Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

KHỔ THÁNH TRÍ 6 - KHỔ NHẤT LÀ KHÔNG BIẾT MÌNH KHỔ

2026-03-03 00:53:28
Kinh Nikāya Giảng Giải

KHỔ THÁNH TRÍ 6

Khổ Lớn Nhất Là Không Biết Mình Khổ

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Hạnh phúc khi thấy “khổ” PAGEREF _Toc145236676 \h 1

II.Quờ quạng trong khổ đau PAGEREF _Toc145236677 \h 4

III.Bài kinh “Tưởng Điên Đảo” PAGEREF _Toc145236678 \h 7

1.Bốn sự điên đảo PAGEREF _Toc145236679 \h 7

2.Bốn sự thật PAGEREF _Toc145236680 \h 9

3.Ánh sáng Thánh trí tuệ PAGEREF _Toc145236681 \h 10

IV.Soi sáng PAGEREF _Toc145236682 \h 15

Hạnh phúc khi thấy “khổ”

Ngày nào cũng lạy bốn Thánh trí; giây phút nào cũng nhớ vận dụng bốn Thánh trí, đó chính là quy y pháp, quay về nương tựa pháp. Nếu quên bốn Thánh trí là tâm ta rơi vào mê lầm, vì vậy niệm bốn Thánh trí là để nhắc nhở chính mình luôn an trú vào Pháp.

Có Phật tử đã chia sẻ rằng:

"Kính bạch thầy, nhìn lại chính mình mới thấy phiền não phát sanh kịp thời, ngoài ra không còn cách nào khác”. Ở đây, nhìn lại chính mình tức là nhận diện ngũ uẩn; biết phiền não phát sanh kịp thời tức là trí tuệ về lậu hoặc. Đó chính là bốn Thánh trí.

Những lời Phật dạy trong kinh Nikāya nguyên chất được sư phụ giảng giải không pha loãng, hiếm có. Pháp học pháp hành chỉ thẳng những dục, ái, tham, sân, phá tan bản ngã, nên ai chấp nhận tu học sẽ nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, từ bỏ; làm được như vậy thì phước duyên vô cùng. Khi nghe bài pháp Độc Cư Khổ Hạnh của Đức Phật con rất trân quý, đây thật sự là pháp bảo. Con rất cảm ơn sư phụ mỗi ngày đều cho chúng con thấy ra sự thật, thấy được giáo pháp của Phật để cho con thấm nhuần Phật pháp, để thấy thân thể con người này thật là khổ mà bấy lâu nay con không nhận ra. Ôi thôi thật là ngu si! Con mong mỏi mọi người ai cũng biết đến giáo pháp của Phật để tu học giác ngộ, giải thoát, đừng ai đau khổ nữa. Con cầu nguyện chư Phật gia trì cho tất cả quý ngài hiền Thánh Tăng được thật nhiều sức khỏe, được trụ thế dài lâu để chỉ bảo cho tất cả mọi người, ai cũng nhìn lại chính mình để không còn khổ nữa. Chỉ có Phật và những vị Bồ-tát mới thương chúng sanh như chúng con để dạy bảo tận tường chân lý. Bốn tháng dịch bệnh, nỗi khổ lên đến tột cùng nhưng còn một lối thoát là được nghe Thánh pháp trực tuyến mỗi ngày. Con tạ ơn thầy. Khi con học về khổ, thấu suốt về khổ thì con mới thấy thật sự không một cảm thọ nào bên ngoài có thể xoay chuyển được tâm con và làm con đau khổ hay sung sướng. Con không chấp nhận bất kì một cảm thọ nào bên ngoài trừ cảm thọ về chánh pháp. Sự hoan hỉ, hân hoan, chấn động về chánh pháp này là điều không bao giờ mất trong con.

Qua những lời trình pháp này, chúng ta càng hiểu rằng, được nghe Chánh Pháp thật sự là điều hy hữu trên cuộc đời, là phước báu không gì có thể so sánh được. Chiêm nghiệm kĩ mới thấy, ta đang thừa hưởng được một báu vật xuất thế chí bảo, vượt hơn tam giới. Sức mạnh của các bí kíp võ công, thần khí thời thượng cổ hay 72 phép thần thông của Tôn Ngộ Không trong các bộ phim không là gì so với Thánh trí này. Phước báo tận cùng trong tất cả phước báo là thấy được khổ. Đó mới là điều vĩ đại nhất và hạnh phúc nhất! Thật vậy, hạnh phúc nhất trong tất cả hạnh phúc trong đời sống này là thấy được khổ đau bằng Thánh trí tuệ. Hạnh phúc thật sự trong dòng luân hồi này là thấy được khổ đau bằng trí huệ của bậc Thánh.

---

Vào nửa đêm, khi thức dậy và thấy sự vận hành của những thọ-tưởng-hành, Minh Thành liền chiêm nghiệm và thấy rõ sự vận hành của thân tâm này là khổ. Khi thân này sanh ra là sự có mặt của khổ; khi nó tồn tại là sự an trú của khổ; khi nó biến đổi, suy tàn, khô kiệt, tiều tụy, tàn tạ, héo mòn, hoại diệt là khổ; khi nó chấm dứt lại càng khổ hơn. Như vậy, cả bốn thời đều là khổ.

