Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Đức Phật Dạy Đạo Vợ Chồng B

2026-03-03 00:53:28
Đức Phật Dạy Đạo Vợ Chồng B

Thích Minh Thành

Ngày 20 tháng 05 năm 2022

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Gặp nhau ở đời sau PAGEREF _Toc107911979 \h 1

II. Bổn phận của người vợ PAGEREF _Toc107911980 \h 2

III. Bốn loại sống chung PAGEREF _Toc107911981 \h 8

I. Gặp nhau ở đời sau

“1. Một thời, Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Bhagga tại núi Sumsumàra, rừng Bhesakalà, ở vườn Nai. Rồi Thế Tôn, vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi đến trú xứ gia chủ cha Nakulà, sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn săn. Rồi gia chủ cha Nakulà và nữ gia chủ mẹ Nakulà đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, gia chủ cha Nakulà bạch Thế Tôn:

2. - Từ khi nữ gia chủ mẹ Nakulà được đem về đây cho con khi con còn trẻ nhỏ, con không bao giờ biết con có điều gì xâm phạm đến vợ con, cho đến ý nghĩ cũng không, chớ đừng nói gì đến thân. Vì rằng bạch Thế Tôn, chúng con muốn thấy mặt nhau trong đời này, mà còn muốn thấy mặt nhau trong đời sau nữa.

Nữ gia chủ mẹ Nakulà bạch Thế Tôn:

- Bạch Thế Tôn, từ khi con được đem về đây cho gia chủ cha Nakulà, khi con còn trẻ nhỏ, con không bao giờ biết con có điều gì xâm phạm đến gia chủ cha Nakulà, cho đến ý nghĩ cũng không, chớ đừng nói gì đến thân. Vì rằng bạch Thế Tôn, chúng con muốn thấy mặt nhau, trong đời này, mà còn muốn thấy mặt nhau trong đời sau nữa.

- Vậy này các Gia chủ, khi cả hai vợ và chồng muốn thấy mặt nhau trong đời này, và cũng muốn thấy mặt nhau trong đời sau nữa, và cả hai người là đồng tín, đồng giới, đồng thí, đồng trí tuệ, thời trong đời hiện tại, các người được thấy mặt nhau, và trong đời sau, các người cũng được thấy mặt nhau.”

(Bài kinh Xứng đôi –VI. Phẩm Nguồn Sanh Phước – Chương Bốn Pháp – Tăng Chi Bộ Kinh tập 2)

Bên trên là Đức Phật dạy cách làm thế nào để vợ chồng sống yêu thương hạnh phúc không những ở đời này mà cho những đời sau. Đức Phật dạy bốn điều phải cùng chung với nhau:

Thứ nhất là niềm tin phải giống nhau. Ví dụ người vợ tin tưởng Phật pháp thì người chồng chưa biết Phật pháp thì cũng cố gắng học để cùng chung tin tưởng Phật pháp. Như vậy gọi là cùng chung lòng tin thì đời sau sẽ gặp nhau.

Thứ hai là chung giới, ví dụ người chồng giữ năm giới thì người vợ cũng phải thọ trì tam quy ngũ giới, cùng chung giới hạnh với nhau thì đời sau sẽ gặp nhau. Vì một người giữ giới còn người kia không giữ giới thì một người sanh lên cõi tốt lành, cao thượng, còn người kia thì rơi xuống cõi thấp thì không gặp nhau.

Các quý thầy hay sư cô có lẽ chưa từng đọc qua bài kinh này, đây là bài kinh Xứng đôi trong Tăng Chi Bộ Kinh. Nên những buổi lễ hằng thuận trong chùa chưa có ai đọc bài này ra. Đây là Đức Phật dạy cách đời đời bên nhau. Thứ nhất là cùng chung niềm tin, niềm tin này là niềm tin Tam Bảo, không phải tin tà kiến, mê tín. Thứ hai là cùng chung giới, như vừa rồi chúng ta được truyền tam quy, ngũ giới.

