Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Đã sửa - Kinh NIKAYA Giảng Giải - Đế Vương và Pháp Vương A-B

2026-03-03 00:53:27
KINH NIKAYA GIẢNG GIẢI

ĐẾ VƯƠNG VÀ PHÁP VƯƠNG

-Thích Minh Thành-

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Tâm nguyện của sư phụ: PAGEREF _Toc49675770 \h 1

II. Bài kinh: PAGEREF _Toc49675771 \h 2

III. Chia sẻ: PAGEREF _Toc49675772 \h 19

1. Sư cô Hạnh Trí: PAGEREF _Toc49675773 \h 19

2. Sư cô Liên Thuận PAGEREF _Toc49675774 \h 22

3. Sư cô Hạnh Đức PAGEREF _Toc49675775 \h 24

4. Phật tử 1 PAGEREF _Toc49675776 \h 26

5. Phật tử 2 PAGEREF _Toc49675777 \h 27

6. Thầy Pháp Nghĩa PAGEREF _Toc49675778 \h 28

7. Thầy Nguyên Thường PAGEREF _Toc49675779 \h 29

8. Thầy Nguyên Thường PAGEREF _Toc49675780 \h 30

I. Tâm nguyện của sư phụ:

Chúng ta đã nghe cuộc đối thoại giữa Thiên chủ và Pháp chủ. Hôm nay, con muốn trình bày với đại chúng cuộc đối thoại giữa Đế vương và Pháp vương.

Chúng ta sẽ rất sửng sốt, bất ngờ, trước một bậc Đế vương. Sự cung kính của ngài đối với Đức Thế Tôn là ngoài sức tưởng tượng, mà sự cung kính của người xuất gia chúng ta ngày nay, chưa chắc bằng của vua Pasenadi (Ba-tư-nặc) cung kính Đức Phật. Chúng ta sẽ không tưởng tượng được, nếu chúng ta không học bài kinh “Pháp Trang Nghiêm” này, trong Trung Bộ Kinh. Qua đây chúng ta sẽ biết được pháp Niệm Phật thật sự của thời Đức Phật là như thế nào, chứ không phải như bây giờ.

Linh Quy Pháp Ấn của chúng ta là phim trường Hollywood của Chánh Pháp. Con với một tâm nguyện, là sẽ diễn giải tất cả những bài kinh khó hiểu, khó nghe, khó nghe, thành những bài kinh dễ dàng. Nhân duyên con được học hán tạng, cho nên con sẽ thuận lợi trong sự diễn tả lại ngôn từ khó hiểu trong kinh. Tâm nguyện này của con cũng hai mươi năm rồi, con có mời các thầy, nhưng sau đó không ai cộng tác.

Hằng ngày đại chúng nhớ, khi con đọc, con diễn ra, là một phần con dịch những từ khó ra, để sau này ban biên tập sẽ làm lại tất cả các bài kinh đều dễ hiểu. Khó là vì, thứ nhất là cổ ngữ, thứ hai là tiếng nước ngoài, thứ ba là các từ quá hàm xúc trong kinh điển và thứ tư là các từ lặp tới, lặp lui, cho nên người ta không muốn đọc. Chứ thật ra những bài kinh trong tạng kinh Nikāya này, nếu diễn thành ngôn ngữ bây giờ để người ta dễ đọc, dễ hiểu, thì giá trị của nó là không có gì có thể so sánh được. Đó là tâm nguyện hai mươi năm của con.

Mỗi ngày con lên trình thưa với đại chúng, nhắc lại lời trùng tiên của Phật dạy, cũng là sự biết ơn pháp, cung kính pháp, thực hành pháp và chia sẻ pháp cho đời sau. Con mong đại chúng hiểu được điều đó, để chúng ta cùng nhau giữ gìn, bảo hộ, lưu truyền Chánh Pháp. Chứ không phải chỉ là một buổi nói chuyện, giảng thuyết thông thường.

Đi vào bài kinh này chúng ta sẽ thấy. Hằng ngày con lên đây kể chuyện thời Đức Phật cho đại chúng nghe, hằng ngày chúng ta trở về thăm Như Lai, chúng ta được gần gũi các bậc Thánh Giả, thiện đức. Chúng ta nhớ, khi mình nghe pháp mình phải “tùy văn nhập quán”. Tức là, lời nói của Phật trong kinh đến đâu, thì thọ, tưởng, hành, mình nhiếp đi theo lời kinh đó. Đừng để tâm đi lang thang ra ngoài, thì cái nghe pháp đó mới sâu sắc, có giá trị.

II. Bài kinh:

“Mình bắt đầu đi vào bài kinh”

“Một thời Thế Tôn ở giữa dân chúng Sakka (Thích-ca). Medalumpa là một thị trấn của dân chúng Sakka. Lúc bấy giờ, vua Pasenadi nước Kosala đi đến Nangaraka vì có một vài công việc.

Rồi vua Pasenadi nước Kosala nói với Digha Karayana:

– Này Karayana, hãy sửa soạn các cỗ xe thù thắng, ta muốn đi đến các thượng uyển để ngắm phong cảnh.

– Thưa vâng, Đại vương. Digha Karayana vâng đáp vua Pasenadi nước Kosala, cho sửa soạn các cỗ xe thù thắng, rồi thưa với vua Pasenadi nước Kosala:

– Tâu Đại vương, các cỗ xe thù thắng của Đại vương đã sửa soạn xong, nay Đại vương hãy làm những gì Đại vương nghĩ là hợp thời.

Rồi vua Pasenadi nước Kosala, leo lên một cỗ xe thù thắng, đi ra khỏi Nangaraka cùng nhiều cỗ xe thù thắng khác, với tất cả uy vệ của vua chúa, và đi đến vườn thượng uyển, đi xe cho đến chỗ còn đi xe được, rồi xuống xe đi bộ, vào vườn thượng uyển. Trong khi đi qua đi lại trong vườn (thượng uyển), trong khi tản bộ thưởng ngoạn, vua Pasenadi nước Kosala thấy những gốc cây khả ái, đẹp mắt, lặng tiếng, ít ồn, vắng người, thoáng gió, xa lánh mọi tụ hội đông đảo, thích hợp với trầm tư mặc tưởng. Thấy vậy, vua liền nghĩ đến Thế Tôn: “Những gốc cây khả ái, đẹp mắt, lặng tiếng, ít ồn, vắng người, thoáng gió, xa lánh mọi tụ hội đông đảo, thích hợp với trầm tư mặc tưởng này, chính tại đây, chúng ta đảnh lễ Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác”.

(Đại chúng đừng dao động, mình tập trung nghe pháp, đừng đi chép gì hết).

Đây chính là lý do tại sao mình đi qua Myanmar, Sri Lanka, thấy người ta thờ cây Bồ đề. Không giống như bên mình, cây Bồ đề người ta làm rất trang trọng, người ta làm những bờ thành, những hàng rào bao bọc, hoặc người ta cúng lạy cây Bồ đề. Từ về đạo tràng cho đến các nước Phật giáo nguyên thủy, là người ta thờ cây Bồ đề.

“Nhà vua nhìn thấy gốc cây yên tĩnh, lặng lẽ như vậy, lập tức nhớ nghĩ về Đức Thế Tôn”. Bấy nhiêu đây thôi cũng làm cho chúng ta chiêm nghiệm được rất nhiều. Bình thường mình có ưa thích gốc cây không? Mình có thường hay ngồi lặng lẽ một mình dưới gốc cây không? Mình có nhớ bậc đạo sư của mình sanh ra ở dưới gốc cây, ngài ngồi tu tập, chứng ngộ, giảng pháp dưới gốc cây không? Rồi có khi Ngài bệnh, Ngài nằm dưới gốc cây, cho đến khi viên tịch, cuối đời, mình có nhớ không?

Cho đến khi nào mình yêu thích cái cây hơn là căn phòng của mình, hơn là một ngôi chùa to tướng, đẹp đẽ. Đến khi nào mình mới gặp được một gốc cây lớn và nhớ về Đức Phật, muốn được ngồi thiền, muốn được tĩnh lặng một mình, tỉnh tọa, đó mình mới được gọi là giống một chút với Đức Thế Tôn. Mình còn thích phòng đẹp, nhà đẹp, chùa đẹp, mình không phải là con thật sự của Phật, mình không xứng danh là Thích tử, đây là đề mục quán chiếu.

