Định Lý Phật Pháp
ĐỊNH LÝ PHẬT PHÁP
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Nhất hướng nhàm chán PAGEREF _Toc113049551 \h 1
1.Đoạn trừ thân kiến PAGEREF _Toc113049552 \h 2
2.Nhận diện tham, sân, si trong cảm thọ PAGEREF _Toc113049553 \h 4
3.Quán chiếu năm uẩn PAGEREF _Toc113049554 \h 6
II.Ly tham PAGEREF _Toc113049555 \h 7
Nhất hướng nhàm chán
Chúng ta sẽ tìm hiểu về hai bài kinh trong Tăng Chi Bộ và một bài trong Tương Ưng Bộ. Ba bài kinh này giúp chúng ta biết định lý của Chánh pháp.
Rồi Tôn giả Upàli đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Upàli bạch Thế Tôn:
- Lành thay, bạch Thế Tôn! Thế Tôn hãy thuyết pháp cho con một cách vắn tắt, sau khi nghe Thế Tôn thuyết pháp, con sẽ sống một mình, an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.
- Này Upàli, những pháp nào Thầy biết: "Những pháp này không được đưa đến nhất hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn", thời này Upàli, Thầy cần phải nhất hướng thọ trì là: "Ðây không phải Pháp, đây không phải Luật, đây không phải lời dạy Thế Tôn". Và này Upàli, những pháp nào Thầy biết: "Những pháp này đưa đến nhất hướng, nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn", thời này Upàli, Thầy cần phải nhất hướng thọ trì là: "Ðây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy Thế Tôn".
(Tăng Chi Bộ Kinh, Chương VII – Bảy Pháp, VIII. Phẩm Về Luật, (IX) (79) Thông Ðiệp)
Bài kinh này tên là “Thông Điệp”, mang tính chất là định lý của Phật pháp, là pháp ấn, là những giáo pháp xác định một điều gì đó có phải là do Phật nói hay không. Mọi người nắm được bài kinh và học thuộc lòng thì sau này có thể nắm được định lý của Phật pháp, có thể đối chiếu trong tất cả kinh điển lời dạy của Đức Phật có phù hợp với cái này không, những chữ này không phải dễ hiểu.
Thế nào là nhất hướng nhàm chán? Nhất hướng là một đường, một mực, một bề, một mực nhàm chán, nhưng nói vậy thì Phật pháp là tiêu cực hay sao? Nhàm chán ở đây là nhàm chán trên thánh trí chứ không phải là nhàm chán của người bình thường, thích được vài ngày lại chán rồi đi tìm cái mới. Những tình cảm thế gian như bị thất tình rồi chán, vài bữa quen người khác lại hết chán. Cho nên mình phải hiểu rõ chữ nhàm chán ở đây không phải là cái chán bình thường của kẻ vô văn phàm phu, mà cái chán ở đây là thấy bằng trí tuệ. Thấy sắc tập khởi và sắc đoạn diệt, thấy cảm giác tập khởi và cảm giác đoạn diệt, thấy các tưởng, suy nghĩ, nhận thức tập khởi và đoạn diệt, thấy rõ năm uẩn sanh và diệt bằng trí tuệ.
Toàn bộ tạng kinh Nikāya được Đức Phật trình bày các khía cạnh, các phương diện của trí huệ về năm uẩn. Riêng phần sắc uẩn đã bao trùm hết tất cả con người, sự vật, sự việc hành tinh, thái dương hệ. Tất cả những cảm giác, suy tưởng và nhận thức nằm trong thọ; tưởng; hành; thức hay nói đơn giản là tâm. Vì vậy thành tựu trí tuệ năm uẩn là thành tựu trí huệ của thế giới, trí huệ trùm thế giới. Điều căn bản của sự tu tập là đoạn trừ thân kiến, đây là định lý, vấn đề cốt lõi trong tạng kinh, toàn bộ sự học giáo pháp của mình là để đoạn trừ thân kiến.
Đoạn trừ thân kiến
Trong bài kinh Con Đường đã được Đức Phật nói rất rõ: Con đường phải đi là con đường chấm dứt, đoạn diệt thân kiến.
Ở đây, này các Tỳ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử thấy rõ các bậc Thánh, thuần thục pháp các bậc Thánh, tu tập pháp các bậc Thánh, thấy rõ các bậc Chân nhân, thuần thục pháp các bậc Chân nhân, tu tập pháp các bậc Chân nhân; không quán sắc như là tự ngã, hay không quán tự ngã như là có sắc, hay không quán sắc ở trong tự ngã, hay không quán tự ngã ở trong sắc... không quán thọ... không quán tưởng... không quán các hành... không quán thức như là tự ngã, hay không quán tự ngã như là có thức, hay không quán thức ở trong tự ngã, hay không quán tự ngã ở trong thức.
Này các Tỳ-kheo, đây gọi là con đường đưa đến thân kiến đoạn diệt. Con đường đưa đến thân kiến đoạn diệt có nghĩa là: Sự quán sát đưa đến sự khổ đoạn diệt.
(Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (b), V. Phẩm Tự Mình Làm Hòn Ðảo, II. Con Ðường)
Thân kiến là kiến chấp sai lầm về thân, nếu mình phá được thân kiến này thì hoài nghi, giới cấp thủ theo đó cũng tan rã và Nhập lưu vào dòng thánh, sơ quả thứ nhất trong bốn quả thánh. Cái này quyết định toàn bộ tự tu học giáo pháp của mình. Minh Thành mong rằng mọi người học làm sao phải phá được thân kiến, có như vậy mới thể nhập được dòng thánh trí, đây là chỗ mà Đức Thế Tôn mong muốn. Phải phá được thân kiến, mà thân kiến là cái thấy sai lầm về thân là cho rằng sắc là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi. Cảm giác này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi. Cái suy tưởng này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi và nhận thức cũng giống vậy. Cho rằng năm uẩn này là mình, là của mình thì đó là thân kiến. Trong bộ Tương Ưng Uẩn đều nói về điều này, thành ra bài này là tóm thâu toàn bộ Tương Ưng Uẩn trong Tương Ưng Bộ Kinh. Đây là những giáo nghĩa rất quan trọng, nếu không nắm được là mình học sẽ bị mông lung, không biết con đường, không biết chỗ quy túc, học mãi cũng chỉ học ở bờ mé chứ không vào trọng tâm được. Đây mới chính là trọng tâm của tất cả giáo pháp là phá trừ thân kiến, phá trừ sự thấy biết sai lầm về thân.
Này các Tỳ-kheo, hãy như lý tác ý mắt, và hãy như thật chánh quán con mắt là vô thường.