Mỗi một uẩn đều có bốn giai đoạn là sanh-trụ-dị-diệt, và giai đoạn nào cũng đều là khổ. Khi cảm thọ sanh khởi là sự sanh khởi của khổ; khi nó an trú là sự an trú của khổ; khi nó biến hoại là khổ; khi nó chấm dứt lại càng khổ. Nếu tham hoặc sân trong những cảm thọ đó lại tạo ra thêm bốn cái khổ. Ví dụ, khi đang ngồi nghe pháp mà gió thổi tung cửa, đưa hơi lạnh vào và mình thấy khó chịu, đó cũng là khổ. Nếu khéo tác ý, khéo dùng con mắt pháp nhìn thì các pháp sẽ hiển lộ. Cho nên, một cảm giác tức giận sanh khởi cũng là khổ sanh khởi. Cảm giác nóng bức đó an trú trong thân tâm làm mình khó chịu. Cảm giác đó dù đổi thay nhưng sâu trong tâm vẫn còn tức giận, nghĩa là vẫn còn khổ. Cảm giác đó dừng lại nhưng không hết hoàn toàn, vì hết cảm thọ này lại sanh ra cảm thọ khác trong sự chấp thủ, cho nên dù dừng lại nhưng vẫn không hết khổ.

Những cảm thọ của dục vọng, ham muốn sanh khởi lên cũng làm mình khổ. Nó an trú trong thân tâm làm mình khổ vì bị bức xúc. Nó biến đổi làm mình khó chịu. Nó tạm thời yên lắng nhưng lại đòi hỏi những cái khác thì tiếp tục khổ. Như vậy bốn giai đoạn của cảm thọ sanh khởi là thành-trụ-hoại-diệt đều có khổ. Khi hiểu được quy trình vận hành của khổ, Minh Thành hạnh phúc tuyệt vời, cảm thấy mình quá đỗi may mắn khi biết được Khổ Thánh Trí của Đức Phật.

Cũng vậy, những hình bóng sanh khởi khi tự ngã bị người khác xúc phạm, khinh khi, là khổ. Hình bóng đó an trú trong tâm là khổ. Hình bóng đó thay đổi là khó chịu. Hình bóng đó tuy chấm dứt nhưng không hoàn toàn, vì những hình bóng khác lại khởi lên, là khổ. Những suy nghĩ “ta đây…”, hơn thua sanh khởi lên là khổ. Sự an trú suy nghĩ đó trong tâm là khổ. Suy nghĩ đó vận hành, hoạt động, thay đổi là khổ. Suy nghĩ đó tạm thời yên ắng nhưng lại có suy nghĩ khác sanh khởi lên là khổ. Như vậy bốn giai đoạn sanh-trụ-dị-diệt của hành uẩn đều là khổ.

Đối với thức cũng vậy, do duyên tiếp xúc của căn, trần nên có sự rõ biết trong dục ái, vô minh, bản ngã, tham ái, chấp thủ. Sự sanh khởi lên nhận thức đó là khổ. Thức duy trì bao lâu thì khổ bấy lâu. Khi thức biến đổi, vận hành là khổ. Dù nó dừng lại nhưng vẫn tiếp tục nhận thức những cái khác, Đức Phật gọi đó là thức thực, đây là một trong những thức ăn nuôi dưỡng tâm này; vì không bao giờ hết thỏa mãn với những sự rõ biết đó nên ta khổ đau dài dài.

---

Như vậy, bốn giai đoạn sanh-trụ-dị-diệt nằm trong ba bản tánh: khổ khổ, hoại khổ, hành khổ; nghĩa là khổ chồng thêm khổ, vận hành trong cái khổ và khi pháp đó hoại diệt thì mình đau đớn, không muốn cảm giác đó bị mất đi nên tiếc nuối, xót xa. Những người hoặc những vật nào khả hỷ, khả ái, khả lạc liên hệ đến dục hấp dẫn thì mình muốn cất giữ mãi mãi, không muốn mất đi.

Từ khi chiêm nghiệm về khổ, Minh Thành sáng tỏ được nhiều vấn đề hơn so với lúc chưa đi vào những bài kinh về khổ, thấy được những điều trước kia chưa thấy, cảm thọ được những điều trước kia chưa cảm thọ. Càng thấy rõ cả đời sống này là sự vận hành của khổ, không có gì khác ngoài khổ. Cả tạng kinh Nikāya trình bày về các góc độ, phương diện, khía cạnh của khổ. Nếu tóm thâu hết tạng kinh Nikāya lại sẽ là nội dung chỉ trình bày về khổ và phương pháp thoát khổ. Như Đức Thế Tôn đã tuyên bố trong Trung Bộ kinh, Kinh Ví dụ con rắn: “Chư Tỷ-kheo, xưa cũng như nay, Ta chỉ nói lên sự khổ và sự diệt khổ”.

Cả tạng kinh Nikāya đều nói về Khổ Thánh trí, mọi sự hiện hữu đều trên đời này đều là đau khổ, dù là người giàu hay người nghèo thì tất cả đều nằm trong đau khổ. Nhờ chiêm nghiệm bằng Thánh trí huệ, ta mới thấy toàn bộ đời sống này là một sự vận hành của tổ hợp đau khổ to lớn, đó chính là năm thủ uẩn. Biết bao sự lo lắng trong cuộc sống này, đói thì khổ mà no quá cũng khổ, đẹp quá cũng khổ mà xấu quá cũng khổ, không đẹp không xấu cũng khổ theo kiểu khác. Ngoài ra, còn những nỗi khổ của tai nạn, bệnh hoạn, chết chóc… Thật không thể diễn tả hết được những đau khổ trong đời sống này! Chỉ khi nào thấy được chân tướng của đau khổ thì lúc đó ta mới cảm thấy vui mừng, hành phúc vì mình bắt đầu đi ra khỏi vòng xoáy khổ đau, từ từ trở thành người ngoài cuộc.