Đức Thế Tôn ngồi không phải chỉ riêng cây Bồ đề, Ngài còn ngồi dưới bụi tre, bụi trúc, dưới bóng râm, bên bờ suối, ven rừng, trên lưng thú. Riêng vua Ba-tư-nặc, đi vô là nghĩ đến Đức Thế Tôn liền.

“Rồi vua Pasenadi nước Kosala nói với Digha Karayana:

– Này Karayana, những gốc cây khả ái... (như trên)... Chánh Đẳng Giác. Này Karayana, nay Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác trú tại chỗ nào?

– Tâu Đại vương, có một thị trấn của dân chúng Sakka tên là Medalumpa. Tại đấy, Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác đang trú.

– Này Karayana, Medalumpa, thị trấn của dân chúng Sakka, cách xa Nangaraka bao nhiêu?

– Tâu Đại vương, cách không xa, có ba yojana (do tuần). Có thể đi đến chỗ ấy trong ngày”.

(Một do tuần khoảng mười bảy, mười tám cây số. Tùy theo chỗ có cách tính khác nhau, nhưng phải hơn mười cây số, tính ra cách đây bốn, năm chục cây số)

Vua Ba-tư-nặc nói tiếp:

“– Vậy này Karayana, hãy sửa soạn các cỗ xe thù thắng, chúng ta sẽ đi yết kiến Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. – Thưa vâng, tâu Đại vương. Digha Karayana vâng đáp vua Pasenadi nước Kosala, cho sửa soạn các cỗ xe thù thắng, sau khi sửa soạn xong các cỗ xe thù thắng, liền tâu với vua Pasenadi nước Kosala: – Tâu Đại vương các cỗ xe thù thắng đã sửa soạn xong, nay Đại vương hãy làm những gì Đại vương nghĩ là hợp thời. Rồi vua Pasenadi nước Kosala, leo lên một cỗ xe thù thắng, và cùng với các cỗ xe thù thắng khác, từ Nangaraka đi đến Medulampa, thị trấn của dân chúng Sakka, đến nơi đó nội trong ngày, rồi đi đến tịnh xá. Vua đi xe cho đến chỗ nào có thể đi xe được, rồi xuống xe đi bộ vào tịnh xá. Lúc bấy giờ một số đông Tỷ-kheo đang đi kinh hành ngoài trời. Vua Pasenadi nước Kosala đi đến các Tỷ-kheo ấy, sau khi đến, thưa với các Tỷ-kheo ấy:

– Chư Tôn giả, nay Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác ở đâu? Chúng tôi muốn yết kiến Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. – Thưa Đại vương, Thế Tôn ở trong ngôi nhà này với các cửa khép kín. Hãy im lặng đến gần, bước vào hành lang nhưng không vượt qua, sau khi đằng hắng, hãy gõ vào khóa cửa. Thế Tôn sẽ mở cửa cho Đại vương”.

Ở trong này, chúng ta thấy không biết bao nhiêu bài học mà nói, chỉ một câu này thôi. Một vị Đế vương, Thiên tử, khi ngài đi đến tịnh xá, ngài bước xuống đi bộ, khi ngài đi vào, ngài rất bình dị, đi hỏi các vị Tỳ-kheo, chứ không phải thông báo lên, để các thầy đứng đón này kia, không có. Ngài là đệ tử thường hành của Đức Phật, ngài đến lui thường lắm. Và các Tỳ-kheo cũng vậy, bình thản, thậm chí trong đây không phải dẫn vua đi vào, rồi mở cửa. Mà chỉ hướng dẫn “ngài đi lại đó, làm như vậy đó, thì Thế Tôn sẽ mở cửa”.

Chúng ta thấy người xưa, các bậc Thánh Tăng, các bậc Hiền giả, những vị Tỳ-kheo thời Đức Phật, không ưa thích danh lợi, không có lấy lòng để được hưởng lợi lộc. Hiện nay, nếu có ai chức lớn mà bước lại đây thì mình làm sao?

Còn các ngài bình thản, vẫn đi thiền hành, tiếp tục tu tập. Đó là nói lên sức Niệm Định Tuệ, sự không mong cầu danh lợi, không luồn cúi trước quyền thế. Không vì ánh hào quang của một vị vua, mà mất đi sự tôn nghiêm của người xuất gia. Chúng ta nhìn lại người tu bây giờ như thế nào? Tại sao người ta lại luồn cúi những người quyền thế? Vì đức độ mình không đủ, pháp mình không có, mình bị ánh hào quang của danh lợi, quyền thế, địa vị, nó át hết tâm đạo của mình, nó lấn hết các pháp hành của mình, lúc đó mình không có mình nữa. Từ một chuyện nhỏ đó, mà chúng ta chiêm nghiệm được nhiều lắm.

Còn vấn đề mở cửa này, con biết mấy thầy, mấy chú nãy giờ cũng có thọ, tưởng, hành. Con chia sẻ rất nhiều lần vấn đề này, mà xuống thất của con là kéo cánh cửa ra, là cái ống khóa nó rớt xuống kêu cái “rầm”. Tại vì không có học cái này, nên không biết, từ cư sĩ cho đến xuất gia. Còn đây là Đế vương diện kiến Đức pháp vương. Một người có hộ trì căn, có tu tập oai nghi, Chánh Niệm, thì nhất cử, nhất động của họ đều ở trong sự tỉnh giác và sáng soi. 

Chúng ta thấy, một vị Tỳ-kheo mà nói như vậy “hãy im lặng đi đến căn nhà đóng cửa đó, sau khi đến Đại Vương vào hành lang, nhưng không vượt qua, và tằng hắng” (ý là phải báo cho ở bên trong biết là mình có người đến).

Thành ra mình học cái này có nhiều cái hay lắm. Nhiều khi người ta đang bận cái gì ở trong đó, mình gõ một tiếng mà người ta chưa nghe, thì mình từ từ mình chờ. Còn mình cứ gõ tới, thì là dục, sân nó hoạt động, mình thấy không? Có nhiều người đi đến gõ cửa người ta, có khi người ta nghe rồi, nhưng người ta còn lỡ bận cái gì đó cách xa quá chưa mở, từ từ người ta mới ra kịp. Ví dụ người ta đang rửa tay, rửa mặt, hay đang vệ sinh gì đó, chưa mở cửa, mà mình bắt đầu gõ hoài luôn. Thành ra ở đây, mình học những cái nhỏ nhiệm này, học hay lắm.

Việc kéo cánh cửa khi đi vô, ra, để đôi dép. Tất cả mọi cái đều là biểu hiện của công phu Chánh niệm tỉnh giác, nhưng mà người tu mình xem thường, mình nghĩ tu là cái gì ở đâu đó, nó cao siêu, chứng quả hay là cái gì đó nó xẹt hào quang, hay là nhập các tầng gì cao lắm. Mà mình không biết rằng, những sinh hoạt đó là tỉnh giác Chánh Niệm, nó mới đưa vào thiền. 

Mình đi vô thì để đôi dép ở đây một chiếc, ở đằng kia một chiếc, cách nhau cả thước, mình xem thường những điều đó. Nói chuyện thì nhiều khi thầy ở đây, người ta đang hỏi pháp, mà mình bô lô ba la, không có để ý, không có Chánh Niệm trước mặt, để thấy những gì đang diễn ra xung quanh. Mình chỉ được trong cái dục đó, mình nói trong cái buông lung, phóng dật, mình làm thì cứ việc làm mình, không để ý xung quanh mình cái gì đang diễn ra, trong khi có người đang thưa pháp, đang thỉnh pháp, đang dập đầu sám hối, đang khóc lóc, đang lạy lục. Cái đó là Chánh Niệm trước mặt đó, chứ đâu phải đi vô ngồi thiền mà ngoài trước cách một mét, lúc đó mới Chánh niệm trước mặt, rồi mình bước ra khỏi là mất tiêu, không phải. Chánh Niệm trước mặt là mình nhìn thấy chung quanh mình, cái gì đang diễn ra, trong cái tầm nhìn của mình có thể nhìn thấy được, mình vận dụng được thì nó hay lắm.