Thứ ba là cùng chung thí, là mình phải có cùng tâm san sẻ, sớt chia đối với người nghèo khổ, nên gọi là đồng thí. Đồng là cùng chung, tức là người vợ biết tu bố thí, biết tu cúng dường, biết làm từ thiện, biết chia sẻ cho những người nghèo khổ thì người chồng cũng phải biết giống như vậy thì đời sau mới gặp.

Vì bố thí này thì người này đời sau sanh ra làm người giàu có, người vợ hay người chồng cũng sẽ sanh ra môn đăng hộ đối nên dễ hay có thể gặp gỡ nhau, dễ sống chung với nhau. Như chúng ta thấy những hoàn cảnh gia đình mà người vợ thì quá giàu nhưng chồng thì quá nghèo hoặc người làm thuê thì cha mẹ có dễ để đồng ý không? Rất khó. Vậy nên đồng thí, cùng chung, giống nhau về sự tu tập của bố thí.

Sau cùng là đồng trí tuệ, những thấy biết về giáo pháp, Phật pháp hai người cũng tương đồng, đời sau gặp nhau. Như vậy là tứ đồng, cùng chung niềm tin, giới, bố thí và trí tuệ. Đó là bài kinh Xứng đôi.

Hai vợ chồng tương lai nên nhớ thật kĩ để mình ứng dụng vào đời sống. Bên trong kinh Đức Phật đã dạy năm bài kinh rất kĩ.

II. Bổn phận của người vợ

Tiếp theo là bài kinh Uggaha người gia chủ, Đức Phật dạy về đạo vợ chồng trong Tăng Chi Bộ Kinh tập hai:

“1. Một thời, Thế Tôn trú ở Bhaddiya, trong rừng Jàti. Rồi Uggaha, cháu trai của Mendaka đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Uggaha, cháu trai của Mendaka bạch Thế Tôn:

2. - Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy nhận lời mời của con, ngày mai đến dùng bữa ăn, với Thế Tôn là người thứ tư.

Thế Tôn im lặng nhận lời. Rồi Uggaha, cháu trai của Mendaka biết được Thế Tôn đã nhận lời, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài rồi ra đi.

3. Rồi Thế Tôn, sau khi đêm ấy đã mãn, vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi đến trú xứ của Uggaha, cháu trai của Mendaka; sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Rồi Uggaha, cháu trai của Mendaka, với tay của mình thân mời và làm cho thỏa mãn Thế Tôn với các món ăn thượng vị loại cứng và loại mềm. Rồi Uggaha, cháu trai của Mendaka, sau khi Thế Tôn dùng bữa ăn xong, tay rời khỏi bát, liền ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Uggaha, cháu trai của Mendaka bạch Thế Tôn:

- Những đứa con gái này của con, bạch Thế Tôn, sẽ đi về nhà chồng. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy giáo giới chúng. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy khuyên dạy chúng, để chúng được hạnh phúc an lạc lâu dài.

4. Rồi Thế Tôn nói với các người con gái ấy:

- Này các thiếu nữ, các Con hãy học tập như sau:

"Đối với những người chồng nào, mẹ cha cho các con, vì muốn lợi ích, vì tìm hạnh phúc, vì lòng thương tưởng, vì lòng từ mẫn khởi lên, đối với vị ấy, chúng ta sẽ thức dậy trước, chúng ta sẽ đi ngủ sau cùng, vui lòng nhận làm mọi công việc, xử sự đẹp lòng, lời nói dễ thương." Như vậy, này các Thiếu nữ, các Con cần phải học tập.”

(Bài kinh Uggaha Người gia chủ - IV. Phẩm Sumanà – Chương Năm Pháp – Tăng Chi Bộ Kinh Tập 2)

Qua đó, điều thứ nhất Đức Phật căn dặn có các việc sau: Đối với người chồng nào mà cha mẹ đã yêu thương, đã đồng ý cưới gả thì đầu tiên là thức dậy sớm và đi ngủ muộn. Khi mình về làm dâu thì dậy sớm, ngủ muộn và vui lòng nhận làm mọi công việc. Khi mình về nhà chồng thì bên chồng có nhiều anh chị em cô chú bác thì có khi người này nhờ việc này, người kia nhờ việc kia thì lúc đó mình phải vui lòng làm mọi công việc, xử sự đẹp lòng, lời nói dễ thương.

