Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

7 Cách Trừ Phiền Não - Kinh Tất Cả Các Lậu Hoặc 4

2026-03-03 00:53:28
Kinh Nikāya Giảng Giải

BẢY CÁCH TRỪ PHIỀN NÃO

KINH TẤT CẢ LẬU HOẶC 4

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Lậu hoặc do tu tập được đoạn trừ PAGEREF _Toc83280903 \h 1

1.Y chỉ Thánh Pháp Ấn PAGEREF _Toc83280904 \h 1

2.Tu tập Tứ Niệm Xứ PAGEREF _Toc83280905 \h 3

3.Tu tập Thất Giác Chi PAGEREF _Toc83280906 \h 7

II.Thọ thân và thọ tâm PAGEREF _Toc83280907 \h 9

Lậu hoặc do tu tập được đoạn trừ

Y chỉ Thánh Pháp Ấn

Khi nói về bất cứ điều gì chúng ta đều cần phải bám sát trong kinh, nếu không bám sát thì sẽ nói sai hết. Đại đa số chúng ta quen cách học trước nay là "phóng", ví dụ nói về kham nhẫn là tự mình giảng luôn chứ mình không đi theo lời Đức Phật dạy. Chúng ta cần nhớ không được tự ý suy diễn, đây là điểm rất quan trọng vì nếu mình tự suy diễn thì Chánh pháp sẽ bị nhiễu loạn, ai cũng tự ý suy diễn thì Chánh pháp bị mất đi. Trong tạng kinh A-hàm hay tạng kinh Nikāya có một điệp khúc Đức Phật đã hỏi nhiều ngàn lần các Tỳ-kheo “sắc này là thường hay vô thường?”, các thầy đều đáp “sắc là vô thường”, Đức Phật hỏi tiếp “vô thường là khổ hay lạc” thì các thầy trả lời là “khổ”.

"Này các Tỳ-kheo, các Ông nghĩ thế nào, sắc là thường hay vô thường?

-- Là vô thường, bạch Thế Tôn.

-- Thọ... tưởng... các hành...

Thức là thường hay vô thường?

-- Là vô thường, bạch Thế Tôn.

-- Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

-- Là khổ, bạch Thế Tôn.

-- Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng, nếu quán cái ấy là: 'Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi'?

-- Thưa không, bạch Thế Tôn". (Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (d), III. Phẩm Những Gì Được Ăn, X. Trăng Rằm (Tạp 2, Ðại 2,14b) (S.iii,100) (Trung Bộ Kinh, trang 109, 110 Tham chiếu))

Vậy mà bây giờ rất nhiều người giảng "nếu không vô thường thì tại sao hoa lại nở, nhờ vô thường nên hoa mới nở". Giải thích như vậy là xuyên tạc lời Đức Phật, chỗ này rất quan trọng, nếu không cẩn trọng trong việc học pháp thì học được một thời gian là chúng ta sẽ đi vào mê hồn trận, hiểu sai sự chứng ngộ của Đức Phật. Đức Phật nói vô thường để chúng sanh thấy đau khổ trong đó, từ đó mới ly tham, giải thoát, vậy mà nhiều người suy diễn một hồi sẽ làm cho người ta ưa thích, thích thú, bị dính mắc, tham ái. Thành ra khi học Phật, cần phải nhớ rằng nếu muốn học đúng theo con đường của Đức Phật thì chúng ta phải chịu khó bám sát lời Phật, không được tự ý suy diễn, diễn dịch.

Vì thế, chúng ta sẽ tìm hiểu phương pháp đoạn trừ lậu hoặc cuối cùng, “thế nào là các lậu hoặc phải do tu tập mới được đoạn trừ?” theo lời dạy của Đức Phật.