Quờ quạng trong khổ đau

Chúng ta phải đi đến tận cùng cái khổ để ít nhất nếm được quả Hướng Dự lưu, phải thật sự cảm nhận được sâu sắc trong cảm thọ là cái khổ đang bao trùm, đang vận hành, đang khống chế cuộc đời trong dục mê. Đời sống này là sự vận hành của dục ái. Từ dục mình được sanh ra, từ dục mình có mặt, từ dục mình tồn tại và hiện hữu, từ dục mà mình vui sướng và đau khổ, từ dục mà mình chết, kết thúc mạng sống. Có người vì muốn mà không được nên tự tử. Nếu không trừ tận dục ái thì cái dục đó vẫn tiếp tục, đưa đẩy con người sanh ra rồi lại chết đi.

Sự vận hành của đời sống này còn là sự vận hành của những cảm giác bức xúc, tức giận, sân hận; sự vận hành của vô minh, si mê, ngu muội.

Tôi biết mình chỉ là đom đóm

Không làm sao tỏa sáng trần gian,

Nên chỉ ngậm ngùi trong thương xót,

Thương đời quờ quạng giữa trời đêm.

Minh Thành rất tâm đắc câu "quờ quạng giữa trời đêm". Câu này thể hiện trí huệ thâm sâu, thương xót tất cả chúng sanh hữu tình vạn loại đều là những kẻ mù lòa, đang quờ quạng trong bóng đêm. Chỉ có bậc thành tựu sự thấy biết đúng, thấy được sự thật mới như người có mắt thấy được ánh chớp lóe lên trong đêm. Còn chúng sanh không nghe, không học Chánh pháp thì làm sao trong mỗi hơi thở, mỗi suy nghĩ có thể thấy biết được khổ? Điều này không thể xảy ra đối với kẻ vô văn phàm phu. Nên khi mình được nghe, được thấy, được biết về khổ thì phải vui sướng, phấn khởi, thích thú, vững tin, nhiệt tâm, tinh cần, chánh niệm tỉnh giác và tiến lên trong sự tu học này.

Luôn nhớ rằng, sự vận hành của đời sống này là sự vận hành của khổ. Sự vận hành của sắc uẩn này là sự vận hành của khổ. Sự vận hành của các cảm giác, nghĩ, tưởng, nhận thức là khổ. Tâm này luôn bất toại nguyện, chồng chất những thứ trái ý nghịch lòng; cứ cứ khổ vì thiên lưu, dịch chuyển, đổi thay, khổ vì sự biến hoại của những gì mình yêu thương, trân trọng, giữ gìn, ôm ấp; khổ vì những sự đổ vỡ, bể nát, chia lìa.

Cái mà mình nâng niu, bảo vệ nhất là tấm thân này rồi cũng có ngày ngã xuống, nằm xuống. Bản chất của thân này, bản chất của thế giới này, bản chất của cảm giác, suy nghĩ, hình bóng, nhận thức này là khổ. Chúng chỉ là trò ảo thuật của tâm thức này, nó lừa gạt để chúng ta quờ quạng trong bóng đêm. Đời sống này “như bọt nước trôi sông, như lầu sò chợ bể”, nghĩa là những người đi biển thấy từ xa như đang có họp chợ, có lâu đài giữa biển nhưng sự thật là do ánh nắng phản chiếu tạo ra ảo ảnh, chứ không có thật. Trò ảo thuật của tâm thức cũng giống như vậy. Những bậc giác ngộ thấy được chân lý cuộc đời này vô cùng xót thương khi thấy có những người chỉ nói vài câu đã đánh nhau, có khi chỉ vì năm đồng gửi xe mà giết nhau chết. Họ như những đứa trẻ con giành giật những món đồ chơi bằng đất rồi khóc lóc, kêu gào. Thật ra không có gì đáng giá, đó chỉ là những món đồ bằng đất sét thấp hèn, hạ liệt. Thế nhưng lại chửi mắng nhau, đánh đập nhau, sát phạt nhau, dùng súng ống, lựu đạn, dao kiếm, gậy gộc chống lại nhau.

Minh Thành từng thấy hình ảnh nạn nhân được đưa vào bệnh viện, trong đầu còn ghim con dao dính máu, thật rùng rợn và sợ hãi vô cùng. Chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nên tranh luận qua lại mà mà người ta chém giết lẫn nhau. Trong tâm họ nung nấu những cảm thọ nóng bức, nhiệt não; các dòng cảm thọ hung ác, dữ tợn, hủy diệt được nung đốt lên như nước sôi ùng ục và tràn ra. Sự vận hành trong thân tâm của chúng sanh hữu tình, của nhân sinh thế giới hệt như sự vận hành của lò lửa, thiêu đốt, hỏa hoạn. Con người có thể hăm dọa, giành giật, đánh nhau vì mưu sinh, vì bản ngã từ trên đất liền cho đến biển cả… tất cả đều là sự vận hành của tham, sân, si, của dục vọng, tham ái, ác tham. Đó là sự vận hành của khổ, không phải đợi đến bắn nhau chết mới là đau khổ.

Đức Thế Tôn, bậc Trí giả, bậc Kiến giả, bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác, bậc Thấy biết cùng tột bản chất thân tâm và thế giới của chúng sanh đã nhìn thấy được mầm móng, căn nguyên, gốc rễ, chỗ thâm sâu của khổ mà chúng sanh không thấy được. Bên trong đó là những cảm thọ dâng lên và nung đốt, sôi sùng sục để phóng hỏa đốt nhà, đốt người, tự thiêu… Tất cả đều bắt nguồn từ những dòng cảm thọ, cảm xúc, cảm giác. Trong Tăng Chi Bộ tập I, bài kinh Cội Rễ Của Sự Vật, Đức Phật có dạy: “Tất cả pháp lấy thọ làm chỗ tụ hội”. Chính những cảm thọ bất thiện này sẽ đưa chúng sanh đi vào địa ngục, đưa chúng sanh đi vào loài cô hồn, ngạ quỷ vất vơ vất vưởng, đưa chúng sanh đi vào loài súc sanh ăn tươi nuốt sống, ăn lông uống máu. Những cảm thọ của sân hận, tham dục sẽ dẫn chúng sanh vào đường địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.