Bên trên là bậc Chánh Đẳng Chánh Giác dạy đạo lý, cách sống giữa vợ chồng với nhau. Không phải chỉ đối với hai vợ chồng tương lai mà tất cả mọi quý vị Phật tử đang có mặt ở đây phải nhớ thật kĩ những lời này. Đây là lời của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, là nguyên lý, hạnh phúc trong gia đình, nguyên tắc và đúng mãi mãi, không bao giờ thay đổi. Là thức sớm, ngủ muộn, vui vẻ, nhận làm mọi công việc, xử sự đẹp lòng và lời nói dễ thương. Tại sao Đức Phật dặn là lời nói dễ thương?

Khi mình có nhiều công việc, mình bận rộn thì mình có dễ thương không? Rất khó dễ thương, bình thường thì dễ thương, là khi thảnh thơi, thoải mái nhưng lúc nhiều công việc ập tới thì lúc đó mình sẽ có nhiều bức xúc dễ giận, dễ bực, dễ quạo nên Đức Phật mới dạy là vui lòng nhận làm mọi công việc, xử sự đẹp lòng, lời nói dễ thương.

Điều này không chỉ những người cư sĩ mà người xuất gia cũng phải để ý thật kĩ trong chùa. Nên lời của Đức Phật nói là thiên thu, trở thành định luật. Khi bình thường thì mình dễ thương nhưng khi công việc nhiều quá thì lúc đó có còn dễ thương không? Đó là phải giữ được lời nói dễ thương, xử sự đẹp lòng. Quý thầy, quý sư cô khi có công việc nhiều như có khóa tu hay rằm lớn, pháp hội thì lúc đó có lời nói dễ thương, xử sự đẹp lòng, liệu có giữ được không?

Nên nhớ kĩ điều đó, nhiều khi bình thường thì thấy hiền, dễ thương, còn khi bận rộn công việc nhiều thì nhiều khi lời nói của mình không còn dễ thương, xử sự của mình không đẹp lòng người khác. Hay có khi đưa một việc, hai việc, ba việc thì thấy cũng được nhưng đưa năm, bảy hay mười việc thì lúc đó có vui lòng nhận làm mọi việc không? Đây là Đức Phật dạy cô dâu nhưng mình cũng ứng dụng được ở trong chùa, trong người công quả, người tu.

“5. Do vậy, này các Thiếu nữ, các Con cần phải học tập như sau: "Những ai, chồng ta kính trọng, như mẹ, cha, Sa-môn, Bà-la-môn, chúng ta sẽ tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường và khi họ đến, chúng ta sẽ dâng hiến họ chỗ ngồi và nước." Như vậy, này các Thiếu nữ, các Con cần phải học tập.”

Tức điều thứ hai Đức Phật dạy người chồng cung kính những ai thì người vợ cũng phải cung kính những vị đó, là cha mẹ, ông bà, cô bác… những người mà chồng mình kính trọng thì mình phải kính trọng. Không phải là “Quen với chồng tôi chứ tôi không quen! Đó là thầy của chồng tôi, của vợ tôi chứ không phải thầy của tôi!” Nên chúng ta nhớ điều thứ hai là kính trọng những người mà chồng mình, vợ mình kính trọng.

“6. Do vậy, này các Thiếu nữ, các Con cần phải học tập như sau: "Phàm có những công nghiệp trong nhà, hoặc thuộc về len vải hay vải bông, ở đây, chúng ta sẽ phải thông thạo, không được biếng nhác, tự tìm hiểu phương pháp làm, vừa đủ để tự mình làm, vừa đủ để sắp đặt người làm." Như vậy, này các Thiếu nữ, các Con cần phải học tập.”

Qua đó, chúng ta thấy được Đức Phật đã dạy rất chu đáo, tỉ mỉ. Ví dụ gia đình chồng mình mở quán ăn nhưng mình là cô dâu về thì nói là tôi không biết nấu, như vậy là thất bại. Nên nghề nghiệp, công việc ở trong gia đình chồng (chúng ta nên hiểu là suy ra cho cả chồng hoặc vợ). Ví dụ như bán nước thì có quán cà phê, quán nước, sinh tố thì người chồng hay ba vợ, mẹ vợ nhờ pha ly cà phê thì nói là “Con không biết pha!” Đó là thiếu thì mình phải cố gắng học, không biết nhưng học thì sẽ biết.