"Này các Tỳ-kheo, ở đây, Tỳ-kheo như lý giác sát tu tập niệm giác chi, niệm giác chi này y viễn ly, y ly tham, y đoạn diệt, hướng đến từ bỏ". (Trung Bộ Kinh, 2. Kinh Tất cả các lậu hoặc)

Đây chính là Thánh pháp ấn, những điều này nếu không có người hướng dẫn thì mình có đọc mười năm, ba mươi năm trong kinh Nikāya cũng không biết. Y (y chỉ) nghĩa là dựa vào, mình tu tập niệm giác chi y chỉ viễn ly, y chỉ ly tham, y chỉ đoạn diệt, hướng đến từ bỏ, nếu tu mà không đi theo cái này thì không đúng Chánh pháp. Chữ "niệm" trong niệm giác chi là niệm thân – thọ – tâm – pháp, tức là Tứ Niệm Xứ chứ không đơn thuần niệm giác chi chỉ là chánh niệm, mà cái chánh niệm đó là niệm thân, niệm thọ, niệm tâm, niệm pháp.

Tại sao tu Tứ Niệm Xứ phải dựa vào viễn ly? Tất cả sự tu học của chúng ta đều hướng đến xa lìa, dựa vào sự xa lìa chứ không phải hướng đến sự tụ hội. Viễn ly chính là y chỉ sư của chúng ta, mình tu cái gì mà thân tâm mình muốn xa lìa khỏi năm dục trưởng dưỡng, muốn xa lìa đối với vị ngọt của cuộc đời, muốn xa lìa đối với sắc; thọ; tưởng; hành; thức thì đúng lời Đức Phật. Tu pháp môn nào mà pháp môn đó giúp cho mình lìa tham muốn, bớt tham muốn, giảm tham muốn, không tham muốn đối với năm dục và năm uẩn thì đó là Chánh pháp. Tu như thế nào mà pháp đó hướng mình đến đoạn diệt tham, sân, si, vô minh và bản ngã đối với năm uẩn, không làm cho mình tiếp tục tăng trưởng, phát triển, sanh khởi, tái sanh trong ngũ uẩn thì đó là pháp của Đức Phật.

Chữ "đoạn diệt" trong y đoạn diệt chính là chấm dứt năm uẩn, chấm dứt lòng dục, lòng tham, lòng ái, chấm dứt sự vô minh đối với năm uẩn, chấm dứt sự tái tục, tái sanh đối với năm uẩn. Mình tu pháp nào mà pháp đó hướng đến sự từ bỏ tham, sân, si, vô minh, khát ái, từ bỏ sắc; thọ; tưởng; hành; thức thì đó là Chánh pháp của Đức Phật. Ngược lại, tu cái nào mà thích sắc, thích những cảm giác, thích những sự tưởng tượng, ảo tưởng thì không phải Chánh pháp của Đức Phật. Chúng ta cần nhớ cho rõ Thánh pháp ấn của Đức Phật, tu suốt cuộc đời cho đến ngày lậu tận chỉ nằm trong mấy chữ này "y viễn ly, y ly tham, y đoạn diệt, hướng đến từ bỏ". Nếu chúng ta tu mà không dựa vào những chữ này thì cái tu đó không đưa đến giải thoát. Nếu chúng ta tu mà trong tâm không sanh khởi cảm giác muốn xa lìa, ly tham, chấm dứt dòng luân hồi sanh tử, không muốn chấm dứt thân xác xương da, máu mủ; nếu chúng ta tu mà không hướng đến sự từ bỏ thì cái tu đó không phải là Thánh đạo của Đức Phật. Chúng ta cần nhớ kĩ điều này, tu đúng Chánh pháp thì những chữ này "y viễn ly, y ly tham, y đoạn diệt, hướng đến từ bỏ" phải hiển lộ, mọi người hay nói đến y chỉ sư thì những pháp này chính là người thầy y chỉ của chúng ta.

Y chỉ thứ nhất: Viễn ly.

Y chỉ thứ hai: Ly tham.

Y chỉ thứ ba: Đoạn diệt.

Y chỉ thứ tư: Từ bỏ.