Những kẻ đâm chém, giết hại người khác sau khi chết sẽ bị những cảm thọ, nghĩ, tưởng của ác nghiệp, vô minh đẩy họ rơi sâu vào vực thẳm của địa ngục. Nơi đó sẽ tương ứng với những tâm thức ác độc, tương ứng với những cảm thọ hung bạo. Nơi chỉ có thú vật mới cấu xé lẫn nhau, chứ con người không làm như vậy, chỉ có vào những tấm thân này mới tương ứng với cảm thọ sân giận và những hành vi hung ác đó. Vì không biết đến sắc-thọ-tưởng-hành-thức nên chúng sanh đồng hóa mình với những cảm giác, nghĩ, tưởng sân giận; họ muốn làm cho hả giận, làm cho hả dạ, chỉ muốn thỏa mãn cảm giác hủy diệt, dù vào tù hoặc chết đi cũng được. Đó là sự vận hành của khổ. Mỗi ngày nghe câu “Tất cả thọ đều nằm trong đau khổ”, ta phải thấm vào tim gan, vào tủy não.

Đức Thế Tôn đã tuyên bố:

Lành thay, lành thay! Này Tỷ-kheo! Này Tỷ-kheo! Ta nói rằng có ba thọ này: lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Ba thọ này được Ta nói đến. Nhưng này Tỷ-kheo, Ta lại nói: 'Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ'. Chính vì liên hệ đến tánh vô thường của các hành mà lời ấy được Ta nói lên: 'Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ'. Chính vì liên hệ đến tánh đoạn tận, tánh tiêu vong, tánh ly tham, tánh đoạn diệt, tánh biến hoại của các hành mà lời ấy được Ta nói lên: 'Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ'.

(trích Tương Ưng Bộ kinh tập IV, bài kinh Sống Một Mình)

Cảm thọ dục tham cũng vậy. Chỉ riêng tham ái đối với sắc uẩn đã khiến ta chết dài dài; lại còn dùng thêm những chất kích thích dẫn đến mê loạn, có người còn leo lên nóc nhà quăng con xuống đất… Những cảm thọ dục mê đó làm cho chúng sanh điên loạn, điên đảo.

Những tin tức trên báo chí hàng ngày là minh chứng cho sự vận hành của khổ, cũng là sự vận hành của thế giới, sự vận hành của ngũ uẩn, sự vận hành của các lậu hoặc, sự vận hành của các cảm thọ, cảm giác. Chiêm nghiệm sâu sắc sẽ thấy trí tuệ về khổ tối thượng đến thế nào, còn người chỉ học qua loa sẽ trơ trơ, chán nản vì suốt ngày chỉ nghe về khổ. Khi thấy được khổ, mình sẽ là người hạnh phúc bậc nhất, phước báo bậc nhất, trí tuệ tối thượng trong thế gian này, trở thành kẻ ngoài cuộc đối với khổ!

Xin đừng đem dạ tưởng mà mơ

Trăm năm cuộc thế như cờ bị vây

Rút gươm huệ dứt dây tham ái

Kiếp tìm thầy cầu phái qui y.

Kiên trì ngũ giới tam quy,

Mở lòng từ nhẫn, sân si phải chừa".

(Sám Thảo Lư - Sám Hồi Tâm I - Tổ Huệ Đăng)

Nếu không học ngũ uẩn thì ta không biết được nguồn gốc và sự vận hành của tham, sân, si thế nào, như vậy làm sao trị được tận gốc! Chỉ có bốn Thánh trí lậu hoặc, bốn Thánh trí về ngũ uẩn mới diệt trừ được gốc rễ của tham, sân, si. Vì vậy chúng ta cần lạy bốn Thánh trí này hằng ngày, đây chính là thánh chuông, thánh ngữ, thánh quả, thánh ngôn mà Đức Thế Tôn đã để lại. Đồng thời ta phải nhìn thấy giá trị của việc tu học để ngày càng tinh tấn, tinh cần tiến bước trên đạo lộ này. Nếu không thấy lợi ích, giá trị, hiệu quả mà Thánh Pháp mang lại, ta sẽ không thấy thú vị, hạnh phúc trên bước đường này.

Bài kinh “Tưởng Điên Đảo”

Bốn sự điên đảo

Trong bài kinh Tưởng Điên Đảo, Đức Thế Tôn có dạy:

Này các Tỷ-kheo, có bốn tưởng điên đảo, tâm điên đảo, kiến điên đảo này. Thế nào là bốn?

Trong vô thường, nghĩ là thường, này các Tỷ-kheo, đó là tưởng điên đảo, tâm điên đảo, kiến điên đảo.

Trong khổ nghĩ là không khổ, này các Tỷ-kheo, đó là tưởng điên đảo, tâm điên đảo, kiến điên đảo.

Trong vô ngã, nghĩ là ngã, này các Tỷ-kheo, đó là tưởng điên đảo, tâm điên đảo, kiến điên đảo.

Trong không thanh tịnh, nghĩ là thanh tịnh, này các Tỷ-kheo, đó là tưởng điên đảo, tâm điên đảo, kiến điên đảo.

