học trò của mình, đó chính là dạy dỗ ngũ uẩn này. Mình phải giáo dục để tâm này trở thành đệ tử của mình, khi mình nói nó phải nghe. Khi chúng ta dạy: “Thôi, im miệng lại, không bép xép nữa” là tâm này im lặng, không nói gì nữa; hoặc bảo nó: “thôi, không chạy lăng xăng nữa, ngồi im nha” là nó ngồi im, thiền định. Chúng ta phải để tâm dạy dỗ, huấn luyện không ngừng cho đến khi tâm này thuần thục, mềm mại, nhu nhuyến, dễ nghe, dễ dạy, dễ bảo, dễ sử dụng. Lúc đó chúng ta mới tu được những tâm thâm sâu, rộng lớn, cao thượng và thánh thiện hơn. Nghĩa là, mình dạy tâm từ những điều nhỏ nhỏ, rồi tới cái vừa vừa, sau đó mới tu được tâm vô lượng. Tâm này nhu nhuyến, mềm mại, nhẹ nhàng, dễ sử dụng, thật là hiền thiện, thật là khoẻ, an lạc và với trí tuệ chúng ta bằng lòng, hoan hỷ với tất cả. Đó là tâm của người tu, là sự khéo léo trong quán tâm.

“Tâm có giải thoát thì mình biết rõ bằng trí tuệ là tâm đang có giải thoát. Tâm không có giải thoát thì mình tuệ tri tâm không có giải thoát”. Giải thoát ở đây là mình thoát ra được. Ví dụ, khi buồn vì con không nghe lời, chúng ta tác ý “Thôi, nỗi buồn này có được gì đâu, không có lợi ích, chỉ làm mình suy sụp tâm. Hãy buông xả tâm này đi”. Khi tâm thoát ra khỏi được cảm giác buồn này thì gọi là tâm giải thoát. Giải thoát không phải đến nơi nào đó mà là chúng ta thoát ra khỏi những cảm thọ tiêu cực, những tham, sân, si, vô minh, bản ngã, bức xúc, gay gắt, cộc cằn, ganh tỵ, đố kị, hơn thua, hờn giận. Khi thoát khỏi những cảm giác này là tâm có giải thoát và mình biết mình thoát ra khỏi tâm giận, mình biết mình đang đi ra khỏi cảm giác si ám, đang thoát ra khỏi cảm thọ của bản ngã, của cái tôi, mình đang có sự khiêm cung, khiêm tốn, khiêm nhường, khiêm hạ. Như vậy mới đúng như lời Phật dạy là tâm có giải thoát, tuệ tri tâm có giải thoát; tâm không có giải thoát, tuệ tri tâm không có giải thoát.

Khi chúng ta đã quán chiếu, tác ý mà tâm này không chịu thoát ra khỏi cảm thọ tham, sân, si, bản ngã thì chúng ta biết rằng mình vẫn đang bị trói buộc ở trong cảm xúc này. Vì vậy, cần phải nỗ lực tác ý thêm nữa, lạy sám hối trước Phật: “Xin Phật gia hộ cho con thêm sức mạnh để thoát ra sự khổ này, con không muốn lẩn quẩn trong này nữa, con muốn đi ra khỏi cảm thọ xúc bất an này, con xin được từ bỏ cảm thọ này”.

Đức Phật cũng dạy rằng “sống quán tánh sanh diệt trên tâm”, nghĩa là thấy rõ tất cả những tham, sân, si, phiền não, hơn thua, tất cả chỉ là pháp sanh diệt. Những cảm thọ, nghĩ, tưởng này đến rồi cũng tan biến đi, như những bong bóng nước, không có lõi cứng bên trong. Đây là quán tánh sanh diệt của các pháp ngay nơi tâm mình.

“Có tâm đây, vị ấy sống an trú, chánh niệm như vậy với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống quán tâm trên tâm”. (Trung Bộ Kinh, 10. Kinh Niệm Xứ). Đức Thế Tôn dạy rằng sống phải nhìn tâm ngay nơi tâm của mình để không bị tâm lừa đảo, không bị tâm dối gạt. Hơn thế nữa, sống phải làm chủ tâm, giáo dục tâm, huấn luyện tâm, dạy dỗ tâm, điều khiển tâm, dẫn dắt tâm. Từ đó chúng ta mới có được sự an lạc, an bình nơi nội tâm.

./.