Này các Tỳ-kheo, hãy như lý tác ý tai... mũi... lưỡi... thân... (Tương Ưng Bộ Kinh, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (f), Phần Bốn - Năm Mươi Kinh Thứ Tư, I. Phẩm Duyệt Hỷ Tiêu Tận, 157. III. Duyệt Hỷ Tiêu Tận)
Phải thấy rõ từ con mắt liên hệ đến sáu căn. Nếu mình cứ ngồi thở vô thở ra, bụng phồng xẹp thì không giải quyết được gì hết, chỉ xoa dịu tình hình chút ít thôi, như cây cổ thụ ngàn năm mà lấy cuốc cào cái rễ vài cái thì không ăn thua gì hết. Cũng vậy, trong nội tâm với đầy rẫy tham sân si, ngã mạn cống cao, tật đố, phiền não… như rắn rít, xà tinh, bạch cốt tinh, như Đường Tăng gặp 81 kiếp nạn thì 81 kiếp nạn này tượng trưng cho những thứ cấu uế, phiền não, lậu hoặc trong tâm, mà giờ mình dùng những pháp nhẹ nhàng, đơn sơ như lên tụng 1 ngày 2 thời rồi nghĩ như vậy là công phu xong, đó là sự thiếu sót rất lớn. Học rồi mới thấy chiến thuật tâm linh của Đức Phật đánh một lần vào sáu căn, sáu trần, sáu thọ, sáu thức, sáu ái, sáu tưởng, sáu tư, sáu xúc. Đánh một lần là 36 pháp, thậm chí là 108 thọ. Đánh cho tan tát không còn manh giáp đối với giặc phiền não, gọi là sát tặc A-la-hán. Học rồi mới thấy trí huệ khủng khiếp của bậc Chánh Đẳng Giác, cũng như pháp hành của Đức Phật. Sau đợt nhập thất một tháng thì Minh Thành mới thấy đầy rẫy pháp hành đại viên mãn trong tạng kinh Nikāya, ngay cả khi Minh Thành đi tám trường thiền lớn nhất của Thái Lan và Miến Điện thì pháp hành của họ khi đối chiếu cũng chưa đầy đủ như trong kinh này, mới chỉ được một phần nhỏ thôi.
Nhận diện tham, sân, si trong cảm thọ
Riêng con mắt thì Đức Phật dạy phải quán con mắt này là vô thường, là tứ đại. Do có con mắt, do có các sắc, do có nhãn thức là sự rõ biết các sắc, ba pháp này hội tụ tạo thành sự xúc, xúc này gọi là nhãn xúc, tức là sự tiếp xúc của con mắt với các sắc, khi tiếp xúc phát sanh ra cảm giác, gọi là thọ do nhãn xúc sanh. Cảm giác này có là từ sự tiếp xúc của con mắt với các sắc, trong khi đó con mắt không bị bệnh, không bị hư hoại, cần có đầy đủ ánh sáng, các sắc phải hiện rõ, các thức bên trong được đầy đủ, rõ ràng. Như vậy nó tập hợp thành duyên sanh pháp, ba pháp này giao thoa gọi là nhãn xúc, từ cái xúc này sanh ra thọ, phải tiếp xúc mới có cảm giác. Ví dụ đang ở trong phòng đọc kinh, chương uẩn về năm uẩn, đọc thấy thấm thía, sâu xa, và cảm thấy an lạc, thanh tịnh. Bỗng nhiên có người gõ cửa phòng báo có khách, khi đi ra phòng khách thấy có vị khách rất đẹp, lúc đó mình phải xem sự phòng hộ nhãn căn, căn môn của mình, sự phòng hộ sáu căn của mình như thế nào, vì khi tiếp xúc sẽ sanh thọ.
Minh Thành chỉ nói như vậy nhưng mọi người phải hiểu ra thêm nhiều vấn đề khác, không phải gặp người đẹp mình mới tránh xúc, mà khi gặp người bình thường mình vẫn xúc, nếu cứ xúc thì vẫn sanh ra cảm giác. Trong cảm giác gặp người đẹp thì mình có cảm giác vui thích, lạc thọ, trong lạc thọ nhìn sâu xuống có tham, dục, ái, không phải đợi tới khi nhớ đến mới có cảm giác mà ngay khi tiếp xúc đã sanh cảm giác rồi. Cho nên trong tạng kinh Đức Phật đã nói xúc tập khởi nên nghiệp tập khởi thành ra người tu phải đặc biệt cẩn thận với cái xúc này vì xúc sanh thọ, đây là định lý của bậc Chánh Đẳng Giác phát hiện ra chứ không phải người bình thường. Trong cảm giác này nói gọn có ba cảm giác:
Cảm giác thích thú (lạc thọ).
Cảm giác không ưa (khổ thọ).
Cảm giác không thích cũng không ưa (bất khổ bất lạc thọ).
Trong ba cảm giác này là chỗ trú ẩn của tham dục, sân hận và si mê. Đây là căn cứ địa của phiền não, cho nên tại sao Minh Thành nhắc mọi người phải có cảm giác toàn thân, phải luôn nhìn lại cảm giác của mình trong mọi lúc mọi nơi, vì chỗ cảm giác đó là sào huyệt của tham sân si. Nếu không nhìn lại cảm giác thì không biết tham sân si xuất hiện ra sao, vận hành như thế nào, nó hoạt động ra sao mình không biết, nhưng khi nhìn vào cảm giác sẽ biết, đây là chỗ rất quan trọng. Khi nhìn lại cảm giác sẽ thấy tham sân si sanh khởi và vận hành, có phương pháp nhiếp phục và chế ngự các bất thiện pháp này. Mỗi một ngày như vậy con mắt hoặc nhãn thức của mình làm việc, rồi thọ sanh khởi ra sao mình không thấy không biết gì hết, như vậy Đức Phật gọi đó là si mê và vô minh. Nghĩa là hằng ngày mình không thấy các pháp hiện rõ.
Này các Tỳ-kheo, Ta giảng sự diệt tận các lậu hoặc cho người biết, cho người thấy, không phải cho người không biết, cho người không thấy. (Trung Bộ Kinh, 2. Kinh Tất cả các lậu hoặc).
Cho người biết, cho người thấy được căn, thấy được trần, thấy được sự tiếp xúc, thấy được xúc sanh ra thọ, sanh ra cảm giác và thấy được trong cảm giác có tham sân si như thế nào. Trong phần Tứ Niệm Xứ, phần quán tâm có đoạn:
Này các Tỳ-kheo, như thế nào là Tỳ-kheo sống quán tâm trên tâm? Này các Tỳ-kheo, ở đây, Tỳ-kheo, với tâm có tham, tuệ tri: "Tâm có tham"; hay với tâm không tham, tuệ tri: "Tâm không tham". Hay với tâm có sân, tuệ tri: "Tâm có sân"; hay với tâm không sân, tuệ tri: "Tâm không sân". Hay với tâm có si, tuệ tri: "Tâm có si"; hay với tâm không si, tuệ tri: "Tâm không si". (Trung Bộ Kinh, 10. Kinh Niệm Xứ)
Biết không cũng chưa đủ, không giống như đề mục mình đang tu là chỉ nhìn biết rồi thôi là không đúng. Minh Thành hay ví dụ mọi người đang ngủ mà gặp con rắn độc, đưa đầu hướng về mình thì mình chỉ biết có rắn rồi ngủ tiếp hay sao? Mình phải đánh đuổi nó thậm chí là diệt tận nó. Trong kinh, Đức Phật dạy phương pháp Như lý tác ý dùng để đánh đuổi, mình phải suy xét, đánh đuổi tham dục bằng bất tịnh quán, bằng 32 thể trược, bằng 9 giai đoạn của một tử thi, đánh đuổi sân hận bằng từ tâm giải thoát, đánh đuổi si bằng sự tinh cần, mãnh giới, bằng sự quán niệm vô thường, bằng sự niệm tử. Tất cả đều có pháp để trị, dùng Như lý tác ý đánh là nó tan ra giống như mình cần gậy, cầm cây đuổi con rắn đi. Minh Thành giới thiệu sơ lược tiến trình tu tập, quán chiếu về năm uẩn.