Như vậy, điên đảo tưởng đầu tiên là trong vô thường, biến đổi mà cho rằng tất cả là thường còn, không thay đổi, đó là cái thấy ngu muội, cái tưởng sai lầm, cái tâm đảo lộn. Thay vào đó, khi có cảm giác sân, hãy niệm "Cảm giác này đổi thay. Cảm giác này là biến hoại. Cảm giác này không phải tôi, không phải của tôi!". Niệm như vậy cũng là đang tụng đại tạng kinh Nikāya. Khi cảm thọ tham sanh khởi, hãy niệm "Cảm thọ này là duyên sanh, là sự vận hành của khổ. Cảm thọ nãy chấm dứt đi, tan biến đi!". Đừng nghĩ rằng cảm giác khổ hay vui đó còn hoài, mà hãy nhớ sự vô thường, biến đổi của nó. Cũng vậy, mỗi ngày được tụng kinh, học pháp mà ta thấy đây là việc bình thường, đều đều thì đó cũng là tâm điên đảo, tưởng điên đảo, kiến điên đảo. Bởi lẽ, những giây phút ta được tu tập không phải bình thường mà vô cùng quý báu, hiếm có, khó tìm trong dòng luân hồi vô lượng kiếp. Trong đời sống vô thường này, chúng ta có thể ra đi bất cứ lúc nào, vì vậy ta cần phải trân quý những giây phút còn được an trú vào pháp. Nhờ tác ý như vậy, ta mới phá được bất khổ bất lạc thọ, mới phá được sự ngu muội, si ám, bóng đêm. Từ giờ phút này, chúng ta đừng sống trơ ra như cục thịt lăn lóc, như tử thi biết đi, giống như con rối, giống như người máy có xác mà không có hồn, ngày nào trôi qua cũng như ngày nào, cứ u mê, dại khờ, vô tư mà không biết rằng tử thần đang đứng kế bên. Như vậy thì thật tội nghiệp, thật đau khổ cho chính mình. Đó là tâm điên đảo, tưởng điên đảo, kiến điên đảo thứ nhất, không thấy sự sanh diệt của các uẩn; không thấy sự vô thường của các cảm thọ, của các hành; không thấy sự suy lão của sắc uẩn, của tổ hợp vật chất này.

Tưởng điên đảo thứ hai là trong khổ mà nghĩ là không khổ; sống trong năm tổ hợp khổ to lớn mà cứ nghĩ là vui. Vui trong ăn uống nhưng sau đó có thể bị bội thực, ngộ độc thực phẩm. Vui trong đi chơi đây đó nhưng tai nạn có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Vui trong nói chuyện, vui trong phù phiếm, nói cho thỏa mãn mà không biết rằng có thể gây ra những chuyện thị phi, đôi chối, mâu thuẫn không lường trước. Đó là lúc khổ đang sanh khởi, đang an trú, đang vận hành mà ta không biết nên mới gọi là vô minh, là bóng đêm. Biết bao nỗi khổ chất lên nhau trong sự dịch chuyển, đổi thay, biển cả biến thành ruộng dâu "tan thương dâu bể". Ghen tuông, ganh tỵ, đố kỵ là sự vận hành của khổ. Sự vận hành của thế gian này cũng là sự vận hành của năm uẩn. Chỉ khi nào thấy được như vậy, chúng sanh mới biết ngao ngán, yểm ly, xa lìa.

Điên đảo tưởng thứ ba là trong vô ngã mà chúng sanh nghĩ là có ngã. Trong sự trống rỗng mà nghĩ có một cái tôi vững chắc; cho nên hành hạ, hành tội nhau bằng những cảm thọ hơn thua, đúng sai, lớn nhỏ, cao thấp, dẫn đến đau khổ. Đây là suy nghĩ điên đảo, nhận thức điên đảo, một nội tâm lầm lạc, ngu si.

Điên đảo tưởng thứ tư là trong sự không sạch sẽ mà cho là sạch, đó là suy nghĩ điên đảo, nhận thức sai lầm, tư duy đảo lộn.

Trên đây là tứ đảo, tức là bốn sự điên đảo, bốn tư tưởng sai lầm, mê muội, bốn nhận thức đảo điên của chúng sanh.

Bốn sự thật

Chỉ có Thánh trí của Đức Phật mới phơi bày ra những thứ bị che kín, đem đèn sáng vào trong bóng tối cho những kẻ có mắt có thể thấy đường đi. Đó là công năng quý báu hiếm có tối thượng của Phật pháp. Trí tuệ của Đức Phật vô cùng vi diệu, đây là tối thượng pháp, dù chưa thực hành được trọn vẹn nhưng Minh Thành muốn chia sẻ những điều tuyệt vời này đến tất cả mọi người. Sau đây là lời Đức Phật dạy về bốn tưởng không điên đảo:

Này các Tỷ-kheo, có bốn tưởng không điên đảo, tâm không điên đảo, kiến không điên đảo này. Thế nào là bốn?

Trong vô thường, nghĩ là vô thường, này các Tỷ-kheo, đó là tưởng không điên đảo, tâm không điên đảo, kiến không điên đảo.

Trong khổ, nghĩ là khổ, ...

Trong vô ngã, nghĩ là vô ngã, ...

Trong không thanh tịnh nghĩ là không thanh tịnh, này các Tỷ-kheo, đó là tưởng không điên đảo, tâm không điên đảo, kiến không điên đảo.

Này các Tỷ-kheo, có bốn tưởng không điên đảo, tâm không điên đảo, kiến không điên đảo này.

Người tu hãy thường tác ý bốn sự thật này: trong vô thường nghĩ là vô thường, trong khổ nghĩ là khổ, trong vô ngã nghĩ là vô ngã, trong sự không sạch sẽ nghĩ là không sạch sẽ, không thanh tịnh. Thường tự nhắc mình rằng: sắc thân, cảm thọ, suy nghĩ, hình bóng này là vô thường; năm uẩn này là vô ngã, là bất tịnh; những suy nghĩ tham, sân, si, bản ngã, dục ái này là dơ bẩn; những suy nghĩ ta, tôi, tao, mi, tớ, mình, người là xấu xa, là khổ đau. Cần kiểm tra thật cẩn thận trong từng suy nghĩ, nếu có suy nghĩ bất thiện, vô minh, dục ái sanh khởi, chúng ta phải đánh đuổi, tẩy sạch từng chút một!