Công việc, nghề nghiệp của gia đình bên chồng, bên vợ thì mình phải để ý học hỏi. Mình không biết nhiều nhưng cũng phải biết một ít, không thể hoàn toàn không biết.

“Chúng ta sẽ phải thông thạo, không được biếng nhác, tự tìm hiểu phương pháp làm, vừa đủ để tự mình làm, vừa đủ để sắp đặt người làm."

Vì tương lai mình cũng sẽ là gia chủ tương lai, cha mẹ ngày một già yếu rồi cũng về trời thì mình phải biết làm và sắp đặt người làm để phụ cha mẹ vợ hay cha mẹ chồng của mình. Vậy nên đây là điểm thứ ba Đức Phật dạy mình phải thông thạo công việc trong gia đình, không được biếng nhác, tự mình phải tìm hiểu phương pháp học hỏi, biết cách làm, tự mình làm được và mình vừa đủ để sắp đặt cho những người làm những công việc trong gia đình.

“7. Do vậy, này các Thiếu nữ, các con cần phải học tập như sau: "Trong nhà người chồng, phàm có nô tỳ nào, hay người đưa tin, hay người công thợ, chúng ta sẽ phải biết công việc của họ với công việc đã làm; chúng ta sẽ phải biết sự thiếu sót của họ với công việc không làm. Chúng ta sẽ biết sức mạnh hay sức không mạnh của những người đau bệnh. Chúng ta sẽ chia các đồ ăn, loại cứng và loại mềm, mỗi người tùy theo phần của mình". Như vậy, này các Thiếu nữ, các Con cần phải học tập.”

Qua đó, chúng ta có thấy được Đức Phật hết sức vi tế, chu đáo, cặn kẽ. Đức Phật dạy là trong nhà chồng có những người giúp việc hay công thợ thì chúng ta phải biết công việc của họ, biết là người này làm việc gì, người kia là giữ trách nhiệm gì và biết họ đã làm công việc đó có tròn không hay là thiếu sót thì phải biết. Người nào có sức khỏe, người nào yếu thì chúng ta chia đồ ăn, phân phát đồ ăn, chia sẻ những lợi dưỡng như khi có rất nhiều đồ ăn mà những người giúp việc mình lại không cho, mình nói “Tôi đã trả lương rồi!”.

Khi đó chúng ta thấy nếu tình thương của mình đối với những người giúp việc mà không có trải rộng thì khi có hữu sự thì mỗi lần một chút, người ta biết để ý, có cảm nhận không? Nếu như mình có tình thương, mình đối đãi giống như ở trong gia đình thì người ta cũng sẽ đối đãi với mình giống như người trong gia đình, người thương. Nếu mình đối đãi có giai cấp, có khảng cách, có sự chủ tớ, như trong bài kinh Thi Ca La Việt Đức Phật đã dạy rất kĩ, ở đây chúng ta chỉ học phần này.

Khi đó mình phân phát, chia sẻ thức ăn, đồ uống, mình phải hiểu người đó mạnh hay khỏe, có ốm đau gì không, mình phải cho thuốc men, hỏi han sức khỏe. Đó là hiểu biết về những người làm việc của chồng hay của vợ.

“8. Do vậy, này các Thiếu nữ, các Con cần phải học tập như sau: "Phàm có tiền bạc, lúa gạo, bạc và vàng người chồng đem về, chúng ta cần phải phòng hộ, bảo vệ chúng, và sẽ gìn giữ để khỏi ăn trộm, ăn cắp, kẻ uống rượu, kẻ phá hoại". Như vậy, này các Thiếu nữ, các con cần phải học tập.”

Ý nói người vợ phải biết giữ gìn tài sản của chồng vất vả, cực khổ đi làm. Không phải khi thấy chồng mình làm có tiền thì mình phung phí, xài không nghĩ đến mồ hôi, nước mắt cực khổ của vợ mình hay chồng mình. Nên mình biết sự khó nhọc của vợ mình hay của chồng mình thì mình bảo vệ, giữ gìn, tài sản.