Quán chiếu năm uẩn
Khi quán chiếu thấy nhàm chán vì biết con mắt này là vô thường, con mắt này làm khổ, con mắt này chịu sự biến hoại, lỗ tai này là vô thường, lỗ tai này chịu sự biến hoại, lỗ mũi này, cái lưỡi này, cái thân này là vô thường, chịu sự biến hoại, cái ý là vô thường, là chịu sự biến hoại, ở đây đang nói về sáu xúc. Mình luôn thấy, luôn nhìn lại, luôn quán chiếu sắc thân tứ đại, sắc uẩn này tách khỏi thân kiến đây là tôi, đây là của tôi, đây là tự ngã của tôi.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là sắc? Bốn đại chủng và sắc do bốn đại chủng tạo thành. Này các Tỳ-kheo, đấy được gọi là sắc. (Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (c), B. Năm Mươi Kinh Ở Giữa, I. Phẩm Tham Luyến, IV. Thủ Chuyển)
Tất cả sắc uẩn đều là tứ đại, cái nhà, cái chuông cho tới cái tháp cũng là sắc uẩn, là tứ đại, sắc do 4 đại tạo thành. Sau này chúng ta sẽ học chi tiết 7 trí về sắc, 7 trí về thọ, 7 trí về tưởng, 7 trí về hành, 7 trí về thức. Trên Linh Quy Pháp Ấn những chú tập sự xuất gia phải thuộc lòng 35 trí này để trả bài, khi không thuộc lòng thì ngồi thiền quán chiếu sẽ không biết quán như thế nào. Mình phải biết vị ngọt của sắc, sự nguy hại của sắc và sự xuất ly khỏi sắc. Phải thuộc lòng và quán cho tới khi nào thấy nhàm chán đối với sắc, không còn tham muốn đối với nó nữa thì lúc đó là thể nhập vào dòng trí huệ Nhập lưu, chính thức bước vào hàng bốn đôi tám chúng, là bậc đáng tôn trọng, đáng cung kính, đáng chắp tay, đáng đảnh lễ, đáng cúng dường, là ruộng phước vô thượng ở trên đời. Nhập lưu hoặc là hướng Dự lưu là chính thức bước vào Tăng bảo bốn đôi tám chúng của Đức Phật.
Chúng ta cứ quán hoài, nhìn hoài liên tục trong các sinh hoạt hằng ngày, nhìn bằng trí tuệ, nhìn bằng tuệ giác để thấy được bản chất của sắc uẩn, sắc thân, sắc pháp này không có gì là tôi, không có gì là của tôi để đừng nhận lầm, đừng hiểu lầm, đừng thấy lầm. Nếu thường tu tập như vậy thì mọi người đang đi trên thánh đạo, nhất định sẽ bước tới thánh quả. Nếu làm được cái này là quang tông diệu tổ, bảy đời cha mẹ ông bà lạy dưới chân mình, chư Thiên xuống cúng dường. Mọi người đừng nghĩ đây chỉ là chuyện trong kinh, nếu tu đúng chánh pháp mình sẽ cảm nhận được sự thật, hiện tại bây giờ ở Myanmar, Thái Lan có rất nhiều các bậc hiền thánh Tăng trong các rừng thiền chuyên tu tập cái pháp theo lời dạy gốc của Đức Phật.
Cho nên nhất hướng, nhàm chán, ly tham, đoạn diệt năm uẩn, không muốn tiếp tục với nó nữa thì tâm sẽ an tịnh, trí huệ sẽ thù thắng, lúc đó mình sẽ chứng ngộ. Sự chứng ngộ ở đây là dập tắt toàn bộ sự tham sân si đối với năm uẩn, thấy rõ nó không phải là mình, không phải là của mình mà là pháp vô thường, biến hoại.
Ly tham
Một thời, Thế Tôn trú ở Vesàli, tại Mahàvana, ở ngôi nhà có nóc nhọn. Rồi Mahàpajàpatì Gotamì đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Ðứng một bên, Mahàpajàpatì Gotamì bạch Thế Tôn:
- Lành thay, bạch Thế Tôn! Thế Tôn hãy thuyết pháp vắn tắt cho con, sau khi Thế Tôn thuyết pháp, con sẽ sống một mình, an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.
- Này Gotamì, những pháp nào bà biết: "Những pháp này đưa đến tham dục, không phải ly tham; đưa đến hệ phước, không đưa đến ly hệ phước; đưa đến tích tập, không đưa đến không tích tập; đưa đến dục lớn, không đưa đến ít dục; đưa đến không biết đủ, không đưa đến biết đủ; đưa đến tụ hội, không đưa đến nhàn tịnh; đưa đến biếng nhác, không đưa đến tinh tấn; đưa đến khó nuôi dưỡng, không đưa đến dễ nuôi dưỡng". Này Gotamì, hãy thọ trì nhứt hướng rằng: "Ðó là không phải Pháp, đó là không phải Luật, đó là không phải lời dạy của bậc Ðạo sư".
Và này Gotamì, những pháp nào bà biết: "Những pháp đưa đến ly tham, không đưa đến tham dục; đưa đến ly hệ phước, không đưa đến hệ phước; đưa đến không tích tập, không đưa đến tích tập; đưa đến ít dục, không đưa đến dục lớn; đưa đến biết đủ, không đưa đến không biết đủ; đưa đến nhàn tịnh, không đưa đến tụ hội; đưa đến tinh tấn, không đưa đến biếng nhác; đưa đến dễ nuôi dưỡng, không đưa đến khó nuôi dưỡng". Này Gotamì, hãy thọ trì nhứt hướng rằng: "Ðó là Pháp, đó là Luật, đó là lời dạy của bậc Ðạo sư".
(Tăng Chi Bộ Kinh, Chương VIII Tám Pháp, VI. Phẩm Gotamì, (III) (53) Pháp Tóm Tắt)
Những pháp đưa đến ly tham, không đưa đến tham dục gọi là pháp ấn. Trong tất cả các trường hợp đối với năm uẩn, đối với cuộc đời, đối với tiền tài, vật chất, danh vọng, địa vị, chùa chiền, bổn đạo, đất đai… chúng ta đều phải nhớ đến ly tham. Nãy giờ toàn nói sắc uẩn, vẫn chưa đến thọ; tưởng; hành; thức. Mình đừng nghĩ ly tham chỉ bao nhiêu đây là đủ, vẫn chưa đủ, ngay cả bậc ly dục của phàm phu cũng vẫn còn trong sanh tử vì chưa phá thân kiến. Đây là chỗ quan trọng, những bậc tu tiên trên núi đạt đến thiền định thâm sâu vô cực nhưng chưa phá thân kiến thì vẫn là phàm phu. Đây là sự đặc thù, đây là sự tăng thượng, đây là sự sai biệt giữa vị Thánh đệ tử có nghe nhiều và kẻ vô văn phàm phu về vấn đề đoạn tận thân kiến. Nếu thân kiến này không đoạn tận, không chấm dứt thì mình vẫn là vô văn phàm phu chứ không phải là vị thánh đệ tử.