Thánh trí tuệ về khổ của Đức Phật thật sự tối thượng, bao trùm tất cả đời sống. Chúng ta hãy tập nhìn mọi thứ bằng trí tuệ sâu sắc này, rồi mình sẽ có sự an lạc, thanh tịnh, lắng dịu một cách lạ kỳ! Hãy tập đưa pháp, đưa trí, đưa minh, đưa ánh sáng, đưa sự thật vào trong mỗi cảm giác, nghĩ, tưởng, nhận thức. Không ngừng tác ý, nhắc nhở, huấn luyện, dạy dỗ tâm và dẫn cho tâm đi đúng Thánh đạo.

Ðường này đến thế gian.

Ðường kia đến Niết-bàn.

Tỷ-kheo, đệ tử Phật,

Phải ý thức rõ ràng.

Ðừng đắm say thế lợi.

Hãy tu hạnh ly tham.

(trích Kinh Pháp Cú, phẩm Ngu)

Như vậy, đường sanh tử đi xuống, đường Niết-bàn đi lên. Tỷ-kheo là đệ tử Phật, phải ý thức được rõ ràng hai con đường đi xuống và đi lên. Chỉ có nhìn ra cái khổ mới đứng ngoài cái khổ, mới hiểu tất cả chỉ là vô minh, nghiệp và nhân quả mà thôi.

Ánh sáng Thánh trí tuệ

Cuối bài kinh, Đức Thế Tôn đọc lên bài kệ:

Trong vô thường, tưởng thường.

Trong khổ, tưởng là lạc,

Trong vô ngã, tưởng ngã,

Trong bất tịnh, tưởng tịnh,

Chúng sanh đến tà kiến,

Tâm động, tưởng tà vọng,

Bị ma trói buộc chặt,

Không thoát khỏi ách nạn,

Chúng sanh bị luân chuyển,

Trong sanh tử luân hồi.

Do trong vô thường mà tưởng là thường; trong sự biến đổi mà nghĩ là không thay đổi; trong khổ đau mà nghĩ là vui sướng; trong cái trống rỗng mà tưởng là có “ta”; trong nhơ nhớp lại cho là sạch đẹp nên chúng sanh đi đến sự thấy biết sai lầm, tâm dao động, tưởng tà vọng. Chúng sanh vui sướng, cho rằng có “ta”, có “tôi”, cho rằng mọi thứ là sạch đẹp, thường còn. Tâm luôn bị dao động, thấy chỗ nào đẹp, mắt sẽ dừng lại chỗ đó, thân đứng lại đó, cảm thọ sẽ trú vào đó và nghĩ tưởng cũng thọ nhận vào. Đến khi xem lại những hình ảnh khả ái, khả ý đó thì thọ-tưởng-hành-thức lại vận hành. Khi cho rằng sắc uẩn đó đẹp và trong lòng có sự thích thú, khoan khoái, tức là tâm mình bị dao động, có những sự sai lầm, lệch lạc, gọi là tưởng tà vọng. Cho nên, một khi còn thấy đối tượng nào là đẹp đẽ, sạch sẽ, “của ta”, “của tôi” thì tâm mình sẽ dao động; mà tâm dao động sẽ không thấy đúng bản chất của đối tượng ấy. Tâm con người thường bị người thương và tài sản trói buộc. Và như thế, chúng sanh cứ trôi nổi, xoay vần trong dòng sanh tử sống chết, bị trôi dạt, chìm đắm trong biển cả của luân hồi.

---

Đến khi bậc Chánh Đẳng Chánh Giác xuất hiện thì ánh sáng trí tuệ của Ngài mới soi sáng cho chúng sanh thoát khổ:

Khi chư Phật xuất hiện,

Ở đời chói hào quang,

Tuyên thuyết diệu pháp này,

Ðưa đến khổ lắng dịu.

Hào quang của chư Phật chính là hào quang của sự thật, ánh sáng của sự thật được chiếu soi. Khi chư Phật chưa xuất hiện, chúng sanh không thể biết ngũ uẩn, không thể biết cảm thọ, không thể biết sự vận hành của tham, sân si, vô minh, bản ngã, không thế biết được bốn sự điên đảo là như thế nào. Còn khi xuất hiện, chư Phật sẽ tuyên thuyết diệu pháp, nói về gốc rễ, căn nguyên, sự vận hành của đau khổ và đạo lộ chấm dứt đau khổ. Diệu pháp của Đức Phật là giáo pháp màu nhiệm, vi diệu, đó chính là trí tuệ về khổ và cách diệt khổ. Nhờ vậy chúng sanh nhìn thấy được ngũ uẩn, nhìn thấy sự vận hành của ngũ uẩn là sự vận hành của khổ; đó chính là Diệu pháp, là Minh kiến, là Thánh tri kiến, là Chánh tri kiến, là sự thấy biết của bậc Thánh. Sự thấy biết này là sự thấy biết chính xác, thấu đáo, tận cùng, trọn vẹn, triệt để, tột đỉnh về bản chất của tất cả các pháp. Chỉ có cái thấy này mới đưa đến giải thoát, vì từ đó chúng sanh mới nhàm chán, không còn tham muốn, hướng đến từ bỏ, chấm dứt và giải thoát. Đây chính là con đường, là đạo lộ của bậc Thánh.