“Thành tựu năm pháp này, này các Thiếu nữ, người đàn bà, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với chư Thiên có thân khả ái.”

(Bài kinh Uggaha Người gia chủ - IV. Phẩm Sumanà – Chương Năm Pháp – Tăng Chi Bộ Kinh Tập 2)

Tức là khi tu tập đầy đủ được năm pháp Đức Phật vừa nói thì sau khi chết sanh lên cõi trời với thân tướng rất đẹp, dễ nhìn, đáng yêu. Đó là những điều Đức Phật dạy cô dâu khi về nhà chồng. Tóm lại, năm pháp gồm: Thứ nhất là thức khuya, dậy sớm, vui lòng nhận các việc, xử sự đẹp lòng, lời nói dễ thương. Thứ hai là kính trọng những người mà vợ hay chồng mình kính trọng, ví dụ như cha mẹ, ông bà, những người tu hành. Thứ ba là học hỏi các nghề nghiệp, công việc trong gia đình của vợ hay của chồng mình, mình phải biết làm và sắp đặt cho những người làm. Thứ tư là đối với những người giúp việc, phải hiểu biết công việc, hiểu biết sức khỏe của họ và chia sẻ những đồ ăn, thức uống. Thứ năm là giữ gìn tài sản mà chồng hay vợ mình đã vất vả, cực khổ làm ra.

Đó là năm pháp mà Đức Phật dạy cho cô dâu chuẩn bị về nhà chồng. Trong kinh giáo thọ Thicalaviet Đức Phật dạy người chồng phải đối xử với người vợ có năm điều kính trọng vợ, không bất kính đối với vợ, trung thành với vợ giao quyền hành cho vợ, và sắm đồ nữ trang cho vợ.

Đức Phật đã dạy từng chút và Người còn dạy người vợ: có lòng thương tưởng chồng theo năm cách: thi hành tốt đẹp bổn phận của mình, khéo tiếp đón bà con, trung thành với chồng, khéo giữ gìn tài sản của chồng và khéo léo, nhanh nhẹn làm mọi công việc.

III. Bốn loại sống chung

Tiếp theo là bài kinh Sống chung trong Tăng Chi Bộ Kinh tập 1:

“1. Một thời, Thế Tôn đang đi trên con đường giữa Madhurà và Veranja. Và nhiều nam gia chủ và nữ gia chủ cũng đang đi trên con đường giữa Madhurà và Veranja. Rồi Thế Tôn từ trên đường bước xuống, đến ngồi dưới một gốc cây, trên chỗ đã được sửa soạn.

Các nam gia chủ và nữ gia chủ thấy Thế Tôn ngồi dưới gốc cây, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với các nam cư sĩ, nữ cư sĩ đang ngồi một bên:

2. - Này các Gia chủ, có bốn loại sống chung này. Thế nào là bốn?

 Đê tiện nam sống chung với đê tiện nữ.

 Đê tiện nam sống chúng với Thiên nữ.

 Thiên nam sống chúng với đê tiện nữ.

 Thiên nam sống chung với Thiên nữ.”

3. Và này các Gia chủ, thế nào là đê tiện nam sống chung với đê tiện nữ?

Ở đây, này các Gia chủ, người chồng sát sanh, lấy của không cho, sống tà hạnh trong các dục, nói láo, đắm say rượu men rượu nấu, ác giới, tánh ác, sống ở gia đình với một tâm bị cấu uế xan tham chi phối, nhiếc mắng chưởi rủa các Sa-môn, Bà-la-môn. Còn người vợ cũng sát sanh, lấy của không cho, sống tà hạnh trong các dục, nói láo, đắm say rượu men rượu nấu, ác giới, tánh ác, sống ở gia đình với một tâm bị cấu uế xan tham chi phối. Như vậy, này các Gia chủ là đê tiện nam sống chung với đê tiện nữ.”

Ý nói người không giữ năm giới, bủn xỉn, tham lam, không biết bố thí, đó gọi là đê tiện nam sống với đê tiện nữ.