Ngày mình còn là cư sĩ, là tập sự xuất gia rồi sau khi xuất gia 5-7 năm thì chuyện lìa tham của mình có giảm không hay lại tăng thêm? Phải tự vấn bản thân, tự hỏi bản thân. Nếu không khéo là mình đi ngược lại với mục đích Phạm hạnh của đời sống xuất gia, đây là chỗ rất quan trọng. Nếu bậc thầy đó không phải là vị minh sư, không phải là Đạo sư, không phải bậc Chân nhân, không phải là bậc thành tựu chánh tri kiến thì dạy học trò như thế nào? "Con ráng cố gắng lấy bằng cấp, con ráng cố gắng có được cái chùa để trụ trì". Đây đều là những người chưa thành tựu chánh tri kiến, một bậc thầy là Đạo sư, là bậc chân nhân, bậc thành tựu chánh tri kiến là phải chỉ cho học trò phá được thân kiến. Phải chỉ cho học trì thấy rõ được tất cả sắc uẩn này là vô thường, là khổ, là biến hoại, không có gì là tôi, không có gì là của tôi. Bây giờ vô cùng khó để tìm ra được bậc Minh sư này. Cho nên mới gọi là chánh pháp khó nghe, thầy lành khó gặp.
Trong kinh Luận có ví dụ, một người leo lên đỉnh núi cao thả cuộn chỉ xuống, một người đứng dưới chân núi đưa lỗ kim ra, ở giữa núi là cuồng phong, bão táp, gió thổi cuồn cuộn. Làm sao để cuộn chỉ đó chui vào ngay trong lỗ kim, như vậy khó hay dễ? Như vậy, nếu mình gặp được Minh sư, gặp chánh pháp thì khó hơn việc đó gấp 1 triệu lần, không phải dễ để có thể gặp được. Tại sao lại hướng dẫn cho mình đi theo con đường không phải là ly tham, cái tham đó trá hình trong Phật sự, pháp sự và Tăng sư, hãy nhớ nếu như đó không phải là tăng thượng giới học, không phải là tăng thượng định học, không phải là tăng thượng tuệ học thì đó không phải là pháp và luật của Như Lai. Tăng thượng tuệ học, tăng thượng tâm học, tăng thượng giới học là pháp ly tham, là pháp từ bỏ, là pháp chấm dứt sự tham dục đối với năm uẩn. Đó là pháp và luật, là lời dạy của bậc Đạo sư, mọi người nắm được cái này là nắm được trái tim của Đức Thế Tôn, nắm được con mắt của 12 phần giáo, cốt tủy của Tam tạng thánh điển chứ không phải là chuyện đơn giản.
Mỗi ngày khi mọi người sinh hoạt, khi thấy khi nghe, khi tiếp xúc, khi nhận thức, khi suy tưởng thì phải xem mình có đang sống với pháp ly tham không, hay đang nuôi dưỡng cái tham mà không từ bỏ, đang dung túng mà không đoạn diệt, đang tích trữ mà không chấm dứt. Đây là yếu pháp, là tâm pháp, là tủy pháp. Vì sao Đức Phật dạy mình ly tham, vì tham đưa đến khổ đau. Chỗ này là chỗ thâm sâu của giáo pháp, bất cứ khi nào mình tham, mình dính mắc vào cái gì là sẽ làm mình khổ.
Mọi người đừng nghĩ những người giàu là những người vui sướng, hạnh phúc, đó là sai lầm. Đừng tưởng người mới đăng quang ngôi vị hoa hậu Hoàn vũ thế giới là hạnh phúc nhất, đó lầm to. Họ có thể hạnh phúc về phương diện này nhưng về phương diện khác lại khổ đau. Làm gì có cảm giác hoàn toàn hạnh phúc mà không có cảm giác khổ đau? Làm gì có cái tưởng an vui mãi mãi? Làm gì có suy nghĩ thuần thiện, lạc thú? Cho nên sắc; thọ; tưởng; hành; thức là khổ đau, là vô thường, là biến hoại cần phải ly tham, chấm dứt, từ bỏ, đó là trí huệ tối thượng của bậc Chánh Đẳng Giác truyền trao cho mình.
Như vậy, pháp quan trọng nhất phải nhớ là pháp ly tham với sắc uẩn, nhìn thấy đó là tham thì tác ý "Đó là khổ, phải tránh xa ra". Khi Minh Thành đi hoằng pháp, có một Phật tử hỏi "thầy ơi, có câu chú nào linh thiêng nhất thì con muốn thiền câu đó", Minh Thành nói "xa ra, xa ra". Đó là câu chú thể hiện sự ly tham, tránh xa ra để không tham nữa, đó là vô thượng chú, đại thần chú, không có câu chú nào bằng câu chú ly tham. Khi có người kiếm chuyện, muốn sân với mình thì niệm "xa ra, xa ra", dùng từ tâm giải thoát để đưa đến sự rời khỏi trói buộc chứ không phải đưa đến sự trói buộc. Trong cuộc sống hằng ngày mình xem bản thân có rời khỏi sự trói buộc không hay là mình đang bị trói buộc. Đức Phật nói người tu có các chỗ để sanh tham dục:
Món ăn,
Y phục,
Sàng tọa: chỗ ngồi, chỗ ở, phòng ốc,
Thuốc men.
Bốn chỗ này Đức Phật gọi là bốn chỗ ái sanh. Trên Linh Quy Pháp Ấn, ngày nào ăn cơm cũng tụng bài kinh này, tụng những bài kinh Đức Phật dạy quán chiếu về thức ăn trong kinh tạng Nikāya. Bốn chỗ phát sanh ra tham ái của người tu là khi ăn phải xem trong đó tham ái có sanh không, có dục không, nếu ăn như vậy thì người cúng dường quỳ lạy mình có phước vô lượng. Đức Phật nói người xuất gia mà ăn trong vô lượng tâm định thì người cúng dường thực phẩm đó có phước vô tận, còn nếu ăn trong cái tâm tham muốn, gắp cho nhanh lẹ thì phước của người cúng dường rất nhỏ.
Tất cả pháp lấy thọ làm chỗ tụ hội. (Tăng Chi Bộ, Chương VIII. Tám Pháp, IX. Phẩm Niệm, (III) (83) Cội rễ của sự vật)
Cho nên bất cứ lúc nào, ở nơi đâu, đối diện với hoàn cảnh nào mình cũng phải quán chiếu cảm thọ. Khi ăn phải xem cảm giác lúc ngồi chưa gắp đồ ăn như thế nào và phải nhìn thấy cảm giác lúc đó, nếu có tham thì phải nhiếp phục ngay trong khi ăn là gắp chậm lại hoặc để một lúc mới ăn. Trong truyện cao Tăng của Tây Tạng, có một vị cao Tăng được một gia đình thỉnh đến cúng dường trai Tăng trong nhà, khi vị này đến thì đã có 8-10 vị đến trước, gia chủ cúng sữa bò tươi. Vị Tăng này đang khát nước nên khi nhìn thấy sữa tươi thì khởi lên tâm tham và mong muốn sữa đó được đem đến chỗ mình nhanh nhất có thể. Ngay lúc đó vị Tăng này nhìn thấy được tâm tham của mình trong cảm thọ nên trong lúc người ta đến để rót sữa vào cốc của mình thì vị Tăng này úp cốc xuống, không nhận sữa nữa. Đây là sự tu tập rất chín chắn, rất nghiêm túc của các vị cao Tăng, hiền thánh Tăng. Còn mình không khéo là cứ làm tới, thấy đồ ăn ngon là gắp lia gắp lịa. Thành ra khi nhìn lại cảm giác sẽ thấy rất hay, nhìn lại trong mọi lúc mọi nơi, khi ăn, khi nhận sự lễ lạy cúng dường, khi bị nói những lời chê trách và phải thấy cảm giác này là vô thường, đừng ham thích cảm giác mà phải luôn luôn quán chiếu ý niệm thoát ly.