Trên đây là tứ y chỉ sư của chúng ta, bốn pháp đó để cho mình y chỉ. Niệm giác chi là như thế nào? Chính là niệm thân, niệm thọ, niệm tâm, niệm pháp, đây chính là trái tim, là linh hồn của tu sĩ, là sức sống của người xuất gia.

Tu tập Tứ Niệm Xứ

Sáu phương diện niệm thân (Thân Hành Niệm):

Niệm hơi thở.

Niệm oai nghi.

Niệm hành động.

Niệm tứ đại.

Niệm ba mươi hai thể trược.

Niệm chín giai đoạn của một tử thi.

Chúng ta phải rõ biết hơi thở đang có mặt, hơi thở đang vào ra, dài hay ngắn. Niệm oai nghi, niệm hành động: "Tỳ-kheo đi, tuệ tri: 'Tôi đi', hay đứng, tuệ tri: 'Tôi đứng', hay ngồi, tuệ tri: 'Tôi ngồi', hay nằm, tuệ tri: 'Tôi nằm'". Thân thể được sử dụng như thế nào, vị ấy tuệ tri thân như thế ấy. (Trung Bộ Kinh, 10. Kinh Niệm xứ). Niệm hơi thở, niệm oai nghi, niệm hành động là những phần ở bên ngoài nhưng ba phần bên dưới lại thường xuyên thiếu sót, chính là niệm tứ đại, niệm ba mươi hai thể trược, niệm chín giai đoạn của một tử thi, những phần này nếu không có sự hướng dẫn thì có khi chúng ta ở trong chùa đến chết cũng không biết thực hành những pháp này.

Niệm tứ đại là trong thân này có tóc, lông, móng, gân, xương, bao tử, lá lách, dạ dày… những chất này thuộc về địa đại. Máu, mủ, nước mắt, những chất dịch là thủy đại. Những chất đốt nóng làm tiêu hóa thuộc về hỏa đại, những sự động chuyển trong cơ thể, hô hấp tuần hoàn, sự lưu thông các mạch máu, tất cả những gì chuyển động trong cơ thể là phong đại. Đây là nói đơn giản, tổng quát còn khi triển khai thiền quán thì chỉ riêng phần tứ đại đã hơn mười buổi giảng dạy. Những phần này là những phần rất quan trọng và căn bản, nếu không nắm được thì làm sao biết chánh niệm là gì? Bình thường nói đến chánh niệm chỉ dừng lại ở niệm hơi thở, niệm oai nghi và niệm hành động, có khi chỉ dừng lại ở niệm hơi thở, có khi được thêm oai nghi, hành động là hết, còn ba phần sau đa số đều thiếu sót (niệm tứ đại, niệm ba mươi hai thể trược, niệm chín giai đoạn của một tử thi). Chúng ta cần tập trung tụng niệm bài kinh Tứ Niệm Xứ, cần nắm thật vững bài kinh đó vì đây là trái tim của Đức Phật, là sức sống của người xuất gia, nếu không nắm vững thì không có pháp hành.

Chín giai đoạn của một tử thi là chín giai đoạn phân hủy xác của một con người:

Trướng tưởng: Sau khi chết, tử thi bắt đầu phồng lên.

Thanh ứ tưởng: Sau khi phồng lên, thây chết vỡ ra ở những vùng bị thâm tím.

Hoại tưởng: Sau khi thây chết ngã màu xanh, nó bắt đầu nứt nẻ.

Huyết đồ tưởng: Khi thân thể tan hoại, máu và các thứ dịch chảy ra.

Nùng lạn tưởng: Mủ bắt đầu rỉ ra ngoài thân và bắt đầu mục nát.

Trùng đạm tưởng: Mủ vỡ ra, thân rã mục, côn trùng đục khoét phần còn lại.

Phân tán tưởng: Thịt bắt đầu tiêu tan mất.

Bạch cốt tưởng: Khi thịt đã tiêu sạch, chỉ còn xương trắng.