“4. Và này các Gia chủ, thế nào là đê tiện nam sống chung với Thiên nữ?

Ở đây, này gia chủ, người chồng sát sanh... nhiếc mắng chưởi rủa các Sa-môn, Bà-la-môn. Còn người vợ từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ nói láo, từ bỏ đắm say rượu men rượu nấu, có giới, thiện tánh, sống ở gia đình không với tâm bị cấu uế xan tham chi phối, không có nhiếc mắng chưởi rủa các Sa-môn, Bà-la-môn. Như vậy, này các Gia chủ, là đê tiện nam sống chung với Thiên nữ.”

Quý vị có thể kiểm tra lại và biết gia đình mình thuộc dạng nào.

“5. Và này các Gia chủ, thế nào là Thiên nam sống chung với một đê tiện nữ?

Ở đây, này các gia chủ, người chồng từ bỏ sát sanh... không có nhiếc mắng chưởi rủa các Sa-môn, Bà-lamôn. Nhưng người vợ là người sát sanh, lấy của không cho... nhiếc mắng chưởi rủa các Sa-môn, Bà- la-môn. Như vậy, này các Gia chủ là Thiên nam sống chung với đê tiện nữ.”

Tức là thiên nam là người giữ giới, bố thí, kính trọng các bậc tu hành, Đức Phật nói đó là nhân để sanh lên cõi trời và nhân của sự đê tiện, thấp hèn là không giữ năm giới, bủn xỉn, không biết bố thí, cúng dường và mắng chửi, mắng diếc các bậc tu hành, đức hạnh, đó là nhân của đê tiện, thấp hèn, sa đọa.

“6. Và này các Gia chủ, thế nào là Thiên nam sống chung với Thiên nữ?

Ở đây, này các Gia chủ, người chồng từ bỏ sát sanh... không nhiếc mắng chưởi rủa các Sa-môn, Bà-la-môn, và người vợ cũng là người không sát sanh... không nhiếc mắng chưởi rủa các Sa-môn, Bà-la-môn.

Này các Gia chủ, có bốn loại chung sống này.”

(Bài kinh Sống chung 1 - Phẩm Nguồn sanh phước - Chương Bốn pháp - Tăng Chi Bộ Kinh)

Như vậy, quý vị muốn chọn loại nào? Như vậy, hôm nay Minh Thành đã nhắc lại những bài kinh rất quan trọng cho tất cả quý Phật tử, nhất là hai vị chuẩn bị kết hôn và tất cả những vị sẽ kết hôn, đã kết hôn. Hãy nhớ những lời quan trọng này của Đức Thế Tôn, bằng cả tình thương và từ tâm của Ngài. Nhớ sống làm thiên nam và thiên nữ, đừng sống làm đê tiện nam và đê tiện nữ.

Nếu mình muốn xứng đôi, vừa lứa với nhau, muốn đời đời gặp nhau, thì mình phải cùng chung lòng tin, giới, bố thí và trí tuệ. Khi vợ chồng cùng sống trong một gia đình thì phải giữ năm điều như vừa nói. Cuối cùng là bốn hạng vợ chồng. Xin chúc cho hai vị chuẩn bị thành đôi, chuẩn bị lập gia đình được trở thành thiên nam và thiên nữ, sống trong một tâm giới hạnh, sống với một tâm biết san sẻ, sớt chi, biết bố thí, cúng dường, sống với một tâm tôn kính Tam Bảo, tôn kính những người có đức hạnh thì quý vị sẽ đời đời được hạnh phúc bên nhau.

Đảnh lễ Bốn đôi tám chúng hiền Thánh tăng là ruộng phước vô thượng của chư thiên và loài người.

Đảnh lễ Thánh giới tối thượng, mở cánh cửa hạnh phúc cho sáu loại chúng sanh, cho ba cõi hữu tình, đem lại bình an, đem lại hạnh phúc, sự an lạc cho mười phương thế giới.

Đảnh lễ Thánh giới tối thượng.