./.
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Nhất hướng nhàm chán PAGEREF _Toc113049551 \h 1
1.Đoạn trừ thân kiến PAGEREF _Toc113049552 \h 2
2.Nhận diện tham, sân, si trong cảm thọ PAGEREF _Toc113049553 \h 4
3.Quán chiếu năm uẩn PAGEREF _Toc113049554 \h 6
II.Ly tham PAGEREF _Toc113049555 \h 7
Nhất hướng nhàm chán
Chúng ta sẽ tìm hiểu về hai bài kinh trong Tăng Chi Bộ và một bài trong Tương Ưng Bộ. Ba bài kinh này giúp chúng ta biết định lý của Chánh pháp.
Rồi Tôn giả Upàli đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Upàli bạch Thế Tôn:
- Lành thay, bạch Thế Tôn! Thế Tôn hãy thuyết pháp cho con một cách vắn tắt, sau khi nghe Thế Tôn thuyết pháp, con sẽ sống một mình, an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.
- Này Upàli, những pháp nào Thầy biết: "Những pháp này không được đưa đến nhất hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn", thời này Upàli, Thầy cần phải nhất hướng thọ trì là: "Ðây không phải Pháp, đây không phải Luật, đây không phải lời dạy Thế Tôn". Và này Upàli, những pháp nào Thầy biết: "Những pháp này đưa đến nhất hướng, nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn", thời này Upàli, Thầy cần phải nhất hướng thọ trì là: "Ðây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy Thế Tôn".
(Tăng Chi Bộ Kinh, Chương VII – Bảy Pháp, VIII. Phẩm Về Luật, (IX) (79) Thông Ðiệp)
Bài kinh này tên là “Thông Điệp”, mang tính chất là định lý của Phật pháp, là pháp ấn, là những giáo pháp xác định một điều gì đó có phải là do Phật nói hay không. Mọi người nắm được bài kinh và học thuộc lòng thì sau này có thể nắm được định lý của Phật pháp, có thể đối chiếu trong tất cả kinh điển lời dạy của Đức Phật có phù hợp với cái này không, những chữ này không phải dễ hiểu.
Thế nào là nhất hướng nhàm chán? Nhất hướng là một đường, một mực, một bề, một mực nhàm chán, nhưng nói vậy thì Phật pháp là tiêu cực hay sao? Nhàm chán ở đây là nhàm chán trên thánh trí chứ không phải là nhàm chán của người bình thường, thích được vài ngày lại chán rồi đi tìm cái mới. Những tình cảm thế gian như bị thất tình rồi chán, vài bữa quen người khác lại hết chán. Cho nên mình phải hiểu rõ chữ nhàm chán ở đây không phải là cái chán bình thường của kẻ vô văn phàm phu, mà cái chán ở đây là thấy bằng trí tuệ. Thấy sắc tập khởi và sắc đoạn diệt, thấy cảm giác tập khởi và cảm giác đoạn diệt, thấy các tưởng, suy nghĩ, nhận thức tập khởi và đoạn diệt, thấy rõ năm uẩn sanh và diệt bằng trí tuệ.
Toàn bộ tạng kinh Nikāya được Đức Phật trình bày các khía cạnh, các phương diện của trí huệ về năm uẩn. Riêng phần sắc uẩn đã bao trùm hết tất cả con người, sự vật, sự việc hành tinh, thái dương hệ. Tất cả những cảm giác, suy tưởng và nhận thức nằm trong thọ; tưởng; hành; thức hay nói đơn giản là tâm. Vì vậy thành tựu trí tuệ năm uẩn là thành tựu trí huệ của thế giới, trí huệ trùm thế giới. Điều căn bản của sự tu tập là đoạn trừ thân kiến, đây là định lý, vấn đề cốt lõi trong tạng kinh, toàn bộ sự học giáo pháp của mình là để đoạn trừ thân kiến.
Đoạn trừ thân kiến
Trong bài kinh Con Đường đã được Đức Phật nói rất rõ: Con đường phải đi là con đường chấm dứt, đoạn diệt thân kiến.
Ở đây, này các Tỳ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử thấy rõ các bậc Thánh, thuần thục pháp các bậc Thánh, tu tập pháp các bậc Thánh, thấy rõ các bậc Chân nhân, thuần thục pháp các bậc Chân nhân, tu tập pháp các bậc Chân nhân; không quán sắc như là tự ngã, hay không quán tự ngã như là có sắc, hay không quán sắc ở trong tự ngã, hay không quán tự ngã ở trong sắc... không quán thọ... không quán tưởng... không quán các hành... không quán thức như là tự ngã, hay không quán tự ngã như là có thức, hay không quán thức ở trong tự ngã, hay không quán tự ngã ở trong thức.
Này các Tỳ-kheo, đây gọi là con đường đưa đến thân kiến đoạn diệt. Con đường đưa đến thân kiến đoạn diệt có nghĩa là: Sự quán sát đưa đến sự khổ đoạn diệt.
(Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (b), V. Phẩm Tự Mình Làm Hòn Ðảo, II. Con Ðường)
Thân kiến là kiến chấp sai lầm về thân, nếu mình phá được thân kiến này thì hoài nghi, giới cấp thủ theo đó cũng tan rã và Nhập lưu vào dòng thánh, sơ quả thứ nhất trong bốn quả thánh. Cái này quyết định toàn bộ tự tu học giáo pháp của mình. Minh Thành mong rằng mọi người học làm sao phải phá được thân kiến, có như vậy mới thể nhập được dòng thánh trí, đây là chỗ mà Đức Thế Tôn mong muốn. Phải phá được thân kiến, mà thân kiến là cái thấy sai lầm về thân là cho rằng sắc là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi. Cảm giác này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi. Cái suy tưởng này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi và nhận thức cũng giống vậy. Cho rằng năm uẩn này là mình, là của mình thì đó là thân kiến. Trong bộ Tương Ưng Uẩn đều nói về điều này, thành ra bài này là tóm thâu toàn bộ Tương Ưng Uẩn trong Tương Ưng Bộ Kinh. Đây là những giáo nghĩa rất quan trọng, nếu không nắm được là mình học sẽ bị mông lung, không biết con đường, không biết chỗ quy túc, học mãi cũng chỉ học ở bờ mé chứ không vào trọng tâm được. Đây mới chính là trọng tâm của tất cả giáo pháp là phá trừ thân kiến, phá trừ sự thấy biết sai lầm về thân.
Này các Tỳ-kheo, hãy như lý tác ý mắt, và hãy như thật chánh quán con mắt là vô thường.