“Rồi vua Pasenadi nước Kosala, ngay tại chỗ ấy, trao kiếm và vành khăn cho Digha Karayana. Rồi Digha Karayana tự nghĩ: “Nay vua muốn đi một mình. Ở đây, ta phải dừng lại”. Rồi vua Pasenadi nước Kosala im lặng đi đến căn nhà đóng cửa, sau khi đến, bước vào hành lang nhưng không vượt qua, đằng hắng và gõ vào khóa cửa. Thế Tôn mở cửa. Rồi vua Pasenadi nước Kosala bước vào căn nhà, cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, miệng hôn xung quanh chân Thế Tôn, tay xoa rờ xung quanh chân và tự xưng tên:

– Bạch Thế Tôn, con là vua Pasenadi nước Kosala. Bạch Thế Tôn, con là vua Pasenadi nước Kosala”.

Ngài ôm hôn dưới chân Đức Phật, mà năm đó vua tám mươi tuổi, Đức Thế Tôn cũng tám mươi (cũng là năm cuối cùng mà Đức Thế Tôn nhập diệt). Mình coi cách ứng xử của Pháp vương và Đế vương như thế nào? Xúc động lắm.

Thưa đại chúng bài kinh này con đã chia sẻ ở tiểu bang Virginia ở Mỹ Quốc cách đây bảy, tám năm. Với tựa đề là “Đế vương và Pháp vương”. Nhưng bây giờ đọc lại, con vẫn rưng rưng nước mắt xúc động. 

Một ông già tám mươi tuổi, là một vị vua và một vị Phật tám mươi tuổi, là bậc pháp chủ. Ông già này quỳ lạy dưới chân ông già kia.

Sau đó Đức Phật nói:

“– Thưa Đại vương, do thấy nguyên nhân gì, Đại vương lại hạ mình tột bực như vậy đối với thân này và biểu lộ tình thân ái như vậy?”.

Chúng ta có thể tưởng tượng một vị vua tám mươi tuổi lạy dưới chân Đức Phật, ôm chân hôn, hôn xung quanh bàn chân của Phật. 

“Dạ thưa Đại vương” Đức Phật xưng hô với Đại vương hết sức khiêm tốn.

“Tại sao lại tôn kính tột bực đối với cái thân này như vậy?”, câu nói của Đức Phật thể hiện trí tuệ trong đó, đối với cái thân tứ đại này, tại sao lại tôn kính tột bực như vậy? Đây là khoảnh khắc hết sức xúc động. Thường trong phim về Đức Phật đâu có làm được mấy cái này, sau này có duyên chúng ta sẽ làm. Những cái này phải tái hiện lại, cho chúng sanh đời sau và những bậc quốc vương, đại thần ở trong thiên hạ, toàn thế giới nhìn thấy.

Sau khi nghe Đức Phật hỏi như vậy, vua Ba-tư-nặc đáp lời:

– Bạch Thế Tôn, con có pháp truyền thống (Dhammanvaya) này đối với Thế Tôn. “Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo giảng, chư Tăng đệ tử của Thế Tôn khéo tu tập hành trì”.

(Chữ “khéo” ở đây không phải nghĩa bình thường, mà là tận cùng của chân lý. “Tăng đoàn” ở đây bao gồm cả tứ chúng, Tăng, Ni, cư sĩ. Ở đây nói chính là giới xuất gia).

Ở đây, bạch Thế Tôn, con thấy nhiều vị Sa-môn, Bà-la-môn hành trì Phạm hạnh có giới hạn trong mười năm, hai mươi năm, ba mươi năm, bốn mươi năm. Những vị này, sau một thời gian, khéo tắm, khéo phấn sáp, với râu tóc khéo chải chuốt, sống thụ hưởng một cách sung mãn, đầy đủ năm dục trưởng dưỡng. (Sắc, thanh, hương, vị, xúc)

Ở đây, Bạch Thế Tôn, con thấy các Tỳ-kheo sống hành trì Phạm hạnh viên mãn, thanh tịnh cho đến trọn đời, cho đến hơi thở cuối cùng. Bạch Thế Tôn, con không thấy ngoài đây ra có một Phạm hạnh nào khác viên mãn, thanh tịnh như vậy. Bạch Thế Tôn, đây là pháp truyền thống của con đối với Thế Tôn. “Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Giác. Pháp được Thế Tôn khéo giảng, chư Tăng đệ tử, Thế Tôn khéo tu tập, hành trì”.

Nhà vua so sánh giữa những người tu hành ngoài đạo Phật, và trong ngàn đệ tử của Như Lai khác nhau. Những người kia họ tu một thời gian, họ có giới hạn, dẫu cho họ khổ hạnh đủ cách, nhưng mà được một thời gian họ cũng bỏ, họ trở về hưởng thụ dục lạc của cuộc đời. Nhưng mà đệ tử của Thế Tôn, các Tỳ-kheo hành trì, tu hành, giữ gìn đức hạnh thanh tịnh, trọn vẹn, trong sạch, cho đến trọn đời, cho đến hơi thở cuối cùng. Ngoài ở đây ra, thưa Đức Thế Tôn, con không thấy có một Phạm hạnh, một đức hạnh thanh tịnh nào có thể tròn đầy, trong sạch như vậy. Chỉ có ở trong hàng đệ tử của Thế Tôn, những người được thế tôn giáo hóa. Chính vì chỗ đó mà con cung kính, con đảnh lễ, con tôn trọng Như Lai.

“Lại nữa bạch Thế Tôn, vua chúa cãi lộn với vua chúa, Sát-đế-lỵ cãi lộn với Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn cãi lộn với Bà-la-môn, gia chủ cãi lộn với gia chủ, mẹ cãi lộn với con, con cãi lộn với mẹ, cha cãi lộn với con, con cãi lộn với cha, anh em cãi lộn với anh em, anh em cãi lộn với chị em, chị em cãi lộn với anh em, bạn bè cãi lộn với bạn bè.

Còn ở đây, bạch Thế Tôn, con thấy các Tỳ-kheo sống với nhau thuận hòa, thân hữu, không cãi lộn nhau, hòa hợp như nước với sữa, nhìn nhau với cặp mắt ái kính. Bạch Thế Tôn, con không thấy ngoài đây ra, có một Phạm hạnh nào khác viên mãn, thanh tịnh như vậy.

Bạch Thế Tôn, đây là pháp truyền thống của con đối với Thế Tôn: "Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo giảng, đệ tử chúng Tăng của Thế Tôn khéo tu tập, hành trì”.

Lục hòa kính (thân làm những hành động từ hòa, miệng nói với nhau bằng những lời từ ái, ý nghĩ về nhau trong một tâm từ), như nước với sữa, hòa hợp, tương ái, tương thân, tương kính, nhìn nhau với cặp mắt ái kính, thiện cảm. Kính bạch bậc tôn quý trên đời, con không thấy ngoài ở đây ra, không có một hạnh thanh tịnh nào khác, tròn đầy, viên mãn trong sạch như vậy nữa. Ngoài chúng đệ tử của Thế Tôn ra, con không thấy ở đâu có như vậy. Đó là với lý do tại sao con cung kính, con dập đầu, con lạy dưới chân của Như Lai.

“Lại nữa, bạch Thế Tôn, con đi du hành tản bộ từ công viên này đến công viên khác, từ cung uyển này đến cung uyển khác. Ở đấy, con thấy một số Sa-môn, Bà-la-môn gầy mòn, khốn khổ, da xấu, bạc nhợt, tay chân gân nổi, hình như không có gì đẹp mắt để người ta nhìn.

Bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau: “Thật sự các bậc Tôn giả này sống Phạm hạnh không được hoan hỷ hay có những ác nghiệp được giấu kín. Do vậy, các vị Tôn giả này mới gầy mòn, khốn khổ, da xấu, bạc nhợt, tay chân gân nổi, hình như không có gì đẹp mắt để người ta nhìn”.