Ngày nào chúng ta cũng chuyên tâm nghe pháp, tu học theo đúng lời dạy của Đức Phật là ngày nào mình cũng được đi đến Bồ-đề đạo tràng, đi đến vườn Lộc Uyển, đi đến nơi chuyển pháp luân của Ngài. Ngược lại, có khi mình đi đến tận nơi, được lạy từng Thánh tích, được nhìn khung cảnh kỉ niệm thời Đức Phật tại thế, phát khởi được thiện tâm nhưng chưa chắc được nghe Thánh pháp, chỉ nhìn thấy được sắc uẩn bên ngoài mà thôi. Hãy nhớ rằng, Bồ-đề đạo tràng chân chánh chính là ở trong kinh tạng Nikāya. Đức Phật đến với cuộc đời này là để trao truyền Thánh trí tuệ. Mỗi ngày chúng ta trùng tuyên, đọc lại những lời dạy của Ngài, rồi suy tư, chiêm nghiệm, quán chiếu tu tập tức là mình được đi đến Bồ-đề đạo tràng chân thật; chứ không phải chỉ là hình thức bên ngoài. Có nhiều người đến các Thánh tích lễ lạy nhằm cầu mong được Phật độ cho giàu thêm, hết bệnh… chứ không được nghe Thánh pháp này. Còn chúng ta mỗi ngày trùng tuyên Thánh điển, đọc kinh, nghe pháp là chúng ta đang đi thăm Bồ-đề đạo tràng, thăm vườn Lộc Uyển, thăm vườn Lâm-tì-ni, thăm Câu-thi-na; hãy thường tác ý như vậy để càng thêm tinh tấn, nỗ lực.

Khi nghe đến câu "Khi chư Phật xuất hiện – Ở đời chói hào quang", nhiều người sẽ tưởng tượng ra ánh sáng chói lòa, nhưng đó là ở trong phim ảnh. Giả sử lúc ấy có hào quang thật thì đến bây giờ cũng là vô thường. Điều quan trọng là làm sao để mình phát khởi ánh sáng trí tuệ trong tâm, có như vậy mới cứu chúng ta thoát khổ. Đó là lý do Đức Phật nói có các loại ánh sáng mặt trời, ánh sáng mặt trăng, ánh sáng của lửa và ánh sáng trí tuệ:

- Này các Tỷ-kheo, có bốn loại ánh sáng. Thế nào là bốn?

Ánh sáng mặt trăng,

Ánh sáng mặt trời,

Ánh sáng ngọn lửa,

Ánh sáng trí tuệ.

Này các Tỷ-kheo, có bốn loại ánh sáng này. Và này các Tỷ-kheo, loại tối thượng trong bốn loại ánh sáng là ánh sáng trí tuệ.

(trích Tăng Chi Bộ Kinh tập II, bài kinh Ánh Sáng)

Ánh sáng của trí tuệ là tối thượng trong tất cả ánh sáng. Trí tuệ ấy thấy được ngũ uẩn là khổ đau; tham, sân, si là khổ đau; sự vận hành của đời sống trong vô minh và khát ái là khổ đau. Chính trí tuệ này giúp ta nhìn thấy, nhiếp phục và tẩy sạch những cấu nhiễm đó ra khỏi thân tâm mình. Đây là gia tài Pháp bảo Đức Phật muốn truyền trao cho tất cả chúng sanh khi còn tại thế. Vì vậy Ngài đã nói: “Này các Tỷ-kheo, hãy là người thừa tự Pháp của Ta, đừng là những người thừa tự tài vật” (trích Trung Bộ kinh tập I, Kinh Thừa Tự Pháp). Như vậy, đệ tử Phật chân chánh là người tiếp nối trí tuệ của bậc Thánh truyền trao, không phải người tham đắm trong cung kính và lợi dưỡng.

Đức Thế Tôn “Tuyên thuyết diệu pháp này – Đưa đến khổ lắng dịu”. “Lắng dịu” ở đây nghĩa là chấm dứt. Muốn khổ lắng dịu thì sắc của mình phải lắng dịu, thọ phải lắng dịu, tưởng phải lắng dịu, hành phải lắng dịu, thức phải an tịnh. Từ “lắng dịu” trong kinh Nikāya rất thâm sâu, lắng dịu được ngũ uẩn cũng chính là A-la-hán. “Lắng dịu” và “an tịnh” đồng nghĩa với “dập tắt”. Khi cảm thọ sôi sục, nổi loạn, không lắng dịu thì tâm đầy sự đau khổ, nhiệt não, bức xúc. Còn những lúc lắng dịu, tham, sân, si tạm lắng xuống, thân tâm sẽ được nhẹ nhàng, khinh an, dễ chịu; như khi ngồi thiền an tịnh, thân tâm được nhẹ nhàng như mây bay; đó là ý nghĩa chữ “lắng dịu” trong kinh.

---

Khi có trí tuệ về ngũ uẩn, chúng sanh mới có thể đi đến chấm dứt khổ đau:

Nghe pháp, được trí tuệ,

Trở lại được tự tâm,

Thấy vô thường, không thường,

Thấy đau khổ, là khổ,

Thấy tự ngã, không ngã,

Thấy bất tịnh, không tịnh,

Do hành chánh tri kiến,

Vượt qua mọi đau khổ".

(trích Tăng Chi Bộ Kinh tập I, bài kinh Tưởng Điên Đảo)

“Nghe pháp được trí tuệ – Quay trở lại được tự tâm”, tức là khi có trí tuệ về ngũ uẩn, ta thường quay lại nhận diện thân tâm mình, đây gọi là quay trở lại tự tâm. Một khi đã nhận diện được ngũ uẩn, ta mới thấy tất cả thật sự là vô thường, khổ đau, vô ngã, là một mớ hỗn độn không sạch sẽ. Khi đã thấy được bốn đặc tính vô thường, khổ, vô ngã, bất tịnh này thì ta sẽ thường sống với sự thật, sống với ánh nhìn bằng trí tuệ. Nhờ thường tác ý, tư duy như vậy thì mình sẽ vượt qua mọi đau khổ, đi đến tận cùng biên tế của khổ đau, qua được bờ kia là hết khổ.