Này các Tỳ-kheo, hãy như lý tác ý tai... mũi... lưỡi... thân... (Tương Ưng Bộ Kinh, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (f), Phần Bốn - Năm Mươi Kinh Thứ Tư, I. Phẩm Duyệt Hỷ Tiêu Tận, 157. III. Duyệt Hỷ Tiêu Tận)
Phải thấy rõ từ con mắt liên hệ đến sáu căn. Nếu mình cứ ngồi thở vô thở ra, bụng phồng xẹp thì không giải quyết được gì hết, chỉ xoa dịu tình hình chút ít thôi, như cây cổ thụ ngàn năm mà lấy cuốc cào cái rễ vài cái thì không ăn thua gì hết. Cũng vậy, trong nội tâm với đầy rẫy tham sân si, ngã mạn cống cao, tật đố, phiền não… như rắn rít, xà tinh, bạch cốt tinh, như Đường Tăng gặp 81 kiếp nạn thì 81 kiếp nạn này tượng trưng cho những thứ cấu uế, phiền não, lậu hoặc trong tâm, mà giờ mình dùng những pháp nhẹ nhàng, đơn sơ như lên tụng 1 ngày 2 thời rồi nghĩ như vậy là công phu xong, đó là sự thiếu sót rất lớn. Học rồi mới thấy chiến thuật tâm linh của Đức Phật đánh một lần vào sáu căn, sáu trần, sáu thọ, sáu thức, sáu ái, sáu tưởng, sáu tư, sáu xúc. Đánh một lần là 36 pháp, thậm chí là 108 thọ. Đánh cho tan tát không còn manh giáp đối với giặc phiền não, gọi là sát tặc A-la-hán. Học rồi mới thấy trí huệ khủng khiếp của bậc Chánh Đẳng Giác, cũng như pháp hành của Đức Phật. Sau đợt nhập thất một tháng thì Minh Thành mới thấy đầy rẫy pháp hành đại viên mãn trong tạng kinh Nikāya, ngay cả khi Minh Thành đi tám trường thiền lớn nhất của Thái Lan và Miến Điện thì pháp hành của họ khi đối chiếu cũng chưa đầy đủ như trong kinh này, mới chỉ được một phần nhỏ thôi.
Nhận diện tham, sân, si trong cảm thọ
Riêng con mắt thì Đức Phật dạy phải quán con mắt này là vô thường, là tứ đại. Do có con mắt, do có các sắc, do có nhãn thức là sự rõ biết các sắc, ba pháp này hội tụ tạo thành sự xúc, xúc này gọi là nhãn xúc, tức là sự tiếp xúc của con mắt với các sắc, khi tiếp xúc phát sanh ra cảm giác, gọi là thọ do nhãn xúc sanh. Cảm giác này có là từ sự tiếp xúc của con mắt với các sắc, trong khi đó con mắt không bị bệnh, không bị hư hoại, cần có đầy đủ ánh sáng, các sắc phải hiện rõ, các thức bên trong được đầy đủ, rõ ràng. Như vậy nó tập hợp thành duyên sanh pháp, ba pháp này giao thoa gọi là nhãn xúc, từ cái xúc này sanh ra thọ, phải tiếp xúc mới có cảm giác. Ví dụ đang ở trong phòng đọc kinh, chương uẩn về năm uẩn, đọc thấy thấm thía, sâu xa, và cảm thấy an lạc, thanh tịnh. Bỗng nhiên có người gõ cửa phòng báo có khách, khi đi ra phòng khách thấy có vị khách rất đẹp, lúc đó mình phải xem sự phòng hộ nhãn căn, căn môn của mình, sự phòng hộ sáu căn của mình như thế nào, vì khi tiếp xúc sẽ sanh thọ.
Minh Thành chỉ nói như vậy nhưng mọi người phải hiểu ra thêm nhiều vấn đề khác, không phải gặp người đẹp mình mới tránh xúc, mà khi gặp người bình thường mình vẫn xúc, nếu cứ xúc thì vẫn sanh ra cảm giác. Trong cảm giác gặp người đẹp thì mình có cảm giác vui thích, lạc thọ, trong lạc thọ nhìn sâu xuống có tham, dục, ái, không phải đợi tới khi nhớ đến mới có cảm giác mà ngay khi tiếp xúc đã sanh cảm giác rồi. Cho nên trong tạng kinh Đức Phật đã nói xúc tập khởi nên nghiệp tập khởi thành ra người tu phải đặc biệt cẩn thận với cái xúc này vì xúc sanh thọ, đây là định lý của bậc Chánh Đẳng Giác phát hiện ra chứ không phải người bình thường. Trong cảm giác này nói gọn có ba cảm giác:
Cảm giác thích thú (lạc thọ).
Cảm giác không ưa (khổ thọ).
Cảm giác không thích cũng không ưa (bất khổ bất lạc thọ).
Trong ba cảm giác này là chỗ trú ẩn của tham dục, sân hận và si mê. Đây là căn cứ địa của phiền não, cho nên tại sao Minh Thành nhắc mọi người phải có cảm giác toàn thân, phải luôn nhìn lại cảm giác của mình trong mọi lúc mọi nơi, vì chỗ cảm giác đó là sào huyệt của tham sân si. Nếu không nhìn lại cảm giác thì không biết tham sân si xuất hiện ra sao, vận hành như thế nào, nó hoạt động ra sao mình không biết, nhưng khi nhìn vào cảm giác sẽ biết, đây là chỗ rất quan trọng. Khi nhìn lại cảm giác sẽ thấy tham sân si sanh khởi và vận hành, có phương pháp nhiếp phục và chế ngự các bất thiện pháp này. Mỗi một ngày như vậy con mắt hoặc nhãn thức của mình làm việc, rồi thọ sanh khởi ra sao mình không thấy không biết gì hết, như vậy Đức Phật gọi đó là si mê và vô minh. Nghĩa là hằng ngày mình không thấy các pháp hiện rõ.
Này các Tỳ-kheo, Ta giảng sự diệt tận các lậu hoặc cho người biết, cho người thấy, không phải cho người không biết, cho người không thấy. (Trung Bộ Kinh, 2. Kinh Tất cả các lậu hoặc).
Cho người biết, cho người thấy được căn, thấy được trần, thấy được sự tiếp xúc, thấy được xúc sanh ra thọ, sanh ra cảm giác và thấy được trong cảm giác có tham sân si như thế nào. Trong phần Tứ Niệm Xứ, phần quán tâm có đoạn:
Này các Tỳ-kheo, như thế nào là Tỳ-kheo sống quán tâm trên tâm? Này các Tỳ-kheo, ở đây, Tỳ-kheo, với tâm có tham, tuệ tri: "Tâm có tham"; hay với tâm không tham, tuệ tri: "Tâm không tham". Hay với tâm có sân, tuệ tri: "Tâm có sân"; hay với tâm không sân, tuệ tri: "Tâm không sân". Hay với tâm có si, tuệ tri: "Tâm có si"; hay với tâm không si, tuệ tri: "Tâm không si". (Trung Bộ Kinh, 10. Kinh Niệm Xứ)
Biết không cũng chưa đủ, không giống như đề mục mình đang tu là chỉ nhìn biết rồi thôi là không đúng. Minh Thành hay ví dụ mọi người đang ngủ mà gặp con rắn độc, đưa đầu hướng về mình thì mình chỉ biết có rắn rồi ngủ tiếp hay sao? Mình phải đánh đuổi nó thậm chí là diệt tận nó. Trong kinh, Đức Phật dạy phương pháp Như lý tác ý dùng để đánh đuổi, mình phải suy xét, đánh đuổi tham dục bằng bất tịnh quán, bằng 32 thể trược, bằng 9 giai đoạn của một tử thi, đánh đuổi sân hận bằng từ tâm giải thoát, đánh đuổi si bằng sự tinh cần, mãnh giới, bằng sự quán niệm vô thường, bằng sự niệm tử. Tất cả đều có pháp để trị, dùng Như lý tác ý đánh là nó tan ra giống như mình cần gậy, cầm cây đuổi con rắn đi. Minh Thành giới thiệu sơ lược tiến trình tu tập, quán chiếu về năm uẩn.