Thiêu tưởng: Toàn thân bị thiêu và chỉ còn tro. Tro bay vào hư không và trở thành cát bụi, cuối cùng chẳng còn gì.

Khi một con người chết đi nằm xuống sẽ trương phình lên, xanh nám lại, nứt nẻ và chảy ra những chất dịch, máu mủ. Những con giòi tự động sanh ra, bò lúc nhúc ăn những phần mềm của cơ thể, từ hai khóe mắt giòi tuôn ra. Da từ từ hoại đi, không còn thịt nữa, cuối cùng lộ ra bộ xương trắng màu vỏ ốc. Vài năm sau bộ xương cũng rời rạc, chỗ này là đầu lâu, chỗ kia là xương sườn, chỗ nọ là xương ống chân, xương bàn chân. Trải qua thời gian dài xương cũng rệu rã thành cát bụi, bị gió thổi bay vào hư không, còn nếu đi ngược lại với Thánh đạo thì không thể thành Thánh quả được.

"Lại nữa, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo như thấy một thi thể bị quăng bỏ trong nghĩa địa một ngày, hai ngày, ba ngày, thi thể ấy trương phồng lên, xanh đen lại, nát thối ra.

Lại nữa, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo như thấy một thi thể bị quăng bỏ trong nghĩa địa, bị các loài quạ ăn, hay bị các loài diều hâu ăn, hay bị các chim kên ăn, hay bị các loài chó ăn, hay bị các loài giả can ăn, hay bị các loài côn trùng ăn. 

Này các Tỳ-kheo, lại nữa, Tỳ-kheo như thấy một thi thể bị quăng bỏ trong nghĩa địa, với các bộ xương còn liên kết với nhau, còn dính thịt và máu, còn được các đường gân cột lại... với các bộ xương còn liên kết với nhau, không còn dính thịt nhưng còn dính máu, còn được các đường gân cột lại... với các bộ xương không còn dính thịt, dính máu, còn được các đường gân cột lại, chỉ còn có xương không dính lại với nhau, rải rác chỗ này chỗ kia. Ở đây là xương tay, ở đây là xương chân, ở đây là xương ống, ở đây là xương bắp vế, ở đây là xương mông, ở đây là xương sống, ở đây là xương đầu.

Lại nữa này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo như thấy một thi thể bị quăng bỏ trong nghĩa địa, chỉ còn toàn xương trắng màu vỏ ốc... chỉ còn một đống xương lâu hơn ba năm... chỉ còn là xương thối trở thành bột. Tỳ-kheo quán thân ấy như sau: Thân này tánh chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi tánh chất ấy". (Trung Bộ Kinh, 10. Kinh Niệm xứ)

Đó là chín giai đoạn của một xác chết và cũng là bài thiền quán, những pháp này chúng ta phải thực tập hằng ngày. Khi thực tập những cái này mới phá được thân kiến, kiến chấp về thân sẽ được phá trừ từ từ, còn nếu không thực tập thì thân kiến vẫn y nguyên. Tu càng lâu thân kiến lại càng lớn, đó là do không thực tập Thân Hành Niệm, vì vậy, ngày nào cũng phải quán chiếu, ghi nhớ, chiêm nghiệm, suy tư, đó là phần chánh niệm về thân. Tại sao sáng nào chúng ta cũng phải đánh răng? Tại sao hằng ngày chúng ta phải tắm rửa, giặt giũ? Mình sạch sẽ, thơm tho nhưng tại sao lại phải làm những việc đó? Chúng ta có thấy ghê tởm với những thứ chúng ta bài tiết ra không? Chúng ta có thấy những thứ đó hôi dơ, bẩn thỉu không? Nhưng vấn đề là thân này hôi dơ, bất tịnh, xú uế như vậy mà tại sao chúng ta vẫn đam mê thân này? Đó là vô minh và khát ái, vì không thấy, không biết thân này là gì rồi từ chỗ không thấy, không biết nên mới khoan khoái, yêu thích, thèm thuồng, khao khát rồi đau khổ, sầu, bi, ưu, não.