Con đi đến các vị ấy và nói:

– Vì sao chư Tôn giả lại gầy mòn, khốn khổ, da xấu, bạc nhợt, tay chân gân nổi, hình như không có gì đẹp mắt để người ta nhìn?

Các vị ấy trả lời như sau:

– Tâu Đại vương, chúng tôi bị bệnh gia truyền.

Còn ở đây, bạch Thế Tôn, con thấy các Tỳ-kheo hân hoan, phấn khởi, hỷ lạc, các căn thoải mái, không dao động, bình tĩnh, sống dựa vào (sự hỷ cúng) của người khác, với tâm tư như con thú rừng.

Bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau: “Thật sự các bậc Tôn giả này ý thức được một sự tối thắng thù diệu nào trong giáo lý Thế Tôn, một sự thành đạt tuần tự nên các bậc Tôn giả này hân hoan, phấn khởi, hỷ lạc, các căn thoải mái, không dao động, bình tĩnh, sống dựa vào (sự hỷ cúng) của người khác, với tâm tư như con thú rừng”.

Bạch Thế Tôn, đây là pháp truyền thống của con đối với Thế Tôn: Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo giảng, đệ tử chúng Tăng của Thế Tôn khéo tu tập hành trì”.

Ý ở đây là vua Ba-tư-nặc đối chiếu và thấy được những người tu ở đạo khác họ gầy mòn, xanh xao, họ khổ, xấu xí. Nhưng trong đệ tử của Thế Tôn thì dung sắc, trang nghiêm, thanh tịnh, bình tĩnh, hoan hỷ, hỷ lạc, nhẹ nhàng.

“Con nghĩ rằng, những vị này ý thức được một sự tối thắng thù diệu trong giáo lý của Thế Tôn”.

Làm sao không hỷ lạc được? Khi luôn ở trong trạng thái sơ thiền.

Làm sao không hỷ lạc được? Khi ở trong một cái tâm ly dục.

Làm sao không hỷ lạc được? Đối với những nghĩa lý thâm sâu của Thánh Trí.

Sao mà không hỷ lạc được? Khi nhìn cuộc đời ảo ảnh phù du, vô nghĩa, trống rỗng, tâm đã giảm lại, đã dừng lại, thoát ra khỏi sự truy đuổi, truy tìm. Những sự khát khao, khát ái bắt đầu giảm thiểu, dừng lại và dập tắt.

Đó là sự tin tưởng của con đối với Thế Tôn, là sự tôn kính của con đối với Như Lai. Sự giáo hóa của Ngài thành tựu cho đệ tử. 

“Lại nữa, bạch Thế Tôn, con là một vị vua Sát-đế-lỵ, đã làm lễ quán đảnh, có thể hành quyết những ai đáng bị hành quyết, gia phạt những ai đáng bị gia phạt, trục xuất những ai đáng bị trục xuất. Nhưng bạch Thế Tôn, khi con ngồi xử kiện, có người đôi khi nói ngắt lời của con. Và con không có dịp để nói: “Này Quý vị, chớ có ngắt lời nói của ta, khi ta đang ngồi xử kiện. Quý vị hãy chờ cho đến khi ta nói xong”.

Bạch Thế Tôn, thế mà có người vẫn ngắt lời nói của con. Còn ở đây, bạch Thế Tôn, con thấy các Tỷ-kheo, trong khi Thế Tôn thuyết pháp cho đồ chúng hàng trăm người, trong khi ấy không có một tiếng nhảy mũi hay tiếng ho khởi lên. Bạch Thế Tôn, thuở xưa, trong khi Thế Tôn thuyết pháp cho đồ chúng hàng trăm người, có người đệ tử Thế Tôn ho lên. Một đồng Phạm hạnh khẽ đập vào đầu gối và nói: “Tôn giả hãy im lặng, Tôn giả chớ có làm ồn. Thế Tôn, bậc Đạo Sư của chúng ta đang thuyết pháp”.

Bạch Thế Tôn, con khởi lên ý nghĩ như sau: “Thật vi diệu thay! Thật hy hữu thay! (tiếng Việt của chúng ta là: Thật là tuyệt vời! Thật là hiếm có ở trên đời!). Thính chúng này thật khéo được huấn luyện, không gậy, không kiếm. Bạch Thế Tôn, con không thấy ngoài đồ chúng này có một đồ chúng nào khác được khéo huấn luyện như đồ chúng này”. Bạch Thế Tôn, đây là pháp truyền thống của con đối với Thế Tôn: “Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo giảng, đệ tử chúng Tăng của Thế Tôn khéo tu tập hành trì”.

Ý vua nói ở đây là: Đức Thế Tôn không dùng gậy gộc để đánh, không dùng kiếm để giết, nhưng mà lại khéo léo huấn luyện. Tại vì con dùng gậy, dùng kiếm, dùng đao, mà họ cũng dành nói với con. Nhưng mà Thế Tôn không có một cây gậy, không có một thanh kiếm, mà đồ chúng họ với Thế Tôn, mọi người điều tự giác an tịnh, thanh tịnh, một tiếng ho, một tiếng nhảy mũi cũng không có. Lâu lắm có người ho là bị nhắc nhở “Thế Tôn, bậc Đạo sư đang thuyết pháp, phải an tịnh, chớ có làm ồn, hãy im lặng”.

“Bạch Thế Tôn, con không thấy ngoài đồ chúng này, có một đồ chúng nào khác khéo huấn luyện như đồ chúng này như vậy”

Con thấy trong đạo tràng Nikāya chúng ta có nét này. Con thấy trong những khóa tu, thời khóa Linh Quy chúng ta có gần giống những nét này, hãy giữ gìn những nét đẹp này. Chúng ta thấy trong khóa tu bảy ngày, bậc thiện tri thức hướng dẫn chúng ta hàng trăm người, không có một tiếng động, an tịnh, an bình. Khi dùng cơm, hàng trăm người, không nghe tiếng muỗng đũa. Đó là hội chúng tinh bã, đừng có làm hội chúng cặn bã. Những người nào tự thấy mình có lỗi lầm, dao động, phải khéo léo tác ý, điều chỉnh. Phải giữ cho hội chúng mình đúng là hội chúng đệ tử của Thế Tôn.

Một nhà vua, chúng ta thấy không? “Con có quyền uy thiên hạ, con muốn giết là giết, muốn đuổi là đuổi, muốn xử tội là xử tội. Vậy mà có người ngắt lời khi con đang nói. Nhưng Đức Thế Tôn, hàng trăm người, yên lặng, thanh tịnh. Khi ấy không có một tiếng nhảy mũi, hay một tiếng ho khởi lên”.

Mình nghe cái này mình hồi tưởng lại hội chúng của Đức Phật, mình cố gắng thực tập. Có thể mình chưa được một trăm phần trăm như vậy, thì ít nhất mình phải hơn năm, sáu mươi phần trăm. Bây giờ con thấy những buổi lên lớp ở trường, hay những buổi thuyết giảng, con thấy là không có giống như ở đây.

Cho nen, hội chúng như vậy mà nhà vua không tâm phục khẩu phục mà lạy sao được. Thật sự là lạy dưới chân Đức Phật, Đức Thế Tôn không có một cây gậy, không có một thanh sắt, nhưng có thể giáo hóa cho đệ tử tự giác, tự trang nghiêm, thanh tịnh, tu học. Cho nên nhà vua mới nói “ngoài ở đây ra con không thấy ở đâu hết”.

Cho nên bài kinh này được gọi là “Pháp Trang Nghiêm”, những pháp làm cho Tăng đoàn trang nghiêm, thanh tịnh. Những pháp làm cho Như Lai được thế gian tôn kính, những pháp làm cho Tăng bảo trở thành “vô thượng phước điền”. Những cái này hết sức quan trọng, để chúng ta thực tập, chứ không phải chỉ nói lý. Phải thực tập ở trên sự tướng, hình thức, những cái nhỏ nhiệm, mà mình không làm được thì đừng mong mình làm được gì cao siêu, lớn lao. Đứng không biết chỗ đứng, ngồi không biết chỗ ngồi, nói không biết lúc nào nên nói, nói cái gì, nói ở đâu, nói với ai, nói như thế nào, đó tất cả là chúng ta phải học, hay lắm, hy hữu, tuyệt vời, hiếm có ở trên đời. Chúng ta trở về thăm Đức Thế Tôn cùng với vua Ba-tư-nặc đi diện kiến Như Lai.