Quán chiếu năm uẩn
Khi quán chiếu thấy nhàm chán vì biết con mắt này là vô thường, con mắt này làm khổ, con mắt này chịu sự biến hoại, lỗ tai này là vô thường, lỗ tai này chịu sự biến hoại, lỗ mũi này, cái lưỡi này, cái thân này là vô thường, chịu sự biến hoại, cái ý là vô thường, là chịu sự biến hoại, ở đây đang nói về sáu xúc. Mình luôn thấy, luôn nhìn lại, luôn quán chiếu sắc thân tứ đại, sắc uẩn này tách khỏi thân kiến đây là tôi, đây là của tôi, đây là tự ngã của tôi.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là sắc? Bốn đại chủng và sắc do bốn đại chủng tạo thành. Này các Tỳ-kheo, đấy được gọi là sắc. (Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (c), B. Năm Mươi Kinh Ở Giữa, I. Phẩm Tham Luyến, IV. Thủ Chuyển)
Tất cả sắc uẩn đều là tứ đại, cái nhà, cái chuông cho tới cái tháp cũng là sắc uẩn, là tứ đại, sắc do 4 đại tạo thành. Sau này chúng ta sẽ học chi tiết 7 trí về sắc, 7 trí về thọ, 7 trí về tưởng, 7 trí về hành, 7 trí về thức. Trên Linh Quy Pháp Ấn những chú tập sự xuất gia phải thuộc lòng 35 trí này để trả bài, khi không thuộc lòng thì ngồi thiền quán chiếu sẽ không biết quán như thế nào. Mình phải biết vị ngọt của sắc, sự nguy hại của sắc và sự xuất ly khỏi sắc. Phải thuộc lòng và quán cho tới khi nào thấy nhàm chán đối với sắc, không còn tham muốn đối với nó nữa thì lúc đó là thể nhập vào dòng trí huệ Nhập lưu, chính thức bước vào hàng bốn đôi tám chúng, là bậc đáng tôn trọng, đáng cung kính, đáng chắp tay, đáng đảnh lễ, đáng cúng dường, là ruộng phước vô thượng ở trên đời. Nhập lưu hoặc là hướng Dự lưu là chính thức bước vào Tăng bảo bốn đôi tám chúng của Đức Phật.
Chúng ta cứ quán hoài, nhìn hoài liên tục trong các sinh hoạt hằng ngày, nhìn bằng trí tuệ, nhìn bằng tuệ giác để thấy được bản chất của sắc uẩn, sắc thân, sắc pháp này không có gì là tôi, không có gì là của tôi để đừng nhận lầm, đừng hiểu lầm, đừng thấy lầm. Nếu thường tu tập như vậy thì mọi người đang đi trên thánh đạo, nhất định sẽ bước tới thánh quả. Nếu làm được cái này là quang tông diệu tổ, bảy đời cha mẹ ông bà lạy dưới chân mình, chư Thiên xuống cúng dường. Mọi người đừng nghĩ đây chỉ là chuyện trong kinh, nếu tu đúng chánh pháp mình sẽ cảm nhận được sự thật, hiện tại bây giờ ở Myanmar, Thái Lan có rất nhiều các bậc hiền thánh Tăng trong các rừng thiền chuyên tu tập cái pháp theo lời dạy gốc của Đức Phật.
Cho nên nhất hướng, nhàm chán, ly tham, đoạn diệt năm uẩn, không muốn tiếp tục với nó nữa thì tâm sẽ an tịnh, trí huệ sẽ thù thắng, lúc đó mình sẽ chứng ngộ. Sự chứng ngộ ở đây là dập tắt toàn bộ sự tham sân si đối với năm uẩn, thấy rõ nó không phải là mình, không phải là của mình mà là pháp vô thường, biến hoại.
Ly tham
Một thời, Thế Tôn trú ở Vesàli, tại Mahàvana, ở ngôi nhà có nóc nhọn. Rồi Mahàpajàpatì Gotamì đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Ðứng một bên, Mahàpajàpatì Gotamì bạch Thế Tôn:
- Lành thay, bạch Thế Tôn! Thế Tôn hãy thuyết pháp vắn tắt cho con, sau khi Thế Tôn thuyết pháp, con sẽ sống một mình, an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.
- Này Gotamì, những pháp nào bà biết: "Những pháp này đưa đến tham dục, không phải ly tham; đưa đến hệ phước, không đưa đến ly hệ phước; đưa đến tích tập, không đưa đến không tích tập; đưa đến dục lớn, không đưa đến ít dục; đưa đến không biết đủ, không đưa đến biết đủ; đưa đến tụ hội, không đưa đến nhàn tịnh; đưa đến biếng nhác, không đưa đến tinh tấn; đưa đến khó nuôi dưỡng, không đưa đến dễ nuôi dưỡng". Này Gotamì, hãy thọ trì nhứt hướng rằng: "Ðó là không phải Pháp, đó là không phải Luật, đó là không phải lời dạy của bậc Ðạo sư".
Và này Gotamì, những pháp nào bà biết: "Những pháp đưa đến ly tham, không đưa đến tham dục; đưa đến ly hệ phước, không đưa đến hệ phước; đưa đến không tích tập, không đưa đến tích tập; đưa đến ít dục, không đưa đến dục lớn; đưa đến biết đủ, không đưa đến không biết đủ; đưa đến nhàn tịnh, không đưa đến tụ hội; đưa đến tinh tấn, không đưa đến biếng nhác; đưa đến dễ nuôi dưỡng, không đưa đến khó nuôi dưỡng". Này Gotamì, hãy thọ trì nhứt hướng rằng: "Ðó là Pháp, đó là Luật, đó là lời dạy của bậc Ðạo sư".
(Tăng Chi Bộ Kinh, Chương VIII Tám Pháp, VI. Phẩm Gotamì, (III) (53) Pháp Tóm Tắt)
Những pháp đưa đến ly tham, không đưa đến tham dục gọi là pháp ấn. Trong tất cả các trường hợp đối với năm uẩn, đối với cuộc đời, đối với tiền tài, vật chất, danh vọng, địa vị, chùa chiền, bổn đạo, đất đai… chúng ta đều phải nhớ đến ly tham. Nãy giờ toàn nói sắc uẩn, vẫn chưa đến thọ; tưởng; hành; thức. Mình đừng nghĩ ly tham chỉ bao nhiêu đây là đủ, vẫn chưa đủ, ngay cả bậc ly dục của phàm phu cũng vẫn còn trong sanh tử vì chưa phá thân kiến. Đây là chỗ quan trọng, những bậc tu tiên trên núi đạt đến thiền định thâm sâu vô cực nhưng chưa phá thân kiến thì vẫn là phàm phu. Đây là sự đặc thù, đây là sự tăng thượng, đây là sự sai biệt giữa vị Thánh đệ tử có nghe nhiều và kẻ vô văn phàm phu về vấn đề đoạn tận thân kiến. Nếu thân kiến này không đoạn tận, không chấm dứt thì mình vẫn là vô văn phàm phu chứ không phải là vị thánh đệ tử.