"Thân này là nhà máy sản xuất phân, là công ty xuất nhập nguồn nước tiểu, có gì để lên mặt với kiêu căng?". Nếu không có những thứ dơ bẩn trong người thì làm gì có toilet bên ngoài, uống nước vào rồi lại thải ra, lúc nào cũng thấy đống phân, đống nước tiểu dơ bẩn này thì lên mặt kiêu căng, ta đây, hách dịch với ai, chúng ta phải quán chiếu, chiêm nghiệm sâu sắc điều này. Tại sao chúng ta phải đeo khẩu trang? Vì trong này là ổ vi trùng, virus, là nguồn sanh ra bệnh tật, đó là chánh niệm về thân, còn không suy nghĩ như vậy, không quán chiếu, tư duy như vậy thì mình phi Như lý tác ý đó là đẹp, sạch, thơm, như vậy làm tăng trưởng vô minh, tham ái và chấp thủ, đó chính là niệm thân (Thân Hành Niệm).

Niệm thọ là chúng ta niệm ba loại cảm thọ: cảm giác dễ chịu, cảm giác khó chịu, cảm giác không dễ chịu cũng không khó chịu. Lúc nào cũng nhìn vào cảm giác đó để xem nó thuộc về cảm thọ gì. Hiện tại trời đang nóng nên chúng ta có khổ thọ, trong khổ thọ có cái bực dọc, cái này phải quán chiếu mới thấy, nếu không quán chiếu chỉ thấy được bề nổi của những cái thô, còn vi tế không thấy được. Khi quán chiếu thấy được tham, sân, si phải dùng Như lý giác sát, sau đó mới đến Như lý tác ý. Tức là tỉnh giác quán sát đúng như sự thật của các cảm thọ sanh khởi lên, sau đó tác động tâm ý để giải phá những cảm giác tham, sân, si, bản ngã, vô minh đó.

Trong kinh Tứ Niệm Xứ nói đến rất nhiều loại tâm, lúc nào cũng xem lại trong tâm đang có tâm nhỏ hẹp hay rộng lớn. Tâm mình thấy cái gì đẹp là thích, thấy cái gì xấu là ghét, đó là tâm nhỏ hẹp, phàm phu hạ liệt, thấp kém. Trong khi người xuất gia phải tu tâm vô lượng, từ vô lượng, bi vô lượng, hỷ vô lượng, xả vô lượng, phải thường xuyên trú trong tâm rộng mở. Khi mình đang ngồi ở đây thì đừng nhìn cái gì chỉ biết cái đó thôi mà tầm nhìn phải rộng mở ra khắp hư không trời đất trong không gian nơi này, tu tập tâm rộng mở chứ đừng trú trong tâm nhỏ hẹp. Chư Thiên rất thích cúng dường cho ngài Maha Kassapa (Ca-diếp), vì Ngài Ca-diếp rất thường hay trú trong vô lượng tâm định, nghĩa là trú trong định nhưng tâm vô lượng vô biên cùng khắp hư không giới. Người nào thường cúng dường cho người thường xuyên trú trong vô lượng tâm định sẽ nhận được phước báo vô lượng, giống như tâm định vô lượng của người thường tu tập tâm vô lượng đó.

Cho nên cần soi rọi lại để kiểm tra tâm nhỏ hẹp hay rộng lớn, tâm vô minh hay không vô minh, tâm có tham sân si hay không. Phải thấy các pháp đang vận hành trong tâm, xem nó là thiện hay bất thiện, tham sân si hay từ bi hỷ xả, vô thường hay thường, thấy Khổ Thánh Đế hay đang đam mê theo cái vui. Chúng ta cần để ý, dòm ngó lại thân thể, cảm giác, nội tâm có tham sân si không, các pháp thiện hay bất thiện để tác ý đánh đuổi, trừ diệt thì gọi là niệm giác chi, chỉ với một chữ "niệm giác chi" thôi nhưng chúng ta phải tu Tứ Niệm Xứ.