Ở đây chúng ta thấy hai ngàn sáu trăm năm, nhưng trên chư thiên mới hay hai mươi sáu ngày thôi. Hiện tại Cấp-cô-độc và Visakha, tất cả các vị mới hai mươi mấy ngày ở trên trời, các vị đó còn hết, còn đang học pháp, hành pháp, mất hai mươi mấy ngày thôi.

Chúng ta hãy trở về với Đức Phật, Thế Tôn, là Bậc Chánh Đẳng Giác. “Pháp được Thế Tôn khéo giảng, đệ tử, chúng Tăng của Thế Tôn khéo tu tập hành trì”.

“Lại nữa, bạch Thế Tôn, con thấy ở đây một số Sát-đế-lỵ bác học, tế nhị, nghị luận biện tài, biện bác như chia chẻ sợi tóc. Những vị này đi chỗ này, chỗ kia, như muốn đả phá các tà kiến với trí tuệ của họ.

Những vị này nghe: “Sa-môn Gotama sẽ đến thăm ngôi làng này hay thị trấn này”. Họ sắp đặt câu hỏi: “Chúng ta sau khi đến sẽ hỏi Sa-môn Gotama câu hỏi này. Khi bị chúng ta hỏi như vậy, nếu Sa-môn Gotama trả lời như thế này, thì chúng ta sẽ chất vấn như thế này. Khi bị ta hỏi như vậy, nếu Sa-môn Gotama trả lời như thế kia, thì chúng ta sẽ chất vấn như thế kia”. Những vị này nghe: “Sa-môn Gotama đã đến thăm ngôi làng hay thị trấn này”.

Những vị này đến chỗ Sa-môn Gotama ở. Sa-môn Gotama với pháp thoại khai thị cho các vị này, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ. Được Sa-môn Gotama, với pháp thoại khai thị, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, họ không hỏi Sa-môn Gotama câu hỏi (đã định trước), huống nữa là chất vấn!

Trái lại, họ trở thành đệ tử của Sa-môn Gotama. Bạch Thế Tôn, như vậy là pháp truyền thống của con đối với Thế Tôn: “Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo giảng, đệ tử chúng Tăng của Thế Tôn khéo tu tập hành trì".

Lại nữa, bạch Thế Tôn, con thấy ở đây một số Bàla-môn bác học...(như trên)... Gia chủ bác học, Sa-môn bác học, tế nhị, nghị luận biện tài, biện bác như chia chẻ sợi tóc, những vị này đi chỗ này chỗ kia như muốn đả phá các tà kiến... (như trên)... họ không hỏi Sa-môn Gotama câu hỏi (đã định trước), huống nữa là chất vấn”.

Những câu hỏi định trước bỏ hết, khi tới ngày khai thị, ngày giảng thuyết cho các vị thấy ngũ uẩn, thấy sân, si, bản ngã, khổ đau, các vị này bỏ hết những câu hỏi đó, huống hồ là chất vấn.

“Trái lại, họ xin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Thế Tôn cho họ được xuất gia. Được xuất gia như vậy, một số các vị ấy sống một mình, không phóng dật, nỗ lực, tinh cần và không bao lâu sau, tự chứng với thắng trí, chứng ngộ chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại mục đích tối thượng của Phạm hạnh mà những Thiện nam tử chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình hướng đến.

Họ nói như sau: “Thật sự chúng ta gần hoại vong! Thật sự chúng ta gần hoại diệt! Xưa kia chúng ta không phải Sa-môn lại tự xem là Sa-môn, không phải Bà-la-môn lại tự xem là Bà-la-môn, không phải bậc A-la-hán lại tự xem là bậc A-la-hán. Nay chúng ta mới thật là Sa-môn. Nay chúng ta mới thật là Bà-la-môn. Nay chúng ta mới thật là A-la-hán”.

Bạch Thế Tôn, đây là pháp truyền thống của con đối với Thế Tôn: “Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo giảng, đệ tử chúng Tăng của Thế Tôn khéo tu tập hành trì”.

Đó là lý do tại sao con đảnh lễ, con tôn trọng, con tôn kính Đức Thế Tôn. Thế Tôn đã khéo điều phục, chế ngự những người bác học ngang tang, ương ngạnh. Thế Tôn là bậc điều ngự sư, bậc thầy để điều phục, chế ngự những người có cái tâm can cường, cứng cỏi, khó dạy, những người ương ngạnh, hung hăng, dữ tợn, gây sự. Khi đến Thế Tôn điều trở thành ngoan hiền, điều tùy thuận pháp, sống trong giới luật, điều thành tựu Thánh Trí, diệt tận lậu hoặc, chứng ngộ Niết bàn.

Vì vậy, con tôn kính Thế Tôn, con lạy dưới chân của Ngài. Ngài là bậc tối tôn, tối thượng. Đó là pháp truyền thống của con từ xưa đến giờ, con cung kính Như Lai vì những lý do này.

Chúng ta đến với cái cuối cùng, cũng là điều độc nhất. Vừa độc đáo mà hết sức thực tế.

“Lại nữa, bạch Thế Tôn, Isidatta và Purana là hai quan giữ ngựa, ăn cơm của con, đi xe của con, sinh sống do con cho, và chính con đem danh vọng lại cho họ. Nhưng họ không hạ mình đối với con như họ hạ mình đối với Thế Tôn.

Thuở xưa, bạch Thế Tôn, trong khi hành quân chống với đội quân (đối nghịch), và muốn thử thách Isidatta và Purana, hai quan giữ ngựa, con đến ở tại một căn nhà chật hẹp. Rồi bạch Thế Tôn, hai quan giữ ngựa, Isidatta và Purana, sau khi cùng nhau đàm luận về chánh pháp hơn nửa đêm, rồi nằm xuống ngủ, với đầu của họ hướng về phía mà họ được nghe là chỗ Thế Tôn ở và với chân hướng về chỗ con.

(Đức vua nói những điều đó với Thế Tôn, những nói không phải với cái tâm hờn trách, mà với tâm tôn kính).

Bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau: “Thật vi diệu thay! Thật hy hữu thay! Hai quan giữ ngựa Isidatta và Purana này ăn cơm của ta, đi xe của ta, sinh sống do ta cho, và chính ta đem danh vọng lại cho họ. Nhưng họ không hạ mình đối với ta như họ hạ mình đối với Thế Tôn. Thật sự những vị này ý thức được một sự tối thắng thù diệu nào trong giáo lý Thế Tôn, một sự thành đạt tuần tự.

Bạch Thế Tôn, đây là pháp truyền thống của con đối với Thế Tôn: “Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo giảng, đệ tử chúng Tăng của Thế Tôn khéo tu tập hành trì”.

Tại vì vua là đệ tử của Phật, chứ nếu ông vua không phải đệ tử của Phật thì sao? Thì hai ông quan giữ ngựa này bị xử chết rồi. Các ông ấy cũng biết, bệ hạ là đệ tử của Thế Tôn, cho nên ổng mới làm vậy.

Hai quan giữ ngựa này ăn cơm của ta, đi xe của ta, sinh sống do ta cho, và chính ta đem danh vọng lại cho họ. Nhưng họ không hạ mình đối với ta như họ hạ mình đối với Thế Tôn. Thật sự những vị này ý thức được một sự tối thắng thù diệu nào trong giáo lý Thế Tôn, một sự thành đạt tuần tự.

“Lại nữa, bạch Thế Tôn, Thế Tôn thuộc dòng Sát-đế-lỵ, con cũng thuộc dòng Sát-đế-lỵ. Thế Tôn là người nước Kosala, con cũng thuộc người nước Kosala. Thế Tôn được tám mươi tuổi, con cũng được tám mươi tuổi. Vì Thế Tôn thuộc dòng Sátđế-lỵ và con cũng thuộc dòng Sát-đế-lỵ; vì Thế Tôn là người nước Kosala, con cũng thuộc người Kosala; vì Thế Tôn được tám mươi tuổi, con cũng được tám mươi tuổi; nên con sẵn sàng hạ mình tột bực đối với Thế Tôn, và biểu lộ tình thân ái.