Xin thưa quý thầy, quý cô, trước mặt chúng ta là ba thế hệ, bà, cha mẹ và con. Hiện tại trước mặt chúng ta là ba thế hệ trong một gia đình, cha mẹ lúc nào tình thương cũng bao la, dạt dào lòng mẹ, tấm lòng của cha mẹ không sao có thể nói hết được. Trong giây phút thiêng liêng này, giữa núi, giữa không gian thiêng liêng, chúng ta phải khơi dậy lòng hiếu hạnh, tâm hiếu, hạnh hiếu và những lời hiếu hạnh từ trái tim. Cha mẹ đã hy sinh hết cuộc đời cho chúng ta, nhất là “ngoại” từ mà quý vị thường gọi thân thương, là từ cõi tử trở về mang một chứng bệnh nan y, nhưng nhờ tu hành phước huệ nên đã giành lại mạng sống từ cửa tử, trở về trong phép màu của Chánh Pháp, của thiện lành.

Giây phút này ngồi đây, là thân bằng xương bằng thịt của người mẹ già. Quý vị hãy nhìn kĩ lên mái tóc của mẹ, mái tóc, vầng trán nhăn nheo, gương mặt, ánh mắt, hơi thở, cuộc đời đó, là hy sinh tất cả cho con. Trong giờ phút thiêng liêng này, có thể chỉ có lần này duy nhất trong cuộc đời, quý vị hãy đem tất cả tấm lòng biết ơn, nhớ ơn và cảm ơn dâng lên cho mẹ.

Mời cô Trang bước lên quỳ trước mẹ, bằng tất cả tấm lòng của mình.

42:18-50:29: Phật tử trình pháp

Tiếp theo mời cô Trang và chú lên ngồi, cho hai con lễ.

Bằng tất cả tấm lòng của mình, của người con đối với cha mẹ, nhất là người con chuẩn bị lên kiệu hoa về nhà chồng, đây là giây phút thiêng liêng, quý báu. Con hãy đem cả tấm lòng tâm thư của một người con dâng lên cha mẹ.

51:20-60:28: Phật tử trình pháp

Ngoài trời tuy là lạnh, giá lạnh nhưng trong tim Minh Thành được sưởi ấm, ấm áp, từ lòng yêu thương của cha mẹ. Cha mẹ đã vượt mấy trăm cây số để lên tới núi đồi xa vắng này, giờ này ngồi trước mặt các con, bằng tất cả tình thương, bằng tất cả tấm lòng, bằng tất cả trái tim, bằng tất cả máu hồng bảo bọc con, lo lắng cho con và sắp tới là dựng vợ gả chồng, thành gia, lập thất cho con. Trong giây phút này, con hãy nói lên tấm lòng của một người con, lòng biết ơn, nhớ ơn, lòng cảm ơn và xin lỗi những điều gì mà con thấy có lỗi với cha mẹ, nhớ lại những điều gì mà suốt đời này con không quên, ấn tượng sâu sắc với những hành động thương yêu của cha mẹ.

62:55-68:10: Phật tử trình pháp

Thành kính đảnh lễ Bốn đôi tám chúng hiền Thánh tăng, là ruộng phước vô thượng ở trên đời. Thành kính đảnh lễ giáo pháp ly tham, tối thượng giải thoát. Chúng con thành kính đảnh lễ bậc Thế gian tôn kính, Chánh biến tri, Vô thượng giác.

Xin mời đại chúng chia sẻ, Minh Thành cũng dành cho bà cụ phần quà rất đặc biệt, lát nữa ở Viễn ly xứ, các sư cô, các con của bà chuẩn bị thắp lên hiếu hạnh, lát nữa sẽ diễn ra lễ xuất gia của bà cụ, hiện tại là lễ Quy Y cũng như những lời nhắn gửi của quý thầy đến hai gia đình và những lời hiếu hạnh từ trái tim của những người con cháu dâng lên cha mẹ.

Giờ phút này nếu quý vị nào có cảm xúc muốn chia sẻ thì chúng ta cùng nhau chia sẻ thêm, để mình thấm nhuần những cảm giác hiền thiện, hiếu hạnh và biết ơn.

Minh Thành mời sư cô.

71:30-78:13: Sư cô trình pháp

Tâm thương này tỏa rộng,

Cùng khắp thế giới này,

Tâm thương này tỏa rộng,

Khắp trời đất bao la.