Tu tập Thất Giác Chi

Sau khi nhìn lại thân thể, cảm giác, nội tâm và các pháp đang có mặt bên trong thì chúng ta bắt đầu giãn trạch, biện biệt, phân biệt rõ các nào là thiện cái nào là bất thiện, pháp nào hạ liệt pháp nào thù thắng, pháp nào minh pháp nào vô minh, gọi là trạch pháp giác chi được sanh khởi. Khi đã có sự phân biệt, giãn trạch rành rõ trong tâm cái nào là sắc, thọ, tưởng, hành, thức; cái nào là thân, thọ, tâm, pháp; biết pháp đó là thiện hay bất thiện; hình bóng đó là dục hay có sân trong đó; trong cảm giác đó có cảm giác si, hôn trầm không thì sau đó mình đánh tan nó. Hoặc nó đang xâm chiếm, áp đảo mình thì phải nhìn thấy, phải biết rõ, đó gọi là niệm giác chi, trạch pháp giác chi. Sau khi thấy rõ đang có cảm giác hôn trầm xâm chiếm trong con mắt, đang có cảm giác hôn trầm đè nặng trong đầu, lan tỏa trong cơ thể thì chúng ta phải nỗ lực tinh tấn, tác ý đánh đuổi thì gọi là tu tập tinh tấn giác chi.

Còn nếu chúng ta không có chánh niệm, không nhìn lại thân – thọ – tâm – pháp thì làm sao trạch pháp được? Lúc đó năm triền cái xuất hiện cũng không biết, hôn trầm sanh khởi lên là nhập cuộc với nó, tham sanh khởi là đi theo, trạo cử dao động là cứ ngọ ngậy theo. Cho nên, nếu không trạch pháp thì làm sao nhận ra năm triền cái, mà không trạch pháp thì làm gì có tinh tấn nỗ lực để nhiếp phục, chế ngự, diệt tận nó? Có tinh tấn nỗ lực đánh tan được hôn trầm thì mình hoan hỉ, vui vẻ, hạnh phúc vì thấy mình chiến thắng được cảm giác hôn trầm, si mê này. Đối với dục tham hay sân cũng làm giống vậy, sau khi mình nỗ lực tinh tấn sẽ chiến thắng, sau khi tinh tấn, đánh đuổi và nhiếp phục được cảm giác bất thiện đó thì mình vui, hân hoan. Khi chúng ta đến gần những vị tu hành có phần nào thành tựu sẽ thấy gương mặt họ luôn có hỷ lạc, đó chính là hỷ giác chi. Còn tu mà thấy gương mặt cứ lờ đờ thì đó là kẻ chiến bại chứ không phải người chiến thắng, đó là lý do tu hoài không thấy kết quả.

Khi đã hoan hỉ thì tâm sẽ nhẹ nhàng, khinh an giác chi sanh khởi. Khi thân tâm nhẹ nhàng sẽ dễ dàng đi vào thiền định, định giác chi sanh khởi. Khi tâm được an định cộng với chánh tri kiến đã thành tựu, vừa lặng, vừa trong, vừa sáng nên vị này sẽ nhìn thấy được những cái thâm sâu bên trong của các lậu hoặc. Cho nên, vị này xả bỏ, buông bỏ, khi đó xả giác chi sanh khởi, thành tựu được xả vô lượng tâm, buông xả tất cả dục, tham, ái, vô minh, bản ngã.

Cho nên, Đức Phật dạy phải tu tập thiền định, nhờ tu tập thiền định mà thấy biết như thật sắc, thọ, tưởng, hành, thức; thấy biết như thật tham, sân, si ở trong ngũ uẩn; thấy biết như thật vô minh, bản ngã, cấu nhiễm trong ngũ uẩn. Sau khi thấy biết thì tác ý, trừ diệt, lau chùi, quét dọn, tẩy sạch, từ bỏ, diệt tận chúng.