Bạch Thế Tôn, nay chúng con phải đi, chúng con nhiều công việc, có nhiều bổn phận phải làm.

– Thưa Đại vương, Đại vương hãy làm những gì Đại vương nghĩ là hợp thời. Rồi vua Pasenadi nước Kosala từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài rồi ra đi.

Khi vua Pasenadi nước Kosala ra đi không bao lâu, Thế Tôn cho gọi các Tỳ-kheo:

– Này các Tỳ-kheo, đấy là vua Pasenadi nước Kosala. Sau khi nói lên những pháp trang nghiêm, vua đã từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi. Này các Tỳ-kheo, hãy học các pháp trang nghiêm. Hãy thấu triệt các pháp trang nghiêm. Này các Tỳ-kheo, hãy thọ trì các pháp trang nghiêm. Này các Tỷ-kheo, các pháp trang nghiêm này liên hệ đến mục tiêu, là căn bản của Phạm hạnh. Thế Tôn thuyết giảng như vậy.

Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy”.

“Con mời đại chúng đứng lên hướng về Đức Thế Tôn lạy ba lạy”

Thưa đại chúng, trong lúc này cảm thọ của mình về Đức Phật như thế nào? Lòng tôn kính của mình ở Đức Phật có tăng trưởng lên thêm không? Con mời đại chúng chia sẻ cảm xúc của mình về lời nói và hành động của vua Pasenadi (Ba-tư-nặc) đối với Đức Phật.

“Thầy: Con mời sư cô Hạnh Trí”

III. Chia sẻ:

1. Sư cô Hạnh Trí:

“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Con xin thành tâm cúi đầu đảnh lễ Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Thành Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.

Con xin thành tâm đảnh lễ pháp bảo, pháp thiết thực hiện tại, có khả năng hướng thượng, diệt tận khổ đau, là một pháp thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy.

Con xin thành tâm hướng về đảnh lễ Tăng bảo, chư Hiền Thánh Tăng, chư Tôn giả, Thánh giả và chư vị Thánh tăng thanh tịnh, hòa hợp, trang nghiêm và ruộng phước điền cho chúng sanh gieo trồng.

Con xin thành tâm đảnh lễ Thánh giới, được người trí tán thán, không bị bể vụn, không bị sứt mẻ, không bị uế nhiễm, không bị vết chấm. Được người trí tán thán, đưa đến thiền định. 

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. 

Con kính ngưỡng bạch trên sư phụ,

Con kính ngưỡng bạch trên sư tôn đức Tăng, sư tôn đức Ni, 

Con kính ngưỡng bạch trên Chư Hiền đức Phật tử.

Con xin trình bày cảm thọ lúc này sau khi nghe sư phụ chia sẻ bài “Pháp Trang Nghiêm”.

Thật sự trong lòng con vô cùng cảm động, cảm xúc dâng tràn, có một lòng cung kính, biết ơn, nhớ ơn đến Đức Bổn Sư. Là một bậc xứng đáng được người trời cúng dường, một bậc Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, một bậc A-la-hán lậu tận, đã diệt sạch mọi khổ đau, và đem lại ánh sáng cho cuộc đời, cho người ngàn thế giới này. Là một bậc trí tuệ đầy đủ, “Minh hạnh hữu túc” “Đức hạnh tròn đầy”.

Là một bậc thiện thệ, thiện xảo, thoát khỏi những bộc lưu, thoát khỏi những dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu. Là một bậc điều ngự sư, là một bậc điều phục được người trí, điều phục những cái tâm ngã mạn, kiêu căng, ngang ngạnh.

Nhờ có đức hạnh và trí tuệ, Ngài đã điều phục được mà không cần gươm, không cần đao, không cần kiếm. Là một bậc Thiên nhân sư, là thầy của trời và người. Và Ngài xứng đáng danh xưng là một vị Phật, không còn sanh tử, không còn luân hồi, không còn phiền não và khổ đau.

Là một bậc Thế Tôn được thế giới tôn kính, được người trời tôn kính, được lịch sử tôn thờ, được thế gian tôn trọng. Là một bậc Như Lai, nói gì thì làm vậy, làm gì thì nói vậy, nói làm không sai khác, không mâu thuẫn trước sau. Từ khi Ngài Chánh Giác, cho đến khi Ngài Niết bàn, Ngài chỉ tuyên bố về sự thật của khổ và con đường diệt khổ, để cho chúng sanh thấy được vô minh, si mê, tăm tối, khát ái của dục, tham, sân, si, vô minh và bản ngã che mờ. Ngài thật xứng đáng để người trời đảnh lễ, cúng dường.

Chưa bao giờ con cảm nhận được con gần gũi Đức Phật như thế này. Khi con lạy xuống, thì thấy hình ảnh của Đức Phật đang đứng trước mặt con, con thấu hiểu như thế nào là Niệm Phật, nhớ nghĩ đến đức hạnh, trí tuệ và lòng từ bi của Đức Phật. Con thấy hình ảnh của Đức Phật và đôi chân của Đức Phật, hai tay con đưa ra như muốn ôm chân Ngài. Con thật sự may mắn, qua mấy ngàn năm, mà đến giờ này con được trở lại sống thời Đức Phật, được nhìn thấy hình ảnh của Đức Phật.

Qua những bài pháp tuyệt diệu của sư phụ và con thấy hình ảnh của Tăng chúng, của sư phụ, rất trang nghiêm và thanh tịnh. Không có một tiếng động, không có một tiếng nói, rất im lặng.

Một hội chúng tinh bã, một giáo pháp tuyệt vời, thật là khéo giảng dạy, thật là khéo tu tập, huấn luyện. Không cần roi, không cần kiếm, chỉ với một tâm từ mẫn, một trí tuệ, một đức hạnh, có thể chuyển hóa được tất cả những tâm ương nghạnh, cứng đầu.

Con thật sự hướng đến Đức Phật, hướng đến Chánh Pháp, hướng đến Chư Hiền Đức Thánh Tăng, Thánh Ni và Phật tử. 

Con xin nguyện thành tựu lòng tin bất động với Đức Phật. Đây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sơn, Phật, Thế Tôn.

Con xin nguyện thành tựu lòng tin bất động đối với Chánh Pháp, pháp được Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, có khả năng hướng thượng, đến để mà thấy, khiến người thực hành chân chánh, diệt tận khổ đau. 

Con xin nguyện thành tựu lòng tin bất động đối với chúng Tăng

Diệu hạnh, là chúng đệ tử của Thế Tôn. 

Trực Hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn.

Ứng Lý Hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn.

Chơn Chánh Hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn.

Tức là “Bốn Đôi Tám Chúng”, chúng đệ tử của Thế Tôn, đáng được cung kính, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là phước điền vô thượng ở trên đời. 

Con xin nguyện thành tựu lòng tin bất động đối với Thánh giới, được bậc Thánh ái kính, không bị phá hoại, không bị sứt mẻ, không bị vết chấm, không bị uế nhiễm, đem lại đèn sáng, được người trí tán thán, không bị chấp thủ, đưa đến thiền định”.

“Thầy: Có ai muốn chia sẻ cảm xúc của mình về Đức Phật không?”

“Thầy: Mời cô Liên Thuận”

2. Sư cô Liên Thuận

“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Con cung kính ngưỡng bạch trên sư phụ,

Con cung kính ngưỡng bạch trên quý thầy,

Con cung kính ngưỡng bạch trên quý sư cô,

Con cung kính ngưỡng bạch trên quý Phật tử, đạo tràng Nikāya.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Kính bạch trên sư phụ, vừa qua bài pháp giảng giải về kinh “Pháp Trang Nghiêm” để cho chúng con được mở ra con mắt trí tuệ, hiểu biết, cũng như bổ túc cho chúng con về những đức hạnh tôn kính Đức Bổn Sư, đức đạo sư, đúng Pháp và cần nên có của một người đệ tử.