Ngày mình còn là cư sĩ, là tập sự xuất gia rồi sau khi xuất gia 5-7 năm thì chuyện lìa tham của mình có giảm không hay lại tăng thêm? Phải tự vấn bản thân, tự hỏi bản thân. Nếu không khéo là mình đi ngược lại với mục đích Phạm hạnh của đời sống xuất gia, đây là chỗ rất quan trọng. Nếu bậc thầy đó không phải là vị minh sư, không phải là Đạo sư, không phải bậc Chân nhân, không phải là bậc thành tựu chánh tri kiến thì dạy học trò như thế nào? "Con ráng cố gắng lấy bằng cấp, con ráng cố gắng có được cái chùa để trụ trì". Đây đều là những người chưa thành tựu chánh tri kiến, một bậc thầy là Đạo sư, là bậc chân nhân, bậc thành tựu chánh tri kiến là phải chỉ cho học trò phá được thân kiến. Phải chỉ cho học trì thấy rõ được tất cả sắc uẩn này là vô thường, là khổ, là biến hoại, không có gì là tôi, không có gì là của tôi. Bây giờ vô cùng khó để tìm ra được bậc Minh sư này. Cho nên mới gọi là chánh pháp khó nghe, thầy lành khó gặp.
Trong kinh Luận có ví dụ, một người leo lên đỉnh núi cao thả cuộn chỉ xuống, một người đứng dưới chân núi đưa lỗ kim ra, ở giữa núi là cuồng phong, bão táp, gió thổi cuồn cuộn. Làm sao để cuộn chỉ đó chui vào ngay trong lỗ kim, như vậy khó hay dễ? Như vậy, nếu mình gặp được Minh sư, gặp chánh pháp thì khó hơn việc đó gấp 1 triệu lần, không phải dễ để có thể gặp được. Tại sao lại hướng dẫn cho mình đi theo con đường không phải là ly tham, cái tham đó trá hình trong Phật sự, pháp sự và Tăng sư, hãy nhớ nếu như đó không phải là tăng thượng giới học, không phải là tăng thượng định học, không phải là tăng thượng tuệ học thì đó không phải là pháp và luật của Như Lai. Tăng thượng tuệ học, tăng thượng tâm học, tăng thượng giới học là pháp ly tham, là pháp từ bỏ, là pháp chấm dứt sự tham dục đối với năm uẩn. Đó là pháp và luật, là lời dạy của bậc Đạo sư, mọi người nắm được cái này là nắm được trái tim của Đức Thế Tôn, nắm được con mắt của 12 phần giáo, cốt tủy của Tam tạng thánh điển chứ không phải là chuyện đơn giản.
Mỗi ngày khi mọi người sinh hoạt, khi thấy khi nghe, khi tiếp xúc, khi nhận thức, khi suy tưởng thì phải xem mình có đang sống với pháp ly tham không, hay đang nuôi dưỡng cái tham mà không từ bỏ, đang dung túng mà không đoạn diệt, đang tích trữ mà không chấm dứt. Đây là yếu pháp, là tâm pháp, là tủy pháp. Vì sao Đức Phật dạy mình ly tham, vì tham đưa đến khổ đau. Chỗ này là chỗ thâm sâu của giáo pháp, bất cứ khi nào mình tham, mình dính mắc vào cái gì là sẽ làm mình khổ.
Mọi người đừng nghĩ những người giàu là những người vui sướng, hạnh phúc, đó là sai lầm. Đừng tưởng người mới đăng quang ngôi vị hoa hậu Hoàn vũ thế giới là hạnh phúc nhất, đó lầm to. Họ có thể hạnh phúc về phương diện này nhưng về phương diện khác lại khổ đau. Làm gì có cảm giác hoàn toàn hạnh phúc mà không có cảm giác khổ đau? Làm gì có cái tưởng an vui mãi mãi? Làm gì có suy nghĩ thuần thiện, lạc thú? Cho nên sắc; thọ; tưởng; hành; thức là khổ đau, là vô thường, là biến hoại cần phải ly tham, chấm dứt, từ bỏ, đó là trí huệ tối thượng của bậc Chánh Đẳng Giác truyền trao cho mình.
Như vậy, pháp quan trọng nhất phải nhớ là pháp ly tham với sắc uẩn, nhìn thấy đó là tham thì tác ý "Đó là khổ, phải tránh xa ra". Khi Minh Thành đi hoằng pháp, có một Phật tử hỏi "thầy ơi, có câu chú nào linh thiêng nhất thì con muốn thiền câu đó", Minh Thành nói "xa ra, xa ra". Đó là câu chú thể hiện sự ly tham, tránh xa ra để không tham nữa, đó là vô thượng chú, đại thần chú, không có câu chú nào bằng câu chú ly tham. Khi có người kiếm chuyện, muốn sân với mình thì niệm "xa ra, xa ra", dùng từ tâm giải thoát để đưa đến sự rời khỏi trói buộc chứ không phải đưa đến sự trói buộc. Trong cuộc sống hằng ngày mình xem bản thân có rời khỏi sự trói buộc không hay là mình đang bị trói buộc. Đức Phật nói người tu có các chỗ để sanh tham dục:
Món ăn,
Y phục,
Sàng tọa: chỗ ngồi, chỗ ở, phòng ốc,
Thuốc men.
Bốn chỗ này Đức Phật gọi là bốn chỗ ái sanh. Trên Linh Quy Pháp Ấn, ngày nào ăn cơm cũng tụng bài kinh này, tụng những bài kinh Đức Phật dạy quán chiếu về thức ăn trong kinh tạng Nikāya. Bốn chỗ phát sanh ra tham ái của người tu là khi ăn phải xem trong đó tham ái có sanh không, có dục không, nếu ăn như vậy thì người cúng dường quỳ lạy mình có phước vô lượng. Đức Phật nói người xuất gia mà ăn trong vô lượng tâm định thì người cúng dường thực phẩm đó có phước vô tận, còn nếu ăn trong cái tâm tham muốn, gắp cho nhanh lẹ thì phước của người cúng dường rất nhỏ.
Tất cả pháp lấy thọ làm chỗ tụ hội. (Tăng Chi Bộ, Chương VIII. Tám Pháp, IX. Phẩm Niệm, (III) (83) Cội rễ của sự vật)
Cho nên bất cứ lúc nào, ở nơi đâu, đối diện với hoàn cảnh nào mình cũng phải quán chiếu cảm thọ. Khi ăn phải xem cảm giác lúc ngồi chưa gắp đồ ăn như thế nào và phải nhìn thấy cảm giác lúc đó, nếu có tham thì phải nhiếp phục ngay trong khi ăn là gắp chậm lại hoặc để một lúc mới ăn. Trong truyện cao Tăng của Tây Tạng, có một vị cao Tăng được một gia đình thỉnh đến cúng dường trai Tăng trong nhà, khi vị này đến thì đã có 8-10 vị đến trước, gia chủ cúng sữa bò tươi. Vị Tăng này đang khát nước nên khi nhìn thấy sữa tươi thì khởi lên tâm tham và mong muốn sữa đó được đem đến chỗ mình nhanh nhất có thể. Ngay lúc đó vị Tăng này nhìn thấy được tâm tham của mình trong cảm thọ nên trong lúc người ta đến để rót sữa vào cốc của mình thì vị Tăng này úp cốc xuống, không nhận sữa nữa. Đây là sự tu tập rất chín chắn, rất nghiêm túc của các vị cao Tăng, hiền thánh Tăng. Còn mình không khéo là cứ làm tới, thấy đồ ăn ngon là gắp lia gắp lịa. Thành ra khi nhìn lại cảm giác sẽ thấy rất hay, nhìn lại trong mọi lúc mọi nơi, khi ăn, khi nhận sự lễ lạy cúng dường, khi bị nói những lời chê trách và phải thấy cảm giác này là vô thường, đừng ham thích cảm giác mà phải luôn luôn quán chiếu ý niệm thoát ly.
./.