"-- Này các Tỳ-kheo, hãy tu tập Thiền định. Vị Tỳ-kheo có Thiền định, này các Tỳ-kheo, hiểu biết một cách như thật.

Hiểu biết gì một cách như thật? Sắc tập khởi và đoạn diệt; thọ tập khởi và đoạn diệt; tưởng tập khởi và đoạn diệt; các hành tập khởi và đoạn diệt; thức tập khởi và đoạn diệt.

Này các Tỳ-kheo, thế nào là sắc tập khởi? Thế nào là thọ tập khởi? Thế nào là tưởng tập khởi? Thế nào là các hành tập khởi? Thế nào là thức tập khởi?

Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo hoan hỉ, hoan nghênh, đắm trước rồi an trú. Hoan hỉ, hoan nghênh, đắm trước và an trú gì?

Hoan hỉ, hoan nghênh, đắm trước rồi an trú sắc. Do vị ấy hoan hỉ, hoan nghênh, đắm trước rồi an trú sắc, hỷ đối với sắc khởi lên. Do hỷ đối với sắc, thủ đối với sắc khởi lên. Do duyên thủ đối với sắc, hữu khởi lên. Do duyên hữu, sanh khởi lên. Do duyên sanh, già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não khởi lên. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.

Hoan hỉ, hoan nghênh, đắm trước rồi an trú thọ... rồi an trú tưởng... rồi an trú các hành... rồi an trú thức. Do vị ấy hoan hỉ, hoan nghênh, đắm trước rồi an trú thức, hỷ khởi lên. Do hỷ đối với thức, thủ đối với thức khởi lên. Do duyên thủ đối với thức, hữu khởi lên. Do duyên hữu, sanh khởi lên. Do duyên sanh, già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não khởi lên. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này". (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (a), A. Năm Mươi Kinh Căn Bản, I. Phẩm Nakulapità, V. Thiền Ðịnh)

Thọ thân và thọ tâm

Chúng ta học thêm về các loại cảm giác: lac thọ, khổ thọ, hỷ thọ, ưu thọ, xả thọ.

Bình thường mình học ba thọ: Lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ, học như vậy là dễ nhất, ngắn gọn nhất. Thế nhưng, khi đi vào trong kinh có chỗ Đức Phật phân tích cảm thọ lạc và khổ khác nhau, hỷ và lạc cũng có sự khác nhau. Cái vui ở trên thân gọi là lạc nhưng cái vui trong tâm gọi là hỷ, như vậy, chúng ta cần phân biệt được thọ thân và thọ tâm. Cảm thọ trên thân khác với cảm thọ trong tâm, nhiều khi cảm thọ trên thân là khó chịu nhưng cảm thọ trong tâm lại vui. Ví dụ, khi nghe những lời dặn của Đức Phật cảm thấy vui nhưng xen kẽ lại cảm thấy ưu tư, nhớ về Đức Phật, tức là thân là lạc thọ nhưng tâm lại ưu. Vì vậy, cái vui trên cảm giác của thân gọi là lạc thọ, cái vui trong tâm gọi là hỷ thọ; cái khổ trên thân là khổ thọ nhưng cái khổ trong tâm gọi là ưu thọ; xả thọ chính là bất khổ bất lạc thọ, không khổ cũng không vui. Ví dụ như đi du lịch, mình ngồi nguyên cả ngày trên xe để đi đến điểm vui chơi thì thân sẽ thấy mệt nhưng đến được chỗ chơi thì tâm lại thấy vui, cảm thọ của thân là khổ nhưng cảm thọ của tâm thì lại vui, đó gọi là hỷ thọ cho nên nhiều khi tâm sướng nhưng thân lại khổ nhưng cũng có trường hợp ở ngoài nhìn vào thấy thân sướng nhưng bên trong lại khổ tâm.

Đó là Minh Thành giới thiệu để mọi người biết thêm, còn thông thường ba thọ là dễ nhớ nhất.

./.