Khi những lời sư phụ giảng giải về những đức hạnh của vua Ba-tư-nặc, trong lòng con, tâm tưởng con dâng lên những niềm hạnh phúc dạt dào, về sự cung kính, tôn kính, đúng pháp và chuẩn mực nhất của vị vua, là một Đế Vương mà cung kính một vị Pháp vương đến tột cùng như vậy. Thì con xét lại bản thân của chính con. Là một người tu học, mang danh nghĩa là Thích tử, con của Phật, nhưng con chưa học được đầy đủ về những đức hạnh, giới hạnh, tôn kính, trang nghiêm đúng mực. Và con cũng chưa được thực hành đúng mực, tôn kính, sự trang nghiêm đối với bậc đạo sư, đối với Đức Phật, và đối với những vị thầy, những vị thiện tri thức đã dẫn dắt con trên con đường tu học chánh pháp này.

Qua những lời vua Ba-tư-nặc nói lên về sự cung kính, khi nghe pháp con cũng học được và con cũng tự hằng nguyện trong lòng, ý hành của con sẽ cố gắng chỉnh chu lại thân hành của mình khi nghe pháp. Và con cũng điều chỉnh lại những lời nói của mình cho từ tốn, nhẹ nhàng, đúng pháp, không ồn ào, náo động. Và con cũng học được mình là người tu, không vì danh, vì lợi để cầu thân cận với những người quyền quý bình thường, huống chi là bậc Đế vương, mà phải giữ sự trang nghiêm giới đức của một người tu đúng pháp. Và con cũng học được khi cẩn trọng đối với vị thầy, khi đến thưa hỏi cũng phải cẩn trọng, phải hộ trì các căn, phải tu tập thiền định và chế đức nhiều hơn. Để cho thân tâm của mình được định tĩnh, được thuần tịnh và còn nhiều những lời của vua Ba-tư-nặc nói lên về sự tôn kính của Đức Phật, con học được và hiểu được sâu sắc.

Đó là một bài học kinh nghiệm quý báu để con rèn luyện tự thân của mình, mỗi giờ, mỗi phút khi con còn sống trong giáo pháp chân chánh này. Và những lời giáo huấn của sư phụ thật sự là khuôn vàng thước ngọc, mà đến hiện tại, giờ phút này, càng ngày con càng thẩm thấu được sự giáo dưỡng và huấn luyện của sư phụ. Trong lòng con lúc nào cũng có một niềm cảm xúc rúng động toàn thân, khi nghĩ về những ân đức mà con được thọ hưởng, được làm con Phật, và được sự giáo huấn của sư phụ vụ tỉ mỉ và sát sao. Để cho bản thân chúng con được nên người thành tựu.

Con xin thành kính, tôn kính lên sư phụ, đã dẫn dắt chúng con quay trở về hơn hai ngàn sáu trăm năm trước, được nghe lại những lời vàng ngọc, được học những hạnh tôn kính, chuẩn mực, của đức vua, một vị Đế vương đối với Đức Phật. Để cho chúng con được học thành tựu những thiện pháp đó. Con xin vô vàn cung kính, biết ơn trên sư phụ đã giáo huấn cho con, và con cũng mong vì lòng từ mẫn, xót thương của sư phụ, cũng xin tiếp tục thương xót chúng con, để giáo huấn cho chúng con được giữ đức hạnh tròn đầy, và viên mãn. Xứng đáng là một người con của Đức Phật, một người tu học trên con đường Chánh Pháp vi diệu này.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật”.

“Thầy: Mời sư cô Hạnh Đức cảm xúc về Đức Phật”

3. Sư cô Hạnh Đức

“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Con cung kính trên sư phụ,

Con cung kính trên quý thầy,

Con cung kính trên quý sư cô,

Con cung kính trên toàn thể đại chúng.

Cho con xin được chia sẻ tâm tư của con trong bài pháp hôm nay của sư phụ. Lời đầu, con thấy mình rất có tội lỗi, thấy có sự xấu hổ giống như một đứa con bất hiếu, khoác chiếc áo tu từ rất lâu, mà tới tận hôm nay mới biết công sinh thành của người cha, đó là Đức Phật.

Hồi nào tới giờ, con kính trên sự suy nghĩ, trên hình tượng, chưa bao giờ dùng cảm xúc để cảm nhận nó. Hôm nay qua bài pháp của sư phụ dẫn dắt con qua hình ảnh của một Đế vương, đảnh lễ dưới chân Đức Phật, hôn dưới chân Ngài, rờ bàn chân Ngài. Lúc đó con thấy một cảm giác giống như chính bản thân con đang làm điều đó, mà con thấy được cái thọ, lần đầu tiên con mới cảm nhận được sự tôn kính Phật là như thế nào. Con thấy mình vẫn còn còn can cường, cứng đầu, bởi vì nghĩ rằng Phật đã khuất, chỉ để lại pháp và tôn kính pháp, chứ chưa bao giờ có một cái tâm chân thật và chân thành mà hướng về Ngài. Con thấy sự vô minh trong con là nguyên nhân để cho con có những chướng ngại khi vào vòng pháp này.

Khi con hiểu được cái này trong tâm, con có phát nguyện, để duy trì cái cảm thọ, mà cảm nhận được công ơn bằng cả trái tim của Đức Phật. Lòng từ mẫn, yêu thương này, con nguyện sẽ duy trì được cảm thọ này, làm định tướng, để không mất đi thật sự sáng này. Sáng này con cũng rất xấu hổ, bởi vì có sự hôn trầm, trong lúc hôn trầm này mà đã mất đi một đoạn pháp của sư phụ. Cũng may sư phụ cho chúng con đảnh lễ ba lạy, con dùng hết sự sám hối chân thành, con liên tục nói “con xin lỗi, con xin lỗi, lần sau con không như vậy nữa”.

Con nguyện sẽ quyết chí diệt được năm triền cái này, để có thể thấm được giáo pháp của Phật, như vậy mới gọi là có một lòng chân thành hướng về Phật. Thật sự hôm nay, bài pháp này của sư phụ cho con khai mở rõ hơn, Phật là gì? Và con có lòng tin đối với Phật hơn.

Con nguyện sẽ thành tựu lòng tin tịnh tín bất động đối với Phật, đối với pháp và đối với chúng Tăng. Con sẽ cố gắng nỗ lực và thành tựu những lời nguyện mà con đã nói ra, con xin chân thành tri ân đến bài pháp hôm nay của sư phụ.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật”.

“Thầy: Quý vị Phật tử thấy xúc động có muốn chia sẻ về cảm xúc với Đức phật không?”

4. Phật tử 1

“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Con kính bạch trên sư phụ,

Con kính bạch trên với quý thầy,

Con kính bạch trên quý sư và toàn thể đạo tràng.

Dạ thưa, sáng nay con được nghe thầy giảng bài pháp về vua Ba-tư-nặc đi đến đảnh lễ Đức Thế Tôn. Trong con có một cảm xúc không biết diễn tả như thế nào. Thưa thầy, khi giảng về Đức Thế Tôn và vị vua có sự khâm phục Đức Thế Tôn, thì con nhận ra từ trước tới giờ con rất là phóng dật, buông lung, không có một chút gì gọi là là uy nghi, giới hạnh, nề nếp. Con nhận ra được lỗi, con xin sám hối với sư phụ.

Những ngày qua con thật sự rất thấy áy náy, lúc sư phụ giảng con cũng ho, và con xin sám hối với sư phụ. Khi sư phụ giảng về Đức Thế Tôn và đảnh lễ con lại nhớ đến hôm qua, con ngồi trả lời vài câu hỏi của thầy, con mới nhận ra được nhiều lòng từ bi, tâm đại từ đại bi của Đức Thế Tôn, của các vị A-la-hán. Qua những câu câu trả lời của vị A-la-hán đối với một nữ cư sĩ. Hôm qua con ngồi làm bài, con mới nhận ra được tâm đại từ đại bi của Đức Thế Tôn, muốn cứu khổ chúng sanh thoát ra khỏi vòng luân hồi. Thật sự một cảm xúc biết ơn dâng lên trong.

Con xin hết.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật”

5. Phật tử 2

“Con kính bạch sư phụ,

Con kính và quý thầy,

Con kính bạch quý sư cô và toàn thể đại chúng.