Mà đi đến tận cùng biên tế của khổ chính là bậc A-la-hán, tức là đã đi đến chỗ cuối cùng của khổ, vượt qua biển khổ, xuất ly khỏi khổ, sang được bến bờ kia. Đồng nghĩa với việc ra khỏi phạm trù của ác ma; ra khỏi sự chi phối của dục; ra khỏi sự vận hành của tham, sân, si, vô minh, bản ngã, nghiệp quả; ra khỏi trạng thái sầu, bi, khổ, ưu, não, khát ái.

Để làm được điều này, chúng ta phải nỗ lực nghe pháp, có được trí tuệ, nhờ đó luôn quay trở lại tự tâm nhìn ra năm uẩn, thấy được vô thường, khổ, vô ngã, bất tịnh. Sau đó thường xuyên thực hành theo sự thấy biết bằng trí tuệ, để tất cả suy nghĩ, lời nói, hành động trong đời sống đều nằm trong Chánh kiến; siêng năng quán niệm tu tập, tập trung tất cả tâm ý vào Thánh trí này để đi đến chỗ vượt qua mọi khổ đau.

Chúng ta cần phải nỗ lực thoát ra khỏi cái khổ, vượt qua khỏi biển khổ dể qua bờ bên kia, qua bờ bên kia hoàn toàn sẽ đạt đến giác ngộ. Mỗi ngày cần tác ý về cái khổ để cảm thọ này thấm đến tận cùng. Đó cũng là cốt lõi của kinh tạng Nikāya.

Soi sáng

Câu hỏi:

Đối với Tứ Thánh Đế, ta nên tu tập riêng từng chi phần là: Khổ Thánh Đế, Tập Thánh Đế, Diệt Thánh Đế, Đạo Thánh Đế? Hay tu tập và vận dụng cùng lúc bốn chi phần này?

Trả lời:

Khi vừa thấy trong cảm thọ có cơn giận bốc lên; lúc đó ta liền tìm cách nhiếp phục và thoát ra khỏi cảm thọ sân đó, như vậy đã là vận dụng Tứ Thánh Đế: thấy cơn giận là Khổ Thánh Đế; biết nguyên nhân cơn giận sanh khởi, thấy sự nguy hiểm của cơn giận đó là Tập Thánh Đế; dập tắt nguyên nhân đó là Diệt Thánh đế; con đường, cách thức dập tắt cơn sân đó là Đạo Thánh đế. Như vậy, khi sự thấy biết về pháp đã thấu đáo thì các pháp sẽ tự động vận hành.

Trong Tương Ưng Sự Thật, Đức Phật đã nói, người nào thấy khổ thì người đó sẽ thấy được nguyên nhân của khổ; người nào thấy được nguyên nhân của khổ thì người đó sẽ thấy được sự diệt khổ và con đường đưa đến diệt khổ.

Này các Tỷ-kheo, ai thấy Khổ, người ấy cũng thấy Khổ tập, cũng thấy Khổ diệt, cũng thấy Con đường đưa đến Khổ diệt. Ai thấy Khổ tập, người ấy cũng thấy Khổ, cũng thấy Khổ diệt, cũng thấy Con đường đưa đến Khổ diệt. Ai thấy Khổ diệt, người ấy cũng thấy Khổ, cũng thấy Khổ tập, cũng thấy Con đường đưa đến Khổ diệt. Ai thấy Con đường đưa đến Khổ diệt, người ấy cũng thấy Khổ, cũng thấy Khổ tập, cũng thấy Khổ diệt.

(trích Tương Ưng Bộ kinh tập V, bài kinh Gavampati)

Vì vậy, nếu thấy một cách thấu đáo, trọn vẹn, chánh kiến về khổ thì phải thấy cả bốn khía cạnh này; còn chỉ thấy một khía cạnh của khổ là chưa thấy khổ trọn vẹn. Khi thấy được khổ là ta biết nó mang đến nguy hiểm nên cần phải thoát ra, cũng như thấy rắn là cần tránh xa. Cho nên khi tu học đầy đủ chánh kiến về khổ thì tự động mình sẽ có sự nhàm chán, thoát ra. Đó là hệ nhân quả và trình tự diễn biến của pháp. Còn khi thấy khổ mà không muốn thoát ra tức là vẫn chưa thật sự thấy khổ một cách đầy đủ, mà chỉ mới thấy được một chút ít. Người thật sự thấy khổ sẽ tự động nhàm chán, buông bỏ, còn thấy chưa đủ thì cần tu học thêm nữa.

Điều này giống như thấy khổ là lửa than đỏ, là hố than hừng thì tự động ta không cầm vào, muốn tránh xa ngay. Còn không thấy khổ là lửa than đang cháy đỏ, giống như con nít không biết nguy hiểm, tưởng than đỏ là đồ chơi, là cây kẹo mà cầm vào sẽ phỏng tay đau đớn; người lớn biết đó là nguy hiểm nên liền tránh xa. Cũng vậy, khi sự thấy biết của ta đầy đủ thì tự động sanh khởi ra nghĩ đúng, nói đúng, làm đúng và những cái đúng khác sẽ theo sau; đó gọi là dòng pháp đưa người về phía trước.

Vì vậy, người tu bước đầu cần tập nhận diện năm uẩn, tập nhìn thấy khổ, nhìn thấy tham, sân, si để thành tựu chánh kiến. Một khi sự thấy biết được viên mãn, đầy đủ thì tự động sẽ sanh khởi chánh tư duy, chánh ngữ, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Kết hợp với sự để tâm, dùng Tứ như ý túc, Tứ chánh cần vào sự tu tập thì các pháp sẽ tăng trưởng viên mãn.

./.