Hôm nay con được nhân duyên lành nghe sư phụ giảng pháp, một bài pháp thể hiện sự cung kính của các vị đệ tử thời Đức Phật. Con nhận thấy ở bản thân mình chưa có đủ sự cung kính đối với các bậc đạo sư, các bậc đang là Thánh đệ tử của đức Phật. Con cũng nhận thấy những lỗi lầm này là do tâm tánh, bản ngã, cống cao, không xem ai ra gì, chính nó là thủ phạm sinh ra sự không đầy đủ cung kính. Hôm nay con nhận thấy, đối với bản thân con, đối với những gì mà con nhận được từ Đức Phật, từ một người cha vĩ đại. Mà con không thể có ngôn từ nào để diễn tả được hết công ơn mà Ngài đã hy sinh, để tìm ra được con đường giải thoát cho chúng con hiện nay.

Con xin được đối trước Tam bảo, đối trước Đức Phật, sư phụ, quý thầy và quý sư cô, cho con được sám hối, diệt ngã. Cho con được bày tỏ sự thiết tha, mong muốn được xả bỏ bản ngã ngu si, bản ngã ngu ngốc, luôn xem mình là hay, là giỏi, khen mình chê người. Không có biết cung kính, không có đầy đủ sự cung kính đối với những bậc chân nhân. Và con xin được xả bỏ cái tâm ngã mạn, cống cao này. Để con có thể có đầy đủ sự cung kính, sự kính trọng, đối với Tam bảo, để con có thể tiến vào con đường tu tập, giải thoát khỏi sự luân hồi sanh tử đầy phiền não, đầy mệt mỏi như thế này.

Con xin thành tâm sám hối để diệt trừ bản ngã trong con.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật”.

“Thầy: Con mời thầy Pháp Nghĩa”

6. Thầy Pháp Nghĩa

“Kính bạch trên sư phụ, kính thưa quý thầy, quý sư cô và toàn thể đại chúng.

Buổi sáng hôm nay là một buổi sáng thật là đặc biệt đối với con, khi được sư phụ chia sẻ sự cung kính của bậc Đế vương, của vua Ba-tư-nặc đối với Đức Phật. Con thấy được sự cung kính của người xưa được đề cao một cách tối đa, tột đỉnh. Con nhìn lại thực trạng bây giờ, con đã đau lòng. Những người con mang dòng máu, mang trên mình màu áo mà Đức Phật truyền trao, thật đau lòng. Ở đây Đức Phật đã xa rồi, chỉ còn giáo pháp, chúng ta không có sự cung kính một cách thật lòng, tột đỉnh.

Khi sư phụ nói đảnh lễ Đức Phật ba lạy, lúc đó cảm xúc của con tuôn trào, mà con kìm nén lại. Con mới nhận thấy được, hiểu được những lời trong kinh nói, là Đức Phật là người nói đến những gì chưa được nói, hiện khởi những gì chưa được hiện khởi, Đức Phật là một tri giả, ký giả, thấy đạo, hiểu đạo và thiện xảo về đạo.

Trước giờ tâm cung kính của con về Đức Phật không có, nó chỉ trên miệng, là sự tưởng tượng, không có biết. Qua những lời trong kinh hôm nay, con mới thấy được sự biết ơn một lòng đối với Như Lai. Người đã tạo ra một đạo lộ giải thoát cho tất cả chúng sanh. Trong những ngày qua, con cảm thấy rất vui khi mình đã cố gắng thực tập những cái buông lung, phóng dật, nhỏ nhặt, con cảm thấy rất là hoan hỉ. Trước đây mình không có để tâm, nhận diện ngũ uẩn một cách sơ sài. Khi con để tâm vào, con làm được, mặc dù nó không có nhiều, nhưng mà có một sự tiến bộ nho nhỏ. Con hy vọng, con sẽ cố gắng nhiều hơn để cải thiện những cái tập khí của mình bao đời, để không phụ lòng Đức Phật, giáo pháp để lại của Ngài, mà sư phụ và các bậc thiện tri thức dành trao. Con một lòng biết ơn rất nhiều. 

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật”.

“Thầy: Con mời thầy Nguyên Thường”

7. Thầy Nguyên Thường

“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Kính bạch trên thầy, kính thưa quý thầy, kính thưa quý sư cô, kính thưa toàn thể đại chúng.

Thông qua bài pháp sáng nay của thầy, cuộc trò chuyện giữa một vị Đế vương và một vị Pháp vương, con học rất là nhiều điều trong bài pháp sáng hôm nay. Từ đầu câu chuyện, con đã được học pháp oai nghi rất quan trọng, đó là khi vị Đế vương đến tìm Đức Phật, gõ cửa ba lần và kèm thêm tiếng tằng hắng ba lần. Con thấy thuyết pháp này, oai nghi này rất quan trọng đối với người xuất gia chúng con.

Tiếp theo trong câu chuyện, khi vị vua Ba-tư-nặc vào đảnh lễ Đức Phật, đảnh lễ năm vóc sát đất, hôn vào chân Đức Phật. Con thấy sự thành tâm, sự cung kính, của vị vua đối với Đức Phật, không có một chút bản ngã nào cả. Con cảm thấy rằng, thời đại ngày nay sao lại đi ngược hết toàn bộ với ngày xưa. Thời nay chúng ta không có cung kính những bậc đạo cao đức trọng, chúng ta chỉ cung kính, nể trọng, o bế những người có quyền uy, tiền tài, chức vị, địa vị, mà bản thân con cũng vậy.

Ngay cả vua Ba-tư-nặc dùng tiền tài lo cho hai vị quan, là người trong ngựa. Vua Ba-tư-nặc cho tiền, cho ăn, cho uống, cho ở, cho đủ thứ, nhưng sự cung kính của họ chỉ dành cung kính cho những người có đức đạo cao, có phẩm hạnh, có đạo đức, trí tuệ là Đức Phật. Thì con nhận ra rằng, tâm của con đặt sai chỗ “tại sao chúng ta lại phải phải cung kính những người có địa vị, bị lép vế với những người có quyền lực?”. Thành ra, thông qua câu chuyện này, con tự nhắc nhở bản thân mình, luôn luôn hạ thấp bản thân mình, luôn luôn diệt bản ngã, nhớ, tâm niệm diệt cái bản ngã của mình, tôn kính những bậc đáng cung kính, đặc biệt là Đức Phật. Là một người trí tuệ, là điều phục người không bằng quyền lực, không bằng tiền tài, Ngài khéo điều phục người cho nên ngày được gọi là “Điều ngự trượng phu”.

Chính vì thế, thông qua câu chuyện này, con học hỏi rất nhiều, điều phục người không bằng tiền tài, không bằng quyền lực, mà điều phục người bằng uy đức, bằng sự tu tập, bằng đạo hạnh của mình.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật”.

“Thầy: Chúng ta cùng đọc bài trải tâm từ”

8. Thầy Nguyên Thường

“Con kính mời sư phụ, với thầy, quý sư cô và đại chúng cùng trải tâm từ”.

“Bằng tình thương, bằng từ tâm, bằng tấm lòng chân thành, luôn nghĩ đến sự an lạc, an ổn cho chính mình.

Cũng vậy, con chân thành cầu nguyện sự an lạc, an ổn này đến với chư vị nơi này. Chư vị nghe được âm thanh này, cùng chư vị hữu tình trong khắp trời đất rộng lớn này.

Mong tất cả có được tâm thương này, thấm nhuần mà dễ chịu, an lạc và bình an, tìm được hạnh phúc và an vui cho mình.

Lòng yêu thương tự thân mình,

và yêu thương muôn loài.

Mong tất cả có được trí tuệ thấy được sự vô thường của đời sống này, tâm chán ngán.

Từ bỏ những xác thân năm uẩn, vô thường này,

để thể nhập vào tâm an tịnh, trong sạch và trầm lặng,

giải thoát khỏi biển sanh tử và chấm dứt hết mọi khổ đau.

Lòng chân thành tha thiết, chân thành cầu nguyện sự an lạc, an ổn, bình an, trí tuệ và giải thoát,

đến với cùng khắp tất cả”.

“Thầy: Con mời đại chúng nghỉ”.